1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn

147 323 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 6,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dân tộc Dao trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn gồm các nhóm như Dao Tiền, Dao Thanh Y, Dao Đỏ,… Trong đó người Dao Đỏ là nhóm địa phương chiếm số lượng lớn và còn bảo lưu được nhiều nét văn hóa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trường Giang

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Trường Giang Các nội dung nghiên cứu, số liệu, kết quả được nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây Trong luận văn có sử dụng một số nhận xét, đánh giá của các tác giả, cơ quan, tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích rõ nguồn gốc

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà Nội ngày 20 tháng 7 năm 2016

Tác giả luận văn

Hoàng Ngọc Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ vô cùng to lớn của các thầy cô trong khoa Nhân học trường đại học KHXH & NV, của thầy hướng dẫn và cán bộ các cơ quan ban ngành của tỉnh, huyện, xã và các cộng tác viên tại địa bàn nghiên cứu

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn trực tiếp luận văn của tôi - TS.Nguyễn Trường Giang Chính thầy là người đã tận tình chỉ bảo, gợi mở cho tôi những hướng nghiên cứu, giới thiệu cho tôi những nguồn tài liệu bổ ích và giành nhiều thời gian để trao đổi, góp ý giúp tôi giải quyết những vấn đề quan trọng cả về phương pháp và nội dung nghiên cứu và đóng vai trò rất lớn để tôi có thể hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trong khoa Nhân học trường Đại học KHXH & NV – ĐHQG Hà Nội, các cơ quan ban ngành, nhất

là bộ phận sau đại học của khoa Nhân học đã giúp tôi hoàn thành một cách thuận lợi các thủ tục trong quá trình học tập, viết và bảo vệ luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến UBND xã Mỹ Thanh và đồng bào tại địa phương đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu quý giá và nhiều ý kiến giá trị để hoàn thành luận văn

Một lẫn nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn !

Trang 5

GD & ĐT : Giáo dục và đào tạo

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11

6 Nguồn tư liệu của luận văn 16

7 Đóng góp của luận văn 17

8 Kết cấu của luận văn 17

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU 18

1.1 Địa bàn nghiên cứu: Xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn 18

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 18

1.1.2 Kinh tế 21

1.1.3 Văn hóa – xã hội 22

1.2 Đôi nét về người Dao Đỏ ở Bắc Kạn 26

1.2.1 Người Dao ở Bắc Kạn 26

1.2.2 Nhóm Dao Đỏ thôn Nà Cà, xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 30

Chương 2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ THÔN NÀ CÀ TRƯỚC 1986 32

2.1 Bối cảnh xã hội của hôn nhân – gia đình người Dao Đỏ thôn Nà Cà trước Đổi mới 1986 32

2.2 Đặc điểm hôn nhân – gia đình người Dao Đỏ thôn Nà Cà trước 1986 33

2.2.1 Một số đặc điểm trong hôn nhân 33

2.2.2 Một số đặc điểm trong gia đình 50

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 62 Chương 3 NHỮNGBIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI

Trang 7

3.1 Bối cảnh hôn nhân – gia đình của người Dao Đỏ thôn Nà Cà từ sau 1986 64

3.2 Những biến đổi trong hôn nhân – gia đình từ người Dao Đỏ thôn Nà Cà từ sau 1986 67

3.2.1 Những biến đổi trong hôn nhân 67

3.2.2 Những biến đổi trong gia đình 85

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 95

Chương 4 NGUYÊN NHÂN VÀ XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI 97

4.1 Nguyên nhân biến đổi hôn nhân – gia đình người Dao Đỏ Nà Cà 97

4.1.1 Nguyên nhân khách quan 97

4.1.2 Nguyên nhân chủ quan 106

4.2 Xu hướng biến đổi trong hôn nhân – gia đình của người Dao Đỏ thôn Nà Cà 110

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 116

KẾT LUẬN 117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

PHỤ LỤC 123

Trang 8

DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Số lượng người Dao trên địa bàn Huyện Bạch Thông 20 Bảng 1.2 Thành phần tộc người xã Mỹ Thanh 21 Bảng 1.3 Dân số chia theo tộc người, giới tính và đơn vị hành chính xã Mỹ Thanh 21 Bảng 1.4 Dân số từ 5 tuổi trở lên chia theo tình trạng đi học hiện nay, nhóm tuổi và

đơn vị hành chính huyện Bạch Thông 23

Bảng 1.5 Số dân tộc Dao trên địa bàn Tỉnh Bắc Kạn 27 Bảng 1.6 Số hộ có nhà ở chia theo loại nhà ở và đơn vị hành chính huyện Bạch Thông 29 Bảng 3.1 Dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo tình trạng hôn nhân hiện tại, nhóm tuổi,

giới tính thôn Nà Cà 68

Bảng 3.2 Số phụ nữ 15 – 49 tuổi; tổng số con đã sinh; tổng số con hiện còn sống;

tổng số con hiện còn sống; tổng số con đã chết chia theo nhóm tuổi của người mẹ và đơn vị hành chính huyện Bạch Thông 69

Sơ đồ 1 Sơ đồ 5 đời của gia đình ông Lý Văn Cán ở thôn Nà Cà, xã Mỹ Thanh 52

Sơ đồ 2 Cấu trúc gia đình hạt nhân đầy đủ 53

Sơ đồ 3 Cấu trúc gia đình hạt nhân không đầy đủ 54

Sơ đồ 4 Cấu trúc gia đình hạt nhân mở rộng 54

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hôn nhân và gia đình là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong nghiên cứu Nhân học khi tìm hiểu những đặc trưng văn hóa và lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng tộc người Chính vì vậy, lĩnh vực này đóng một vai trò to lớn trong việc giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa tộc người.Thông qua các thực hành nghi lễ trong hôn nhân, trang phục cưới xin, quy mô gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình,… có thể thấy được lịch sử phát triển cũng như các quan niệm, các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi tộc người hay nói cách khác là các đặc trưng văn hóa làm nên nét độc đáo riêng để phân biệt tộc người này với tộc người khác

Thực tế cho thấy trong bối cảnh nền văn minh công nghiệp hiện đại ngày một phát triển và quá trình cộng cư giữa các tộc người ngày càng trở nên phổ biến thì văn hóa tộc người đã và đang có nhiều biến đổi Đây có thể xem như là một điều tất yếu trong sự vận động không ngừng của xã hội mà hôn nhân và gia đình tồn tại trong đó cũng đang vận động và phát triển Đặc biệt đối với một quốc gia đa tộc người và trong giai đoạn nhiều biến đổi như Việt Nam hiện nay việc nghiên cứu hôn nhân và gia đình thực sự trở thành vấn đề đặc biệt quan trọng, đặc biệt đối với các tộc người thiểu số trong đó có người Dao Đỏ

Trong cộng đồng 54 tộc người ở nước ta, người Dao là một trong những tộc người thiểu số đa dạng về nhóm địa phương và có nhiều nét văn hóa riêng biệt Bắc Kạn là một trong những tỉnh thành có số lượng người Dao tập trung đông với

51.801 người ( Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009) Dân tộc Dao trên địa bàn tỉnh

Bắc Kạn gồm các nhóm như Dao Tiền, Dao Thanh Y, Dao Đỏ,… Trong đó người Dao Đỏ là nhóm địa phương chiếm số lượng lớn và còn bảo lưu được nhiều nét văn hóa truyền thống độc đáo, đặc biệt trong vấn đề hôn nhân và gia đình

Qua nhiều nguồn tài liệu, được biết thôn Nà Cà là một trong những địa phương có gần 100% đồng bào người Dao Đỏ sinh sống đã từ bao đời nay Trước đây do giao thông đi lại khó khăn nên cuộc sống của đồng bào nơi đây tương đối biệt lập Chính vì vậy nhiều yếu tố văn hóa truyền thống còn được bảo lưu tương đối trọn vẹn.Tuy nhiên, cùng với sự phát triển chung của đất nước, đặc biệt từ sau

Trang 10

Đổi mới năm 1986 đời sống của đồng bào nơi đây đã có nhiều thay đổi.Trên cơ sở

đó, tập quán hôn nhân và gia đình cũng có những thay đổi nhất định

Thông qua nghiên cứu này luận văn sẽ tiến hành đi sâu tìm hiểu những biến đổi trong hôn nhân và gia đình của đồng bào người Dao Đỏ thôn Nà Cà, xem xét quá trình biến đổi đó đã diễn ra như thế nào – những yếu tố truyền thống nào đã thay đổi, những yếu tố truyền thống nào còn được người dân bảo lưu Cũng như những yếu tố mới nào đã và đang được tiếp thu vào trong văn hóa của đồng bào người Dao nơi đây

Từ đótrả lời cho câu hỏi những nguyên nhân dẫn tới thực trạng biến đổi trong hôn nhân – gia đình người Dao Đỏ Nà Cà ? Trên cơ sở đó chỉ ra xu hướng biến đổi của hôn nhân – gia đình của người Dao Đỏ Nà Cà trong giai đoạn hiện nay? Qua đây, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách có những giải pháp can thiệp phù hợp với từng trường hợp tộc người ở những địa bàn cụ thể

Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “BIẾN ĐỔI HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ THÔN NÀ CÀ, XÃ MỸ THANH, HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN” làm đề tài luận văn nghiên cứu của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu nhằm những mục đích sau:

- Tìm sự khác biệt/ biến đổi trong hôn nhân và giao đình của người Dao Đỏ

trong đời sống hiện nay so với trước kia Lấy mốc thời gian năm 1986 (Đổi mới) để

nghiên cứu so sánh sự khác biệt

Tiến hành tìm hiểu trên các khía cạnh cụ thể như: quan niệm trong hôn nhân, các bước nghi lễ trong hôn nhân, thiết chế gia đình, loại hình và quy mô gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình,… thông qua cái nhìn của những người trong cuộc – những người Dao Đỏ tại địa phương cụ thể là những người đã được thực hành hôn nhân hay những người được chứng kiến thực hành hôn nhân

- Trên cơ sở đó, chỉ ra nguyên nhân tại sao dẫn đến những sự biến đổi trên

- Góp phần cung cấp những luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính

Trang 11

toàn dân, xây dựng nông thôn mới song song với việc bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ ở thôn Nà Cà, xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, Tỉnh Bắc Kạn là đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở tìm hiểu hôn nhân

và gia đình của người Dao Đỏ thôn Nà Cà trong truyền thống, tiến hành đối sánh với những giá trị hôn nhân và gia đình hiện nay để thấy rõ được những sự biến đổi trong hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ trong giai đoạn trước 1986 và từ sau

1986 đến nay

Các nội dung cụ thể được tiến hành khảo sát nghiên cứu gồm:

- Những khía cạnh cơ bản của hôn nhân: quan niệm truyền thống về hôn nhân, tiêu chí lựa chọn bạn đời, các nguyên tắc và hình thức cư trú hôn nhân chủ yếu, các

nghi lễ,…và một số quy định, tập quán khác trong hôn nhân

- Những khía cạnh cơ bản của gia đình: loại hình và quy mô gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, một số chức năng cơ bản của gia đình

- Những biến đổi trong hôn nhân và gia đình hiện nay của người Dao Đỏ

- Tìm ra những nguyên nhân và xu hướng của sự biến đổi

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

4.1 Những nghiên cứu về người Dao và nhóm Dao Đỏ

Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Dao được công bố: trong

đó, trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu “Người Dao ở Việt Nam” của

nhóm tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến

(1971) Trong số các tác phẩm thuộc thể loại dân tộc chí thì cuốn “Người Dao ở

Trang 12

Việt Nam” vượt trội hẳn vì đề cập đến nhiều nguồn tư liệu điền dã phong phú, chính

xác và cụ thể Cuốn sách đã nêu được những nét khái quát chung về tộc người Dao, cung cấp nhiều thông tin giá trị về các ngành Dao ở nước ta trên các khía cạnh: kinh

tế, sinh hoạt vật chất, văn hóa - xã hội và một số tục lệ chủ yếu trong đời sống và tôn giáo tín ngưỡng của người Dao Cho đến nay cuốn sách này vẫn có nhiều giá trị tham khảo và là nguồn tư liệu quý giá khi đi nghiên cứu, tìm hiểu về người Dao Riêng về lĩnh vực hôn nhân và gia đình cuốn sách nàyđã cung cấp những nét

cơ bản về vấn đề hôn nhân và gia đình của người Dao Giúp tôi có một cái nhìn toàn diện về vấn đề hôn nhân và gia đình tộc người Dao nói chung và một số nhóm địa phương Dao nói riêng trong đó có người Dao Đỏ Tuy nhiên, cũng như nhiều cuốn dân tộc chí khác, cuốn sách vẫn còn tồn tại một số hạn chế như nguồn tư liệu dùng

để chứng minh cho một số luận điểm nhất là phần nguồn gốc lịch sử còn rất chung chung, khó kiểm chứng và mô tả văn hóa tộc người với cách nhìn văn hóa luôn ở trạng thái tĩnh không biến đổi Trong đó, hôn nhân và gia đình cũng mới chỉ được nhóm tác giả giành vài trang viết mô tả sơ lược Vì vậy, chưa làm rõ được vai trò và tầm quan trọng của hôn nhân và gia đình của tộc người Dao và cũng như chưa thấy được sự đa dạng về sắc thái địa phương trong hôn nhân và gia đình của tộc người đa nhóm địa phương như người Dao

Trong cuốn “Sổ tay công tác dân tộc và miền núi” của Ủy ban dân tộc và miền

núi - Ban tư tưởng - Văn hóa trung ương đã cung cấp những thông tin quan trọng về người Dao, giúp người đọc bước đầu hình dung được văn hóa tộc người đa dạng, độc đáo của đồng bào người Dao Cuốn sách đã nêu được những mốc thời gian di

cư vào Việt Nam của tộc người Dao, một số đặc điểm tộc người như phương thức canh tác, trang phục, tín ngưỡng, các nghi lễ cuộc đời và tên gọi của một số nhóm Dao trong đó có người Dao Đỏ Nhưng tất cả các vấn đề trên chỉ được điểm qua một cách khái quát trong gần hai trang viết

Trọng tâm của cuốn sách là những chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước

ta đối với các tộc người miền núi qua các giai đoạn lịch sử từ 1930- 2000, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi giai đoạn 2001-2005 và sơ lược những thành tựu

Trang 13

Đây là nguồn tư liệu và là căn cứ quan trọng trong nghiên cứu sự biến đổi hôn nhân – gia đình của người Dao Đỏ ở thôn Nà Cà Các chủ trương – chính sách của Đảng đã làm thay đổi bộ mặt của đất nước trên tất cả các phương diện kinh tế - chính trị - xã hội và là nhân tốt quan trọng tác động lớn đến sự thay đổi đời sống, các phong tục tập quán của đồng bào các tộc người miền núi nói chung và cộng đồng người Dao nói riêng

Một cuốn sách khác không thể không kể đến khi tìm hiểu về người Dao là cuốn

“Văn hóa các dân tộc Tây Bắc Việt Nam” của PGS.TS Hoàng Lương Cuốn sách đã

phác họa lên được một bức tranh khá đầy đủ về cộng đồng các tộc người vùng Tây Bắc trong đó có cộng đồng người Dao trên tất cả các phương diện từ nguồn gốc lịch sử phát triển, quá trình tộc người, sự phân bố tộc người, các hoạt động kinh tế, các dạng thức văn hóa vật thể (loại hình nhà cửa, trang phục truyền thống, văn hóa ẩm thực, ), các dạng thức văn hóa phi vật thể (ngôn ngữ và chữ viết, văn học dân gian, tín ngưỡng, )

và các tục lệ - nghi lễ vòng đời Trong đó tác giả đã giành hẳn một chương để viết về các thiết chế gia đình dòng họ, cơ cấu gia đình và tục lệ hôn nhân của các tộc người vùng Tây Bắc Đây là nguồn tài liệu vô cùng giá trị, cung cấp những thông tin quan trọng cho luận văn trong nghiên cứu các giá trị hôn nhân – gia đình truyền thống của người Dao nói chung và cộng đồng người Dao Đỏ nói riêng

Trong phần cuối, cuốn sách đã chỉ ra những xu hướng phát triển văn hóa của các tộc người vùng Tây Bắc bằng cách nêu và phân tích những nguyên nhân xuất hiện của các nhân tố văn hóa mới dựa trên các tác động chủ quan và khách quan đến các giá trị văn hóa truyền thống

Chính vì vậy, cuốn sách tuy chỉ đề cập đến một vùng địa lý và tập trung vào một số tộc người vùng Tây Bắc nhưng đã cung cấp những thông tin quan trọng về các giá trị văn hóa độc đáo của các tộc người và là nguồn tư liệu vô cùng quý giá đối với luận văn trong nghiên cứu các giá trị văn hóa của cộng đồng người Dao Đỏ

4.2 Những nghiên cứu về hôn nhân – gia đình

Trong Nhân học, hôn nhân và gia đình là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng khi đi tìm hiểu về văn hóa của bất kỳ tộc người nào Đầu TK XIX vấn đề hôn nhân

và gia đình đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học lớn trên thế giới

Trang 14

như Darwin với thuyết tiến hóa,L Morgan với “Xã hội cổ đại” (1981), và không thể không nhắc tới cuốn sách kinh điển về hôn nhân – gia đình “Nguồn gốc của gia

đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước” của F Ăngghen vào 1884 Cuốn sách này

cho đến tận ngày nay vẫn có giá trị vô cùng quan trọng và là cơ sở lý luận cho các nhà Nhân học trong nghiên cứu lĩnh vực hôn nhân – gia đình

Ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hôn nhân – gia đình

Trước hết phải kể đến bài viết “ Hôn nhân và gia đình của các dân tộc ở nước ta ” của giáo sư Phan Hữu Dật được in trong cuốn “Một số vấn đề dân tộc học Việt

Nam, 1998” Nghiên cứu đã giúp người đọc hình dung một cách khái quát về bức

tranh hôn nhân – gia đình của cộng đồng các tộc người ở Việt Nam cũng như một

số quy tắc hôn nhân trong bài viết “Quy tắc cư trú trong hôn nhân” hay một số tập

tục độc đáo trong hôn nhân của một số tộc người thiểu số ở Tây Nguyên trong các

bài viết “Dấu vết hôn nhân ba thị tộc ở người Vân Kiều”, “Dấu vết hệ thống bốn

hôn đẳng ở Tây Nguyên” Đã giúp khắc họa phần nào bức tranh đa dạng trong văn

hóa hôn nhân – gia đình của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Ở Việt Nam, từ thập kỷ 90 đến nay, nhất là sau Hội nghị quốc tế “Dao học”

lần thứ 7 (1995) được tổ chức ở thành phố Thái Nguyên - Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu về người Dao đã được công bố Nổi bật là những nghiên cứu về các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Dao

Trong các tác phẩm này, hôn nhân được nhìn nhận như một trong những nghi

lễ quan trọng Tiêu biểu như cuốn “Nghi lễ trong việc cưới – việc tang của người

Dao Khâu ở Sìn Hồ, Lai Châu” của Tẩn Kim Phu (2001), “Tập tục chu kỳ đời người của các tộc người ngôn ngữ H’mông – Dao ở Việt Nam” của Đỗ Đức

Lợi, trong đó đáng chú ý là tác phẩm “Các nghi lễ chủ yếu trong chu kỳ đời người

của nhóm Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn” của Lý Hành Sơn Đây là nghiên cứu có địa

bàn nghiên cứu giống với địa bàn nghiên cứu của luận văn là tỉnh Bắc Kạn, tuy có

sự khác nhau về đối tượng nghiên cứu là người Dao Tiền và người Dao Đỏ nhưng

nó đã gợi mở cho tôi nhiều hướng nghiên cứu mới và cung cấp nhiều thông tin hữu ích đặc biệt dưới góc độ nghi lễ trong hôn nhân của người Dao,thể hiện được tính

Trang 15

Tác giả đã miêu tả khá sinh động các nghi lễ trong đời người của người Dao Tiền và cả quá trình biến đổi của nó, trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét về vai trò, chức năng, giá trị của các nghi lễ cũng như phản ánh các đặc điểm của tộc người, sắc thái địa phương.Tuy nhiên, điểm hạn chế trong các nghiên cứu này hôn nhân mới chỉ được nhìn nhận dưới góc độ nghi lễ và chưa chỉ ra được mối liên hệ giữa hôn nhân và gia đình

Nói đến tác phẩm nổi bật viết về hôn nhân và gia đình của người Dao không

thể bỏ qua cuốn sách “Hôn nhân gia đình các dân tộc H’mông, Dao ở hai tỉnh Lai

Châu và Cao Bằng” (2004) của nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Tấn, Đặng Thị Hoa,

Nguyễn Thị Thanh Đây vốn là đề tài nghiên cứu “Một số đặc điểm về hôn nhân và

gia đình của dân tộc H’mông, Dao” do tiến sĩ Đỗ Ngọc Tấn làm chủ nhiệm, đề tài

đã được triển khai tại hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng và được Hội đồng khoa học của Viện khoa học dân số nghiệm thu với kết quả xuất sắc khi đưa ra được những khuyến nghị cụ thể giúp cho việc hoạch định chính sách về dân số và gia đình đối với hai tộc người H’mông và Dao nói riêng và các tộc người thiểu số nói chung Cuốn sách không chỉ đi sâu phân tích những đặc điểm và thực trạng hôn nhân - gia đình của hai tộc người thiểu số ở nước ta mà còn cung cấp những thông tin về nguồn gốc tộc người, điều kiện tự nhiên của địa bàn cư trú, đặc điểm kinh tế,…làm căn

cứ để thấy được quá trình tác động dẫn đến sự chuyển biến trong hôn nhân và gia đình của hai tộc người H’mông và Dao Cụ thể là nhóm H’mông Trắng và Dao Đỏ

Tuy nhiên, thông tin thu thập được trong nghiên cứu này chủ yếu dựa vào bảng hỏi vốn là phương pháp chủ đạo trong nghiên cứu xã hội học Các câu trả lời sau đó được lượng hóa một cách cụ thể và được tác giả sử dụng là căn cứ chính trong nghiên cứu Bên cạnh đó, một phương pháp chủ đạo nữa được tiến hành trong nghiên cứu này

là phương pháp thảo luận nhóm tập trung, tuy nhiên các đối tượng tham gia thảo luận

là các cán bộ thôn, xã chứ chưa thật sự có sự tương tác với người dân Vì vậy, nghiên cứu này gần với một nghiên cứu xã hội học hơn với một nghiên cứu Nhân học

Tuy nhiên, nghiên cứu này đã giúp ích cho tôi rất nhiều trong việc xây dựng bảng hỏi và các số liệu, thông tin mà tác giả cung cấp sẽ là những luận cứ quan trọng để tôi

Trang 16

tiến hành so sánh giữa hôn nhân và gia đình của nhóm Dao Đỏ ở Bắc Kạn với hôn nhân

và gia đình của nhóm Dao Đỏ ở Lai Châu và Cao Bằng

Bên cạnh những nghiên cứu về người Dao nói chung và hôn nhân và gia đình của người Dao nói riêng, những nghiên cứu về hôn nhân và gia đình của các tộc người thiểu số ở nước ta cũng đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm Trong

đó có thể kể đến công trình “Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở

Việt Nam” (1994) của Đỗ Thúy Bình; “ Hôn nhân và gia đình của dân tộc Mường

ở tỉnh Phú Thọ” (1999) của Nguyễn Ngọc Thanh,… Các tác giả đã làm rõ những

đặc trưng tộc người qua các quan hệ hôn nhân và gia đình, đi sâu phân tích những nghi lễ liên quan đến đời sống hôn nhân - gia đình trong sự chuyển đổi, đồng thời chỉ ra những xu hướng phát triển của nó ở các dân tộc Tày, Nùng, Thái và Mường ở miền núi phía Bắc nước ta

Như vậy, có thể nói các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp khá chi tiết đầy đủ về những khía cạnh khác nhau xung quanh vấn đề hôn nhân gia đình Đây là những nguồn tư liệu quý báu giúp tôi có thể bổ sung, hoàn thiện luận văn của mình một cách tốt nhất

Với luận văn này tôi hi vọng nghiên cứu của mình sẽ góp phần cung cấp bổ sung thêm các cứ liệu để làm căn cứ so sánh về hôn nhân và gia đình giữa nhóm Dao Đỏ ở Bắc Kạn với các nhóm Dao ở các địa phương khác Đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch địch chính sách có những giải pháp can thiệp cụ thể nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào Dao Đỏ thôn Nà Cà, tỉnh Bắc Kạn nói riêng và các tộc người thiểu số ở các địa phương trên cả nước nói chung

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý thuyết

Biến đổi văn hóa (theo nghĩa rộng bao gồm cả biến đổi xã hội) là một quá trình diễn ra trong tất cả các xã hội và là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của Nhân học Liên quan đến biến đổi văn hóa, có nhiều lý thuyết giải thích về vấn đề này như giải thích sự biến đổi văn hóa theo quá trình tiến hóa (theo thời gian); giải

thích biến đổi văn hóa theo “tán xạ” hay phát tán văn hóa (theo không gian); giải thích

Trang 17

Trong nhiều lý thuyết giải thích về sự biến đổi văn hóa, tôi đặc biệt chú ý đến lý

thuyết chức năng của Malinowski và Chức năng luận cấu trúc của A.Radcliffe Brown

Chức năng luận cấu trúc của A.Radcliffe Brown (1881 - 1955) Ông là người

tiêu biểu cho trường phái chức năng - cấu trúc ở Anh Theo ông khi đi tìm hiểu các nền văn hóa khác nhau cần phải nghiên cứu văn hóa của chủ thể từ bên trong và có ý thức đối với giá trị của nền văn hóa đó Chính vì vậy, thuyết chức năng có một ý nghĩa đối với Nhân học ở chỗ, bất cứ văn hóa nào cũng được các nhà khoa học nghiên cứu dưới cái nhìn hiện thực các chức năng khác nhau.1 Thuyết chức năng – cấu trúc hướng tới tìm hiểu những những đặc tính cố hữu, phi thời gian, tìm hiểu cái bất biến trong cái khả biến Nói cách khác lý thuyết này cố gắng phát hiện các lý do xã hội đã chỉ huy sự vận hành và sự tái tạo các cấu trúc truyền thống của các xã hội và các nền văn hóa

Radcliffe Brown và các học trò của ông xem cá nhân và hành động của họ như là “các

tác dụng phụ” của xã hội mà ý nghĩa sâu xa nhất là góp phần vào sự hội nhập xã hội.2

Trong luận văn này thuyết chức năng – cấu trúc của Radcliffe Brown sẽ đi giải thích nguyên nhân các thực hành văn hóa truyền thống vẫn còn được người dân bảo lưu, duy trì Cũng chính là phân tích chức năng của các thực hành văn hóa đối với các cá nhân, đến cộng động thực hành văn hóa và đối với xã hội mà

nó tồn tại trong đó

Lý thuyết chức năng gắn với tên tuổi của B.Malinowski (1884 - 1942) Theo

Malinowski, văn hóa là cái nhằm để thỏa mãn nhu cầu con người, cải tạo môi trường tự nhiên xung quanh và tạo ra môi trường sản xuất cho con người Văn hóa

là tổng thể những đáp ứng đối với nhu cầu cơ bản và nhu cầu sản xuất Chính vì vậy, bất kỳ văn hóa nào trong tiến trình phát triển đều tạo ra một hệ thống cân bằng

ổn định, trong đó mỗi bộ phận chỉnh thể đều thực hiện chức năng của nó 3 Một quan

1 Nguyễn Thị Song Hà (2011), Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường Hòa Bình, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội, tr 41.

2 Người dịch: Vũ Thị Phương Anh, Phan Ngọc Chiến, Hoàng Trọng (2006), Một số vấn đề và lý thuyết

nghiên cứu Nhân học, Nxb đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr 22.

3 Nguyễn Thị Song Hà (2011), Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường Hòa Bình, Nxb Khoa học

Trang 18

điểm quan trọng chủ đạo trong học thuyết của Malinowski là ông nhấn mạnh rằng

xã hội tồn tại để đáp ứng nhu cầu của cá nhân.4

Như vậy thuyết này nhìn nhận chức năng cơ bản của văn hóa là thỏa mãn các nhu cầu của con người về cả vật chất (kế sinh nhai, nhà cửa, quần áo,…) lẫn tâm lý (tôn giáo, lễ nghi,…) Qua đây ta có thể thấy được sự lựa chọn lý tính của các cá nhân thông qua chức năng của các yếu tố văn hóa mới, các yếu tố văn hóa này có chức năng là thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân

Dựa trên thuyết chức năng của Malinowski luận văn sẽ đi lý giải nguyên nhân khiến cho các thực hành văn hóa mới đã và đang xuất hiện trong tập quán hôn nhân – gia đình người Dao Đỏ Nà Cà hay nói cách khác được người Dao Đỏ Nà Cà lựa chọn tiếp nhận vào trong thực hành hôn nhân – gia đình và theo thời gian các yếu tố văn hóa này đã được địa phương hóa như thế nào

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trước khi đi tìm hiểu cụ thể về vấn đề nghiên cứu tôi sẽ tiến hành thu thập các

số liệu do Chủ tịch xã, trưởng thôn, cán bộ ủy ban dân số và kế hoạch hóa gia đình Tỉnh, xã, cộng tác viên dân số của thôn, xã,…cung cấp để có được cái nhìn tổng quan về địa bàn nghiên cứu và thực trạng hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ tại thôn Nà Cà Các số liệu trên sẽ giúp tôi rất lớn trong việc phân tích, tổng hợp, xác định các thông tín viên tiềm năng cho đề tài nghiên cứu và là căn cứ để so sánh, đối chiếu với tình hình thực tế Bên cạnh đó, tôi sẽ tìm đọc và tham khảo các bài báo cáo, các luận văn, luận án, các bài nghiên cứu, đặc biệt là các bài nghiên cứu về

đề tài hôn nhân và gia đình làm cơ sở khoa học và rút kinh nghiệm cho bản thân để hoàn thiện đề tài của mình một cách tốt nhất

Bên cạnh các nguồn thông tin có được do chính quyền cung cấp, tôi sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng bảng hỏi để tiến hành thu thập thông tin định lượng ban đầu đối với các tất cả các đối tượng đã kết hôn trong độ tuổi từ 15 – 49 tuổi5 và cả những đối tượng từ 50 tuổi trở lên Bảng hỏi ở đây là

4 Người dịch: Vũ Thị Phương Anh, Phan Ngọc Chiến, Hoàng Trọng (2006), Một số vấn đề và lý thuyết nghiên

Trang 19

một bảng các câu hỏi đã được thiết kế sẵn và phải sát với đề tài nghiên cứu Các câu hỏi ở đây được tôi thực hiện theo tiêu chí là đơn giản, dễ hiểu và cụ thể để người dân có thể hiểu và dễ dàng trả lời mà vẫn đảm bảo cung cấp đủ và đúng thông tin.Áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trong nghiên cứu này sẽ giúp tôi

có một cái nhìn tổng quan về thực trạng hôn nhân và gia đình đang diễn ra trên địabàn, đồng thời thấy được nhận thức của người dân đối với vấn đề này

Theo số liệu được cung cấp từ cộng tác viên dân số lâu năm của thôn là bà Lâm Thị Bình (nữ, 53 tuổi): số liệu thống kê năm 2015 cho thấy trong thôn có tất cả

164 trường hợp đã kết hôn Trong đó có 50 trường hợp kết hôn trước 1986 và 114 trường hợp kết hôn sau năm 1986 Vậy tổng số mẫu nghiên cứu là 164

Sở dĩ tôi chọn thời điểm năm 1986 để làm mốc thời gian phân định sự biến đổi trong hôn nhân và gia đình vì đây là thời kỳ mở đầu thực hiện nội dung của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào ngày 18-12-

1986 Đại hội đã đánh giá tình hình đất nước, kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước trong thập niên đầu cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội, từ đó xác định nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng trong thời kì Đổi mới xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Việc tập trung vào các đối tượng đã kết hôn sẽ đem lại thuận lợi đáng kể cho tôi trong quá trình nghiên cứu vì bản thân họ chính là những người trong cuộc, họ không chỉ nằm trong cộng đồng người Dao Đỏ mà còn chính là những người đã từng trải qua thực hành hôn lễ Ngoài ra, việc chia các đối tượng nghiên cứu thành hai nhóm như vậy là để thuận tiện cho việc quan sát sự biến đổi của hôn nhân và gia đình qua từng thời kỳ Để xem theo thời gian, hôn nhân và gia đình người Dao Đỏ Nà

Cà có sự thay đổi như thế nào? Hay nói cách khác là liệu có sự khác nhau trong cách suy nghĩ giữa các thế hệ và nếu có thì sự khác nhau này được biểu hiện ra sao? Qua đó

có thể trả lời được hai câu hỏi mà tôi đã nêu trong phần câu hỏi nghiên cứu

Tuy nhiên, do thời gian thực địa khá ngắn và vấn đề mà tôi muốn nghiên cứu có nhiều khía cạnh tương đối nhạy cảm nên việc tạo dựng lòng tin trong cộng đồng là một thách thức khá lớn đối với người bước đầu làm nghiên cứu như tôi Ví dụ như nhiều trường hợp tảo hôn chưa được thống kê đầy đủ (không đăng ký kết hôn nên không

Trang 20

thống kê được số người tảo hôn, hay họ có thể không thành thật trong việc khai báo tuổi kết hôn lần đầu của họ) nên gây khó khăn rất nhiều cho công việc thống kê chính

xác Chính vì vậy bên cạnh chọn mẫu có chủ đích tôi phải tiến hành thêm một kỹ thuật

chọn mẫu dắt dây Nghĩa là, trên cơ sở tạo dựng lòng tin, tiến hành khai thác và đề nghị

những cặp vợ chồng đã kết hôn mà tôi tiến hành phỏng vấn giúp đỡ, hỗ trợ trong việc tìm ra các cặp vợ chồng có thực hành tảo hôn, đặc biệt là những người tảo hôn, chưa đăng ký kết hôn do là mang thai trước hôn nhân,… Đây có thể là những người là họ hàng, người thân hay hàng xóm của họ Vì phạm vi nghiên cứu tương đối nhỏ nên tôi nghĩ việc lựa chọn kỹ thuật này sẽ có tính khả thi cao

Phương pháp quan sát – tham gia đây là phương pháp đặc thù của nhân học;

là quá trình nhà nghiên cứu phải hòa nhập vào cộng đồng đó, để làm cách nào xóa

mờ một cách tối đa khoảng cách giữa nhà nghiên cứu và cộng đồng nghiên cứu Lý tưởng nhất là khiến họ chấp nhận như mình là một thành viên của cộng đồng

Tuy nhiên, với khoảng thời gian không nhiều ,việc khiến họ chấp nhận tôi như một thành viên của cộng đồng là một thách thức không hề đơn giản Tuy nhiên, tôi

có thể cố gắng chiếm thiện cảm và tạo dựng lòng tin ở một mức độ mà họ có thể tâm sự một cách thoải mái nhất có thể Vì nhiều khi chính những người không quá thân thiết như tôi lại là những người có mà họ có thể dễ dàng bộc lộ những suy nghĩ

mà bình thường không dám nói ra cho những người biết quá rõ về bản thân họ Qua số liệu thu thập được từ bảng hỏi tôi sẽ chọn ra được các đối tượng thông tín viên tiềm năng có thể cung cấp cho tôi những thông tin quan trọng cho nghiên cứu của mình để tiến hành phỏng vấn sâu Với phương pháp này tôi có thể biến những cuộc phỏng vấn thành những cuộc trò chuyện thông thường Quan trọng nhất

là phải tạo được không khí gần gũi đối với các đối tượng nghiên cứu, để họ có thể thoái mái nói ra những suy nghĩ, tâm sự cũng như quan điểm cá nhân của mình Có

thể kết hợp thêm phương pháp nghiên cứu lịch sử cuộc đời (life history) gợi mở

những câu chuyện của các cá nhân của họ có thể thu thập thêm những thông tin giá trị cho công trình nghiên cứu Từ chính các câu chuyện về cuộc đời của mỗi các nhân có thể giúp tôi có được những thông tin hữu ích, thậm chí có thể gợi mở thêm

Trang 21

Tuy nhiên, trong quá trình phỏng vấn thu thập thông tin từ các đối tượng nghiên cứu, tôi sẽ tiến hành kiểm tra chéo, xác minh sự chính xác của thông tin được cung cấp để đảm bảo tính khách quan và chính xác nhất

Ngoài ra, để thu thập thêm những thông tin phục vụ cho công tác nghiên cứu Tôi còn có thể nhờ sự trợ giúp từ các người có uy tín trong cộng đồng như: cộng tác viên dân số, cán bộ hộ tịch, chủ tịch xã, trưởng thôn, trưởng họ, cán bộ y tế thôn … Đây là những người nắm vững về tình hình địa bàn nghiên cứu, có uy tín và hiểu phong tục tập quán của người dân nơi đây Chính vì vậy, họ là những thông tín viên

lý tưởng để hỗ trợ cho công tác điền dã diễn ra một cách trôi chảy và thu được thông tin nhanh chóng và hiệu quả

Trong quá trình thu thập thông tin tôi sẽ sử dụng các công cụ để lưu giữ lại thông tin Bên cạnh sổ ghi nhanh, sổ ghi đầy đủ và sổ ghi chép và nếu được sự đồng thuận của đối tượng nghiên cứu tôi sẽ sử dụng cả máy ghi âm để đảm bảo độ chính xác và thuận tiện trong quá trình kiểm tra lại thông tin Ngoài ra, để đảm bảo khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu danh tính của người cung cấp thông tin có thể được giữ bí mật nếu thông tín viên yêu cầu

6 Nguồn tư liệu của luận văn

Nguồn tư liệu quan trọng nhất là tài liệu được thu thập từ những chuyến điền

dã ở cộng đồng cụ thể là qua những câu chuyện, cách nhìn từ chính những người Dao Đỏ sinh sống, cư trú lâu đời tại địa phương thôn Nà Cà Luận văn thực chất là một bức tranh phác họa lại chân thực đời sống, văn hóa, phong tục trong hôn nhân – gia đình mà trọng tâm là những biến đổi trong lĩnh vực hôn nhân gia đình trong truyền thống và hiện đại

Để làm được điều này tôi đã thực hiện nhiều chuyến điền dã ở thôn Nà Cà để nghiên cứu, xem xét những khía cạnh khác biệt trong hôn nhân và gia đình Quá trình nghiên cứu tôi đã nhận được được sự hỗ trợ tích cực của các cán bộ thôn, xã và người dân thôn Nà Cà Quá trình nghiên cứu được tiến hành qua 4 cuộc điền dã như sau:

- Tháng 5/2015 tôi đến xã thôn Nà Cà, Mỹ Thanh để thu thập những nguồn tài liệu và thông tin ban đầu về địa bàn nghiên cứu, thống kê số trường hợp kết hôn trước và sau năm 1986

Trang 22

- Tháng 9/ 2015 tôi trở lại địa bàn để thu thập thêm số liệu, tiến hành phỏng vấn sâu các trường hợp thông tín viên tiềm năng

- Tháng 1/2016 quay trở lại tiếp tục thu thập, bổ sung thêm thông tin

- Tháng 5/2016 đây là lần cuối tôi đến địa bàn nghiên cứu để bổ sung tư liệu

và hoàn thiện luận văn

Để hoàn thành công trình này tôi đã có sự đầu tư nghiên cứu, tham khảo các báo cáo, các nghiên cứu, các bài viết của các học giả đi trước về người Dao, người Dao Đỏ và nhất là các nghiên cứu sâu về hôn nhân và gia đình để làm tư liệu cho luận văn Đây là những nguồn tư liệu quý báu giúp tôi có được những hình dung đầu tiên, khái quát về đối tượng và vấn đề nghiên cứu để hoàn thiện luận văn của mình một cách tốt nhất

7 Đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu điểm đầu tiên về biến đổi hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ Tôi hi vọng nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung thêm các cứ liệu để làm căn cứ so sánh về hôn nhân và gia đình giữa nhóm Dao Đỏ ở Bắc Kạn với các nhóm Dao ở các địa phương khác nhau Đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch địch chính sách có những giải pháp can thiệp cụ thể nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào Dao Đỏ thôn Nà Cà, tỉnh Bắc Kạn nói riêng và các tộc người thiểu số ở nhiều địa phương khác trong cả nước nói chung

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục thành 4 chương:

Chương 1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu và tộc người nghiên cứu

Chương 2 Một số đặc điểm hôn nhân – gia đình của người Dao Đỏ thôn Nà

Trang 23

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU 1.1 Địa bàn nghiên cứu: Xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Mỹ Thanh là một xã vùng cao nằm ở phía Đông Nam của huyện

Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm thành phố Bắc Kạn 12km Với diện tích

Phía Đông giáp xã Côn Minh, huyện Na Rì và xã Cao Sơn, huyện Bạch Thông; phía Tây giáp xã Huyền Tụng (nay là phường Huyền Tụng) thành phố Bắc Kạn; phía Nam giáp với xã Xuất Hóa (nay là phường Xuất Hóa), thành phố Bắc Kạn; phía Bắc giáp xã Nguyên Phúc, huyện Bạch Thông

Mỹ Thanh có địa hình phức tạp, nhiều núi cao, độ dốc lớn, nhiều khe suối Xã

bị chia cắt bởi 2 con sông lớn đó là sông Cầu và sông Nguyên Phúc tạo thành nhiều khu, cụm dân cư sinh sống với nhau đã từ bao đời nay

Xã Mỹ Thanh được chia thành 9 thôn: Nà Cà, Châng, Phiêng Kham, Bản Luông 1, Bản Luông 2, Khau Ca, Khuổi Duộc, Thôm Ưng, Cây Thị

Tài nguyên thiên nhiên: tổng diện tích đất tự nhiên của Mỹ Thanh là 3.323,59 ha;

đất nông nghiệp: 3.167,38 ha chiếm 95,31%; đất phi nông nghiệp: 113,80ha chiếm 3,42%; đất chưa sử dụng: 42,20 ha chiếm 1,27%

Về tài nguyên rừng, xã có hai loại rừng chính là rừng phòng hộ và rừng sản xuất Diện tích rừng tự nhiên 904,20 ha Hiện nay diện tích đất rừng đã được giao cho các hộ gia đình quản lý.Với diện tích đất rừng sản xuất lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông lâm nghiệp kết hợp Có thể phát triển các khu rừng nguyên liệu, dược liệu, cây lấy gỗ, Xã có tổng diện tích mặt nước 75,12 ha; diện tích mặt nước được nhân dân sử dụng để chăn nuôi thuỷ sản là 2,24 ha Hiện nay, diện tích ao nuôi cá ở địa phương chưa được quan tâm đầu tư nên chưa đem lại thu nhập kinh tế đáng kể cho hộ dân

6 Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Bắc Kạn 01/04/2009

Trang 24

Về khoáng sản và các tài nguyên khác ở địa phương rất hạn chế Tuy nhiên, hiện nay, trữ lượng cát, sỏi trên địa bàn do hai con sông Cầu, Sông Nguyên Phúc bồi đắp hàng năm là nguồn tài nguyên đáng kể cần được quan tâm và có kế hoạch khai thác, sử dụng phù hợp

Địa bàn nghiên cứu thôn Nà Cà, Xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, Tỉnh Bắc Kạn

(Nguồn: Cổng thông tin điện tử Tỉnh Bắc Kạn – Huyện Bạch

TỈNH BẮC KẠN

Nà Cà

Trang 25

Thành phần tộc người gồm có: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Chay Trong đó

đông nhất là đồng bào dân tộc Dao với 887 người chiếm tới 45,98 % dân số toàn

xã, đại đa số là đồng bào người Dao Đỏ Tuy nhiên trình độ dân trí và đời sống của đồng bào nhìn chung còn nhiều hạn chế Với 100% người dân sống ở nông thôn

Bảng 1.1 Số lượng người Dao trên địa bàn Huyện Bạch Thông

Số dân tộc Dao

Trang 26

(Nguồn: Số liệu tổng điều tra ngày 01/4/2009,Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn)

Bảng 1.3 Dân số chia theo tộc người, giới tính và đơn vị hành chính xã Mỹ Thanh

Trang 27

thoát nghèo Hiện nay Mỹ Thanh có 32 ha trồng khoai môn, 36 ha dong giềng, 23

ha rau, 6 ha gừng, 28 ha chuối, 53 ha chít…Trong đó diện tích trồng khoai môn của

Mỹ Thanh lớn nhất toàn huyện.7Hai năm trở lại đây khoai môn được đánh giá là cây trồng chủ đạo, phát triển rộng khắp tại các thôn trong xã, trong đó tập trung nhiều nhất là tại các thôn Phiêng Kham, Bản Châng, Nà Cà

Hiện nay, bình quân lương thực đầu người của xã đạt 549,7kg/năm.Tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm dần qua từng năm Theo kết quả rà soát năm 2012, xã Mỹ Thanh còn 12,40% hộ nghèo

Cơ sở hạ tầng xã bước đầu được quan tâm đầu tư xây dựng.Tuy nhiên chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay

Cùng với các địa phương khác triển khai “ Chương trình mục tiêu xây dựng

nông thôn mới”, Mỹ Thanh bước đầu đang có được nhiều kết quả đáng khích lệ Bắt

đầu từ năm 2011, các thôn, bản, tổ chức đoàn thể xã đã tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân đóng góp tiền, công sức, hiến đất, cây cối hoa màu để mở rộng và đổ bê tông đường giao thông nông thôn Năm 2011, đã có 04 thôn thực hiện đổ bê tông được, tổng chiều dài 741 m/ 76.595.000đ và mở mới 01 đoạn đường dài khoảng 3km Năm

2012, lồng ghép thực hiện giữa chương trình xây dựng nông thôn mới và Chương trình

135, xã đã mở được tuyến đường Khau Ca - Khuổi Duộc dài 1,3km, được nhân dân đồng tình ủng hộ, nhất trí hiến đất, hoa mầu di chuyển nhà cửa, chuồng trại để mở đường với tổng diện tích đất hiến là 8.347m2 Hiện nay nhân dân thôn Phiêng Kham đang thực hiện mở rộng và đổ bê tông hai tuyến đường từ trung tâm thôn Phiêng Kham

đi vào vùng sản xuất tập chung Khuổi Rầy và Khuổi Lòng.8

1.1.3 Văn hóa – xã hội

Xã Mỹ Thanh hiện có 487 hộ dân với tổng dân số 2.001 nhân khẩu, gồm 5 dân tộc anh em cùng sinh sống tại 9 thôn bản: Nà Cà, Châng, Phiêng Kham, Bản Luông

1, Bản Luông 2, Khau Ca, Khuổi Duộc, Thôm Ưng, Cây Thị

Trang 28

Lực lượng lao động dồi dào, chiếm 76,86% trên tổng dân số Tuy nhiên, chất lượng lao động còn thấp, chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo, không có tay nghề, trình độ không đồng đều Đây là rào cản lớn đối với việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương Do vậy, trong những năm tới, xã đang có kế hoạch bồi dưỡng đào tạo nghề cho lao động, tạo ra nguồn lực góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, trên địa bàn xã có 03 trường học: Trường Mầm non, Trường Tiểu học và Trường THCS Mỹ Thanh Trong thời gian qua, chính quyền địa phương cùng nhà trường đã nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ năm học

đề ra, duy trì kết quả phổ cập giáo dục mầm non đối với nhóm trẻ 5 tuổi, phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập Trung học cơ sở

Tuy nhiên về cơ sở vật chất các trường học còn nhiều hạn chế điều này gây cản trở lớn đến chất lượng dạy và học.Chính vì vậy, cần được sự quan tâm đầu tư hơn nữa của các cấp lãnh đạo, các sở ban ngành để mặt bằng dân trí của người dân nơi đây được ngày một nâng cao

Bảng 1.4Dân số từ 5 tuổi trở lên chia theo tình trạng đi học hiện nay, nhóm

tuổi và đơn vị hành chính huyện Bạch Thông

Tổng số Đang đi học Đã thôi học Chưa bao giờ học

( Số liệu tổng điều tra ngày 1/4/2009 cục thống kê tỉnh Bắc Kạn)

Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân địa phương được quan tâm thực hiện tốt Hiện nay, xã đang đầu tư xây dựng Trạm y tế, phấn đấu đạt chuẩn Quốc gia về Y tế xã

Trang 29

Toàn xã luôn tích cực thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng

đời sống văn hóa”.Phong trào văn hóa - văn nghệ - thể dục, thể thao được người

dân tham gia tích cực Các hội diễn văn nghệ thường xuyên được tổ chức An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã nhìn chung luôn ổn định.9

 Địa bàn thôn Nà Cà, xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, Tỉnh Bắc Kạn

Thôn Nà Cà nằm ở phía Đông Nam, cách trung tâm xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông khoảng 3km Số hộ 56 hộ với 258 nhân khẩu

Nằm dọc bờ sông Cầu, đất sản xuất nông nghiệp ít nên đồng bào triệt để khai thác các dải đất ven các sông, suối và các thung lũng để làm ruộng nước.Ngoài trồng lúa để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày người dân Nà Cà chủ yếu dựa vào phát triển kinh tế rừng.Cũng giống với các nhóm Dao khác, đồng bào Dao Đỏ có truyền thống làm nương rẫy.Đất làm nương thường được chọn ở những khu rừng già, những loại đất này thường có độ phì cao nên cho năng suất cây trồng cao hơn các loại nương khác

Diện tích đất tự nhiên 135 ha, trong đó diện tích đất trồng lúa 9,5 ha, đất hai

vụ 7,5 ha, đất một vụ 2 ha Một số loại cây trồng phổ biến khác tại địa phương như chít: 10ha, chuối tây: 5ha, ngô 4,5 ha, khoai môn: 3ha,…

Các cây trồng chủ yếu là chuối, chít, ngô,… Ở Nà Cà hầu như nhà nào dù ít hay nhiều cũng trồng chuối, chít, ngô, gừng,… để phục vụ chăn nuôi và để bán cho các thương lái từ thành phố Bắc Kạn vào tận nơi thu mua Được biết 1kg chít tươi bán được 5 nghìn đồng, chít khô 19 nghìn/kg, chuối 2 nghìn/kg, được thu mua thành từng buồng, mỗi buồng trung bình từ 25 – 50 nghìn/kg Vài năm trở lại đây cây khoai môn cũng đã trở thành cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao, mỗi cân khoai môn có giá trị từ 12 – 13 nghìn/kg

Chăn nuôi chủ yếu để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp (cung cấp phân bón, sức kéo), cung cấp nguồn thực phẩm hàng ngày và đặc biệt là phục vụ cho các nghi lễnhư đám ma, lễ cấp sắc và cưới hỏi

Những năm gần đây, chăn nuôi đã trở thành mặt hàng đem lại nguồn thu nhập

9 Cổng thông tin điện tử xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, Bắc Kạn

http://bachthong.backan.gov.vn/subsites/Pages/45/XC3A320ME1BBB920Th-c4eca6f3b21f19f9.aspx

Trang 30

đáng kể cho bà con.Các loại vật nuôi chủ yếu là trâu, lợn và gà Gia đình nào cũng

nuôi vài chục con gà với vài con lợn Đặc sản“lợn mán” thực sự đã trở thành thương

hiệu của người Dao Việc chăn nuôi lợn do vậy cũng được người dân chú trọng và đóng một vai trò quan trọng trong nguồn thu nhập của các hộ gia đình nơi đây Nhất là

từ khi giao thông đi lại trở nên thuận tiện, việc buôn bán giao thương với các địa phương khác ngày càng trở nên phổ biến.Chính vì vậy, chăn nuôi ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của các hộ gia đình trong thôn

Thủ công nghiệp chủ yếu để phục vụ cho nông nghiệp và các sinh hoạt thường ngày của gia đình như: đan lát, làm mộc,… và được tiến hành trong phạm vi gia đình Khai thác các nguồn lợi tự nhiên như: hái lượm, săn bắn, đánh cá trong những ngày nông nhàn cũng có vai trò nhất định trong hoạt động kinh tế vừa góp phần bổ sung nguồn thực phẩm cho các bữa ăn hàng ngày của gia đình và còn có thể trở thành nguồn hàng hóa đóng góp vào nguồn thu nhập gia đình

Từ sau cuộc vận động định canh – định cưtheo nghị quyết 38/CP ngày 12/3/1968

của Đảng và Chính phủ, người Dao Đỏđã hạ sơn tập trung sinh sống tại thôn Nà Cà từ

đầu những năm 70 đến nay

Kể từ đó đến nay, cuộc sống của đồng bào người Dao Đỏ nơi đây đã khác trước rất nhiều.Mặc dù vẫn dựa vào canh tác nương rẫy là chính nhưng tập quán du canh du cư trước đây đã không còn.Các ngôi nhà gỗ, nhà xây đã dần thay thế cho các ngôi nhà đan bằng tre nứa như trước kia Một số hộ gia đình còn sắm sửa được

ti vi, điện thoại và phương tiện đi lại như xe đạp, xe máy,

Tuy đã đạt được những thành tựu nhất định trong phát triển kinh tế xã hội nhưng thôn Nà Cà vẫn còn rất nhiều khó khăn.Đặc biệt, trình độ dân trí của người dân trong thôn nhìn chung còn rất thấp, đa số đều chưa học hết cấp hai

Mặt khác do xuất phát điểm đi lên từ nền kinh tế còn thấp, cơ sở hạ tầng lại còn nhiều hạn chế, do vậy việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi chưa mạnh dạn, mới chỉ dừng lại ở một số mô hình manh mún, nhỏ lẻ Diện tích ruộng nước, việc thâm canh cây trồng còn gặp nhiều khó khăn Tiềm năng đất đai của địa phương chưa được tận dụng và khai thác có hiệu quả Chính vì vậy, cái nghèo vẫn mãi đeo đuổi người dân

Trang 31

nơi đây.Năm 2015 có 6 hộ nghèo, 4 hộ cận nghèo trên tổng số 56 hộ 10

1.2 Đôi nét về người Dao Đỏ ở Bắc Kạn

1.2.1 Người Dao ở Bắc Kạn

Theo nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu sớm nhất là vào thế kỷ XIII người Dao đã

có mặt tại Việt Nam.11 Trải qua quá trình dài sinh sống người Dao đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.Theo thống kê năm

1999, người Dao ở nước ta có 620.538 người, chiếm 0,81% dân số cả nước , đông thứ

9 trong các dân tộc Việt Nam (Cơ cấu dân số cả nước tại thời điểm 1/4/1999 theo dân tộc) Người Dao ở nước ta có nhiều tên gọi khác nhau và rất nhiều nhóm địa phương khác nhau song căn cứ vào một số đặc điểm văn hóa có thể chi thành 7 nhóm đó là:

- Dao Đỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao Sừng, Dao Dụ Lạy, Dao Đại Bản)

- Dao Tiền (Dao Đeo Tiền, Dao Tiểu Bản)

- Dao Quần Chẹt (Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga Hoàng, Dao Dụ Cùn)

- Dao Thanh Phán (Dao Lô Giang, Dao Cóc Mùn)

- Dao Quần Trắng (Dao Họ)

- Dao Thanh Y (Dao Chàm)

- Dao Áo Dài (Dao Làn Tẻn, Dao Tuyển)

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Dao ở Việt Nam có 751.067 người, cư trú tại 61 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Nơi tập trung người Dao đông nhất vẫn là các tỉnh miền núi phía Bắc đó là: Hà Giang (109.708 người, chiếm 15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng số người Dao tại Việt Nam), Tuyên Quang (90.618 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 12,1% tổng số người Dao tại Việt Nam), Lào Cai (88.379 người, chiếm 14,4% dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng số người Dao tại Việt Nam),…

10 Thông tin từ trưởng thôn Nà Cà - ông Đặng Phúc Sam, nam, 59 tuổi

11Cao Thị Thường (2014), Hôn nhân hỗn hợp của người Dao Thanh Y ở xã Thương Yên Công, thành phố

Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Luận văn Thạc sĩ Lịch sử năm 2014, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà

Nội, tr 12 – 13.

Trang 32

Bắc Kạn cũng là một trong những địa phương tập trung người Dao cư trú với

số lượng lớn 51.801 người chiếm tới 17,6% dân số toàn Tỉnh 12

Dân tộc Dao trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn gồm các nhóm như: Dao Tiền, Dao Thanh Y, Dao Đỏ Với chính sách quan tâm, hỗ trợ các đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà Nước, cuộc sống của đồng bào các tộc người thiểu số nói chung

và đồng bào người Dao nói riêng trên địa bàn tỉnh được cải thiện rõ rệt Vì vậy, quy

mô dân số của người Dao tăng lên rõ rệ Nhất là từ sau cuộc vận động định canh – định cư (Theo nghị quyết 38/CP ngày 12/3/1968 ), đến nay đồng bào dân tộc Dao trên địa

bàn tỉnh nhìn chungđã ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế

Bảng 1.5 Số dân tộc Dao trên địa bàn Tỉnh Bắc Kạn

(Đơn vị: người)

(Nguồn: Số liệu tổng điều tra ngày 01/4/2009,Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn)

1.2.2 Nhóm Dao Đỏ thôn Nà Cà, xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, Bắc Kạn

Dân tộc Dao là là một trong những dân tộc có nhiều nhóm địa phương nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Nếu dựa theo tên tự gọi của đồng bào, tên phiếm xưng, và những tên mà các tộc người khác đặt cho thì có tới 30 nhóm Dao khác nhau Song theo phân loại của nhiều nhà dân tộc học, căn cứ vào một số đặc điểm văn hóa, người Dao ở nước ta gồm 7 nhóm: Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Chẹt, Dao

Trang 33

Thanh Phán, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y.13 Ngoài tên gọi chung của người tộc người Dao là Kìm Miền: có nghĩa là người ở rừng (kìm: rừng; miền: người), Dìu Miền

là người Dao (Dìu: Dao) , Mán, Xá, Động…thuộc nhóm ngôn ngữ H’mông – Dao Cũng như các nhóm Dao khác, Dao Đỏ cũng có nhiều tên gọi khác nhau để chỉ riêng

về nhóm Dao mình như Dao Cóc Ngáng, Dao Sừng, Dao Dụ Lạy, Dao Đại Bản Đặc điểm nổi bật dễ nhận biết nhất của nhóm Dao Đỏ đó là trang phục trong lễ cưới của người phụ nữ Dao Đỏ Những cô gái khi đến tuổi cập kê thường tự chuẩn

bị cho mình trang phục truyền thống để mặc trong lễ cưới.Lễ phục được làm rất cầu

kỳ, công phu với nhiều màu sắc rực rỡ chủ yếu là màu đỏ.Tuy nhiên, do quá trình sinh sống, định cư nên ở những địa phương khác nhau bộ trang phục của người Dao cũng có những sự khác biệt nhất định

Hiện nay, chưa có thống kê cụ thể về dân số của nhóm Dao Đỏ ở Bắc Kạn Chỉ biết rằng, người Dao Đỏ cư trú chủ yếu ở các huyện Bạch Thông, Ba Bể, Chợ Đồn Trong đó, trên địa bàn huyện Bạch Thông, người Dao Đỏ tập trung chủ yếu ở

Mỹ Thanh và đông nhất là tại hai thôn Nà Cà và Phiêng Kham Trong đó thôn Nà

Cà với gần 100% đồng bào là người dân tộc Dao Đỏ Chính vì vậy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào người Dao Đỏ nơi đây vẫn còn bảo lưu được tương đối trọn vẹn Đặc biệt trang phục truyền thống và một số phong tục như ma chay, cưới xin được người dân giữ gìn khá tốt

Những người cao tuổi ở thôn Nà Cà cho biết, trước đây người Dao Đỏ sống du canh – du cư, không ở cố định một nơi mà cứ đi đến đâu thấy đất tốt thì lại dựng

nhà ở đó, sau vài ba vụ thì lại chuyển đi nơi khác Thế mới có chuyện “Tuy cùng là

anh em ruột nhưng có người người sinh ở Cốc Kam, người thì sinh ở Cốc Keng…người Dao Đỏ đi làm nương ở khắp mọi nơi, cứ thấy rừng già đất tốt thì chuyển sang làm ”(H.K.Phúc, nam, 68 tuổi)

Người Dao Đỏ ở đây vốn từ các nơi khác như Bản Luông, Cao Sơn, Na Rì,

13 Lý Hành Sơn(2001),Các nghi lễ chủ yếu trong đời người của nhóm Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn,

Nxb Khoa học xã hội, tr 10 – 11

Trang 34

Tham Ưng,… cách Nà Cà 9 – 15km được vận động “hạ sơn” tập trung về sinh sống

tại đây từ những năm 70 đến nay Ban đầu nơi đây chỉ có người Tày sinh sống, sau người Dao Đỏ đến thấy nơi đây làm ăn tốt nên ngày càng nhiều các hộ gia đình

chuyển về đây định canh – định cư thay vì “nay đây mai đó” như trước kia

Ngoài các tên gọi là Dao Đỏ, Kiềm Miền (Người rừng), Mán Đỏ,… người Dao Đỏ thôn Nà Cà còn có các tên gọi khác là “Dụ Chiang”- đây là tên riêng của

người Dao Đỏ thôn Nà Cà

Cuối những năm 80 người Tày chuyển đi ra các thôn ngoài gần trung tâm xã

và bán lại ruộng đất cho người Dao.Từ đó đến nay nơi đây hầu như chỉ còn người Dao Đỏ sinh sống ở thôn Nà Cà.Những năm gần đây, việc kết hôn giữa người Dao

Đỏ với người dân tộc khác ngày càng trở nên phổ biến khiến cho bức tranh tộc người thôn Nà Cà trở nên đa dạng hơn Chủ yếu là người Tày, Nùng về đây làm dâu, chỉ có một trường hợp cô dâu người Sán Chỉ Tuy nhiên, số lượng người Dao vẫn chiếm tuyệt đại đa số, hơn 96 % là đồng bào người Dao Đỏ

Bảng 1.6 Số hộ có nhà ở chia theo loại nhà ở và đơn vị hành chính huyện Bạch Thông

(Đơn vị: hộ)

Số hộ có nhà ở chia theo loại nhà ở

Trang 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Với những đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện kiện tự nhiên, xã hội và thực trạng nền kinh tế hiện nay, Mỹ Thanh là xã không có nhiều thuận lợi đặc trưng, tuy nhiên trong từng lĩnh vực cụ thể cũng có những thế mạnh nhất định đó là:

Xã nằm gần các trung tâm tỉnh lỵ, đây là một tiền đề thuận lợi trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm nông lâm nghiệp.Điều kiện thời tiết, khí hậu tương đối ôn hoà, phù hợp cho chồng trọt và chăn nuôi

Diện tích đất sản xuất nông nghiệp nhất là đất trồng lúa nước tương đối lớn so với các địa phương lân cận, chất lượng đất tốt và tập trung.Về thuỷ lợi được đầu tư xây dựng cơ bản đáp ứng tưới tiêu được hơn 90% tổng diện tích đất của xã

Hệ thống đường giao thông nông thôn bước đầu triển khai thực hiện có sự đồng tình ủng hộ của người dân

Lực lượng lao động trẻ chiếm tỷ lệ cao so với tổng dân số của địa phương Nếu được đầu tư, phát triển hợp lý đây sẽ là điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự phát triển của địa phương trong tương lai

Dân tộc Dao là là một trong những dân tộc có nhiều nhóm địa phương nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.Theo phân loại của nhiều nhà dân tộc học, căn cứ vào một số đặc điểm văn hóa, người Dao ở nước ta gồm 7 nhóm: Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Phán, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y

Trên địa bàn xã Mỹ Thanh, thôn Nà Cà là một trong những địa phương có số lượng người Dao Đỏ tập trung với số lượng lớn.Chiếm tới 96% dân số của thôn.Họ

có những truyền thống văn hóa đặc sắc, phong phú đặt biệt trong vấn đề hôn nhân

và gia đình

Những năm gần đây, nhờ sự quan tâm đầu tư của Nhà nước về cơ sở hạ tầng, chính sách hỗ trợ các hộ nghèo,… đời sống của bà con nơi đây đã phát triển hơn trước rất nhiều Bên cạnh, canh tác nương rẫy, trồng lúa nước người dân biết kết hợp trồng trọt, chăn nuôi phát triển kinh tế đặc biệt trồng cây khoai môn và chăn nuôi lợn thực sự đã trở thành thế mạnh của địa phương, góp phần giúp cuộc sống của đồng bào nơi đây ngày một khấm khá hơn Tuy nhiên,tiềm năng đất đai của địa phương chưa được tận dụng và khai thác có hiệu quả Một mặt do xuất phát điểm đi

Trang 36

lên từ nền kinh tế còn thấp, cơ sở hạ tầng lại còn nhiều hạn chế, mặt khác vậy việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi chưa mạnh dạn, mới chỉ dừng lại ở một số mô hình manh mún, nhỏ lẻ Diện tích ruộng nước ít lại phân bố không tập trung nên việc thâm canh cây trồng còn gặp nhiều khó khăn Do vậy cần có các biện pháp tăng cường đầu tư cở sở hạn tầng trong phát triển trồng trọt và chăn nuôi Mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi tạo cơ sở phát triển kinh tế địa phương bền vững

Bên cạnh đó giáo dục cần được quan tâm đầu tư hơn nữa: tình trạng thiếu thốn

về cơ sở vật chất thiết bị dạy học cũng như trình độ dạy và học vẫn còn nhiều hạn chế Trình độ dân trí của người dân trong thôn còn rất thấp, nhiều trường hợp chưa học hết cấp hai đã bỏ học để đi làm thuê kiếm tiền ở các thành phố, các địa phương khác.Chính vì vậy, cần có biện pháp vận động người dân đi học, tuyên truyền giúp

họ ý thức được tầm quan trọng của việc học tập trong việc phát triển kinh tế gia đình và địa phương

Trang 37

Chương 2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ

THÔN NÀ CÀ TRƯỚC 1986 2.1 Bối cảnh xã hội của hôn nhân – gia đình người Dao Đỏ thôn Nà Cà trước Đổi mới 1986

Người Dao Đỏ thôn Nà Cà vốn từ các nơi khác như Bản Luông, Cao Sơn, Na

Rì, Tham Ưng, Pác Nặm,… những địa phương cách Nà Cà từ 9 – 15 km tập trung

về sinh sống tại thôn Nà Cà từ đầu những năm 70 đến nay, theo cuộc vận động “hạ

sơn”định canh – định cư của Đảng và Nhà nước từ năm 1968

Trước đây người Dao Đỏ vốn sống “nay đây mai đó” thấy đâu rừng già, đất

tốt thì dựng nhà làm nương, ở được một thời gian rồi lại chuyển đi, nên cuộc sống

vô cùng bấp bênh, khó khăn Theo lời kể của các bậc cao tuổi trong làng “Trước

đây người Dao Đỏ sinh sống thành từng bản chứ không thành thôn như bây giờ, mỗi bản chỉ có khoảng 3- 4 nhà, chỗ nào đông thì có khoảng chục nhà,đều sinh sống bằng trồng lúa, trồng ngô trên nương rẫy, làm được vài ba vụ thì lại chuyển đi rồi dựng nhà, làm nương ở đó Nhưng làm nương, làm rẫy không đủ ăn, phải ăn cả

củ mài, của nâu, khổ không kể đâu cho hết”(L.T.Nguyên, nữ, 79 tuổi).

Từcuối những năm 60 của thế kỷ trước đồng bào được vận động “hạ sơn”

xuống thôn Nà Cà Lúc đầu chỉ có một vài hộ xuống, sau thấy làm ăn được nên có nhiều hộ theo xuống hơn Ban đầu trước khi người Dao Đỏ xuống thì định cư thì đây vốn là địa bàn cư trú của người Tày, sau này khoảng cuối những năm 80 người Tày chuyển đi ra ngoài các thôn gần trung tâm xã làm ăn thì nơi đây chỉ còn người Dao Đỏ Người Tày chuyển đi bán lại ruộng đất cho người Dao Đỏ nên từ đó người

Dao Đỏ mới có ruộng để trồng lúa nước thay vì trồng lúa nương như trước đây

Theo định hướng của Đảng và sự chỉ đạo trực tiếp từ các cán bộ địa phương người dân Nà Cà bắt tay vào con đường làm ăn tập thể, lấy hợp tác xã làm đơn vị sản xuất Từ bỏ lối canh tác du canh du cư trước kia mà chuyển hẳn về định cư tại thôn Nà Cà và tập trung thành các nhóm hoạt động trong các tổ hợp tác xã, cùng ăn, cùng làm, cùng hưởng lợi ích như nhau

Trang 38

Nếu so với cuộc sống du canh du cư trước kia đời sống của đồng bào nhìn chung đã có những bước phát triển nhưng không đáng kể Hầu hết người dân trong thôn đều nằm trong diện nghèo đói

Tuy nhiên, vì nằm cách xa trung tâm huyện, cơ sở hạ tầng chưa được quan tâm đầu tư thỏa đáng nên người dân đi lại rất khó khăn, nền kinh tế nhìn chung khép kín, mang nặng lối tự cung tự cấp Điều kiện sống và cơ sở vật chất còn vô cùng thiếu thốn, công cụ sản xuất thô sơ và thiếu sức kéo trầm trọng.Hôn nhân cũng chỉ diễn

ra trong nội bộ tộc người.Truyền thống sinh con nhiều, sinh con không có kế hoạch, nạn tảo hôn, thách cưới bằng bạc trắng cùng với trình độ dân trí thấp nên cuộc sống của đồng bào gặp vô vàn khó khăn

2.2 Đặc điểm hôn nhân – gia đình người Dao Đỏ thôn Nà Cà trước 1986

2.2.Một số đặc điểm trong hôn nhân

- Một số quan niệm truyền thống trong hôn nhân:

Lấy vợ/ lấy chồng sớm (Tảo hôn):

Giống như nhiều tộc người khác, người Dao Đỏ xem việc lấy vợ lấy chồng là việc hệ trọng cả đời.Một người muốn được các thành viên trong cộng đồng kính trọng thì trước hết phải có gia đình Đặc biệt đối với đàn ông Dao Đỏ bên cạnh nghi lễ trưởng

thành quan trọng là “lễ cấp sắc” thì việc lập gia đình cũng là tiêu chuẩn khẳng định sự

trưởng thành của người đàn ông Đàn ông người Dao Đỏ nếu chưa lấy vợ thì họ không thể đảm trách vị trí là người chủ gia đình dù anh ta có là con trai trưởng

Theo số liệu thực tế qua khảo sát tại địa bàn cho thấy tuổi kết hôn trung bình của nam nữ thanh niên người Dao Đỏ thời kỳ trước Đổi mới khá sớm Trước 1986 tuổi kết hôn trung bình ở nữ 18,36, nam là 20,7 tuổi(Nguồn: Số liệu điều tra 3/2015)

Đồng bào quan niệm việc hôn nhân đại sự của con cái là nghĩa vụ của các bậc cha mẹ Cha mẹ phải lo hết cho các con lấy vợ, lấy chồng ổn định cuộc sống mới được cho là làm tròn bổn phận, trách nhiệm, nhất là khi đó bố mẹ vẫn còn trẻ còn có thể giúp ích được cho con cái Nam nữ người Dao Đỏ khoảng 15, 17 tuổi – đã được

bố mẹ chuẩn bị cho những bước cần thiết để lập gia đình Đồng bào quan niệm tuổi

Trang 39

này đã biết làm ăn và có thể lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái Chính vì vậy, việc kết hôn sớm – Tảo hôn khá phổ biến trong cộng đồng người Dao Đỏ

“Trước kia các cụ lấy sớm lắm, 15 - 17 đã lấy rồi, có người còn 12 tuổi, 14 tuổi đã lấy rồi”(Đ.T.Thim, nữ, 57 tuổi)

Mặt khác, do tập quán sinh nhiều con, đặc biệt đối với gia đình nhiều con trai thì trách nhiệm của bố mẹ càng nặng nề Các ông bố bà mẹ người Dao Đỏ phải làm lụng vô cùng vất vả để khi đến tuổi trưởng thành có đủ lễ vật đi hỏi vợ cho con trai Các lễ vật bắt buộc phải có là bạc trắng, trang sức, quần áo cô dâu, thịt lợn, gạo, rượu,…bao nhiêu người con trai là phải chuẩn bị bằng đấy bộ quần áo và khoảng 10

- 15 đồng bạc trắng chưa kể đến các lễ vật thách cưới khác Chính vì vậy, việc dựng

vợ, gả chồng cho con cái cần được xúc tiến nhanh chóng để còn lo cho các đứa con tiếp theo Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng kết hôn sớm – Tảo hôn trong cộng đồng người Dao Đỏ trước kia

Lý do kết hôn và người quyết định trong hôn nhân

Xưa kia, hôn nhân mai mối khá phổ biến Mặc dù trước khi đi đến hôn nhân, nam

nữ người Dao Đỏ cũng được tự do kết bạn, tìm hiểu nhau và thổ lộ tình yêu qua các buổi làm đồng, đi chơi, nhất là qua các dịp chợ phiên, trong các ngày lễ hội hay tại các đám cưới Tuy nhiên, tất cả chỉ dừng lại ở tình yêu còn có tiến tới hôn nhân hay không

là phải tuân theo những nguyên tắc của gia đình, họ mạc và của cộng đồng

Việc kết hôn nhiều khi không dựa trên cơ sở tình yêu mà phần lớn do sự sắp đặt từ phía bố mẹ Có trường hợp do bố mẹ hai bên quý mến nhau, muốn kết thông gia với nhau nên ngay từ khi còn nhỏ, thậm chí chưa ra đời, một số chàng trai cô gái người Dao Đỏ đã được đính ước với nhau Lớn lên chỉ cần đủ tuổi (theo quan niệm của người Dao khi cô gái, chàng trai khoảng 15- 17 tuổi) họ sẽ được cha mẹ hai bên

tổ chức hôn lễ

Tuy nhiên, cũng có không ít trường hợp đôi trai gái tự tìm hiểu thấy hợp nhau thì chàng trai sẽ nói với bố mẹ để bố mẹ đến nhà cô gái thưa chuyện.Nếu thuận lợi hai bên chưa có mối nào, số mệnh lại hợp nhau thì hôn sự sẽ thành Nhưng phổ biến vẫn là bố

mẹ sẽ tự tìm vợ cho con trai mình mà không cần thông qua ý kiến của con cái Khi phỏng vấn nhiều cặp vợ chồng cho biết, trước yêu người khác nhưng bố mẹ không

Trang 40

chấp thuận nên phải lấy người chồng/ vợ hiện tại, có trường hợp đến khi cưới cô dâu,

chú rể mới biết mặt nhau Nên trước kia hôn nhân theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi

đấy”có thể coi là một nét văn hóa trong tập quán hôn nhân của người Dao Đỏ

“Trước có quen nhiều người nhưng bố mẹ không ưng, muốn phải lấy chồng bây giờ nên lấy”(T.T.Duyên, nữ, 63 tuổi)

“Trước cũng hai bác có học cùng nhau nhưng không yêu, bố mẹ quen biết nhau, đi hỏi cho thấy hợp hợp thì lấy thôi” (H.T.Đường, nữ, 55 tuổi)

“Ông bà ngày xưa cứ thấy bảo lấy người này thì cứ đi lấy, ăn hỏi xong, cưới xong mới biết mặt ấy, về đến nhà mới biết mặt”(B.T.Khé, nữ, 56 tuổi)

Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới các cuộc hôn nhân thường là bổ sung thêm sức lao động trong gia đình Vì trước kia để có thể nuôi được một gia đình lớn (thường

từ ba đến bốn thế hệ, khoảng 15 - 20 nhân khẩu trong một gia đình) cùng với lối canh tác du canh – du cư nên nhu cầu về lực lượng lao động luôn là vấn đề lớn trong các gia đình người Dao Đỏ để giải quyết tình trạng thiếu ăn xảy ra triền miên Nhiều gia đình không có con trai thì thông qua hôn nhân việc lấy rể sẽ bổ sung nên thêm sức lao động cho gia đình Trường hợp các cô gái đi làm dâu là để sinh con, đẻ cái cho nhà chồng Tuy nhiên, cũng không ít các trường hợp hôn nhân bắt nguồn từ các nguyên nhân khác như vì bố mẹ bắt ép, vì của hồi môn, hay vì tình yêu cũng không phải là hiếm nhưng nhìn chung, mục đích cuối cùng của các cuộc hôn nhân

là sinh con đẻ cái để duy trì dòng họ và có thêm người lao động trong gia đình

- Các tiêu chí lựa chọn bạn đời

Trước đây do cuộc sống hết sức khó khăn, số lượng nhân khẩu trong một gia đình lớn nên vấn đề tăng cường sức lao động trong gia đình là một điều tất yếu, chính vì vậy tiêu chuẩn chọn vợ/ chồng hay chính xác hơn là chọn nàng dâu/ chàng

rể tốt thường dựa trên các tiêu chí sau: Tiêu chí quan trọng nhất của một người con dâu tốt là cần phải có những tư chất như chăm chỉ, biết thu vén công việc nhà, có sức khỏe để lao động và nhất là biết trồng bông, dệt vải, may vá thêu thùa Những

cô gái giỏi giang thường được nhiều gia đình – nhiều mối để ý Đây không chỉ là niềm tự hào đối với bản thân cô gái mà còn của cả gia đình, dòng họ Còn đối với

Ngày đăng: 30/03/2017, 06:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Phương Anh, Phan Ngọc Chiến và Hoàng Trọng (người dịch) (2006), Một số vấn đề và lý thuyết nghiên cứu Nhân học, Nxb đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề và lý thuyết nghiên cứu Nhân học
Tác giả: Vũ Thị Phương Anh, Phan Ngọc Chiến và Hoàng Trọng (người dịch)
Nhà XB: Nxb đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
2. F. Ăng ghen (1984), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước, Tuyển tập Mác – Ăng ghen, tập VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước
Tác giả: F. Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1984
3. T. Barfield (1997), The Dictionary of Anthropology ( Từ điển Nhân học), Nxb Blackwell Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Dictionary of Anthropology ( Từ điển Nhân học)
Tác giả: T. Barfield
Nhà XB: Nxb Blackwell
Năm: 1997
4. Đỗ Thúy Bình (1994), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
5. Đỗ Thúy Bình (1991), Thực trạng hôn nhân các dân tộc phía Bắc, Tạp chí Dân tộc học, số 2, tr 19 – 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Năm: 1991
6. Bế Viết Đẳng (cb), Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung và Nguyễn Nam Tiến (1971), Người Dao ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Dao ở Việt Nam
Tác giả: Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1971
7. Bế Viết Đẳng (cb) (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội miền núi, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
8. Phan Hữu Dật (1998), Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
9. Lê Sỹ Giáo (cb), Hoàng Lương, Lâm Bá Nam và Lê Ngọc Thắng (1995), Dân tộc học đại cương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học đại cương
Tác giả: Lê Sỹ Giáo (cb), Hoàng Lương, Lâm Bá Nam và Lê Ngọc Thắng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
10. Nguyễn Thị Song Hà (2011), Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường Hòa Bình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường Hòa Bình
Tác giả: Nguyễn Thị Song Hà
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2011
11. Phạm Quang Hoan (1993), Vài suy nghĩ về hôn nhân và gia đình các dân tộc ở nước ta hiện nay,Tạp chí Dân tộc học, số 3, tr 44 – 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về hôn nhân và gia đình các dân tộc ở nước ta hiện nay
Tác giả: Phạm Quang Hoan
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc học
Năm: 1993
12. Ngô Công Hoàn (1993), Tâm lý học gia đình, Nxb trường đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học gia đình
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: Nxb trường đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 1993
13. Vũ Tuấn Huy (1998), Những đặc điểm nhân khẩu và kinh tế xã hội của các nhóm dân tộc Mường, H’Mông, Dao và Gia Rai ở Việt Nam, Tạp chí xã hội học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí xã hội học
Tác giả: Vũ Tuấn Huy
Năm: 1998
14. Vũ Tuấn Huy (2004), Những khía cạnh của sự biến đổi gia đình, Tạp chí xã hội học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí xã hội học
Tác giả: Vũ Tuấn Huy
Năm: 2004
15. Đỗ Văn Kiên (2013), Biến đổi gia đình người Dao Quần Trắng ở xã Tân Hương, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Luận văn Thạc sỹ Nhân học năm 2013, Đại học Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi gia đình người Dao Quần Trắng ở xã Tân Hương, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Tác giả: Đỗ Văn Kiên
Nhà XB: Đại học Khoa học xã hội
Năm: 2013
16. Vũ Tuyết Lan (2007), Hôn nhân và gia đình của người Dao Quần Chẹt truyền thống và biến đổi (Nghiên cứu trường hợp xóm Mạ, xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình),Báo cáo tập sự (Tài liệu lưu trữ tại Thư viện DTH), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình của người Dao Quần Chẹt truyền thống và biến đổi (Nghiên cứu trường hợp xóm Mạ, xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình)
Tác giả: Vũ Tuyết Lan
Nhà XB: Báo cáo tập sự (Tài liệu lưu trữ tại Thư viện DTH)
Năm: 2007
46. Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn http://backan.gov.vn/Pages/chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-xay-dung-nong-thon-moi-244/cuoc-thi-sang-tac-245/gioi-thieu-cac-tac-pham-du-thi-233/my-thanh-tuoi-dep-ccfc824b12257248.aspx Link
47. Cổng thông tin điện tử xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, Bắc Kạn http://bachthong.backan.gov.vn/subsites/Pages/45/XC3A320ME1BBB920Th-c4eca6f3b21f19f9.aspx Link
48. Cổng thông tin điện tử xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, Bắc Kạn http://bachthong.backan.gov.vn/subsites/Pages/45/XC3A320ME1BBB920Th-c4eca6f3b21f19f9.aspx Link
49. Luật hôn nhân và Gia đình (2014) http://moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=29058 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1a. Cô dâu Đặng Thùy Linh và phù dâu đang sửa soạn để vào nhà chú rể - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 1a. Cô dâu Đặng Thùy Linh và phù dâu đang sửa soạn để vào nhà chú rể (Trang 138)
Hình 1b. Cô dâu Đặng Thùy Linh đang chỉnh lại trang phục lần cuối trước khi vào - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 1b. Cô dâu Đặng Thùy Linh đang chỉnh lại trang phục lần cuối trước khi vào (Trang 138)
Hình 1d. Toàn cảnh đám cưới của chị Linh và anh Quảng nhìn từ bên ngoài - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 1d. Toàn cảnh đám cưới của chị Linh và anh Quảng nhìn từ bên ngoài (Trang 139)
Hình 1e. Chị Linh đang được chị gái anh Quảng dẫn vào cửa nhà trai - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 1e. Chị Linh đang được chị gái anh Quảng dẫn vào cửa nhà trai (Trang 140)
Hình 1f. Trong ảnh là mẹ và bố của anh Quảng đang ngồi trò truyện tiếp đoàn thônggia - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 1f. Trong ảnh là mẹ và bố của anh Quảng đang ngồi trò truyện tiếp đoàn thônggia (Trang 140)
Hình 1g. Khách khứa trong đám cưới nhà anh Quảng và chị Linh - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 1g. Khách khứa trong đám cưới nhà anh Quảng và chị Linh (Trang 141)
Hình 1h. Họ hàng và bà con trong thôn đang phụ giúp làm cỗ cưới cho gia đình anh Quảng - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 1h. Họ hàng và bà con trong thôn đang phụ giúp làm cỗ cưới cho gia đình anh Quảng (Trang 141)
Hình 1i. Mâm cỗ với đầy đủ các món giống với một đám cưới của người Kinh - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 1i. Mâm cỗ với đầy đủ các món giống với một đám cưới của người Kinh (Trang 142)
Hình 1k. Ảnh cưới của chị Linh và anh Quảng - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 1k. Ảnh cưới của chị Linh và anh Quảng (Trang 142)
Hình 2b. Tái hiện lại cảnh cô dâu về nhà chồng - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 2b. Tái hiện lại cảnh cô dâu về nhà chồng (Trang 143)
Hình 3. Ảnh cưới của anh Thọ và chị Thương trong chuyến chụp ngoại cảnh ở Ba Bể - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 3. Ảnh cưới của anh Thọ và chị Thương trong chuyến chụp ngoại cảnh ở Ba Bể (Trang 144)
Hình 4. Ảnh cưới của anh Bàn và chị Noóng - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 4. Ảnh cưới của anh Bàn và chị Noóng (Trang 144)
Hình 5a.Ảnh cưới của anh Thời và chị Mai – hai anh chị là cặp duy nhất trong thôn - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 5a. Ảnh cưới của anh Thời và chị Mai – hai anh chị là cặp duy nhất trong thôn (Trang 145)
Hình 5b. Giống như nhiều cặp vợ chồng khác ở trong thôn, anh Thời và chị Mai - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 5b. Giống như nhiều cặp vợ chồng khác ở trong thôn, anh Thời và chị Mai (Trang 146)
Hình 7.Bà Hoàng Thị Lún – một trong những người hiếm hoi còn biết dệt dây quai - Biến đổi hôn nhân và gia đình của người dao đỏ thôn nà cà, mỹ thanh, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
Hình 7. Bà Hoàng Thị Lún – một trong những người hiếm hoi còn biết dệt dây quai (Trang 147)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm