hội ổn định; trật tự an toàn xã hội được tăng cường…Bên cạnh đó, thực tiễn những năm đổi mới vừa qua cũng cho thấy, tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp, cuộc đấu tranh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_ _
LƯƠNG HOÀNG QUÝ
TÁC ĐỘNG BIỆN CHỨNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẾN LĨNH VỰC BẢO VỆ AN NINH - TRẬT TỰ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thái Bình
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Thái Bình Các nội dung nghiên
cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau
có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
Tác giả luận văn
Lương Hoàng Quý
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của đề tài 8
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 8
8 Cấu trúc của đề tài 8
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẾN TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI 9
1.1 Nhận thức chung về phát triển kinh tế và trật tự an toàn xã hội 9
1.1.1 Khái niệm kinh tế, phát triển kinh tế 9
1.1.2 Khái niệm trật tự an toàn xã hội 14
1.2 Sự tác động của phát triển kinh tế đến trật tự an toàn xã hội 19
1.2.1 Tác động tích cực 19
1.2.2 Tác động tiêu cực 25
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2 THỰC TRẠNG SỰ TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẾN TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 34
2.1 Những thành tựu trong phát triển kinh tế góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội ở nước ta hiện nay 34
2.1.1 Sự phát triển kinh tế góp phần kiến tạo sự ổn định chính trị, ổn định xã hội, kiềm chế và từng bước đẩy lùi tội phạm 34
2.1.2 Sự phát triển kinh tế góp phần ổn định trật tự an toàn giao thông, trật tự công cộng, bảo vệ môi trường 37
2.1.3 Kinh tế phát triển, xã hội văn minh, những tệ nạn, hủ tục, thói quen lạc hậu bị xóa bỏ 39
2.2 Những tác động trái chiều từ sự phát triển kinh tế đến đảm bảo trật tự an toàn xã hội ở nước ta hiện nay 45
2.2.1 Xu hướng tự phát trong quá trình tăng trưởng kinh tế tác động tiêu cực đến trật tự an toàn xã hội 45
2.2.2 Nền kinh tế phát triển thiếu bền vững, phiến diện, năng lực cạnh tranh yếu tiềm ẩn nhiều nhân tố gấy mất trật tự an toàn xã hội 58
Trang 42.2.3 Vai trò quản lý Nhà nước về kinh tế chưa hiệu quả là điều kiện làm
nảy sinh tội phạm về TTATXH 59
2.2.4 Sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường đến các lực lượng thực thi pháp luật trong đó có lực lượng CAND 60
2.2.5 Nguyên nhân của những tác động trái chiều 62
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM TĂNG CƯỜNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẾN TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 66
3.1 Dự báo và phương hướng cơ bản tăng cường tác động tích cực của phát triển kinh tế đến trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam hiện nay 66
3.1.1 Dự báo tình hình kinh tế quốc tế và trong nước tác động đến TTATXH trong thời gian tới 66
3.1.2 Một số phương hướng cơ bản nhằm tăng cường tác động tích cực của phát triển kinh tế đến trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam hiện nay 71
3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự tác động của phát triển kinh tế đến trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam hiện nay 82
3.2.1 Không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo 82
3.2.2 Giải quyết tốt việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động 85
3.2.3 Gắn kết văn hóa giáo dục với phát triển kinh tế bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững 87
3.2.4 Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, xây dựng lực lượng CAND chính quy tinh nhuệ, từng bước hiện đại 89
Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chủ nghĩa Xã hội CNXH
An ninh Quốc gia ANQG Trật tự An toàn Xã hội TTATXH Công an Nhân dân CAND Cảnh sát Nhân dân CSND
An ninh trật tự ANTT
An toàn xã hội ATXH Công nghiệp hóa CNH Hiện đại hóa HĐH
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự vận động, phát triển của một sự vật, hiện tượng là sự tác động biện chứng của các yếu tố cấu thành Phương pháp hệ thống - cấu trúc khẳng định rằng, một hệ thống chỉ có thể tồn tại, vận động và phát triển bền vững khi các yếu tố cấu thành hệ thống nằm trong mối liên hệ chặt chẽ, quy định, tác động qua lại lẫn nhau, vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau Quán triệt phương pháp luận biện chứng duy vật vào đời sống xã hội, có thể khẳng định,
xã hội là một kết cấu đặc thù, các lĩnh vực cơ bản hợp thành như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh… có quan hệ tương tác biện chứng qua lại với nhau
Về mặt lý luận, giữ vững ổn định về trật tự an toàn xã hội và ổn định về kinh tế - xã hội là điều kiện sống còn, cốt tử của một chế độ xã hội Quy luật lịch sử dân tộc ta cũng đã chứng minh một chân lý: dựng nước luôn phải đi đôi với giữ nước Phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh - trật tự có mối quan
hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau, trong đó phát triển kinh tế là yếu tố nền tảng tác động mạnh mẽ đến sự ổn định của tình hình an ninh - trật tự Ph.Ăngghen từng khẳng định “thất bại hay thắng lợi của chiến tranh đều phụ thuộc vào điều kiện kinh tế”[38; 95]
Về mặt thực tiễn, sau 30 năm đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở rộng hội nhập quốc tế, những thành tựu kinh tế - xã hội đạt được là hết sức to lớn, đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như Nghị quyết XI Đảng ta đã khẳng định Trong sự nghiệp đổi mới, chúng ta luôn đặt nhiệm vụ phát triển kinh tế lên hàng đầu để sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển Chính vì vậy, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; chính trị - xã
Trang 7hội ổn định; trật tự an toàn xã hội được tăng cường…Bên cạnh đó, thực tiễn những năm đổi mới vừa qua cũng cho thấy, tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp, cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm dù đã đạt được những kết quả nhất định, song những hạn chế về kinh tế, xã hội, những tác động tiêu cực của thời kỳ mở cửa, hoạt động chống phá của các thể lực thù địch… đặt ra những thách thức lớn đối với lĩnh vực đảm bảo an ninh - trật tự Chúng ta đều nhận thấy rằng: kinh tế chưa phát triển bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, thiếu đồng bộ tiềm ẩn nhiều nguy cơ thách thức Điều đó có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình trật tự an toàn xã hội ở nước
và thách thức đan xen nhau Từ lý luận và thực tiễn đó tác giả chọn đề tài
“Tác động biện chứng của sự phát triển kinh tế đến lĩnh vực bảo vệ an ninh - trật tự ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Phát triển kinh tế, an ninh - trật tự, là những lĩnh vực được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu ở nhiều góc độ khác nhau Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài xin được đề cập đến những công trình nghiên cứu tiêu biểu, những bài tạp chí bình luận chuyên sâu về phát triển kinh tế, an ninh - trật tự
“Phát triển kinh tế” là khái niệm khá quen thuộc ở Việt Nam Đã có nhiều nghiên cứu tiến hành khai thác khái niệm này phù hợp với thực tiễn đất
Trang 8nước và bối cảnh thế giới hiện nay Các nghiên cứu khoa học môi trường, khoa học xã hội, đã có những đóng góp nhất định cho việc hoàn thiện hệ thống quan điểm lý luận về phát triển kinh tế ở nước ta trong thời gian tới
- “Kinh tế phát triển”, PGS.TS Phạm Ngọc Linh, TS Nguyễn Thị Kim
Dung, (Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, 2011) Tác giả đã trình bày cơ bản nhất những vấn đề thuộc về kinh tế học: tăng trưởng kinh tế; phát triển kinh tế; các nhân tố tác động đến tăng trưởng và phát triển… có những ví dụ minh họa và có rất nhiều số liệu thống kê về sự phát triển kinh tế của Việt Nam và các nước khác Giáo trình là nguồn tài liệu hữu ích trong quá trình làm đề tài của tác giả
- Đề tài cấp bộ “Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động” của
PGS.TS Hà Huy Thành (chủ nhiệm) (2009) Đề tài nghiên cứu tổng quan nội dung cơ bản và quá trình hình thành, phát triển của khái niệm, chương trình hành động, chỉ tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc và các quốc gia, khu vực trên thế giới Trên cơ sở đó rút ra những bài học về phát triển kinh tế bền vững phù hợp với điều kiện của Việt Nam
- “Phát triển bền vững ở Việt Nam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng”, của GS.TSKH Nguyễn Quang Thái và PGS.TS Ngô Thắng Lợi
(NXB Lao động - xã hội, 2007) đã nghiên cứu thực trạng phát triển của kinh tế
- xã hội Việt Nam trong thời gian đổi mới, phân tích những yếu tố hay điều kiện để có thể giúp Việt Nam đạt được những kết quả khả quan để thực hiện phát triển bền vững
- “Tác động của kinh tế thị trường đối với quốc phòng, an ninh ở Việt Nam”, của TS Nguyễn Văn Ngừng (Nxb Chính trị Quốc gia, 2005) Tác giả đã
trình bày có hệ thống về nhận thức chung về kinh tế thị trường; sự hình thành
và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam; sự tác động của kinh tế thị trường đối với quốc phòng, an ninh; từ những trực trạng đó của Việt Nam tác
Trang 9giả đã đưa ra hệ thống các nguyên tắc và giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế và tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta
- Luận án “Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam hiện nay” của
Nguyễn Hữu Sở (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009) đã luận giải một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững; đánh giá, phân tích thực trạng nền kinh tế quốc dân kể từ khi thực hiện mô hình kinh tế mới để chỉ ra những mặt được và chưa được trong việc thực hiện mục tiêu bền vững; đề xuất một số giải pháp cơ bản bảo đảm phát triển bền vững trong thời gian tới
Dưới góc độ an ninh - trật tự, đặc biệt là trật tự an toàn xã hội đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các luận văn, giáo trình, sách chuyên khảo, các bài viết:
- Sách “Tội phạm học Việt Nam”, chỉ đạo biên soạn: GS.TS Trần Đại
Quang, Tổng chủ biên: GS.TS Nguyễn Xuân Yêm (Nxb Công an Nhân dân, 2013) Bộ sách gồm 3 tập với hơn 2600 trang tài liệu trình bày rất đầy đủ và chi tiết về tội phạm học; quá trình hình thành phát triển tội phạm học và tội phạm học xã hội chủ nghĩa với tư cách là một ngành khoa học; tình hình tội phạm trên Thế giới và Việt Nam, đặc điểm của từng loại tội phạm cụ thể; các chương trình phòng chống tội phạm Quốc gia Bộ sách là nguồn tài liệu quý trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm
- Đề tài khoa học cấp Bộ của Ths Đặng Đức Nghĩa (2001) “Ảnh hưởng của những yếu tố tiêu cực của kinh tế thị trường đến quá trình hoạt động của tội phạm có tổ chức ở nước ta hiện nay” Tác giả đã phân tích làm rõ những
tác động của kinh tế thị trường ảnh hưởng tới tới điều kiện hoạt động, phương thức tổ chức, hoạt động của bọn tội phạm có tổ chức Qua đó phát hiện ra những sơ hở thiếu sót trong quá trình quản lý kinh tế, xã hội từ đó tác giả đề
Trang 10xuất những biện pháp hạn chế những tiêu cực xã hội, làm giảm những điều kiện mà bọn tội phạm có tổ chức lợi dụng hoạt động
- Sách “Quản lý nhà nước về An ninh Quốc gia, Trật tự An toàn xã hội”
của GS.TS Trần Đại Quang (Nhà xuất bản Học viện CSND, 2010)
- Đề tài cấp bộ “Mối đe dọa đối với an ninh phi truyền thống và tác động của nó tới quan hệ quốc tế hiện nay” của PGS.TS Hồ Châu (Chủ nhiệm) (2006)
Như vậy, xung quanh vấn đề phát triển kinh tế, an ninh - trật tự đã có nhiều công trình nghiên cứu khá sâu sắc song vấn đề tác động biện chứng của
sự phát triển kinh tế đến lĩnh vực bảo vệ an ninh - trật tự vừa là vấn đề lý luận phức tạp cần phải nghiên cứu toàn diện, đồng thời là vấn đề thực tiễn bức xúc hiện nay khi đất nước ta đang trong quá trình hội nhập
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về sự tác động của phát triền kinh tế tới trật tự an toàn xã hội, đề tài chỉ ra được thực trạng sự tác động của phát triển kinh tế tới trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp căn bản nhằm tăng cường tác động tích cực của phát triển kinh tế đến trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm sáng rõ khái niệm: Phát triển kinh tế, trật tự an toàn xã hội Trên cơ sở đó, nghiên cứu sự tác động của phát triển kinh tế tới trật tự
an toàn xã hội
- Nghiên cứu, khảo sát thực trạng về sự tác động của phát triển kinh tế đến trật tự an toàn xã hội; chỉ ra những tác động tích cực và tác động trái chiều của quá trình phát triển kinh tế đến trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam hiện nay
- Dự báo và xây dựng các nhóm giải pháp chủ nhằm tăng cường tác động tích cực của phát triển kinh tế đến trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam
Trang 114 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu sự tác động của phát triển kinh tế đến trật
tự an toàn xã hội tìm ra những mâu thuẫn nảy sinh từ sự vận động của nền kinh tế tác động tích cực, tiêu cực đến trật tự an toàn xã hội ở nước ta hiện nay, từ đó đưa ra những phương hướng, giải pháp góp phần tăng cường những tác động tích cực từ sự phát triển kinh tế đến trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung khảo sát:
Cụm từ an ninh - trật tự bao gồm 02 khái niệm sau đây:
- An ninh quốc gia (ANQG): Là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
sự bất khả xâm phạm về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc (Khoản 1 điều 3 Luật số 32/2004/QH11, Luật An ninh quốc gia, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XI ban hành ngày 03 tháng 12 năm 2004)
ANQG bao gồm: an ninh chính trị, an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh đối ngoại, an ninh quân sự Trong đó an ninh chính trị là cốt lõi và xuyên suốt
- Theo Từ điển Bách Khoa CAND năm 2005,Trật tự an toàn xã hội
(TTATXH): Là trạng thái xã hội bình yên trong đó mọi người được sống yên
ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật, các quy tắc và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định (Từ điển Bách khoa CAND, NXB CAND 2005, tr.1183)
ANQG và TTAXH có mối quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau
An ninh quốc gia là thể hiện quan hệ chính trị giữa các giai cấp, khẳng định vị trí của giai cấp cầm quyền đối với các nước khác trên thế giới Còn trật tự an toàn xã hội là hệ thống các quan hệ xã hội được hình thành và điều
Trang 12chỉnh bởi hệ thống các quy phạm pháp luật của Nhà nước, và các chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục, trong đời sống cộng đồng của mỗi dân tộc, một quốc gia, nhờ đó, mọi công dân sống và lao động có tổ chức, có kỷ cương, mọi lợi ích chính đáng được được bảo đảm không bị xâm hại
Bảo vệ an ninh quốc gia là bảo vệ độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nền kinh tế và hệ thống chính trị của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Như vậy, bảo vệ an ninh quốc gia gồm hai nội dung: bảo
vệ quan hệ chính sách đối nội và quan hệ chính sách đối ngoại được thể hiện trong Hiến pháp và hệ thống luật pháp của Nhà nước Còn bảo vệ trật tự an toàn xã hội bao gồm các nội dung chủ yếu: chống tội phạm, giữ gìn trật tự công cộng, phòng ngừa tai nạn, bài trừ tệ nạn xã hội, chống ô nhiễm môi trường nhằm đảm bảo hoạt động bình thường yên ổn, hợp pháp của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân
Vấn đề về tác động biện chứng của sự phát triển kinh tế đến lĩnh vực an ninh - trật tự ở Việt Nam hiện nay là vấn đề rộng lớn, phức tạp, cần có sự nghiên cứu một cách hệ thống, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu một phần nhỏ trong sự tác động biện chứng này, cụ thể, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những yếu tố thuộc về sự phát triển kinh tế tác động đến trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam hiện nay
- Thời gian khảo sát nghiên cứu: từ năm 2005 – nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội và phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết, chỉ thị của Bộ Công an và sử dụng các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài
Trang 135.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận của triết học Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định các chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế, đảm bảo TTATXH ở nước ta hiện nay, đồng thời cũng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy các môn lý luận chính trị, pháp luật
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
đề tài gồm 03 chương 06 tiết
Trang 14Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẾN TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI 1.1 Nhận thức chung về phát triển kinh tế và trật tự an toàn xã hội
1.1.1 Khái niệm kinh tế, phát triển kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm kinh tế
Kinh tế là khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Nghĩa chung nhất, có thể hiểu kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa con người với con người trong xã hội Mối quan hệ này liên quan trực tiếp đến quá trình lao động sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người
Có thể tiếp cận khái niệm kinh tế ở 2 cách hiểu cơ bản sau:
Thứ nhất, kinh tế là tổng thể các quan hệ sản xuất nhất định trong một
giai đoạn lịch sử phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất Kinh tế chính là hoạt động lao động và tiêu dùng của con người mang tính lịch
sử - xã hội, trong những giai đoạn khác nhau thì hoạt động kinh tế mang đặc trưng khác nhau
Thứ hai, kinh tế là toàn bộ các ngành kinh tế quốc dân, hoặc một bộ
phận của nền kinh tế quốc dân
Khái niệm kinh tế và khái niệm hoạt động kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Hoạt động kinh tế chính là hoạt động cơ bản, thường xuyên gắn liền với sự tồn tại của xã hội loài người Đó là toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, phục vụ nhu cầu đời sống con người ngày càng tăng lên Nhờ có hoạt động kinh tế mà mỗi quốc gia có thể phát triển kinh tế, cải thiện đời sống xã hội, ổn định an ninh chính trị
1.1.1.2 Khái niệm phát triển kinh tế
Trang 15Sự phát triển của một chế độ xã hội được biểu hiện tập trung chủ yếu trên lĩnh vực kinh tế Các quốc gia trên thế giới đều phấn đấu vì mục tiêu: phát triển kinh tế, ổn định đời sống xã hội Và đây có thể coi là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ của các quốc gia trong mỗi giai đoạn nhất định
Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát
triển: Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự gia
tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu
người hay GDP, GDP/đầu người… thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá
trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học
- kỹ thuật vào phát triển kinh tế – xã hội…
Với nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản khái niệm phát triển kinh
tế đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện nhiều lĩnh
vực kinh tế, văn hoá, xã hội… Tuy nhiên như đã biết, trong khoảng hơn hai thập niên vừa qua, do xu hứớng hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn nên đã nảy sinh nhiều vấn đề dù là ở phạm vi từng quốc gia, lãnh thổ riêng biệt, song lại có ảnh hưởng chung đến sự phát triển của cả khu vực và toàn thế giới, trong đó có những vấn đề cực kỳ phức tạp, nan giải đòi hỏi phải có sự chung sức của cả cộng đồng nhân loại, ví dụ như: môi trường sống, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố… Từ đó đòi hỏi sự phát triển của mỗi quốc gia, lãnh thổ và cả thế giới phải được nâng lên tầm cao mới cả về chiều rộng và chiều sâu của sự hợp tác, phát triển Thực
Trang 16tiễn đó đã thúc đẩy sự ra đời một khái niệm mới về phát triển mang nội hàm phản ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về tăng trưởng
kinh tế, phát triển kinh tế…, đó là khái niệm phát triển bền vững
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Ngừng: Phát triển kinh tế là sự gia tăng cả
về số lượng và chất lượng sản phẩm của các ngành, các lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế quốc dân trong trạng thái cân đối các yếu tố cấu thành của nền kinh tế nhằm thúc đẩy nhau cùng phát triển, biểu hiện ở năng suất lao động, tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân và thu nhập quốc dân bình quân đầu người không ngừng tăng lên, đời sống của người dân được nâng cao, chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện theo hướng tiến bộ; công bằng xã hội được xác lập, người dân đảm bảo có việc làm, có thu nhập ổn định, mọi người được sống trong môi trường hòa bình ổn định, được bảo đảm tính mạng và tài sản, được phát triển tự do toàn diện về thể chất, năng lực của mình và được cống hiến mọi khả năng của mình vào sự phát triển tiến bộ xã hội [13; 150]
Tóm lại, phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh
về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống
Quán triệt quan điểm toàn diện, đối với một quốc gia, sự phát triển kinh
tế được thể hiện trên các chỉ tiêu cơ bản sau:
Thứ nhất, sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc dân (Gross Domestic
Product - GDP) GDP là tổng giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được tạo ra bằng các yếu tố sản xuất trong phạm vi, giới hạn của mỗi một quốc gia nhất định trong một khoảng thời gian và thường lấy mốc là 01 năm
Thứ hai, tổng sản phẩm quốc nội hay còn gọi là tổng sản phẩm quốc
gia (Gross National product - GNP) GNP là tổng giá trị sản phẩm hàng hóa,
Trang 17dịch vụ do công dân của một nước tạo ra bằng các yếu tố sản xuất trong một khoảng thời gian và thường lấy mốc là 01 năm
Thứ ba, chỉ số phát triển con người (Human Development Index -
HDI) Cơ quan phát triển con người của Liên hiệp quốc đưa ra chỉ số phát triển con người nhằm kiểm soát và đánh giá sự tiến bộ trong sự phát triển con người Chỉ số phát triển của con người của mỗi quốc gia được đánh giá dựa trên 3 tiêu chí: Tuổi thọ trung bình từ lúc sinh; Tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ
lệ nhập học của các cấp giáo dục; Thu nhập bình quân đầu người theo ngang giá sức mua
Thứ tư, tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người hay còn gọi là thu
nhập bình quân theo đầu người
Thứ năm, sự thay đổi của cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọng của
ngành dịch vụ và công nghiệp trong GDP tăng lên còn tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm xuống nhưng giá trị tuyệt đối của các ngành đều tăng lên
đó là tính quy luật của quá trình vận động của nền sản xuất nhỏ sang nền sản xuất lớn hiện đại
Thứ sáu, các chỉ tiêu thể hiện sự phát triển xã hội như: Chất lượng
cuộc sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện Tức là, không chỉ có tổng sản phẩm quốc dân, hoặc tổng sản phẩm quốc nội tăng lên mà còn phân phối hợp lý kết quả tăng trưởng, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, lạm phát trong vòng kiểm soát, ngăn ngừa khủng hoảng, chất lượng sản phẩm làm ra ngày càng cao đáp ứng nhu cầu của bộ phận lớn trong dân cư
Chất lượng cuộc sống tăng lên còn thể hiện ở chỗ: Chăm sóc sức khỏe ngày càng tốt; tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh ngày càng giảm; số bác sỹ/ dân cư, tuổi thọ trung bình ngày càng tăng Ngoài ra, trình độ học vấn của dân cư cũng phản ánh chất lượng trí tuệ của lao động và chất lượng cuộc sống của cộng đồng Khai thác, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả, bền vững, giữ
Trang 18gìn môi trường trong sạch cũng là một tiêu chuẩn của chất lượng cuộc sống và
là điều kiện quan trọng của sự phát triển kinh tế bền vững của mỗi quốc gia nói riêng và cũng là vấn đề của toàn cầu
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu phản ánh các nhu cầu cơ bản của con người
Tên nước GDP đầu người Tốc độ tăng
(2012-2013)
Tuổi thọ bình quân(nam/nữ) (2012-2013)
Tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới
5 tuổi trên 1000
ca (2012)
Tỷ lệ người lớn biết chữ (2012)
Nguồn: WB – Báo cáo phát triển thế giới 2014
Phép biện chứng duy vật Mác xit luôn nhấn mạnh phát triển kinh tế là cốt lõi của sự vận động xã hội Phát triển kinh tế là một quá trình có sự kết hợp của nhiều nhân tố tác động đan xen hết sức phức tạp như: các yếu tố kinh
tế (các nhân tố tác động đến tổng cung; các nhân tố tác động đến tổng cầu);
ổn định chính trị - xã hội, môi trường ANQG và TTATXH; vai trò của nhà nước; sự đồng thuận xã hội; dân số, mật độ dân số, trình độ chất lượng lao động; văn hóa - xã hội; cơ cấu dân tộc và tôn giáo; bối cảnh khu vực và thế giới Tư duy biện chứng cho thấy, phát triển kinh tế vừa là kết quả vừa là nguyên nhân của sự vận động phát triển của đời sống xã hội trong tính chỉnh thể của nó Giữa phát triển kinh tế và ổn định xã hội, an ninh, an toàn, ổn định
Trang 19chính trị và sự phát triển của các lĩnh vực khác luôn nằm trong tính biện chứng của sự vận động nội tại trong chỉnh thể của các yếu tố cấu thành đời sống xã hội
1.1.2 Khái niệm trật tự an toàn xã hội
Ở nước ta, thuật ngữ “Trật tự an toàn xã hội” được sử dụng chính thức
trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV và trong Hiến pháp 1992 Tùy theo cách tiếp cận mà có nhiều định nghĩa về trật tự an toàn
xã hội, nhưng tựu chung lại ở góc độ khái quát, Từ điển Bách khoa Công an
Nhân dân Việt Nam năm 2000 đã định nghĩa: “Trật tự an toàn xã hội là trạng thái xã hội bình yên, trong đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật, các quy tắc và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định” Xét
về bản chất, trật tự an toàn xã hội là hệ thống các quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bằng hệ thống các quy phạm pháp luật của Nhà nước, hệ thống các quy phạm đạo đức, truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục trong đời sống của mỗi cộng đồng người, mỗi dân tộc, quốc gia Nhờ đó, mọi công dân được sống, lao động trong một môi trường xã hội yên ổn, có tổ chức, có
kỷ cương, mọi quyền và lợi ích chính đáng được tôn trọng, bảo vệ Xét từ dấu hiệu nội hàm, trật tự an toàn xã hội bao gồm “trật tự” và “an toàn”
Khái niệm trật tự an toàn xã hội phải được tiếp cận trên 3 khía cạnh: Trật tự an toàn xã hội là sản phẩm tất yếu của xã hội có giai cấp và nhà nước Trật tự an toàn xã hội nhằm phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của một chế độ xã hội nhất định
Trật tự an toàn xã hội phải được quan niệm như là kết quả của một trạng thái xã hội ổn định vững vàng của nhà nước và của hệ thống chính trị, trong đó quyền của các công dân trong xã hội được bảo vệ và tôn trọng
Trật tự an toàn xã hội được điều chỉnh bởi hệ thống quy phạm pháp luật, đạo đức, chính trị, bằng các phương pháp giáo dục, thuyết phục, cưỡng
Trang 20chế của Nhà nước Trong đó các quy phạm pháp luật đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành trật tự đó
Dưới góc độ khái quát nhất, luận văn đồng thuận với quan niệm: Trật
tự an toàn xã hội là trạng thái xã hội ổn định, có trật tự, kỷ cương, được xác lập trên các cơ sở quy phạm pháp luật, các giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội được tôn trọng và thừa nhận, từ đó mọi người dân có cuộc sống bình yên, quyền và lợi ích hợp pháp không bị xâm hại, mọi hoạt động của nhà nước, tổ chức và cá nhân được thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật
Theo đó, khái niệm Bảo đảm trật tự an toàn xã hội được định nghĩa:
Bảo đảm trật tự an toàn xã hội là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn xã hội nhằm duy trì trạng thái xã hội bình yên, trong đó mọi cá nhân, cơ quan, tổ
chức được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật
Phương pháp luận triết học cho phép tiếp cận nội dung khái niệm trật tự an toàn xã hội bao gồm nhiều yếu tố tạo nên một xã hội bình yên, có trật tự, kỷ cương, bao gồm: An ninh xã hội được đảm bảo, công tác phòng chống tội phạm đạt hiệu quả cao, hạn chế tới mức thấp nhất tội phạm hình sự; trật tự an toàn giao thông, hoạt động giao thông được thông suốt, an toàn, trật tự, hạn chế tới mức thấp nhất tai nạn giao thông; trật tự công cộng (những quy định chung về trật tự,
vệ sinh, văn hóa, mỹ quan, sự tuân thủ những quy định của pháp luật về phong tục, tập quán, sinh hoạt được mọi người thừa nhận, tình trạng yên ổn, có trật tự, tôn trọng lẫn nhau trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi của mọi người); phòng ngừa tai nạn; bài trừ tệ nạn xã hội; bảo vệ môi trường
Nội dung giữ gìn trật tự an toàn xã hội gồm:
Một là, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
Công tác phòng chống tội phạm bao gồm đấu tranh phòng chống các loại tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con
Trang 21người; các tội xâm phạm quyền sở hữu, các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; các tội xâm phạm môi trường; các tội về ma túy; các tội xâm phạm an toàn công cộng; các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính; các tội về tham nhũng; các tội phạm khác về chức vụ; các tội xâm phạm hoạt động tư pháp
Đấu tranh phòng chống tội phạm là việc tiến hành các biện pháp loại trừ nguyên nhân, điều kiện của tội phạm Phát hiện để ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm tội, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả, tác hại do tội phạm gây
ra cho xã hội Điều tra khám phá tội phạm và người phạm tội để đưa ra xử lý trước pháp luật đảm bảo đúng người, đúng tội Giáo dục, cải tạo người phạm tội giúp họ nhận thức được lỗi lầm và cố gắng cải tạo tốt, có thể tái hòa nhập cộng đồng xã hội, trở thành người lương thiện, sống có ích cho xã hội
Hai là, công tác giữ gìn trật tự nơi công cộng
Trật tự công cộng là trạng thái xã hội có trật tự hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định ở những nơi công cộng mà mọi người phải tuân theo Trật tự công cộng là một mặt của trật tự an toàn xã hội
và có nội dung bao gồm những quy định chung về trật tự, yên tĩnh, vệ sinh, nếp sống văn minh, sự tuân thủ những quy định của pháp luật và phong tục tập quán, sinh hoạt được mọi người thừa nhận
Giữ gìn trật tự nơi công cộng chính là giữ gìn trật tự, yên tĩnh chung, giữ gìn vệ sinh chung, duy trì nếp sống văn minh ở những nơi công cộng – nơi diễn ra các hoạt động chung của nhiều người, đảm bảo sự tôn trọng lẫn nhau trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi của con người
Để giữ gìn trật tự công cộng phải dựa trên cơ sở nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục công dân chấp hành một cách tự giác, nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước, của tập thể, của cơ quan tổ chức và khu dân
cư Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa, phát huy những nét tốt đẹp của
Trang 22phong tục tập quán truyền thống Mặt khác, phải nâng cao hiệu lực quản lý hành chính nhà nước về trật tự công cộng, đồng thời đấu tranh xử lý nghiêm minh đối với những hành vi phạm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng được quy định trong điều 19 - Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Ba là, công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông
Trật tự an toàn giao thông là trạng thái xã hội có trật tự, hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông, vận tải công cộng mà mọi người phải tuân theo khi tham gia giao thông, nhờ đó đảm bảo cho hoạt động giao thông thông suốt, có trật tự, an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông gây thiệt hại về người và tài sản
Đảm bảo trật tự an toàn giao thông không phải là nhiệm vụ của riêng các lực lượng chức năng (cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông ) mà là trách nhiệm của tất cả mọi người khi tham gia giao thông Đó là việc nắm vững và tuân theo nghiêm túc Luật Giao thông, mọi hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông phải được xử lý nghiêm khắc, những thiếu sót, yếu kém là nguyên nhân, điều kiện gây ra tai nạn giao thông phải được khắc phục nhanh chóng
Bốn là, phòng ngừa làm giảm tai nạn và đấu tranh bài trừ tệ nạn xã hội
Tệ nạn xã hội là sản phẩm phản ánh mặt tiêu cực của môi trường kinh
tế - xã hội Tệ nạn xã hội về bản chất là những hiện tượng xã hội tiêu cực, mang tính chất phổ biến, lan truyền phản ánh những thói quen, phong tục tập quán xấu, trái với chuẩn mực đạo đức xã hội
Tệ nạn xã hội là hiện tượng xã hội bao gồm những hành vi lệch chuẩn
xã hội, có tính phổ biến (từ những hành vi vi phạm những nguyên tắc về lối sống, truyền thống văn hóa, đạo đức, trái với thuần phong mỹ tục, các giá trị
xã hội tốt đẹp cho đến các hành vi vi phạm những nguyên tắc đã được thể chế
Trang 23hóa bằng pháp luật, kể cả Luật Hình sự) ảnh hưởng xấu về đạo đức và gây hậu quả nghiêm trọng trong đời sống cộng đồng
Tệ nạn xã hội bao gồm: mại dâm, nghiện ma túy, cờ bạc, mê tín dị đoan Tệ nạn xã hội là cơ sở xã hội của trạng thái phạm tội, là một trong những nguồn gốc phát sinh tội phạm Đặc biệt trong tình hình hiện nay nhiều
tệ nạn xã hội đã xâm nhập vào các tầng lớp xã hội, ở nhiều vùng miền, đáng chú ý là tệ nạn ma túy trong lứa tuổi thanh thiếu niên, trong nội bộ các cơ quan doanh nghiệp Tệ nạn xã hội ở nước ta chịu ảnh hưởng rất lớn của vấn
đề văn hóa truyền thống bị xói mòn, lối sống thực dụng và sự xuống cấp của đạo đức xã hội ở một bộ phận dân cư nhưng không bị xã hội lên án Mặt khác,
tệ nạn xã hội cũng đang có những biến thái mới trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế đó là những tệ nạn xã hội được du nhập từ bên ngoài
Giữa tội phạm và tệ nạn xã hội có mối liên hệ mật thiết với nhau, chúng
là tiền đề tồn tại của nhau Trên thực tế, tệ nạn xã hội tỷ lệ thuận với tội phạm
Tệ nạn xã hội chính là môi trường “ủ mầm” tội phạm Phòng chống tệ nạn xã hội là nhiệm vụ của toàn xã hội, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, bằng một hệ thống biện pháp tuyên truyền giáo dục, hành chính, kinh tế được tiến hành đồng bộ với sự tham gia của mọi ngành, mọi cấp, của cả cộng đồng trong đó lực lượng Công an giữ vai trò nòng cốt, xung kích
Năm là, bảo vệ môi trường
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, dân tộc và nhân loại
Bảo vệ môi trường là tập hợp những biện pháp giữ cho môi trường trong sạch, sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp lý sinh giới (vi sinh vật, động vật, thực vật, động vật) và môi sinh (đất, lòng đất, nước, không khí, khí hậu…) đảm bảo sự cân bằng sinh thái… nhằm tạo ra không gian tối ưu cho cuộc sống của con người
Trang 24Sự phân tích các nội dung cơ bản của lĩnh vực giữ gìn trật tự an toàn xã hội như trên cho thấy: Phát triển kinh tế tham gia vào giữ gìn trật tự an toàn
xã hội như là nền tảng, động lực bên trong bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giữ gìn kỷ cương pháp luật, thuần phong mỹ tục Tư duy biện chứng luôn chỉ ra rằng, các lĩnh vực của đời sống xã hội không tồn tại trong sự chia cắt, khu biệt, đơn tuyến mà chúng luôn xâm nhập vào nhau, tồn tại, vận động tác động tương hỗ lẫn nhau Trong sự phát triển kinh tế luôn có sự tham gia của các yếu tố chính trị, văn hóa, an ninh, ổn định, an toàn Sẽ chẳng thể kỳ vọng về một sự tăng trưởng kinh tế nếu không có ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội Và đến lượt nó, cơ sở nền tảng của mọi sự ổn định, an ninh, an toàn, phát triển bền vững lại nhở ở sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế
1.2 Sự tác động của phát triển kinh tế đến trật tự an toàn xã hội
1.2.1 Tác động tích cực
Theo quan điểm duy vật biện chứng, không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối, biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác Đồng thời cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải
là một cấu trúc hệ thống bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên
hệ bên trong của nó Tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống có mối quan hệ tương tác lần nhau, hơn nữa là một hệ thống mở tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau Trong xã hội, giữa phát triển kinh tế và đảm bảo trật tự an toàn xã hội có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong đó sự phát triển kinh tế tạo ra cơ sở vật chất bền vững cho việc đảm bảo trật tự an toàn xã hội, ổn định xã hội
Tầm quan trọng của sự phát triển kinh tế đối với nhiệm vụ đảm bảo trật
tự an toàn xã hội thể hiện qua các nội dung sau đây:
Thứ nhất, sự ổn định và phát triển kinh tế là cơ sở đảm bảo sự ổn định
về trật tự an toàn xã hội
Trang 25Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, Mác viết: Cuộc đấu tranh bảo
vệ an ninh xã hội không chỉ dựa vào pháp luật, trong các hoạt động của các cơ quan trừng phạt mà là trong kế hoạch rộng lớn hơn nữa Đó là việc tổ chức lại
xã hội, thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội vì con người, giáo dục con người mới, giải phóng con người ra khỏi các quan hệ bóc lột, tiêu diệt chế độ
tư hữu
Kinh tế phát triển sẽ tác động tích cực đối với trật tự an toàn xã hội Phát triển kinh tế là cơ sở vật chất bảo đảm cho tiến bộ xã hội và giữ gìn trật
tự an toàn xã hội Tiến bộ xã hội biểu hiện ở sự tăng mức sống của con người,
ở sự giảm khoảng cách giàu nghèo, sự giảm khoảng cách chênh lệch về sự phát triển giữa các vùng Muốn vậy kinh tế phải phát triển mới có thể tạo điều kiện vật chất để thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo, đầu tư cho những vùng lạc hậu, chậm phát triển vươn lên như vậy sẽ tạo cơ sở vững chắc cho việc ổn định và giữ gìn trật tự an toàn xã hội Trật tự an toàn xã hội được duy trì bền vững khi trình độ dân trí, học vấn, phục vụ y tế, việc mở rộng các phúc lợi xã hội tăng lên
Sự phát triển kinh tế sẽ làm cho thu nhập và đời sống cũng như chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao, niềm tin của dân đối với Đảng, với chế độ được củng cố tăng cường, kẻ thù và các thế lực thù địch phản động có kích động, dụ dỗ gây mất trật tự an toàn xã hội cũng sẽ gặp khó khăn
Thực tế công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy ở nơi nào kinh tế phát triển, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao thì ở đó tình hình chính trị luôn ổn định, quốc phòng an ninh được bảo đảm vững chắc Ở những địa bàn như vậy người dân không dễ
bị các phần tử xấu, các thế lực thù địch phản động kích động chống phá nên trật tự an toàn xã hội được bảo đảm vững chắc Đối với những vùng kinh tế
Trang 26chậm phát triển, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn về vật chất và tinh thần, việc nhận thức, hiểu biết xã hội, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước còn hạn chế thì các phần tử xấu, các thế lực thù địch, phản động dễ dàng dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc để kích động chống phá Những năm vừa qua, ở một số địa phương, đặc biệt là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên cho thấy muốn ổn định xã hội, tăng niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa thì vấn đề cốt lõi là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho người dân đó là giải pháp mang tính thượng sách để đảm bảo ổn định xã hội, giữ gìn trật tự an toàn xã hội
Chủ nghĩa duy vật Mác xít sở dĩ trở thành chủ nghĩa duy vật triệt để bởi
lẽ khi nghiên cứu đời sống xã hội luôn xuất phát từ cơ sở kinh tế, lấy yếu tố kinh tế để lý giải căn nguyên của các biến đổi xã hội Kinh tế phát triển vững mạnh thì thực thể xã hội sẽ cường thịnh Sự phát triển kinh tế sẽ thúc đẩy sự phát triển văn hóa, các mối quan hệ xã hội sẽ được xây dựng trên các chuẩn mực hướng tới sự tiến bộ; Kinh tế phát triển, con người sẽ có điều kiện để hiện thực hóa bản chất “người” của con người Không thể kỳ vọng vào một xã hội an toàn, ổn định, hài hòa nếu đó là một xã hội dựa trên đời sống kinh tế nghèo đói, thiếu thốn Sự ổn định, an toàn nếu có được có chăng chỉ là nhất thời và cũng chỉ trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó
Thứ hai: Kinh tế phát triển sẽ tất yếu kéo theo sự phát triển và tiến bộ
xã hội, trật tự an toàn xã hội theo đó cũng ngày càng được tăng cường củng
cố vững chắc hơn
Khi xây dựng học thuyết của mình, C.Mác và Ph Ăngghen đã lấy sản xuất vật chất làm xuất phát điểm để nghiên cứu xã hội và lịch sử Các ông đã nêu lên những nguyên lý cơ bản là toàn bộ lịch sử loài người bắt đầu từ sản xuất Khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho
Trang 27mình, đó là ranh giới phân biệt giữa con người với động vật Từ việc nghiên cứu vai trò quyết định của quá trình sản xuất ra những nhu cầu đầu tiên đối với sự tồn tại và phát triển của lịch sử, C.Mác - Ăngghen đã phát triển luận điểm của mình vào việc xem xét sự vận động phát triển của xã hội Các ông cho rằng: Chính sự vận động phát triển của nhu cầu đã thúc đẩy sự phát triển của xã hội Hoạt động sản xuất ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu đó
là hành vi lịch sử đầu tiên nhưng nhu cầu này được thỏa mãn trước sự vận động của thực tại và do tác động của hoàn cảnh ở cá nhân lại xuất hiện những nhu cầu mới Những nhu cầu mới làm cho con người luôn phát huy được tính năng động của bản thân, khơi dậy trong họ ý thức tư duy phát triển, tìm ra những phương thức để thỏa mãn nhu cầu ấy Phát triển kinh tế thúc đẩy sự xuất hiện của những nhu cầu mới, đây là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế
xã hội phát triển
Ở nước ta thời kỳ thực hiện cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, kinh tế kém phát triển, cơ chế tập trung bao cấp do những mặt hạn chế của nó nên không tạo ra được những điều kiện để thỏa mãn nhu cầu hiện tại do đó cũng không làm xuất hiện được những nhu cầu mới Trong hoàn cảnh như vậy, người dân tự thỏa mãn với những nhu cầu tối thiểu hàng ngày Từ khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, mọi nguồn tiềm lực của đất nước được giải phóng đưa vào phát triển nên nhiều nhu cầu thiết yếu được đáp ứng lại thúc đẩy sự xuất hiện những nhu cầu mới, trên cơ sở đó thúc đẩy tính năng động sáng tạo của con người trong sản xuất để thỏa mãn nhu cầu mới đó, nhờ
đó kinh tế - xã hội ở nước ta có sự phát triển vượt trội hơn so với thời kỳ thực hiện cơ chế tập trung bao cấp
Như vậy, kinh tế phát triển đã liên tiếp làm xuất hiện những nhu cầu mới, sự xuất hiện những nhu cầu mới đó là nhân tố thúc đẩy sự phát triển tiến
Trang 28bộ xã hội, đây là cơ sở vật chất để ổn định và đảm bảo trật tự an toàn xã hội ở mức độ tốt hơn
Về phương diện lý luận, sự phát triển kinh tế là đầu tầu để kéo theo các lĩnh vực khác của đời sống xã hội phát triển Có phát triển kinh tế thì chính trị mới tìm thấy cơ sở khách quan mang tính nền tảng của sự ổn định.Tăng trưởng kinh tế là nhân tố để cải thiện không ngừng đời sống nhân dân Khi cuộc sống đã no đủ thì các mối quan hệ xã hội mới có điều kiện để phát triển theo hướng lành mạnh, tích cực Tất nhiên để có được điều đó còn cần đến vai trò của nhiều yếu tố tham gia như định hướng của văn hóa, giáo dục Kinh tế
có phát triển thì đầu tư cho giáo dục mới được tăng cường, hạ tầng giao thông được cải thiện, văn hóa, xã hội không ngừng được nâng cao Tổng hợp của những điều đó sẽ đem lại một xã hội trong đó trật tự an toàn được bảo đảm
Thứ ba, kinh tế phát triển góp phần khẳng định chủ quyền lãnh thổ
và an ninh quốc gia, đây cũng là cơ sở để trật tự an toàn xã hội được đảm bảo vững chắc
Nước ta có bờ biển dài, nằm ở khu vực biển Đông giàu có và chiếm vị trí chiến lược quan trọng, là khu vực xảy ra tranh chấp của nhiều nước đối với một số quần đảo như Trường Sa, Hoàng Sa, nước nào cũng muốn đòi quyền lợi của mình đối với khu vực này bởi trong các quần đảo này có nhiều tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, nguồn lợi trong lòng đại dương, dưới đáy biển Mặt khác, Trường sa còn là tháp canh của cả đại dương có thể khống chế, theo dõi đường biển giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, kiểm soát tàu bè qua lại từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam nên có vị trí chiến lược mang tính toàn cầu, có liên quan đến quyền lợi của nhiều nước trong vùng và trên thế giới Hầu hết các nước lớn đều quan tâm đến khu vực này cho nên khi kinh tế, đặc biệt là kinh tế biển phát triển sẽ góp phần hợp pháp hóa quyền lợi
về mặt lãnh thổ, chủ quyền an ninh quốc gia trên biển, trên đất liền, đặc biệt là
Trang 29những vùng đang diễn ra tranh chấp Phát triển kinh tế góp phần khai thông hợp tác kinh tế quốc tế, xoa dịu mâu thuẫn quyền lợi giữa các quốc gia trong vùng, mở đường cho sự hợp tác kinh tế với các nước lớn trên thế giới, tạo ra
sự hòa quyện đan xen, đan cài giữa lợi ích kinh tế với tăng cường quốc phòng
an ninh và các mặt khác trong lĩnh vực đời sống hiện nay
Thứ tư: Một nền kinh tế tăng trưởng và phát triển năng động sẽ thúc đẩy sự phát triển năng động của xã hội, trong đó lĩnh vực trật tự an toàn xã hội được củng cố
Trước hết, sự phát triển kinh tế thể hiện ở việc sản xuất và tái sản xuất
mở rộng với quy mô ngày càng lớn, đa ngành, đa nghề, đa lĩnh vực, đa dạng hóa, đa phương hóa sẽ tạo ra nhiều cơ hội và việc làm, khi vấn đề việc làm được giải quyết tốt nó sẽ góp phần to lớn vào nhiệm vụ đảm bảo trật tự an toàn xã hội
Mặt khác, phát triển kinh tế, nhà nước có nguồn lực để xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
từ đó góp phần quan trọng đảm bảo TTATXH
Thứ năm: Nền kinh tế phát triển đúng định hướng sẽ góp phần giảm thiểu những nguyên nhân và điều kiện nảy sinh tội phạm và tệ nạn xã hội
Tội phạm và tệ nạn xã hội là một hiện tượng xã hội, nó có nguồn gốc trong xã hội, có nhiều nguyên nhân làm phát sinh tội phạm về tệ nạn xã hội như: điều kiện thuộc về xã hội; hệ thống chính sách kinh tế - xã hội; chức năng của cơ quan thi hành pháp luật; thiếu sót trong quản lý xã hội; môi trường gia đình, nhà trường, xã hội và những điều kiện, nguyên nhân thuộc về bản thân người phạm tội song nguyên nhân cơ bản, chủ yếu là sự tác động của những yếu tố kinh tế - xã hội đến tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật
Một nền kinh tế phát triển lành mạnh, nhân văn, tiến bộ là sự tăng trưởng kinh tế đi đôi với sự công bằng và tiến bộ xã hội Phải là một nền kinh
Trang 30tế giải quyết được nhu cầu việc làm, đáp ứng được các nhu cầu tối thiểu, quyền cơ bản của con người như: chăm sóc giáo dục, y tế, đảm bảo cuộc sống ngăn chặn được động cơ mục đích vụ lợi, cạnh tranh không lành mạnh, lối làm ăn thực dụng trong lao động sản xuất; ngăn chặn xu hương phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội Sự lành mạnh, phát triển bền vững nền kinh
tế là cơ sở để ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm cũng như tệ nạn xã hội
1.2.2 Tác động tiêu cực
Hội nhập kinh tế quốc tế đang là một xu hướng lớn của thời đại và đang lôi cuốn tất cả các nước tham gia, không một quốc gia nào có thể đứng ngoài tiến trình này Việt Nam đã và luôn chủ động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, thể hiện bằng những quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng qua các kỳ đại hội Đảng (từ đại hội VI đến đại hội XI) tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập kinh tế quốc tế từng bước hình thành và phát triển Đại
hội VI khẳng định “mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”, đến Đại hội VI đã có bước tiến quan trọng khi xác định “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình và phát triển… gắn thị trường trong nước và thị trường thế giới” Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII đánh dấu một bước đột phá trong quan điểm hội nhập quốc tế của Việt Nam khi xác định “… tích cực và chủ động thâm nhập, mở rộng thị trường quốc tế… chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta
có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và thị trường quốc tế” Tư tưởng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế từ Hội nghị Trung ương 4
khóa VIII đã được Đại hội IX nâng lên một tầm cao mới với phương châm
“Việt Nam sẵn sang là bạn là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” Đại hội X của Đảng một lần nữa xác định “Đẩy mạnh hơn nữa hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn và đầy đủ hơn các
Trang 31thể chế kinh tế toàn cầu khu vực và song phương”, cho đến Đại hội XI của Đảng ta lại tiếp tục khẳng định “triển khai đồng bộ toàn diện hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế” Đồng hành
cùng những chủ trương nhất quán của Đảng, sau 30 năm thực hiện đường lối
“đổi mới” chủ động hội nhập quốc tế, kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến vững chắc, ngày càng khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế
Sự phát triển về kinh tế thông qua hội nhập kinh tế quốc tế mang tới cho Việt Nam nhiều cơ hội thuận lợi đối với công tác đảm bảo trật tự an toàn
xã hội song cũng gây cho chúng ta nhiều khó khăn thách thức hay nói khác đi
một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay chỉ rõ: “Một bộ phận
Trang 32không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…” đó là
những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” Đây là thách thức lớn đối với công tác bảo vệ ANQG và đảm bảo TTATXH trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới
Thứ hai: Xu thế hội nhập của nền kinh tế làm xuất hiện nhiều loại tội phạm mới, nhất là tội phạm sử dụng công nghệ cao, rửa tiền, các loại tội phạm về kinh tế, ma túy, tội phạm có tổ chức diễn biến phức tạp đe dọa trực tiếp tới tình hình trật tự an toàn xã hội của nước ta
Tội phạm sử dụng công nghệ cao làm phương tiện tấn công các cơ sở
dữ liệu của máy tính, hoặc mạng máy tính tạo và lan truyền phát tán virus, đột nhập trái phép cơ sở dữ liệu máy tính, ăn cắp dữ liệu thông tin Dùng công nghệ cao thực hiện hành vi lừa đảo qua thanh toán trên mạng ngân hàng, trộm cước bưu chính viễn thông… Tội phạm rửa tiền sẽ triệt để lợi dụng kẽ hở trong kiểm soát các khoản tiền chuyển qua ngân hàng với số lượng lớn và không rõ nguồn gốc để hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có từ các hoạt động buôn lậu, tham nhũng, buôn ma túy, vũ khí… thông qua các hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam hoặc từ Việt Nam ra nước ngoài Tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia sẽ xuất hiện với quy mô, phương thức, thủ đoạn, tính chất hành vi ngày càng phức tạp và đa dạng Tội phạm là người nước ngoài sẽ lợi dụng những hạn chế của ta do thiếu kinh nghiệm, còn yếu kém về quản lý kinh tế, luật pháp quốc tế, non kém về khoa học kỹ thuật hoặc lợi dụng những cán bộ thoái hóa biến chất ký hợp đồng kinh tế với nước ngoài gây lãng phí, thiệt hại kinh tế Tội phạm buôn lậu và gian lận thương
Trang 33mại tồn tại và sẽ phát triển với hình thức tinh vi hơn hoạt động mang tính quốc tế, có sự thông đồng giữa trong và ngoài nước với mức độ cao và chặt chẽ hơn từ khâu sản xuất đến vận chuyển và tiêu thụ Tội phạm mua bán người và tội phạm ma túy tiếp tục gia tăng
Thứ ba, kinh tế phát triển không bền vững là điều kiện phát sinh tội phạm
Quan niệm về phát triển bền vững dần được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội và có tính tất yếu Tư duy về phát triển bền vững manh nha trong
cả quá trình sản xuất xã hội và bắt đầu từ việc nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tiếp đó là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất
ổn trong xã hội Chính vì thế, năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường
và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Ri-ô đơ Gia-nê-rô đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, phát triển bền vững được xác định là: “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương
lai” Theo đó, ba trụ cột phát triển bền vững được xác định là: Thứ nhất, bền
vững về mặt kinh tế, hay phát triển kinh tế bền vững là phát triển nhanh và an
toàn, chất lượng; Thứ hai, bền vững về mặt xã hội là công bằng xã hội và phát
triển con người, chỉ số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo
dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh; Thứ ba, bền
vững về sinh thái môi trường là khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống
Có thể thấy rõ rằng, trong những năm qua, chúng ta đã triển khai và thực hiện khá thành công một số nhiệm vụ để hướng tới phát triển bền vững Tuy nhiên, những thành tựu và tiến bộ đã đạt được chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước Trình độ phát triển kinh tế còn thấp so với các nước trên thế giới và ngay cả một số nước trong khu vực Xem xét ở ba khía cạnh để
Trang 34tăng trưởng bền vững là: kinh tế, xã hội và môi trường để thấy rõ còn nhiều vấn đề đặt ra cần được giải quyết
Hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung vẫn còn yếu Tích lũy nội bộ còn thấp; tăng trưởng kinh tế có bước chững lại, thấp hơn mức tăng của những năm trước do di chứng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu Đầu tư của Nhà nước hiệu quả thấp, còn thất thoát
và lãng phí Tỷ lệ nợ công so với GDP của các năm 2012, 2013, 2014 lần lượt là: 56,8%, 54,9% và 55,6% Đây là mức nợ tương đối cao Cho dù tổng khối lượng nợ vẫn được coi là trong ngưỡng an toàn, nhưng tiềm ẩn đằng sau đó là nhiều rủi ro
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng hiện tại chưa có chuyển biến đáng
kể trong việc đổi mới và phát triển các doanh nghiệp nhà nước Kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định, còn những yếu tố thiếu vững chắc, các thành phần kinh tế chưa phát huy hết năng lực, chưa thực sự được bình đẳng và yên tâm đầu tư kinh doanh Cơ chế quản lý, chính sách phân phối có mặt chưa hợp lý, chưa thúc đẩy tiết kiệm, tăng năng suất, kích thích đầu tư phát triển Hệ thống tài chính, ngân hàng đổi mới chậm, chất lượng hoạt động hạn chế; môi trường đầu tư, kinh doanh còn một số vướng mắc, chưa tạo điều kiện hỗ trợ tốt cho kinh tế phát triển
Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế, chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học còn lạc hậu, chậm đổi mới; cơ cấu đào tạo không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề
Văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế Quản lý văn hóa còn bất cập; môi trường văn hóa bị xâm hại, thiếu lành mạnh; các tệ
Trang 35nạn xã hội và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên ở mức đáng lo ngại
Tình trạng thiếu việc làm còn cao Chính sách tiền lương, thu nhập chưa động viên được người lao động tận tâm với công việc Đời sống của một
bộ phận dân cư, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo cao, khoảng cách chênh lệnh giàu - nghèo còn khá lớn
Chất lượng chăm sóc sức khỏe còn thấp, hệ thống y tế và chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng được yêu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân Vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ
Việc xây dựng pháp luật và chính sách bảo vệ môi trường còn thiếu và chậm, thực hiện chưa nghiêm, hiệu lực, hiệu quả còn thấp Môi trường ở nhiều nơi tiếp tục xuống cấp, một số nơi đã tới mức báo động Chưa có những giải pháp thực thi để đối phó với sự biến đổi khí hậu; hậu quả thiên tai còn nặng nề; tình trạng chặt phá, cháy rừng còn tiếp tục diễn ra Ô nhiễm nguồn nước, đất, ô nhiễm không khí còn nghiêm trọng ở một số nơi Chưa huy động được nhiều nguồn lực để bảo vệ môi trường sinh thái và môi trường sống của nhân dân
Thứ tư, Phát triển kinh tế không đi đôi với phát triển văn hóa
Nghiên cứu chủ đề mới của phát triển văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là nghiên cứu quan hệ của văn hóa tiên tiến với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việc chuyển đổi từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta làm cho sản phẩm văn hóa ngày càng phong phú, thị trường văn hóa ngày càng sôi động là một thực tế ai cũng nhìn thấy Bên cạnh những mặt tích cực, nhiều sản phẩm phản văn hóa, phản khoa học, chỉ coi trọng lợi ích tiền bạc làm cho thị trường văn hóa bị ảnh
Trang 36hưởng tiêu cực (như sự xuất hiện tràn lan các loại sản phẩm kích dục, bạo lực,
mê tín dị đoan…)
Trong tổng thể xã hội, cả bốn hệ thống văn minh kinh tế, chính trị, văn hóa, sinh thái phải nằm trong một chỉnh thể hữu cơ gắn bó, thúc đẩy lẫn nhau, không thể tách rời vì sự biệt lập từng bộ phận sẽ kéo lùi phát triển Chỉ có sự phát triển nhịp nhàng giữa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tạo ra sự phát triển hài hòa giữa văn minh vật chất và văn minh tinh thần mới bảo đảm cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Văn hóa phản ánh gương mặt tinh thần của nhân dân và trình độ văn minh của dân tộc, là lực lượng tinh thần và nhân tố trí lực có tác dụng thúc đẩy phát triển toàn diện xã hội Sự phát triển văn hóa trong việc thỏa mãn nhu cầu văn hóa ngày một tăng cao của nhân dân, nâng cao tinh thần yêu nước, tố chất văn hóa khoa học và tố chất đạo đức tư tưởng của toàn dân tộc, hình thành lý tưởng và khát vọng chung của tất cả mọi thành viên trong xã hội, thực sự là nền tảng tinh thần và trụ cột tinh thần quan trọng không
gì thay thế được Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
sự chọn lựa tất nhiên để phát triển sức sản xuất xã hội nhằm tiến tới hiện đại hóa đất nước Do đó, phát triển văn hóa tiên tiến song song với phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là để giải phóng và phát triển sức sản xuất xã hội, nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa ngày càng cao của nhân dân Nó thống nhất một cách nội tại trong thực tiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa Văn hóa tiên tiến phải là thứ văn hóa thích ứng với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển Phát triển văn hóa tiên tiến là động lực tinh thần nâng đỡ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nguồn cơ
sở vật chất bảo đảm phát triển văn hóa tiên tiến
Trang 37Cơ chế thị trường đó là sự hoạt động của các quy luật kinh tế, các mối quan hệ kinh tế khách quan được điều tiết thông qua thị trường Trước hết phải khẳng định rằng cơ chế thị trường đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển nền sản xuất của xã hội Cơ chế thị trường tạo điều kiện để thỏa mãn tối
đa lợi ích cho người sản xuất kinh doanh dịch vụ Nó làm cho người sản xuất, kinh doanh dịch vụ tự chủ, tự tin, năng động, khôn ngoan, tỉnh táo, mạo hiểm hơn trong hoạt động của mình Song mặt trái của nó cũng gây ra không ít tiêu cực và tệ nạn xã hội Nó đẩy con người vào vòng xoáy lợi nhuận, lấy tiền bạc làm mục đích, vì thế ở một số người nó kích thích tính phi đạo lý, phá vỡ luân thường đạo lý xã hội, làm sai lệch chuẩn mực đạo đức văn hóa truyền thống của dân tộc
Cơ chế thị trường hình thành, mặt trái của nó là làm thương mại hóa các mối quan hệ xã hội, làm trỗi dậy lòng tham ích kỷ của một bộ phận người trong xã hội Một số kẻ lao vào con đường làm ăn phi pháp làm giàu bằng mọi cách, mọi thủ đoạn bất chấp pháp luật, bất chấp đạo lý làm người, bán rẻ lương tâm trở thành những tên tội phạm nguy hiểm
Trang 38Tiểu kết chương 1
Trong xã hội, giữa phát triển kinh tế và đảm bảo trật tự an toàn xã hội
có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong đó sự phát triển kinh tế tạo ra cơ
sở vật chất bền vững cho việc đảm bảo trật tự an toàn xã hội, ổn định xã hội
Tầm quan trọng của sự phát triển kinh tế đối với nhiệm vụ đảm bảo trật
tự an toàn xã hội thể hiện ở chỗ: Sự ổn định và phát triển kinh tế là cơ sở đảm bảo sự ổn định về trật tự an toàn xã hội; Kinh tế phát triển sẽ tất yếu kéo theo
sự phát triển và tiến bộ xã hội, trật tự an toàn xã hội theo đó cũng ngày càng được tăng cường củng cố vững chắc hơn; kinh tế phát triển góp phần khẳng định chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia, đây cũng là cơ sở để trật tự an toàn xã hội được đảm bảo vững chắc; Một nền kinh tế tăng trưởng và phát triển năng động sẽ thúc đẩy sự phát triển năng động của xã hội, trong đó lĩnh vực trật tự an toàn xã hội được củng cố; Nền kinh tế phát triển đúng định hướng sẽ góp phần giảm thiểu những nguyên nhân và điều kiện nảy sinh tội phạm và tệ nạn xã hội
Sự phát triển về kinh tế thông qua hội nhập kinh tế quốc tế mang tới cho Việt Nam nhiều cơ hội đồng thời cũng gây cho chúng ta nhiều khó khăn thách thức hay nói khác đi là những tác động tiêu cực như: Sự chệch hướng trong phát triển kinh tế tạo ra thách thức lớn đối với công tác giữ gìn TTATXH; Xu thế hội nhập của nền kinh tế làm xuất hiện nhiều loại tội phạm mới, nhất là tội phạm sử dụng công nghệ cao, rửa tiền, các loại tội phạm về kinh tế, ma túy, tội phạm có tổ chức diễn biến phức tạp đe dọa trực tiếp tới tình hình trật tự an toàn xã hội của nước ta; Kinh tế phát triển không bền vững
là điều kiện phát sinh tội phạm; Phát triển kinh tế không đi đôi với phát triển văn hóa
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG SỰ TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẾN TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 Những thành tựu trong phát triển kinh tế góp phần đảm bảo trật tự
an toàn xã hội ở nước ta hiện nay
2.1.1 Sự phát triển kinh tế góp phần kiến tạo sự ổn định chính trị, ổn định
xã hội, kiềm chế và từng bước đẩy lùi tội phạm
Trong những năm gần đây, tình hình quốc tế và khu vực có nhiểu biến động phức tạp, khó lường; đất nước ta gặp nhiều khó khăn, thách thức, các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng nước ta… Song công cuộc đổi mới ở nước ta vẫn thu được những thành tựu to lớn, tăng trưởng kinh tế vẫn tiếp tục được duy trì ở mức khá Tiềm lực kinh tế, uy tín, vị thế quốc tế của nước ta được nâng cao
Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung và phát triển) xác định phương hướng những năm tới là đất nước tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường Sau 30 năm đổi mới, đất nước ta từ chỗ đói nghèo, lạc hậu, đến nay trở thành một quốc gia có thu nhập đầu người ở mức trung bình là một thành tựu quan trọng tạo ra thế và lực để giữ vững trật tự an toàn xã hội
Đất nước sau 30 năm đổi mới, sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đã tạo nên sự thay đổi tích cực trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trước hết là sự ổn định về chính trị Có thể nói những năm vừa qua, tình hình chính trị thế giới diễn biến hết sức phức tạp, chiến tranh khu vực, nội chiến dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố quốc tế, chủ nghĩa ly khai, ly tâm, những sự trỗi dậy của chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc, ý thức hệ tôn giáo cuồng tín cực đoan đẩy các quốc gia vào cảnh chiến tranh, huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt Những
Trang 40cuộc chiến nóng bỏng ở các nước Trung Đông, khủng hoảng chính trị ở Thái Lan, nhà nước Hồi giáo tự xưng, rồi làn sóng di cư của người tị nạn do chiến tranh, xung đột Song Việt Nam trong con mắt của bạn bè thế giới luôn là một đất nước của sự ổn định, bình yên, là điểm đến an toàn
Nhìn từ các chỉ số kinh tế để minh chứng, trong mười năm qua, thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7,3%/năm, thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 1.200 USD Việt nam bước vào ngưỡng nước có thu nhập trung bình Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng CNH, HĐH Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, thâm hụt ngân sách và nợ quốc gia được kiểm soát trong giới hạn an toàn Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện tốt hơn Thu nhập thực
tế bình quân đầu người 10 năm qua tăng khoảng 2,3 lần Công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt nhiều thành tựu Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 58% trong đầu thập niên 90 của thế kỷ trước xuống còn 7,8% năm 2013 Tuổi thọ bình quân tăng từ 67 lên 72 tuổi Chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng tăng lên, năm 2008 là 0,733, thuộc nhóm nước trung bình cao trên thế giới Hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng Cùng với những kết quả to lớn trong việc xã hội hoá phát triển các lĩnh vực xã hội Năm 2008, nước ta đã hoàn thành hầu hết các mục tiêu thiên niên kỷ đặt ra cho năm 2015
Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm và có mặt được cải thiện Dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng, xã hội cởi mở và đồng thuận hơn Quốc phòng, an ninh được giữ vững Chính trị - xã hội ổn định Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi; thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; tạo ra những