1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan

101 412 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HỮU SỞ

Hà Nội - 2012

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC BIỂU iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.1.1 Lao động, sức lao động và hàng hóa sức lao động 7

1.1.2 Nguồn nhân lực, di dân 7

1.1.3 Sự hình thành và phát triển của thị trường lao động, XKLĐ và một số khái niệm liên quan 9

1.1.4 Những nhân tố chính tác động đến hoạt động XKLĐ 12

1.2 Nội dung của hoạt động XKLĐ 18

1.2.1 Cấp phép và quản lý các doanh nghiệp XKLĐ 18

1.2.2 Nghiên cứu, khai thác thị trường nước ngoài 18

1.2.3 Khai thác, tuyển chọn lao động trong nước 18

1.2.4 Đào tạo lao động 19

1.2.5 Các khoản chi phí và các khoản khấu trừ của người lao động sang nước ngoài 19

1.2.6 Đưa người lao động sang nước ngoài và tổ chức quản lý lao động 20

1.2.7 Thanh lý hợp đồng lao động 21

1.3 Hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang nước ngoài 21

1.3.1 Khái niệm hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ 21

1.3.2 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ sang nước ngoài 22

1.4 Kinh nghiệm XKLĐ của một số nước sang Đài Loan và vận dụng vào Việt Nam 24

Trang 4

1.4.2 Kinh nghiệm XKLĐ của Indonesia 26

1.4.3 Kinh nghiệm XKLĐ của Thái Lan 27

1.4.4 Vận dụng kinh nghiệm XKLĐ của một số nước sang Đài Loan vào Việt Nam 28

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VIỆT NAM SANG ĐÀI LOAN GIAI ĐOẠN 2000 – 2010 31

2.1 Giới thiệu thị trường lao động Đài Loan 31

2.1.1 Tổng quan về thị trường lao động Đài Loan 31

2.1.2 Quan hệ cung cầu về lao động và những yêu cầu nhập khẩu lao động của Đài Loan 31

2.2 Phân tích thực trạng hoạt động XKLĐ sang Đài Loan từ 2000 đến 2010 32

2.2.1 Việc cấp phép và quản lý các doanh nghiệp XKLĐ 32

2.2.2 Khai thác, mở rộng thị trường nước ngoài 35

2.2.3 Tuyển chọn lao động trong nước 37

2.2.4 Đào tạo lao động 38

2.2.5 Các khoản chi phí và khấu trừ của người lao động sang Đài Loan 39

2.2.6 Đưa người lao động sang Đài Loan và tổ chức quản lý lao động Việt Nam tại Đài Loan 41

2.2.7 Giải quyết thanh lý hợp đồng 49

2.3 Đánh giá hiệu quả KT – XH của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan 50

2.3.1 Hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan về quy mô, số lượng lao động 50

2.3.2 Hiệu quả KT – XH của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan về giải quyết việc làm 51

2.3.3 Hiệu quả kinh tế của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan về thu nhập 53

2.3.4 Hiệu quả xã hội của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan 55

Trang 5

2.4 Thành công và hạn chế của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài

Loan 56

2.4.1 Những thành công của hoạt động XKLĐ sang Đài Loan 56

2.4.2 Hạn chế của hoạt động XKLĐ sang Đài Loan 59

2.5 Một số nguyên nhân, bất cập còn tồn tại của hoạt động XKLĐ sang Đài Loan 62

2.5.1 Một số bất cập còn tồn tại 62

2.5.2 Một số nguyên nhân rút ra 66

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG SANG ĐÀI LOAN 71

3.1 Bối cảnh mới 71

3.1.1 Bối cảnh Quốc tế 71

3.1.2 Bối cảnh trong nước 73

3.2 Định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động XKLĐ sang Đài Loan trong thời gian tới 74

3.2.1 Định hướng 74

3.2.2 Giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan trong thời gian tới 76

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

TT KÝ HIỆU VÀ

CHỮ VIẾT TẮT NGUYÊN NGHĨA

3 GVGĐ & KHC Giúp việc gia đình và khán hộ công

Trang 7

DANH MỤC BẢNG STT SỐ HIỆU NỘI DUNG TRANG

1 Bảng 2.1 Tổng hợp các khoản chi phí của người lao động khi xuất

Trang 8

DANH MỤC BIỂU STT SỐ HIỆU NỘI DUNG TRANG

1 Biểu đồ 2.1 Sự biến động lao động Việt Nam sang làm việc tại một

số thị trường chính (2000 – 2010) 43

2 Biểu đồ 2.2 Tỉ trọng cơ cấu nghề của lao động Việt Nam tại Đài

Loan hiện nay 44

3 Biểu đồ 2.3 So sánh số lao động nước ngoài không đạt sức khoẻ tại

6 Biểu đồ 2.6 Tỉ trọng lao động nước ngoài hiện nay đang làm việc

tại Đài Loan 51

7 Biểu đồ 2.7 Tỉ trọng lao động nước ngoài bỏ trốn hiện nay trong

tổng số lao động bỏ trốn tại Đài Loan 63

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đồng thời đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế trong giai đoạn hội nhập kinh

tế toàn cầu hoá Kinh tế - xã hội (KT – XH) đất nước trong thời gian qua đã đạt được kết quả đáng khích lệ được thể hiện rõ là tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao và

ổn định, năm 2010 là 6,78%; thu nhập của các thành viên trong xã hội ngày càng được cải thiện và không ngừng tăng cao, GDP bình quân đầu người năm 2000 là 402 USD/người/năm, năm 2010 đạt 1.168 USD/người/năm tăng gấp 2,9 lần so với năm

2000, nền kinh tế đất nước dần thoát khỏi tình trạng kém phát triển Lịch sử phát triển KT - XH cho thấy, mỗi một quốc gia hay bất kỳ một nền kinh tế nào thì vấn đề

về lao động - việc làm luôn luôn giữ vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất của xã hội, nhất là tại Việt Nam với số lượng dân cư, lực lượng lao động sống và làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp – nông thôn vẫn còn rất lớn nên nhu cầu về việc làm và giải quyết việc làm đối với lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của toàn xã hội là hết sức cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết

Trong những năm gần đây, hoạt động xuất khẩu lao động (XKLĐ) Việt Nam sang làm việc tại nước ngoài nói chung và Đài Loan nói riêng đã góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho lực lượng lao động nhàn rỗi của đất nước, hoạt động XKLĐ

đã và đang trở thành một lĩnh vực hoạt động KT - XH hết sức quan trọng trong sự nghiệp đổi mới của đất nước

Xét về quy mô, số lượng lao động xuất khẩu, theo số liệu thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Cục QLLĐNN) - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTB & XH), chỉ tính riêng từ năm 2000 đến 2010, cả nước có tổng số lao động xuất khẩu sang làm việc ở nước ngoài là 736.270 người, tại các thị trường truyền thống như Đài Loan, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc , trong đó riêng thị trường Đài Loan là 237.643 người, chiếm 32,27% trong tổng số lao động Việt Nam sang làm

Trang 10

việc tại nước ngoài và Việt Nam hiện có khoảng hơn 400.000 lao động đang làm việc

ở 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới

Xét về hiệu quả giá trị thu được từ hoạt động XKLĐ, mỗi năm lực lượng lao động này gửi về nước khoảng 1,8 tỉ USD Riêng tại thị trường Đài Loan hiện nay, với khoảng trên 80 nghìn lao động Việt Nam đang làm việc tại thị trường này, hàng năm lực lượng lao động này tạo được thu nhập khoảng 576.216 nghìn USD Theo báo cáo tại Hội thảo đánh giá thực trạng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã trở

về do Bộ LĐTB & XH tổ chức ngày 16/03/2011 tại Hà Nội, thì tại một số địa phương chỉ tính riêng trong năm 2009 số lao động tỉnh Bắc Giang đi XKLĐ đã gửi

về cho gia đình là 1.135 tỉ đồng, Thái Bình là 800 tỉ đồng, Phú Thọ là 600 tỉ đồng Riêng huyện Lạng Giang (Bắc Giang) số tiền người lao động đi XKLĐ gửi về là 120

tỉ đồng, trong khi đó tổng thu ngân sách của địa phương chỉ là 47 tỉ đồng

Qua đó ta thấy, thông qua hoạt động XKLĐ nói chung, đặc biệt là hoạt động XKLĐ sang thị trường Đài Loan hiện nay đã và đang góp phần rất lớn để giải quyết việc làm cho người lao động trong xã hội, tạo thu nhập cho người lao động tương đối cao từ đó nâng cao đời sống của người lao động và gia đình họ, tăng nguồn vốn để phát triển sản xuất, nhất là người lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn

Xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế thì hoạt động XKLĐ trong thời gian qua không chỉ có đóng góp quan trọng để mang lại lợi ích cho chính bản thân người lao động mà còn mang lại lợi ích rất lớn cho toàn xã hội; đồng thời hiện nay, với xu thế toàn cầu hoá kinh tế thế giới, kinh tế tri thức đã và đang được khẳng định có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển KT - XH của mỗi nước Thông qua hoạt động XKLĐ Việt Nam sang làm việc tại Đài Loan và các nước có nền công nghiệp phát triển, với trình độ công nghệ, kỹ thuật và trình độ quản lý tiên tiến hiện đại sẽ góp phần giúp lực lượng lao động của đất nước có cơ hội tiếp cận, sử dụng, tiếp thu kinh nghiệm làm việc, quản lý ở nước ngoài để sau khi hết thời hạn hợp đồng về nước, họ sử dụng nguồn vốn, kiến thức thực tế đã tích lũy được trong thời gian làm việc ở nước ngoài tham gia các hoạt động KT - XH và đây cũng là nguồn nhân lực

Trang 11

rất quan trọng để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá (CNH) - hiện đại hoá (HĐH) đất nước được thực hiện nhanh chóng và đạt chất lượng hiệu quả

Bên cạnh những kết quả đóng góp, lợi ích mà hoạt động XKLĐ đã đạt được, thì hiện nay hoạt động XKLĐ của Việt Nam nói chung và tại thị trường Đài Loan nói riêng vẫn còn những bất cập cần hoàn thiện như chính sách pháp luật của Nhà nước còn thiếu, chưa đồng bộ, sự phối hợp giữa các cơ quản lý Nhà nước ở trung ương và địa phương về hoạt động XKLĐ chưa chặt chẽ, việc tuyển chọn, đào tạo lao động, thu phí của người lao động đi XKLĐ còn nhiều hạn chế, quản lý lao động ở nước ngoài chưa tốt và nhất là tình trạng lao động Việt Nam bỏ trốn, cư trú bất hợp pháp tại Đài Loan còn nhiều

Do vậy, rất cần thiết được nghiên cứu hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan để làm rõ các vấn đề như:

Hoạt động XKLĐ là gì? Thực trạng hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan hiện nay ra sao? Những nguyên nhân, bất cập còn tồn tại của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài loan gồm những vấn đề gì? và từ đó có định hướng và giải pháp

gì để đẩy mạnh hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan trong thời gian tới

Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình

2.Tình hình nghiên cứu

XKLĐ của Việt Nam sang làm việc tại nước ngoài đã được nghiên cứu trong các bài viết của một số tác giả sau:

- Lê Hồng Huyên (2011), Quản lý Nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam

ra làm việc ở nước ngoài, Luận án tiến sĩ Kinh tế chính trị, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

- Dương Tuyết Nhung (2008), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu tại các doanh nghiệp xuất khẩu ở Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 12

- Đoàn Thị Trang (2009), Xuất khẩu lao động nữ của Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Trần Thị Thanh Trà (2006), Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế đối ngoại, Khoa Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

Các công trình nghiên cứu đã khái quát hoá một số vấn đề lý luận về XKLĐ, phân tích thực trạng XKLĐ ở Việt Nam, từ đó đã có những giải pháp để từng bước đổi mới, hoàn thiện, thúc đẩy hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang làm việc ở nước ngoài Tuy nhiên, sự nghiên cứu mới được xem như ở từng khía cạnh, chưa được nghiên cứu mang tính chất hệ thống về hoạt động XKLĐ Việt Nam sang làm việc tại Đài Loan

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hoạt động XKLĐ làm cơ sở

để phân tích, đánh giá một cách khoa học và mang tính khách quan hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan

- Để đạt được mục đích đề ra, luận văn đi từ khái quát hoá vấn đề lý luận về hoạt động XKLĐ, phân tích, so sánh, đánh giá hoạt động XKLĐ Việt Nam sang thị trường Đài Loan với hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang các thị trường khác và đặt trong mối quan hệ với một số hoạt động khác của nền kinh tế Hệ thống hoá lý luận

về hoạt động XKLĐ, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về hoạt động XKLĐ từ đó rút

ra bài học kinh nghiệm áp dụng vào Việt Nam, xây dựng các chỉ tiêu đánh gía khách quan, so sánh, phân tích một cách khoa học về thực trạng hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan

- Đưa ra những giải pháp để không ngừng đẩy mạnh hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan nói riêng và nước ngoài nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan gắn với hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang các thị trường khác

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn tiếp cận và nghiên cứu hoạt động XKLĐ từ việc khái quát hoá các vấn đề liên quan đến đề tài, xây dựng khái niệm có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:

- Phương pháp hệ thống và trừu tượng hóa khoa học: Nghiên cứu hoạt động XKLĐ sang Đài Loan được đặt trong nội tại của hoạt động XKLĐ chung của Việt Nam sang các nước khác và trong mối quan hệ với các hoạt động KT - XH khác của nền kinh tế

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan, từ đó sử dụng phương pháp tổng hợp để đưa ra các đánh giá khái quát về thực trạng hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan

- Phương pháp thống kê, so sánh và mô hình toán: Sử dụng số liệu, dữ liệu, tài liệu, thông tin thu thập được từ các cơ quan quản lý Nhà nước, công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí, bài viết, mạng internet nhằm diễn giải, phân tích một cách

có cơ sở, logic để đánh giá từng khía cạnh và toàn diện của nội dung cần nghiên cứu

- Phương pháp logic - lịch sử: Từ sự nghiên cứu một cách có logic tại mỗi mặt, từng khía cạnh của hoạt động XKLĐ, đồng thời kết gắn với từng giai đoạn lịch

sử hình thành và phát triển của hoạt động XKLĐ để hiểu được bản chất tất yếu của

nó làm cơ sở cho việc đánh giá một cách sát thực hoạt động XKLĐ sang Đài Loan nói riêng và hoạt động XKLĐ của Việt Nam nói chung

Trang 14

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống hoá để làm rõ những vấn đề mang tính lý luận cơ bản về hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan và nước ngoài nói chung để làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động XKLĐ

- Từ sự phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan, từ đó cho thấy rõ được các vấn đề như:

+ Hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ sang Đài Loan thông qua các chỉ tiêu về quy mô, số lượng lao động, mức độ giải quyết việc làm, hiệu quả kinh tế về thu nhập, hiệu quả xã hội của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan

+ Những thành công và hạn chế của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan

+ Những bất cập còn tồn tại và nguyên nhân rút ra của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan

- Đưa ra giải pháp thiết thực đề xuất với cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp XKLĐ tham khảo để đẩy mạnh hoạt động XKLĐ Việt Nam sang làm việc tại Đài Loan trong thời gian tới đạt hiệu quả hơn

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 Chương, cụ thể là:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất khẩu lao động

Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan giai

đoạn 2000 -2010

Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động

sang Đài Loan

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Lao động, sức lao động và hàng hóa sức lao động

* Lao động

Lao động được hiểu là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra hàng hoá và dịch vụ

* Sức lao động và hàng hoá sức lao động

Theo C.Mác, sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực, thể lực và trí lực tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội

“Sức lao động là một loại hàng hoá, tức nó gồm có giá trị và giá trị sử dụng, nhưng nó không phải là hàng hoá thông thường, mà sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt, bởi vì giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị, hơn nữa sinh ra một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó Nhưng sức lao động không phải bao giờ cũng là hàng hoá, nó chỉ biến thành hàng hoá trong những điều kiện lịch

sử nhất định, tức người lao động phải được tự do về thân thể và người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất” [ 7, tr 84-88]

1.1.2 Nguồn nhân lực, di dân

* Nguồn nhân lực

Mỗi quốc gia muốn phát triển KT - XH thì nhất thiết phải có nguồn lực như con người, tài nguyên thiên nhiên, vốn, công nghệ, khoa hoc kỹ thuật và trong các nguồn lực kể trên thì nguồn lực con người là quan trong nhất, có tính quyết định đến

sự tăng trưởng và phát triển KT- XH Tức một quốc gia dù có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, công nghệ, máy móc kỹ thuật hiện đại đến đâu, nhưng nếu không

Trang 16

có nguồn lực con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng, phát triển KT - XH như mong muốn

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực, cụ thể là:

Theo Liên hiệp quốc (UN) thì nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước

Theo Ngân hàng thế giới (WB) thì nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân Như vậy, ở đây nguồn nhân lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động

Từ những quan niệm trên, có thể hiểu khái niệm về nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động gồm thể lực và trí lực của một quốc gia, được kết tinh từ truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của dân tộc được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai cho xã hội tại mỗi thời điểm nhất định của lịch sử

* Di dân, tính tất yếu của di dân

- Khái niệm di dân

Trong đời sống xã hội tại mỗi một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau trên thế giới, con người thường di chuyển chỗ ở (môi trường sống), nơi làm việc, nó xuất phát từ nhiều nguyên nhân và mục đích khác nhau và vào các thời điểm khác nhau Hiện tượng di chuyển trên có thể hiểu là di dân (di cư) Hiện tượng di dân bị tác động bởi nhiều nhân tố KT - XH Xã hội càng phát triển, thì hiện tượng di dân cũng phát triển theo và ngày càng trở nên phổ biến, nó mang tính tất yếu khách quan

+ “Di dân là sự di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những giới hạn về thời gian và không gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên”

[16, tr.78]

Trang 17

+ “Di dân là quá trình di chuyển của con người qua biên giới của vùng lãnh thổ này sang vùng lãnh thổ khác kèm theo hiện tượng di chuyển chỗ ở thường trú hoặc thay đổi tạm thời Nếu sự di chuyển đó diễn ra trong phạm vi từng nước thì gọi

là di dân nội địa, còn nếu sự di chuyển đó vượt ra khỏi phạm vi mỗi nước và mang tính chất liên quốc gia thì gọi là di dân quốc tế” [14, tr.96-107]

“Di cư lao động quốc tế (international labor migration) là di chuyển lao động

từ nước này sang nước khác với mục đích tìm việc làm, tiền lương cao và cuộc sống tốt hơn” [ 26, tr.195-199]

- Tính tất yếu của di cư lao động quốc tế

Một là, do sự mất cân đối giữa cung - cầu về việc làm trong mỗi quốc gia dẫn

đến di cư quốc tế Tại một số nước đang phát triển, có tỉ lệ dân số tăng cao, nguồn lực lượng lao động trong độ tuổi lao động dồi dào, trong khi sản xuất trong nước còn chậm phát triển, chưa thu hút được hết toàn bộ lực lượng lao động của xã hội Do vậy, sức ép về việc làm tăng lên, đòi hỏi Chính phủ các nước phải tìm đầu ra cho lực lượng lao động dư thừa để giảm tình trạng thất nghiệp

Hai là, sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các quốc gia trong cùng

khu vực và trên thế giới ngày càng tăng trở thành lực hút dẫn đến hiện tượng di dân

từ nước có thu nhập và mức sống thấp sang các nước có thu nhập, mức sống cao hơn Lợi ích thu được của di cư quốc tế có thể tính được bằng mức tiền công và thu thập thực tế cao hơn do người di cư kiếm được trong suốt thời gian họ sinh sống và làm việc ở nước ngoài

Ba là, chênh lệch về mức tăng dân số tự nhiên giữa các quốc gia trở thành

“lực đẩy” di dân tất yếu sang nước có mức tăng dân số thấp hơn

Bốn là, do tác động của toàn cầu hoá và nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của

mỗi quốc gia

1.1.3 Sự hình thành và phát triển của thị trường lao động, XKLĐ và một số khái niệm liên quan

* Khái niệm thị trường

Trang 18

- Tư tưởng về thị trường đầu tiên phải kể đến các Nhà kinh tế theo chủ nghĩa trọng thương, họ cho rằng hàng hoá chỉ là phương tiện, là khâu trung gian để đạt được mục đích là tiền tệ

- Người ghi dấu ấn đậm nét trong nghiên cứu về thị trường là Nhà kinh tế học

cổ điển Anh, tiêu biểu là A.Smith, Ông đã phân tích phân công lao động đã tạo ra thị trường và mục đích của thị trường là để thu lợi nhuận, thị trường chính là “bàn tay vô hình” điều khiển nền kinh tế A.Smith là người đầu tiên phân chia thị trường thành nhiều dạng khác nhau để nghiên cứu như thị trường hàng hoá, thị trường lao động, thị trường tư bản

- C.Mác kế thừa các lý thuyết cũ để xây dựng một học thuyết mới về thị trường Theo C.Mác, thị trường là lĩnh vực trao đổi và cao hơn là lưu thông hàng hoá, Ông đã phân tích một cách sâu sắc quan hệ cung - cầu giá cả thị trường và vai trò cạnh tranh đối với việc hình thành giá trị thị trường

- Nhà kinh tế học P.A.Samuelson: “thị trường là một quá trình mà trong đó, người mua và người bán một thứ hàng hoá tác động qua lại lẫn nhau để xác định số lượng và giá cả hàng hoá” [27, tr.255]

* Khái niệm thị trường lao động

- Theo Đại từ điển kinh tế thị trường đã trình bày khái niệm: “Thị trường lao động là nơi mua, bán sức lao động của người lao động”

- Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO): Thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ việc làm của lao động cũng như mức độ tiền công

Từ đó, có thể hiểu thị trường lao động là những quan hệ trao đổi, mua bán sức lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động dưới hình thức thoả thuận hoặc hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật diễn ra trong nước và quốc tế

Thị trường lao động là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người có nhu cầu sử dụng lao động Sự trao đổi này được thoả thuận trên cơ sở mối quan hệ lao

Trang 19

động như tiền lương, tiền công, thời giờ, điều kiện làm việc thông qua một hợp đồng làm việc bằng văn bản hay bằng miệng

* Thị trường lao động quốc tế là nơi diễn ra quan hệ mua bán sức lao động trên quốc tế Người cung cấp và lượng nhu cầu sức lao động không thuộc về cùng một quốc gia, sức lao động vượt qua biên giới giữa các quốc gia Thị trường lao động quốc tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trường thế giới Như vậy, trên thị trường lao động quốc tế, các chủ thể tham gia thị trường lao động mang quốc tịch khác nhau

* Sự hình thành và phát triển của thị trường hàng hoá sức lao động quốc tế

Do sự phát triển không đồng đều về trình độ phát triển KT - XH, cũng như sự phân bố không đều về nguồn tài nguyên, dân cư, khoa học công nghệ giữa các vùng, khu vực và giữa các quốc gia, dẫn đến không một quốc gia nào lại có đầy đủ, đồng

bộ các yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất và phát triển KT - XH Từ đó, tất yếu sẽ dẫn đến việc các quốc gia phải tìm kiếm và sử dụng những nguồn lực bên ngoài để

bù đắp một phần thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất xã hội

Thực tế cho thấy, tại các quốc gia kinh tế kém hoặc đang phát triển, có dân số đông, thiếu việc làm trong nước, thu nhập bình quân thấp không đủ để đảm bảo cuộc sống của gia đình và chính người lao động Để khắc phục tình trạng này, buộc các nước này phải tìm kiếm việc làm tại các nước khác để giải quyết tình trạng thiếu việc làm cho lực lượng lao động của nước mình Trong khi đó, ở những nước có nền kinh

tế phát triển thường có ít dân số, và lực lượng lao động xã hội không đủ nhân lực để đáp ứng nhu cầu sản xuất nên buộc các nước này phải đi thuê lao động từ các nước khác có nhiều lao động dôi dư và có khả năng cung ứng lao động cho nước họ Do vậy, quan hệ cung - cầu về lao động được xác định và điều này đồng nghĩa với việc hình thành thị trường hàng hoá sức lao động quốc tế

* Khái niệm xuất khẩu lao động

Lịch sử phát triển KT - XH cho thấy, từ sự di chuyển lao động quốc tế mang tính tự phát, đơn lẻ dần trở thành trào lưu di dân quốc tế Trong thời đại hiện nay,

Trang 20

việc di chuyển lao động quốc tế là tất yếu và ngày càng phổ biến thì thuật ngữ

“XKLĐ” đã và đang được sử dụng một cách rộng rãi

Do vậy, XKLĐ được hiểu là sự di chuyển quốc tế sức lao động có mục đích

và được pháp luật cho phép XKLĐ được nghiên cứu trong luận văn này được hiểu là

sự di chuyển lao động ra nước ngoài làm việc một cách có tổ chức, được pháp luật bảo vệ hợp pháp thông qua những hiệp định của Chính phủ hoặc các tổ chức kinh tế được Nhà nước cấp phép hoạt động cung ứng và tiếp nhận lao động hoặc thông qua các hợp đồng nhận thầu công trình hoặc đầu tư ra nước ngoài hoặc do tự thân người lao động tìm kiếm việc làm ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân

Hoạt động XKLĐ là hoạt động KT - XH có chứa yếu tố nước ngoài, mang tính đặc thù, trong đó hàng hoá để xuất khẩu ra nước ngoài là sức lao động của người lao động Hoạt động XKLĐ mang tính tất yếu khách quan của quá trình di chuyển yếu tố đầu vào của sản xuất Nó được dùng để chỉ một lĩnh vực hoạt động KT - XH của một quốc gia do các tổ chức kinh tế cung ứng nguồn lao động cho các tổ chức kinh tế nước ngoài có nhu cầu tiếp nhận lao động và sử dụng lao động để sản xuất kinh doanh (SXKD) hàng hoá và dịch vụ trong một thời gian nhất định

1.1.4 Những nhân tố chính tác động đến hoạt động XKLĐ

- Các nhân tố bên trong

Một là, định hướng chính sách của Đảng, Nhà nước về hoạt động XKLĐ sang

nước ngoài nói chung và sang thị trường Đài Loan nói riêng

Trong mỗi giai đoạn khác nhau thì có những cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau về XKLĐ, hoạt động XKLĐ giữa các nước đều bao hàm sự tính toán về lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc Vì vậy, hoạt động XKLĐ chịu sự tác động trực tiếp từ chủ trương và các chính sách, biện pháp quản lý, điều tiết của Chính phủ các nước XKLĐ Đối với nước XKLĐ, việc điều chỉnh các quy định, chính sách thị trường, đối tượng lao động, điều kiện tham gia hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ, sự hỗ trợ của Nhà nước đều tác động trực tiếp tới hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ, người lao động tham gia XKLĐ, tạo thuận lợi, hoặc cản trở hoạt động của các chủ thể tham gia

Trang 21

Ở Việt Nam, trước những năm đổi mới thì hoạt động XKLĐ thường không phản ánh đúng nghĩa của nó là một hoạt động KT – XH của nền kinh tế Trong các thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ trước, Việt Nam cử người lao động sang nước ngoài làm việc do Nhà nước trực tiếp quyết định bằng việc phân bổ chỉ tiêu đến từng nhà máy,

xí nghiệp thực hiện, người lao động sang nước ngoài làm việc chỉ để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm và mang tính chất chính trị giữa Việt Nam với các nước XHCN như Liên Xô cũ và các nước khu vực Đông Âu, khi đó chúng ta thường sử dụng thành ngữ “Hợp tác lao động quốc tế có thời hạn” còn “XKLĐ” chưa được cụ thể hoá bằng chính sách pháp luật như hiện nay Nhưng đến nay, khi nền kinh tế của đất nước vận hành theo cơ chế thị trường thì mục tiêu là vì lợi ích kinh tế của mỗi cá nhân, tổ chức

và quốc gia; nhận thức cũng như quan điểm, định hướng của Nhà nước về hoạt động XKLĐ đã được thay đổi dẫn đến việc hình thành các doanh nghiệp XKLĐ hoạt động độc lập về tài chính, lấy thu bù chi và với mục đích là lợi nhuận Chính vì vậy, hoạt động XKLĐ trong những năm gần đây ngày càng sôi động hơn và đang trở thành một hoạt động KT - XH hết sức quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Hai là, xây dựng ban hành luật pháp và thực hiện luật pháp trong lĩnh vực

XKLĐ

Khi luật pháp là công cụ quản lý vĩ mô không thể thiếu để điều chỉnh các hoạt động KT - XH nói chung và hoạt động XKLĐ nói riêng, tức khi có luật pháp điều chỉnh trong hoạt động XKLĐ thì hoạt động XKLĐ sẽ dần từng bước hoàn thiện Tuy nhiên, đôi khi luật pháp đã được ban hành, song việc thực thi pháp chế, chế tài không nghiêm (hoặc chính sách, luật pháp không đầy đủ) thì các chính sách, luật pháp cũng không thể phát huy hết tác dụng và có hiệu quả như mong muốn; điều này được thể hiện trong thời gian qua rất nhiều hiện tượng lộn xộn trong hoạt động XKLĐ cả đối với các doanh nghiệp XKLĐ, người lao động, cơ quan được giao quản lý kiểm tra, giám sát hoạt động XKLĐ, đặc biệt là các cá nhân trung gian lợi dụng để thu tiền bất hợp pháp của người lao động

Ba là, hệ thống doanh nghiệp XKLĐ và dịch vụ tư vấn việc làm, pháp luật

nước ngoài

Trang 22

Trong hoạt động XKLĐ, doanh nghiệp XKLĐ là cầu nối giữa cung lao động trong nước với cầu lao động nước ngoài hay là thực hiện vai trò trung gian môi giới giữa người lao động trong nước có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài và thực hiện các dịch vụ có thu phí để cung - cầu về lao động được thực hiện

Bốn là, hệ thống thông tin việc làm, tư vấn pháp luật

Thông tin có tác dụng định hướng cho các doanh nghiệp XKLĐ cung ứng lao động vào thị trường lao động Đài Loan Khi thông tin được công bố đầy đủ, rõ ràng

về các điều kiện tuyển chọn, chế độ đãi ngộ, môi trường làm việc, sinh hoạt, phong tục tập quán, các quy định pháp luật ở Đài Loan, người lao động sẽ dễ dàng xác định được các công việc, ngành nghề phù hợp với năng lực của bản thân để đăng ký tham gia XKLĐ sang Đài Loan, từ đó sẽ hạn chế được các tiêu cực phát sinh trong việc tuyển chọn, đào tạo, thu các khoản chi phí XKLĐ cũng như nâng cao hiệu quả làm việc của người lao động tại Đài Loan, có tác động lành mạnh môi trường XKLĐ và nâng cao hiệu quả hoạt động XKLĐ sang Đài Loan

Năm là, trình độ nhận thức, tay nghề, cơ cấu của lực lượng lao động tham gia

vào thị trường lao động Đài Loan

Trình độ nhận thức kém, số lượng ít, tay nghề yếu, cơ cấu không phù hợp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc cung cấp kịp thời lao động theo yêu cầu của từng đơn hàng tiếp nhận lao động Việt Nam vào Đài Loan

Sáu là, khả năng tài chính (chi phí của người lao động) phải nộp trước khi

sang nước ngoài làm việc

Trước khi người lao động đăng ký hồ sơ, thủ tục tham gia chương trình XKLĐ thì họ đã phải nắm được tổng chi phí cần thiết phải bỏ ra để được sang nước ngoài làm việc Tuy nhiên, chỉ có một số ít trường hợp lao động là có nguồn tài chính sẵn

có của gia đình để trang trải trước khi xuất cảnh, còn lại phần đông người lao động, đặc biệt là những lao động tại các vùng sâu, vùng xa rất khó khăn về tài chính và họ thường phải đi vay muợn từ họ hàng, bạn bè và các tổ chức tín dụng, ngân hàng chính sách, ngân hàng thương mại mới có đủ nguồn tài chính để đăng ký tham gia các chương trình XKLĐ

Trang 23

Bảy là, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng hoạt động trong lĩnh vực

XKLĐ

- Các nhân tố bên ngoài

Một là, nhu cầu tiếp nhận lao động của Đài Loan

Khi Đài Loan nhập khẩu lao động, họ đều có sự tính toán vì lợi ích của quốc gia, dân tộc họ Do vậy, hoạt động XKLĐ chịu sự tác động trực tiếp từ chủ trương, chính sách, biện pháp quản lý, điều tiết của Chính phủ Đài Loan, những quy định điều kiện nhập cư, hay những thay đổi trong chính sách đầu tư, tái cơ cấu kinh tế, chính sách đối ngoại cũng có thể thúc đẩy hay trở thành rào cản, hạn chế số lượng lao động nhập khẩu của Việt Nam vào Đài Loan, hay nói cách khác là ảnh hưởng đến mức cung lao động Việt Nam sang Đài Loan

Hai là, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, giữa các công ty môi giới lao động

vào thị trường Đài Loan

Dựa trên quan hệ hợp tác, những hiệp định ký kết của các quốc gia với Chính phủ Đài Loan, Chính phủ mỗi nước đều có định hướng, chính sách riêng nhằm không ngừng tăng uy tín và vị thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp hoạt động XKLĐ và người lao động vào thị trường lao động Đài Loan

Các công ty môi giới lao động nước ngoài nói chung và Đài Loan nói riêng thu lợi từ cả hai phía, thu phí cung cấp lao động từ chủ thuê, thu phí tìm việc làm từ người lao động; họ giành giật hợp đồng cung cấp lao động cho chủ thuê bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp lao động với chi phí môi giới thấp nhất Tuy nhiên, khi đã có hợp đồng cung cấp lao động thì các công ty môi giới lại bán dịch vụ cung ứng lao động cho các công ty môi giới lao động các nước XKLĐ với mức cao nhằm tối đa hoá lợi nhuận Điều này giải thích tại sao các doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam muốn giành được hợp đồng cung ứng lao động phải nâng phí môi giới lên cao làm giảm thu nhập của người lao động

Ba là, quan hệ chính trị, ngoại giao giữa các nước với Đài Loan

Quan hệ chính trị, ngoại giao giữa các nước với nhau sẽ tác động rất lớn đến việc quan hệ hợp tác kinh tế, trong đó đương nhiên tác động đến XKLĐ Tức khi

Trang 24

chính trị, quan hệ đối ngoại giữa các nước được giải quyết một cách hài hoà và vì lợi ích của các nước sẽ có tác động thúc đẩy việc hợp tác kinh tế nói chung và XKLĐ nói riêng

Điều này, đã được chứng minh trong thời gian vừa qua vào ngày 08/02/2011,

Ủy ban lao động (UBLĐ) Đài Loan đưa ra lệnh tạm dừng tiếp nhận lao động của Philippin đến làm việc tại Đài Loan thời hạn 04 tháng, và việc tạm dừng này cũng không ngoại trừ khả năng Đài Loan sẽ dừng toàn bộ việc tiếp nhận lao động của Philippin sang Đài Loan làm việc nếu phía Philippin không có những hành động tích cực Nguyên nhân do xuất phát từ một số sự việc làm ảnh hưởng tới quan hệ giữa Philippin và Đài Loan

Bốn là, tác động của thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh

Khi xảy ra dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh sẽ tác động trực tiếp và nhanh chóng đến hoạt động XKLĐ, thực tế đã cho ta thấy là:

+ Dịch bệnh: Đầu năm 2003, dịch Sar bùng phát, ảnh hưởng đến hoạt động

KT - XH của hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có hoạt động XKLĐ Cũng vì nguyên nhân này, ngày 04/4/2003 Chính phủ Malaysia tạm dừng cấp visa cho lao động Việt Nam sang làm việc tại Malaysia, trước đó bình quân mỗi tháng Việt Nam

đã đưa từ 2.000 đến 3.000 lao động sang thị trường này

+ Thiên tai: Sự kiện động đất, sóng thần tại Nhật Bản vào tháng 3/2011 làm thiệt hại về người và tài sản của Nhật Bản rất lớn, từ đó một số tập đoàn lớn đã phải ngừng hoạt động tại khu vực xảy ra thiên tai nên việc đưa tu nghiệp sinh Việt Nam sang học tập và làm việc tại Nhật Bản sau khi xảy ra thiên tai cũng bị giảm đáng kể

+ Chiến tranh: Tại Libya vào đầu năm 2011, đã buộc các quốc gia có lao động đang làm việc tại Libya phải thu xếp đưa lao động về nước Trong đó, Chính phủ Việt Nam đã phải trực tiếp chỉ đạo các bộ, ngành liên quan và nhờ sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế đến ngày 13/3/2011 đã đưa toàn bộ trên 10.000 lao động làm việc tại Lybia về nước để bảo vệ công dân của mình

Trang 25

Năm là, truyền thống, văn hoá, dân tộc như các định kiến, phong tục, tập quán

của Đài Loan có ảnh hưởng rất lớn đến người lao động Việt Nam sống và làm việc tại Đài Loan

Bởi vì, các chính sách tuyển lao động của Đài Loan hay bất kỳ nước nào khác tiếp nhận lao động cũng sẽ hàm chứa sự bảo tồn, giữ gìn các giá trị truyền thống, văn hoá, chính trị tôn giáo của nước họ Tôn trọng truyền thống, văn hóa, dân tộc của Đài Loan là điều đương nhiên khi lao động Việt Nam hay lao động của các quốc gia khác sinh sống và làm việc tại Đài Loan, nếu có sự khác biệt quá lớn về phong tục, tập quán, văn hoá ứng xử sẽ gây khó khăn cho người lao động từ đó phát sinh ra những mâu thuẫn giữa chủ sử dụng lao động và người lao động

Sáu là, sự điều chỉnh hay thay đổi chính sách, luật pháp của Đài Loan

Khi có sự điều chỉnh về chính sách tiếp nhận lao động nước ngoài sẽ tác động trực tiếp đến nhu cầu lao động nước ngoài tại nước nhập khẩu lao động Những quy định về điều kiện nhập cư, hay những thay đổi trong chính sách đầu tư, tái cơ cấu nền kinh tế, chính sách đối ngoại sẽ có thể thúc đẩy hay trở thành rào cản, hạn chế số lượng lao động nhập khẩu, do đó ảnh hưởng đến mức cung ứng lao động xuất khẩu của nước XKLĐ; tức khi chính sách và pháp luật của Đài Loan trong về việc tiếp nhận lao động nước ngoài thay đổi, sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động XKLĐ của các doanh nghiệp XKLĐ nước ngoài đang cung ứng lao động vào thị trường Đài Loan Điều đáng quan tâm nữa là chính sách, luật pháp của nước nhập khẩu lao động nói chung và Đài Loan nói riêng, đều phải có quy định riêng của họ, đôi khi còn nhiều bất cập Tuy nhiên, là một nước XKLĐ thì vẫn phải luôn luôn cập nhật và tìm hiểu và phải thực hiện theo quy định pháp luật của nước tiếp nhận lao động Điều này

đã xảy ra là năm 2005, Đài Loan quyết định ngừng tiếp nhận lao động giúp việc gia đình và khán hộ công (GVGĐ & KHC) của Việt Nam, từ đó đã làm cho số lượng lao động của Việt Nam sang thị trường này năm 2006 giảm 38% so với năm 2005

Bảy là, lao động Việt Nam tại Đài Loan có một số vi phạn pháp luật nước sở

tại, đặc biệt là tình trạng bỏ trốn và cư trú bất hợp pháp tại Đài Loan làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh cũng như uy tín của lao động Việt Nam

Trang 26

1.2 Nội dung của hoạt động XKLĐ

1.2.1 Cấp phép và quản lý các doanh nghiệp XKLĐ

Cấp phép hoạt động XKLĐ được hiểu là việc xem xét năng lực và điều kiện cần thiết theo quy định của Nhà nước về hoạt động XKLĐ đối của các doanh nghiệp Việt Nam đề nghị được cấp phép hoạt động đưa người lao động Việt Nam sang làm việc tại nước ngoài

Quản lý các doanh nghiệp XKLĐ được hiểu là quá trình quản lý, kiểm tra, giám sát, xử lý của cơ quan chức năng Nhà nước đối với việc thực hiện hoạt động đưa người lao động Việt Nam sang làm việc ở nước ngoài của các doanh nghiệp được cấp phép hoạt động XKLĐ

Đây là một trong những nội dung cơ bản, có ý nghĩa quan trọng để định hướng

và thiết lập cơ sở pháp lý cho việc hình thành và phát triển của hoạt động XKLĐ Chủ trương hoạt động XKLĐ sang nước ngoài được xác định và điều chỉnh phù hợp với tình chung của lĩnh vực XKLĐ đất nước và quốc tế trong mỗi giai đoạn khác nhau Nhà nước quản lý các doanh nghiệp XKLĐ bằng chính sách, luật pháp, chế tài

để điều chỉnh hoạt động XKLĐ sang nước ngoài

1.2.2 Nghiên cứu, khai thác thị trường nước ngoài

Đây là nội dung phản ánh năng lực hoạt động XKLĐ của doanh nghiệp XKLĐ cũng như của quốc gia trong việc tìm kiếm, xác định nhu cầu nhập khẩu lao động nước ngoài với lao động Việt Nam, từ đó tiến hành các biện pháp có thể đẩy nhanh số lao động sang nước ngoài Trước hết, Nhà nước giữ vai trò hết sức quan trọng bằng quan hệ ngoại giao hợp tác giữa Việt Nam và nước ngoài để đàm phán đến ký kết các hiệp định, thoả thuận, bản ghi nhớ hợp tác về cung ứng - tiếp nhận lao động thiết lập môi trường pháp lý quốc tế, mở đường cho các doanh nghiệp XKLĐ tiến hành các hoạt động tiếp cận thị trường lao động nước ngoài

1.2.3 Khai thác, tuyển chọn lao động trong nước

Đây là nội dung liên quan đến đầu vào, nguồn cung lao động Việt Nam sang nước ngoài Thực hiện tốt nội dung này sẽ đảm bảo được nguồn cung lao động cả về

số lượng và chất lượng, thông qua đó nâng cao được khả năng cạnh tranh trong hoạt

Trang 27

động XKLĐ cũng như của quốc gia Việc tuyển chọn lao động xuất khẩu do các doanh nghiệp XKLĐ trực tiếp triển khai tiến hành trên cơ sở các hợp đồng cung ứng

mà doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam đã ký kết với các đối tác nước ngoài (hợp đồng cung ứng phải được đăng ký với cơ quan quản lý Nhà nước về tính khả thi, xác thực)

và phải tuân theo các quy định của luật pháp của Nhà nước về tuyển chọn lao động Hoạt động này, thực hiện triển khai dưới sự kiểm tra, giám sát thường xuyên của các

cơ quan chức năng về tuyển chọn lao động

1.2.4 Đào tạo lao động

Đào tạo được hiểu là các hoạt động truyền tải thông tin và dữ liệu từ người này (giảng viên) cho người khác (học viên) Kết quả là có sự thay đổi kiến thức, kỹ năng và thái độ của học viên từ mức độ thấp đến cao

Đào tạo lao động là việc trang bị cho người lao động nắm được những kiến thức cơ bản nhất về chủ trương chính sách, pháp luật của Việt Nam cũng như chính sách pháp luật, ngôn ngữ giao tiếp thường ngày của nước ngoài, nước mà người lao động sang sinh sống và làm việc; đồng thời giáo dục định hướng cho người lao động

về phong tục tập quán, văn hoá của nước ngoài

Khi người lao động sang nước ngoài mà chưa được đào tạo ngoại ngữ và giáo dục định hướng thì rất dễ gặp phải trở ngại trong quá trình sống và làm việc tại nước ngoài

1.2.5 Các khoản chi phí và các khoản khấu trừ của người lao động sang nước ngoài

- Chi phí của người lao động khi xuất cảnh

Chi phí đuợc hiểu là các hao phí về nguồn lực để doanh nghiệp đạt được một hoặc những mục tiêu cụ thể, hay nói một cách khác đó là số tiền phải trả để thực hiện các hoạt động kinh tế như sản xuất, giao dịch

Chi phí cơ hội là phần lợi nhuận mất đi khi chọn phương án này mà không chọn phương án khác

Chi phí của lao động được hiểu là khoản chi phí (khoản tiền nhất định) mà họ phải bỏ ra để được sang nước ngoài làm việc Vì vậy, chi phí của người lao động

Trang 28

tham gia XKLĐ có thể coi đó chính là chi phí cơ hội đối với người lao động chi ra để được sang làm việc tại nước ngoài

- Các khoản khấu trừ của người lao động tại nước ngoài

Các khoản khấu trừ của người lao động tại nước ngoài được hiểu là những chi phí mà người lao động bị khấu trừ trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng theo quy định của nước ngoài

1.2.6 Đưa người lao động sang nước ngoài và tổ chức quản lý lao động

Đưa người lao động sang nước ngoài và tổ chức quản lý lao động được hiểu

là quá trình tiến hành làm các thủ tục cần thiết để đưa người lao động sang nước ngoài và quản lý người lao động đến khi họ về nước thanh lý hợp đồng

- Đưa người lao động sang nước ngoài được hiểu là việc hướng dẫn người lao động tiến hành các công việc như khai, lập các hồ sơ cần thiết theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật nước ngoài, phối hợp với đối tác, chủ sử dụng lao động để đưa lao động sang nước ngoài làm việc

- Tổ chức quản lý lao động Việt Nam tại nước ngoài được hiểu là việc nắm bắt tình hình thực tế liên quan đến lao động, việc làm, thu nhập, điều kiện sinh hoạt của người lao động tại thị trường lao động nước ngoài để có những biện pháp thúc đẩy hoặc kịp thời xử lý, ngăn chặn những sự việc biểu hiện không tốt nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động tại nước ngoài, bao gồm các vấn đề như:

+ Quản lý, nắm bắt thực tế về quy mô, số lượng, cơ cấu lao động Việt Nam tại nước ngoài cũng như lao động của các nước khác đang làm việc tại nước ngoài, đặc biệt là quy mô, số lượng và cơ cấu lao động Việt Nam đang làm việc tại nước ngoài

so với các nước khác đang cung cấp cho thị trường nước ngoài để từ đó có sự điều chỉnh tăng hoặc giảm nguồn cung lao động của Việt Nam phù hợp với nhu cầu thực

tế của thị trường lao động nước ngoài

+ Nắm bắt tình hình về việc làm, thu nhập điều kiện sức khoẻ của người lao động Việt Nam, đặc biệt là trường hợp vi phạm hợp đồng, phá hợp đồng và bỏ trốn,

cư trú bất hợp pháp tại nước ngoài để có các biện pháp xử lý tình huống thích hợp nhằm duy trì thị trường lao động, tạo việc làm ồn định cho người lao động

Trang 29

+ Tham gia phối hợp giải quyết khi xảy ra phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động với chủ sử dụng, đối tác tại nước ngoài

1.2.7 Thanh lý hợp đồng lao động

Thanh lý hợp đồng lao động được hiểu là việc doanh nghiệp XKLĐ và người lao động tiến hành thanh lý để chấm dứt các quyền và trách nhiệm của các bên theo các nội dung hợp đồng trước đây đã ký kết

- Thanh lý hợp đồng lao động đúng thời hạn là việc doanh nghiệp XKLĐ thanh lý hợp động với người lao động khi người lao động hết hạn hợp đồng về nước

và đến doanh nghiệp XKLĐ để tiến hành thanh lý hợp đồng

- Thanh lý hợp đồng lao động trước hạn là việc doanh nghiệp XKLĐ thanh lý hợp động với người lao động mà ở đó thời hạn hợp đồng đã ký giữa doanh nghiệp XKLĐ với người lao động trước khi xuất cảnh sang nước ngoài vẫn còn hiệu lực, nhưng vì lý do nào đó mà người lao động phải về nước trước thời hạn hợp đồng và người lao động đến doanh nghiệp XKLĐ để tiến hành thanh lý hợp đồng

1.3 Hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang nước ngoài

1.3.1 Khái niệm hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Hiệu quả kinh tế - xã hội là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ giữa kết quả của nền sản xuất xã hội (xét cả hai mặt kinh tế và xã hội)

và các nguồn phương tiện tạo ra nó, được đánh giá thông qua thước đo thực hiện mục tiêu của một phương thức sản xuất nhất định và những nhiệm vụ KT - XH của từng thời kỳ, từng kế hoạch dài hạn và kế hoạch hằng năm”

Hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ sang nước ngoài là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của hoạt động XKLĐ sang nước ngoài với các nguồn lực để tạo ra nó nhằm thực hiện mục tiêu giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề, tăng nguồn thu và dự trữ ngoại tệ, phát triển nguồn nhân lực, khám phá và tiếp nhận các bí quyết công nghệ, tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa Việt Nam với quốc tế

Khi xem xét hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ sang nước ngoài, phải xem xét cả hai mặt kinh tế và xã hội trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau,

Trang 30

trong sự kết hợp lợi ích của cá nhân và gia đình người lao động với lợi ích của Nhà nước, trong việc giải quyết lợi ích giữa người đi XKLĐ với doanh nghiệp XKLĐ, trong việc giải quyết lợi ích doanh nghiệp XKLĐ với lợi ích Nhà nước, trong việc giải quyết lợi ích của hoạt động XKLĐ Việt Nam với lợi ích của nước ngoài

Việc phân biệt hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội của hoạt động XKLĐ sang nước ngoài chỉ là tương đối vì giữa chúng luôn có mối quan hệ tương hỗ đan xen lẫn nhau, thậm chí vận động ngược chiều nhau và được đánh giá nhìn nhận trong từng thời kỳ nhất định

1.3.2 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ sang nước ngoài

Hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ sang nước ngoài có các chỉ tiêu định tính và các chỉ tiêu định lượng Trong luận văn này, tác giả đưa ra một số chỉ tiêu cơ bản phản ảnh hiệu quả thiết thực của hoạt động XKLĐ sang nước ngoài

1.3.2.1 Quy mô, số lượng lao động Việt Nam tại nước ngoài

Quy mô lao động làm việc tại nước ngoài là chỉ tiêu phản ánh số lượng lao động bình quân của Việt Nam làm việc tại nước ngoài hàng năm và được tính theo công thức:

Trong đó:

QMj là số lao động bình quân làm việc tại nước ngoài năm thứ j;

QMexj là số lao động xuất khẩu sang nước ngoài bình quân năm thứ j;

QMexj-1là số lao động đang làm việc tại nước ngoài cuối năm thứ j-1;

QMimj là số lao động tại nước ngoài về nước năm thứ j;

j là năm nghiên cứu

Hoạt động XKLĐ sang nước ngoài với quy mô ngày càng tăng và thường xuyên được duy trì, ổn định thì lực lượng lao động của Việt Nam tại nước ngoài ngày càng lớn và tạo ra được nhiều thu nhập cho người lao động cũng như cho đất nước nói chung

1.3.2.2 Mức độ giải quyết việc làm của hoạt động XKLĐ sang nước ngoài

Trang 31

Mức độ giải quyết việc làm hàng năm từ hoạt động XKLĐ sang nước ngoài là

tỉ lệ % giữa số lao động Việt Nam xuất khẩu sang nước ngoài hàng năm so với số lao động cần tạo việc làm mới hàng năm

Mức độ giải quyết việc làm từ hoạt động XKLĐ sang nước ngoài được xác định theo công thức:

Qexj

Qvlmj Trong đó:

Mexj là mức độ giải quyết việc làm từ hoạt động XKLĐ sang nước ngoài năm thứ j

Qexj là số lao động xuất khẩu sang nước ngoài năm thứ j;

Qvlmj là số lao động cần tạo việc làm mới năm thứ j

Mexj cho ta biết hàng năm số việc làm mới được tạo ra từ hoạt động XKLĐ sang nước ngoài chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng số lao động cần giải quyết việc làm

1.3.2.3 Hiệu quả kinh tế của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang nước ngoài về thu nhập

- Hiệu quả kinh tế về thu nhập của người lao động tại nước ngoài

Khoản thu nhập tích luỹ được của người lao động Việt Nam sang làm việc tại nước ngoài được xác định theo công thức sau:

Trang 32

TNtl càng lớn thì lượng tiền thực tế của lao động sẽ chuyển tiền về nước càng nhiều trong tương lai

- Hiệu quả kinh tế về thu nhập của lao động tại một số thị trường

- Hiệu quả kinh tế về thu nhập của lao động tại nước ngoài đóng góp vào GDP bình quân đầu người hàng năm của đất nước

1.3.2.4 Hiệu quả xã hội của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang nước ngoài

- Thúc đẩy sự hợp tác quan hệ quốc tế giữa Việt Nam với bạn bè quốc tế

- Tiếp cận và khám phá nhanh chóng nền kinh tế có trình độ khoa học và kỹ thuật cao

- Giới thiệu hình ảnh đất nước và con người Việt Nam với bạn bè quốc tế

1.4 Kinh nghiệm XKLĐ của một số nước sang Đài Loan và vận dụng vào Việt Nam

1.4.1 Kinh nghiệm XKLĐ của Philippin

Philippin là một trong những nước XKLĐ lớn nhất trong khu vực Đông Nam

Á, lao động Philippin đi lao động ở nhiều nơi trên thế giới

- Cơ chế tổ chức hoạt động XKLĐ: Luật lao động của Philippin ban hành từ năm 1973 đã đặt cơ sở về việc làm tại nước ngoài, với quan điểm xúc tiến việc XKLĐ dư thừa của Philippin

Năm 1995, Quốc hội Philippin thông qua Luật di dân và người Philippin ở nước ngoài, Luật này tạo hành lang pháp lý để thực hiện chương trình di dân của Philippin ra nước ngoài làm việc, quy định việc khuyến khích công dân, các hình phạt khi các tổ chức, cá nhân vi phạm

Cục Quản lý việc làm ngoài nước (gọi tắt là Cục POEA) là cơ quan duy nhất của Chính phủ thực hiện chức năng tuyển chọn, bố trí và quản lý các khu vực cá nhân tham gia vào chương trình XKLĐ và cấp phép sang nước ngoài làm việc cho người lao động khi có hợp đồng cá nhân

Cục POEA cấp giấy phép hoạt động XKLĐ cho các công ty cung ứng lao động ra nước ngoài làm việc nói chung và Đài Loan nói riêng Một trong những điều kiện để được cấp phép hoạt động là các công ty môi giới phải nộp tiền mặt để ký

Trang 33

cược và một khoản tiền bảo lãnh nhất định, có vốn tốt thiểu theo quy định nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động

- Về chính sách phát triển thị trường và quản lý lao động ở nước ngoài: Cục POEA đã soạn thảo chương trình tiếp thị và các chiến lược thị với sự tham gia của Trung tâm khu vực và các Tuỳ viên lao động để thường xuyên cập nhật thông tin về thị trường lao động Đài Loan, tình hình lao động Philippin tại Đài Loan nhằm giúp các công ty XKLĐ định hướng hoạt động và quảng cáo năng lực của các công ty cung ứng lao động của Philippin sang Đài Loan Thực hiện nghiêm lệnh cấm công dân ở quá hạn visa và thường xuyên cập nhật danh sách những công dân bị cấm XKLĐ trong tương lai đó là một nỗ lực để giữ “Thương hiệu” của Philippin về hoạt động XKLĐ tại nước ngoài nói chung và tại Đài Loan nói riêng

- Chính sách tuyển lao động xuất khẩu: Chính phủ Philippin khuyến khích các công ty XKLĐ thành lập quỹ lao động, quỹ này được đăng ký qua mạng Internet và được phép tự quảng cáo Người lao động trước khi sang nước ngoài phải được đào tạo bằng các chương trình đặc biệt và được Chính phủ hỗ trợ kinh phí

- Chính sách chuyển thu nhập của người lao động ở nước ngoài về nước: Chính phủ Philippin khuyến khích công dân làm việc ở nước ngoài chuyển tiền về nước thông qua tài khoản tiền gửi ngoại tệ dành cho người lao động hồi hương, số dư tài khoản không thuộc đối tượng điều chỉnh của các quy định về hối đoái hiện hành

và không phát hành công trái ngoại tệ Đồng thời, các tổ chức ngân hàng, tài chính Philippin cũng có các chương trình ưu đãi đầu tư có lợi hơn cho người lao động

- Chương trình phúc lợi bảo vệ người lao động: Người lao động Philippin cũng được hưởng các chế độ bảo hiểm về tàn tật, trợ cấp tuất, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động như những người làm việc trong nước Điều đặc biệt thể hiện vai trò của Chính phủ Philippin về bảo vệ người lao động là không được thu phí của người lao động quá 01 tháng lương, đây gọi là phí giao dịch

- Chính sách hỗ trợ người lao động hết hạn hợp đồng về nước: Người lao động khi về nước sẽ được nhận lại toàn bộ số tiền chưa thanh toán hết hoặc các phúc lợi sau khi hết hạn hợp đồng về nước bằng việc yêu cầu các công ty cung ứng lao động

Trang 34

phải đồng chịu trách nhiệm với chủ sử dụng lao động nước ngoài về những vi phạm của họ Khoản tiền ký cược của công ty cung ứng lao động tại ngân hàng được sử dụng để trả cho người lao động, nếu công ty cung ứng lao động không tự trả hoặc khi tiền ký cược ở ngân hàng đã bị khấu trừ để trả cho người lao động thì đồng thời công

ty cung ứng lao động sẽ bị đình chỉ hoạt động cho đến khi nộp đủ số tiền trên vào tài khoản ký cược của công ty cung ứng lao động tại ngân hàng

Chính phủ có các chương trình, dự án hỗ trợ người lao động hồi hương để định hướng nghề nghiệp, tư vấn kinh doanh hoặc đào tạo kinh doanh cho người có khẳ năng kinh doanh thông qua Cục phát triển thương nghiệp vừa và nhỏ Philippin Chính phủ hợp tác quan hệ với các tổ chức phi Chính phủ để tạo điều kiện về tín dụng và sinh kế cho người lao động

1.4.2 Kinh nghiệm XKLĐ của Indonesia

- Quản lý và cấp phép hoạt động XKLĐ: Chính phủ Indonesia quản lý và chỉ đạo chương trình việc làm ngoài nước nói chung và tại Đài Loan nói riêng thông qua

Bộ Nhân lực (MOM) cấp phép hoạt động XKLĐ cho các công ty XKLĐ của Indonesia

Tuyển lao động xuất khẩu: Chính phủ Indonesia ban hành Nghị định Per 02/Men năm 1994, quy định các thủ tục và hệ thống tuyển lao động XKLĐ, quy định

-cụ thể về các điều kiện và yêu cầu đối với các công ty XKLĐ, quy trình đưa lao động

đi làm việc tại nước ngoài, quy trình giải quyết các tranh chấp lao động xảy ra tại nước ngoài nói chung và Đài Loan nói riêng

- Công tác tạo việc làm cho công dân Indonesia sang nước ngoài làm việc nói chung và Đài Loan nói riêng: Năm 1999, Bộ Nhân lực Indonesia thực hiện chính sách cải cách và chiến lược XKLĐ với mục tiêu hướng đến là cả về số lượng và chất lượng lao động khi tham gia chương trình XKLĐ, tức giảm thiểu số lượng lao động xuất khẩu không có tay nghề, đồng thời đẩy mạnh số lượng có nghề và tay nghề cao

để làm việc trong các lĩnh vực như nông nghiệp, sản xuất, xây dựng, và dịch vụ y tế, khách sạn, thương mại, ngân hàng, tài chính

Trang 35

- Công tác hỗ trợ đào tạo nghề: Người lao động trước khi sang làm việc tại Đài Loan phải được học một khóa đào tạo nghề ngắn hạn để bổ túc kỹ năng nghề và bắt buộc phải qua kiểm tra sát hạch khi kết thúc khoá học, khoản kinh phí này được Chính phủ hỗ trợ

- Công tác bảo vệ và hỗ trợ công dân Indonesia làm việc ở nước ngoài nói chung và Đài Loan nói riêng: Tháng 6/2011, cơ quan quốc gia về việc làm và bảo vệ người lao động Indonesia đã lập được dây nóng miễn phí để bảo vệ công dân của họ khi xuất khẩu sang nước ngoài nói chung và Đài Loan nói riêng Người lao động có thể gọi đến đường dây nóng bất cứ lúc nào để báo cáo các vấn đề vướng mắc và khi

đó sẽ được chuyên gia tư vấn giúp tháo gỡ khó khăn, cước phí gọi sẽ được Chính phủ Indonesia hỗ trợ hoàn toàn

1.4.3 Kinh nghiệm XKLĐ của Thái Lan

- Hoạt động XKLĐ của Thái Lan được quy định cụ thể trong Bộ Luật lao động của Thái Lan năm 1983, trong đó đã tập trung hoá việc cấp phép và quản lý các doanh nghiệp tuyển lao động tư nhân, thành lập cơ quan tuyển lao động của Chính phủ, xác định cụ thể hơn nhiệm vụ cũng như trách nhiệm của các cơ quan tuyển lao động Quy định việc gửi ngoại tệ của người lao động về nước, thành lập quỹ phúc lợi của người lao động và cũng quy định mức độ kỷ luật, hình phạt, đối với các hành vi phạm pháp

- Chính phủ Thái Lan thực hiện điều phối các hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động XKLĐ sang nước ngoài nói chung và Đài Loan nói riêng

Văn phòng quản lý lao động ngoài nước thuộc Tổng cục lao động - Bộ Nội vụ

là cơ quan Chính phủ cao nhất thực hiện nhiệm vụ cấp giấy phép và quản lý các hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ đã được cấp giấy phép XKLĐ sang nưới ngoài và Đài Loan

- Chính phủ Thái Lan cũng có chính sách hỗ trợ một phần quỹ phúc lợi cho người lao động, số còn lại người lao động phải đóng góp Quỹ này chủ yếu dùng để

hỗ trợ hành chính và tài chính cho người lao động trước khi đi và khi trở về gặp nhiều khó khăn như hồi hương, tai nạn, chết và trợ cấp khó khăn cho người lao động

Trang 36

- Chính phủ Thái Lan cũng cho phép xuất khẩu những lao động có trình độ cao và cho phép mọi cá nhân có thể tự tìm kiếm việc làm ở nước ngoài và Chính phủ cũng cho phép các doanh nghiệp XKLĐ sang nước ngoài nói chung và Đài Loan nói riêng thu một phần lệ phí XKLĐ nhưng chỉ bằng 1 tháng lương của người lao động, nếu không đi được thì doanh nghiệp XKLĐ phải hoàn trả lại cho người lao động 1.4.4 Vận dụng kinh nghiệm XKLĐ của một số nước sang Đài Loan vào Việt Nam

Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động XKLĐ của một số nước trong khu vực đưa lao động sang Đài Loan, ta rút ra một số kinh nghiệm và áp dụng vào thực tế hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan nhằm mang lại hiệu quả như sau:

Một là, Nhà nước cần tạo lập môi trường pháp lý, quản lý hoạt động XKLĐ

bằng luật pháp

Các nước đều ban hành các đạo luật về XKLĐ nhằm tạo môi trường pháp lý cho hoạt động XKLĐ Trong đó quy định rõ các điều kiện đưa người ra nước ngoài làm việc, các tổ chức được phép hoạt động XKLĐ, quy định chức năng nhiệm vụ của các cơ quan Chính phủ đối với XKLĐ Hệ thống pháp luật và các quy định dưới luật

về XKLĐ minh bạch, chặt chẽ, nhưng cũng rất thông thoáng tạo sự chủ động cho người lao động và các doanh nghiệp XKLĐ sang Đài Loan Chính phủ các nước đàm phán ký kết các hiệp định, thoả thuận về lao động nhằm tạo hành lang pháp lý để thực hiện chiến lược XKLĐ

Do vậy, Nhà nước phải giữ vai trò, định hướng trong việc điều hành, thống nhất quản lý hoạt động XKLĐ, nhất là đàm phán ký kết hiệp định hợp tác lao động,

mở thị trường và tạo lập môi trường pháp lý bình đẳng về lĩnh vực hoạt động XKLĐ

để các doanh nghiệp XKLĐ sang Đài Loan thuộc các thành phần kinh tế tận dụng, khai thác và đẩy mạnh hoạt động XKLĐ sang Đài Loan mang lại hiệu quả

Hai là, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ và bảo vệ người lao động trước khi

XKLĐ, trong thời gian họ sống và làm việc tại Đài Loan, nhất là sau khi người lao động hết hạn hợp đồng tại Đài Loan về nước

Chính phủ các nước thành lập các tổ chức tư vấn cho người lao động và gia đình họ, nhằm giúp cho cá nhân và gia đình người lao động sử dụng hợp lý nguồn thu nhập mà người lao động gửi về; quan tâm bố trí, sắp xếp việc làm cho lao động hết

Trang 37

hạn hợp đồng về nước đúng hạn, đặc biệt là ưu tiên những lao động với các nghề mà trong nước còn thiếu hụt

Nhà nước cần thực hiện tốt chức năng bảo vệ công dân và quyền lợi chính đáng của người lao động tại Đài Loan, điều cần thiết và quan trọng là tăng cường vai trò trách nhiệm của Ban Quản lý lao động (Ban QLLĐ) Việt Nam tại Đài Loan, Cục QLLĐNN, Bộ LĐTB & XH nhằm hỗ trợ và bảo vệ người lao động khi xảy ra phát sinh trong quan hệ lao động Điều quan trọng trước hết là việc thẩm định các hợp đồng, đơn hàng tiếp nhận lao động của đối tác, chủ sử dụng lao động Đài Loan Nhà nước cũng cần thực hiện chính sách bảo hiểm phù hợp cho người lao động trong thời gian họ làm việc tại Đài Loan

Ba là, chính sách đào tạo người lao động: Chính phủ các nước đều đẩy mạnh

hoạt động XKLĐ đã qua đào tạo, thực hiện hỗ trợ đào tạo lao động xuất khẩu qua các Trung tâm đào tạo, bổ túc nghề, ngoại ngữ, cung cấp thông tin miễn phí cho người lao động

Do vậy, chất lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam sang nước ngoài nói chung và Đài Loan nói riêng cần phải được chú trọng, quan tâm đầu tư nâng cao để tăng cường khả năng cạnh tranh và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động XKLĐ sang Đài Loan Để thực hiện mục tiêu này, cần phải đẩy mạnh công tác đào tạo ngoại ngữ và giáo dục định hướng, đào tạo nghề cho người lao động, gắn trách nhiệm của các doanh nghiệp XKLĐ sang Đài Loan với chính quyền địa phương và phải thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành về công tác đào tạo người lao động

Bốn là, chính sách tài chính đối với XKLĐ

- Chính sách hỗ trợ tài chính cho XKLĐ: Chính phủ các nước thường hỗ trợ chi phí tiếp thị, khai thác thị trường ngoài nước ngoài nói chung và Đài Loan nói riêng, khoản chi phí này Chính phủ chi ra cho tuỳ viên lao động ở nước ngoài để tìm kiếm thị trường Các cơ quan đại diện ở nước ngoài hay tại Đài Loan chịu trách nhiệm thường xuyên thông tin định hướng cho các doanh nghiệp XKLĐ trong nước

để tiếp cận các chủ thuê lao động

Chính phủ hỗ trợ một phần hay toàn bộ chi phí cho “chương trình đào tạo lao động xuất khẩu” người lao động, có nước hỗ trợ toàn bộ chi phí đi lại cho người lao động trước khi đi Nếu người lao động hồi hương đúng hạn theo hợp đồng, Chính

Trang 38

phủ có chính sách ưu tiên về nhà ở, cấp phiếu mua hàng với giá rẻ, hỗ trợ vốn để tái hoà nhập, phát triển doanh nghiệp khi về nước thông qua cho vay sinh kế Chính phủ thành lập quỹ hỗ trợ XKLĐ để phát triển thị trường và giải quyết kịp thời khi xảy ra các tình huống bất khả kháng

- Chính sách tài chính - tiền tệ mềm dẻo để thu hút ngoại tệ và đầu tư: Chính phủ các nước thường có chính sách tài chính - tiền tệ mềm dẻo, linh hoạt nhằm khuyến khích lao động của họ tại nước ngoài nói chung và Đài Loan nói riêng gửi tiền về nước, tạo điều kiện cho người lao động có nhiều cơ hội đầu tư nhằm thu thêm lợi nhuận, khuyến khích lao động của họ chuyển ngoại tệ về nước qua kênh chính thức như quy định phải chuyển về nước 80% thu nhập chính thức, giảm hoặc bỏ thuế thu nhập từ kiều hối, bảo hộ khoản thu nhập chuyển về nước thông qua việc bán công trái Chính phủ cho người lao động xuất khẩu

Do vậy, Nhà nước cần có những chính sách để tạo điều kiện thuận lợi nhất về tài chính cũng như việc chuyển tiền về nước cho người lao động Việt Nam đang làm việc tại nước ngoài nói chung và Đài Loan nói riêng Ngoài ra, để thực hiện tốt điều này thì phải có sự phối kết hợp một cách đồng bộ giữa các cơ quan, tổ chức để giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động XKLĐ sang nước ngoài nói chung và Đài Loan nói riêng

Trang 39

Chương 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

VIỆT NAM SANG ĐÀI LOAN GIAI ĐOẠN 2000 - 2010

2.1 Giới thiệu thị trường lao động Đài Loan

2.1.1 Tổng quan về thị trường lao động Đài Loan: “Đài Loan là một quần đảo nằm ở phía Đông Nam Trung Quốc, trong đó Đài Loan là đảo lớn nhất, cách lục địa Trung Quốc khoảng 160 km, cách Philippin 350 km về phía Nam và cách Nhật Bản 1.070

km về phía Bắc Tổng diện tích là 38.000 km2, dân số khoảng 23,5 triệu người, khoảng 59% dân số Đài Loan tập trung ở 4 thành phố lớn là Đài Bắc, Cao Hùng, Đài Trung và Đài Nam Đài Bắc và Cao Hùng là 2 thành phố đông dân nhất Đài Loan có nền công nghiệp phát triển hiện đại, có nhiều tập đoàn công nghiệp lớn, ngoài ra còn

có khoảng trên 80.000 xí nghiệp vừa và nhỏ, chiếm 98% tổng số xí nghiệp ở Đài Loan, đạt 50% tổng giá trị sản xuất công nghiệp và 60% tổng giá trị sản phẩm xuất khẩu Các xí nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần tạo nên sự tăng trưởng kinh tế của Đài Loan trong suốt 40 năm qua và cũng là nơi sử dụng lao động nước ngoài nhiều nhất Mức thu nhập bình quân theo đầu người là 14.000USD/năm, xếp thứ 25 trên thế giới năm 2009” [13, tr.16 -20]

2.1.2 Quan hệ cung cầu về lao động và những yêu cầu nhập khẩu lao động của Đài Loan

Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, kinh tế Đài Loan phục hồi ngoạn mục, nhất là từ đầu năm 2010 trở lại đây thể hiện qua một số chỉ tiêu kinh tế là tăng trưởng kinh tế 9,98%, sự tăng trưởng kinh tế làm cho quy mô của kinh tế Đài Loan

mở rộng thêm Vì vậy, nhu cầu thực tế về nhân lực - lao động cho các lĩnh vực đều tăng mạnh và theo đó UBLĐ Đài Loan đã cho phép các doanh nghiệp thuê lao động nước ngoài nhiều hơn Cùng với sự hồi phục, tăng trưởng kinh tế Đài Loan, lực lượng lao động của 04 nước chính đưa lao động sang Đài Loan là Indonesia, Việt Nam, Philippin và Thái Lan đều không ngừng tăng lên

Trang 40

Từ năm 1990, Đài Loan bắt đầu nhận lao động của các nước Thái Lan, Philipin, Indonesia và Malaysia vào làm việc và từ tháng 11 năm 1999 đến nay Đài Loan tiếp nhận thêm lao động Việt Nam Hiện nay, tổng số lao động nước ngoài thường xuyên có mặt làm việc tại Đài Loan trong các nhà máy, xí nghiệp, công trường, bệnh viện, khu điều dưỡng trong các lĩnh vực như SXCT, xây dựng, GVGĐ

& KHC khoảng trên 37 vạn lao động, trong đó Việt Nam có khoảng trên 8 vạn lao động

2.2 Phân tích thực trạng hoạt động XKLĐ sang Đài Loan từ 2000 đến 2010

2.2.1 Việc cấp phép và quản lý các doanh nghiệp XKLĐ

Từ sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1975 thắng lợi, nước ta đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn cả về KT – XH và ngoại giao Cụ thể, tốc

độ tăng trưởng kinh tế thấp (khoảng 2,3%), hàng triệu người lao động không có việc làm, nguồn vốn, tài chính đầu tư khôi phục kinh tế do hậu quả của chiến tranh để lại thấp, đất nước bị cấm vận kinh tế, nhu cầu giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người lao động để phát triển kinh tế, xây dựng lại đất nước là hết sức cấp bách

Ngày 29/11/1980, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 362/CP về việc đưa một

bộ phận lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và bồi dưỡng nâng cao tay nghề nhằm “giải quyết việc làm cho một bộ phận thanh niên nước ta, thông qua chương trình hợp tác lao động, nhờ các nước anh em đào tạo một đội ngũ lao động có trình độ tay nghề vững vàng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế cho đất nước sau này”

Thực hiện định hướng đó, Bộ LĐTB & XH được Chính phủ giao nhiệm vụ phối hợp với các bộ và cơ quan ngang bộ như Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước,

Ủy ban Kế hoạch Nhà nước ký hiệp định về hợp tác lao động với Chính phủ các nước Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức, Bun-ga-ri, Tiệp Khắc để đưa lao động Việt Nam sang làm việc

Thực hiện chính sách đổi mới, ngày 30/6/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chỉ thị số 108/HĐBT, khẳng định mục tiêu kinh tế của XKLĐ và lần đầu tiên cho phép tổ chức kinh tế hoạt động dịch vụ việc làm ngoài nước dưới hình thức hợp tác

Ngày đăng: 29/03/2017, 21:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Nguyên Anh (4/2011), “Tái cấu trúc dân số nguồn nhân lực đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam”, Tạp chí cộng sản (số 822) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cấu trúc dân số nguồn nhân lực đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam”, "Tạp chí cộng sản
2. Bộ Luật lao động (2008), Bộ Luật lao động đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2007, Nxb Hồng Đức, tr.66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật lao động
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2008
3. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2008), Quyết định số 61/2008/QĐ- LĐTBXH ngày 12/8/2008 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Quy định về mức tiền môi giới người lao động trả cho doanh nghiệp tại một số thị trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 61/2008/QĐ- LĐTBXH ngày 12/8/2008 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Quy định về mức tiền môi giới người lao động trả cho doanh nghiệp tại một số thị trường
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Năm: 2008
6. Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu (2002), Giáo trình Kinh tế lao động, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế lao động
Tác giả: Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu
Năm: 2002
13. Cục Quản lý lao động ngoài nước (2009), “Những kiến thức cần thiết dùng cho người lao động đi làm việc tại Đài Loan”, Nxb Lao động xã hội tr.16 -20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kiến thức cần thiết dùng cho người lao động đi làm việc tại Đài Loan
Tác giả: Cục Quản lý lao động ngoài nước
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội tr.16 -20
Năm: 2009
15. Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2004), “Giáo trình quản trị nhân lực”, Nxb Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị nhân lực
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Ngọc Quân
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2004
16. Tống Văn Đường (2005), “Giáo trình dân số và phát triển”, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, tr.78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dân số và phát triển”
Tác giả: Tống Văn Đường
Năm: 2005
17. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”, Nxb chính trị quốc gia, tr.70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2011
18. Lê Hồng Huyên (2011), Quản lý Nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài, Luận án tiến sĩ Kinh tế chính trị, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài
Tác giả: Lê Hồng Huyên
Năm: 2011
20. Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam (2011), Bản tin lao động việc làm ngoài nước, (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin lao động việc làm ngoài nước
Tác giả: Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam
Năm: 2011
21. Dương Tuyết Nhung (2008), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu tại các doanh nghiệp xuất khẩu ở Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu tại các doanh nghiệp xuất khẩu ở Hà Nội
Tác giả: Dương Tuyết Nhung
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
23. Trần Thị Thanh Trà (2006), Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế đối ngoại, Khoa Kinh tế - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á
Tác giả: Trần Thị Thanh Trà
Năm: 2006
24. Trần Xuân Thọ (2009), Xuất khẩu lao động sang thị trường EU, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế đối ngoại, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu lao động sang thị trường EU
Tác giả: Trần Xuân Thọ
Năm: 2009
25. Nguyễn Bình Giang (2011), “di chuyển lao động quốc tế”, tài liệu tham khảo, Viện Kinh tế & Chính trị thế giới - Viện KH - XH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: di chuyển lao động quốc tế
Tác giả: Nguyễn Bình Giang
Năm: 2011
26. Khu Thị Tuyết Mai, Vũ Anh Dũng (2009), “Giáo trình Kinh tế quốc tế”, Trường Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội, tr.195-199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Kinh tế quốc tế”, Trường Đại học Kinh tế
Tác giả: Khu Thị Tuyết Mai, Vũ Anh Dũng
Năm: 2009
27. Trần Bình Trọng (2008), “Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế”, Bộ môn Kinh tế chính trị, Trường đại học Kinh tế quốc dân, tr. 255 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế”
Tác giả: Trần Bình Trọng
Năm: 2008
28. Minh Tâm (2011), “Thực trạng lao động đi làm việc ở nước ngoài đã trở về Việt Nam”, Bản tin lao động việc làm ngoài nước, Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam, số 41- 42) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lao động đi làm việc ở nước ngoài đã trở về Việt Nam
Tác giả: Minh Tâm
Năm: 2011
29. Nguyễn Văn Tạo (2011), “Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH”, Tạp chí cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH”
Tác giả: Nguyễn Văn Tạo
Năm: 2011
30. Thời báo kinh tế Việt Nam (2010), “Kinh tế Việt Nam và thế giới 2009 – 2010”, do VietinBank, LienvietBank, Tienphong Bank thực hiện, tr. 70..Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam và thế giới 2009 – 2010
Tác giả: Thời báo kinh tế Việt Nam
Năm: 2010
31. http://laodong.com.vn. N.B (2011), “Isarael tạm dừng tiếp nhận lao động Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Isarael tạm dừng tiếp nhận lao động Việt Nam
Tác giả: N.B
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tổng hợp các khoản chi phí của người lao động khi xuất cảnh. - Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan
Bảng 2.1. Tổng hợp các khoản chi phí của người lao động khi xuất cảnh (Trang 48)
Bảng 2.2. Số lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài (2000 – 2010) - Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan
Bảng 2.2. Số lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài (2000 – 2010) (Trang 50)
Bảng 2.3. Cơ cấu nghề của lao động Việt Nam tại Đài Loan (2000 – 2010). - Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan
Bảng 2.3. Cơ cấu nghề của lao động Việt Nam tại Đài Loan (2000 – 2010) (Trang 52)
Bảng 2.4. Tổng số lao động nước ngoài tại Đài Loan không đạt sức khoẻ (2000 - - Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan
Bảng 2.4. Tổng số lao động nước ngoài tại Đài Loan không đạt sức khoẻ (2000 - (Trang 53)
Bảng  2.5.  Lao  động  nước  ngoài  tại  Đài  Loan  bị  tai  nạn  nghề  nghiệp  (2005  – - Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan
ng 2.5. Lao động nước ngoài tại Đài Loan bị tai nạn nghề nghiệp (2005 – (Trang 54)
Bảng 2.6. Tổng hợp số lao động nước ngoài bỏ trốn tại Đài Loan (2000 – 2010). - Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan
Bảng 2.6. Tổng hợp số lao động nước ngoài bỏ trốn tại Đài Loan (2000 – 2010) (Trang 56)
Bảng  2.7.  Tổng  số  lao  động  nước  ngoài  đang  làm  việc  tại  Đài  Loan  (2000  – - Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan
ng 2.7. Tổng số lao động nước ngoài đang làm việc tại Đài Loan (2000 – (Trang 58)
Bảng  2.8.  Tạo  việc  làm  thông  qua  hoạt  động  XKLĐ  sang  Đài  Loan  (2000  – - Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan
ng 2.8. Tạo việc làm thông qua hoạt động XKLĐ sang Đài Loan (2000 – (Trang 60)
Bảng 2.11. GDP bình quân đầu người hàng năm của Việt Nam (2000 – 2010). - Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan
Bảng 2.11. GDP bình quân đầu người hàng năm của Việt Nam (2000 – 2010) (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w