3 DANH MỤC BIỂU ĐỒ 2.1 Tương quan địa bàn cư trú trong nhận diện hành vi bạo lực 2.2 Ý kiến của người dân về mức độ vi phạm pháp luật của một 2.3 Tương quan trình độ học vấn trong nhậ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Trần Văn Ước
NHẬN THỨC VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH YÊN BÁI
(Nghiên cứu tại phường Nguyễn Thái Học và xã Lương Thịnh, huyện Trấn Yên)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Xã hội học
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Trần Văn Ước
NHẬN THỨC VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH YÊN BÁI
(Nghiên cứu tại phường Nguyễn Thái Học và xã Lương Thịnh, huyện Trấn Yên)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu “Nhận thức về bạo lực gia đình của người dân tỉnh Yên Bái” là
báo cáo nghiên cứu khoa học dựa trên một phần kết quả khảo sát của đề tài: “Điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp có tính đột phá nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình năm 2012 và giai đoạn 2012-2016” do Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch phối hợp với Viện Gia đình và Giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) thực hiện Luận văn Thạc sĩ là một bước quan trọng để tác giả có cơ hội thực hành, áp dụng các kiến thức lý thuyết vào nghiên cứu trong thực tế Tác giả hi vọng rằng công trình nghiên cứu này sẽ cung cấp những thông tin cơ bản về nhận thức của người dân Yên Bái về bạo lực gia đình
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã trang bị kiến thức và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đoàn Thị Thanh Huyền, người đã gợi mở cho tôi nhiều ý tưởng, cung cấp cho tôi những lý luận, thực tiễn, cùng những kinh nghiệm quý báu; nhiệt tình hướng dẫn, động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian qua để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng cảm ơn lãnh đạo và chuyên viên Vụ Gia đình, Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch đã tạo điều kiện để tôi có thể tiếp cận số liệu sơ cấp “Điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất các giải pháp có tính đột phá nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình trong năm 2012 và giai đoạn 2012-2016”
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã cố gắng bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và bạn bè
Trần Văn Ƣớc
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 2
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 3
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 22
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 23
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 23
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 24
7 Phương pháp nghiên cứu 25
8 Khung phân tích 27
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 28
1.1 Một số khái niệm cơ bản trong nghiên cứu 28
1.2 Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu 33
1.3 Quan điểm của Đảng, luâ ̣t pháp, chính sách của Nhà nước về bạo lực gia đình và phòng, chống ba ̣o lực gia đình 37
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 45
1.5 Thực trạng bạo lực gia đình tại Yên Bái hiện nay 47
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 49
CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH YÊN BÁI 49
2.1 Nhận thức về bạo lực gia đình 49
2.2 Nhận thức về hành vi bạo lực gia đình 54
2.3 Nhận diện về nguyên nhân của bạo lực gia đình 70
2.4 Nhận thức về hậu quả của bạo lực gia đình 81
2.5 Hiểu biết về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước 88
Trang 5CHƯƠNG 3: YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI
DÂN TỈNH YÊN BÁI VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 96
3.1 Gia đình ảnh hưởng đến nhận thức của người dân về BLGĐ 96
3.2 Yếu tố cá nhân ảnh hưởng tới nhận thức của người dân về BLGĐ 99
3.3 Yếu tố môi trường-xã hội ảnh hưởng đến nhận thức của người dân về BLGĐ 105
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHI ̣ 113
1 Kết luâ ̣n 113
2 Khuyến nghi ̣ 114
Trang 61
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Nghĩa của chữ viết tắt
1 APWLD Tổ chức Phụ nữ Châu Á Thái Bình Dương
2 Bộ VHTTDL Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
9 UBND Ủy ban nhân dân
10 UNESCO Cơ quan Liên Hợp quốc về Khoa học, Giáo dục và Văn
hóa
11 UNFPA Quỹ Dân số Liên hợp quốc
12 UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
13 WHO Tổ chức Y tế thế giới
Trang 72
DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Nhận thức của người dân về hành vi bạo lực gia đình 54 2.2 Nhận thức của nam và nữ trong nhận diện hành vi bạo lực gia đình 59 2.3 Tương quan mức sống trong nhận diện bạo lực là vi phạm pháp luật 65
2.4 Tương quan địa bàn cư trú trong nhận diện hành vi bạo lực vi
2.9 Giá trị trung bình về sự đánh giá của ngư ời dân Yên Bái về ảnh
hưởng của các yếu tố gia đình đến nhận thức BLGĐ 97 2.10 Yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến nhận thức của người dân về BLGĐ 99 2.11 Yếu tố môi trường-xã hội ảnh hưởng đến nhận thức của người
Trang 83
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
2.1 Tương quan địa bàn cư trú trong nhận diện hành vi bạo lực
2.2 Ý kiến của người dân về mức độ vi phạm pháp luật của một
2.3 Tương quan trình độ học vấn trong nhận diện bạo lực là vi
2.4 Nhận định về nguyên nhân chồng có thể đánh vợ 70
2.5 Mức độ tiêu thụ đồ uống có cồn của người dân Việt Nam so
2.6 Nhận thức của nam và nữ về nguyên nhân bạo lực gia đình 72
2.7 Tỷ lệ người dân phường Nguyễn Thái Học và xã Lương
Thịnh cho biết những trường hợp chồng có thể đánh vợ 78
2.8 Nhận diện mức độ ảnh hưởng của bạo lực gia đình đến tinh
2.9 Mức độ hiểu biết pháp luật của người dân 98
Trang 9Ở Việt Nam, tình trạng BLGĐ ngày càng gia tăng và trở thành vấn đề nghiêm trọng bởi tính chất và hậu quả của nó Hiện nay, trên phạm vi cả nước, BLGĐ đang diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, với nhiều đối tượng khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là bạo lực thể xác và tinh thần đối với phụ nữ, trẻ em gái mà người gây ra bạo lực là chính người chồng/cha của họ
BLGĐ gây ra nhiều hậu quả ở nhiều mức độ khác nhau cho gia đình và xã hội; BLGĐ không chỉ gây những tổn thương về thể xác, tâm lý, tình cảm của các thành viên trong gia đình mà còn gây những tổn thất về kinh tế Theo thống kê của tòa án nhân dân tối cao, trung bình mỗi năm, cả nước có tới 8.000 vụ ly hôn mà nguyên nhân là do bạo lực gia đình; còn theo thống kê của các bệnh viện, trung tâm
y tế, các phòng cấp cứu lớn của cả nước, hàng năm có trên 27% phụ nữ bị ngược đãi phải nhập viện, hơn 10% phụ nữ phải điều trị y khoa nghiêm trọng do bạo lực gia đình [26] Không những thế BLGĐ còn có những tác động tiêu cực tới trẻ em trong các gia đình đó Trong nhiều trường hợp, BLGĐ tạo nên mầm mống của tội phạm và tệ nạn xã hội, là tác nhân gây hậu quả nghiêm trọng cho cuộc đời và nhân cách con người
Để ngăn chặn tình trạng bạo lực gia đình, ngoài các văn bản luật pháp quốc tế, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý về PCBLGĐ, đặc biệt, Luật PCBLGĐ được Quốc hội thông qua vào tháng 11 năm 2007 và có hiệu lực từ ngày
01 tháng 7 năm 2008 Ngoài ra Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số
08/2009/NĐ-CP về hướng dẫn chi tiết một số điều thi hành Luật PCBLGĐ; Nghị
Trang 10tệ nạn xã hội (rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm, ngoại tình, ghen tuông ), đặc biệt là nguyên nhân xuất phát từ nhận thức của người dân về BLGĐ còn nhiều hạn chế Đây chính là nguyên nhân mà tác giả quan tâm và muốn tìm hiểu
Yên Bái là một tỉnh miền núi với 30 dân tộc sinh sống, trong đó có 7 dân tộc
có dân số trên 10.000 người, 2 dân tộc có từ 2.000 - 5.000 người, 3 dân tộc có từ
500 - 2.000 người Về kinh tế - xã hội, Yên Bái là một tỉnh nghèo, hệ thống cơ sở
hạ tầng giao thông, liên lạc còn nhiều hạn chế, trình độ dân trí thấp, việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về BLGĐ và phòng, chống BLGĐ còn gặp nhiều khó khăn Ngay sau khi Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống BLGĐ (2007), UBND tỉnh Yên Bái đã có nhiều chủ trương tích cực để đưa Luật vào cuộc sống: Ban hành Kế hoạch số 72/KH-UBND ngày 11/10/2008 về tổ chức chiến dịch truyền thông phòng, chống BLGĐ và bình đẳng giới trên toàn tỉnh; ngày 23/7/2009 ban hành Chỉ thị số 16/CT-UBND về việc tổ chức triển khai thi hành Luật Phòng, chống BLGĐ Theo kết quả điều tra thực trạng BLGĐ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện năm 2012 cho thấy, số vụ BLGĐ trên địa
Trang 116
bàn tỉnh Yên Bái đã giảm đi đáng kể Từ năm 2010 đến 6 tháng đầu năm 2012 có 1.369 vụ Trong đó, năm 2010 có 651 vụ, đến năm 2011 giảm còn 335 vụ, đến tháng 6 năm 2012 có 383 vụ Vậy, vì sao BLGĐ ở Yên Bái lại giảm đi trong những năm gần đây? Phải chăng do nhận thức của người dân về BLGĐ đã được nâng cao nên số lượng các vụ BLGĐ trên địa bàn tỉnh ngày càng giảm? Để làm rõ hơn
những vấn đề này, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Nhận thức về bạo lực gia đình của người dân tỉnh Yên Bái - nghiên cứu tại phường Nguyễn T hái Học và xã Lương Thi ̣nh, huyê ̣n Trấn Yên” Tác giả hy vọng, kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung
thêm nguồn tư liệu, giúp các cơ quan quản lý, các nhà nghiên cứu có thêm tư liệu
để đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về BLGĐ cũng như PCBLGĐ
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Với những hậu quả nghiêm trọng gây ra cho xã hội, BLGĐ đã và đang thu hút
sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức xã hội và các tổ chức phi chính phủ dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau từ vi mô đến vĩ mô Tuy nhiên, trong những tài liệu đã tiếp cận được, tác giả nhận thấy những công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đến các hướng tiếp cận như: Nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân BLGĐ; nghiên cứu về nhận thức, thái độ và hành vi BLGĐ Ngoài ra còn một số nghiên cứu đề cập đến các vấn đề như: Nghiên cứu bạo lực trên cơ sở giới, nghiên cứu Luật phòng, chống BLGĐ và các giải pháp phòng, chống BLGĐ…
2.1 Nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân bạo lực gia đình
Trong vài năm trở lại đây, nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân BLGĐ được xem là chủ đề thu hút giới nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn
và các tổ chức quốc tế Có thể ghi nhận những đóng góp của các nghiên cứu đó trong việc cung cấp thông tin, kiến giải về BLGĐ ở nước ta, qua đó giúp cho các nhà quản lý, các nhà lập pháp trong công tác quản lý gia đình, phòng chống bạo lực trong gia đình có hiệu quả hơn Tuy nhiên, từ những nghiên cứu được công bố gần
Trang 12Tiêu biểu trong hướng nghiên cứu này có bài viết “Bạo lực gia đình ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Quý đăng trên Tạp chí Khoa học và Phụ nữ (1994) xác
định năm nguyên nhân chính của nạn BLGĐ đó là: Kinh tế, nhận thức, văn hoá-xã
hội, sức khoẻ và nguyên nhân thuộc về phía phụ nữ Bên cạnh đó, với cuốn “Bạo lực gia đình trong hoàn cảnh Việt Nam, các hình thức, nguyên nhân và các khuyến nghị hành động”, tác giả Lê Thị Quý bằng phương pháp khảo sát thực tế và phỏng vấn cấu
trúc đã phân tích sâu sắc nguyên nhân, hình thức của bạo lực chủ yếu do bất bình đẳng giới; và tác giả cũng có đưa ra một số giải pháp dành cho nạn nhân bị bạo lực
Năm 2004, “Khảo sát thực trạng bạo lực trong gia đình tại miền Đông Nam bộ” do Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện đã đưa ra những con số cụ thể
về thực trạng bạo lực trong gia đình tại địa bàn khảo sát; thực trạng hiểu biết về bình đẳng giới, nhận thức của dân về bạo lực gia đình; mâu thuẫn gia đình với vấn
đề bạo lực Nghiên cứu cho rằng, nguyên nhân cơ bản của BLGĐ bắt nguồn từ nhận thức chưa đầy đủ về bình đẳng giới, tư tưởng trọng nam, khinh nữ Nguyên nhân thứ hai là do sự khó khăn của đời sống kinh tế, không có việc làm, hạn chế về trình độ học vấn Một nguyên nhân phổ biến ở các vùng nông thôn là tình trạng lạm dụng rượu, bia hoặc mắc vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy Nguyên nhân cuối cùng mà nghiên cứu đề cập đến đó là do ghen tuông và ngoại tình Nghiên cứu cũng đồng thời khẳng định rằng, bạo lực ảnh hưởng sâu sắc đến mối quan hệ vợ chồng bền
Trang 13Lê Minh Thi và Nguyễn Thanh Hà thực hiện đã đi sâu vào việc phân tích thực trạng BLGĐ liên quan đến bạo lực về tinh thần, kinh tế, thể xác và tình dục Kết quả chỉ ra rằng, kiến thức của người dân về các hành vi bạo lực thấp Phần lớn phụ
nữ (93,7%) cho rằng chỉ biết đến bạo lực thể xác, số người biết đến bạo lực tinh thần không cao (38,2%), rất ít người biết đến bạo lực tình dục (2,3%), và có khoảng 1,5% phụ nữ không kể tên được bất cứ một loại bạo lực nào Sở dĩ xảy ra hiện tượng trên là do hầu hết người dân, cả nam và nữ, thậm chí cả lãnh đạo địa phương đều cho rằng bạo lực chỉ là hành vi đánh đập, gây thương tích và lặp lại nhiều lần Tuy nhiên, đây chỉ là những nghiên cứu trường hợp và chủ yếu tập trung vào phụ
nữ đã bị bạo lực, các nhóm khác chiếm tỉ lệ không cao
Cũng trong năm 2006, “Điều tra Gia đình Việt Nam”, do Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê và UNICEF, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thực hiện đã dành phần lớn chương 8 để đề cập đến thực trạng, nguyên nhân dẫn đến các hình vi BLGĐ Nghiên cứu chỉ ra rằng 21,2% cặp vợ chồng đã từng xảy ra ít nhất một loại bạo lực trong vòng 12 tháng trước điều tra bao gồm bạo lực ngôn từ, bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác hoặc tình dục Các nghiên cứu về BLGĐ chủ yếu tập trung vào vấn đề bạo lực của người chồng đối với vợ
Năm 2009, cuốn sách “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng, diễn tiến và nguyên nhân” của nhóm tác giả Trần Hữu Minh và Trần Thị
Vân Anh (chủ biên), tập trung vào vấn đề bạo lực của người chồng đối với người
vợ với mong muốn cung cấp các dữ liệu thông tin đầu vào cho một cuộc nghiên
Trang 14Vào năm 2010, Nghiên cứu quốc gia về BLGĐ đối với phụ nữ tại Việt Nam
do Tổng cục Thống kê Việt Nam tiến hành trên phạm vi cả nước nhằm tìm hiểu những thông tin chi tiết về mức độ phổ biến và các loại hình bạo lực đối với phụ
nữ, các hậu quả về mặt sức khỏe của BLGĐ, các yếu tố rủi ro, phòng ngừa bạo lực, cách xử trí của phụ nữ khi gặp phải BLGĐ cũng như các dịch vụ trợ giúp mà họ đã
sử dụng Đồng thời, các số liệu mới được đưa ra đã nêu bật một thực trạng là đa số phụ nữ Việt Nam đều có nguy cơ tiềm tàng bị BLGĐ ở một hay một vài thời điểm nào đó trong cuộc sống của họ Tuy nhiên, công trình này cũng mới chỉ dừng ở mức độ ước tính tỷ lệ, tần suất và phân loại các hình thức bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em; đánh giá mức độ hậu quả về sức khỏe và các vấn đề khác có liên quan tới BLGĐ; xác định những yếu tố có thể bảo vệ hoặc đặt người phụ nữ vào nguy cơ bị BLGĐ; thu thập thông tin và so sánh những chiến lược và dịch vụ mà người phụ nữ
sử dụng để đối phó với BLGĐ, các quan niệm về BLGĐ đối với phụ nữ và kiến thức của phụ nữ về các quyền hợp pháp của họ
Cũng trong năm 2010, nghiên cứu “Nguyên nhân xung đột trong gia đình dưới góc độ cư xử với bạn bè, hàng xóm” của tác giả Nguyễn Hồng Hà đã xem xét
cách cư xử với bạn bè hàng xóm như một nguyên nhân dẫn đến xung đột ở gia đình trẻ Số liệu định lượng được phân tích trong tương quan với chênh lệch độ tuổi và chênh lệch học vấn giữa vợ và chồng, thời gian tìm hiểu trước nguyên nhân và thời
Trang 1510
gian chung sống, việc có chung nghề nghiệp, vợ chồng có chung quan niệm hạnh phúc gia đình, mức thu nhập, việc chia sẻ việc nhà và các yếu tố khác Kết quả cho thấy không có tương quan chặt chẽ giữa chênh lệch tuổi của vợ chồng với nguyên nhân xung đột về cách ứng xử với bạn bè, hàng xóm, tuy nhiên xung đột xảy ra thường xuyên hơn ở các gia đình mà vợ có học vấn cao hơn chồng Thời gian tìm hiểu và thời gian chung sống ngắn hơn cũng là yếu tố khiến xung đột xảy ra thường xuyên hơn Những cặp vợ chồng có chung quan niệm về hạnh phúc gia đình cũng là những cặp vợ chồng ít xảy ra xung đột về cách ứng xử với bạn bè, hàng xóm hơn
Điều tra “Thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp có tính đột phá nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình trong năm 2012 và giai đoạn 2012-2016” do Vụ
Gia đình, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện tại 04 tỉnh: Yên Bái, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hậu Giang tập trung vào việc tìm hiểu mô hình hành vi BLGĐ cũng như nhận thức và các nguyên nhân, hậu quả của BLGĐ ở một số địa phương, qua đó đánh giá công tác phòng, chống BLGĐ trong thời gian vừa qua, từ đó đề xuất giải pháp có tính đột phá nhằm giảm thiểu BLGĐ trong năm 2012 và giai đoạn 2012-2016 Tuy nhiên, nghiên cứu này chủ yếu đi sâu vào việc phân tích nhận thức của người dân, các ứng phó của người dân khi trong gia đình có xảy ra BLGĐ (nạn nhân và những người khác) cũng như sự tham gia giải quyết của các tổ chức đoàn thể, các biện pháp xử lý của chính quyền và hiệu quả của các biện pháp đó
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đã phân tích được thực trạng, nguyên nhân của nạn BLGĐ và đưa ra các giải pháp khắc phục; phản ánh được tình trạng BLGĐ ở Việt Nam đã và đang có chiều hướng ngày càng tăng tỷ lệ trong cộng đồng và mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn Tuy nhiên, phần lớn nội dung của các nghiên cứu mà tác giả tổng quan được tập trung đánh giá thực trạng về tình trạng bạo hành đối với phụ nữ; làm rõ nguyên nhân và đưa ra các giải pháp khắc phục Các công trình nghiên cứu chỉ ra các góc độ và khía cạnh đa dạng, phản ánh khá cơ bản, toàn diện bức tranh về tình trạng BLGĐ đối với phụ nữ hiện nay Các
Trang 1611
công trình nghiên cứu thể hiện sự công phu, mang tính thiết thực cao Các nghiên cứu thẳng thắn, không né tránh khi nói đến các vấn đề thường được cho là nhạy cảm ở Việt Nam Các nghiên cứu thường đề cao, coi trọng và khám phá đối tượng nghiên cứu một cách triệt để, tạo ra những kết quả sát thực, đáp ứng mục tiêu của nghiên cứu
2.2 Nghiên cứu nhận thức, thái độ và hành vi về bạo lực gia đình
Một số cuộc điều tra cấp quốc gia ở Việt Nam có liên quan tới vấn đề nhận thức BLGĐ như: Nghiên cứu do Ngân hàng Thế giới tiến hành năm 1999 về bạo lực giới ở Việt Nam; Điều tra quốc gia về Bình đẳng giới của Viện Khoa học Xã hội (2004-2006); Điều tra quốc gia về gia đình Việt Nam do Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em quốc gia (2005)
Năm 1999, điều tra của Ngân hàng thế giới đã đưa ra một thực tế là mâu thuẫn trong gia đình là khá phổ biến và mức độ xuất hiện các loại hành vi như nói nặng lời, mắng chửi, đánh, ép quan hệ tình dục là khá cao Các đặc điểm cá nhân (học vấn của phụ nữ, nhóm tuổi của phụ nữ, vai trò của phụ nữ trong gia đình), các đặc điểm gia đình (khu vực sinh sống, đặc điểm về con cái, thời gian kết hôn, loại hình chung sống, kinh tế gia đình) có mối quan hệ với các hành vi bạo lực trong gia đình Nghiên cứu chỉ ra được các hình thức phản ứng của người vợ khi bị bạo hành (gồm có: không làm gì, trả đũa, chủ động nói chuyện với chồng, nhờ họ hàng giúp
đỡ, nhờ bạn bè/hàng xóm giúp đỡ, nhờ hội phụ nữ giúp đỡ, nhờ các tổ chức khác) cũng như các yếu tố liên quan đến các phản ứng của người phụ nữ đối với BLGĐ, chẳng hạn như: trình độ học vấn của phụ nữ thời gian kết hôn, môi trường sống ở
đô thị hay nông thôn Số liệu phân tích cho thấy có sự khác biệt đáng kể trong cách phản ứng của người vợ tùy theo đặc điểm gia đình, cá nhân khác nhau
Năm 2001, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu thị
trường và Phát triển đã triển khai đề tài nghiên cứu: “Bạo lực gia đình đối với phụ
nữ ở Việt Nam: kết quả nghiên cứu tại Thái Bình, Lạng Sơn và Tiền Giang” Với
Trang 1712
phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, đề tài đã tìm hiểu nhận thức, thái
độ của người dân và các cán bộ thi hành pháp luật của các tổ chức đoàn thể xã hội Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, BLGĐ chịu tác động của nhiều yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau Mức độ phổ biến của BLGĐ thay đổi theo đặc điểm văn hóa của dân tộc, khu vực sống Ở những nơi có mức sống thấp, tư tưởng trọng nam, khinh nữ còn nặng nề thì bạo lực diễn ra phổ biến hơn Nghiên cứu cũng khẳng định, BLGĐ liên quan mật thiết đến các yếu tố đặc điểm của các cặp vợ chồng và hoàn cảnh gia đình như: trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, mức sống… Những gia đình có trình độ học vấn thấp, kinh tế khó khăn, nghề nghiệp không ổn định, sinh đẻ nhiều hoặc mắc các tệ nạn xã hội thì mức độ bạo lực cao hơn so với những nhóm gia đình khác Và cuối cùng, kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng ban đầu về mối liên hệ giữa BLGĐ và sự thay đổi địa vị vai trò người phụ nữ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường Trong một số trường hợp, phụ nữ có địa vị xã hội và có vai trò kinh tế cao hơn người chồng lại thường chịu bạo lực nhiều hơn
Năm 2003, bài viết “Bạo lực trong gia đình từ góc nhìn của người nghèo” của
nhóm tác giả Phạm Kiều Oanh và Nguyễn Thị Khoa đăng trên tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 2/2003 được trích ra từ một nghiên cứu về tình trạng bạo lực trong gia đình của Tổ chức ActionAid Việt Nam, được thực hiện tại tỉnh Lai Châu và Ninh Thuận Mục đích chính của nghiên cứu này là tìm hiểu nhận thức của nhân dân và chính quyền địa phương về bạo lực trong gia đình và các phương án can thiệp khả thi để giảm thiểu tình trạng này tại cộng đồng Cách hiểu về bạo lực của người dân cũng như cán bộ chính quyền địa phương trong nghiên cứu này cũng nghiêng về vũ lực, đánh đập Về nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực, nghiên cứu nhấn mạnh đến nguyên nhân kinh tế với nhận định khó khăn về kinh tế dễ gây ra xích mích giữa hai vợ chồng Mặc dù không phân tích rõ sự khác nhau giữa nhận thức của người dân
và các cán bộ cấp tỉnh, huyện, xã nhưng người đọc vẫn thấy được cán bộ có cách nhìn nhận vấn đề về BLGĐ đầy đủ và chính xác hơn so với những người dân
Trang 1813
Những khía cạnh của BLGĐ cũng được thể hiện rõ nét trên các kết quả nghiên
khác như: “Bạo lực trong gia đình” của Bùi Thu Hằng, đăng trên Tạp chí Khoa học
về Phụ nữ, số 2/2001; “Nghiên cứu bạo lực gia đình trên cơ sở giới ở Việt Nam” do tác giả Nguyễn Hữu Minh và các cộng sự, năm 2005; “Bạo lực của chồng đối với
vợ ở Việt Nam trong những năm gần đây” của nhóm tác giả thuộc Viện Gia đình và Giới, đăng trên Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 3/2006; “Bạo lực giới: cái giá phải trả quá cao” (UNFPA, 2005); “Bạo lực gia đình - nghiên cứu và đề xuất” của tác
giả Đinh Văn Quảng, đăng trên Tạp chí Gia đình và Trẻ em, số 6/2007 Các công trình nghiên cứu này tóm lược, so sánh kết quả nghiên cứu trước đó và đưa ra bức tranh chung, đa màu sắc về BLGĐ, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề nhận thức Kết luận chung của các nghiên cứu này cho thấy nhận thức của nhân dân, nhất là phụ nữ về bạo lực, bình đẳng giới còn nhiều hạn chế Những nguyên nhân được tổng hợp từ các nghiên cứu này giống với các nguyên nhân của nghiên cứu thực địa Cụ thể, sự hạn chế về trình độ học vấn, khó khăn về kinh tế, nghề nghiệp,
sự gia tăng của tệ nạn xã hội… làm cho việc giảm thiểu tình trạng bạo lực thêm khó khăn và phức tạp
Trong một cách tiếp cận khác, đề tài: “Nghiên cứu điều tra khảo sát về bạo hành trên cơ sở giới tại một số cơ sở y tế và cộng đồng, huyện Gia Lâm, Hà Nội” của nhóm tác giả Lê Thị Phương Mai và Lê Ngọc Lân, năm 2002; “Vấn đề bạo lực với phụ nữ trong gia đình và thái độ, thực hành của cán bộ y tế (thực hiện tại Hà Nội và Ninh Bình)” của tác giả Nguyễn Thị Hoài Đức và các cộng sự năm 2001 đã
đi tìm hiểu về nhận thức của nhóm các cán bộ y tế, cán bộ các ban ngành, đoàn thể
về vấn đề BLGĐ Các nghiên cứu này đều cho thấy, cán bộ y tế và cán bộ các ban ngành, đoàn thể còn hạn chế trong hiểu biết về vấn đề ngược đãi phụ nữ; đánh giá mức độ nghiêm trọng của bạo lực thể xác cao hơn so với bạo lực tinh thần; hạn chế
về hiểu biết pháp luật liên quan đến xử phạt các hành vi bạo hành giới Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc phối hợp giữa cơ quan y tế với các ban ngành chức năng
Trang 1914
khác ở địa phương cũng như giữa các ban ngành chức năng với nhau như: công an, chính quyền, phụ nữ, thanh niên, tổ hòa giải… là chưa đồng bộ Nghiên cứu cũng cho rằng cần thiết phải thiết lập sự phối hợp hoạt động giữa các ban ngành để đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bình đẳng giới Cần lồng ghép vào hoạt động của các ban ngành, lôi kéo nam giới tham gia vào phong trào này Xây dựng các nhóm
hỗ trợ tinh thần cho phụ nữ ở địa phương Cung cấp các khóa tập huấn về kỹ năng
tư vấn bạo hành giới cho cán bộ địa phương
Phản ánh các kết quả của nghiên cứu định tính về lịch sử đời sống của nam
giới Việt Nam, báo cáo “Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về, xu hướng, con đường hình thành lối sống bạo lực/phi bạo lực của nam giới tại thành phố Huế và huyện Phú Xuyên, Việt Nam” của nhóm tác giả Đào Thế Đức, Hoàng Cầm, Lê Hà Trung và
Lee Kanthoul, tháng 12/2012 đã nghiên cứu, tìm hiểu những con đường hình thành thái độ và hành vi bình đẳng, bất bình đẳng giới và bạo lực Phương pháp nghiên cứu được điều chỉnh nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn nguyên nhân sâu xa của bạo lực giới trong mối liên quan với quan hệ về nam tính Báo cáo này cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách và các cơ quan tổ chức nhằm hoạch định chiến lược, xây dựng tầm nhìn và xác định ưu tiên trong các chương trình phòng và chống bạo lực trên cơ sở về giới, có thu hút và chú trọng hơn sự tham gia của trẻ em trai, nam giới, cùng với phụ nữ và trẻ em gái vào các hoạt động này
Nhóm tác giả Phạm Kiều Oanh và Nguyễn Thị Khoa với bài viết: “Bạo lực trong gia đình từ góc nhìn của người nghèo”, đăng trên tạp chí Khoa học về Phụ
nữ, số 2/2003 được trích ra từ một nghiên cứu về tình trạng bạo lực trong gia đình của Tổ chức ActionAid Việt Nam, được thực hiện tại tỉnh Lai Châu và Ninh Thuận Mục đích chính của nghiên cứu này là tìm hiểu nhận thức của nhân dân và chính quyền địa phương về bạo lực trong gia đình và các phương án can thiệp khả thi để giảm thiểu tình trạng này tại cộng đồng Cách hiểu về bạo lực của người dân cũng như cán bộ chính quyền địa phương trong nghiên cứu này cũng nghiêng về vũ lực,
Trang 2015
đánh đập Về nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực, nghiên cứu nhấn mạnh đến nguyên nhân kinh tế với nhận định khó khăn về kinh tế dễ gây ra xích mích giữa hai vợ chồng Mặc dù không phân tích rõ sự khác nhau giữa nhận thức của người dân và các cán bộ cấp tỉnh, huyện, xã nhưng người đọc vẫn thấy được cán bộ có cách nhìn nhận vấn đề về BLGĐ đầy đủ và chính xác hơn so với những người dân
Năm 2010, bài viết “Nhận thức và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ y tế trong điều trị, hỗ trợ các nạn nhân bạo lực gia đình: thực tế và vấn đề đặt ra” của tác giả
Lê Ngọc Lân dựa trên kết quả nghiên cứu của Dự án “Nâng cao chất lượng chăm sóc y tế đối với nạn nhân của bạo lực giới tại các cơ sở y tế của Việt Nam” được
thực hiện năm 2009 tại 4 bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, đã phân tích nhận thức về bạo hành, kinh nghiệm hỗ trợ và điều trị bệnh nhân là nạn nhân bạo hành của các cán bộ y tế Nghiên cứu chỉ ra rằng các cán bộ y tế ở các bệnh viện đã có những nhận thức khá toàn diện về các dạng bạo lực và có những cách khác nhau trong tiếp cận, sàng lọc bệnh nhân trong điều trị và hỗ trợ Bên cạnh việc chăm sóc, chữa trị về y tế cho nhóm bệnh nhân là nạn nhân bạo hành, đã
có một tỷ lệ nhất định cán bộ y tế có những hỗ trợ về tinh thần hoặc những giúp đỡ khác Từ thực tế đó, cán bộ y tế ở cac bệnh viện cũng đã có những yêu cầu, khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực, điều kiện công tác và các giải pháp hỗ trợ khác để chất lượng dịch vụ y tế, đặc biệt cho các bệnh nhân là nạn nhân của bạo lực giới, ngày càng được đảm bảo hơn
Nhìn chung, trong các công trình khoa học đã được công bố, phần lớn đề cập đến bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình, có rất ít nghiên cứu đề cập đến nhận thức của người dân về BLGĐ và những yêu tố tác động Mặt khác, những nghiên cứu trên chủ yếu phân tích những nhóm đối tượng trên phạm vi rộng lớn, những giải pháp đề ra mang tính chất định hướng, bao quát, chưa cụ thể đi vào từng nhóm đối tượng dân cư và địa phương cụ thể
Trang 2116
2.3 Nghiên cứu bạo lực gia đình trên cơ sở giới
Bạo lực còn được nhắc đến dưới dạng bạo lực giới như nghiên cứu của Vũ
Mạnh Lợi và các cộng sự (1999) với cuốn “Bạo lực trên cơ sở Giới tại Việt Nam”
Nghiên cứu được triển khai tại 3 thành phố: Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu đi sâu xem xét thái độ của cộng đồng và các thể chế xã hội về BLGĐ trên cơ sở giới cũng như các phản ứng của cá nhân, luật pháp và các thể chế đối với nạn BLGĐ Nghiên cứu này chỉ ra rằng, ngược đãi về tình cảm, thân thể và lời nói phổ biến hơn so với ngược đãi liên quan đến tình dục Nguyên nhân của bạo hành cơ bản do khó khăn về kinh tế của các gia đình và lạm dụng rượu, bia Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng khẳng định rằng tần số và mức độ nghiêm trọng của bạo lực cũng liên quan đến trình độ học vấn của các cặp vợ chồng, học vấn càng cao thì bạo hành về lời nói và bạo hành về thân thể càng thấp
Ngoài ra, tác giả Lê Thị Quý còn có nhiều công trình nghiên cứu khác như:
“Nỗi đau thời đại” (1996) phân tích bạo lực ở hai khía cạnh: Bạo lực nhìn thấy được và bạo lực không nhìn thấy được; “Domestic violence in Viet Nam” (2000)
với sự tài trợ của APWLD thực hiện nghiên cứu xã hội học về BLGĐ ở ngoại thành
Hà Nội đưa ra những con số cảnh báo và khẳng định hậu quả của BLGĐ ; “Bạo lực gia đình- một sự sai lệch giá trị” (2007) viết chung với Đặng Vũ Cảnh Linh nêu
lên những lí luận, thực tiễn và những mô hình chống bạo lực hiệu quả
Hoàng Bá Thịnh - một trong những tác giả đi sâu nghiên cứu Xã hội học Giới
và phát triển cũng đã có nhiều bài viết phản ánh Giới - bạo lực gia đình và cách
nhìn nhận đúng quan điểm giới: “Bạo lực gia đình ở Việt Nam và vai trò của truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ” (2005), và các bài viết
trên Tạp chí Khoa học và Phụ nữ, Gia đình và Trẻ em
Trong năm 2006, cuốn sách “Bạo lực gia đình: sự thay đổi ở Việt Nam”, của
tác giả Vũ Mạnh Lợi cung cấp một số kết luận và khuyến nghị góp phần phòng chống BLGĐ ở Việt Nam, đặc biệt trong những chương trình dân số - sức khỏe
Trang 2217
sinh sản Tài liệu giới thiệu phương pháp tiếp cận theo vòng đời đối với bạo lực trên cơ sở giới, trong đó tập trung vào hình thức BLGĐ phổ biến nhất, đó là bạo hành do chồng gây ra đối với vợ hay giữa những người bạn tình Cuối cùng là những khuyến nghị nhằm giảm thiểu tình trạng BLGĐ
Năm 2007, “Nghiên cứu rà soát các chương trình Phòng chống bạo lực trên
cơ sở giới tại Việt Nam” được triển khai tại Việt Nam nhằm xác định các chương
trình về phòng, chống và giải quyết bạo lực giới, các thách thức và lĩnh vực hành động trong tương lai Những thông tin này sẽ được UNFPA sử dụng để đưa ra các khuyến nghị cho việc xây dựng một mô hình nhằm giải quyết bạo lực giới trong chương trình của UNFPA tại Phú Thọ và Bến Tre và nhằm vận động các đối tác của UNFPA - những cơ quan/tổ chức đang tham gia xây dựng Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình Nghiên cứu bao gồm ba phần Phần thứ nhất giới thiệu về BLG trên thế giới, các loại bạo lực, quy mô và hậu quả của bạo lực và sơ lược về tình hình bạo lực giới ở Việt Nam Phần thứ hai miêu tả phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này (rà soát tài liệu và thăm thực địa), các địa bàn đã được lựa chọn và những người được phỏng vấn Phần thứ ba của tài liệu nêu lên những cấp
độ hợp tác khác nhau, cần thiết cho việc giải quyết bạo lực giới một cách toàn diện
Năm 2014, bài viết “Bạo lực trên cơ sở giới: Một số khía cạnh về luật pháp
và chính sách ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Hồng, Trần
Thị Cẩm Nhung đã phân tích rõ hơn về luật pháp và chính sách của Việt Nam đối với việc phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới Bài viết tập trung xem xét các khái niệm có liên quan đến bạo lực giới, nội dung, phạm vi của các chính sách hiện có ở Việt Nam liên quan đến các dạng bạo lực trên cơ sở giới như bạo lực giới trong phạm vi gia đình, bạo lực giới trong cộng đồng (buôn bán phụ nữ, trẻ em, mại dâm, quấy rối tình dục)
Trang 2318
2.4 Nghiên cứu về Luật phòng, chống bạo lực gia đình và giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình
Với sự băn khoăn trước câu hỏi làm gì và làm như thế nào để chống lại bạo
lực gia đình, cuốn sách: “Bạo lực giới trong gia đình Việt Nam và vai trò của truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ” do tác giả Hoàng Bá
Thịnh làm chủ biên được xây dựng từ một tập hợp các bài nghiên cứu, tham luận
đã được trình bày trong Hội thảo: “Bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình và vai trò của truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ” Cuốn sách phần
lớn đề cập đến vấn đề bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình với các quan điểm, góc
độ khác nhau như: thực trạng bạo lực phụ nữ trong gia đình; hình thức, nguyên nhân và hậu quả của BLGĐ; sự hạn chế của nhận thức và hành vi của cá nhân, cộng đồng trong việc chống lại bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình và sự cần thiết phải hình thành áp lực cộng đồng đối với vấn đề này; thái độ, hành vi của cộng đồng đối với bạo lực giới; xã hội hóa tại cộng đồng, vấn đề chống bạo lực đối với phụ nữ Ngoài ra, cuốn sách còn đề cập đến sự tác động của BLGĐ đối với trẻ em; hậu quả của nó liên quan đến tự sát Với thực trạng BLGĐ, cuốn sách nêu ra các quan điểm, các giải pháp quan trọng trong phòng chống BLGĐ Trong các giải pháp được đưa
ra, cuốn sách đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò, tầm quan trọng của truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ, trong đó đặc biệt đề cập đến: việc nhận thức về quyền của phụ nữ; tuyên truyền phổ biến pháp luật cho phụ nữ trên các kênh thông tin truyền thông; công tác tư vấn… Nhìn chung, đây là một cuốn sách với đa dạng các góc nhìn giúp người đọc có cái nhìn khá toàn diện về BLGĐ ở Việt Nam Năm 2006, Báo cáo về bạo lực chống phụ nữ ở cấp độ toàn cầu do Uỷ ban Vì
sự tiến bộ Phụ nữ và Uỷ ban các vấn đề Kinh tế - Xã hội của Ban thư kí Liên hiệp quốc cho biết: Sau hơn một thập kỷ, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu, đúc rút nhiều kinh nghiệm vận động, xây dựng và hệ thống hoá các công cụ can thiệp và
xử lí, song vấn đề bạo lực đối với phụ nữ vẫn là một trong những thách thức lớn
Trang 2419
của thời đại Báo cáo cũng nhấn mạnh đến những khoảng trống và thách thức nảy sinh trong nghiên cứu bạo lực như: công tác điều tra; phương pháp và chỉ báo thu thập hệ thống dữ liệu; về loại hình, mức độ ảnh hưởng bạo lực tới các nhóm phụ nữ khác nhau chú ý tới các vấn đề nhạy cảm như đạo đức nghiên cứu, sự cần thiết của việc xây dựng hệ thống các chỉ báo quốc tế về bạo lực dựa trên nguồn thông tin ở cấp quốc gia… Đặc biệt chú trọng các số liệu định tính trong định hướng xây dựng các chính sách, chương trình quốc gia và giám sát thực hiện phòng chống nạn bạo lực
Năm 2010, Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát
triển (CGFED) đã tiến hành cuộc nghiên cứu “Đánh giá việc thực hiện Luật Phòng, chống BLGĐ” - nghiên cứu trên địa bàn 4 xã thuộc các tỉnh/thành phố: Yên
Bái, Hà Nam, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả của cuộc nghiên cứu
đã cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan thực hiện pháp luật, cơ quan tài trợ, các nhà tư vấn, nghiên cứu, các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực đẳng giới nói chung và BLGĐ nói riêng thông tin khách quan về những thuận lợi, khó khăn - thách thức của việc thực thi Luật PCBLGĐ, nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu quả thực hiện và hiệu quả tài trợ cho việc thực hiện Luật PCBLGĐ
Cũng trong năm 2010, nghiên cứu “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng, diễn tiến và nguyên nhân” của Trần Thị Thanh Loan, đã chỉ ra
hoạt động hòa giải trong các gia đình có bạo lực mới chỉ đạt được hiệu quả đối với bạo lực về thể chất Bạo lực tâm lý và bạo lực tình dục rất khó phát hiện và rất khó
để tổ hòa giải đứng ra giải quyết Hoạt động tuyên truyền phòng chống BLGĐ mới chỉ tập trung vào đối tượng phụ nữ và những nhóm tuổi hay xảy ra mâu thuẫn, xung đột trong hôn nhân, chưa lồng ghép hoạt động tuyên truyền ở tất cả các hội, đoàn thể Bên cạnh đó, việc phối hợp hoạt động ở một số địa phương chưa tốt và sự phối hợp giữa các ban ngành chỉ dừng lại ở các cuộc giao ban hay các bản báo cáo, do
đó công tác PCBLGĐ vẫn còn nhiều bất cập
Trang 2520
Năm 2012, Cơ quan Phụ nữ Liên hiệp quốc (UN Women) tại Việt Nam đã tiến
hành nghiên cứu “Tác động kinh tế của bạo lực gia đình tại Việt Nam” với sự tham
gia của Viện Gia đình và Giới (thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) và Trường Đại học quốc gia Ireland, Galway, và sự tham vấn từ các cơ quan chính phủ, phi chính phủ Cuộc khảo sát đã cung cấp một ước lượng đáng tin cậy về tổn thất kinh tế liên quan đến BLGĐ ở Việt Nam, trên cơ sở đó góp phần tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về hậu quả của BLGĐ đối với phụ nữ và gia đình họ
Tại Yên Bái, Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc
miền núi (SUDECOM) đã thực hiện dự án “Hỗ trợ nâng cao kiến thức phòng, chống bạo lực gia đình, HIV/AIDS và chăm sóc phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình tại tỉnh Yên Bái” (từ 2008 đến 2010), tại 2 xã, phường của thành phố Yên Bái Hiện nay, trung tâm SUDECOM đang thực hiện dự án “Hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống của nạn nhân bạo lực gia đình và những người có nguy cơ bị BLGĐ tại tỉnh Yên Bái”
Ngoài ra, một số bài viết trên các tạp chí thời gian gần đây cũng đã đề cập đến
các vấn đề liên quan đến BLGĐ như: “Phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ
nữ ở Việt Nam - Một số vấn đề đáng quan tâm” của tác giả Nguyễn Hữu Minh, Lê
Ngọc Lân và Nguyễn Thị Mai Hoa đăng trên tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số
1/2007; “Bạo lực gia đình ở Việt Nam - qua một số công trình nghiên cứu gần đây” của tác giả Phùng Thị Kim Anh đăng trên tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 5/2003; “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ - nhìn từ góc độ pháp lý” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hải đăng trên tạp chí Luật học, số đặc san năm 2005; “Bạo lực gia đình - Một hình thức thể hiện sự bất bình đẳng nam nữ” của tác giả Ngô Thị Hường đăng trên tạp chí Luật học, số 3/2006; “Ngăn chặn và đẩy lùi bạo lực gia đình” của tác giả Hoàng Nguyễn Tử Khiêm và Nguyễn Kim Thuý đăng trên tạp chí
Lý luận chính trị, số 4/2005; “Nghiên cứu vấn đề bạo lực gia đình đối với phụ nữ dưới góc độ quyền con người ở nước ta hiện nay” của Trần Thị Hòe đăng trên tạp
Trang 2621
chí Giáo dục lý luận, số 11/2009; “Thực trạng và giải pháp tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống bạo lực gia đình hiện nay” của Phạm Văn Thanh đăng trên tạp chí Giáo dục, số 222/2009; “Bạo lực gia đình và hậu quả tâm lý đối với nạn nhân của bạo lực gia đình” của Lý Thị Minh Hằng đăng trên tạp chí Tâm lý học, số 8/2009; “Giáo dục ý thức phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ cho thanh niên” của Lý Thị Minh Hằng đăng trên tạp chí Giáo dục, số 308, tháng 4/2013;
“Vấn đề bạo lực gia đình ở vùng dân tộc thiểu số miền núi phía bắc Việt Nam - Nghiên cứu trường hợp dân tộc H‟Mông” của Đặng Thị Hoa và Phạm Thị Kim
Oanh đăng trên tạp chí Dân tộc học, số 4/2008; Luận án Tiến sĩ Tâm lý học của Lý
Thị Minh Hằng năm 2014 về “Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình”; bài viết“Bạo lực gia đình với vấn đề bảo vệ nhân phẩm và nguồn con người” của Phạm Thị Tính đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/2008; “Bạo lực gia đình - nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” của Đinh Văn Quảng đăng trên tạp chí Lao động và Xã hội, số 313/2007; “Bạo lực gia đình đối với trẻ em và một số giải pháp phòng ngừa” của tác giả Hoàng Bá Thịnh đăng trên
tạp chí Tâm lý học, số 6/2007;… Các công trình nghiên cứu này tóm lược, so sánh kết quả nghiên cứu trước đó và đưa ra bức tranh chung, đa góc nhìn về BLGĐ, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề giải pháp phòng, chống BLGĐ Kết luận chung của các nghiên cứu này cho thấy việc nâng cao nhận thức của nhân dân, nhất
là phụ nữ về bạo lực, bình đẳng giới đang đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các giải pháp hạn chế tình trạng BLGĐ Bên cạnh đó, những nguyên nhân được tổng hợp từ các nghiên cứu này giống với các nguyên nhân của nghiên cứu thực địa Cụ thể, sự hạn chế về trình độ học vấn, khó khăn về kinh tế, nghề nghiệp, sự gia tăng của tệ nạn xã hội… làm cho việc giảm thiểu tình trạng bạo lực thêm khó khăn và phức tạp Các nghiên cứu cũng đồng nhất rằng, việc phòng chống BLGĐ đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ với nhiều biện pháp, kể cả những biện pháp mang tính giáo dục, phòng ngừa lẫn các biện pháp xử lý bằng luật pháp Một mặt, nó thể
Trang 2722
hiện thái độ không khoan nhượng của Nhà nước đối với hành vi vi phạm, mặt khác
có tác dụng răn đe, giáo dục đối với chính người vi phạm và có ý nghĩa phòng ngừa đối với những người khác
Tóm lại
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước là nguồn tài liệu quan trọng và quý báu để tác giả tham khảo, kế thừa và định hướng cho đề tài nghiên cứu của mình Các kết quả nghiên cứu cung cấp những số liệu tin cậy về thực trạng, nguyên nhân, nhận thức, thái độ và hành vi về BLGĐ… tất cả những khía cạnh này đều ít nhiều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến luận văn Các kết quả nghiên cứu là những bằng chứng khoa học quan trọng để trên cơ sở đó, luận văn có thể chứng minh được tính khoa học, tính chính xác của những luận điểm được đưa ra Tuy nhiên, trong các công trình khoa học đã được công bố, phần lớn đề cập đến thực trạng BLGĐ, chính sách và giải pháp phòng chống BLGĐ, ít công trình đề cập đến nhận thức của người dân về BLGĐ Nếu có, thì chỉ được thể hiện một cách sơ lược, chung chung Để tìm hiểu sâu hơn về nhận thức của người dân về BLGĐ hiện nay, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu có chọn lọc kết quả của các nghiên cứu trước, tác giả
tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nhận thức về bạo lực gia đình của người dân tỉnh Yên Bái” (Nghiên cứu tại Phường Nguyễn Thái Học và xã Lương Thịnh,
huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái)
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thực trạng nhận thức về BLGĐ của người dân, những yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức về BLGĐ Việc thực hiện đề tài góp phần bổ sung vào nhận thức đối với các vấn đề liên quan đến xã hội học gia đình, xã hội học nông thôn và đô thị, xã hội học truyền thông Qua đó nâng cao hiểu biết về lý thuyết xã hội học, vận dụng giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra, góp phần hoàn thiện nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam
Trang 2823
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình cho người dân Yên Bái, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm tạo điều kiện cho gia đình phát huy vai trò của mình trong phòng, chống BLGĐ
Kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ những nghiên cứu tiếp theo và là tài liệu tham khảo để xây dựng, hoàn thiện luật pháp, chính sách liên quan đến PCBLGĐ
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích:
Nghiên cứu làm rõ thực trạng nhận thức về BLGĐ và những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về BLGĐ của người dân tỉnh Yên Bái, từ đó khuyến nghị những giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân địa phương về BLGĐ và phòng chống BLGĐ
4.2 Nhiê ̣m vụ:
Hệ thống hóa các khái niệm, lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu
Tìm hiểu nhận thức về BLGĐ của người dân tỉnh Yên Bái thông qua việc nhận diện về hành vi, nguyên nhân, hậu quả của BLGĐ; nhận thức về chính sách, pháp luật về PCBLGĐ
Phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về BLGĐ của người dân tỉnh Yên Bái hiện nay; đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức về BLGĐ và phòng chống BLGĐ cho người dân địa phương
5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức về bạo lực gia đình của người dân tỉnh Yên Bái
5.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu:
Trang 2924
Người dân đang sinh sống trên địa bàn phường Nguyễn Thái Học (thành phố Yên Bái), và xã Lương Thịnh (huyện Trấn Yên), tỉnh Yên Bái
Đối tượng khảo sát:
- Đại diện hộ gia đình hiện đang có vợ, chồng; người cao tuổi; cán bộ xã, thôn; nạn nhân BLGĐ; người gây ra BLGĐ và hàng xóm nạn nhân
5.3 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Phường Nguyễn Thái Học (thành phố Yên Bái) và xã
Lương Thịnh (huyện Trấn Yên) thuộc tỉnh Yên Bái
Thời gian nghiên cứu: 6/2015 - 12/2015
Phạm vi nội dung nghiên cứu: Bạo lực trong gia đình có thể diễn ra dưới
nhiều hình thức và giữa các thành viên khác nhau trong gia đình nhưng trong khuôn khổ đề tài này, tác giả chỉ đề cập đến BLGĐ của người chồng đối với người vợ Đây được coi là dạng BLGĐ điển hình trong xã hội
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Nhận thức của người dân tỉnh Yên Bái về BLGĐ hiện nay như thế nào?
- Mức độ hiểu biết chính sách, pháp luật về BLGĐ của người dân tỉnh Yên Bái như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến nhận thức về BLGĐ của người dân tỉnh Yên Bái?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
Người dân Yên Bái đã nhận diện được các hành vi, nguyên nhân và hậu quả của BLGĐ
Người dân đã biết đến các chính sách, pháp luật liên quan đến BLGĐ, tuy nhiên, nội dung của các chính sách, pháp luật này vẫn chưa được người dân hiểu một cách đầy đủ
Trang 3025
Địa bàn cư trú, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, mức sống và truyền thông đại chúng ảnh hưởng đến nhận thức về BLGĐ của người dân
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp phân tích tài liệu
- Thu thập và xử lý các tài liệu, số liệu và kết quả sẵn có ở các nghiên cứu trước về BLGĐ, nhận thức về BLGĐ Tham khảo và sử dụng số liệu của một số công trình khoa học, báo cáo tổng kết, báo cáo thống kê, khảo sát của các cơ quan Nhà nước về BLGĐ và công tác phòng chống BLGĐ Việc phân tích tài liệu để so sánh kết quả nghiên cứu của đề tài với những kết quả nghiên cứu đã có nhằm khẳng định tính đúng đắn của những luận điểm được đưa ra trong đề tài này
- Phân tích dữ liệu của “Điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp
có tính đột phá nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình năm 2012 và giai đoạn 2012-2016”:
Vì khách thể nghiên cứu của đề tài là người dân đang sinh sống trên địa bàn phường Nguyễn Thái Học (thành phố Yên Bái), và xã Lương Thịnh (huyện Trấn Yên), do đó chúng tôi chỉ khai thác các dữ liệu sơ cấp từ những bảng hỏi phỏng vấn người dân thuộc 2 địa bàn xã Lương Thịnh và phường Nguyễn Thái Học Tổng số bảng hỏi được sử dụng để phân tích là 200 bảng hỏi trong tổng số 298 bảng hỏi mà Điều tra 2012 thực hiện tại 02 xã/phường này Tiêu chí được lựa chọn là đảm bảo cân bằng giữa nam và nữ
Cơ cấu mẫu khảo sát
Trang 31Kỹ thuật bậc cao/trung 6 3,0
Sơ cấp, NV kỹ thuật 9 4,5 Dịch vụ và bán hàng 13 6,5 Thợ thủ công/vận hành máy
7.2 Phương pháp định tính
Với mục đích có được thông tin định tính phong phú và đa dạng, đối tượng nghiên cứu được lựa chọn có chủ định thuộc các thành phần khác nhau về đặc điểm nhân khẩu - xã hội Các thông tin thu thập liên quan đến đặc điểm đời sống gia đình của các đối tượng được phỏng vấn, qua đó tìm hiểu nhận thức của họ về BLGĐ
và liên quan
Nạn nhân
Người gây bạo lực
Hàng xóm nạn nhân
P Nguyễn Thái Học 15 02 02 05 03 03
Xã Lương Thịnh 15 02 02 05 03 03
7.2.2 Thảo luận nhóm:
04 Thảo luận nhóm
Nhóm cán bộ xã/phường Nhóm làm nông/lâm nghiệp
Trang 3328
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số khái niệm cơ bản trong nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm gia đình
Trong cuốn Từ điển Xã hội học, G Endrweit và G Trommsdorff đưa ra định
nghĩa như sau: “Gia đình là một nhóm thuộc loại đặc biệt vì nó biểu hiện cấu trúc vai trò nhất định (bố/mẹ/con gái/con trai/cháu/em, ), với nó thì sự tách biệt về giới tính và thế hệ là tiêu chí của cơ cấu gia đình (một hay đa thế hệ; nam/nữ) và qua
nó sẽ chuyển hoá một quan hệ hợp tác và đoàn kết rất đặc biệt mà ở tất cả các xã hội đều tổ chức theo nghi lễ sự thành lập của nó Ngoài ra, xã hội cũng trao cho nhóm đặc biệt này những chức năng rất đặc biệt” [7, tr640]
Tổ chức UNESCO của Liên Hợp quốc năm 1994 đưa ra định nghĩa:“Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng cùng chung sống và có ngân sách chung” [11, tr33]
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 định nghĩa: “Gia đình là tập
hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này” (theo Chương I, Điều 3, Khoản 2 - Những quy định chung)
Theo Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý, gia đình “là một thiết chế xã hội đặc thù liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống, chăm sóc
và giáo dục con cái” [10, tr54]
Ngày nay, với sự biến đổi không ngừng của xã hội, đã xuất hiện một số hình thức sống mới không gắn với các tiêu chí được đưa ra ở định nghĩa trên, như hình thức sống sống độc thân, gia đình đơn thân, gia đình chỉ có hai vợ chồng mà không
có con cái, các cặp sống chung không đăng ký kết hôn, các cặp quan hệ đồng tính… Nếu theo những khái niệm trên thì những hình thức này không đủ tiêu chí để được thừa nhận là gia đình Điều này khiến cho một số người nêu ra ý kiến cần xem xét lại và đưa ra định nghĩa một cách thỏa đáng nhất về gia đình, phù hợp với thực
tế xã hội Để đáp ứng được điều này, chúng tôi thống nhất chọn khái niệm sau đây:
Trang 3429
“Gia đình là một nhóm người, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có ngân sách chung” [24, tr38] Có thể nói, đây là khái niệm khá phù hợp, thể
hiện được những đặc trưng cơ bản của gia đình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và nó cũng phù hợp với đặc điểm chung của các gia đình trong mẫu nghiên cứu của đề tài
1.1.2 Khái niệm bạo lực
Bạo lực là một hiện tượng xã hội, phương thức ứng xử trong các mối quan hệ
xã hội tồn tại trong mọi xã hội từ khi hình thành xã hội loài người Có nhiều khái niệm khác nhau về bạo lực Song trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, tác giả chỉ lựa chọn và đưa ra một số khái niệm mang tính phổ biến, chung nhất và có thể dùng để định hướng cho các phân tích của luận văn
Theo Tổ chức Y tế thế giới “Bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người hay một cộng đồng mà gây ra hay làm tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về mặt tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát” (WHO) Theo góc nhìn của xã hội học thì: “Bạo lực là các hành vi có khuynh hướng hủy diệt như một phương tiện tối hậu để thực thi quyền lực trong khuôn khổ quan hệ trên - dưới một chiều dựa trên ưu thế bên ngoài, không có sự thừa nhận của người yếu thế (violentia) (thường đối lập với sự ép buộc có tác động bên trong” [7, tr22]
Xét về bản chất, bạo lực là việc sử dụng sức mạnh để triệt hạ, gây những tổn
thương về thể chất, tinh thần cho người khác
1.1.3 Khái niệm bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực trong xã hội Hiện tượng BLGĐ tồn tại từ rất lâu trong mọi thời đại và mọi xã hội BLGĐ có thể là hành vi đánh đập, đe dọa, gây sức ép… về thể chất và tâm lý diễn ra giữa những người thân trong gia đình BLGĐ được định nghĩa theo nhiều cách Theo Luật PCBLGĐ năm
2007 “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có
Trang 35- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự hoặc nhân phẩm;
- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông
bà và cháu, cha mẹ và con, giữa vợ và chồng, giữa anh chị em với nhau;
- Có hành vi trái pháp luật thuộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở;
Theo một quan điểm bao quát hơn, “Bạo lực gia đình là việc các thành viên trong gia đình vận dụng sức mạnh để xử lý các vấn đề gia đình” [12, tr27] Nếu gia
đình là một thiết chế xã hội đặc biệt, là hình thức thu nhỏ của xã hội thì bạo lực gia đình cũng là một hình thức thu nhỏ và đặc biệt của bạo lực xã hội Sự khác biệt giữa bạo lực gia đình với các dạng bạo lực xã hội khác là ở chỗ bạo lực gia đình diễn ra giữa những người thân, những người có cùng huyết thống Như vậy, có thể
Trang 36Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam do Hội đồng Chỉ đạo biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam, Nhà xuất bản từ điển Bách khoa Hà Nội xuất bản năm 2003,
thì “Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong
ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể
Sự nhận thức đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Con đường nhận thức đó được thể hiện qua các giai đoạn từ thấp đến cao như: nhận thức cảm tính: vận dụng cảm giác, tri giác, biểu tượng; nhận thức lý tính: vận dụng khái niệm, phán đoán, suy lý; nhận thức trở về thực tiễn ở đây tri thức được kiểm nghiệm là đúng hay sai”
Trong luận văn này, tác giả không xem xét nhận thức như một quá trình tâm lý với bốn giai đoạn: cảm giác, tri giác, tư duy và tưởng tượng; cũng không xem xét nhận thức là một sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc của con người mà tiếp cận nhận thức theo mô hình nhận thức của Bandura và thuyết nhận thức của Vygotsky Theo sơ đồ nhận thức của Vygotsky, chủ thể thông qua đối tượng mà lớn lên nhưng chủ thể không tự nhận thức được đối tượng của mình mà chỉ có thể nhận thức được đối tượng một cách đầy đủ và hoàn thiện nhất thông qua người khác Người khác mà Vygostky đề cập tới không phải là ai khác mà đó chính là môi trường xã hội hóa (gia đình, nhà trường, truyền thông đại chúng…) Trong luận văn này, đối tượng mà người dân hướng đến là những hiểu biết về bạo lực gia đình và phòng chống bạo lực gia đình Tuy nhiên, tự bản thân người dân không tự nhận
Trang 3732
thức đầy đủ các thông tin về bạo lực gia đình mà họ nhận thức được thông qua quá trình xã hội hóa
Quá trình nhận thức bao gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất: Giai đoạn có thông tin về đối tượng, đó là khi các cá nhân được cung cấp những thông tin về đối tượng Cá nhân có thể tiếp cận được thông tin về đối tượng qua nhiều con đường và nhiều kênh khác nhau như các phương tiện truyền thông đại chúng, các đoàn thể, tổ chức…
- Giai đoạn thứ hai: Giai đoạn nhận biết thông tin Thông qua giai đoạn thứ
nhất, cá nhân được cung cấp các thông tin đối tượng Cá nhân sẽ “nội hóa” các
thông tin đó thành những hiểu biết ban đầu cho bản thân mình Hay nói cách khác, đây chính là quá trình nhận thức cảm tính Trong luận văn này, thông tin mà cá nhân được cung cấp là các vấn đề liên quan đến bạo lực gia đình và PCBLGĐ
- Giai đoạn thứ ba: Giai đoạn hiểu biết thông tin như thế nào và có thái độ ra sao Nếu giai đoạn thứ hai mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức cảm tính tức là cá nhân mới chỉ tiếp nhận được thông tin, nắm bắt được thông tin đó còn vấn đề cá nhân có hiểu được những thông tin đó hay không và hiểu như thế nào thì nó được thể hiện rất rõ trong giai đoạn thứ ba này Đây chính là giai đoạn nhận thức lý tính Trên cơ sở những tri thức mà cá nhân được cung cấp ở hai giai đoạn đầu, cá nhân
sẽ quy chiếu với hệ giá trị của xã hội mà cá nhân đóng vai trò là thành viên
Tóm lại, từ những khái niệm trên, tác giả cho rằng: “nhận thức là quá trình mà
cá nhân tiếp nhận, xử lý, phân tích, tổng hợp thông tin, biến chúng thành hệ thống kiến thức Hệ thống kiến thức sẽ hình thành thái độ cuối cùng là hành động xã hội
1.1.5 Nhận thức về bạo lực gia đình
Từ những khái niệm “bạo lực”, “bạo lực gia đình” và “nhận thức” được đề cập
ở trên kết hợp với những kiến thức tích lũy trong quá trình nghiên cứu, tác giả đưa ra
khái niệm về nhận thức bạo lực gia đình như sau: “Nhận thức về bạo lực gia đình là những hiểu biết của mỗi cá nhân về hành vi, nguyên nhân, hậu quả, chính sách pháp luật liên quan đến bạo lực gia đình”
Trang 3833
1.2 Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết nhận thức của Albert Bandura [16]
Albert Bandura sinh ngày 04 tháng 12 năm 1925 tại thành phố Nundare phía Bắc Alberta của Canada Ông là một nhà tâm lí học nổi tiếng trong thế kỷ XX với thuyết nhận thức xã hội Ông cho rằng, quá trình nhận thức tác động mạnh, quyết định đến hành vi của con người Nhận thức có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc điều chỉnh các chức năng tâm lý làm thay đổi (tăng hay giảm) một hành vi nào đó Quá trình nhận thức đóng vai trò là nhân tố cốt lõi cho việc thúc đẩy hành vi của con người
Vào đầu những năm 1960, ông đã nêu giả thuyết về thuyết hành vi của mình, trong đó ngay từ đầu ông đã xác định là thuyết hành vi xã hội, sau này gọi là thuyết nhận thức xã hội Lý thuyết nhận thức xã hội của Bandura đã đề cập chủ yếu đến
mô hành vi: “Kích thích - nhận thức - phản ứng - củng cố” Trong luận văn, tác giả
đã sử dụng lý thuyết nhận thức xã hội của Bandura đặc biệt là mô hình “hành vi”
của ông để lí gi ải quá quá trình nhâ ̣n thức và những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của người dân tỉnh Yên Bái về bạo lực gia đình
Mô hình thuyết nhận thức
Với mô hình lý thuyết về nhận thức của Bandura thì nhận thức của con người
được hình thành dựa trên các yếu tố “kích thích” Các yếu tố kích thích ở đây được
hiểu là những nhân tố bên ngoài tác động đến con người dẫn đến việc hình thành nhận thức mới trong tư duy của con người Hệ thống của Bandura không chỉ mang tính chất hành vi mà còn mang cả tính chất nhận thức Các quá trình nhận thức đóng vai trò quan trọng nhất trong thuyết nhận thức xã hội Như vậy, theo mô
hình cấu trúc “Kích thích - Nhận thức - Phản ứng - hành vi” thì Bandura thừa nhận
vai trò của củng cố trong việc điều chỉnh hành vi của con người, nhưng ông cũng tin - thậm chí còn chứng minh bằng thực nghiệm rằng con người tiếp thu hầu như
Trang 3934
tất cả các dạng hành vi mà không trực tiếp nhận được một sự củng cố nào cả và nhận thức là yếu tố cốt lõi của nhân cách Quá trình nhận thức tác động mạnh, quyết định đến hành vi của con người Nhận thức có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc điều chỉnh các chức năng tâm lí làm thay đổi (tăng hay giảm) một hành
vi nào đó Theo Bandura, nhận thức có liên quan đến sự đánh giá về việc con người
có thể tổ chức tốt như thế nào và quản lý lộ trình hành động đòi hỏi giải quyết các tình huống tương lai chứa đựng nhiều yếu tố căng thẳng khó dự báo
Áp dụng lý thuyết nhận thức xã hội của Bandura để l ý giải nhận thức của người dân tỉnh Yên Bái về bạo lực gia đình Lý thuyết nhận thức xã hội của Bandura miêu tả quá trình nhận thức và giải thích cho chúng ta nhận thấy rằng nhận thức quyết định đến hành vi của con người, nếu nhận thức đúng đắn thì sẽ có những hành vi đúng đắn
1.2.2 Lý thuyết xã hội hóa
Lý thuyết xã hội hóa được dùng làm cơ sở để nhìn nhận và lý giải vấn đề của nghiên cứu này Có nhiều cách hiểu khác nhau về xã hội hóa Căn cứ vào tính chủ động của cá nhân trong quá trình xã hội hóa, chúng ta có thể chia thành hai loại: + Loại 1: Ít đề cập đến tính chủ động của cá nhân trong quá trình thu nhận kinh nghiệm xã hội Các cá nhân bị khuôn sẵn vào các chuẩn mực
Một đại diện cho cách hiểu này là Neil Smelser (nhà xã hội học người Mỹ)
Ông cho rằng: “Xã hội hoá là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình để phục vụ tốt cho việc thực hiện các mô hình hành vi tương ứng với hệ thống vai trò mà cá nhân đó phải đóng trong cuộc đời mình”, nghĩa là vai trò của cá nhân chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh
nghiệm, giá trị, chuẩn mực
+ Loại 2: Khẳng định tích cực, sáng tạo của cá nhân trong quá trình thu nhận kinh nghiệm xã hội Cá nhân không chỉ tiếp thu những kinh nghiệm xã hội mà còn tham gia vào quá trình tạo ra những kinh nghiệm xã hội
Trang 4035
Nhà xã hội học Mỹ J H Fichter đã chú ý hơn tính tính cực của cá nhân khi
ông cho rằng: “Xã hội hóa là một quá trình tương tác giữa người này với người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và thích nghi với
những khuôn mẫu hành động đó” [5, tr.258] Bên cạnh đó, G Andreeva (Nhà Xã
hội học người Nga) đã nêu ra được cả hai mặt của quá trình xã hội hóa Bà cho rằng
“Xã hội hóa là quá trình hai mặt, một mặt cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội, mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động và thâm nhập vào các mối quan hệ
xã hội” [5, tr257-258]
Như vậy, cá nhân trong quá trình xã hội hóa không đơn thuần thu nhận kinh nghiệm xã hội mà còn chuyển hóa nó thành những giá trị, xu hướng của cá nhân để
tham gia tái tạo, “tái sản xuất” chúng trong xã hội Mặt thứ nhất của quá trình xã
hội hóa thu nhận kinh nghiệm xã hội thể hiện sự tác động của con người tới môi trường Mặt thứ hai của quá trình thể hiện sự tác động của con người trở lại môi trường thông qua hoạt động của mình
Một khái niệm khác được nêu như sau: “Xã hội hoá trước hết là quá trình tương tác giữa con người với con người, con người và xã hội, qua đó con người với
tư cách là cá thể học hỏi, lĩnh hội, tiếp nhận quy tắc văn hoá của xã hội như khuôn mẫu hành vi, giá trị chuẩn mực văn hoá xã hội, kiến thức, kỹ năng, phương pháp
để trở thành cá nhân, để đóng và phù hợp với vai trò, vị thế xã hội nhất định của mình Từ đó, con người dần dần hoà nhập vào xã hội” [19, tr.85-86] Trong Từ điển Xã hội học, xã hội hóa được hiểu: “Là quá trình thích ứng và cọ xát với các giá trị, chuẩn mực và hình mẫu hành vi xã hội mà trong quá trình đó một thành viên xã hội tiếp nhận và duy trì khả năng hoạt động xã hội” [9, tr.571] Liên quan đến học hỏi vai trò xã hội, các nhà xã hội học cho rằng: “Xã hội hóa là những cách thức trong đó con người học những kỹ năng và quan điểm/thái độ liên quan đến các vai trò xã hội của họ” [20, tr.195] Liên quan đến việc học cách để làm thành