1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh nghệ an

112 353 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 2,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mức độ vận dụng thường xuyên những hành động đúng với quyền bảo vệ trẻ em của cha mẹ 54 Bảng 3.5: Mức độ áp dụng thường xuyên những hành vi vi phạm quyền bảo vệ trẻ em của cha mẹ 59 Bảng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGÔ THỊ KIỀU TRANG

NHẬN THỨC VỀ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM CỦA CHA MẸ TRÊN ĐỊA BÀN MIỀN NÚI TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGÔ THỊ KIỀU TRANG

NHẬN THỨC VỀ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM CỦA CHA MẸ TRÊN ĐỊA BÀN MIỀN NÚI TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Tâm lý học

Mã số: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS BÙI THỊ XUÂN MAI

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Bùi Thị Xuân Mai - Khoa Công tác xã hội - Trường Đại học Lao động Xã Hội Hà Nội Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Ngô Thị Kiều Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn cao học này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy (cô) trong Khoa Tâm lý học - Trường Đại Học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn cao học

Tôi cũng xin trân thành cảm ơn PGS.TS.Bùi Thị Xuân Mai, người đã tận tình dành nhiều thời gian quý báu để giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu và đóng góp những ý kiến quan trọng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn cao học này

Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các quý phụ huynh, các thầy cô giáo, các cán bộ công tác xã hội và các em học sinh trên địa bàn thị trấn Qùy Hợp, xã Châu Quang, xã Châu Lộc, Xã Thọ Hợp – Huyện Qùy Hợp – Tỉnh Nghệ An Đó là những người đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu thực tiễn, giúp tôi có được những số liệu quý báu để góp phần vào việc hoàn thành luận văn cao học

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người bạn và người thân trong gia đình tôi, những người đã ủng hộ tôi về mặt tinh thần, giúp tôi có thể hoàn thành luận văn của mình

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài của tôi còn nhiều thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự bổ sung, đóng góp ý kiến quý giá của các Thầy (cô) giáo để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn Một lần nữa, tôi xin trân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 07 năm 2016

Học viên

Ngô Thị Kiều Trang

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Khách thể nghiên cứu 3

5 Giả thuyết nghiên cứu 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

8 Phương pháp nghiên cứu 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu 5

1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới 5

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam 6

1.2 Một số khái niệm công cụ 10

1.2.1 Khái niệm Trẻ em 10

1.2.2 Khái niệm Quyền trẻ em và Thực hiện Quyền trẻ em 10

1.2.3 Khái niệm nhận thức 13

1.3 Một số lí luận cơ bản về nhận thức việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ 20

1.3.1 Vai trò của cha mẹ trong việc thực hiện quyền trẻ em 20

1.3.2 Nhận thức về việc thực hiện Quyền trẻ em của cha mẹError! Bookmark not defined 1.3.3 Các mức độ nhận thức về việc thực hiện Quyền trẻ em của cha mẹ Error! Bookmark not defined 1.4 Các yêu tố ảnh hưởng đến nhận thức về việc thực hiện Quyền trẻ em của cha mẹ 29

1.4.1 Yếu tố chủ quan 29

1.4.2 Yếu tố khách quan 30

Trang 6

Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đặc điểm địa bàn và mẫu khảo sát 33

2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 33

2.1.2 Đặc điểm mẫu khảo sát 36

2.2 Phương pháp nghiên cứu 38

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 38

2.2.2 Phương pháp chuyên gia 38

2.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 38

2.2.4 Phương pháp phỏng vấn 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC VỀ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM CỦA CHA MẸ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH NGHỆ AN 43

3.1 Thực trạng nhận thức về quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi Nghệ An 43

3.1.1 Nhận thức về công ước quốc tế về quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi Nghệ An 43

3.1.2 Nhận thức của cha mẹ về tầm quan trọng của việc thực hiện quyền trẻ em 47

3.2 Thực trạng nhận thức về quyền được bảo vệ của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An 47

3.2.1 Thực trạng mức độ biết về quyền được bảo vệ của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An 47

3.2.2.Thực trạng mức độ hiểu về quyền được bảo vệ của cha trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An 49

3.2.3 Thực trạng mức độ vận dụng quyền được bảo vệ của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An 51

3.3 Thực trạng nhận thức về quyền được tham gia của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An 60

3.3.1 Thực trạng mức độ biết về quyền được tham gia của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An 60

Trang 7

3.3.2 Thực trạng mức độ hiểu về quyền được tham gia của cha mẹ trên địa bàn

miền núi tỉnh Nghệ An 62

3.3.3 Thực trạng mức độ vận dụng quyền được tham gia của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An 64

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An 72

3.4.1 Yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An 73

3.4.2 Yếu tố khách quan ảnh hưởng đến nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC 87

Trang 8

Bảng 3.2 : Mức độ hiểu biết về các nội dung của công ước quốc tế về

quyền trẻ em của cha mẹ

52

Bảng 3.3: Thực trạng mức độ hiểu của cha mẹ về quyền được bảo vệ của

trẻ em

52

Bảng 3.4 Mức độ vận dụng thường xuyên những hành động đúng với

quyền bảo vệ trẻ em của cha mẹ

54

Bảng 3.5: Mức độ áp dụng thường xuyên những hành vi vi phạm quyền

bảo vệ trẻ em của cha mẹ

59 Bảng 3.6: Thực trạng mức độ hiểu về quyền đượczz tham gia của cha mẹ 64 Bảng 3.7: Mức độ vận dụng thường xuyên những hành vi đúng với quyền

tham gia đối với trẻ của cha mẹ

67

Bảng 3.8: Mức độ vận dụng thường xuyên những hành vi vi phạm quyền

tham gia của trẻ

70

Bảng 3.9: Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về việc thực hiện quyền

trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An

73

Bảng 3.10: So sánh trình độ học vấn với mức độ thực hiện quyền bảo vệ

trẻ em của cha mẹ của cha mẹ

75

Bảng 3.11: Kênh tiếp cận quyền trẻ em của cha mẹ 81

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Đặc điểm mẫu khảo sát cha mẹ theo trình độ học vấn 40 Biểu đồ 2.2 Đặc điểm mẫu khảo sát cha mẹ theo nghề nghiệp 40 Biểu đồ 2.3 Đặc điểm mẫu khảo sát theo điều kiện kinh tế của gia đình 41 Biểu đồ 3.1 : Mức độ biết của cha mẹ về quyền được bảo vệ 51 Biểu đồ 3.2: So sánh mức độ vận dụng những hành vi đúng với quyền

bảo vệ trẻ em của cha mẹ với sự thụ hưởng của trẻ

58

Biểu đồ 3.3: So sánh mức độ vận dụng những hành vi vi phạm quyền bảo

vệ trẻ em của cha mẹ với sự thụ hưởng của trẻ

Biểu đồ 3.8 : So sánh điều kiện kinh tế gia đình với mức độ thực hiện

quyền trẻ em của cha mẹ

79

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay, vấn đề quyền trẻ em đang là mối quan tâm lớn không chỉ của từng quốc gia mà là của toàn xã hội Tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc phụ thuộc nhiều vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Tuy nhiên, ở nhiều nơi trên thế giới, tình trạng trẻ em phải tự lao động kiếm sống, bị lừa gạt, bạo lực, bóc lột sức lao động và sa vào các tệ nạn xã hội đang có chiều hướng gia tăng Bởi vậy, hơn lúc nào hết, vấn đề quyền trẻ em được đặt ra như một nhu cầu bức bách cần được giải quyết, nhằm giành lại cho các em quyền được sống, quyền được học hành, vui chơi, được chăm sóc và bảo vệ

Ngày 20/11/1989, Liên hợp quốc đã thông qua và phê chuẩn “Công ước về quyền trẻ em” bao gồm 54 điều khoản có hiệu lực từ ngày 02/09/1990 Trong lời

mở đầu, công ước đã khẳng định: “Để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông…Trẻ em cần được chuẩn bị đầy đủ để sống cuộc sống cá nhân trong xã hội và cần được nuôi dưỡng theo tinh thần các lý tưởng được nêu ra trong hiến chương Liên hợp quốc, đặc biệt trong tinh thần hòa bình, phẩm giá, khoan dung, tự do, bình đẳng và đoàn kết” [6]

Ngày 20 tháng 02 năm 1990, Việt Nam đã ký và phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em mà không kèm theo bảo lưu nào Việt Nam là quốc gia thứ hai trên thế giới và cũng là quốc gia đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước này Việc phê chuẩn Công ước đã tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho việc bảo vệ trẻ em ở Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra những nghĩa vụ ràng buộc Việt Nam đối với việc thực thi Công ước Cũng ngay từ khi phê chuẩn, UNICEF đã phối hợp chặt chẽ với chính phủ Việt Nam xây dựng Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em và nỗ lực triển khai thực hiện UNICEF đã kiên trì thực hiện các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao thái độ về việc thực hiện quyền trẻ em của những người có vai trò và ảnh hưởng đối với trẻ Thêm vào đó, việc ban hành và triển khai Luật "Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” trong 10 năm qua đã có nhiều tiến bộ, nhất là các nhóm quyền cơ bản của trẻ em Cụ thể, Chính phủ đã ban hành các Chương trình hành

Trang 11

động vì trẻ em, Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em, các Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng về các chính sách hỗ trợ đối với các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Các bộ, ngành như Bộ Y tế triển khai các chương trình về tiêm chủng mở rộng, chương trình về dinh dưỡng cho trẻ em, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho trẻ dưới 5 tuổi Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai chương trình phổ cập giáo dục tiểu học; triển khai chương trình phổ cập mẫu giáo cho trẻ 5 tuổi; các chính sách hỗ trợ trẻ em nghèo, sinh sống ở vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa; hỗ trợ tiền ăn ở để trẻ em có thể đi học Việc phòng chống bạo lực đối với trẻ em đang được chú trọng ở mọi cấp, mọi ngành, mọi tầng lớp xã hội… Bởi vậy, trẻ em Việt Nam đã, đang và sẽ được hưởng những cơ hội tốt đẹp hơn so với trước đây Mức sống của nhiều gia đình được cải thiện, các bậc cha mẹ có sự lựa chọn dễ dàng hơn trong việc tổ chức cuộc sống và điều này có ảnh hưởng tích cực tới lợi ích của trẻ

em Nhưng để có được sự lựa chọn đi tới quyết định đúng đắn trong việc chăm sóc trẻ em, các gia đình cần được tiếp cận thông tin nhiều hơn nữa Với sự tham gia tích cực của truyền thông, các vấn đề trẻ em được truyền tải nhiều hơn tới dân chúng cả nước về chất lượng và số lượng

Mặc dù vậy, nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em trong gia đình hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải quan tâm Việc quán triệt nội dung các Quyền của trẻ em từ nhận thức, tình cảm đến hành vi vẫn chưa thực sự đồng đều Các bậc cha

mẹ vẫn chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về quyền trẻ em cũng như chưa có thái độ đúng đắn trong việc thực hiện những quyền mà con em họ đáng được hưởng Đặc biệt

ở những vùng nông thôn và miền núi, mức độ tiếp cận với các nguồn thông tin đại chúng còn thiếu thốn, điều kiện văn hóa, kinh tế, xã hội kém hơn so với các vùng đồng bằng và thành thị, vấn đề quyền trẻ em trong gia đình cũng chưa thật sự được đề cao

Tìm hiểu về nhận thức của cha mẹ về việc thực hiện Quyền trẻ em sẽ góp phần làm cơ sở để các nhà làm công tác truyền thông- vận động về quyền trẻ em, các nhà hoạch định chính sách đưa ra kế hoạch cũng như chiến lược truyền thông nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi về quyền trẻ em cho các bậc cha mẹ ở các vùng miền núi nói riêng và trên cả nước nói chung

Trang 12

Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nói trên, đề tài “Nhận thức về

việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi Tỉnh Nghệ An” được

lựa chọn để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ và các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức này Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức về quyền trẻ em của các bậc cha mẹ ở các vùng miền núi nói riêng và trên cả nước nói chung

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Mức độ nhận thức về việc thực hiện các quyền đối với trẻ em của cha mẹ và

- Cha mẹ của trẻ : 110 người

- Cán bộ làm công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em : 5 người

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nhận thức của các bậc cha mẹ về việc thực hiện Quyền trẻ em vẫn còn nhiều hạn chế ở các mức độ: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng vấn đề quyền trẻ em vào thực tế

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của cha mẹ trong việc thực hiện quyền trẻ em như: giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn của cha mẹ; công tác tuyên truyền vận động về vấn đề quyền trẻ em tại địa phương; phương tiện

thông tin đại chúng…

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận

Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quyền trẻ em; tổng quan các tài liệu

và xây dựng các khái niệm liên quan đến nhận thức về quyền trẻ em của các bậc cha

mẹ

Trang 13

6.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn

Đánh giá mức độ nhận thức của cha mẹ trong các hoạt động liên quan đến việc thực hiện quyền trẻ em và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng nhận thức này

Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của cha mẹ về việc thực hiện quyền trẻ em ở địa bàn miền núi

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

7.1 Giới hạn về về nội dung

Nhận thức của cha mẹ về việc thực hiện quyền trẻ em có nhiều mức độ khác nhau về nhiều nhóm quyền khác nhau dành cho trẻ em Trong phạm vi của luận văn này chúng tôi tập trung tìm hiểu nhận thức của cha mẹ đối với việc thực hiện 2 nhóm quyền của trẻ em là Quyền được tham gia và Quyền được bảo vệ ở 3 mức độ: nhận biết, thông hiểu và vận dụng vấn đề quyền trẻ em vào thực tế

7.2 Giới hạn về khách thể và địa bàn

- Về khách thể: Khảo sát trên cha mẹ của trẻ và trẻ em trong độ tuổi 12– 16

tuổi

- Về địa bàn: Nghiên cứu tại địa bàn huyện Qùy Hợp – Tỉnh Nghệ An

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Tiến hành nghiên cứu tài liệu sách báo liên quan đến quyền trẻ em Tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp hệ thống hóa cơ sở lý luận về nhận thức của cha

mẹ về vấn đề thực hiện quyền trẻ em

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan nghiên cứu về nhận thức của cha mẹ đối với quyền trẻ

1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới

UNICEF là một trong những tổ chức quốc tế có nhiều đóng góp trong việc hỗ trợ các hoạt động của Chính phủ liên quan tới trẻ em Các chương trình của UNICEF được hình thành theo định hướng của Công ước quốc tế về Quyền trẻ em (CRC) Trên cơ sở đó, UNICEF đưa ra mục tiêu chung là: vì sự sống còn, phát triển, bảo vệ

và tham gia của trẻ em trong khuôn khổ Công ước quốc tế về Quyền trẻ em Hằng năm, UNICEF đều có những báo cáo về tình hình trẻ em trên toàn thế giới và vấn đề bảo vệ trẻ em ở các quốc gia Các nghiên cứu của UNICEF chủ yếu là về các vấn đề:

Vệ sinh môi trường và chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em, dinh dưỡng cho trẻ, vấn đề giáo dục và trẻ em tàn tật

Nghiên cứu của Liên hợp quốc về tình trạng bạo hành đối với trẻ em: Bạo lực diễn ra hàng ngày đối với trẻ em phải chấm dứt (2001-2006) là nghiên cứu đầu

tiên cung cấp một bức tranh toàn cảnh về các hình thức và quy mô của nạn bạo hành diễn ra hàng ngày với trẻ em trên toàn thế giới Nghiên cứu xem xét vấn đề ở các khía cạnh về nhân quyền, sức khỏe cộng đồng và bảo vệ trẻ em trong năm khung cảnh khác nhau mà ở đó nạn lạm dụng thường xảy ra: tại nhà và trong gia đình, ở trường học và các cơ sở giáo dục, các tổ chức và cơ quan, và tại cộng đồng [22]

Báo cáo Thế giới về phòng chống thương tích ở trẻ em của các tác giả

Margie Peden, Kayode Oyegbite, Joan Ozanne-Smith, Adnan A Hyder, Christine Branche, AKM Fazlur Rahman, Frederick Rivara và Kidist Bartolomeos (2008) đã chỉ ra tình trạng thương tích ở trẻ em là một vấn đề y tế công cộng ngày càng phát

Trang 15

triển trên phạm vi toàn cầu Đây là một lĩnh vực đáng lo ngại cho trẻ từ khi trẻ mới sinh ra cho đến khi trẻ em đến tuổi trưởng thành Báo cáo đã nâng cao nhận thức về tầm cỡ, các yếu tố rủi ro và các ảnh hưởng của thương tích ở trẻ em trên phạm vi toàn cầu; đồng thời thu hút sự chú ý về khả năng phòng chống thương tích ở trẻ em

và trình bày những hiểu biết về tính hiệu quả của các chiến lược can thiệp Thông qua đó tác giả đưa ra các khuyến nghị có thể được thực hiện bởi tất cả các quốc gia

để giảm thương tích ở trẻ em một cách có hiệu quả [25]

Báo cáo Tình hình Trẻ em khu vực Châu Á Thái Bình Dương năm 2008 của

tổ chức UNICEF cho biết sự phân hóa giàu nghèo có xu hướng tăng lên với tốc độ đáng lo ngại trong các tiểu vùng ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, khiến cho rất nhiều bà mẹ và trẻ em có nguy cơ bị lấn sâu vào đói nghèo và tiếp tục bị loại trừ khỏi các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Bên cạnh đó, báo cáo còn nhấn mạnh một xu hướng đáng lo ngại trong toàn khu vực đó là chi phí cho y tế vẫn ở mức thấp hơn nhiều so với mức bình quân trên toàn thế giới Báo cáo cũng đưa ra các khuyến nghị nhằm giảm thiểu hơn nữa tỷ lệ tử vong ở trẻ em như : Tập trung các nguồn lực y tế vào các khu vực có tỷ lệ tử vong ở trẻ em cao nhất; Tăng cường các hệ thống y tế; Tăng tối thiểu 2% chi phí cho y tế công (dựa vào các mức của năm 2001) để người nghèo nhất có thể được sử dụng các dịch vụ y tế công có chất lượng; Giải quyết tình

trạng bất bình đẳng về giới thông qua giáo dục cộng đồng…[24]

Báo cáo của Liên Hợp Quốc tập trung về Quyền Trẻ em ngày 22-10-2015 do

Heiner Bielefeldt trình bày, đã nhấn mạnh rằng các quốc gia phải chú ý đến hành vi

vi phạm các quyền của trẻ em và cha mẹ của họ Trong báo cáo, Heiner Bielefeldt

nói rằng mọi trẻ em phải được tôn trọng như một "chủ thể quyền" Bản báo cáo chỉ

ra vấn đề cần phải giải quyết khẩn trương đó là các tình huống bạo lực và phân biệt

đối xử có ảnh hưởng đến nhiều trẻ em [26]

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam

Mặc dù công tác Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em được Đảng và Nhà nước thực sự quan tâm, phong trào toàn dân chăm lo cho trẻ em luôn luôn được đẩy mạnh tại các địa phương trong cả nước, nhưng trong một thời gian dài, những nghiên cứu, những khảo sát đánh giá về công tác này còn ít ỏi Điều đáng mừng là

Trang 16

trong những năm những năm gần đây, đã có những công trình nghiên cứu về trẻ em nói chung, về những vấn đề xung quanh quá trình thi hành Luật BVCS&GDTE, truyền thông – vận động về quyền trẻ em nói riêng được triển khai và đem lại những giá trị, ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Dưới đây là một số công trình tiêu biểu:

Nghiên cứu “Một số khó khăn và cản trở qua 10 năm thực hiện Luật

BVCS&GDTE (1991-2000)” do Trung tâm Thông tin - Tư liệu và Nghiên cứu -

UBBV&CSTE Việt Nam thực hiện với mục đích tổng kết 10 năm thi hành Luật BVCS&GDTE Nghiên cứu đã đánh giá sự chuyển biến nhận thức và tình hình thực hiện Luật của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức, các đoàn thể xã hội và đặc biệt là việc thực hiện chủ trương, chính sách cho trẻ em của các cấp chính quyền địa phương Từ đó, từng bước nâng cao nhận thức và trách nhiệm với công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2001 [16]

Cùng đó, báo cáo “Hoạt động, tư vấn – xây dựng chương trình truyền thông-

vận động quyền trẻ em giai đoạn 2001 – 2005” do Plan International Hà Nội tài trợ

được thực hiện bởi Trịnh Hoà Bình và cộng sự đã đánh giá nhận thức của người dân

về Luật BVCS&GDTE và một số quyền cơ bản của trẻ em trên 9 tỉnh/thành phố Từ

đó xây dựng chương trình truyền thông – vận động quyền trẻ em giai đoạn 2001 –

2005 [13]

Năm 2001, PGS.TS Trịnh Hòa Bình và các cộng sự tiếp tục thực hiện nghiên

cứu: “Nhận thức và dư luận xã hội qua 10 năm thực hiện Luật BVCS&GDTE” Với

mục đích tổng hợp những kết quả chính về mặt nhận thức và đánh giá của các nhóm đối tượng về Luật BVCS&GDTE (dư luận xã hội) từ đó đưa ra những khuyến nghị, giải pháp cho chương trình hành động quốc gia vì trẻ em của Việt Nam trong thời

gian tới [14]

Luận văn ThS/Trần Thị Thuý Hảo (2005) : “Báo in với vấn đề quyền tham

gia của trẻ em hiện nay” đã tìm hiểu, đánh giá việc tuyên truyền và thực hiện nhóm

quyền tham gia của trẻ em trên báo Thiếu niên tiền phong, Thiếu nhi dân tộc, Hoa học trò, Tạp chí Gia đình & Trẻ em Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc tuyên truyền và thực hiện Quyền tham gia của trẻ em trên 4 sản phẩm báo chí trên Những giải pháp này sẽ góp phần tạo môi

Trang 17

trường thuận lợi nhất để trẻ em có cơ hội thể hiện suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng và mục đích tác động tới các đối tượng có liên quan mật thiết với trẻ em [12]

Công trình nghiên cứu: “Sự hiểu biết giữa gia đình và trẻ em về vấn đề quyền

trẻ em hiện nay” (Qua cuộc điều tra kiến thức, thái độ, hành vi, của cộng đồng về

quyền trẻ em 2004 - 2005) của tác giả Trịnh Hòa Bình đăng trên tạp chí xã học số 4 (2005) tập trung điều tra về kiến thức, thái độ, hành vi của cộng đồng về quyền trẻ

em trên quy mô 10 tỉnh, thành phố trong cả nước với sự tham gia của 3000 cha mẹ Một trong những phát hiện quan trọng trùng khớp với những vấn đề nói trên là sự thấu hiểu giữa cha mẹ và con cái còn nhiều bất cập thể hiện qua những mâu thuẫn

cơ bản trong gia đình Việt Nam hiện nay qua việc phân tích những thông tin định

tính và định lượng từ cuộc khảo sát [15]

Bên cạnh đó, “Báo cáo Những vấn đề cơ bản của quyền trẻ em trong bối

cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập – Thực trạng và giải pháp” của cục

Bảo vệ, chăm sóc trẻ em năm 2009 đã làm rõ những vấn đề cơ bản của trẻ em và nội hàm của nó trong giai đoạn 2009 - 2010 (quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế thế giới) Từ đó đúc rút thành vấn đề lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu xây dựng luật pháp, hoạch định chính sách, chương trình bảo vệ chăm sóc trẻ em Báo cáo cũng đề xuất một số biện pháp nhằm giải quyết có hiệu quả những vấn đề cơ bản của trẻ em, hạn chế những tác động tiêu cực đến việc thực hiện quyền trẻ em trong những năm 2010 - 2020 [2]

Với những hoạt động tích cực của mình trong vấn đề quyền trẻ em, năm

2010, UNICEF đã tiến hành điều tra, nghiên cứu và thực hiện “Báo cáo phân tích

tình hình trẻ em tại viêt nam 2010” Báo cáo này được xây dựng trong 2 năm 2009-

2010 với sự cộng tác chặt chẽ giữa UNICEF và Chính phủ Việt Nam và bắt nguồn trong bối cảnh đánh giá giữa kỳ chương trình hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và UNICEF Báo cáo đã tập hợp các kiến thức, ý tưởng và phân tích trên cơ sở các bằng chứng liên quan tới trẻ em Việt Nam Việc đánh giá và phân tích việc thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam được dựa trên số liệu định tính và định lượng sẵn có của thống kê quốc gia và các phân tích từ nhiều nguồn quốc tế và trong nước Báo cáo đã đóng góp vào nghiên cứu quốc gia, thiết lập chính sách, pháp luật và ngân

Trang 18

sách vì lợi ích của trẻ em; Góp phần làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng các

kế hoạch quốc gia, các chương trình và các quá trình khác [17]

Bên cạnh đó, thời gian gần đây cũng có nhiều những nghiên cứu có giá trị

của nhiều tổ chức và cá nhân khác nhau về vấn đề Quyền trẻ em tại Việt Nam “Báo

cáo: Hoàn thiện hệ thống bảo vệ trẻ em ở Việt Nam” do Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ

em thực hiện năm 2011 đã làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống bảo vệ trẻ em; Đánh giá thực trạng hệ thống bảo vệ trẻ em ở Việt Nam Thông qua đó, đề xuất định hướng, giải pháp và những khuyến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống bảo vệ trẻ em ở nước ta trong thời gian tới [3]

“Nghiên cứu về mua bán trẻ em trai tại Việt Nam” của bà Trần Thị Hằng -

Phó tổng cục trưởng, Tổng cục Thống kê và ông Jobst Koehler - Cán bộ phát triển chương trình cấp cao, Tổ chức Di cư Quốc tế tháng 1/2012 Nghiên cứu đã đưa ra những bằng chứng ban đầu khẳng định tình trạng mua bán trẻ em trai ở Việt Nam,

cả trong nước và ra nước ngoài Mục đích của nghiên cứu là đánh giá thái độ của chính quyền địa phương và cộng đồng đối với tình trạng mua bán trẻ em, đồng thời tìm hiểu các yếu tố dẫn đến những tổn thương ở trẻ và các loại hình mua bán trẻ Thông qua đó đã đưa ra những biện pháp để ngăn ngừa tình trạng mua bán trẻ em trai tại Việt Nam, góp phần bảo vệ quyền của các em [5]

“Báo cáo quốc gia về lao động trẻ em 2012” do Viện khoa học Lao động và

xã hội thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của ILO – IPEC/SIMPOC, đặc biệt là ông Bijoy Raychaudhuri, chuyên gia cao cấp

về thống kê và điều phối viên của chương trình giám sát và thống kê số liệu của văn phòng ILO Thụy Sỹ đã đưa ra những con số thống kê cụ thể về tình trạng trẻ em tham gia vào các hoạt động kinh tế, lao động trẻ em theo độ tuổi, tình trạng đi học, quy mô làm việc, điều kiện làm việc của trẻ em khi tham gia lao động [19]

Như vậy, đã có rất nhiều nghiên cứu về trẻ em nói chung và quyền trẻ em nói riêng Tuy nhiên, các nghiên cứu trên lại tập trung đi sâu vào vấn đề truyền thông vận động về quyền trẻ em hay đánh giá quá trình thực hiện quyền trẻ em (trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em và Luật BVCS&GDTE) mà chưa đi sâu tìm hiểu xem nhận thức của các bậc cha mẹ về việc thực quyền trẻ em trong gia

Trang 19

đình như thế nào Với nghiên cứu “Nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của

cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An” tác giả muốn đi sâu tìm hiểu nhận thức

của cha mẹ - người đóng vai trò chính, quan trọng đầu tiên trong việc thực hiện quyền trẻ em, đặc biệt là các cha mẹ ở vùng núi mà đại diện là tại Quỳ Hợp – Nghệ

An Từ đó đưa ra được các kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức của cha mẹ về việc thực hiện quyền trẻ em

1.2 Một số khái niệm công cụ

1.2.1 Khái niệm Trẻ em

Trên thực tế khi đưa ra khái niệm về trẻ em nói chung người ta tuỳ theo điều kiện về địa lý, kinh tế – xã hội, trình độ phát triển dân trí hay do phong tục tập quán từng địa phương Mỗi một quốc gia đều xác định lứa tuổi của trẻ em để phân biệt với người trưởng thành

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước phương tây thường lấy mốc dưới 18 tuổi để xác định ranh giới giành cho em Theo Công ước về Quyền trẻ em

của Liên hợp quốc thì “Trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi Luật pháp

quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn” [6]

Ở Việt Nam do nhận thức được tầm quan trọng của sự nghiệp chăm sóc và giáo dục trẻ em trong Dân số học thường lấy mốc 15 tuổi để phân biệt trẻ em với tuổi trưởng thành Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 của Quốc hội khóa X

quy định như sau: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16

tuổi” [9]

Với việc xác định rõ ranh giới lứa tuổi giành cho trẻ em ở nước ta đã tạo đà cho việc bảo vệ chăm sóc trẻ em trong các lĩnh vực học tập, vui chơi, giải trí Vậy dựa trên tinh thần của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, khi đề cập đến khái niệm trẻ em trong luận văn này bao gồm những công dân Việt Nam dưới 16 tuổi

1.2.2 Khái niệm Quyền trẻ em và Thực hiện Quyền trẻ em

1.2.2.1 Khái niệm Quyền trẻ em

Quyền trẻ em là một bộ phận hợp thành của Quyền con người Quyền trẻ

em là những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng

và thực hiện nhằm đảm bảo sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện Quyền trẻ

Trang 20

em chính là biện pháp nhằm đảm bảo trẻ em không những là người tiếp thu thụ động tình thương hay lòng tốt của bất kì ai mà trở thành chủ thể của quyền

Các quyền và bổn phận của trẻ em nói chung đã ghi nhận một cách rõ ràng trong Công ước về Quyền trẻ em của Liên hợp quốc Công ước này được Đại hội đồng Liên hợp quốc chính chức thông qua ngày 20/11/1989 nhân kỷ niệm 30 năm

ngày thông qua “Tuyên ngôn về quyền trẻ em” (1959 - 1989) và kỷ niệm 10 năm

“Năm quốc tế thiếu nhi” (1979 - 1989) Văn bản quốc tế quan trọng này được đại

diện 61 nước ký vào ngày 26/1/1990 đến nay đã có 195 nước ký và phê chuẩn [23]

Các Quyền trẻ em trong Công ước được quy định ở 40 điều khác nhau Tựu chung các quyền của trẻ em được chia thành 4 nhóm chính

a Nhóm quyền được sống còn

Do trẻ em là những cá thể còn non nớt cả về thể chất lẫn tinh thần, không thể

tự nuôi sống được bản thân nên trong Công ước, khái niệm “ đảm bảo sự sống còn” của trẻ em được mở rộng không chỉ bao gồm việc đảm bảo tính mạng mà còn bao hàm việc cung cấp chất dinh dưỡng và chăm sóc y tế cho trẻ em ở mức độ cao nhất

Đó là mức sống đủ, có nơi ở, ăn uống đủ chất, được chăm sóc sức khỏe Trẻ em phải được khai sinh ngay sau khi ra đời

Một số điều khoản liên quan đến quyền được sống còn:

Điều 7: Quyền có họ tên và quốc tịch

Điều 19: Quyền được bảo vệ khỏi sự bỏ rơi, ngược đãi và lạm dụng

Điều 26: Quyền được bảo đảm an ninh xã hội

Điều 27: Quyền được hưởng mức sống thích hợp cho sự phát triển toàn diện Điều 38: Quyền được bảo vệ khỏi các cuộc xung đột vũ trang

b Nhóm quyền được bảo vệ

Bao gồm những quy định như trẻ em phải được bảo vệ cho tất cả các hình thức bóc lột lao động, bóc lột và xâm hại tình dục, lạm dụng ma túy, sao nhãng và

bị bỏ rơi, bị bắt cóc và buôn bán Trẻ em còn được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô cớ vào thư tín và sự riêng tư Quyền được bảo vệ bao gồm cả không bị tra tấn, đánh đập và lạm dụng trong trường hợp trẻ em làm trái pháp luật hay bị giam giữ Theo Công ước, nhóm quyền này bao gốm các quyền của trẻ em được bảo vệ khỏi các

Trang 21

hình thức ngược đãi, bỏ mặc, sự phân biệt đối xử và bảo vệ trẻ em tỏng các trường hợp đặc biệt khó khăn như bị mất môi trường gia đình, bị ảnh hưởng của xung đột

vũ trang, thiên tai…

Một số điều khoản có liên quan đến quyền được bảo vệ:

Điều 10: Quyền được sống với cha mẹ

Điều 19: Quyền được bảo vệ khỏi sự bỏ rơi, ngược đãi và lạm dụng

Điều 32: Quyền được bảo vệ khỏi sự bóc lột về kinh tế

Điều 33: Quyền được bảo vệ khỏi tệ nạn ma tuý

Điều 34: Quyền được bảo vệ khỏi sự lạm dụng tình dục

Điều 35: Quyền được bảo vệ khỏi sự mua bán, bắt cóc

Điều 38: Quyền được bảo vệ khỏi các cuộc xung đột vũ trang

Điều 39: Quyền được chăm sóc phục hồi

c Nhóm quyền được phát triển

Công ước đưa ra một cách nhìn toàn diện về sự phát triển của trẻ em, theo

đó, không chỉ bao gồm sự phát triển về thể chất mà còn gồm sự phát triển về trí tuệ, tình cảm, đạo đức và xã hội Tất cả các quyền của trẻ em tác động đến quá trình này được coi là thuộc nhóm quyền được phát triển, gồm những điều kiện để trẻ em có thể phát triển đầy đủ nhất về cả tinh thần và đạo đức; việc học tập, vui chơi, tham gia các hoạt động văn hóa, tiếp nhận thông tin, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Trẻ em cần có sự yêu thương và cảm thông của cha mẹ để có thể phát triển hài hòa

Một số điều khoản liên quan đến quyền được phát triển:

Điều 6 : Quyền được sống còn và phát triển

Điều 14 : Quyền tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo

Điều 15 : Quyền được tự do hội họp

Điều 24 : Quyền có sức khoẻ và được chăm sóc sức khoẻ

Điều 26 : Quyền được bảo đảm an ninh xã hội

Điều 28 : Quyền được giáo dục

Điều 31 : Quyền được nghỉ ngơi, vui chơi giải trí

d Nhóm quyền được tham gia

Trang 22

Quyền này bao gồm tất cả các điều giúp trẻ em có thể biểu đạt những ý kiến, quan điểm của bản thân về các vấn đề liên quan đến cuộc sống của trẻ, dưới mọi hình thức Nhìn chung, các quyền thuộc nhóm quyền này thể hiện ở các khía cạnh chính đó là: giúp trẻ em có điều kiện tiếp nhận thông tin; giúp trẻ được biểu đạt ý kiến, quan điểm; tôn trọng, lắng nghe và xem xét các ý kiến, quan điểm của trẻ em; tạo mọi điều kiện cho trẻ em tự do bày tỏ quan điểm và ý kiến về những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của mình; trẻ em còn có quyền kết bạn, giao lưu và hội họp hòa bình; được tạo điều kiện tiếp cận các nguồn thông tin và chọn lựa thông tin phù hợp

Một số điều khoản liên quan đến quyền được tham gia :

Điều 12: Quyền bày tỏ các quan điểm của mình

Điều 13: Quyền nhận và cung cấp thông tin cho mọi người

Điều 15: Quyền gặp gỡ, hoà nhập và thiết lập mối quan hệ với mọi người Điều 16: Quyền được bảo vệ riêng tư

Điều 17: Quyền kiện tiếp nhận các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Điều 32 : Quyền được tham gia các hoạt động văn hoá

1.2.2.2 Khái niệm thực hiện Quyền trẻ em

Khái niệm thực hiện: Theo từ điển tiếng Việt, thực hiện có 2 nghĩa:

- Làm cho điều gì đó trở thành cái có thật bằng hoạt động cụ thể Dùng để mô

tả việc đã làm trong quá khứ

- Thực hiện còn có nghĩa là làm theo trình tự, thao tác nhất định [4]

Như vậy, Thực hiện quyền trẻ em nghĩa là hành động biến những lý thuyết (hiểu biết) về quyền trẻ em thành hoạt động có thật ngoài đời sống Nó có thể là những hoạt động đã diễn ra trong quá khứ, cũng có thể là hoạt động diễn ra theo những thao tác nhất định

Thực hiện quyền trẻ em được biểu hiện thông qua những hành động cụ thể

để hiện thực hóa các nội dung về quyền được sống, quyền được phát triển, quyền được tham gia và quyền được bảo vệ

1.2.3 Khái niệm nhận thức

1.2.3.1 Định nghĩa nhận thức

Trang 23

Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người, bên cạnh tình cảm và hành vi Nhận thức là sự phản ánh chủ quan về thế giới khách quan trong đầu óc con người Trong quá trình hoạt động, con người phải nhận thức, phản ánh hiện thực xung quanh và cả hiện thực bản thân mình, trên cơ sở đó, con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động Trong quá trình nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức độ khác nhau từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Mức độ thấp là nhận thức cảm tính, đó là cảm giác, tri giác, trong đó con người biết được những cái bên ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động tới giác quan của con người; mức độ cao hơn là nhận thức lý tính, còn gọi là quá trình tư duy, con người nắm được cái bản chất bên trong, những mối quan hệ có tính quy luật, bản chất của sự việc hiện tượng Các quá trình này bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau trong cùng một hoạt động nhận thức thống nhất của con người

Nhìn chung, có nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về nhận thức Điểm chung của các khái niệm đó là đề cập đến mặt tích cực của con người, đề cập đến khả năng phản ánh những thuộc tính, những mối quan hệ bản chất của hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của chủ thể Con người sống trong điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội, muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải nhận thức được quy luật tự nhiên và xã hội, để cải tạo nó đồng thời cũng chính là cải tạo bản thân mình Nhận thức phản ánh chủ quan về thế giới khách quan trong đầu óc con người, bao gồm các quá trình từ biết (nhận biết, ghi nhớ, nhắc lại) đến hiểu (có thể

áp dụng kiến thức vào giải quyết tình huống mới) Quá trình nhận thức vận động, phát triển liên tục không ngừng, mang bản chất xã hội - lịch sử Kết quả cuối cùng của quá trình nhận thức cho ta hiểu biết và giúp cho con người ngày càng tiếp cận hiện thực, tiếp cận chân lý Kiến thức là những hiểu biết của con người về thế giới

tự nhiên và xã hội, nhờ học tập trong nhà trường và từng trải trong thực tế cuộc sống mà có Kiến thức của loài người là kết quả của quá trình nhận thức Kiến thức phong phú, đa dạng vì nó phản ánh đúng sự vật hiện tượng và các quan hệ có tính quy luật của hiện thực khách quan nhưng cũng chứa đựng những hiểu biết nông cạn không thật chính xác

Trang 24

Trong quá trình nhận thức, người học không chỉ nắm vững kiến thức mà còn hoàn thiện dần cách suy nghĩ của mình Quá trình nhận thức là quá trình tích cực và

có ý thức Trong quá trình nhận thức, con người không chỉ là khách thể chịu sự tác động của yếu tố bên ngoài mà còn là chủ thể tham gia tích cực, chủ động Nhận thức của con người luôn có tính đối tượng; đối tượng phản ánh nhận thức của con người không chỉ là những thuộc tính của sự vật hiện tượng vốn có trong thế giới mà còn phản ánh những thuộc tính của sự vật hiện tượng do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động nhận thức của mình vào đối tượng bên trong và bên ngoài của con người, vào những vật cụ thể và những vật trừu tượng

Theo quan điểm triết học Mác - LêNin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn [18]

Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1988) định nghĩa: “Nhận thức là

quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy; quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó”

[4]

Quá trình này diễn ra ở các mức độ:

- Kinh nghiệm hàng ngày về sự vật, hiện tượng và người khác, mang tính tự phát, thường hỗn hợp với tình cảm, thành kiến, thiếu hệ thống

- Khoa học các khái niệm được kiến tạo một cách chặt chẽ có hệ thống với ý thức về phương pháp và những bước đi của tư duy để chứng nghiệm đúng sai

Theo đó, nhận thức là sự phản ánh những thuộc tính của sự vật hiện tượng trong mối quan hệ của chúng trong hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người Sống trong điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội đòi hỏi con người phải nhận thức được những quy luật của tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân con người

Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau, biểu hiện ở những mức độ khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan Nhận thức bao gồm các quá trình cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng Quá trình này phản ánh và tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người

Trang 25

Như vậy, quá trình nhận thức được hiểu là quá trình tiếp cận, tiến gần đến chân lý nhưng không bao giờ ngừng ở một trình độ nào vì không bao giờ nắm hết được toàn bộ hiện thực Quá trình này diễn ra liên tục và không bao giờ ngừng bởi hiện thực khách quan là vô cùng và luôn luôn phát triển

Như vậy, theo chúng tôi nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy; quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó

1.2.3.2 Bản chất của nhận thức

- Nhận thức là quá trình tâm lý, phản ánh bản thân hiện thực khách quan

Ở con người, quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động có chủ đích

Đặc trưng nổi bật của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan

Nó không chỉ phản ánh các thuộc tính bên ngoài mà còn phản ánh các thuộc tính bản chất bên trong, các mối quan hệ có tính quy luật; không chỉ phản ánh hiện thực xung quanh mà còn phản ánh cả cái đã qua và cái sắp tới của hiện thực khách quan Hoạt động nhận thức là cơ sở của mọi hoạt động tâm lý con người Nhận thức là hoạt động của chủ thể nhằm khám phá thế giới xung quanh, kết quả của hoạt động này nhằm tìm ra chân lý hay sự thật về những thuộc tính và quy luật khách quan của

sự vật hiện tượng cụ thể Nhận thức đúng làm cơ sở cho tình cảm, ý chí, quan điểm, lập trường tư tưởng và hành động đúng

Hoạt động nhận thức thể hiện những mức độ phản ánh khác nhau và mang lại sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan

- Nhận thức mang bản chất xã hội, lịch sử

Hoạt động nhận thức bao giờ cũng phải dựa vào tri giác đã có, dựa vào kinh nghiệm của nhân loại tích lũy được, tức là dựa vào kết quả của hoạt động nhận thức

mà xã hội loài người đã đạt được ở trình độ phát triển lịch sử lúc đó

Nhận thức phải sử dụng vốn ngôn ngữ do các thế hệ trước sáng tạo ra với tư cách là phương tiện biểu đạt, khái quát và gìn giữ kết quả hoạt động nhận thức của loài người

Trang 26

Quá trình nhận thức thúc đẩy bởi nhu cầu xã hội, nghĩa là tư duy của con người được hướng vào giải quyết các vấn đề bức xúc do xã hội đặt ra

Nhận thức của con người mang tính chất lịch sử bởi bề rộng của sự khái quát

và chiều sâu của sự phát triển ra bản chất của sự vật hiện tượng được quy định không chỉ do khả năng của cá nhân mà còn do kết quả của hoạt động nhận thức mà loại người đã đạt được dựa vào kho tàng tri thức có liên quan vào trí tuệ của nhân loại Như vậy, kiến thức của mỗi người được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận thức tích cực của bản thân họ Nhận thức là sản phẩm của sự phát triển lịch sử - xã hội [7]

1.2.3.3 Các mức độ nhận thức

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về mức độ nhận thức

Căn cứ vào tính chất phản ánh, hoạt động nhận thức được chia thành thành nhiều mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ nông đến sâu, từ hiểu biết chưa đầy đủ đến đầy đủ, từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính

- Mức độ nhận thức cảm tính:

Là quá trình nhận thức đầu tiên, ở mức độ thấp nhất, sơ đẳng nhất trong toàn

bộ hoạt động nhận thức của con người Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính là chỉ phản ánh những thuộc tính bề ngoài, cụ thể của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan của con người

Nhận thức cảm tính bao gồm hai quá trình là cảm giác và tri giác Cảm giác

là hình thức phản ánh thấp nhất, là hình thức định hướng đầu tiên của cơ thể trong thế giới Trên cơ sở nảy sinh các cảm giác ban đầu mà có tri giác Tri giác là hình thức phản ánh cao hơn trong cùng bậc thang nhận thức cảm tính Cảm giác và tri giác có mối quan hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau trong mức độ nhận thức “trực quan sinh động” thế giới

Sản phẩm hoạt động nhận thức cảm tính là những hình ảnh cụ thể, trực quan

về thế giới, chứ chưa phải là những khái niệm và quy chế về thế giới Mặc dù vậy nhận thức cảm tính có vai trò quan trọng trong đời sống tâm lý con người, nó cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động tâm lý cấp cao

Trang 27

- Mức độ nhận thức lý tính:

Nhận thức lý tính là mức độ nhận thức cao hơn cảm tính Nhận thức lý tính phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối liên hệ bản chất của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà con người chưa biết Nhận thức lý tính bao gồm hai mức độ: tư duy, tưởng tượng

Đặc điểm chung của nhận thức lý tính: thuộc thang nhận thức cao, có những đặc điểm mới về chất so với nhận thức cảm tính Đó là tính có vấn đề, tính khái quát, tính gián tiếp Trên thực tế, nhận thức cảm tính chỉ nảy sinh khi gặp hoàn cảnh, những tình huống mà bằng vốn hiểu biết cũ, bằng phương pháp hành động cũ

đã có, con người không giải quyết được Để nhận thức, con người cần phải vượt ra khỏi phạm vi những hiểu biết cũ và đi tìm những cái mới, đạt mục đích mới

Khác với nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính có khả năng đi sâu vào sự vật hiện tượng nhằm vạch ra những thuộc tính chung, những mối quan hệ có tính quy luật giữa chúng Chính nhờ phản ánh cái khái quát, cái quy luật mà nhận thức lý tính giúp con người không chỉ nhận thức thế giới mà còn có khả năng cải tạo thế giới Đến mức độ nhận thức lý tính, con người nhận thức thế giới một cách gián tiếp: nhận thức bằng ngôn ngữ Nhờ phương tiện ngôn ngữ và khả năng phản ánh khái quát, phản ánh gián tiếp thế giới mà con người có khả năng vạch ra được các thuộc tính bản chất, các mối quan hệ có tính quy luật, dự đoán được chiều hướng phát triển và diễn biến của chúng để nhận thức và cải tạo chúng [8]

B S Bloom - nhà sư phạm người Mỹ, năm 1956, ông và các đồng sự biên soạn tài liệu “Hệ phân loại các mục tiêu sư phạm, lĩnh vực nhận thức” Bloom đưa

ra ba khía cạnh đánh giá: nhận thức, thái độ, hành vi Ông chia nhận thức thành nhiều mức khác nhau, phân loại mục tiêu nhận thức ra sáu mức độ từ thấp đến cao Mỗi mức độ đặc trưng cho hoạt động trí tuệ:

Mức 1: Biết - đưa vào trí nhớ và phục hồi lại thông tin của cùng một đối tượng nhận thức, ghi nhớ, có thể nhắc lại các sự kiện, định nghĩa các khái niệm, nội dung các định luật…

Trang 28

Mức 2: Hiểu - có thể thuyết minh, giải thích, chứng minh các kiến thức đã lĩnh hội (phục hồi ngữ nghĩa thông tin trong những đối tượng khác nhau, thiết lập liên hệ ở những đối tượng khác nhau)

Mức 3: Vận dụng - có thể áp dụng kiến thức vào những tình huống mới, khác với trong bài học (sử dụng các quy tắc, nguyên tắc, những phác đồ giải quyết một vấn đề nào đó)

Mức 4: Phân tích - biết phân chia một toàn thể thành các bộ phận, một vấn

đề lớn thành những vấn đề nhỏ hơn, làm sáng tỏ những mối quan hệ giữa các bộ phận (đồng nhất những bộ phận tạo nên cái tổng thể, từ đó phân biệt đối tượng trong ý tưởng đó)

Mức 5: Tổng hợp - biết sắp xếp các bộ phận thành toàn thể thống nhất, ghép các vấn đề nhỏ thành các vấn đề lớn hơn, tạo thành một tổng thể mới liên kết tất cả các bộ phận tạo nên tổng thể

Mức 6: Đánh giá - có thể nhận định, phán đoán về giá trị, ý nghĩa của mỗi kiến thức (tạo thành những phán đoán về số lượng cũng như chất lượng thao tác tạo nên chất lượng của trí tuệ)

Hai mức đầu là nhận thức ở mức thấp, bốn mức sau là nhận thức ở mức cao (vì chúng đều là các thao tác tư duy phức tạp hơn, huy động ba thao tác phân tích, tổng hợp, đánh giá)

Biểu đồ 1.1 Các mức độ nhận thức theo phân loại của Bloom (1956) [21]

Trang 29

Những ưu điểm của hệ phân loại này đã giúp khá nhiều nhà nghiên cứu tìm thấy thang đánh giá nhận thức dễ sử dụng, cho phép họ tìm ra các phương pháp tác động vào chủ thể nghiên cứu một cách hiệu quả

Trong đề tài này, áp dụng cách phân loại mục tiêu giáo dục của Bloom, chúng tôi chia thành 3 mức độ nhận thức: biết - hiểu - vận dụng, để tìm hiểu nhận thức của cha mẹ đối với việc thực hiện quyền trẻ em tại địa bàn miền núi tỉnh Nghệ

An

1.3 Một số lí luận cơ bản về nhận thức việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ

1.3.1 Vai trò của cha mẹ trong việc thực hiện quyền trẻ em

1.3.1.1 Tầm quan trọng của việc thực hiện quyền trẻ em trong gia đình

Từ trước tới nay, gia đình luôn giữ vai trò hàng đầu, là yếu tố quyết định đối với việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Cha mẹ và các thành viên trong gia đình là những người gần gũi mật thiết thường xuyên ở bên cạnh trẻ em, nuôi dưỡng, chăm sóc và đảm bảo cho trẻ được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi của mình Việc thực hiện quyền trẻ em ngay trong gia đình có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như sự phát triển nhân cách, thể lực, trí tuệ của trẻ

Cụ thể như sau:

Trang 30

Trẻ em là đối tượng còn non nớt cả về thể chất và tinh thần, cần phải được bảo vệ đặc biệt

Khoản 1 Điều 5 luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: “Việc

bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân” Nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm của trẻ em, những

người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và trí tuệ, chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa đủ điều kiện để tự quyết định quyền của mình và đòi hỏi gia đình, Nhà nước và xã hội phải có sự bảo vệ, chăm sóc đặc biệt, phải tạo cơ hội thuận lợi cho việc thực hiện quyền trẻ em [9]

Trong gia đình, trẻ em vừa phải được thụ hưởng các quyền tự do cơ bản của con người, vừa phải được đáp ứng những nhu cầu đặc thù Cha mẹ, người giám hộ của trẻ cần phải đảm bảo thực hiện những quyền cơ bản của trẻ như: khai sinh cho trẻ; chăm lo nuôi dưỡng; bảo vệ trẻ khỏi những nguy cơ từ cuộc sống bên ngoài; cho trẻ được ăn - học - vui chơi; chăm lo sức khỏe cho trẻ; đảm bảo quyền được tham gia vào các hoạt động phù hợp với độ tuổi, năng lực và sở thích của trẻ…

Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước

Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong điều kiện tốt nhất là nhiệm

vụ của toàn xã hội, và là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của mỗi quốc gia trong việc đảm bảo an sinh xã hội, vì mục tiêu phát triển ổn định và lâu dài của đất nước Bởi vậy, mối quan tâm đặc biệt của toàn xã hội và của mỗi gia đình chính là: Tạo dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh mà ở đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ; chủ động phòng ngừa, giảm thiểu, loại bỏ các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ

em, giảm thiểu tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, trẻ

em bị bạo lực; trợ giúp, phục hồi kịp thời cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ

em bị xâm hại, bị bạo lực, tạo cơ hội để các em được tái hòa nhập cộng đồng và bình đẳng về cơ hội phát triển

1.3.1.2 Trách nhiệm của cha mẹ trong việc thực hiện quyền trẻ em đối với trẻ

Trẻ em không phải là đối tượng tách biệt, trẻ em luôn gắn chặt trong đời sống của mỗi gia đình, gắn chặt với những yêu cầu và nhiệm vụ phát triển kinh tế

Trang 31

xã hội của đất nước Vì vậy, đảm bảo cho trẻ được hưởng quyền trẻ em không chỉ là trách nhiệm riêng của một cá nhân, cơ quan, tổ chức mà là trách nhiệm của toàn xã hội Tuy nhiên, trách nhiệm trước tiên phải thuộc về gia đình Điều này được thể hiện cụ thể như sau:

a Trách nhiệm đăng ký khai sinh

Theo quy định, cha mẹ, người giám hộ là người chịu trách nhiệm chính về đăng ký khai sinh và yêu cầu là việc khai sinh cho trẻ em phải đúng thời gian quy định

b Trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng

Đây là chức năng tự nhiên của gia đình Cha mẹ, người giám hộ, các thành viên lớn tuổi khác trong gia đình phải gương mẫu về mọi mặt cho trẻ em noi theo; có trách nhiệm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển toàn diện của trẻ em

c Trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em sống chung với cha mẹ

Trẻ em còn non nớt và trong sáng, cần có sự yêu thương, hiểu biết, đáp ứng nhu cầu và được lớn lên trong sự che chở, chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ và gia đình Vì vậy, điều kiện tốt nhất của trẻ em là được sống chung với cha mẹ trong môi trường gia đình lành mạnh

d Trách nhiệm bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự

Trách nhiệm của cha mẹ là phải đảm bảo cho trẻ được an toàn và trôn trọng trong ngôi nhà cuả mình Cha mẹ cũng cần thường xuyên chú trọng thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em ngay tại gia đình, nhà trường, nơi

cư trú và nhiều địa điểm khác

e Trách nhiệm bảo vệ sức khoẻ

Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức

khoẻ, tiêm chủng, khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em

f Trách nhiệm bảo đảm quyền được học tập

Gia đình có trách nhiệm bảo đảm điều kiện học tập của trẻ: Cho trẻ được đến trường đầy đủ, hướng dẫn trẻ em học tập, tạo điều kiện trực tiếp cho trẻ em học tập

về bảo đảm thời gian học tập ở lớp và tự học ở nhà, cung cấp đủ sách vở, dụng cụ học tập, bố trí góc học tập đóng góp các khoản chi phí học tập theo quy định và

Trang 32

phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc giúp đỡ việc học tập, tu dưỡng đạo đức của trẻ em

g Trách nhiệm bảo đảm quyền vui chơi, hoạt động văn hoá, thể thao

Gia đình tạo điều kiện về vật chất và thời gian để trẻ em được hưởng đời sống văn hoá tinh thần, được vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với hoàn cảnh gia đình, với năng lực, sở trường

của trẻ em theo từng lứa tuổi

h Trách nhiệm bảo đảm quyền phát triển năng khiếu

Cha mẹ có trách nhiệm phát hiện, khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho con cái được tham gia và phát triển năng khiếu, năng lực của bản thân như: năng khiếu về các môn học tự nhiên, xã hội; năng khiếu về văn hoá nghệ thuật; năng khiếu thể thao

i Trách nhiệm bảo đảm quyền dân sự

Trẻ em là đối tượng chưa có năng lực hành vi dân sự, bởi vậy mà cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em; đại diện cho trẻ

em trong các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật; giữ gìn, quản lý tài sản của trẻ em

j Trách nhiệm bảo đảm quyền được tham gia

Trách nhiệm của các bậc phụ huynh trong gia đình là bảo đảm cơ hội để trẻ em tiếp cận được các nguồn thông tin, nhưng đồng thời phải định hướng, giúp đỡ trẻ em tiếp cận những thông tin phù hợp với lứa tuổi, với năng lực, sở trường để trẻ em tiếp thu những kiến thức, kỹ năng, những tiến bộ của khoa học công nghệ và những lối sống, niềm tin, thẩm mỹ, truyền thống, đạo đức

1.3.2 Khái niệm nhận thức về việc thực hiện Quyền trẻ em của cha mẹ

Trên cơ sở những lý luận về phạm trù nhận thức và khái niệm thực hiện quyền trẻ em, chúng tôi xác định nhận thức của cha mẹ đối với việc thực hiện quyền trẻ

em là sự hiểu biết của các bậc phụ huynh về nội dung, các vấn đề cơ bản về quyền trẻ em Trên cơ sở biết và hiểu, cha mẹ áp dụng những hiểu biết này vào việc chăm

sóc, giáo dục và bảo vệ con cái của mình

Trang 33

Nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ được biểu hiện thông qua 6 mức độ: biết – hiểu – vận dụng – phân tích – tổng hợp – đánh giá Tuy nhiên trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ tìm hiểu nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em ở 3

mức: biết – hiểu – vận dụng

1.3.3 Các mức độ nhận thức về việc thực hiện Quyền trẻ em của cha mẹ

1.3.3.1 Nhận thức của cha mẹ về việc thực hiện Quyền được bảo vệ của trẻ em

a Mức độ biết của cha mẹ về việc thực hiện Quyền được bảo vệ

Biểu hiện của mức độ biết về việc thực hiện quyền bảo vệ trẻ em được thể hiện ở những điểm sau:

 Cha mẹ được tiếp xúc với khái niệm quyền được bảo vệ ở mức độ nào Trên thực tế, nhiều bậc cha mẹ chưa từng được nghe nhắc đến khái niệm Quyền trẻ

em hay quyền được bảo vệ của trẻ em Nhiều người cũng bị nhầm lần giữa quyền bảo vệ trẻ em với các nhóm quyền khác

 Cha mẹ ghi nhớ được khái niệm về Quyền được bảo vệ của trẻ Đó là:

- Quyền trẻ em là một bộ phận của quyền con người

- Quyền trẻ em là những gì các em được hưởng để có điều kiện phát triển toàn diện

- Trẻ em là chủ thể của quyền và có những nghĩa vụ kèm theo

- Quyền trẻ em là những quy định mà Nhà nước, cộng đồng xã hội, gia đình có bổn phận, nghĩa vụ phải thực hiện, bảo vệ

b Mức độ hiểu của cha mẹ về việc thực hiện Quyền được bảo vệ

Biểu hiện của mức độ hiểu về việc thực hiện quyền bảo vệ trẻ em được thể hiện ở

việc cha mẹ xác định được các nội dung cơ bản của quyền được bảo vệ Bao gồm:

- Quyền được giữ gìn bản sắc dân tộc

- Quyền không bị buộc cách ly cha mẹ trái với ý kiến của cha mẹ, trừ trường hợp vì

lợi ích tốt nhất của trẻ

- Quyền không chịu sự can thiệp tùy tiện hay bất hợp pháp vào việc riêng tư

- Quyền được hưởng an toàn xã hội gồm bảo trợ xã hội và các biện pháp cần thiết

khác

- Quyền được bảo vệ chống lại mọi hình thức lạm dụng, bóc lột về tình dục, về kinh

tế, bị bắt cóc, mua bán, phải lao động có hại cho sự phát triển của trẻ

Trang 34

- Quyền được bảo vệ chống lại việc sử sụng ma túy hay bị lôi kéo vào việc sản xuất,

buôn bán ma túy

- Quyền được bảo vệ khỏi sự tra tấn, đối xử, trừng phạt độc ác, bị tước quyền tự do

bất hợp pháp

- Quyển được bảo vệ không phải tham gia chiến sự khi chưa đủ 15 tuổi

c Mức độ vận dụng của cha mẹ về việc thực hiện Quyền được bảo vệ

Vận dụng là tiêu chí quan trọng nhất trong nhận thức để xem xét con người hiểu hay không hiểu Để xác định được cha mẹ vận dụng những hiểu biết của mình vào việc thực hiện quyền trẻ em như thế nào cần xác định được cha mẹ có áp dụng những hành động sau đây vào việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ con cái hay không Cụ thể:

 Hành vi thực hiện quyền bảo vệ đối với trẻ

- Thực hiện khai sinh cho con

- Chăm lo ăn ở, nuôi dưỡng con cái

- Trao đổi, cung cấp cho con kiến thức về giới tính

- Dạy con cách tự bảo vệ khi bị xâm hại về tinh thần và thể chất

- Đối xử bình đẳng với con cái

- Chăm sóc sức khỏe cho con (tiêm phòng, kiểm tra sức khỏe, khám chữa bệnh…)

- Cho con được học tập và đến trường đầy đủ

- Cho phép con tham gia vào các hoạt động vui chơi lành mạnh

 Hành vi vi phạm quyền bảo vệ đối với trẻ

- Cha mẹ, người giám hộ không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, bảo vệ trẻ

- Có hành vi lôi kéo trẻ em đi lang thang; lơi dụng trẻ em lang thang để trục lợi

- Vô tình hay cố ý cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá, chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ

- Vô tình hay cố ý có những hành vi xâm hại trẻ em

- Để trẻ tiếp xúc và sử dụng đồ chơi, trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ em

- Có hành vi ngược đãi trẻ em; có lời nói và hành động vô tình hay cố ý khiến trẻ thù ghét cha mẹ, hoặc xâm hại nhân phẩm danh dự của người khác

Trang 35

- Lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động;

- Cản trở việc học tập của trẻ em

- Áp dụng biện pháp có tính chất xúc phạm hoặc dùng vũ lực đối với trẻ em vi phạm pháp luật

- Trong quá trình kinh doanh, đặt cơ sở sản xuất, kho chứa hoá chất độc hại gần cơ

sở nuôi dưỡng trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, điểm vui chơi, giải trí của trẻ

em

1.3.3.2 Nhận thức của cha mẹ về việc thực hiện Quyền được tham gia của trẻ em

a Mức độ biết của cha mẹ về việc thực hiện Quyền được tham gia

Biểu hiện của mức độ biết về việc thực hiện quyền tham gia của trẻ em được thể

hiện ở những điểm sau:

 Cha mẹ được tiếp xúc với khái niệm quyền được tham gia ở mức độ nào Cũng tương tự như đối với nhóm quyền được bảo vệ, cần xác định rõ cha mẹ đã từng được nghe đến, nói đến quyền tham gia của trẻ hay chưa và được biết đến thông qua những kênh thông tin nào hay chỉ dựa trên cảm tính của mình

 Cha mẹ ghi nhớ được khái niệm nhóm quyền được tham gia của trẻ Đó là:

- Quyền được nêu ý kiến

- Quyền tự do ngôn luận

- Quyền tự do giao tiếp và tham gia vào các hoạt động

- Quyền được tiếp cận các thông tin thích hợp

b Mức độ hiểu của cha mẹ về việc thực hiện Quyền được tham gia

Biểu hiện của mức độ hiểu về việc thực hiện quyền tham gia của trẻ em được thể hiện ở việc cha mẹ phân biệt được đâu là biểu hiện của việc trẻ được tham gia hoặc không được tham gia Cụ thể

 Quyền được tham gia của trẻ thể hiện thông qua:

- Tôn trọng những điều trẻ nói

- Trẻ được quyền nêu ý kiến khi trẻ muốn

Trang 36

- Trẻ được nêu ra những ý kiến dựa trên quan điểm của trẻ

- Trẻ được nêu ra những ý kiến dựa trên quan điểm của trẻ

- Trẻ được tự do giao tiếp với tất mọi người dựa trên nhu cầu của trẻ

- Trẻ được tiếp nhận mọi thông tin cần thiết, lành mạnh và phù hợp với lứa tuổi, sở thích của trẻ

- Trẻ được tham gia vào các nhóm, hội mà trẻ muốn (nhóm học tập, nhóm thể thao, nhóm năng khiếu…)

- Trẻ được tiếp cận với các thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như loa đài, tivi, internet…

 Quyền được tham gia của trẻ bị hạn chế:

- Trẻ chỉ được phép nêu ý kiến khi cha mẹ cho phép

- Trẻ chỉ được tham gia vào các nhóm, hội mà cha mẹ chỉ định

- Trẻ chỉ được tiếp xúc và giao tiếp với những người bố mẹ cho phép

- Trẻ chỉ được tiếp nhận các thông tin về vấn đề học tập

- Trẻ chỉ được nêu ý kiến dựa trên sự định hướng của người lớn và theo ý của bố

mẹ

- Trẻ chỉ được tiếp cận các thông tin thông sách báo và trao đổi với cha mẹ, thầy cô

c Mức độ vận dụng của cha mẹ về việc thực hiện Quyền được tham gia

Để xác định được cha mẹ có vận dụng những hiểu biết của mình vào việc thực hiện quyền tham gia của trẻ em hay không, cần xác định cha mẹ có thường xuyên có những hành động sau đây với trẻ hay không:

 Hành vi thực hiện quyền tham gia đối với trẻ

- Cho trẻ phát biểu ý kiến về các vấn đề trẻ quan tâm

- Lắng nghe và tôn trọng ý kiến, nguyện vọng của trẻ

- Cho con tham gia vào các hoạt động phát triển năng khiếu và sở thích của con (hội họa, múa, hát, bóng đá, bóng rổ…)

- Cho phép con được mạng internet để tìm hiểu các thông tin lành mạnh về các vấn

đề mà con quan tâm

 Hành vi vi phạm quyền tham gia đối với trẻ

- Ngắt lời và cấm đoán mỗi khi con cái nói ra ý kiến

Trang 37

- Cho con được phát biểu ý kiến nhưng lờ đi và không quan tâm

- Ép buộc con cái nói ra những điều trẻ không muốn dựa trên mong muốn chủ quan của bố mẹ

- Can thiệp vào các mối quan hệ của con cái (ép con không được chơi với người này, chỉ được chơi với người kia…)

- Cho con cái tham gia vào các hoạt động được bố mẹ định sẵn theo ý muốn của bố

 Thang bậc của sự tham gia thể hiện mức độ áp dụng những hiểu biết của cha mẹ vào việc thực hiện quyền trẻ em Cụ thể có các thang bậc như sau:

- Người lớn điều khiển: Trẻ em làm hoặc nói những gì người lớn gợi ý cho các em nhưng các em thật sự chẳng hiểu đó là những cái gì Trẻ chỉ được hỏi lấy lệ

- Hình thức trang trí: Trẻ em tham gia vào một sự kiện như trang trí do người lớn

sắp đặt

- Hình thức tượng trưng: Trẻ em được nói lên những gì các em suy nghĩ về một vấn

đề nhưng có rất ít hoặc không có sự lựa chọn nào về cách tham gia hay diễn đạt các quan điểm của mình

Trang 38

- Trẻ em được giao nhiệm vụ và được thông báo: Người lớn quyết định về công việc và trẻ em xung phong thực hiện công việc đó Trẻ em hiểu công việc phải làm

và tự quyết định về sự tham gia của mình

- Trẻ em đươc hỏi ý kiến và được thông báo: Công việc do người lớn thiết kế và quàn lý nhưng trẻ em được hỏi ý kiến Trẻ em hiểu hoàn toàn quy trình công việc phải làm và tự quyết định về sự tham gia của mình

- Người lớn khởi xướng quyết định cùng trẻ em: Người lớn khởi xướng, trẻ em tham gia vào tất cả các khâu lập kế hoạch và thực hiện Không những quan điểm của trẻ em được quan tâm xem xét mà bản thân trẻ em cũng đươc tham gia vào việc quyết định

- Trẻ em khởi xướng và được chỉ dẫn: Ý kiến khởi xướng là của trẻ em và trẻ em là người quyết định công việc phải được thực hiện như thế nào Người lớn luôn có mặt

để hướng dẫn nhưng không quản lý công việc

- Trẻ em khởi xướng cùng người lớn quyết định: Trẻ em khởi xướng công việc và trẻ em cần ở người lớn lời khuyên, sự bàn luận và hỗ trợ Người lớn không chỉ huy nhưng sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm để trẻ cân nhắc và quyết định

- Trẻ em thiết kế và quản lý, người lớn có mặt sẵn sàng giúp đỡ

- Trẻ em điều khiển hoàn toàn

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về việc thực hiện Quyền trẻ em

của cha mẹ

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của cha mẹ về việc thực hiện quyền trẻ em Trong pha ̣m vi đề tài này, chúng tôi nghiên cứu một số yếu tố mà theo quan sát và điều tra thử cho thấy đây là các yếu tố chủ quan và khách quan có tác

đô ̣ng nhiều nhất đến nhận thức của cha mẹ về quyền trẻ em Nhóm các yếu tố chủ

quan gồm: Trình độ học vấn; nghề nghiệp của cha mẹ Nhóm các yếu tố khách quan

bao gồm: Điều kiện kinh tế gia đình; Phương tiện thông tin đại chúng; Công tác truyền thông, giáo dục về quyền trẻ em ở địa phương

1.4.1 Yếu tố chủ quan

a Nghề nghiệp của cha mẹ

Trang 39

Nghề nghiệp của cha mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian, sự nuôi dạy, chăm sóc con cái trong mỗi gia đình Đồng thời cũng ảnh hưởng rất lớn đến mặt nhận thức của mỗi người đối với việc thực hiện quyền trẻ em Cha mẹ là giáo viên, bác sỹ, cán bộ công chức, buôn bán, lao động công- nông nghiệp…với những đặc trưng của nghề nghiệp khác nhau đều tác động đến việc thực hiện các quyền của trẻ

em ở các mức độ khác nhau

Tuy vậy, dù là công việc gì nhưng nếu như cha mẹ dành quá nhiều thời gian cho công việc, không có thời gian bên cạnh con cái thì sự quan tâm và vận dụng quyền trẻ em vào thực tế cũng sẽ bị hạn chế và xao nhãng Hay nếu như công việc của cha mẹ có thể cần đến sự hỗ trợ của con cái như việc buôn bán, lao động nông nghiệp… lại ảnh hưởng đến thời gian học hành và vui chơi của con cái

b Trình độ học vấn của cha mẹ

Cha mẹ có trình độ học vấn càng cao thì càng được tiếp xúc nhiều hơn với các thông tin liên quan đến quyền trẻ em và có nhiều kiến thức, kĩ năng về việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em Và cha mẹ có trình độ học vấn cao hơn cũng

có ý thức quan tâm đến các quyền của trẻ em hơn, nhận thức và hiểu biết về quyền trẻ em từ đó cũng cao hơn so với những cha mẹ có trình độ học vấn thấp

Tuy nhiên không phải lúc nào nhận thức cũng gắn liền với hành vi Không phải cha mẹ nào có trình độ học vấn cao, có nhận thức đúng là có hành vi đúng Thực tế vẫn có rất nhiều cha mẹ có trình độ học vấn cao nhưng vẫn có nhiều hành

vi vi phạm quyền trẻ em, hoặc nhiều trường hợp cha mẹ mặc dù trình độ học vấn thấp nhưng vẫn đảm bảo thực hiện quyền trẻ em cho con cái của họ rất tốt

1.4.2 Yếu tố khách quan

a Điều kiện kinh tế của gia đình

Điều kiện vật chất, thu nhập của gia đình có những ảnh hưởng nhất định tới nhận thức của cha mẹ trong việc thực hiện quyền trẻ em Ở những gia đình có điều kiện vật chất tốt, thường các bậc cha mẹ có điều kiện để tiếp cận thông tin về quyền trẻ em, có điều kiện quan tâm nhiều hơn đến con cái, từ đó cũng có nhận thức tốt hơn về việc thực hiện quyền trẻ em Ngược lại, những gia đình có hoàn cảnh khó khăn thường cha mẹ ít có được những hiểu biết về quyền trẻ em Tuy nhiên không

Trang 40

phải gia đình nào có điều kiện tốt đều có nhận thức và hành vi đúng trong việc thực hiện quyền trẻ em

b Phương tiện thông tin đại chúng

Truyền thông mang lại cho con người những kinh nghiệm xã hội, những thông tin cơ bản và cần thiết về mọi vấn đề trong cuộc sống Các thành viên của xã hội đều chịu ảnh hưởng ở mức độ khác nhau do những gì mà các phương tiện truyền thông mang lại Theo cách tiếp cận này, cha mẹ có những hiểu biết về quyền trẻ em thông qua các phương tiện thông tin đại chúng Từ đó góp phần nâng cao nhận thức của mình về quyền trẻ em đồng thời qua những kênh thông tin đó cũng ảnh hưởng và chi phối quá trình cha mẹ thực hiện quyền trẻ em đối với trẻ

c Công tác tuyên truyền vận động về quyền trẻ em tại địa phương

Các tổ chức xã hội là những tổ chức đóng vai trò làm công tác tư tưởng, văn hóa xã hội đối với quần chúng Trong điều 8 của Công ước Quốc tế về QTE cũng đã

đề cập đến vai trò của nhà nước mà đại diện trong đó có các tổ chức chính trị, cơ quan chuyên môn ở địa phương trong việc thực hiện quyền tham gia của trẻ em:

“Nhà nước phải đảm bảo để trẻ em có thể tiếp cận các thông tin và tài liệu từ nhiều

nguồn khác nhau, và khuyến khích các phương tiện thông tin đại chúng phổ biến các thông tin có lợi đối với trẻ em về các mặt xã hội, văn hóa, đồng thời tiến hành các bước để bảo vệ trẻ em khỏi bị tác động bởi các tài liệu độc hại” [6]

Thông qua hoạt động truyền thông, các tổ chức có thể cung cấp thêm những kiến thức liên quan đến trẻ em và ý nghĩa của việc thực hiện quyền trẻ em Hiệu quả hoạt động của các tổ chức đoàn thể có vai trò rất lớn trong việc nâng cao nhận thức của cha mẹ về việc thực hiện quyền trẻ em Chính vì vậy, hiện nay Chính phủ đang xây dựng Công tác xã hội như là một nghề, xây dựng đội ngũ cán bộ xã hội tại cấp phường, xã để có các hoạt động hỗ tợ tại địa phương bao gồm việc cung cấp thông tin liên quan đến trẻ em, can thiệp vụ sự việc trong phạm vi thẩm quyền của mình

Ngày đăng: 30/03/2017, 06:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Minh Anh (2012), “Huyện Quỳ Hợp ngày nay”, Báo Người Qùy Hợp, (số 37), tr. 17-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyện Quỳ Hợp ngày nay”, "Báo Người Qùy Hợp
Tác giả: Cao Minh Anh
Năm: 2012
2. Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em (2009), “Báo cáo Những vấn đề cơ bản của quyền trẻ em trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập – Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí nghiên cứu gia đình và giới (số 5), tr. 33-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Những vấn đề cơ bản của quyền trẻ em trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập – Thực trạng và giải pháp”, "Tạp chí nghiên cứu gia đình và giới
Tác giả: Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Năm: 2009
3. Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em Việt Nam (2011), “Báo cáo nghiên cứu: Hoàn thiện hệ thống bảo vệ trẻ em ở Việt Nam” , Tạp chí gia đình và trẻ em (số 16), tr. 4-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu: Hoàn thiện hệ thống bảo vệ trẻ em ở Việt Nam” , "Tạp chí gia đình và trẻ em
Tác giả: Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em Việt Nam
Năm: 2011
4. Hoàng Phê (1988), Từ điển tiếng việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 5. Jobst Koehler và Trần Thị Hằng (2012), Nghiên cứu về mua bán trẻ emtrai tại Việt Nam, Nxb Tổng cục thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt", Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 5. Jobst Koehler và Trần Thị Hằng (2012), "Nghiên cứu về mua bán trẻ em "trai tại Việt Nam
Tác giả: Hoàng Phê (1988), Từ điển tiếng việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 5. Jobst Koehler và Trần Thị Hằng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2012
6. Liệp hiệp quốc (1989), Công ước quốc tế về Quyền Trẻ em, Nxb Hồng Đức tr.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước quốc tế về Quyền Trẻ em
Tác giả: Liệp hiệp quốc
Nhà XB: Nxb Hồng Đức tr.1
Năm: 1989
7. Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành (1999), Tâm lý học đại cương, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr.71-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
8. Nguyễn Xuân Thức (2008), Tâm lý học đại cương, NXB ĐHSP, tr. 67- 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Xuân Thức
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2008
9. Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5, (2005), Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
10. Sầm Văn Bình (2012), “Quỳ Hợp - Lịch sử và tri thức bản địa”, Tạp chí văn hóa Nghệ An, tr. 22-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỳ Hợp - Lịch sử và tri thức bản địa”, "Tạp chí văn hóa Nghệ An
Tác giả: Sầm Văn Bình
Năm: 2012
11. Sở LĐTB & XH Tỉnh Nghệ An (2012), “Báo cáo trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tình Nghệ An”, Cổng thông tin điện tử tỉnh Nghệ An, (số 21), tr. 9-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tình Nghệ An”, "Cổng thông tin điện tử tỉnh Nghệ An
Tác giả: Sở LĐTB & XH Tỉnh Nghệ An
Năm: 2012
12. Trần Thị Thuý Hảo (2005), Luận văn ThS “Báo in với vấn đề quyền tham gia của trẻ em hiện nay”, ĐHKHXH & NV - 96 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn ThS “Báo in với vấn đề quyền tham gia của trẻ em hiện nay”
Tác giả: Trần Thị Thuý Hảo
Năm: 2005
13. Trịnh Hoà Bình (2001), “Hoạt động, tư vấn – xây dựng chương trình truyền thông – vận động quyền trẻ em giai đoạn 2001 – 2005”, Tạp chí khoa học xã hội (số 14), tr. 35-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động, tư vấn – xây dựng chương trình truyền thông – vận động quyền trẻ em giai đoạn 2001 – 2005”, "Tạp chí khoa học xã hội
Tác giả: Trịnh Hoà Bình
Năm: 2001
15. Trịnh Hòa Bình (2005), Sự hiều biết giữa gia đình và trẻ em về vấn đề quyền trẻ em hiện nay, Tạp chí xã hội học (số 4), tr. 13- 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí xã hội học
Tác giả: Trịnh Hòa Bình
Năm: 2005
16. Trung tâm Thông tin – Tư liệu và Nghiên cứu – UBBV&CSTE Việt Nam (2001), Một số khó khăn và cản trở qua 10 năm thực hiện Luật BVCS&GDTE, Tạp chí lao động và xã hội ( số 410-426) tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí lao động và xã hội
Tác giả: Trung tâm Thông tin – Tư liệu và Nghiên cứu – UBBV&CSTE Việt Nam
Năm: 2001
17. UNICEF (2010), Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại viêt nam 2010, Nxb UNICEF, 312 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại viêt nam 2010
Tác giả: UNICEF
Nhà XB: Nxb UNICEF
Năm: 2010
19. Viện khoa học Lao động và xã hội - Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội (2012),“Báo cáo quốc gia về lao động trẻ em 2012”, Tạp chí Khoa học xã hội VN, Số 12, tr 13-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia về lao động trẻ em 2012”, "Tạp chí Khoa học xã hội VN
Tác giả: Viện khoa học Lao động và xã hội - Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội
Năm: 2012
20. Vũ Ngọc Bình, (1997), Những điều cần biết về Quyền trẻ em, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr.20Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về Quyền trẻ em
Tác giả: Vũ Ngọc Bình
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
21. Bloom, B.S. (Ed.) (1956) Taxonomy of educational objectives: The classification of educational goals: Handbook I, cognitive domain, New York; Toronto: Longmans, Green, pp.141 - 166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Taxonomy of educational objectives: The classification of educational goals: Handbook I, cognitive domain
22. Kofi Annan (2006), Research of the United Nations on violence Against Children: Violence a daily occurrence, not terminating Against Children (2001-2006), Unicef tap project, pp. 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Unicef tap project
Tác giả: Kofi Annan
Năm: 2006
23. UNICEF (1989), Convention on the Rights of the Child, Martinus Nijhoff Publishers, 790 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Convention on the Rights of the Child
Tác giả: UNICEF
Năm: 1989

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Mức độ hiểu biết về công ước quốc tế về quyền trẻ em của cha mẹ - Nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh nghệ an
Bảng 3.1 Mức độ hiểu biết về công ước quốc tế về quyền trẻ em của cha mẹ (Trang 53)
Bảng 3.2:  Mức độ hiểu biết về các nội dung của công ước quốc tế về quyền - Nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh nghệ an
Bảng 3.2 Mức độ hiểu biết về các nội dung của công ước quốc tế về quyền (Trang 54)
Bảng 3.3: Thực trạng mức độ hiểu của cha mẹ về quyền được bảo vệ của trẻ em - Nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh nghệ an
Bảng 3.3 Thực trạng mức độ hiểu của cha mẹ về quyền được bảo vệ của trẻ em (Trang 58)
Bảng 3.6: Thực trạng mức độ hiểu về quyền được tham gia của cha mẹ - Nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh nghệ an
Bảng 3.6 Thực trạng mức độ hiểu về quyền được tham gia của cha mẹ (Trang 71)
Bảng 3.8: Mức độ vận dụng thường xuyên những hành vi vi phạm quyền tham gia  của trẻ - Nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh nghệ an
Bảng 3.8 Mức độ vận dụng thường xuyên những hành vi vi phạm quyền tham gia của trẻ (Trang 77)
Bảng 3.9: Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của  cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An - Nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh nghệ an
Bảng 3.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An (Trang 81)
Bảng 3.10: So sánh trình độ học vấn với mức độ thực hiện quyền bảo vệ trẻ - Nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi tỉnh nghệ an
Bảng 3.10 So sánh trình độ học vấn với mức độ thực hiện quyền bảo vệ trẻ (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w