1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát tiểu loại động từ cảm nghĩ, nói năng qua các hội thoại trong các tài liệu giảng dạy tiếng việt cho người nước ngoài

167 457 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ Đỗ THị TRANG KHảO SÁT TIểU LOạI ĐộNG Từ CảM NGHĨ – NÓI NĂNG QUA CÁC HộI THOạI TRONG CÁC TÀI LIệU GIảNG DạY T

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

Đỗ THị TRANG

KHảO SÁT TIểU LOạI ĐộNG Từ CảM NGHĨ – NÓI NĂNG QUA CÁC HộI THOạI TRONG CÁC TÀI LIệU GIảNG DạY TIếNG VIệT

CHO NGƯờI NƯớC NGOÀI

LUậN VĂN THạC SĨ NGÔN NGữ HọC

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

Đỗ THị TRANG

KHảO SÁT TIểU LOạI ĐộNG Từ CảM NGHĨ – NÓI NĂNG QUA CÁC HộI THOạI TRONG CÁC TÀI LIệU GIảNG DạY TIếNG VIệT

CHO NGƯờI NƯớC NGOÀI

LUậN VĂN THạC SĨ NGÔN NGữ HọC

Mã số: 60.22.02.40

Giảng viên hướng dẫn: TS Đinh Kiều Châu

Hà Nội – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn Khảo sát động từ cảm nghĩ - nói năng qua các hội thoại trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài là công trình nghiên cứu của riêng tôi dựa trên sự góp ý của giảng viên hướng dẫn Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là xác thực, chưa từng được công bố ở công trình khác

Hà Nội, tháng 8 năm 2016 Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các quý thầy cô trường Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn nói chung, các quý thầy cô khoa Ngôn ngữ học nói riêng đã giúp tôi trang bị những tri thức, tạo cho tôi môi trường, điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn đến GS TS Đinh Văn Đức, TS Đinh Kiều Châu – những người đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong cả học tập và cuộc sống

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp Họ đã cổ vũ, động viên và hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

3.Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

3 Tư liệu nghiên cứu: 5

4 Những đóng góp của luận văn 5

5 Cấu trúc luận văn 6

PHẦN NỘI DUNG 7

Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN 7

1.1 Dẫn nhập 7

1.2 Một số cơ sở lí thuyết về động từ tiếng Việt 7

1.2.1 Khái niệm động từ 7

1.2.2 Phân loại động từ 9

1.2.3 Cương vị của động từ trong giao tiếp 10

1.3 Tiểu loại động từ cảm nghĩ – nói năng tiếng Việt 10

1.3.1 Các quan niệm về tiểu loại động từ cảm nghĩ – nói năng tiếng Việt 12 1.3.2 Đặc trưng của động từ cảm nghĩ – nói năng trong định hướng giao tiếp 17

1.4 Một số cơ sở lí thuyết liên quan đến dạy ngoại ngữ 18

1.5 Cơ sở lí luận về lí thuyết hội thoại 22

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT TIỂU LOẠI ĐỘNG TỪ CẢM NGHĨ –NÓI NĂNG TRONG CÁC TÀI LIỆU DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 26

2.1 Một số nội dung liên quan đến khảo sát 26

2.1.1 Tài liệu khảo sát 26

Trang 6

2.1.2 Phạm vi khảo sát 27

2.1.3 Tiêu chí nhận diện động từ cảm nghĩ – nói năng được sử dụng trong khảo sát 28

2.2 Kết quả khảo sát tiểu loại động từ cảm nghĩ – nói năng trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài 29

2.2.1 Nhóm động từ cảm nghĩ 29

2.2.2 Nhóm động từ nói năng 34

2.3 Định hướng giao tiếp động từ cảm nghĩ - nói năng 37

2.4 Phân loại động từ cảm nghĩ – nói năng theo ý nghĩa 45

2.5 Phân tích một số động từ cảm nghĩ – nói năng nổi bật 54

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BÀN LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 64

3.1 Một số bàn luận 64

3.2 Một số đề xuất 69

3.2.1 Từ góc độ thiết kế học liệu 69

3.2.2 Từ góc độ giảng dạy 80

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 93

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong nhiều năm gần đây việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

đã từng bước phát triển mạnh mẽ ở nước ta, nhất là từ khi có công cuộc Đổi mới (1986) Việt Nam hội nhập sâu rộng với kinh tế và văn hóa quốc tế Trong tình hình đó, tiếng Việt như một ngoại ngữ có nhu cầu cấp thiết về việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác giảng dạy theo xu hướng hoàn thiện

và chính quy hóa

Đối với giáo dục ngoại ngữ nói chung và việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ nói riêng, chương trình và giáo trình luôn là hai khâu cốt lõi cần từng bước cải tiến, tiếp cận theo hướng hiện đại và hội nhập Theo đó, các vấn đề ngữ pháp thực hành đã trở thành nội dung quan yếu trong thiết kế học liệu cũng như công tác giảng dạy trên lớp

Các tài liệu giảng dạy cho người nước ngoài hiện có thường thiết kế ngữ pháp theo hai hướng chính :

- Theo trình tự cổ điển

- Theo định hướng giao tiếp

Để có được một cách nhìn toàn diện cho vấn đề này thì tổ chức khảo sát và đánh giá một cách có hệ thống sự thể hiện ngữ pháp tiếng Việt qua các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài hiện hành là việc làm cần thiết Với mong muốn tham gia vào công việc chung đó trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn nội dung khảo sát là sự thể hiện của tiểu loại động từ cảm nghĩ – nói năng trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt từ bậc cơ sở đến bậc nâng cao làm nội dung nghiên cứu chính Trong thực tế giao tiếp động từ cảm nghĩ – nói năng có một cương vị rất quan trọng trong việc thể hiện các sự tình ngữ pháp, có tần số xuất hiện cao trong các bài học Thiết nghĩ đây là một câu hỏi nghiên cứu rất đáng quan tâm mà chúng tôi đặt ra trong luận văn để đề tài có tính thời sự và thực tiễn

Trang 8

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Như đã nói ở trên, đối tượng nghiên cứu của luận văn này là tiểu loại động

từ cảm nghĩ – nói năng và sự thể hiện của tiểu loại động từ này trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài hiện có (từ bậc cơ sở đến nâng cao) trên phương diện lí thuyết và trên phương diện thực hành Từ đó, cố gắng đưa ra các bàn luận và những kiến giải có tính đề nghị cho một giải pháp tương lai trong thiết kế học liệu

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn sẽ hướng đến giải quyết các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

Đây là một luận văn được thực hiện theo định hướng ngôn ngữ học ứng dụng (giáo dục ngôn ngữ ) dành cho một vấn đề rất cụ thể của tài liệu giảng dạy, nên để tiếp cận được một nội dung phù hợp luận văn đi theo hướng quy nạp Các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu được áp dụng trong luận văn:

Trang 9

- Thu thập tư liệu : tiến hành nhận diện (theo tiêu chí lí thuyết) và ghi chép danh sách các động từ cảm nghĩ nói năng xuất hiện trong phạm vi tài liệu nghiên cứu đã chọn

- Thống kê : qua kết quả thu thập tư liệu phương pháp thống kê được áp dụng cho việc tính tần xuất nhằm làm rõ sự xuất hiện và phân bố của tiểu loại động từ này trong các tài liệu

- Phương pháp tổng hợp (tổng quan tài liệu)

- Phân tích từ loại và phân tích cấu trúc ngữ pháp

- Miêu tả từ loại và tiểu loại trên bình diện kết học và ngữ nghĩa

5 Tư liệu nghiên cứu:

Hiện nay, trong thực tế giảng dạy tại Việt Nam có rất nhiều tài liệu được đưa vào sử dụng Với đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài sau:

1 Nguyễn Việt Hương,Tiếng Việt cơ sở (dành cho người nước ngoài), quyển 1 và quyển 2, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2010

2 Nguyễn Việt Hương,Tiếng Việt nâng cao (dành cho người nước ngoài), quyển 1 và quyển 2, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2015

3 Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), Tiếng Việt (dành cho người nước ngoài) trình độ A, NXB Thế Giới, Hà Nội, 2007

4 Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), Thực hành tiếng Việt trình độ B, NXB Thế Giới, Hà Nội, 2011

5 Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), Thực hành tiếng Việt trình độ C, NXB Thế Giới, Hà Nội, 2001

6 Những đóng góp của luận văn

Luận văn này là một nghiên cứu trường hợp trong toàn hệ thống biểu đạt ngữ pháp tiếng Việt trong tài liệu giảng dạy cho người nước ngoài Trong luận văn, tác giả mong muốn :

Trang 10

- Làm rõ cương vị của tiểu loại động từ cảm nghĩ nói năng trong mối tương quan với các tiểu loại khác trong tiếng Việt

- Phân tích định lượng việc sử dụng tiểu loại này trong các tài liệu giáo khoa dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ

- Hướng tới một giải pháp thực tế cho việc sử dụng có hiệu quả nhóm từ này trong việc truyền đạt ngữ pháp tiểu loại động từ này cho người học tiếng Việt như một ngoại ngữ trên phương diện kết học và nghĩa học

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo luận văn gồm có 3 chương :

Chương 1 : Cơ sở lí luận

Chương 2 : Khảo sát tiểu loại động từ cảm nghĩ – nói năng trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Chương 3 : Một số bàn luận và đề xuất giải pháp

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Dẫn nhập

Trong việc dạy và học tiếng của một ngôn ngữ thì việc nắm vững ngữ pháp của các từ loại là rất quan trọng, đặc biệt là từ loại động từ, bởi vì trong câu động từ là hạt nhân cơ bản biểu đạt các sự tình mà người học nắm được

nó sẽ nắm được thông tin của câu

Động từ là một từ loại rất phức tạp bao gồm nhiều từ loại theo các hệ thống phân loại khác nhau Luận văn này chúng tôi lựa chọn phạm trù động từ cảm nghĩ - nói năng để tiếp cận, khảo sát và đánh giá sự thể hiện chúng trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

1.2 Một số cơ sở lí thuyết về động từ tiếng Việt

1.2.1 Khái niệm động từ

Trước khi bàn về động từ cảm nghĩ – nói năng thì phải nói đến cơ sở nền tảng của nó, chính là từ loại động từ Trong tiếng Việt động từ được coi là một trong hai từ loại cơ bản, còn xét riêng về mặt ngữ pháp thì động từ - vị ngữ là trung tâm của các hoạt động ngữ pháp, chi phối các thành tố ngữ pháp tập hợp các vai nghĩa và các quan hệ ngữ nghĩa – ngữ dụng

Các sách truyền thống vẫn định nghĩa động từ như: “Động từ là từ loại chỉ hoạt động, trạng thái của các sự vật” (Diệp Quang Ban, 2005) Định nghĩa đó đúng nhưng chưa đủ, ngoài những động từ chỉ vận động trực tiếp của các sự vật còn có những động từ thể hiện hành động nói năng nên các hành vi nói năng và suy nghĩ được nói ra bởi người nói cũng là một vấn đề cần tìm hiểu Trong câu, quan hệ ngữ pháp giữa danh từ và động từ rất đặc biệt bắt nguồn từ quan hệ ngữ nghĩa giữa hai từ loại này, trong đó động từ chỉ ra đặc trưng quan trọng nhất của sự vật là vận động (Đinh Văn Đức – 1986)

Cũng như ngữ nghĩa của danh từ, ngữ nghĩa của động từ hình thành một

Trang 12

mặt phản ánh nội dung thực tại, mặt khác động từ còn thể hiện cả các mối quan hệ giữa các khái niệm trong cách thức phản ánh Các quan hệ này là cơ

sở của ngữ pháp động từ Đặc biệt là các ý nghĩa cú pháp trong câu

Từ loại là một nội dung quan trọng trong ngữ pháp học và ngữ pháp tiếng Việt Hầu hết các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đều đặt

ra những yêu cầu cụ thể cho vấn đề từ loại Đặc biệt đối với từ loại động từ, các tài liệu giảng dạy tiếng đã dành nhiều không gian để mô tả và luyện tập cho người học (trong quan hệ với việc đặt trong các phần bài học và thực hành qua bài tập)

Cơ sở lý luận đầu tiên cho nghiên cứu ở đây là về từ loại, đó là: “những

lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp được phân chia theo ý nghĩa; theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định trong câu ’’ (Đinh Văn Đức – 1986)

Từ loại thường được chia thành 3 mảng lớn: thực từ, hư từ và tình thái từ Chúng khác nhau về ý nghĩa, về đặc trưng ngữ pháp và trong cách dùng Trong thực từ thì đối lập danh – động và nòng cốt cấu trúc ngữ pháp của câu

là quan trọng nhất Khi người học tiếng Việt trên phương diện câu/ phát ngôn thì bắt buộc họ phải quan tâm đúng mức đến đối lập này

Trong đối lập danh – động thì động từ có một cương vị đặc biệt Ở trong câu/ phát ngôn, trên phương diện giao tiếp thì động từ là hạt nhân cú pháp, tập hợp rất nhiều quan hệ ngữ nghĩa – ngữ pháp và từ đó nó chi phối các quan hệ ngữ dụng Vấn đề bản chất của từ loại động từ trong nghiên cứu này phải được đặt trên 3 phương diện:

a Động từ trong quan hệ với các từ loại nói chung

b Động từ tiếng Việt với tư cách là vị ngữ trung tâm của câu

c Động từ tiếng Việt với những đặc điểm ngữ pháp của một ngôn ngữ

đơn lập

Trang 13

Trong vấn đề từ loại, 3 đặc điểm này trở thành trung tâm của các nghiên cứu, kể cả việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ

Xưa nay các tài liệu giảng dạy tiếng Việt vẫn sử dụng định nghĩa truyền thống về động từ, coi động từ là từ loại chỉ hành động và trạng thái của các sự vật Định nghĩa đó đúng nhưng chưa thật đầy đủ Hiểu một cách rộng hơn về mặt lý luận thì động từ không chỉ có quan hệ với các sự vật mà ta trực giác tri nhận được (nhìn, sờ, thấy…), mà còn bao gồm các sự vật trừu tượng (được thể hiện bằng các danh từ) và các chủ thể phát ngôn (nhân vật), nhân xưng Theo đó thì các động từ cảm nghĩ – nói năng thuộc phạm vi chủ thể của các hành động được thực hiện bởi người nói và được xác định cương vị thông qua việc phân loại động từ

1.2.2 Phân loại động từ

Công tác phân loại động từ trong tiếng Việt đã được nói đến từ nửa đầu thế

kỉ XX, đặc biệt là công trình Việt Nam văn phạm của Trần Trọng Kim (1940),

kế theo đó, sự phân loại của tác giả Lê Văn Lý (1948), Emeno (1981), Thompson (1965) đã có nhiều gợi ý quan trọng Đặc biệt là công trình phân loại động từ tiếng Việt của X.Buxtrov (1966), là một hệ thống phân loại rất điển hình và theo kiểu Đông Phương học Các tác giả về sau: Nguyễn Tài Cẩn (1975), Đinh Văn Đức (1986), Nguyễn Thị Quy (1995)…đã tiếp tục khơi sâu thêm vấn đề và đưa ra những giải pháp bổ sung, những gợi ý quan trọng Cũng như ở các thực từ nói chung, đặc trưng ngữ pháp của mỗi động từ được quy định bởi bản chất ngữ pháp của bản thân nó và các mối tương liên ngữ pháp của các từ đồng dạng về ngữ pháp đã hình thành nên các tiểu loại Người ta thường chia động từ thành các động từ nội động và ngoại động theo các quan hệ ngữ pháp (chuyển tác - không chuyển tác) Mặt khác, người

ta chia động từ thành các lớp theo chức năng (động từ tình thái – động từ ngôn hành – động từ tổng hợp) Còn có thể phân loại động từ dựa vào ý nghĩa

Trang 14

khái quát, theo đó ta có:(động từ hành động, động từ trạng thái, động từ chuyển động, động từ cảm nghĩ – nói năng, động từ tiếp thụ)

Động từ cảm nghĩ – nói năng có một cương vị ngữ pháp đặc thù trong số các tiểu loại được phân định về mặt ngữ nghĩa Danh sách động từ cảm nghĩ –

nói năng thường gặp có thể tạm giới thiệu như: trông, nghe, nhìn, thấy, nghe

nói, nói, nghĩ, nhận thấy, biết, kể, bảo, báo, bình luận, phàn nàn, nhớ, quên…

1.2.3 Cương vị của động từ trong giao tiếp

Theo quan điểm của Đinh Văn Đức (Ngữ pháp tiếng Việt- Từ loại, 1986),

trong tiếng Việt, động từ là một trong hai từ loại cơ bản Bản chất ngữ pháp của động từ được đặc trưng bởi các phương diện ngữ nghĩa, khả năng kết hợp

và chức năng cú pháp Về mặt số lượng, danh sách động từ ít hơn so với danh

từ, điều đó có quan hệ bản chất với ý nghĩa của từ loại này: Danh từ biểu đạt các khái niệm về sự vật (và thực thể nói chung), còn động từ thì gắn với các khái niệm thuộc phạm trù vận động Số lượng khái niệm của phạm trù thứ nhất lớn hơn của phạm trù thứ hai nhiều do chỗ danh sách các sự vật (và thực thể) lớn hơn danh sách các dạng vận động của chúng Cũng theo Đinh Văn Đức, “ Động từ đã trở thành phương tiện ngôn ngữ cơ bản để biểu đạt sự tình phát ngôn” Như vậy, động từ rất quan trọng trong giao tiếp

Theo quan điểm của Nguyễn Kim Thản (Động từ trong tiếng Việt, 1977),

động từ là một loại từ phức tạp nhất, sử dụng rộng rãi nhất, chiếm địa vị quan trọng hàng đầu trong hệ thống các loại từ của các ngôn ngữ Trong tiếng Việt, theo thống kê, số câu mà vị ngữ là động từ vào khoảng 88%, trong khi đó, số câu có vị nghữ tính từ chỉ chiếm 4%, và số câu có vị ngữ danh từ chỉ vào khoảng 8% Ngoài ra, động từ trong tiếng Việt còn có thể đảm nhiệm nhiều chức năng khác nữa

1.3 Tiểu loại động từ cảm nghĩ – nói năng tiếng Việt

Động từ cảm nghĩ – nói năng là một tiểu loại có vị trí đặc biệt trong hệ

Trang 15

thống phân loại các động từ tiếng Việt Xét trên bình diện ngữ nghĩa thì tiểu loại động từ này cũng chỉ ra các hình thái vận động nhưng không phải là của các sự vật trong thế giới khách quan mà là các hành vi diễn ra trong thế giới chủ quan của người nói và các hành động giao tiếp do người nói thực hiện (nói, quát, kể, nghĩ, đoán, định … ) Do đặc tính này động từ cảm nghĩ – nói năng mang nhiều tính chất ngôn hành (ngữ vi), bởi vì nó được thực hiện bởi người nói và nhiều khi phát ngôn cũng đồng thời thực hiện luôn hành vi nói

ấy

Động từ cảm nghĩ – nói năng là động từ biểu thị hành vi nói năng của người nói, thái độ của người nói đối với sự tình và các quan hệ tình thái liên quan

Động từ cảm nghĩ – nói năng có thể là động từ vô tác và cũng có thể là động

từ chuyển tác, người ta có thể minh họa chúng trong nhiều phát ngôn Xét trên phương diện chức năng thì động từ cảm nghĩ – nói năng bao gồm 2 loại hành vi chính là: “nói và nghĩ’’ Chúng cũng tạo nên hai loại tập hợp:

Nói là hành vi giao tiếp (nói, quát, kể, tuyên bố, kêu gọi …) được thực

hiện bởi người nói và một phần ngay trong lúc nói, cho nên chúng cũng là động từ ngôn hành, ngữ vi

Nghĩ là hành động thực hiện bởi chủ thể phát ngôn trước khi nói ra, hành

vi này diễn ra trong hành động phản ánh và logic của người nói

Cả hai nhóm cảm nghĩ và nói năng vừa mang tính ngôn hành vừa mang tính tình thái, đó là nét ngữ pháp đặc thù rất lớn của tiểu loại này Khi nghe một câu mà có động từ cảm nghĩ – nói năng, ngoài thông tin sự tình ta còn

biết được ý định của người nói (toan, định, dám, quyết…) và biết được cả nhận định của người nói trong phát ngôn (lo, nghĩ, e dè, mừng, chừng…)

Nội dung sự tình trong phát ngôn có động từ cảm nghĩ – nói năng thường

được thể hiện bằng mệnh đề và có thể nó chưa xuất hiện (tôi mong rằng, tôi e

rằng, tôi cho rằng, tôi muốn rằng, tôi dám, tôi định…)

Trang 16

Trên phương diện diễn trị thì các động từ cảm nghĩ - nói năng cũng có những tham tố biểu đạt sự tình, có các vai nghĩa và diễn trị:

+ Vai tác thể: chỉ chủ thể của hành động (người nói) thực hiện việc

chuyển tác (mong mưa, sợ ốm, cần tiền…)

+ Vai hành thể: người nói hành động vô tác trong nói năng (tôi sợ rằng,

tôi nghĩ rằng, tôi cho rằng, tôi đang lo, tôi đang mong…)

+ Vai động thể: người nói đang trải qua một quá trình (tôi băn khoăn, tôi

dằn vặt, tôi luyến tiếc…)

+ Vai nghiệm thể: người nói chỉ ra trạng thái (tính khí, tâm trạng) và các

động từ cảm nghĩ – biểu đạt

Trong chức năng vị ngữ các động từ cảm nghĩ – nói năng thường thể hiện mục

đích phát ngôn, cụ thể thể hiện nhận định đánh giá của người nói (ông hiểu cho tôi,

tôi ưng, tôi không ưng cuốn sách này, tôi biết chắc chắn điều này…)

Các động từ cảm nghĩ – nói năng luôn luôn gắn với các trạng thái và từ trạng thái ấy suy ra những nhận định:

+ Tôi hứa với anh bao giờ

+ Ai bảo với anh thế

1.3.1 Các quan niệm về tiểu loại động từ cảm nghĩ – nói năng tiếng Việt

Hiện nay, có nhiều ý kiến về việc phân loại động từ cảm nghĩ – nói năng

Theo tác giả Phạm Thị Hòa trong bài viết Ngữ dụng học với nghiên cứu và

Trang 17

giảng dạy tiếng Việt thì phần lớn các ý kiến tập trung vào các nhóm sau:

Nhóm thứ nhất, dựa vào hình thức ngữ pháp: Hướng nghiên cứu này

chủ yếu dựa vào khả năng kết hợp của từ mà phân xuất động từ nói năng Đại diện cho hướng nghiên cứu này là các tác giả: Nguyễn Kim Thản, Bùi Minh Toán, Nguyễn Hữu Quỳnh, Hoàng Văn Thung, Diệp Quang Ban, Đái Xuân

Ninh, Nguyễn Anh Quế…

Tác giả Nguyễn Kim Thản xếp động từ nói năng lẫn với các tiểu loại động

từ khác:

- Động từ tác động: Theo tác giả, động từ tác động biểu thị những hoạt động

mà kết quả của chúng làm cho đối tượng khách quan phải thay đổi về trạng thái, tính chất hoặc vị trí trong không gian và thời gian, cùng những hoạt động

mà kết quả của chúng làm cho đối tượng này sinh ra, tiếp tục tồn tại hay tiêu vong đi Số lượng động từ tác động khá lớn Phần nhiều những động từ này

biểu thị những hoạt động cơ thể như: ăn, ẵm, ấn, bẻ, bó, bóp, bắt, cày, cắt,

cấy, đá, đạp, đập, đè, gập, gò, hạ, hái, kèm, kết, làm, lợp, mở, mua, ném, nhặt, phá, quấn, quăng, rạch, rán, san, sẻ, tóm, thả, trồng, uống, ươm, vẽ, vò, xách, xẻ… Một phần nữa là những động từ biểu thị những hoạt động phi cơ thể và

những hoạt động xã hội – chính trị như: ám ảnh, bóc lột, đàn áp, giam cầm,

khen ngợi, thống trị…

- Động từ nửa tác động: Động từ nửa tác động biểu thị những hoạt động chỉ chuyển tới đối tượng khách quan chứ không làm cho đối tượng đó phải thay đổi về trạng thái, tính chất hoặc vị trí trong không gian và thời gian, cũng không làm cho đối tượng nảy sinh ra hay tiêu vong đi Một số động từ nửa tác

động như: a dua, ám chỉ, bao hàm, bảo thủ, cậy, cúng, dự, dụi, đe, dọa, gạ,

ganh tị, kế tiếp, mến, mặc kệ, nịnh,nghe, nhìn, phòng ngừa, ton hót, thích, theo, xem, yêu…

- Động từ phát nhận: Những động từ này được chia thành nhóm động từ

Trang 18

ban phát và nhóm động từ tiếp nhận Một số động từ thuộc nhóm ban phát

như: ban, bán, biếu, bố thí, bồi thường, bù, cấp, cho, cấp phát, dành, dâng,

đưa, đút lót, đền, giao, gửi, nhường, hối lộ, phát, nộp, tặng, thí, trả… Một số động từ thuộc nhóm tiếp nhận như: giật, mượn, nợ, vay, ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp, ăn bớt, ăn quỵt, chiếm, cướp, đoạt, lấy, lĩnh, nhận…

- Động từ có hạn chế: Tiểu loại động từ này thường xuyên đòi hỏi phải có

danh từ làm bổ ngữ Những động từ này gồm có: gí, giắt, giúi, đính, tra, thọc,

thục, thò, chui, xâu, xỏ, xen, điền, nhét, nhồi, vùi …

- Động từ gây khiến: Động từ gây khiến biểu thị những hoạt động thúc đẩy, cho phép, giúp đỡ hay cản trở sự thực hiện của những hoạt động khác Động

từ gây khiến gồm có: bảo, bắt buộc, buộc, bắt, cản trở, cho phép, cổ vũ,

cưỡng bức, cưỡng ép, dạy, dắt, dẫn, dìu, dìu dắt, đề nghị, đòi, đòi hỏi, cấm, giục, gọi, giúp, giúp đỡ, hướng dẫn, hô hào, kêu gọi, kích thích, khuyên nhủ, khuyên răn, khuyến khích, khuyên bảo, khuyên, lãnh đạo, mời, nài, nài ép, ngăn cản, sai, thúc, thúc đẩy, thúc ép, xin, thuyết phục, yêu cầu… Có bốn

động từ gây khiến được dùng nhiều, đó là: cho, để (cho), khiến (cho), làm

(cho) Chúng được xem là những động từ gây khiến chân chính

- Động từ đánh giá – nhận xét: Những động từ này biểu thị sự đánh giá,

nhận xét đối tượng Đó là những động từ: coi, gọi, lấy, nhận, thừa nhận, công

nhận, xác nhận, xác định…

- Động từ xuất hiện – tồn tại – tiêu hủy: Những động từ này biểu thị sự

xuất hiện, tồn tại hay tiêu hủy của đối tượng Đó là những động từ: có, còn,

chết, hết, mất, mọc, nổi, nở, vọt, phọt, bật, trào, đâm, trổ, bật, học, phai, hiện, nảy, toát, xuất hiện…

- Động từ chỉ hoạt động của bộ phận cơ thể: Những động từ này biểu thị những hoạt động do chủ thể gây ra và chuyển tới bộ phận cụ thể của cơ thể

Nhóm động từ này bao gồm một số từ như: bạnh, bấm, bíu, bước, cau, co, cúi,

Trang 19

chau, chép (miệng), chìa, chợp, chớp, chổng, chúm, dang, dỏng (giỏng), há, hất, hếch, khuỵu, khom, kiễng, lắc, lè, liếc, lim dim, líu, máy (mắt), hích, mím, mấm, nắm, ngẩng, ngóc, ngoẹo, ngoảnh, ngước, nghển, nghiến, nhắm, ngửa, ngoác (ngoạc), nguẩy, ngoắt, nhăn, nháy, nhe, nheo, nhếch, nhệch, nhíu, nhoai , nhoài, nhoẻn, nhún, phưỡn, quắc, rít, ruỗi, rụt, rướn, sịu, tặc, ưỡn, vẫy, vênh, vểnh, với, vục, vươn, xõa, xòe, xua Ngoài ra, còn một số động từ dùng riêng cho động vật như: quắp, quặp, cúp, cụp, húc, ngoe nguẩy, ve vẩy…

- Động từ cảm nghĩ – nói năng: Những động từ này biểu thị sự hoạt động của trí não, của các cơ quan cảm giác và ngôn ngữ Động từ cảm nghĩ – nói

năng gồm có: bảo, bịa, biết, cãi, cảm thấy, chê, chối, cho (với nghĩa là nhận

định), đinh ninh, đồn, e, hiểu, kể, kêu, khen, khoe, lo, mong, ngại, ngờ, ngỡ, nhìn, nói, nhớ, nghĩ, nhận định, nghe, phao, quên, sợ, thấy, thanh minh, tuyên

bố, trả lời, trông, tưởng, tin, tiếc, xem…

- Động từ không tác động: Động từ không tác động biểu thị những hoạt động không bao giờ chuyển tới đối tượng khách quan, không có liên hệ với

đối tượng Những động từ này gồm có: ấm ứ, ẩn náu, ấp úng, bò, càu nhàu,

cằn nhằn, đứng, giẹp, lê la, lún, lảng vảng, lởn vởn, hí hoáy, hậm hực, ngã, ngáy, ngồi, ngủ, nằm, quằn quại, rón rén, sụt sùi…

- Động từ - hệ từ: Động từ - hệ từ có tác dụng là cùng với danh từ làm thành phần bổ túc ngữ, đảm nhiệm chức năng vị ngữ của câu Động từ - hệ từ

gồm có: đâm (ra), hóa, hệt (như), làm, nên, như, sinh (ra), trở nên, trở thành,

thành ra, y như (in như)…

Tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh cũng chia động từ nói năng vào 3 loại nhỏ:

- Nhóm động từ ngoại hưởng: nhìn, vay, khen ngợi…

- Nhóm động từ gây khiến: làm (cho), để (cho), khuyên, bảo, yêu cầu, …

- Nhóm động từ cảm nghĩ – nói năng: biết, bảo, nghĩ, hiểu, kêu, khen…

Theo tác giả Phạm Thị Hòa, động từ gây khiến chỉ là một loại nhỏ trong

Trang 20

loại động từ nói năng và động từ nói năng chỉ là một trong những loại của động từ ngoại hướng, động từ tác động

Cũng theo hướng này, tác giả Nguyễn Anh Quế xếp tất cả các động từ nói năng vào tiểu loại động từ ngoại hướng

Nhìn chung, hướng nghiên cứu thứ nhất vì quá coi trọng tiêu chí hình thức nên phần lớn các tác giả phân tán động từ nói năng vào các tiểu loại động từ khác không cùng cơ cấu nghĩa Động từ nói năng được xếp vào các tiểu loại: động từ tác động, động từ hành động, động từ gây khiến, động từ cầu khiến, động từ cảm nghĩ – nói năng Điều này cũng dẫn đến tình trạng rất nhiều động

từ nói năng có những đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp giống nhau nhưng lại xếp vào các bậc khác nhau

Nhóm thứ hai, dựa vào mô hình cấu trúc ngữ nghĩa của động từ cảm

nghĩ – nói năng để phân biệt động từ nói năng và động từ cảm nghĩ Đây là hướng nghiên cứu của các tác giả Hoàng Văn Thành, Đỗ Hữu Châu và một số tác giả khác

Nhóm thứ ba, nghiên cứu dựa trên quan điểm ngữ pháp chức năng,

tiêu biểu là Cao Xuân Hạo (1991), Nguyễn Thị Quy (1995), Hoàng Văn Vân (2002) Các tác giả này đã đề cập sơ lược đến động từ cảm nghĩ – nói năng từ góc độ nghĩa học Nhìn chung, nhóm tác giả này cũng đưa ra được những miêu tả chính xác về động từ cảm nghĩ – nói năng Tuy nhiên, các nghiên cứu của nhóm tác giả này cũng chưa nêu bật được đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ pháp của động từ cảm nghĩ – nói năng tiếng Việt

Theo hướng nghiên cứu của nhóm thứ nhất, rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhập hai loại động từ nói năng và cảm nghĩ là một Chúng tôi nghĩ, nên phân biệt động từ nói năng và động từ cảm nghĩ Tuy nhiên, có một vấn đề ở đây là trong tiểu loại động từ cảm nghĩ – nói năng có một nhóm động từ thể hiện hành động bằng các giác quan Chúng tôi nghĩ nên xếp nhóm động từ này vào

Trang 21

động từ cảm nghĩ Bởi vì tri giác là giai đoạn đầu của nhận thức

1.3.2 Đặc trưng của động từ cảm nghĩ – nói năng trong định hướng giao tiếp

Động từ cảm nghĩ – nói năng là tiểu loại mang nhiều tính chất chủ quan, cho nên khả năng chuyển tác của nó có yếu hơn so với các động từ ngoại động (cập vật) Nhóm động từ này vì thuộc về chủ quan của người nói nên đáng chú ý là các phát ngôn có mặt chúng đều mang hình thái màu sắc chủ quan rõ nét Trong đó thể hiện khá rõ nét mục đích phát ngôn và những toan tính của người nói

Vì chức năng của động từ cảm nghĩ – nói năng là cấu tạo những phát ngôn phản ánh ý định mong muốn của người nói, những khẳng định, những toan tính cho nên nó thiên về tính chủ ý và người ta dễ nhận diện nó về phương diện này Khác với các tiểu loại khác biểu đạt các biến cố hoặc trạng thái, động từ cảm nghĩ – nói năng gắn với hành động phát ngôn và các hình thức cảm nghĩ – tri nhận của tư duy người bản ngữ

Ở đây, trên một phương diện nào đó động từ cảm nghĩ – nói năng có một đường biên khu biệt so với các nhóm động từ khác trên nhiều khía cạnh ngữ pháp Trong đó, đặc biệt là việc tiếp nhận các tiêu chí – thời – thể và các yếu

tố tình thái nhấn mạnh vào các yếu tố chủ ý và những khía cạnh liên quan đến các hình thái biểu đạt màu sắc chủ quan của phát ngôn

Việc tạo ra ngữ đoạn của các động từ cảm nghĩ – nói năng cũng có khác trong cấu trúc phát ngôn mối quan hệ giữa người nói (chủ ngữ) với hành động nói (vị ngữ) có quan hệ hết sức chặt chẽ và bao giờ cũng phải có sự diễn đạt

Trang 22

b Nguồn động: lấy ngữ cảnh hành động của các động từ thuộc tiểu loại này trong ngôn từ của các tài liệu giảng dạy tiếng Việt, đặc biệt là các bài khóa và các hội thoại

1.4 Một số cơ sở lí thuyết liên quan đến dạy ngoại ngữ

Trong giáo dục ngôn ngữ cần phân biệt rất rõ hai phương pháp giảng dạy: ngôn ngữ cho người bản ngữ và ngôn ngữ cho người nước ngoài

Trong việc dạy và học ngoại ngữ, bên cạnh việc học phát âm chuẩn thì người học còn phải trau dồi những từ vựng Tuy nhiên, từ vựng là danh sách của những từ ở dạng tĩnh, nó phải được đưa vào các hành động hành chức Bước này ngữ pháp đóng vai trò nòng cốt trong việc tổ chức và đưa những đơn vị có tổ chức vào sử dụng Ngữ pháp còn thể hiện ở hàm lượng văn hóa của các quy tắc ngữ pháp nằm trong hành động ngôn từ

Trong việc dạy ngoại ngữ thì chương trình trong tài liệu giảng dạy và phương pháp dạy học là một bộ hợp thành hệ thống hỗ trợ cho nhau, giúp cho người học thụ đắc (tiếp nhận) theo từng bước dựa trên các phát triển cá nhân Như đã nói động từ là từ loại có vị trí trung tâm của việc truyền đạt ngữ pháp (nói cách khác ai là người làm chủ động từ của một ngôn ngữ thì người

đó sẽ tiến bộ rất nhanh và rất chắc chắn trong các kỹ năng sử dụng) Trong ý nghĩa đó, mỗi tiểu loại động từ có một chức năng riêng, cương vị riêng và sự tham gia ngữ pháp của các phát ngôn cũng rất khác nhau mà chúng ta phải có một tiêu chí làm cơ sở lý luận cho việc đánh giá

Những tư liệu về động từ cảm nghĩ – nói năng mà chúng tôi mô tả trong chương 2 liên quan đến các bối cảnh ngữ pháp mà chúng xuất hiện trên những bình diện khác nhau của phương pháp dạy tiếng Như chúng ta đã biết, tiếng Việt được dạy cho người nước ngoài đã có thời gian hơn nửa thế kỉ Sự tiến

bộ của lý luận ngôn ngữ đã phản ánh trong các phương pháp giảng dạy và thể hiện trong các tài liệu giảng dạy

Trang 23

Trong ba mươi năm đầu việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ chủ yếu là dựa trên phương pháp truyền thống mà nội dung cơ bản là lấy các bài khóa để tích hợp các hiện tượng ngữ pháp và ngữ pháp đến lượt nó lại thường xuyên được diễn giải theo các lối hàn lâm Động từ cảm nghĩ – nói năng tiếng Việt, theo đó cũng được truyền đạt như một hạng mục ngữ pháp như những hạng mục khác (động từ nội động, động từ ngoại động, động từ chuyển động, động

từ chỉ hướng)

Hai mươi năm gần đây do sự thay đổi về lý luận, việc trình bày ngữ pháp trong các tài liệu dạy tiếng đã từng bước có sự điều chỉnh Theo đó phương pháp giảng dạy ngoại ngữ chuyển dần sang định hướng giao tiếp gắn với các hành động ngôn từ và các ngữ cảnh Một loạt các thuật ngữ mới trong dạy tiếng đã xuất hiện như: năng lực ngôn ngữ (ngữ năng), năng lực giao tiếp, tình huống giao tiếp, các hành động phủ định, cầu khiến…đã từng bước được ghi nhận và đưa vào tài liệu giảng dạy

Sự thay đổi lớn nhất đối với động từ là giới thiệu và rèn luyện cho người học (ngoại ngữ) không phải như một mảng từ vựng mà đã gắn với các hành động ngôn từ và các ngữ cảnh phát ngôn Tiểu loại động từ cảm nghĩ – nói năng cũng nằm trong giải pháp chung đó

Trên bình diện phương pháp dạy ngoại ngữ theo hướng giao tiếp là dạy cho người học không chỉ nắm vững hệ thống, cấu trúc và những tri thức ngữ pháp,

mà còn giúp cho người ta sử dụng ngôn từ đã học được như một công cụ giao tiếp thông qua hoạt động lời nói và rèn luyện kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết

Để làm cơ sở lý luận cho luận văn hướng vào định hướng giao tiếp, ở đây xin đề cập đến mấy khía cạnh:

Nói đến năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp là phải nói đến lý luận

của các khái niệm “ngôn ngữ và lời nói”, mà khởi đầu là lý luận F de Sausure

Sau đó là lý luận về “ ngữ năng ’’ của N Chomsky

Trang 24

Giao tiếp theo đó là một hành động đặc thù của người ta thông qua các tương tác xã hội bằng ngôn ngữ để thông tin giữa người nói và người nghe Mỗi phát ngôn đều gắn với một tình huống giao tiếp cụ thể và chứa đựng những sự tình cụ thể Động từ giữ vai trò quan trọng nhất của vị ngữ, mà vị ngữ là cốt lõi của việc biểu đạt các sự tình của câu Vì vậy, từ loại động từ với những tiểu loại khác nhau là nguồn sản sinh ra các sự tình cụ thể khiến người

ta có thể nhận định về sự tình ấy (cơ sở của thông báo)

Người bản ngữ (ở đây là người Việt) có đặc điểm tâm lí văn hóa trong sử dụng từ ngữ giao tiếp tạo ra những hiệu quả ứng dụng và theo đó các động từ

vị ngữ trong những phát ngôn cụ thể luôn luôn ứng với ngữ cảnh giao tiếp Trước kia phương pháp cổ điển chú ý nhiều đến tính hệ thống của ngữ pháp Còn bây giờ đơn vị giao tiếp lại thiên về các phát ngôn, mà phát ngôn thì gắn với hành động ngôn từ nhất định (phủ định, sai khiến, thỉnh cầu, khẳng định), các động từ cảm nghĩ - nói năng (tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ khác hình thành ý định lời nói xảy ra trước khi tạo sinh các hành vi nói năng tiếp theo) Nó là một loại sản phẩm giao tiếp đặc biệt đã có dịp nói trước

ở trên Việc dạy ngữ pháp trong các tài liệu giảng dạy theo định hướng giao tiếp ngày nay thường đi theo con đường ngữ nghĩa, ngữ dụng để biểu đạt Ngoại ngữ ở đây là phương diện thực hiện những phát ngôn cụ thể mà cả người dạy và người học đều quan tâm Năng lực giao tiếp và năng lực ngôn ngữ tuy không đồng nhất nhưng thống nhất với nhau Năng lực giao tiếp của các động từ vị ngữ không tách rời khỏi các vị ngữ cụ thể (những tri thức làm thành hệ thống về từ loại động từ trong chức vụ vị ngữ của câu) Từ đó các kiểu phát ngôn cụ thể sẽ được sản sinh ra trên bình diện lời nói

Trong những năm gần đây, lý luận về hành động ngôn từ của Austin (1962) đã cho các nhà ngôn ngữ học ứng dụng gắn việc dạy ngoại ngữ với việc giới thiệu các hành động ngôn từ gắn với ngữ cảnh Điều đó diễn ra theo

Trang 25

một chuỗi câu hỏi: dạy ai? (nhận diện đối tượng), dạy cái gì? (nội dung), dạy

để làm gì? (mục đích giao tiếp), dạy như thế nào? (phương pháp)

Hoạt động lời nói luôn luôn là sự thống nhất hình thức ngôn từ khảo sát một hiện tượng ngữ pháp nào đó Động từ cảm nghĩ – nói năng cũng phải căn cứ vào

ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học trong các phân tích Nếu như trước kia người ta quan tâm nhiều đến danh sách từ vựng (động từ) mà người học nắm được thì giờ đây vấn đề lại ở chỗ các động từ được gắn với ngữ cảnh giao tiếp như thế nào Các yếu tố dụng ngôn đã lên ngôi như một nội dung rất quan trọng của việc truyền đạt ngữ pháp

Trước đây khi học xong một chương trình ngoại ngữ người học có thể biết rất nhiều và khá sâu về ngữ pháp nhưng trái lại khá vất vả trong việc thực hành giao tiếp bằng chính ngôn ngữ đó Ở đây người học muốn hiểu tốt nhất thì phải bắt chước các lối nói của người bản ngữ trong môi trường giao tiếp Nghĩa là sau khi học ngoại ngữ thì người học phải được nâng dần lên một ngôn ngữ thứ hai (ngôn ngữ gắn với môi trường)

Một người học tiếng Việt ở nước ngoài và một người học tiếng Việt ở Việt Nam là khác nhau Người học tiếng Việt có môi trường họ sẽ tiếp xúc tự nhiên, bắt chước người bản ngữ một cách tự nhiên, đứng ngoài các lý giải về hiện tượng ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp trong việc dạy động từ cảm nghĩ – nói năng Các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài mà chúng tôi khảo sát đã có nhiều sự khác nhau trong lựa chọn, trình diễn và cố nhiên sẽ ảnh hưởng đến kết quả của người dạy và người học

Trong số các tài liệu giảng dạy làm đối tượng khảo sát sẽ nói trong chương

2, chúng ta sẽ thấy hai phần ba việc diễn đạt ngữ pháp trong các tài liệu vẫn là theo hướng hàn lâm Sự thụ đắc ngôn ngữ thông qua tiếp xúc ít hơn rất nhiều

so với việc học Các tác giả đã mất rất nhiều công phu để giới thiệu mô hình, cấu trúc, phương thức luyện tập và các bài kiểm tra

Trang 26

Trong những năm gần đây tại Việt Nam các tài liệu giảng dạy tiếng Anh đã được phổ biến nhiều Vì vậy, việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cũng theo

đó mà có nhiều cải tiến, đồng thời nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các giáo viên và người học

Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài điều quan trọng là giúp cho người học tại môi trường Việt Nam tiếp xúc với các lối hành ngôn giao tiếp của người bản ngữ, giảm đi mức tối đa việc thiết lập danh sách từ vựng, cụ thể học thuộc lòng các quy tắc văn phạm và thực hiện các bài tập trên giấy một cách máy móc

Năng lực ngôn ngữ của con người đã cho phép họ xuất phát từ bản ngữ để nắm vững ngữ pháp ngoại ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) của một ngôn ngữ Khả năng tiếp nhận ngoại ngữ phụ thuộc nhiều vào bản ngữ của người học Cũng là động từ cảm nghĩ – nói năng nhưng ở mỗi một ngôn ngữ khác nhau, tính chất loại hình ngôn ngữ đã có ảnh hưởng rõ rệt vào các môi trường giao tiếp và cách thức sử dụng chúng trong những ngữ cảnh khác nhau Tuy nhiên bên cạnh ngữ pháp đặc thù, Chomsky cho rằng có ngữ pháp phổ quát làm cơ sở cho con người dễ dàng hiểu nhau Nhấn mạnh vào tính đặc thù của ngữ pháp tiếng Việt không có nghĩa là bác bỏ những nét chung, những nét phổ quát cùng lúc tồn tại ở các ngôn ngữ khác Nhờ có ngữ pháp phổ quát người học động từ tiếng Việt vẫn có khả năng phát hiện

ra những nét chung giữa ngôn ngữ tiếng Việt với các bản ngữ mà người học sở hữu

1.5 Cơ sở lí luận về lí thuyết hội thoại

Bởi vì luận văn tập trung đi vào khảo sát các hội thoại cho nên vấn đề cơ

sở lí thuyết hội thoại cũng được chúng tôi đề cập đến Về lí thuyết hội thoại cũng có rất nhiều vấn đề, chúng tôi chỉ tập trung vào các quy tắc hội thoại, bởi

vì nó liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu (Giáo trình ngữ dụng học, 2008), hội thoại

diễn tiến theo những quy tắc nhất định và có nguyên lí chi phối Cái nguyên lí

Trang 27

chi phối các quy tắc hội thoại là nguyên lí cộng tác bởi vì hội thoại là một hành động xã hội Từ nguyên lí chung này mà các quy tắc hội thoại ràng buộc các đối tác hội thoại trong một hệ thống những quyền lợi và trách nhiệm Nhìn chung, các quy tắc hội thoại có những tính chất sau:

- Các quy tắc hội thoại có bản chất hết sức đa dạng bởi vì có nhiều nhân tố tham gia vào hội thoại

- Có những quy tắc hội thoại chung cho mọi cuộc hội thoại nhưng cũng có những quy tắc riêng cho mỗi loại hình, mỗi kiểu hội thoại

- Các quy tắc hội thoại gắn rất chặt với ngữ cảnh

- Các quy tắc hội thoại thể hiện rất khác nhau tùy theo từng xã hội và từng nền văn hóa

- Quy tắc hội thoại được thụ đắc một cách tuần tự từ thuở nhỏ nhưng không được truyền thụ một cách hệ thống Cho nên phần lớn chúng được vận dụng một cách tự phát

Giáo sư Đỗ Hữu Châu và một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã chia các quy tắc hội thoại thành bốn nhóm quy tắc:

+ Nhóm quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời Trong đó bao gồm những “điều khoản” như: Thứ nhất, vai trò nói thường xuyên thay đổi nhau (luân phiên) trong một cuộc hội thoại.Thứ hai, mỗi lần chỉ có một nguười nói Thứ ba, lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài, do đó cần có những biện pháp để nhận biết khi nào một lượt lời chấm dứt Thứ tư, ở vị trí đó nhiều người cùng nói một lúc tuy thường gặp nhưng không bao giờ kéo dài Thứ năm, thông thường lượt lời của các đối tác này chuyển tiếp cho đối tác kia diễn ra không bị ngắt quãng quá dài, cũng không bị dẫm đạt lên nhau Thứ sáu, trật tự (nói trước, nói sau) của những người nói không cố định mà luôn luôn thay đổi Do đó, một số phương tiện được dùng để chỉ định và phân phối lượt lời là cần thiết

Trang 28

+ Nhóm quy tắc điều hành nội dung của hội thoại Một cuộc hội thoại cần đến những quy tắc điều hành nội dung của nó, đúng hơn là điều hành quan hệ giữa nội dung các lượt lời tạo nên cuộc hội thoại đó Bởi vì nội dung của diễn ngôn, của hội thoại không chỉ gồm nội dung miêu tả, nội dung thông tin mà còn gồm những nội dung liên cá nhân, nội dung ngữ dụng cho nên các quy tắc điều hành nội dung của hội thoại điều hành cả nội dung miêu tả và nội dung liên cá nhân, ngữ dụng của nó Nhóm cá nguyên tắc điều hành nội dung của hội thoại bao gồm hai nguyên tắc: nguyên tắc cộng tác hội thoại và nguyên tắc quan yếu

+ Nhóm quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân – phép lịch sự Có nhiều nhân tố tham gia vào sự hình thành quan hệ liên cá nhân Một số nhân tố đó

đã sẵn có trước cuộc tương tác do chúng nằm ngoài tương tác Chúng liên quan đến cương vị tương đối giữa những người tham gia tương tác theo những giá trị xã hội như tuổi tác và quyền lực Nói tóm lại, phép lịch sự là một chiến lược trong giao tiếp Nói lịch sự là chiến lược có nghĩa là nó chỉ hình thành, có mặt và phát huy tác dụng khi có tương tác Nói đúng hơn, ở đây nói đến mặt ngôn ngữ của lịch sự Có thể nói, quy tắc lịch sự chi phối quan hệ giữa thể diện của người nói và người nghe trong hội thoại Phép lịch

sự là hệ thống những phương thức mà người nói đưa vào hoạt động nhằm điều hòa và gia tăng giá trị của đối tác của mình

+ Nhóm quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại Có ba trường phái quan điểm khác nhau về cấu trúc hội thoại Thứ nhất, là trường phái phân tích hội thoại ở Mĩ Thứ hai, là trường phái phân tích diễn ngôn ở Anh Thứ ba, là trường phái lí thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ và Pháp

Hội thoại là mảnh đất sống của ngôn ngữ, là một môi trường hoạt động của con người, một biểu hiện của xã hội loài người Qua hội thoại, các yếu tố, đơn vị của ngôn ngữ mới được đóng dấu chứng nhận tư cách đơn vị ngôn ngữ

Trang 29

của mình và các quy tắc, các cơ chế vận hành các yếu tố, đơn vị đó mới bộc lộ

ra, phát huy tác dụng Nghiên cứu hội thoại một mặt phải vận dụng tổng hòa những tri thức về cấu trúc ngôn ngữ, những tri thức ngữ dụng, cả những tri thức xã hội học, tâm lí học, văn hóa học, mặt khác qua nghiên cứu hội thoại, chúng ta mới hiểu biết đầy đủ, toàn diện tất cả những cái tạo nên ngôn ngữ và cái nằm trong lĩnh vực ngữ dụng học

Tiểu kết:

Như vậy trong chương này chúng tôi đã đưa ra các cơ sở lý thuyết tập trung vào các vấn đề cơ bản của động từ tiếng Việt, trong đó đã đi sâu vào tiểu loại động từ cảm nghĩ nói năng

Các phân tích lý thuyết ở trên là cơ sở lý luận để chúng tôi tiến hành mô tả, nhận xét và đánh giá việc trình bày tiểu loại động từ cảm nghĩ – nói năng qua các tài liệu giảng dạy tiếng Việt được lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu Đặc biệt là lý thuyết về đặc trưng của động từ cảm nghĩ – nói năng trong định hướng giao tiếp và cơ sở lý thuyết liên quan đến việc dạy ngoại ngữ được chúng tôi sử dụng hiệu quả trong việc triển khai luận văn ở các chương tiếp theo

Trang 30

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT TIỂU LOẠI ĐỘNG TỪ CẢM NGHĨ – NÓI

NĂNG TRONG CÁC TÀI LIỆU DẠY TIẾNG VIỆT CHO

NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 2.1 Một số nội dung liên quan đến khảo sát

2.1.1 Tài liệu khảo sát

Hiện nay, trong thực tế giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ (tại Việt Nam và nước ngoài) có rất nhiều tài liệu được thiết kế với những mục tiêu và nội dung giảng dạy khác nhau.Với đề tài này, chúng tôi lựa chọn và tập trung khảo sát 02 bộ tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài sau:

1 Nguyễn Việt Hương,Tiếng Việt cơ sở (dành cho người nước ngoài), quyển 1 và quyển 2, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2010

2 Nguyễn Việt Hương,Tiếng Việt nâng cao (dành cho người nước ngoài), quyển 1 và quyển 2, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2015

3 Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), Tiếng Việt (dành cho người nước ngoài) trình độ A, NXB Thế Giới, Hà Nội, 2007

4 Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), Thực hành tiếng Việt trình độ B, NXB Thế Giới, Hà Nội, 2011

5 Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), Thực hành tiếng Việt trình độ C, NXB Thế Giới, Hà Nội, 2001

Sở dĩ chúng tôi chỉ tập trung khảo sát một số tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài như trên là vì các lí do sau:

Trước hết, đây là những tài liệu được giáo viên và học viên sử dụng nhiều nhất trong quá trình dạy và học tiếng Việt cũng như làm căn cứ đánh giá trình

độ, năng lực với nhiều đối tượng học khác nhau Từ các trường đại học lớn như: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Hà Nội…đến các viện nghiên cứu và các trung tâm giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, đều sử dụng hai bộ giáo trình này làm tài liệu

Trang 31

giảng dạy chính Qua thực tế trải nghiệm, chúng tôi nhận thấy đây cũng là những tài liệu tham khảo cơ bản để các giáo viên người nước ngoài làm căn

cứ soạn giáo trình cho học viên ở nước họ (Hàn Quốc là một điển hình)

Bên cạnh đó, những tài liệu này được biên soạn tương đối khoa học, bài bản và

có tính hệ thống Các tài liệu này được biên soạn theo hướng phân cấp trình độ, đa dạng về chủ đề, tình huống giao tiếp, …phù hợp cho nhiều đối tượng học Điều nổi bật là các tác giả đã cố gắng đưa vào các tài liệu giảng dạy này những nội dung thiết yếu của cuộc sống, vừa có tính phổ quát vừa mang nét đặc thù và bản sắc của đời sống xã hội, tinh thần, văn hóa của người Việt

2.1.2 Phạm vi khảo sát

Trong luận văn này, chúng tôi tập trung khảo sát tiểu loại động từ cảm nghĩ nói năng trong phạm vi các hội thoại trong các tài liệu đã trình bày ở trên (gồm trong phần bài học và bài tập) Sở dĩ chúng tôi chọn hội thoại để nghiên cứu về tiểu loại từ này là vì một số lí do sau:

Thứ nhất, hội thoại trong cuộc sống cũng như trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài rất phong phú Trong các tài liệu giảng dạy, hội thoại được thể hiện đa dạng về chủ đề, nội dung, từ vựng, cấu trúc ngữ pháp, cách diễn đạt… Ở bộ giáo trình của tác giả Nguyễn Việt Hương, các chủ đề có xu hướng lặp lại nhưng được nâng cao và mở rộng theo trình độ Cũng là chủ đề đó nhưng, ở trình độ cao hơn thì được giới thiệu nhiều từ vựng mới, cấu trúc ngữ pháp mới và cách diễn đạt mới Ở bộ giáo trình của Viện Việt Nam học do Đoàn Thiện Thuật làm chủ biên thì ở trình độ A (cơ sở), các tác giả tập trung vào xoay quanh các chủ đề trong cuộc sống bằng các cách nói đơn giản Đến trình độ B và C, các giả thiết lập các hội thoại không tập trung vào một chủ đề nhất định mà thiên về lắp ghép các mẩu chuyện trong cuộc sống Như vậy, mỗi bộ giáo trình có cách tiếp cận và phản ánh riêng nhưng đều được giáo viên và người học đánh giá cao và chọn lựa

Trang 32

Lí do thứ hai, chúng tôi chọn hội thoại để khảo sát là vì trong các cuộc hội thoại, ngôn ngữ thường được thể hiện tự nhiên, phản ánh được cách diễn đạt của người bản ngữ Trong các bài đọc hoặc bài làm văn, ngôn ngữ thường được viết với tính khuôn mẫu, gò bó, nhưng trong hội thoại là dịp để ngôn ngữ biểu hiện tính đa dạng của mình Hội thoại gắn liền với ngữ cảnh Ngữ cảnh chi phối đến cách lựa chọn và sử dụng ngôn từ Bởi vậy, trong hội thoại ngôn ngữ được thể hiện tự nhiên nhất

Lí do thứ ba chúng tôi chọn hội thoại để khảo sát là vì chúng tôi chú trọng đến định hướng giao tiếp của các tài liệu giảng dạy Trong chương trình dạy ngoại ngữ nói chung, dạy tiếng Việt nói riêng, hội thoại là phần rất quan trọng Mục đích của việc học ngoại ngữ là để giao tiếp Hội thoại là phương thức chính để giúp người học đạt được yêu cầu này một cách hiệu quả Khảo sát tiểu loại động từ cảm nghĩ nói năng gắn với nội dung giảng dạy hội thoại trong trường hợp này cũng chính là mong muốn tìm hiểu rõ hơn khả năng đáp ứng giao tiếp của tài liệu giảng dạy

2.1.3 Tiêu chí nhận diện động từ cảm nghĩ – nói năng được sử dụng trong khảo sát

Theo tác giả Nguyễn Kim Thản (Động từ trong tiếng Việt, 1977), những

năm gần đây việc phân loại động từ lại tiến hơn trước một bước Người ta không những chú ý tới những đặc điểm cú pháp của động từ, chủ yếu là tính chất chi phối của động từ mà còn chú ý tới những đặc điểm kết hợp của động

từ Cũng vì vậy, tác giả đã phân loại động từ tiếng Việt theo hai hướng đó là: Phân loại theo sự phân phối của các hư từ phục vụ động từ và phân loại theo tính chất chi phối của động từ

Từ hai hướng phân loại trên, tác giả Nguyễn Kim Thản đã đưa ra nhóm

động từ cảm nghĩ – nói năng Theo tác giả, động từ cảm nghĩ – nói năng biểu

thị sự hoạt động của trí não, của các cơ quan cảm giác và ngôn ngữ Đặc

Trang 33

điểm ngữ pháp của những động từ này là nó thường đòi hỏi có bổ ngữ do một

cụm từ cụm từ tường thuật đảm nhiệm này biểu thị nội dung của những cảm giác, tình cảm, suy nghĩ mà sự vật phản ánh vào trong ý thức người ta, hoặc

là nội dung của lời nói mà người ta muốn diễn đạt ra

Đặc điểm ngữ pháp của những động từ này còn là: ngoài mấy động từ biểu

thị hoạt động của cơ quan cảm giác như: nghe, nhìn, thấy, trông, xem,… thì những động từ khác có thể có những liên từ rằng, là, rằng là đi kèm để biểu

đạt sự tình

Phần lớn động từ cảm nghĩ – nói năng có thể chuyển hóa sang những loại

nhỏ khác Chỉ có một số động từ như: ngỡ, tưởng thường xuyên đòi hỏi có sự

bổ sung của cụm từ tường thuật

Trên đây là một số tiêu chí, làm căn cứ để chúng tôi nhận diện và phân loại động từ cảm nghĩ – nói năng xuất hiện trong các tài liệu đã chọn

2.2 Kết quả khảo sát tiểu loại động từ cảm nghĩ – nói năng trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Trang 34

2.2.1.1 Danh sách xuất hiện

STT Động từ cảm

nghĩ

Bộ GT của Nguyễn Việt Hương

Bộ GT của Đoàn Thiện Thuật

Trình độ

cơ sở

Trình độ nâng cao

Trang 35

Nhìn vào bảng thống kê danh sách xuất hiện của nhóm động từ cảm nghĩ

tương đối phong phú, và có sự trùng lặp giữa hai bộ giáo trình như sau: trông,

biết, thích, muốn, mong, xem, nghe, cần, tin, hi vọng, sợ, nhớ, quên, thấy, nghe nói, nhìn Động từ cảm nghĩ chỉ xuất hiện trong bộ giáo trình của

Nguyễn Việt Hương là: cần phải Những động từ cảm nghĩ chỉ xuất hiện trong

bộ giáo trình của Đoàn Thiện Thuật là: ghét, mê, ước, nghĩ, tưởng, cảm thấy,

tưởng tượng, nhìn thấy, quan sát

Như vậy, động từ cảm nghĩ trùng lặp giữa hai bộ giáo trình tương đối nhiều Mỗi bộ giáo trình cũng đưa vào những dang sách động từ cảm nghĩ riêng, và có sự khác nhau về số lượng (ở bộ giáo trình của Đoàn Thiện Thuật nhiều hơn so với bộ giáo trình của Nguyễn Việt Hương.)

2.2.1.2 Sự phân bố động từ cảm nghĩ trongcác tài liệu giảng dạy

Sau khi khảo sát động từ cảm nghĩ – nói năng qua các hội thoại trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài (bảng khảo sát ở phần phụ lục), chúng tôi đã tổng hợp như sau:

STT Động từ

cảm nghĩ

Bộ GT của Nguyễn Việt Hương

Bộ GT của Đoàn Thiện Thuật

Trình độ

cơ sở

Trình độ nâng cao

Trang 36

như: trông, biết, thích, muốn, nhớ, thấy…Đây là những động từ trực tiếp biểu thị

cảm nghĩ của người nói Tính phổ biến của động từ cảm nghĩ còn được thể hiện ở chỗ chúng xuất hiện trong các hội thoại ở cả phần bài hội thoai, bài nghe và bài tập Tuy nhiên, số lượng lớn động từ cảm nghĩ xuất hiện ở phần bài hội thoại

Trang 37

Tiếp theo, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy động từ cảm nghĩ xuất hiện ở bộ giáo trình của Viện Việt Nam học do tác giả Đoàn Thiện Thuật làm chủ biên nhiều và phong phú hơn so với bộ giáo trình của tác giả Nguyễn Việt Hương Cụ thể là có những động từ chỉ xuất hiện ở hội thoại trong các tài liệu của Đoàn Thiện Thuật mà không xuất hiện trong các tài

liệu của Nguyễn Việt Hương như: mê, ghét, ước, nghĩ, tưởng, tưởng tượng,

nhìn thấy, quan sát Có thể những động từ cảm nghĩ này cũng xuất hiện

trong bộ giáo trình của tác giả Nguyễn Việt Hương nhưng không phải trong hội thoại

Một điều dễ nhận thấy nữa là, động từ cảm nghĩ phân bố trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài có tính trình tự Động từ cảm nghĩ được phân bố từ dễ đến khó Những động từ dễ (về nghĩa dễ tìm kiếm sự tương đương, dễ dịch sang các ngôn ngữ khác), phổ biến trong tất

cả các ngôn ngữ thì được xuất hiện ở tất cả các bậc, các trình độ, đặc biệt càng ở trình độ thấp thì xuất hiện càng nhiều Có lẽ, dụng ý của các tác giả là rèn luyện kỹ năng nhớ từ cơ bản và cách nói đơn giản cho người học Các động từ cảm nghĩ xuất hiện nhiều ở cả trình độ cơ sở và nâng

cao như: trông, thích, biết, muốn, nghe, xem, … Đặc biệt là từ thích, xuất

hiện trong các hội thoại của tác giả Nguyễn Việt Hương là 33 lần, trong các hội thoại của Đoàn Thiện Thuật là 46 lần Ở trình độ cao thì các động

từ cảm nghĩ khó (chỉ xuất hiện trong một số ngữ cảnh và mang đậm nét tinh tế văn hóa bản ngữ) mới xuất hiện và tần số cũng không nhiều Như

đã nói, bởi vì những động từ cảm nghĩ khó chỉ xuất hiện trong một số ngữ cảnh, hơn nữa, những động từ đó mang đậm nét văn hóa bản ngữ, phản ánh được cách tư duy của người bản ngữ cho nên khi học ngoại ngữ đến một mức độ nhất định, người học mới có thể tiếp nhận được những động

từ này Đấy là lí do động từ cảm nghĩ có sự phân bố như vậy

Trang 38

2.2.2 Nhóm động từ nói năng

Sau khi khảo sát ở hai bộ giáo trình, chúng tôi đã thống kê danh sách xuất hiện của động từ nói năng Trong khi lập bảng, chúng tôi đã sử dụng các ký hiệu

(x: động từ nói năng xuất hiện, 0: động từ nói năng không xuất hiện)

2.2.2.1 Danh sách xuất hiện

STT Động từ nói

năng

Bộ GT của Nguyễn Việt Hương

Bộ GT của Đoàn Thiện Thuật

Trình độ

cơ sở

Trình độ nâng cao

Trang 39

Nhìn vào bảng thống kê danh sách xuất hiện, chúng tôi thấy danh sách động

từ nói năng trùng lặp giữa hai bộ giáo trình như sau: nói, nói chuyện, hỏi, nhắn,

khuyên, bảo, báo Những động từ nói năng chỉ xuất hiện trong bộ giáo trình của

Nguyễn Việt Hương mà không xuất hiện trong bộ giáo trình của Đoàn Thiện

Thuật gồm có: tả, kêu, đọc, phê bình Những động từ nói năng chỉ xuất hiện trong

bộ giáo trình của Đoàn Thiện Thuật mà không xuất hiện trong bộ giáo trình của

Nguyễn Việt Hương gồm có: kể, dặn, nhắc, gọi, rủ, giải thích, thanh minh, thuyết

minh, giới thiệu, cho biết, phàn nàn, phỏng vấn, trả lời

Như vậy, số lượng động từ nói năng trùng lặp giữa hai bộ giáo trình không nhiều Hơn nữa, những động từ nói năng trùng lặp giữa hai bộ giáo trình là những động từ cơ bản, phổ biến Số lượng động từ nói năng chỉ xuất hiện ở bộ giáo trình của tác giả Nguyễn Việt Hương mà không xuất hiện ở bộ giáo trình của tác giả Đoàn Thiện Thuật không nhiều Ngược lại, động từ nói năng chỉ xuất hiện ở bộ giáo trình của Đoàn Thiện Thuật mà không xuất hiện

ở bộ giáo trình của Nguyễn Việt Hương chiếm phần lớn số lượng

Trang 40

Sự phân bố động từ nói năng trong các tài liệu giảng dạy

STT Động từ

cảm nghĩ –

nói năng

Bộ GT của Nguyễn Việt Hương

Bộ GT của Đoàn Thiện Thuật

Trình độ

cơ sở

Trình độ nâng cao

Ngày đăng: 30/03/2017, 06:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (1987), Câu đơn tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đơn tiếng Việ
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1987
3. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp Việt Nam – Phần câu, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam – Phần câu
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2004
5. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ, Nxb Đại học & Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học & Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1975
6. Đỗ Hữu Châu & Bùi Minh Toán (2003), Đại cương Ngôn ngữ học tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Ngôn ngữ học tập 1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu & Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
7. Đỗ Hữu Châu & Bùi Minh Toán (2003), Đại cương Ngôn ngữ học tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Ngôn ngữ học tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu & Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
8. Đỗ Hữu Châu – Đỗ Việt Hùng (2008), Giáo trình Ngữ dụng học, Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu – Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2008
9. Mai Ngọc Chừ (Chủ biên) (2010), Tiếng Việt cơ sở, Nxb Phương Đông, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt cơ sở
Tác giả: Mai Ngọc Chừ (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2010
10. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
11. Nguyễn Đức Dân (2001), Ngữ Dụng học, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Dụng học, tập 1
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
12. Đinh Văn Đức (1978), “Về một cách hiểu ý nghĩa các từ loại trong tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ (2), tr.31-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một cách hiểu ý nghĩa các từ loại trong tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Đinh Văn Đức
Năm: 1978
13. Đinh Văn Đức (2010), Các bài giảng về từ pháp học tiếng Việt – Từ loại nhìn từ bình diện chức năng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng về từ pháp học tiếng Việt – Từ loại nhìn từ bình diện chức năng
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
14. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại, Viện ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Năm: 2001
15. Đinh Văn Đức (2012), Ngôn ngữ học đại cương – Những nội dung quan yếu, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đại cương – Những nội dung quan yếu
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
16. Hữu Đạt (2000), Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2000
17. Nguyễn Thiện Giáp (2009), Các phương pháp phân tích ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp phân tích ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
18. Nguyễn Thiện Giáp (2010), 777 khái niệm ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 777 khái niệm ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
19. Nguyễn Thiện Giáp (2006), Giáo trình Ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
20. Nguyễn Thiện Giáp (2002), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
21. Nguyễn Thiện Giáp (2004), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
22. Nguyễn Thiện Giáp (Chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2005), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (Chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân loại động từ cảm nghĩ – nói năng theo ý nghĩa - Khảo sát tiểu loại động từ cảm nghĩ, nói năng qua các hội thoại trong các tài liệu giảng dạy tiếng việt cho người nước ngoài
Bảng ph ân loại động từ cảm nghĩ – nói năng theo ý nghĩa (Trang 50)
Bảng danh sách đề xuất động từ cảm nghĩ – nói năng - Khảo sát tiểu loại động từ cảm nghĩ, nói năng qua các hội thoại trong các tài liệu giảng dạy tiếng việt cho người nước ngoài
Bảng danh sách đề xuất động từ cảm nghĩ – nói năng (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w