1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng ẩn dụ ngữ pháp của halliday vào việc phân tích một số kiểu câu tiếng việt

92 898 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngữ pháp chức năng hệ thống Chủ nghĩa chức năng không coi ngôn ngữ như là một tập hợp các quy tắc mà như là một nguồn lực, một cách thức của hành động, hay một hành vi xã hội.. N

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐÀM THỊ THUÝ

ÁP DỤNG ẨN DỤ NGỮ PHÁP CỦA HALLIDAY VÀO VIỆC PHÂN TÍCH MỘT SỐ KIỂU CÂU

TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐÀM THỊ THUÝ

ÁP DỤNG ẨN DỤ NGỮ PHÁP CỦA HALLIDAY VÀO VIỆC PHÂN TÍCH MỘT SỐ KIỂU CÂU

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Đối tượng nghiên cứu 4

3 Tư liệu nghiên cứu 4

4 Mục đích nghiên cứu 4

5 Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu và thủ pháp nghiên cứu 4

7 Ý nghĩa đề tài 5

8 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG 1 6

CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Dẫn nhập 6

1.2 Sơ lược về ngữ pháp chức năng hệ thống 6

1.2.1 Ngữ pháp chức năng hệ thống 6

1.2.2 Các siêu chức năng trong ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday 8

1.3 Về khái niệm ẩn dụ ngữ pháp 12

1.4 Về các kiểu câu trong tiếng Việt 20

1.5 Tiểu kết 23

CHƯƠNG 2 24

MÔ HÌNH ẨN DỤ CHUYỂN TÁC TRONG CÂU TIẾNG VIỆT 24

2.1 Dẫn nhập 24

2.2 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu 24

2.2.1 Các kiểu quá trình 25

2.2.2 Tham thể và chu cảnh 26

2.3 Mô hình ẩn dụ chuyển tác trong câu tiếng Việt 30

2.4 Cách lập ngôn ẩn dụ ngữ pháp trong tiếng Việt 33

2.4.1 Danh hóa động từ 36

2.4.2 Danh hóa tính từ 39

2.5 Tiểu kết 41

MÔ HÌNH ẨN DỤ LIÊN NHÂN TRONG CÂU TIẾNG VIỆT 42

3.1 Dẫn nhập 42

3.2 Ẩn dụ thức trong tiếng Việt 42

3.2.1 Câu trần thuật 44

3.2.2 Câu nghi vấn 44

3.2.3 Câu cầu khiến 51

3.2.4 Câu cảm thán 55

3.3 Vấn đề tình thái 59

3.3.1 Khái niệm tình thái 59

3.3.2 Một số phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt 61

Trang 4

3.3.3 Ẩn dụ tình thái 62

3.4 Tiểu kết 72

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 77

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đã từ lâu, các đề tài về ẩn dụ luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm và khai thác Mỗi ngành khoa học như triết học, văn học, nhân chủng học, xã hội học, tâm lí học,… lại tiếp cận lí thuyết ẩn dụ từ một góc nhìn khác nhau Đối với ngôn ngữ học, ẩn dụ được nghiên cứu từ bình diện ngữ nghĩa Có thể nói rằng, các lí thuyết ngôn ngữ học về ẩn dụ lấy lí thuyết nghĩa làm nền tảng nghiên cứu Vì thế, lí thuyết ngữ nghĩa khác nhau dẫn đến các lí thuyết ẩn dụ khác nhau Trong đa số các trường phái ngôn ngữ, ẩn dụ thường được tiếp cận từ bình diện nghĩa từ vựng Điển hình như trong bộ khung ngữ pháp tạo sinh, ẩn dụ được giải thích bằng ngữ nghĩa học thành tố (ẩn dụ được xem là sự chuyển tải các nét nghĩa từ Phương tiện sang Chủ đề) Ngoài ra, còn có lí thuyết ngữ nghĩa ẩn dụ dựa trên lí thuyết trường nghĩa (các khía cạnh trường nghĩa của từ hay ngữ chỉ Phương tiện được chuyển vào từ hay ngữ chỉ Chủ đề) Nhưng ngôn ngữ học chức năng hệ thống – một đại diện của hướng tiếp cận ngôn ngữ theo mô hình chức năng đã nghiên cứu ẩn dụ không chỉ ở bình diện từ vựng Trong ngôn ngữ học chức năng của Halliday, một khái

niệm ẩn dụ mới về ẩn dụ được xây dựng: ẩn dụ ngữ pháp Vì sự khác

biệt ấy, hiện nay ở Viê ̣t Nam hiện có rất ít công trình nghiên cứu về vấn

đề này Vì thế, chúng tôi lựa chọn đề tài “Áp dụng ẩn dụ ngữ pháp của Halliday vào viê ̣c phân tích một số kiểu câu tiếng Viê ̣t” cho nghiên cứu

của mình Từ đó xác đi ̣nh rõ ẩn du ̣ hoa ̣t đô ̣ng như thế nào và tác đô ̣ng ra sao trong một số thể loa ̣i văn bản nói chung và trong một số kiểu câu tiếng Việt nói riêng

Nghiên cứu về ẩn du ̣ ngữ pháp giúp chúng ta khẳng đi ̣nh rằng ẩn dụ không chỉ nằm trong khuôn khổ của cấu trúc mang tính so sánh ,

Trang 6

không chỉ nằm trong phạm vi ngữ nghĩa từ vựng mà còn là vấn đề ngữ nghĩa – ngữ pháp và du ̣ng ho ̣c

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ẩn dụ ngữ pháp trong một số kiểu câu tiếng Viê ̣t

3 Tư liệu nghiên cứu

Để thực hiê ̣n đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát một số truyện

ngắn của c tác giả Nguyễn Nhật Ánh (Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Bảy bước đến mùa hè, Chú bé rắc rối, Phòng trọ ba người, Thiên thần nhỏ của tôi), và hai cuốn: Truyện ngắn hay 2014, Truyện ngắn đặc sắc 2014

(nhiều tác giả)

4 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu và làm sáng rõ ẩn dụ ngữ pháp theo quan niê ̣m của Halliday , cụ thể là tập trung làm nổi bật các phương thức thể hiện mô hình chuyển tác và mô hình liên nhân trong tiếng Việt

5 Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu

Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu của luâ ̣n văn là:

- Tìm hiểu và làm rõ khái niệm ẩn dụ , cụ thể là ẩn dụ ngữ pháp theo quan điểm của Halliday để làm cơ sở cho viê ̣c nghiên cứu

- Thu thập tư liệu và phân loại các kiểu quá trình

- Phân tích các phương thức thể hiện mô hình ẩn dụ chuyển tác và

mô hình ẩn dụ liên nhân của các kiểu câu tiếng Việt

6 Phương pháp nghiên cứu và thủ pháp nghiên cứu

- Luâ ̣n văn sử du ̣ng phương pháp miêu tả , phương pháp phân tích ngữ nghĩa ngữ pháp để làm nổi bật các mô hình ẩn dụ ngữ pháp

Trang 7

- Ngoài ra, luận văn còn sử du ̣ng các thủ pháp nghiên cứu như: thủ pháp thống kê, đó là thống kê số lần sử du ̣ng các kiểu câu theo quá trình, các vị từ tình thái, … trên các nguồn tư liệu nghiên cứu

7 Ý nghĩa đề tài

- Ý nghĩa lí luận : Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ rằng ẩn dụ ngữ pháp chính là con đường lập ngôn giúp con người tạo ra những cách biểu hiện ẩn dụ mới, làm cho ngôn ngữ hành chức luôn sống đô ̣ng

- Ý nghĩa thực tiễn : Các kết quả nghiên cứu của đề tài hi vọng phần nào sẽ góp thêm hiểu biết và cách nhìn nhâ ̣n về ẩn du ̣ ngữ pháp với sự hành chức của nó trong mô ̣t số kiểu câu tiếng Viê ̣t

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Mô hình ẩn dụ chuyển tác trong câu tiếng Việt

Chương 3: Mô hình ẩn dụ liên nhân trong câu tiếng Việt

Trang 8

1.2 Sơ lược về ngữ pháp chức năng hệ thống

1.2.1 Ngữ pháp chức năng hệ thống

Chủ nghĩa chức năng không coi ngôn ngữ như là một tập hợp các quy tắc mà như là một nguồn lực, một cách thức của hành động, hay một hành vi xã hội Nói theo cách nói của Dik (1978), trong chủ nghĩa chức năng, "nó (ngôn ngữ) được xem như là một công cụ của sự tương tác xã hội giữa người với người, được sử dụng với mục đích chủ yếu là thiết lập các mối quan hệ giữa người nói và người nghe" Bình diện này của ngôn ngữ tạo cơ sở cho một số lí thuyết chức năng như ngữ pháp chức năng của Dik, ngữ pháp Tagmemic của Kenneth Pike, ngữ pháp về bình diện câu chức năng (Functional Sentence Perspective) của trường phái ngôn ngữ học Praha, ngữ pháp chức năng của Hagege Pháp, và nổi bật nhất là ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday

Định ngữ “hệ thống” (systemic) trong tên gọi Ngữ pháp chức năng

hệ thống nhấn mạnh đến tính hệ thống của những sự chọn lựa khả dụng

Trang 9

(available) ở bất kì thời điểm nào trong một cuộc giao tiếp Đó là hệ thống những sự lựa chọn đồng thời về từ vựng-ngữ pháp và ngữ nghĩa khả dụng để biểu thị nghĩa kinh nghiệm, nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản Nói cách khác, hệ thống ngôn ngữ, với tư cách là nguồn lực tạo nghĩa, cung cấp cho chúng ta những sự lựa chọn cần thiết, đảm bảo có thể biểu đạt các loại nghĩa khác nhau

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt được bắt đầu muộn hơn nhiều so với việc nghiên cứu các ngôn ngữ khác trên thế giới, nhưng những thành tựu mà các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và các nhà ngôn ngữ học nước ngoài nghiên cứu tiếng Việt đã đạt được là đáng kể Việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp chức năng xuất hiện vào những năm của thập niên 80 của thế kỉ XX qua một

số bài viết mang tính chất giới thiệu như: Giới thiệu lý thuyết phân đoạn thực tại câu của Lý Toàn Thắng (1981), Vấn đề thành phần câu của

Hoàng Tuệ (1988), nhưng công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm chức năng có hệ thống đầu tiên là sự ra đời của

cuốn sách Tiếng Việt: sơ thảo ngữ pháp chức năng (quyển 1) của Cao

Xuân Hạo (1991) Quan niệm về ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo nhìn chung không khác với quan niệm của các nhà ngữ pháp chức năng trên thế giới như Dik (1978), Martinet (1975), Givón (1979, 1982) Theo ông, ngữ pháp chức năng là "một lí thuyết và một hệ thống phương pháp được xây dựng trên quan điểm coi ngôn ngữ như là một phương tiện thực hiện sự giao tiếp giữa người với người" [ 11] "Ngữ pháp chức năng

tự đặt cho mình cái nhiệm vụ nghiên cứu, miêu tả và giải thích các quy tắc chi phối hoạt động của ngôn ngữ trên các bình diện của mặt hình thức và mặt nội dung trong mối liên hệ có tính chức năng (trong mối liên

hệ giữa những phương tiện và những mục đích) thông qua việc quan sát cách sử dụng ngôn ngữ trong những tình huống giao tế hiện thực không

Trang 10

phải chỉ để lập những danh sách đơn vị và tiểu hệ thống đơn vị ngôn ngữ, mà còn để theo dõi cách hành chức của ngôn ngữ qua những biểu hiện sinh động của nó trong khi được sử dụng" [ 15-16]

Để làm rõ quan điểm chức năng của mình Cao Xuân Hạo viết

"Những quy tắc xây dựng cấu trúc ngôn từ cơ bản - câu - được ngữ pháp chức năng trình bày và giải thích trên cơ sở những mối liên hệ khăng khít giữa ngôn ngữ và tư duy trong việc cấu trúc hóa và tuyến tính hóa những sự tình được phản ánh và trần thuật, trong môi trường tác động của những nhân tố đa dạng của những tình huống và văn cảnh, dưới sự tham gia của những mục tiêu hữu thức hay vô thức của người nói dưới sự chi phối của những công ước cộng tác giữa những người tham dự hội thoại" [ 16]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về ngữ pháp chức năng hiện nay ở Việt Nam chưa nhiều

1.2.2 Các siêu chức năng trong ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday

Theo Halliday, cú (clause) là sự hiện thực hóa đồng thời của các chức năng kinh nghiệm (một số tác giả như Hoàng Văn Vân gọi là chức

năng tư tưởng/ biểu ý hay siêu chức năng phản ánh), chức năng liên nhân và chức năng văn bản (hay ngôn bản theo cách gọi của Hoàng Văn

Vân) Tuy nhiên không thể chỉ rõ phần nhỏ này của cú chuyển tải nội dung ngữ nghĩa này, còn phần khác chuyển tải nội dung ngữ nghĩa khác bởi vì chúng thường không được thể hiện trong những cấu trúc riêng biệt, tách rời nhau Trong một cú (clause) có đến ba bình diện cấu trúc, mỗi bình diện giải thích một loại ý nghĩa khu biệt Halliday gọi ba bình

diện này là cú như là một thông điệp (clause as message), cú như là sự trao đổi (clause as exchange) và cú như là sự thể hiện (clause as representation)

Halliday nhận thấy ngôn ngữ có ba siêu chức năng, đó là:

Trang 11

1.2.2.1 Siêu chức năng kinh nghiệm

Siêu chức năng kinh nghiệm được dùng để truyền tải những thông tin mới, chia sẻ những nội dung mà người nghe chưa biết Siêu chức năng này hiện diện trong việc sử dụng của tất cả các ngôn ngữ, bởi vì cho dù một người sử dụng bất cứ một ngôn ngữ nào với mục đích gì thì anh ta cũng phải nói đến các loại kinh nghiệm của anh ta về thế giới

Siêu chức năng kinh nghiệm kiến tạo và phản ánh kiến tạo của chúng ta về thế giới, về “hiện thực” (reality), có liên quan đến “trường” (field) của diễn ngôn Thế giới kinh nghiệm được thể hiện trong hệ thống chuyển tác (transitivity system), gồm các kiểu quá trình: vật chất, tinh thần, quan hệ, hành vi, phát ngôn và hiện hữu Trên nguyên tắc một quá trình bao gồm ba thành phần kinh nghiệm: (1) Chính quá trình (process types), (2) Các tham thể trong quá trình (participant types), (3) Các chu cảnh liên quan đến quá trình (circumstance types)

Các khái niệm quá trình, tham thể và chu cảnh là những phạm trù

ngữ nghĩa giải thích một cách khái quát nhất các hiện tượng của thế giới

hiện thực được thể hiện trong các cấu trúc của ngôn ngữ như thế nào

Hệ thống chuyển tác thể hiện siêu chức năng kinh nghiệm được

hiển thị thông qua cấu trúc nghĩa biểu hiện Theo cấu trúc nghĩa biểu

hiện, câu được phân chia thành: QUÁ TRÌNH + tham thể (bắt buộc) + cảnh huống (không bắt buộc) Khi phân tích những câu cụ thể chúng ta dùng những khái niệm cụ thể hơn ứng với từng kiểu quá trình trong hệ

thống chuyển tác như: hành thể (Actor), Cảm thể (Senser), Đương thể (Carrier), Đích thể (Goal), Tiếp thể (Recipient),

1.2.2.2 Siêu chức năng liên nhân

Siêu chức năng này thể hiện mối tương tác hai chiều giữa những đối tượng sử dụng ngôn ngữ Siêu chức năng liên nhân liên quan đến không khí (tenor) hay tính tương tác (interactivity) của diễn ngôn Đến

Trang 12

lượt mình, không khí (tenor) hay tính tương tác (interactivity) được diễn giải qua 3 thành tố là sự thể hiện cá nhân của người nói hay người viết (speaker/writer personal), khoảng cách xã hội (social distance) và vị thế

xã hội tương đối (relative social status)

Siêu chức năng này được thể hiện thông qua hệ thống THỨC (Mood system) và hệ thống TÌNH THÁI (Modality system) THỨC chỉ rõ vai trò mà người nói lựa chọn trong tình huống nói và vai trò mà người nói ấn định cho người nghe Chẳng hạn, người nói chọn thức yêu cầu thì anh ta cho mình vài trò ra lệnh và sắp đặt người nghe vào vị trí

tuân lệnh (ví dụ: Đưa cho tôi cái bút đó!) TÌNH THÁI được định rõ

người nói thể hiện sự đánh giá hoặc nói ra dự đoán của mình (ví dụ:

Cuối tuần sẽ có áp thấp)

Theo cấu trúc thức, câu gồm hai phần: Phần thức (Mood) và Phần

dư (Residue) Theo Halliday, thức là một thành phần cụ thể của câu, được đưa đi đẩy lại trong một loạt những trao đổi, đẩy sự tranh cãi về

phía trước Đối với tiếng Anh, thức gồm hai thành phần nhỏ là Chủ ngữ (Subject) và Hữu định (Finite) Hữu định là một trong số tác tử động từ biểu đạt thì (tense) như is, has, was hay tình thái can, might, must Phần

còn lại được Halliday gọi là phần Dư (Residue) Thành phần này bao gồm ba thành phần chức năng Vị ngữ (Predicator), Bổ ngữ (Complement) và Phụ ngữ (Adjunct)

Thuật ngữ "Chủ ngữ" mà Halliday sử dụng tương ứng với thuật ngữ "chủ ngữ ngữ pháp" trước đây, nhưng nó được giải thích theo chức năng, tức là chủ ngữ được đặt trong bình diện liên nhân Ví dụ:

I think he will come here, won't he?

Ở ví dụ trên, Chủ ngữ được xác định sẽ là "he", mà không phải

"I" Theo Halliday, Chủ ngữ là thành phần được tạo dựng lại bởi đại từ ở thành phần đính kèm, thành phần đính kèm ở ví dụ trên là won't he? (có

Trang 13

phải (anh ấy) không?) Thông tin chính mà người nói muốn truyền đạt tới người nghe là "anh ấy có đến đây hay không đến đây" chứ không phải phụ thuộc vào suy nghĩ anh ấy nghĩ như thế nào

Ở Việt Nam, Diệp Quang Ban (2005) đã áp dụng mô hình của Halliday để phân tích câu một cách toàn diện theo ba siêu chức năng Ông cho rằng, trong tiếng Việt, động từ không biến hình thì người ta chỉ

có thể nói đến thức của câu: “Thức của câu là giá trị tình thái của các kiểu câu trong sử dụng” [3, 29] Cấu trúc thể hiện siêu chức năng liên nhân, Diệp Quang Ban cho rằng thức của câu tiếng Việt được diễn đạt bằng những dấu hiệu hình thức (những yếu tố ngôn ngữ) ít nhiều có tính chất chuyên dụng, với tên gọi là biểu thức thức (mood expressions) Biểu thức thức của tiếng Việt diễn đạt thái độ của người nói và được làm thành từ “một số hư từ, một số phụ từ và một số bán thực từ” [3, 29]

1.2.2.3 Siêu chức năng văn bản

Với chức năng này, câu nói được tổ chức như một thông điệp Siêu chức năng văn bản sẽ làm cho câu nói hay một đoạn văn bản mạch lạc và nhất quán, nó được tổ chức một cách rõ ràng Trong tiếng Anh cũng như trong nhiều ngôn ngữ khác, câu nói được tổ chức như một thông điệp bằng việc giao cho một phần của nó một vị thế đặc biệt Một thành phần

trong câu nói được xác định rõ là thành phần Đề ngữ, thành phần này kết

hợp với thành phần còn lại trong câu để tạo ra một thông điệp

Đề ngữ là thành phần được dùng làm xuất phát điểm của thông

điệp Phần còn lại của thông điệp được gọi là Thuyết ngữ Như vậy, cấu trúc của một thông điệp sẽ bao gồm một Đề ngữ và một Thuyết ngữ

Như vậy, có thể nhận thấy các siêu chức năng có các vị thế khác nhau trong câu và các kiểu cấu trúc tương ứng như sau: siêu chức năng

kinh nghiệm được hiển thị thông qua cấu trúc nghĩa biểu hiện với cấu

Trang 14

trúc chức năng tương ứng Tham thể + quá trình + chu cảnh; siêu chức năng liên nhân tương ứng với vị thế của câu như là sự trao đổi, cùng cấu trúc chức năng tương ứng Thứ + Phần dư; siêu chức năng văn bản

tương ứng với câu như là thông điệp, và cấu trúc chức năng tương ứng

Đề ngữ + Thuyết ngữ

1.3 Về khái niệm ẩn dụ ngữ pháp

1.3.1 Khái niệm Ẩn dụ ngữ pháp

Nếu một cái gì đó được cho là ẩn dụ ngữ pháp thì nó phải có tính

ẩn dụ trong mối liên hệ với một cái gì khác Điều bày thường được thể hiện như là một mối quan hệ một chiều: một ý nghĩa ẩn dụ nào đó của một từ có sự tương ứng của một ý nghĩa phi ẩn dụ của một từ khác không được cho là có "nghĩa đen" Halliday (1985) cho rằng, phép ẩn dụ không nhất thiết xảy ra ở cấp độ từ vựng mà còn ở cấp độ ngữ pháp, người ta gọi là phép ẩn dụ ngữ pháp Tuy nhiên, ở đây chúng ta đang xem ẩn dụ không phải "từ dưới lên", như là một sự thay đổi về ý nghĩa của một cách diễn đạt nhất định, mà lại xem nó "từ trên xuống", như là một sự thay đổi về cách diễn đạt của một ý nghĩa nhất định

nhìn ‘từ dưới lên’ nhìn ‘từ trên xuống’ nghĩa đen nghĩa ẩn dụ ‘many people [protested]’

(nhiều người phản đối)

a flood [of protets]

Ngữ pháp chức năng của Halliday chỉ nghiên cứu một bình diện là nghĩa, do đó ở đây nghĩa được hiểu chính là chức năng và có ba cấu

Trang 15

trúc khác nhau để biểu thị ba loại nghĩa: nghĩa liên nhân, nghĩa kinh nghiệm và nghĩa văn bản Theo đó, cấu trúc dùng để biểu thị nghĩa liên nhân là cấu trúc Thức (Phần thức + Phần dư), cấu trúc để biểu thị nghĩa kinh nghiệm là Quá trình + Tham thể + Chu cảnh và cấu trúc biểu thị nghĩa văn bản là Đề + Thuyết Khi cấu trúc vốn biểu thị loại nghĩa này được dùng để biểu thị loại nghĩa khác thì ta có ẩn dụ ngữ pháp (grammatical metaphor)

Có thể thấy rằng, ẩn dụ ngữ pháp khác với ẩn dụ từ vựng Yếu tố ngữ nghiã – từ vựng vốn thường được thể hiện bằng một từ, giờ được thể hiện bằng một từ khác; chính từ khác này lại thể hiện một từ khác nữa Loại ẩn dụ này là ẩn dụ từ vựng

1.3.2 Các loại ẩn dụ ngữ pháp

Halliday đã phân biệt hai loại ẩn dụ ngữ pháp chính:

Có hai loại ẩn dụ ngữ pháp chính trong mệnh đề: ẩn dụ thức (trong

đó bao gồm ẩn dụ tình thái) và ẩn dụ chuyển tác Xét về mô hình chức năng ngữ nghĩa, theo thứ tự có ẩn dụ liên nhân và ẩn dụ ý niệm (Halliday, 1994) Một số chi tiết cụ thể về hai loại ẩn dụ này sẽ được thảo luận ở trong phần tiếp theo

bộ có giới hạn các loại quá trình (vật chất, tinh thần, quan hệ, hành vi, vị

từ, tồn tại) Các quá trình này được nhận biết như là cấu hình của các chức năng chuyển tác, thể hiện quá trình, các tham tố trong sự tình (tình

Trang 16

huống), các định ngữ (thuộc tính) được gán vào các tham tố và chu cảnh gắn liền với quá trình Các quá trình được nhận biết một cách điển hình bằng các nhóm động từ; các tham tố (người hành động (hành thể), người thụ cảm, hiện tượng, vật mang v.v…) thường được gọi là nhóm danh từ; các định ngữ của tham tố thường được thể hiện bằng các tính từ; và chu cảnh (bối cảnh) (về thời gian, nơi chốn, cách thức v.v…) nói chung gắn liền với nhóm động từ hay cụm giới từ Chúng là các mô hình điển hình của sự thể hiện về mặt ngữ pháp ngữ nghĩa (cái mà Halliday gọi là các dạng thức đồng dạng), nhưng những mã hóa (mô hình) ít điển hình hơn cũng luôn tiềm ẩn sẵn có đối với người sử dụng ngôn ngữ (chẳng hạn như các dạng thức ẩn dụ) Để minh họa hãy xem xét hai ví dụ sau:

(a) We walked in the evening along the river to Henley (Chúng tôi đi bộ vào ban đêm dọc theo bờ sông tới Henley

(b) Our evening walk along river took us to Henley (chuyến đi

bộ vào ban đêm dọc sông đã đưa chúng tôi tới Henley

Có thể dễ dàng quan sát thấy rằng cả hai mệnh đề (a) và (b) đều cho phép chúng ta mô tả cùng một sự tình Tuy nhiên, các thành phần cấu tạo quá trình trong (a) đã được miêu tả trong một kiểu đồng dạng, trong khi đó, (b) chứng tỏ sự ưu tiên đối với các thức ẩn dụ của sự diễn đạt Do đó, quá trình vật chất walk (đi bộ) được miêu tả bằng một động

từ trong (a), được mã hóa trong (b) với tư cách là một tham tố (Actor, hành thể) có được sự diễn đạt về từ vựng bằng một danh từ Hai yếu tố chu cảnh như thời gian (trong buổi tối) và nơi chốn (dọc sông) lần lượt trở thành loại từ và tính ngữ của hành thể mới (the new Actor); chu cảnh về thời gian ở đây được mô tả với tư cách là một danh từ, trong khi đó yếu tố địa điểm vẫn giữ nguyên là một cụm giới từ (cho dù ở cấp bậc khác trong mệnh đề) Hành thể của (a) được chia tách thành 2 phần; phần đầu tiên thực hiện chức năng như một người sở hữu của thực thể (chuyến đi bộ buổi tối dọc theo sông của chúng tôi), phần thứ 2 thực hiện

Trang 17

chức năng như hành thể bị tác động (us- chúng tôi) của một quá trình vật chất mới được diễn đạt bằng động từ took (đưa) Halliday (1994) đã biện luận là một phân tích kết hợp nên phù hợp với các yếu tố của các biến thể ẩn dụ đồng dạng càng nhiều càng tốt để có thể hiểu sự tương phản trong chức năng ngữ pháp một cách đơn giản hơn; điều này có thể cũng giúp chúng ta chỉ ra cái xuất hiện đồng thời của ẩn dụ từ vựng và quan trọng nhất là rút ra kết luận hợp lý vì động cơ mang tính chức năng đối với việc lựa chọn biến thể ẩn dụ:

“on the fifth day”

Thời gian

Actor Hành thể

Place Nơi chốn

Materil Vật chất Prep.phrase

cụm giới từ

n group nhóm danh từ

Prep Phrase group nhóm cụm giới từ

them

họ

at the summit tại cuộc họp thượng đỉnh participant:

tham tố

process quá trình

participant tham tố

circumstance chu cảnh Senser

Người thụ

cảm

Mental Thuộc tâm trí

Phenomenon Hiện tượng

Place Nơi chốn

n.group

nhóm danh từ

Perception Tri nhận Verbal group Nhóm động từ

n gruoup nhóm danh từ

Prep Phrase Cụm giới từ

Trang 18

Có thể chỉ ra “một chuỗi cách thể hiện ẩn dụ” (Halliday, 1994) khi xen vào giữa dạng thức ẩn dụ dưới sự phân tích và một sự diễn đạt hoàn toàn đồng dạng Halliday đã đưa ra minh họa về một chuỗi như vậy trong các ví dụ dưới đây (trong số đó (e) là dạng thức đồng dạng nhất):

a Các tiến bộ trong công nghệ đang thúc đẩy nhanh việc viết các chương trình kinh doanh

b Các tiến bộ trong công nghệ đang làm cho việc viết các chương trình kinh doanh nhanh hơn

c Các tiến bộ trong công nghệ đang cho phép người ta viết các chương trình kinh doanh nhanh hơn

d Bởi vì công nghệ đang được cải tiến, người ta có thể viết các chương trình kinh doanh nhanh hơn

e Bởi vì công nghệ đang trở lên tốt hơn, người ta có thể viết các chương trình kinh doanh nhanh hơn

Ẩn dụ ý niệm được thấy trong tất cả các loại diễn ngôn của người lớn Tuy nhiên hiếm có sự đồng dạng hoàn toàn và bất đồng dạng hoàn toàn: “Dường như trong hầu hết các loại diễn ngôn cả dạng nói và dạng viết, chúng ta có xu hướng thể hiện đâu đó ở giữa hai thái cực này Cái

gì đó mà hoàn toàn đồng dạng dường như có vẻ có một chút tẻ nhạt; trong khi đó cái gì đó mà hoàn toàn bất đồng dạng thì thường có vẻ giả tạo và không tự nhiên.” (Halliday, 1985)

Nói chung, người ta biện luận rằng ngôn ngữ viết có nhiều ẩn dụ

ý niệm hơn diễn ngôn dạng nói Điều này được cho là có sự khác biệt chung hơn trong độ phức tạp: ngôn ngữ viết được cho là “có mức độ dày đặc về từ vựng, trong khi đó ngôn ngữ nói lại có những phức tạp về mặt ngữ pháp”

Trong ngôn ngữ viết, các nghĩa từ vựng khác nhau được “đóng” vào trong một nhóm danh từ đơn lẻ Đây chính là môi trường mà ở đó xuất hiện các ẩn dụ ý niệm Cũng cần phải đề cập đến ở đây là sự giải ẩn

Trang 19

dụ hóa: các ẩn dụ về mặt ngữ pháp dần dần mất đi bản chất ẩn dụ của chúng và trở nên “bị thuần chủng hóa”

Halliday đưa ra 3 loại ẩn dụ chuyển tác bị thuần chủng hóa trong tiếng Anh:

(1) Các cụm từ như: have a bath (tắm), do a dance (khiêu vũ), make a mistake (mắc lỗi)…Trong những dạng thức này, nghĩa quá trình

được diễn đạt bằng Range (dãy/phạm vi) chứ không phải là động từ

(2) Các ví dụ chẳng hạn như she has brown eyes (cô ấy có mắt màu nâu) (câu này có dạng thức đồng dạng là her eyes are brown- mắt

cô ấy màu nâu) hoặc He has a broken wrist (anh ấy có cổ tay bị gãy) (dạng thức đồng dạng là his wrist is broken – cổ tay của anh ấy bị gãy)

(3) Các cách diễn đạt chẳng hạn như: he writes good books – Anh ấy viết sách hay (dạng thức đồng dạng: He writes books, which are good – Anh ấy viết sách, các cuốn sách đều hay) hoặc We sell bargains – chúng tôi bán mặc cả (dạng thức đồng dạng: the thing we sell are cheap – các thứ mà chúng tôi bán là rẻ)

Mệnh đề phóng chiếu có liên quan thường có một từ hoặc một mệnh đề biểu thị niềm tin, khả năng có thể xảy ra, chắc chắn xảy ra hay các đặc điểm khác mà liên tưởng tới tình thái

1 a I think it’s going to rain (Tôi nghĩ trời sắp mưa)

b dạng thức đồng dạng: It is probably going to rain (Có thể

trời sắp mưa)

Trang 20

2 a He doesn’t believe it can be proved by statistics (Anh ấy

không tin là có thể chứng minh bằng số liệu)

b dạng thức đồng dạng: It probably can’t be proved by statistics (Có

lẽ không thể chứng minh bằng số liệu)

Người nói có thể diễn đạt ý kiến của họ bằng các mệnh đề riêng biệt bằng các cách khác nhau:

It is obvious that… (Rõ ràng là…)

Everyone admits that…(Mọi người đều thừa nhận rằng…)

The conclusion can hardly be avoided that…(Kết luận hầu như

không thể tránh được là…)

Common sense determines that…(Phán đoán theo kinh nghiệm cho cho thấy/ Theo lẽ thường là…)

You can’t seriouoly doubt that (Bạn không thể thực sự nghi ngờ rằng…)

Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể nói chính xác cái gì đó là cách diễn đạt ẩn dụ của tình thái và cái gì đó không phải là cách diễn đạt ẩn dụ của tình thái” (Halliday, 1985) do sự đa dạng rất lớn của các cách diễn đạt về nghĩa tình thái Các đặc điểm của các cách diễn đạt ẩn dụ có thê được nhận biết như sau:

(1) Mệnh đề được diễn đạt trong mệnh đề được phóng chiếu, chứ không phải là mệnh đề phóng chiếu Điều này được chỉ ra như sau: đuôi của câu thể hiện mệnh đề được phóng chiếu như trong câu I think it’s going to rain, isn’t it (Tôi nghĩ trời sắp mưa, anh nhỉ) (chứ không phải Don’t I? )

(2) Khi mệnh đề là phủ định, sự phủ định có thể được diễn đạt trong bản thân chính mệnh đề hoặc trong mệnh đề phóng chiếu:

3 a I think Jane doesn’t know (Tôi nghĩ Jane không biết)

b I don’t think Jane knows (Tôi không nghĩ là Jane biết)

Ẩn dụ thức

Để có thể hiểu khái niệm ẩn dụ liên nhân của thức thì chúng ta cần phải xem xét cái mà các loại mặc định mã hóa là gì Xét về thức, Halliday

Trang 21

đã phân biệt 3 loại chính của chức năng tương tác: câu nhận định là các cách diễn đạt mà đưa ra thông tin, câu hỏi là cách diễn đạt để hỏi thông tin, và câu cầu khiến là cách diễn đạt mà đòi hỏi cái gì đó diễn ra Mỗi một loại chức năng này có loại mã hóa ngầm định và chuẩn riêng Câu nhận định được mã hóa bằng thức tường thuật, câu hỏi được mã hóa bằng thức nghi vấn và câu cầu khiến được mã hóa bằng thức mệnh lệnh

Mối quan hệ đồng dạng giữa thức và chức năng lời nói

Thức nghi vấn → câu hỏi Thức trần thuật → câu nhận định Thức mệnh lệnh → câu cầu khiến

Sự nhận biết ẩn dụ và điển hình của các chức năng lời nói trong các loại thức

Em phân vân liệu anh đã ở đâu

You should tell the truth

Anh nên nói sự thật

Nghi vấn Have I ever let

Cầu khiến Admit that I have

never let you down!

Thừa nhận đi, anh chưa bao giờ

bỏ rơi em

Tell me where you have been!

Nói cho em biết anh đã ở đâu đi!

Tell me the truth!

Nói sự thật với em đi!

Trang 22

1.4 Về các kiểu câu trong tiếng Việt

Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa về câu được đưa ra Câu là đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản (Benveniste, 1961)

Nó là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tiếp Nói cách khác, câu là ngôn bản (văn bản) nhỏ nhất

Về phương diện cấu trúc, câu là phạm vi lớn nhất của những mối quan hệ ngữ pháp chính danh Tất cả các quan hệ ngữ pháp có thể có được đều chỉ có trong phạm vi câu Trong những ngôn từ hay văn bản gồm hai câu trở lên, giữa câu này với câu kia có thể có nhiều mối quan

hệ về đề tài, về ý tứ, nhưng không thể có những mối quan hệ ngữ pháp

Có thể nói, câu là đơn vị được cấu tạo bằng những thành tố ngữ pháp, nhưng nó không thể làm thành tố ngữ pháp trong một đơn vị nào lớn hơn [dẫn theo Cao Xuân Hạo]

Như vậy, trong hệ thống tôn ti của các đơn vị của ngôn từ làm nên một văn bản thì câu là đơn vị trung tâm Nếu không hiểu được cương vị và cấu trúc của câu, không thể nào hiểu được những đơn vị ngôn từ lớn hơn, cũng như không hiểu được bất cứ điều gì về những đơn vị nhỏ hơn cấu tạo nó [Cao Xuân Hạo]

Về phương diện chức năng, câu là "sự thể hiện ngôn ngữ học của một mệnh đề" (Sapir) Nó là đơn vị mà ngôn ngữ dùng để biểu hiện một nhận định gồm có một chủ đề được kết hợp với một điều nói về chủ đề đó

Thậm chí, nhiều tác giả còn nói đến sự có mặt của một chỗ ngừng

ở đầu và ở cuối câu (Harris) Ngoài ra, người ta còn viện đến ngữ điệu Ngữ điệu hiểu theo nghĩa là những nét âm điệu bao trùm lên những ngữ đoạn lớn hơn từ (khác với thanh điệu) được dùng vào những mục đích ngôn ngữ học trong một số ngôn ngữ - toàn là những ngôn ngữ không có thanh điệu Những tác giả nói đến ngữ điệu như một đặc trưng của câu bao giờ cũng nói rõ nó có giá trị đó trong ngôn ngữ nào Và ngay trong

Trang 23

những ngôn ngữ dùng ngữ điệu để phân biệt câu hỏi với câu khẳng định chẳng hạn, nghĩa là dùng ngữ điệu để phân biệt loại câu chứ không phải

để phân định biên giới của câu

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu câu theo hướng của ngữ pháp chức năng đã nhanh chóng được áp dụng trong một số công trình nghiên cứu về tiếng Việt nói chung, câu tiếng Việt nói riêng Song chỉ đến khi cuốn

Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng (quyển 1) của Cao Xuân Hạo

ra đời vào năm 1991 thì sự quan tâm đến ngữ pháp chức năng mới phát triển thành một trào lưu rộng rãi Nổi bật có một số công trình chuyên

sâu: Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng (Cao Xuân Hạo), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt - Quyển 1 - Câu trong tiếng Việt - Cấu trúc - Nghĩa - Công dụng (Hoàng Xuân Tâm - Nguyễn Văn Bằng - Bùi Tất Tươm - Cao Xuân Hạo (chủ biên)), Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống (Hoàng Văn Vân), Ngữ pháp tiếng Việt (Diệp Quang Ban), Câu quan hệ tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng (Lê Thị Lan Anh),

Cuốn sách Ngữ pháp chức năng tiếng Việt - Quyển 1 - Câu trong tiếng Việt - Cấu trúc - Nghĩa - Công dụng của Cao Xuân Hạo, là công

trình nghiên cứu tiếng Việt trên những quan điểm và phương pháp của

ngữ pháp chức năng, lấy câu làm đơn vị xuất phát Phát ngôn nhỏ nhất

có thể dùng trong giao tiếp là một câu (thường thì một phát ngôn có thể gồm nhiều câu) Khi một người nói ra một câu hay một số câu hướng vào một người nghe cụ thể, trong một tình huống cụ thể, nhằm một mục

đích tác động nhất định, ta có một hành động phát ngôn Theo Cao Xuân

Hạo, phát ngôn có thể là một câu có tình thái "cầu khiến" hay "mệnh lệnh", phát ngôn là một câu hỏi (nghi vấn), câu trần thuật,

Để thực hiện một mục đích phát ngôn, người ta thường dùng một cấu trúc cú pháp đặc trưng với những phương tiện ngôn ngữ riêng biệt

Trang 24

như: tiểu từ, phụ từ, phụ tố, trật tự từ, ngữ điệu, hiện tượng tỉnh lược, v.v Nghĩa là có một mối tương quan khá đều đặn giữa hình thức của câu và mục đích sử dụng nó Từ đó hình thành nên khái niệm kiểu câu (sentence type) và những kiểu câu thông dụng nhất thường được nhắc đến là: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán [dẫn theo Bùi Mạnh Hùng] Như vậy, phân loại câu theo mục đích phát ngôn

gồm có các kiểu câu sau:

Câu nghi vấn: là câu có từ nghi vấn như ai, gì, nào, đâu, mấy,

sao, bao giờ, bao lâu, bao nhiêu; à, ư, hả, chăng, chứ, (có)… không, (đã)…chưa, v.v hoặc từ hay nối các vế có mối quan hệ lựa chọn

Câu cầu khiến: Trên nguyên tắc thì câu cầu khiến không nhất

thiết phải được xác lập thành một kiểu câu riêng Mục đích sử dụng cầu khiến có thể đạt được bằng những kiểu câu khác như câu trần thuật hay câu nghi vấn Tuy nhiên có lẽ do hành động yêu cầu, đề nghị, ra lệnh là hành động thường xuyên và quan trọng đến mức mà dường như không

có ngôn ngữ nào trên thế giới thiếu kiểu câu này (J Sadock & A Zwicky 1990) Các ngôn ngữ chỉ khác nhau ở dấu hiệu hình thức thể hiện câu cầu khiến và mức độ rõ rệt của dấu hiệu hình thức đó

Khác với nhiều ngôn ngữ châu Âu, trong tiếng Việt, dấu hiệu hình thức của câu cầu khiến không được thể hiện rõ Trong nhiều trường hợp, kiểu câu này dễ lẫn với kiểu câu trần thuật Đó là lí do mà có tác giả không coi câu cầu khiến là một kiểu câu riêng trong tiếng Việt mà chỉ là một dạng của câu trần thuật (Cao Xuân Hạo)

Câu cảm thán: Cũng như câu cầu khiến, câu cảm thán trong tiếng

Việt là kiểu câu không có những dấu hiệu hình thức thật rõ để phân biệt với câu trần thuật Vì vậy mà nhiều tác giả không tách câu cảm thán thành một kiểu câu riêng (Cao Xuân Hạo)

Trang 25

Trong tiếng Việt có thể coi câu cảm thán là câu có những từ ngữ

như ôi, than ôi, hỡi ơi, chao ơi (ôi), trời ơi; thay, biết bao, xiết bao Những từ ngữ cảm thán ôi, than ôi, hỡi ơi, chao ơi (ôi), trời ơi, v.v

có thể tự tạo thành một câu đặc biệt mà cũng có thể là một bộ phận biệt lập trong câu và thường đứng ở đầu câu

Câu trần thuật: được coi là kiểu câu không đánh dấu (unmarked

sentence) Có thể giải thích một cách đơn giản, đó là kiểu câu không có dấu hiệu hình thức của những kiểu câu khác (câu nghi vấn, câu cầu

Trong chương này chúng tôi đã trình bày các siêu chức năng trong ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday, gồm: siêu chức năng kinh nghiệm, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng văn bản Ba siêu chức năng này đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai nội dung của chương 2 và chương 3 Bên cạnh đó, chúng tôi đề cập đến khái niệm ẩn dụ và ẩn dụ ngữ pháp để làm sáng tỏ hơn cơ sở lí thuyết của đề tài Những lí thuyết ở chương này là cơ sở cho những khảo sát cụ thể ở những chương tiếp theo

Trang 26

hê ̣ thống: các kiểu quá trình và chu cảnh

Trong chương 2, chúng tôi sẽ làm rõ cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu và mô tả các kiểu quá trình, các cách lập ngôn tạo ẩn dụ ngữ pháp

để làm sáng tỏ mô hình chuyển tác (hay mô hình kinh nghiệm) của câu tiếng Việt

2.2 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu

Nghĩa biểu hiện (hay còn gọi là nghĩa kinh nghiệm, nghĩa miêu tả,

nghĩa trình bày) của câu là phần diễn đạt các sự thể (Halliday gọi bằng

thuật ngữ “quá trình”) được phản ánh trong câu, bao gồm các yếu tố nghĩa có mặt trong một sự thể và các mối quan hệ giữa các yếu tố nghĩa

đó Các yếu tố nghĩa có mặt trong một sự thể gồm có yếu tố nêu đặc

trưng hay quan hệ được diễn đạt về mặt cú pháp bằng vị từ (predicator)

Ở trong một câu cụ thể, các yếu tố ở vị từ cho biết sự thể hiện do câu diễn đạt mang tính động hay tính tĩnh, nó thuộc về lĩnh vực vật chất, lĩnh vực tinh thần, hay lĩnh vực của các mối quan hệ trừu tượng Các yếu tố nghĩa

xung quanh vị từ được gọi chung là các vai nghĩa Vai nghĩa nào là những

thực thể nằm trong quá trình (tức là những bộ phận tạo nên quá trình) thì

Trang 27

được gọi là tham thể (participant), vai nghĩa nào đi kèm với quá trình như

các yếu tố chỉ thời gian, nguyên nhân, cách thức, phương tiện,… của quá

trình thì được gọi là chu cảnh (circumstance) Mối quan hệ nghĩa giữa vị

từ và các vai nghĩa làm thành cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu Do vậy,

phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu là xác định vị từ cùng với các vai

nghĩa quây quần chung quanh nó, và xác lập mối quan hệ giữa chúng với vị

từ trong câu

2.2.1 Các kiểu quá trình

Cho đến nay, có rất nhiều giải pháp khác nhau được đưa ra để

phân loại các kiểu quá trình Có thể kể đến một số tác giả như sau:

Vendler dựa vào tiêu chí [+/- Tĩnh], tính [+/- Điểm tính] và tính

[+/- Hữu kết] để phân loại các kiểu quá tình, gồm có:

- Trạng thái (States): [+ Tĩnh], [- Hữu kết], [- Điểm tính]

- Sự biến (Achievements): [- Tĩnh], [- Hữu kết], [- Điểm tính]

- Hoàn thành (Accomplishments): [- Tĩnh], [+ Hữu kết], [- Điểm tính]

- Hoạt động (Activities): [- Tĩnh], [+ Hữu kết], [+ Điểm tính]

Hay cách phân loại của Dik:

Trang 28

Halliday đề nghị các kiểu sự tình (tác giả gọi là “quá trình”) như sau:

- Các quá trình vật chất (material): phản ánh thế giới vật lí

- Các quá trình tình thần (metal): phản ánh thế giới ý thức

- Các quá trình quan hệ (relational): phản ánh các mối quan hệ trừu tượng Bên cạnh đó là các quá trình chuyển tiếp:

- Các quá trình hành vi (behavioural process): chuyển tiếp giữa các sự thể vật chất và các sự thể tinh thần

- Các quá trình phát ngôn (verbal process), tức là sử dụng ngôn từ, bao gồm nói năng và cảm nghĩ, chuyển tiếp giữa các quá trình tinh thần và quá trình quan hệ

- Các quá trình hiện hữu/tồn tại (existential process): bao gồm sự tồn tại, sự xuất hiện, sự tiêu biến, chuyển tiếp giữa các quá trình vật chất và các quá trình quan hệ

Dưới hình thức vòng tròn, mô hình của Halliday có thể được trình bày như sau:

THẾ GIỚI VẬT CHẤT

SỞ HỮU THUỘC TÍNH

SỞ HỮU ĐỒNG NHẤT TƯỢNG TRƯNG HOÁ

TẠO DỰNG, THAY ĐỔI

SỰ KIỆN XẢY RA (ĐƯỢC TẠO RA)

TỒN TẠI

THẾ GIỚI CỦA CÁC MỐI QUAN HỆ TRỪU TƯỢNG

SỞ HỮU THUỘC TÍNH

SỞ HỮU ĐỒNG NHẤT TƯỢNG TRƯNG HOÁ

TẠO DỰNG, THAY ĐỔI

SỰ KIỆN XẢY RA (ĐƯỢC TẠO RA)

TỒN TẠI

THẾ GIỚI CỦA CÁC MỐI QUAN HỆ TRỪU TƯỢNG

*Tham thể và cấu trúc vị từ - tham thể

Tham thể dùng để chỉ các thực thể nằm trong quá trình nói trong câu Tham thể là những vai nghĩa xuất hiện trong quá trình do sự đòi hỏi,

Trang 29

ấn định trực tiếp của vị từ Mỗi vị từ cụ thể sẽ ấn định số lượng cùng các chức năng nghĩa khác nhau của các tham thể đi cùng với nó tạo nên một quá trình nhất định Ngược lại, sự có mặt của các tham thể sẽ xác định bản chất của từng loại vị từ và từng loại quá trình cụ thể Vị từ cùng các tham thể của nó sẽ làm thành cấu trúc vị từ - tham thể, cấu trúc nòng cốt của các quá trình Khi sự tình được phản ánh vào trong câu, nó sẽ trở thành thành phần cốt lõi trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu

Tham thể được hiện thực hóa điển hình bằng cụm danh từ, tham thể thuộc hai loại: loại thứ nhất là các tham thể cố hữu trong quá trình và loại thứ hai là các tham thể không cố hữu trong quá trình, trong đó một tham thể có thể tham gia vào quá trình, nó có thể tạo ra quá trình, nó có thể cảm giác thông qua quá trình, nó có thể tiếp nhận thông quá trình hay hưởng lợi từ quá trình,…

* Chu cảnh

Chu cảnh là để chỉ những yếu tố đi kèm với quá trình Tham thể và chu cảnh được xác định căn cứ vào bản thân nghĩa của chúng, và cũng chú ý đến vị trí của chúng trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu

So với tham thể, chu cảnh là thành phần đi kèm theo quá trình chứ không phải là các thành phần cố hữu trong quá trình Chu cảnh là một trong ba thành phần kinh nghiệm trong câu và do đó nó được phân loại theo tiêu chí ngữ nghĩa và ngữ pháp, tức là theo tiêu chí định nghĩa và nhận diện (Halliday, 1994) Chu cảnh được hiện thực hóa điển hình bằng cụm trạng từ, chi tiết hóa các vai diễn chu cảnh khác nhau trong quá trình; các vai diễn chu cảnh này có thể là phạm vi của quá trình theo thời gian và không gian, chúng có thể là nguyên nhân, phong cách của sự xuất hiện,… Hoàng Văn Vân đã vận dụng quan điểm này để nghiên cứu chuyển tác chu cảnh trong tiếng Việt gồm tám loại Chu cảnh: phạm vi, định vị, phong cách, nguyên nhân, đồng hành, vai diễn, vấn đề và quan điểm

Trang 30

Nếu như tham thể thường chỉ có mặt ở một loại quá trình nhất định do sự ấn định của một vị từ nhất định thì chu cảnh do biểu thị các ý nghĩa về thời gian, cách thức, phương tiện,… lại có khả năng đi với nhiều loại vị từ, xuất hiện trong nhiều loại quá trình khác nhau Mặt khác, tham thể thường đóng vai trò là các thành phần chính của câu, trong khi đó, chu cảnh thường giữ vai trò là thành phần phụ

Nghĩa biểu hiện của câu đặc biệt được làm rõ bởi ngữ pháp Cách (Case Grammar) do Fillmore xây dựng Theo Fillmore, một sự tình sẽ gồm một vị từ trung tâm và xung quanh nó là các ngữ đoạn biểu thị những cách ngữ nghĩa hay vai nghĩa nào đó “Vai nghĩa mà một thực thể đảm nhận trong sự tình luôn luôn phụ thuộc vào bản chất của sự tình đó, và thực là vô nghĩa nếu ta tách biệt các vai nghĩa khỏi các sự tình mà trong đó chúng xuất hiện” [dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp] Điều này thể hiện rất rõ khi chúng ta xét các kiểu sự tình (quá trình) và các vai nghĩa tương ứng trong hệ thống trình bày của Halliday Cụ thể:

- Đối với quá trình vật chất (quá trình của hành động): hai vai nghĩa chính là hành thể (Actor) và đích thể (Go) Ví dụ:

Gần cả tuần nay, KhoaActor chưa có dịp gặp lại nhỏ TrangGo

- Đối với quá trình tinh thần (quá trình cảm nhận): hai vai chính là cảm thể (Sensor) và hiện tượng (Phenomenon) Ví dụ:

Chú NhiênSensor yêu cô LinhPhenomenon

- Đối với quá trình quan hệ Kiểu quá trình này có ba kiểu nhỏ: + Quan hệ sâu (intensive)

+ Quan hệ chu cảnh (circumstantial)

+ Quan hệ sở hữu (possessive)

Mỗi kiểu nhỏ này lại được phân loại theo hai phương thức, đó là: phương thức định tính (attribute) và phương thức đồng nhất (identifying)

Trang 31

Còn đối với ba kiểu quá trình trung gian, các vai nghĩa cũng sẽ ứng với từng quá trình cụ thể:

- Đối với quá trình hành vi: vai chính của kiểu quá trình này là ứng thể (behaver) Ví dụ:

- Đối với quá trình phát ngôn, các vai quan trọng nhất là phát ngôn thể (sayer), tiếp ngôn thể (receiver), ngôn thể (verbiage) và đích ngôn thể (target) Ví dụ:

Vẫn bằng giọng ngọt ngào như tẩm mật ong, dì LiênSayer nói với

- Đối với quá trình hiện hữu, vai chính là hiện hữu thể

Ví dụ: Cách nhà ông ngoại Khoa khoảng ba cây số về phía Nam có một khu rừng thƣaExistent entity

Theo hệ thống miêu tả của mình, Halliday còn nêu một loạt các vai nghĩa khác như khách thể (Client), cương vực (Renge),…

Ở Việt Nam, các tác giả Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Vân đã chứng tỏ rằng có thể áp dụng mô hình chuyển tác của Halliday được áp dụng để phân tích trong tiếng Việt Tuy nhiên, cú mà Hoàng Văn Vân đề cập để khảo sát nghĩa kinh nghiệm lại là các dạng câu đơn trong tiếng Việt (theo cách gọi của Diệp Quang Ban) Những câu trong ngữ liệu khảo sát của chúng tôi không chỉ có câu đơn mà còn những câu thường

có nhiều mệnh đề, thậm chí trong một câu có tới hai hoặc ba động từ nên việc xác định các kiểu quá trình là một việc làm khá phức tạp Do đó, chúng tôi xác định động từ nào là trung tâm của câu để xác định

Trong luận văn này, chúng tôi đi theo mô hình kinh nghiệm của Halliday Do đó, chúng tôi giả định rằng tất cả các kiểu quá trình: vật chất, hành vi, tinh thần, phát ngôn, quan hệ, và hiện hữu (tồn tại), mà Halliday đề xuất để mô tả ý nghĩa kinh nghiệm trong tiếng Anh đều có mặt trong tiếng Việt

Trang 32

2.3 Mô hình ẩn dụ chuyển tác trong câu tiếng Việt

Bản chất của chuyển tác là giải quyết ba vấn đề chính : (i) khẳng

đi ̣nh la ̣i thể loa ̣i quá trình (mô ̣t đô ̣ng từ có thể dùng với hơn mô ̣t loa ̣i chuyển tác phu ̣ thuô ̣c vào kết hợp của nó); (ii) xác định cấu trúc tương tự liên quan đến cấu trúc hiê ̣n ta ̣i của câu và (iii) kiểm tra xem có sự hiê ̣n thực hoá tương đương của các tham tố trong câu Chúng ta có th ể xem

Khảo sát chung về chuyển tác [nguồn Martin, 37, 116]

Qua khảo sát mô hình ẩn dụ chuyển tác tiếng Việt, chúng tôi khảo sát có 34 phát ngôn biểu thị cách diễn đạt ẩn dụ Được thể hiện qua các quá trình: vật chất, tinh thần, quan hệ, phát ngôn, hành vi Trong nguồn

tư liệu mà chúng tôi khảo sát không có sự xuất hiện của quá trình hiện hữu Được thể hiện qua bảng sau:

Trang 33

Các quá trình này được biến đổi thành quá trình khác bởi cách diễn đạt ẩn dụ Để hiểu rõ hơn về ẩn dụ chuyển tác chúng ta xét ví dụ sau đây:

1) Thắc mắc của Mừng chính đáng quá

2) Mừng thắc mắc đúng quá

Ở ví dụ này, thắc mắc được cải trang như nó là một tham thể, hay

nói cách khác nó không còn là động từ nữa mà có sự danh hóa để biến

nó thành một từ loại khác giữ vai trò là tham thể được nêu trong câu Ta

có thể so sánh nó với ví dụ sau:

Phương thức ẩn dụ

Thắc mắc của Mừng chính đáng quá

Phương thức tương thích

Xét hai ví dụ dưới đây:

3) Khoa lo lắng sợ nhỏ Trang biết chuyện Khoa làm

4) Nỗi lo lắng trong lòng Khoa lúc này chuyển từ nhỏ Trang qua dì Liên

Hai cách diễn đạt này được phân tích như sau:

(3) Phương thức tương thích

Khoa lo lắng sợ nhỏ Trang biết chuyện

Khoa làm

Cảm thể Quá trình: tinh thần Hiện tượng

Trang 34

(4) Phương thức ẩn dụ

Nỗi lo

lắng

trong lòng Khoa

lúc này chuyển từ nhỏ Trang qua

dì Liên

Hành thể Chu cảnh Chu

cảnh

Qúa trình: vật chất

Đích thể

Ở ví dụ (3), lo lắng diễn tả trạng thái hay tình cảm nội tâm Chúng biểu thị quá trình tinh thần được cho là giải thích cho chủ thể (Cảm thể: Khoa) mang một trạng thái như đang lo lắng Tuy nhiên, ở ví dụ (4), quá trình lo lắng lại được danh hóa thành cụm danh từ, đóng vai trò là Hành

thể trong câu, là chủ thể biểu thị một hành động được thể hiện trong câu

Tuy nhiên, ranh giới giữa mô hình tương thích và mô hình ẩn dụ

mờ nhạt nên rất khó để phân biệt Chính Halliday cũng cho rằng, không thể có một đường ranh giới rạch ròi giữa cách diễn đạt tương thích và cách diễn đạt ẩn dụ trong ngôn ngữ nói chung Bởi lẽ, một khi cách biểu hiện ẩn dụ đã ổn định và ổn định lâu dài trong đời sống ngôn ngữ thì chính nó sẽ trở thành cách biểu hiện tương thích Và như thế, ẩn dụ ngữ pháp chính là con đường lập ngôn giúp con người tạo ra những cách biểu hiện ẩn dụ mới, làm cho ngôn ngữ hành chức luôn sống động

Dưới đây là một số ví dụ về ẩn dụ chuyển tác Trong mỗi trường hợp (a) là hình thức được khảo sát trong văn bản, (b) là hình thức tương thích được gợi ý

(a) Dần dà Chấn cũng hiểu nó là đứa con nuôi

(b) Chấn biết mình được bố mẹ nhận nuôi

(a) Cái lo của chị rồi cũng từ từ tan theo ngày tháng trôi đi (b) Chị lo sợ người chồng không biết làm gì để nuôi sống gia đình (a) Anh mới là kẻ đáng chết

(b) Dịu đã chết thay anh

(a) Những cơn mưa bất chợt của đất Sài Thành

(b) Sài Gòn đang mưa

Trang 35

(a) Ra chơi có lẽ là điều tuyệt vời nhất

(b) Tôi thích mỗi giờ ra chơi

(a) Tôi xin nhắc lại rằng cô là một con ăn cắp, trắng trợn vô liêm sỉ

(b) Cô ăn cắp ngày này qua ngày khác

(a) Tiếng kêu của tôi biến thành tiếng ú ớ nghèn nghẹt trong cổ họng (b) Tôi sợ nên tôi kêu lên

(a) Sự mơ mộng thường đi đôi với thơ ca

(b) Nhiệm là người hay mơ mộng

(a) Sự thay đổi này có một sự tác động ngẫu nhiên nhưng rất đáng kể từ phía Chuyên và Nhiệm

(b) Mẫn đã thay đổi

Để hiểu được đâu là phát ngôn có tính ẩn dụ ngữ pháp thì chúng ta phải đi vào phân tích Quan trọng là, để hiểu được mô hình ẩn dụ ở bình diện tư tưởng thì chúng ta phải xây dựng được mô hình tương thích, để

từ đó ý nghĩa ẩn dụ được hiện ra rõ nét

2.4 Cách lập ngôn ẩn dụ ngữ pháp trong tiếng Việt

Danh hóa được xem như là một công cụ thay thế để biểu đạt ý nghĩa Danh hoá (nominalisation) được hiểu là quá trình biến các động từ và tính từ thành các danh từ Quá trình này được Halliday gọi là sự “ẩn dụ ngữ pháp” (grammatical metaphor) Theo ông, danh hoá là “sự chuyển đổi từ của từ loại này thành một từ thuộc từ loại khác trong khi các đơn vị từ vẫn được giữ nguyên”

Trong tiếng Việt, danh hoá cũng đã được các nhà nghiên cứu bàn đến và chỉ ra cơ chế của nó, như: Nguyễn Tài Cẩn, Đỗ Hữu Châu, Đinh Văn Đức, Nguyễn Thiện Giáp…

Đinh Văn Đức [8], khi nghiên cứu từ loại danh từ trong tiếng Việt

đã chỉ ra rằng những danh từ không chỉ sự việc (như việc làm, đóng góp, thắng lợi,…) thực chất chỉ là sản phẩm của một cách thức phản ánh của

Trang 36

người bản ngữ, là quá trình “sự vật hoá” một hành động trong quá trình tri giác của người bản ngữ, gắn cho nó mối quan hệ khác như trừu tượng hoá và hình dung nó như một sự việc Như vậy, ý nghĩa của danh từ là sản phẩm của quá trình danh hoá là ý nghĩa ngữ pháp chứ không phải là

ý nghĩa từ vựng Loại ý nghĩa này được gọi là “ý nghĩa phi sự vật”, cùng với ý nghĩa sự vật làm thành ý nghĩa thực thể của danh từ Tác giả Đinh Văn Đức đã kết luận: Ý nghĩa phi sự vật cùng với ý nghĩa sự vật làm thành ý nghĩa thực thể của danh từ là ý nghĩa thuần túy ngữ pháp, nó xuất hiện do mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy của người bản ngữ (nghĩa là thuộc về phạm trù cách thức phản ánh chứ không phải đối tượng phản ánh …) [8, 40]

Tác giả Đinh Văn Đức [8, 46] cho rằng danh hoá trong tiếng Việt

có thể được thực hiện theo hai phương thức chính:

(i) Động từ, tính từ kết hợp với một yếu tố ngữ pháp chuyên dùng

có thể là phụ tố cấu tạo từ như “sự” hoặc trống nghĩa như “việc”, “nỗi”,

“niềm”… Ví dụ:

Vui Niềm vui;

Làm Việc làm;

Học Việc học

Buồn Nỗi buồn

(ii) Danh hoá các động từ và tính từ trên cách dùng và giữ nguyên vỏ ngữ âm của từ Ví dụ “thắng lợi” là động từ và tính từ trong trường hợp:

 Chúng ta đang thắng lợi; hoặc:

 Chúng ta (hoàn toàn) rất thắng lợi (việc này)

Nhưng trong trường hợp “thắng lợi của chúng ta rất to lớn” thì nó lại trở thành danh từ, tức là đã được danh hoá

Qua khảo sát ngữ liệu của các truyện ngắn, chúng tôi nhận thấy danh hóa được sử dụng nhưng rất hạn chế Chỉ có 47 phát ngôn, được thể hiện qua cách lập ngôn ẩn dụ như sau:

Trang 37

Kết cấu ẩn dụ Số lượng

- Thông thường, sự thay đổi chỗ ở

liên tục bao giờ cũng kéo theo những phiền phức

- Sự cô đơn trở thành bạn đồng

hành thân thiết của anh

Nỗi + tính từ/động từ 14

- Nỗi lo lắng trong lòng Khoa lúc

này chuyển từ nhỏ Trang qua dì Liên

- Nỗi buồn là thứ hay lây

Nét + tính từ 1

Đẹp thì Thao không rõ vì đến bây

giờ hình như những nét đẹp đó giữ

lại không được bao nhiêu

- Vẻ mặt hoảng hốt của nhỏ Trang

khiến Khoa dở cười dở khóc

- Bây giờ vẻ sợ hãi của nhỏ Ái khiến

tôi thấp thỏm trở lại

Cái + động từ 2 Cái lo của chị rồi cũng từ từ tan theo ngày tháng trôi đi

Trang 38

Lời + động từ 1 Khoa chỉ sợ lời kể tội của thầy tám

đến tai ba Khoa

Con + động từ 1 Tôi xin nhắc lại rằng cô là một con

ăn cắp, trắng trợn vô liêm sỉ

Cuộc + động từ 1

Cho đến cuối buổi chiều thì cuộc

trò chuyện giữa thằng Mừng và

công nương của nó không chỉ gói

gọn trong một, hai câu nữa

Qua khảo sát, chúng tôi thấy, danh hóa được sử dụng trong truyện ngắn thường là danh hóa động từ và một vài trường hợp là danh hóa tính từ

2.4.1 Danh hóa động từ

Trong ngôn ngữ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa động từ và danh từ là sự chuyển hóa đa dạng và phức tạp Trong tiếng Việt, danh hóa động

từ được thực hiện thông qua kết hợp giữa các yếu tố danh hóa với động

từ Kiểu danh hóa này có 29/47 phát ngôn, chiếm 61,7%

Để danh hóa động từ trong tiếng Việt, người ta thường làm như sau:

- Thêm các yếu tố danh hóa như: sự, cuộc, cái, nỗi, niềm, con vào

trước động từ;

- Kết hợp với các phụ từ chỉ lượng: những, mọi

- Danh hóa không cần kết hợp với bất kỳ yếu tố danh hóa nào (hay còn gọi là sự chuyển loại bên trong từ)

2.4.1.1 Danh hóa động từ với “sự”

Tổ hợp danh từ: sự + động từ, định danh cho thể loại vật chất trừu

tượng, chất liệu tạo nên loại thực thể này là kết quả việc trừu tượng hóa, khái quát hóa đặc trưng của những quá trình được biểu thị ở động từ gốc

Ví dụ: sự thay đổi, sự thắc mắc, sự xuất hiện, sự tiến bộ,… Đối với tổ

hợp này, chúng tôi khảo sát có 13/29 phát ngôn, chiếm 44,8%

Trang 39

Thông thường, sự thay đổi chỗ ở liên tục bao giờ cũng kéo theo

những phiền phức

Cuối cùng dì quyết định bày tỏ sự hối hận to lớn đó bằng hành động Phớt lờ sự châm chọc của Khoa, Mừng nói bằng giọng đều đều

Đi sau sự thường là các động từ đa tiết Sự có thể danh hóa cho tất

cả các động từ đa tiết bao gồm các động từ chỉ tình cảm và những động

từ biểu thị tri giác và hoạt động của cơ quan cảm giác như: hối hận, hụt hẫng,và những động từ biểu thị cảm giác như: sự lo lắng, sự sợ hãi

Đối với các động từ có hướng đa tiết như ra đi, thì sự cũng có thể

danh hóa chúng Ví dụ:

Nỗi buồn về sự ra đi của lũ chó hoang chồng lên nỗi buồn về sự

ra đi của con Tủn đã khiến một chú bé tám tuổi kiễng chân lên để tậplàm người lớn

2.4.1.2 Danh hóa động từ với “nỗi”, “niềm”

Nỗi, niềm thường được dùng để danh hóa những động từ biểu thị

trạng thái tình cảm, cảm giác hoặc những động từ gây tác động đến tình

cảm, cảm giác Trong đó, nỗi thường danh hóa cho những động từ chỉ trạng thái tiêu cực (lo lắng, sợ hãi, đau), còn niềm thường danh hóa cho những động từ biểu thị trạng thái tình cảm tích cực (vui, ao ước) đối với nhóm

danh hóa này, chúng tôi khảo sát có 8/29 phát ngôn, chiếm 27,6% Ví dụ:

- Nỗi lo lắng trong lòng Khoa lúc này chuyển từ nhỏ Trang qua dì Liên

- Khoa nhìn bạn, tự dưng nghe nỗi buồn rứt tóc

- Nhưng nỗi sợ hãi khiến tôi nhắm tịt lại, trong bụng cứ lo ngay

ngáy về chuyện thiếu bịch "vũ khí phòng thân"

- Một công việc có thể sắp đặt trước, một sự nghiệp có thể tính

toán trước, là niềm ao ước của rất nhiều người, nhiều quốc gia

Khi được danh hóa bằng nỗi, niềm, các tổ hợp danh từ thể hiện nó

thường được nhấn mạnh về mức độ tình cảm, tâm trạng biểu thị ở động từ

Trang 40

2.4.1.3 Danh hóa động từ với “cái”

Cái cũng dùng để danh hóa các động từ chỉ trạng thái tình cảm

Với kiểu danh hóa này, qua khảo sát có 2/29 phát ngôn, chiếm 6,9% Ví dụ:

- Cái lo của chị rồi cũng từ từ tan theo ngày tháng trôi đi

- Cái quyết định đó đến với Mẫn vào lúc trời chập choạng tối,

khi anh đang ngồi viết một mình trong công viên nhẩn nha nhai một cọng cỏ ướt

2.4.1.4 Danh hóa động từ với “cuộc”

Cuộc được danh hóa cho động từ hành động Ví dụ:

- Cho đến cuối buổi chiều thì cuộc trò chuyện giữa thằng Mừng

và công nương của nó không chỉ gói gọn trong một, hai câu nữa

Tổ hợp do cuộc danh hóa có ý nghĩa là những hoạt động biểu thị ở

gốc động từ phải được thực hiện bởi nhiều người, được xác định trong một thời điểm nhất định nào đó

2.4.1.5 Danh hóa động từ với “những”, “mọi”

Danh hóa động từ bằng cách kết hợp với các phụ từ chỉ lượng:

những, mọi qua khảo sát chỉ có 2/29 phát ngôn, chiếm 6,9% Việc danh

hóa này đã khái quát hóa được đặc trững quá trình biểu thị ở động từ gốc Ví dụ:

- Dĩ nhiên là từ đó cho tới bữa cơm, tôi không được phép bước ra

khỏi nhà để tránh phải sa vào những trận đánh nhau khác hấp dẫn

không kém với bọn nhóc trong xóm, những đối thủ thay thế hết sức xứng đáng cho tụi bạn ở trường

- Sau này, tôi cũng nhiều lần thấy cuộc sống đáng chán khi thi trượt ở tuổi mười lăm, thất tình ở tuổi hăm bốn, thất nghiệp ở tuổi ba

mươi ba và gặt hái mọi thành công ở tuổi bốn mươi

Ngày đăng: 30/03/2017, 06:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1 và tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việ
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
2. Diệp Quang Ban (chb), Hoàng Dân (2001), Ngữ pháp tiếng Việt: Giáo trình đào tạo giáo viên Trung học cơ sở hệ Cao đẳng sư phạm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: "Giáo trình đào tạo giáo viên Trung học cơ sở hệ Cao đẳng sư phạm
Tác giả: Diệp Quang Ban (chb), Hoàng Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
3. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2005
4. Diệp Quang Ban (2008), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
5. Diệp Quang Ban (2015), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2015
6. Đỗ Hữu Châu, Giáo trình Việt ngữ, tập 2, Nxb Giáo Dục, H., 1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
7. Trần Văn Cơ (2007), Ghi chép và suy nghĩ, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ghi chép và suy nghĩ
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2007
8. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại (in lại và có bổ sung), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
9. Đinh Văn Đức (2009), Bàn thêm về một vài khía cạnh dụng pháp của tính từ tiếng Việt. Tạp chí Ngôn ngữ, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về một vài khía cạnh dụng pháp của tính từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Văn Đức
Năm: 2009
10. Đinh Văn Đức (2010), Các bài giảng về từ pháp học tiếng Việt: Từ loại nhìn từ bình diện chức năng, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng về từ pháp học tiếng Việt: Từ loại nhìn từ bình diện chức năng
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
11. Đinh Văn Đức (2013), Ngôn ngữ và tư duy: một tiếp nhận, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và tư duy: một tiếp nhận
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
12. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
15. Nguyễn Văn Hiệp (2006), Về hàm ngôn quy ước (trên tư liệu tiếng Việt), Tạp chí Ngôn ngữ, số 2, tr.1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hàm ngôn quy ước (trên tư liệu tiếng Việt)
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2006
16. Nguyễn Văn Hiệp (2006), Nghĩa chủ đề và những cách tiếp cận về nghĩa chủ đề, Tạp chí Ngôn ngữ, số 11, tr.45-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa chủ đề và những cách tiếp cận về nghĩa chủ đề
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2006
17. Nguyễn Văn Hiệp (2007), Một số tình thái chủ yếu trong ngôn ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ, số 8, tr.14-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tình thái chủ yếu trong ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2007
18. Nguyễn Văn Hiệp (2009), Về một số giải pháp miêu tả bình diện kết học của câu, Tạp chí Ngôn ngữ số 11, tr.43-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số giải pháp miêu tả bình diện kết học của câu
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2009
19. Nguyễn Văn Hiệp (2012), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2012
20. Nguyễn Lân, Ngữ pháp Việt Nam, lớp 7, Bộ giáo dục xuất bản, H., 1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam
21. Vũ Đức Nghiệu (chb), Nguyễn Văn Hiệp (2009), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Vũ Đức Nghiệu (chb), Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
22. Nguyễn Thị Quy (2002), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt: Vị từ hành động, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt: Vị từ hành động
Tác giả: Nguyễn Thị Quy
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.2. Sơ đồ trình bày mối quan hệ cuả tình thái với tính phân cực - Áp dụng ẩn dụ ngữ pháp của halliday vào việc phân tích một số kiểu câu tiếng việt
Hình 3.2. Sơ đồ trình bày mối quan hệ cuả tình thái với tính phân cực (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w