1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tổ chức dạy học theo dự án chương cơ thể và môi trường (sinh học 12 – trung học phổ thông)

87 300 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyết định là ở chỗ các nhóm học tập xác định một chủ đề học tập, thống nhất về nội dung làm việc, tự lực lập kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một sự kết thúc có ý nghĩa, thườn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực chưa từng được công bố trong một công trình khoa học nào khác

Thái Nguyên, tháng 3 năm 2015

TRẦN VĂN LINH

Xác nhận của BCN khoa chuyên môn

Xác nhận của cán bộ hướng dẫn khoa học

PGS.TS Nguyễn Văn Hồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - PGS.TS Nguyễn Văn Hồng

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Thạc sỹ

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo thuộc bộ môn Phương pháp giảng dạy Sinh học, khoa Sinh - KTNN trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, các thầy, cô giáo và học sinh các trường THPT thuộc huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận

Học viên TRẦN VĂN LINH

Trang 5

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

Trang 6

1.1.2 Quan niệm về dạy học theo dự án 7

1.2 Khái lược về tình hình nghiên cứu và triển khai dạy học theo dự án 12 1.2.1 Tình hình nghiên cứu và triển khai dạy học theo dự án trên thế giới 12 1.2.2 Tình hình nghiên cứu và triển khai DHTDA ở Việt Nam 13 1.3 Dạy học theo dự án và đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta 14 1.4 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta 16

1.5 Vai trò của GV và HS trong dạy học theo dự án 18

1.7 Điều kiện để thực hiện dự án có hiệu quả 20 1.8 Mối quan hệ giữa DHTDA với các PPDH, các hình thức tổ chức dạy học khác trong quá trình tổ chức dạy học

22

1.9 Dạy học theo dự án và vấn đề hình thành, phát triển năng lực HS 23

Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN

CHƯƠNG”CƠ THỂ VÀ MÔI TRƯỜNG”(SH12 – THPT)

33

2.1.4 Vị trí, cấu trúc, mục tiêu, nội dung, vị trí phần Sinh thái học

Trang 7

dạy học chương “Cơ thể và môi trường” (SH 12 – THPT)

2.2.2 Quy trình tổ chức dạy học theo dự án trong dạy học chương “Cơ thể và môi trường” (SH 12 – THPT)

39

2.2.3 Một số kĩ năng cần hình thành cho HS trong DHTDA 44

2.2.4 Một số lưu ý khi hướng dẫn HS học theo dự án 47 2.3 Các nội dung tổ chức DHTDA trong chương”Cơ thể và môi

trường”

48

2.3.1 Tổ chức DHTDA trong giờ dạy học kiến thức mới 48

2.3.2 Tổ chức DHTDA trong hoạt động ngoại khóa 51

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 55

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thống kê điểm số các bài kiểm tra trong thực nghiệm 57

Bảng 3.5 Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm 61 Bảng 3.6 Phân tích kết quả thăm dò ý kiến GV 63 Bảng 3.7 Phân tích kết quả thăm dò ý kiến HS 65

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: So sánh kết quả học tập của lớp ĐC và TN 56 Hình 3.2 Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra lớp TN và lớp ĐC 58 Hình 3.3 Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra 59

Trang 10

MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

- Đổi mới phương pháp dạy học ( PPDH) trong trường phổ thông đã được coi

là chìa khóa để năng cao chất lượng dạy học Xu thế đổi mới PPDH ở nước ta hiện nay là chống lại thói quen học tập thụ động, phải phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo ở người học, hướng vào việc tăng cường sự tự tìm tòi khám phá tri thức từ phía người học

- Phần “Sinh học sinh thái học”(Sinh học 12 - THPT) [2]; [3] có nhiều kiến thức mới, hiện đại và có rất nhiều kiến thức liên quan đến thực tiễn sản xuất, đời sống, bảo vệ sức khỏe và bảo vệ môi trường thiên nhiên Vì thế, khi dạy - học phần này, đòi hỏi cần phải có những phương pháp dạy học phù hợp, để giúp người học vừa chủ động chiếm lĩnh được các kiến thức, vừa hình thành

và phát triển được các năng lực cần thiết và năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực tư duy là những năng lực rất cần thiết trong số đó

- Dạy học theo dự án (DHTDA) [4] là vấn đề còn mới mẻ đối với nhiều thầy,

cô giáo đang dạy học ở trường phổ thông DHTDA hướng người học đến việc chủ động chiếm lĩnh những kiến thức và hình thành những kỹ năng, những năng lực cần thiết Trong DHTDA, người học phần lớn làm việc theo nhóm để thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp theo sát chương trình học, có phạm

vi kiến thức liên môn, có sự kết hợp giữa lý thuyết, thực tiễn và thực hành Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập Qua thực hiện các DAHT, người học sẽ nâng cao năng lực làm việc, năng lực sáng tạo, năng lực tư duy sâu để giải quyết các vấn đề phức hợp, rèn luyện tinh thần trách nhiệm và khả năng làm việc hợp tác,v.v Như vậy, vận dụng DHTDA trong dạy học sẽ đáp ứng được yêu cầu đổi mới PPDH hiện nay của Đảng, Nhà nước và của Ngành Giáo dục nước ta

Trang 11

- Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Tổ chức dạy học theo

dự án chương “Cơ thể và môi trường” (Sinh học 12 – trung học phổ thông)”

II Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, vận dụng dạy học theo dự án trong dạy học chương “Cơ thể và môi trường”(SH 12 – THPT) nhằm góp phần nâng cao kết quả học tập của HS

III Giả thuyết khoa học

Nếu như vận dụng các nguyên tắc, quy trình tổ chức DHTDA một cách hợp lý trong dạy học chương “ Cơ thể và môi trường” thì sẽ nâng cao được kết

quả học tập của HS

IV Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Nguyên tắc, quy trình tổ chức dạy học theo dự án

chương “ Cơ thể và môi trường”(SH 12 – THPT)

4.2 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học phần Sinh thái học –(SH 12 –

THPT)

V Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận vào thực tiễn về phương pháp dạy học tích cực; dạy học theo dự án

- Điều tra thực trạng về vận dụng dạy học theo dự án ở trường THPT (tại huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng)

- Xây dựng các dự án học tập (DAHT) thuộc chương “ Cơ thể và môi trường”

- Xây dựng nguyên tắc tổ chức DHTDA chương “ Cơ thể và môi trường”

- Xây dựng quy trình tổ chức DHTDA chương “ Cơ thể và môi trường”

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm

Trang 12

VI Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu những văn bản có tính pháp lý cao của Đảng và Nhà nước, Bộ giáo dục và Đào tạo liên quan đến đề tài luận văn

- Nghiên cứu những tài liệu về dạy học tích cực, dạy học theo dự án

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra thực trạng về vận dụng dạy học các phương pháp dạy học tích cực, dạy học theo dự án tại các trường THPH ( Huyện Phục Hòa - Tỉnh Cao Bằng ) trong dạy học thông qua chương “ Cơ thể và môi trường”.( phiếu điều tra )

- Thực nghiệm sư phạm ở các thành phố, ở huyện

- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia

6.3 Phương pháp phân tích số liệu thực nghiệm

- Sử dụng phần mềm Excell [15]

VII Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

7.1 Giới hạn nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tổ chức dạy học

theo dự án dạy học chương “Cơ thể và môi trường”(SH 12 – THPT)

7.2 Phạm vi nghiên cứu: Các trường THPT thuộc huyện Phục Hòa, tỉnh Cao

Bằng

VIII Những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận vào thực tiễn về phương pháp dạy học tích cực; dạy học theo dự án

- Điều tra được thực trạng về việc vận dụng dạy học theo dự án ở trường THPT (tại huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng)

- Xây dựng được các dự án học tập(DAHT) thuộc chương “ Cơ thể và môi trường”

- Xây dựng nguyên tắc tổ chức DHTDA chương “ Cơ thể và môi trường”

- Xây dựng quy trình tổ chức DHTDA chương “ Cơ thể và môi trường”

Trang 13

IX Cấu trúc nội dung luận văn

Trừ các phần mở đầu, kết luận và đề nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài luận văn gồm ba chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương II: Tổ chức dạy học theo dự án chương “Cơ thể và môi trường” (SH 12

– THPT)

Chương III: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

biến trong sản xuất, trong kinh doanh, trong nghiên cứu khoa học cũng như

trong quản lý xã hội Trong quản lý, “Dự án là một chuỗi các hoạt động liên kết được tạo ra nhằm đạt được kết quả nhất định trong phạm vi ngân sách và thời gian xác định” hay theo tiêu chuẩn Din 69901 của cộng đồng Châu Âu

“Dự án là một kế hoạch, một dự tính, về cơ bản được đặc trưng bởi tính duy nhất của các điều kiện trong tính tổng thể của nó, ví dụ có mục đích định trước, giới hạn về thời gian, nhân lực và các điều kiện khác; phân biệt với các dự án khác; có tổ chức dự án chuyên biệt” [dẫn theo 22]

Theo chúng tôi, dự án là một quá trình hoạt động của một người hay một nhóm người để thực hiện kế hoạch tự đề ra để tạo ra sản phẩm nhằm đạt được các mục đích đề ra

Dự án học tập

Ban đầu khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội Sau đó, khái niệm dự án đã lan chuyển từ lĩnh vực kinh tế, xã hội sang lĩnh vực GD&ĐT không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục

mà còn được sử dụng như một hình thức, là phương pháp dạy học, hay là một kiểu dạy học

Chúng tôi cho rằng: DAHT là một dự án trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành; kết hợp kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau

Trang 15

Phân loại dự án học tập

DAHT có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Dưới đây là một số cách phân loại [dẫn theo22]:

a) Phân loại theo chuyên môn

- DAHT trong một môn học: Là các DAHT mà trọng tâm nội dung nằm trong một môn học

- DAHT liên môn: Là các DAHT mà trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau

- DAHT ngoài chuyên môn: Là các DAHT không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học

b) Phân loại theo sự tham gia của người học

DAHT cho nhóm người học, DAHT cá nhân DAHT dành cho nhóm người học là hình thức DAHT chủ yếu Ngoài ra còn có DAHT toàn trường, DAHT dành cho một khối lớp và DAHT cho một lớp học

c) Phân loại theo sự tham gia của GV

DAHT dưới sự hướng dẫn của một GV, DAHT với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV

d) Phân loại theo quỹ thời gian

K.Frey đề nghị cách phân chia như sau:

- DAHT nhỏ: Là các DAHT được thực hiện trong một số giờ học, có thể

từ 2 - 6 giờ học

- DAHT trung bình: Là các DAHT được thực hiện trong một hoặc một số ngày học, nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học

- DAHT lớn: Là các DAHT được thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu

là một tuần (hay 40 giờ học) hoặc có thể kéo dài nhiều tuần

e) Phân loại theo nhiệm vụ

Theo nhiệm vụ trọng tâm của DAHT, có thể phân loại theo các dạng sau:

Trang 16

- DAHT tìm hiểu: Là các DAHT được thực hiện nhằm khảo sát thực trạng đối tượng

- DAHT nghiên cứu: Là các DAHT được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng

- DAHT thực hành: Là các DAHT được thực hiện nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác

- DAHT hỗn hợp: Là các DAHT có nội dung kết hợp các dạng nêu trên Các loại DAHT trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng DAHT theo đặc thù riêng

Trong đề tài luận văn này, chúng tôi lựa chọn DAHT hỗn hợp: Là các DAHT có nội dung kết hợp các dạng nêu trên

1.1.2 Quan niệm về dạy học theo dự án

Đã có nhiều cách hiểu khác nhau về DHTDA chẳng hạn:

K.Frey nhà nghiên cứu giáo dục hàng đầu của nước Đức về DHTDA cho

rằng: “Phương pháp dự án là một con đường giáo dục Đó là một hình thức của hoạt động học tập, có tác dụng giáo dục Quyết định là ở chỗ các nhóm học tập xác định một chủ đề học tập, thống nhất về nội dung làm việc, tự lực lập kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một sự kết thúc có ý nghĩa, thường

Nguyễn Văn Cường cho rằng: “Dạy học Project hay DHTDA là một hình thức dạy học, trong đó HS dưới sự điều khiển và giúp đỡ của GV tự lực giải quyết một nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp không chỉ về mặt lý thuyết mà đặc biệt

về mặt thực hành, thông qua đó tạo ra các sản phẩm thực hành có thể giới thiệu, công bố được” [7]

Theo tài liệu bồi dưỡng của chương trình “Đưa kỹ năng công nghệ thông

tin vào dạy và học” của Microsoft đã nêu lên những nét ưu việt của DHTDA:

“Cách học dựa trên dự án là một mô hình học tập khác với các hoạt động học tập

Trang 17

truyền thống với những bài giảng ngắn, tách biệt và lấy GV làm trung tâm Theo

đó, các hoạt động học tập được thiết kế một cách cẩn thận, mang tính lâu dài, liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật, lấy HS làm trung tâm và hoà nhập với những vấn đề và thực tiễn của thế giới thực tại ” [21]

Tác giả Nguyễn Thị Diệu Thảo cho rằng: “DHTDA là một PPDH, trong

đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn Nhiệm vụ này được thực hiện với tính tự lực cao trong toàn

bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều khiển, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Kết quả dự án là những sản phẩm có thể trình bày, giới thiệu”[22]

Từ một số ví dụ ở trên cho thấy, mặc dù có những cách hiểu khác nhau về DHTDA, nhưng có thể thấy các tác giả đều thống nhất về một số điểm như sau:

- DHTDA là hình thức tổ chức dạy học hướng vào người học, lấy người học làm trung tâm

- Trong DHTDA, người học tự nghiên cứu, tự thực hiện một nhiệm vụ học tập do GV đưa ra hoặc GV cùng với người học đưa ra để hình thành các kiến thức và các kỹ năng cần thiết

- Các hoạt động học tập trong DHTDA được thiết kế cẩn thận, theo sát chương trình học, có phạm vi kiến thức liên môn, lấy người học làm trung tâm

- Phải tạo ra được những sản phẩm thực tế

Như vậy, trong DHTDA, người ho ̣c phải thực hiện nhiệm vụ học tập phức hợp có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành; kết hợp kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Khi đó, người học phải tự lực lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá kết quả, cuối cùng tạo ra được những sản phẩm phù hợp với mục đích và yêu cầu đã đề ra Sản phẩm cuối cùng của các DAHT rất

đa dạng và phong phú: Có thể là một buổi thuyết trình, một vở kịch, một bản báo cáo hay một trang Web…

Trang 18

DHTDA hướng người học đến việc tiếp thu các kiến thức và hình thành các kỹ năng thông qua quá trình giải quyết một vấn đề có tính chất phức hợp Các DAHT cho phép tạo ra cho người học có nhiều cơ hội học tập hơn, đa dạng hơn về chủ đề và quy mô, có thể được tổ chức rộng rãi ở các cấp học, bậc học khác nhau DAHT đặt người học vào những vai trò tích cực như: Người giải quyết vấn đề, điều tra viên hay người viết báo cáo Các nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập

1.1.3 Mục tiêu của dạy học theo dự án

- Tất cả các nội dung của môn học đều hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn kết nội dung học với cuộc sống thực tiễn

- Rèn luyện cho người học phát triển kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề liên quan đến nội dung học tập và cuộc sống

- Rèn luyện cho người học nhiều khả năng: tổ chức kiến thức, kỹ năng sống làm việc theo nhóm

- Phát triển tính tích cực và sáng tạo của người học

- Giúp người học nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm

1.1.4 Đặc điểm của dạy học theo dự án

Theo các tác giả Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Thị Diệu Thảo [6]; [22], DHTDA có các đặc điểm sau:

- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của các DAHT xuất phát từ những tình

huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ của các DAHT cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học Các DAHT góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống và xã hội Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các DAHT có thể mang lại những tác động tích cực cho xã hội

- Định hướng hứng thú người học: Người học được tham gia lựa chọn những

đề tài, những nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú của cá nhân

Trang 19

Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện các DAHT

- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện DAHT có sự kết hợp

giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn

và thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố và mở rộng những hiểu biết về

lý thuyết cũng như rèn luyện những kỹ năng hành động và kinh nghiệm thực tiễn cho người học

- Tính tự lực cao của người học: Trong DHTDA, người học cần tự lực và

tham gia tích cực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi

và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn và trợ giúp người học Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với năng lực, khả năng của người học và mức độ khó khăn của nhiệm

vụ học tập

- Cộng tác làm việc: Các DAHT thường được thực hiện theo nhóm, trong

đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm DHTDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa người học, với GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong DAHT Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội

- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện các DAHT, các sản

phẩm học tập của các nhóm được tạo ra Sản phẩm này không chỉ giới hạn trong phạm vi là những bài thu hoạch thiên về lý thuyết, mà trong đa số trường hợp, các DAHT tạo ra những sản phẩm của hoạt động thực tiễn và thực hành Những sản phẩm của các DAHT này có thể được sử dụng, công

bố, giới thiệu

- Tính phức hợp: Nội dung của các DAHT có sự kết hợp tri thức của

nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp Trong quá trình thực hiện DAHT người học phải tìm

Trang 20

kiếm thụng tin từ nhiều nguồn khỏc nhau, vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh

vực khỏc nhau

- Khụng bị ràng buộc chặt chẽ về khụng gian, thời gian: DHTDA cú thể

được tiến hành trong phạm vi một nhúm, một lớp học, hoặc cú thể vượt ra khỏi phạm vi một lớp học Thời gian thực hiện một DAHT cú thể là một ngày, nhiều ngày hay hàng tuần tuỳ thuộc vào quy mụ và mức độ của từng DAHT Cựng một nội dung nhưng mỗi thành viờn trong nhúm cú thể tiếp cận bằng những cỏch thức khỏc nhau sao cho phự hợp với năng lực, sở trường, điều kiện thực tế của từng thành viờn trong nhúm

- Tạo ra mụi trường học tập tương tỏc: DHTDA sẽ tạo ra một mụi trường

thuận lợi cho cỏc hoạt động tương tỏc đa chiều: Tương tỏc giữa GV - HS, HS- HS, HS- Xó hội… và tương tỏc giữa cỏc thành tố trong quỏ trỡnh dạy học

Chỳng ta cú thể hỡnh dung vấn đề nờu ra trờn đõy ở hỡnh 1.1 dưới đõy:

Hỡnh 1.1 Đặc điểm của dạy học theo dự ỏn

Tạo ra mụi trường học tập tương tỏc

Khụng bị ràng buộc

chặt chẽ về khụng gian

và thời gian

Tớnh phức hợp

Định hướng sản phẩm

Cộng tỏc làm việc

Tớnh tự lực cao của người học

Định h-ớng hành động

Định hướng hứng thỳ người học

Định hướng thực tiễn

ĐẶC ĐIỂM CỦA DHTDA

Trang 21

1.2 Khái lược về tình hình nghiên cứu và triển khai dạy học theo dự án 1.2.1 Tình hình nghiên cứu và triển khai dạy học theo dự án trên thế giới

Ngay từ cuối thế kỉ XVI, khái niệm “Project” trong dạy học đã được sử dụng ở các trường dạy nghề của Ý, sau đó được sử dụng ở Pháp và tiếp theo, tư tưởng này được lan sang một số nước ở châu Âu và châu Mỹ

Ban đầu DHTDA được sử dụng chủ yếu trong các ngành kỹ thuật và kiến trúc, sau này cùng với việc ứng dụng ngày càng sâu rộng và cùng với việc phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật thì DHTDA đã được sử dụng trong nhiều ngành học, nhiều môn học khác nhau DHTDA được chú ý đặc biệt trong giáo dục ở nước Mỹ từ những năm đầu của thế kỉ XX và ở châu Âu những năm

60 của thế kỉ này Từ đầu thế kỉ XX, các nhà sư phạm của nước Mỹ đã bước đầu xây dựng cơ sở lý luận cho DHTDA và coi đó là hình thức tổ chức dạy học quan trọng, chủ yếu để thực hiện việc dạy học theo quan điểm dạy học trong hoạt động và bằng hoạt động và dạy học hướng vào người học nhằm khắc phục những nhược điểm của các PPDH, những hình thức dạy học truyền thống [8] Hiện nay, DHTDA đã được sử dụng ở nhiều quốc gia khác nhau và được

sử dụng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau DHTDA được ứng dụng

ở nhiều môn học khác nhau trong mọi cấp học khác nhau, từ giáo dục phổ thông cho đến giáo dục đại học Hiện nay, DHTDA đã được một số trường trên thế giới coi đây là một trong những hình thức tổ chức dạy học đặc biệt quan trọng, chủ yếu nhằm thực hiện đổi mới PPDH và đã dành một lượng lớn quỹ thời gian đào tạo cho DHTDA Trường Đại học Roskilde của Đan Mạch hiện nay dành trên 50% quỹ thời gian đào tạo cho DHTDA Từ đó cho đến nay, hàng năm có nhiều công bố nghiên cứu lý luận và thực tiễn về DHTDA của các tác giả như: David Moursund, Knoll, Sumita Bhattacharya, Joseph L Polman, John W Thomas [25]; [26]; [27]; [29]; [30]

Trang 22

1.2.2 Tình hình nghiên cứu và triển khai dạy học theo dự án ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các hình thức sinh viên làm khoá luận tốt nghiệp, đồ án tốt nghiệp và các bài tập lớn về môn học hay các bài tiểu luận từ lâu cũng đã được

sử dụng trong các trường Đại học nói chung và trong các trường Đại học Sư phạm, Cao đẳng Sư phạm nói riêng là rất gần gũi với DHTDA Trong các hình thức này, sinh viên được giao cho tìm hiểu, nghiên cứu về một vấn đề, một nội dung hay một mảng kiến thức nào đó trong một khoảng thời gian nhất định Trong khoảng thời gian do giảng viên đặt ra, sinh viên thực hiện những nhiệm vụ học tập mang tính nghiên cứu một cách tự lực dưới sự trợ giúp, hướng dẫn và định hướng của giảng viên Tuy nhiên, có thể nói rằng ở nước ta trong những năm trước đây, DHTDA vẫn chưa được quan tâm, chú ý cũng như chưa được sử dụng như một hình thức tổ chức dạy học một cách rộng rãi Trong một số năm gần đây, DHTDA mới được một số nhà nghiên cứu giáo dục cũng như các cơ sở giáo dục trong toàn quốc quan tâm đến

Tác giả Nguyễn Văn Cường đã công bố công trình nghiên cứu của mình

về DHTDA [7] Trong bài báo này, tác giả đã giới thiệu những vấn đề cơ bản

về DHTDA Từ đó cho đến nay, ở nước ta đã có nhiều nhà giáo dục quan tâm đến vấn đề này và đã cho công bố những công trình nghiên cứu về DHTDA Chẳng hạn như: Đỗ Hương Trà, Lê Thị Thanh Thảo, Nguyễn Thị Diệu Thảo và một số tác giả khác nữa [8]; [9]; [13]; [14]; [18]; [24]; [23]

Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng cường hợp tác quốc tế giữa Việt Nam với các nước, các tổ chức trên thế giới và việc phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông nên DHTDA ngày càng được giới thiệu rộng rãi

và sử dụng sâu rộng ở Việt Nam Chương trình bồi dưỡng GV phổ thông về ứng dụng công nghệ thông tin của một số công ty hay tổ chức quốc tế như Intel, Microsoft… đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, sử dụng

DHTDA ở Việt Nam Chương trình “Dạy học cho tương lai” của Intel hay chương trình “Đưa kỹ năng công nghệ thông tin vào dạy và học” của Partners

Trang 23

in learning đã đề ra mục đích chính là giúp cho các GV phổ thông biết cách khai thác và sử dụng máy tính điện tử để góp phần hình thành và phát triển trí tưởng tượng của HS và cuối cùng là đưa các em tới một PPDH, hình thức dạy học hiệu quả hơn dựa trên nền tảng của DHTDA [17], [32] Một số chương trình tập huấn trong khuôn khổ dự án của Bộ Giáo dục và Đào tạo(GD&ĐT) đã bước đầu triển khai tới một số GV và nhà quản lý giáo dục việc vận dụng

DHTDA trong dạy học [5], [16]

Cho tới nay, DHTDA đã bước đầu được triển khai ở một số tỉnh, thành phố như: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Bà rịa - Vũng tàu, Thừa Thiên

Huế

1.3 Dạy học theo dự án và đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta

Hiện nay, với sự phát triển như vũ bão cuả công nghệ thông tin, kiến thức không còn là tài sản riêng của trường học nữa HS có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh, nguồn khác nhau Các nguồn thông tin phong phú

đa chiều mà người học có thể tiếp nhận đã đặt giáo dục trước yêu cầu cấp bách là cần phải đổi mới cách dạy và cách học

Vấn đề đặt ra với nhà trường là làm thế nào để HS có thế làm chủ, tự lực chiếm lĩnh kiến thức, tích cực chủ động sáng tạo có kỹ năng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Đó thực sự là những thách thức lớn đối với nghành GD&ĐT nói chung, nhà trường và GV nói riêng GV không chỉ là người giúp cho HS lĩnh hội kiến thức mà cần dạy cho họ cách tìm kiếm, chiếm lĩnh kiến thức để đảm bảo cho việc tự học suốt đời

Để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đòi hỏi đất nước ta cần có nguồn nhân lực với trình độ học vấn rộng, có thể thực hiện được nhiều nhiệm vụ và chuyên môn hóa nhằm đảm bảo công việc với hiệu quả cao Người lao động phải năng động, sáng tạo, có kiến thức, kĩ năng mang tính chuyên nghiệp và dám chịu trách nhiệm là một trong những yếu tố hết sức quan trọng của người lao động và

Trang 24

là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức kinh doanh Yêu cầu đối với người lao động không chỉ đơn thuần là kiến thức mà còn là năng lực giải quyết các vấn đề Cách giải quyết vấn đề linh hoạt, sáng tạo trước các tình huống khó khăn phức tạp của cuộc sống và sự dám chịu trách nhiệm không phải là những phẩm chất sẵn có ở mỗi con người mà nó được hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục Như vậy đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển Ngành GD&ĐT phải không ngừng đổi mới trong đó cần quan tâm đổi mới phương pháp dạy học để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội

Trẻ em ngày nay thu lượm thông tin rất nhanh và chia sẻ thông tin trong xã hội với tốc độ chóng mặt, mỗi trẻ em có khả năng tìm kiếm thông tin theo cách khác nhau Việc sử dụng công nghệ mới khiến trẻ có khả năng giải quyết những vấn đề và giải quyết nhiều thông tin cùng một lúc Đây là điểm khác biết giữa trẻ em Việt Nam ngày nay với trẻ em Việt Nam cách đây vài thế kỉ Nhiều nghiên cứu được thực hiện ở nhiều quốc gia trong một phần tư chứng ming rằng mỗi HS đều có một cách học theo sở thích hay còn gọi là phong cách học Có HS thích học theo cách nghiên cứu tài liệu, phân tích dựa trên lý thuyết, có HS thích học qua trải nghiệm, khám phá, làm thử, có HS thích học qua thực hành áp dụng, có HS thích học qua quan sát Nếu như dạy học không quan tâm đến đặc điểm của người học GV truyền thụ một chiều, dạy học kiến thức mang tính thông báo đồng loạt thì

sẽ hạn chế khả năng tiếp thu của người học, người học hoàn toàn thụ động trong việc lĩnh hội kiến thức đồng thời cũng sẽ thụ động trước những thách thức khó khăn của cuộc sống Vậy làm thế nào để thay đổi từ dạy học thụ động sang dạy học tích cực? Một trong những yếu tố quan trọng là cần quan tâm đến đặc điểm của người học hay nói cách khác là phong cách người học Quan tâm đến phong cách học của người là yếu tố thúc đẩy sự phát triển tối đa năng lực của người học

Trang 25

Ở mỗi quốc gia, mục tiêu giáo dục thường được thay đổi theo từng giai đoạn phát triển Ở mước ta, mục tiêu giáo dục với quan điểm giáo dục toàn diện, chú trọng bốn mặt trí, đức, thể, mĩ nhằm đào tạo những người lao động mới có khả năng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, mục tiêu giáo dục đã được cụ thể hóa và bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới

Điều đang chú ý là mục tiêu giáo dục ngày nay ở nước ta cũng như các nước trên thế giới không chỉ nhằm trang bị cho HS những tri thức của nhân loại mà hơn thế nữa là chú ý đến vận dụng kiến thức vào cuộc sống, đặc biệt quan tâm đến năng lực tự phát hiện vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn Việc thay đổi mục tiêu giáo dục cần phải có những PPDH phù hợp để đạt mục tiêu đó và DHTDA

là một trong số PPDH đó

1.4 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta

Phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo cho người học là một trong những định hướng được nhấn mạnh trong chiến lược phát triển giáo dục ở nước

ta trong những năm gần đây Vấn đề này đã được cụ thể hoá trong nhiều văn bản của Đảng, của Nhà nước và của Bộ GD&ĐT nước ta Chẳng hạn như: Nghị quyết Trung ương Hai khoá VIII của Đảng cộng sản Việt Nam

[10] đã khẳng định: "Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của học sinh Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS "

Luật giáo dục cũng đã ghi rõ sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực Trong việc đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực thì phương pháp học của HS là mối quan tâm hàng

Trang 26

đầu Điều 5, Luật Giáo dục [19] đã ghi: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của HS; bồi dưỡng năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê và ý chí vươn lên”

Nghị quyết TƯ 8 khóa XI nhấn mạnh việc chuyển từ dạy kiến thức

sang hình thành và phát triển năng lực cho người học: “Phát triển giáo dục

và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình

và giáo dục xã hội” [11]

Từ những trích dẫn ở trên, ta thấy những văn bản, những quy định này đã phản ánh nhu cầu đổi mới phương pháp giáo dục để giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo con người mới với thực trạng lạc hậu nói chung của PPDH ở nước ta hiện nay Sự phát triển của xã hội và đổi mới đất nước đang đòi hỏi cấp bách phải nâng cao chất lượng GD&ĐT Công cuộc đổi mới này đề ra những yêu cầu mới đối với hệ thống giáo dục, điều đó đòi hỏi chúng ta, cùng với những thay đổi về nội dung, cần có những đổi mới căn bản về PPDH Mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo con người phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa với thực trạng lạc hậu, không phù hợp của PPDH cũ đã làm nảy sinh và thúc đẩy một cuộc vận động đổi mới PPDH ở tất cả các cấp trong ngành GD&ĐT với những tư tưởng chủ đạo được phát biểu dưới nhiều hình thức khác

nhau, như: “phát huy tính tích cực”, “PPDH tích cực”, “tích cực hoá hoạt động học tập” hay “hoạt động hoá người học” Những ý tưởng này đều bao hàm

những yếu tố tích cực, có tác dụng thúc đẩy đổi mới PPDH nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và đào tạo

Từ những tư tưởng về đổi mới PPDH ở trên, có thể khẳng định rằng quan điểm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo là một nội dung trọng tâm của chính sách giáo dục và quan điểm chỉ đạo giáo dục Việt Nam Tích cực hoá

Trang 27

hoạt động nhận thức của người học là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của người GV trong quá trình dạy học theo hướng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay Đây cũng là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt luôn được chúng tôi quán triệt trong quá trình thực hiện đề tài này

1.5 Vai trò của GV và HS trong dạy học theo dự án

Trong DHTDA, tính chất của các hoạt động giáo dục có sự thay đổi so với những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác Do đó, vai trò của GV và

HS trong DHTDA cũng có phần khác biệt so với các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác

Vai trò của GV trong DHTDA

Trong DHTDA, GV là người hướng dẫn, định hướng, tư vấn, trợ giúp và đôi khi là người cùng học với người học chứ không phải là người “cầm tay chỉ việc” cho người học; GV là người tạo ra các cơ hội học tập, tiếp cận với thông tin, làm mẫu, tư vấn, trợ giúp và hướng dẫn cho người học; GV cần tạo ra những môi trường học tập để thúc đẩy được sự hợp tác trong học tập giữa người học với người học, giữa người học với GV, giữa người học với xã hội

Vai trò của HS trong DHTDA

Trong DHTDA, HS được tham gia lựa chọn đề tài, nội dung học tập sao cho phù hợp với khả năng và hứng thú của từng cá nhân qua đó khuyến khích được tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm và sự sáng tạo của HS; HS làm việc với các thành viên trong nhóm trong một khoảng thời gian nhất định để giải quyết những nội dung học tập phức hợp; HS hệ thống kiến thức, thiết lập mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức của môn học và được tạo điều kiện học tập trong môi trường hợp tác; HS phải tạo ra các sản phẩm học tập đáp ứng các yêu cầu đề ra, đảm bảo tính thẩm mỹ, khoa học, kinh tế do đó khơi gợi sự tò mò và óc sáng tạo của HS qua việc cho phép chủ động, tự do tưởng tượng trong quá trình học tập

Trang 28

1.6 Ưu điểm và hạn chế của DHTDA

Ưu điểm của DHTDA

DHTDA mang lại nhiều lợi ích cho GV và HS Ngày càng nhiều các nhà nghiên cứu giáo dục ủng hộ việc vận dụng DHTDA trong trường học để khuyến khích người học, thúc đẩy các kỹ năng học tập hợp tác và nâng cao hiệu quả việc học tập cho người học

- Đối với GV: Góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp và sự hợp tác với

đồng nghiệp trong quá trình dạy học; tạo cơ hội xây dựng các mối quan hệ với người học; đưa ra các mô hình triển khai, cho phép hỗ trợ các đối tượng người học đa dạng bằng việc tạo ra nhiều cơ hội học tập hơn trong dạy học

- Đối với HS:

+ Tạo điều kiện cho HS huy động, ứng dụng và phát triển kiến thức, kỹ năng của mình vào việc giải quyết DAHT phức tạp trong thực tế

+ Khuyến khích HS giải quyết những vấn đề phức tạp mang tính thực tế,

HS phải khám phá, giải thích, tổng hợp thông tin và đánh giá một cách khoa học, qua đó phát triển các kĩ năng nhận thức

+ Kích thích động cơ, thúc đẩy mong muốn học tập của HS, phát huy khả năng làm việc, tính trách nhiệm và mong muốn được nhìn nhận đánh giá của HS

+ Yêu cầu và tạo điều kiện cho HS sử dụng tích hợp thông tin của những môn học khác để giải quyết vấn đề Nhờ vậy kiến thức trong chương trình đào tạo được liên kết với nhau

+ Thúc đẩy và rèn luyện năng lực cộng tác, kỹ năng giao tiếp giữa HS với

GV và giữa HS với nhau

+ HS có cơ hội để định hướng việc học của mình, họ coi trọng việc học hơn Do những nghiên cứu theo chiều sâu, việc học tập của HS được mở rộng

ra khỏi những vấn đề trước mắt HS học được những kỹ năng nghiên cứu có giá trị mà họ không thể có được từ các bài giảng truyền thống

Trang 29

- Đối với dạy học: Góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và

hành động, nhà trường và xã hội, giúp việc học tập trong nhà trường giống hơn với việc học tập trong thế giới thật, cùng một nội dung những người học khác nhau sẽ học theo những cách khác nhau và góp phần phát triển năng lực dạy học tích hợp

Hạn chế khi vận dụngDHTDA

- Về nội dung chương trình: Không phải nội dung nào trong chương trình

cũng có thể tổ chức DHTDA được hiệu quả, DHDA đòi hỏi nhiều thời gian, nó không thể thay thế phương pháp thuyết trình trong việc truyền thụ những tri thức lý thuyết, trừu tượng, quá khó một cách hệ thống trong thời gian ngắn Vì vậy, GV cần phải nghiên cứu kỹ mục đích, yêu cầu và nội dung chương trình của môn học để lựa chọn, xây dựng các nội dung kiến thức để có thể tổ chức DHTDA được hiệu quả

- Về GV: GV cần nhiều thời gian để chuẩn bị các vấn đề liên quan đến

DAHT; GV đã quen với các PPDH, hình thức tổ chức dạy học truyền thống nên ngại không muốn thay đổi trong quá trình dạy học của mình

- Về HS: Cần nhiều thời gian để nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thành DAHT; người học đã quen với vai trò thụ động trong những PPDH, những hình thức tổ chức dạy học truyền thống nên những thói quen cũ sẽ là những cản trở

chính khi vận dụng DHTDA

1.7 Điều kiện để thực hiện dự án có hiệu quả

Không khí học tập và các mối quan hệ trong nhóm, lớp

Nội dung, nhiệm vụ và các hoạt động phù hợp vớ i mức độ phát triển của HS; Gần gũi với thực tế, đa dạng về hình thức, tạo điều kiện cho HS được tự do sang tạo, Môi trượng học tập thân thiện, mang tính kích thích thể hiện qua việc bố trí bàn ghế, trang trí trên tường, cách sắp xếp không gian lớp học, quan tâm tới sự thoải mãi về tinh thân, không căng thẳng không nặng nề, không gây phiền nhiễu, có các hoạt động giải trí nhẹ nhàng,

Trang 30

truyện vui hài hước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; Hỗ trợ cá nhân một cách tích cực, tạo cơ hội để HS giao tiếp, thể hiện quan điểm, giá trị, mơ ước, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác trong các hoạt động học tập

Sự phù hợp với mức độ phát triển của HS

Nhiệm vụ, các hoạt động học tập cần có sự phân hóa, quan tâm đến

sự khác biệt về nhịp độ học tập, trình độ giữa các đối tượng HS khác nhau; Có sự thỏa thuận cam kết rõ ràng về những mong đợi của thầy đối với trò và ngược lại; Các yêu cầu đối với HS cần rõ ràng, tránh mơ hồ,

đa nghĩa, khuyến khích họ giúp đỡ lẫn nhau, quan sát họ học tập để tìm

ra phong cách và sở thích học tập của tùng HS; Có sự hỗ trợ phù hợp, yêu cầu HS động não và hỗ trợ cá nhân, tạo điều kiện để họ trao đổi về nhiệm vụ học tập

Sự gần gũi với thực tế

Nội dung, nhiệm vụ học tập gắn với các mối quan tâm của HS và với thế giới thực tại xung quanh, tân dụng mọi cơ hội để họ tiếp xúc với vật thực, tình huống thực, sử dụng các công cụ dạy học hấp dẫn để đưa họ lại gần đời sống thực tế, khai thác đề tài vượt ra ngoài giới hạn của môn học

Mức độ và sự đa dang của hoạt động

Trong các hoạt động học tập, hạn chế thời gian chết và thời gian chờ đợi; Tạo ra các thời điểm hoạt động và trải nghiệm tích cực Tích hợp các hoạt động học mà chơi, thay đổi xen kẽ các hoạt động và nhiệm vụ học tập; Tăng cường sự tham gia tích cực, đảm bảo hỗ trợ đúng mức, đảm bảo thời gian thực hành

Trang 31

1.8 Mối quan hệ giữa DHTDA với các PPDH, các hình thức tổ chức dạy học khác trong quá trình tổ chức dạy học

DHTDA là hình thức tổ chức dạy học không hoàn toàn tách biệt mà có mối quan hệ mật thiết với những quan điểm, những hình thức và những PPDH khác Trong DHTDA có thể thực hiện phối hợp nhiều quan điểm, nhiều hình thức, nhiều PPDH khác nhau, trong đó có quan điểm dạy học trong hoạt động và bằng hoạt động hay dạy học lấy người học làm trung tâm Trong quá trình học tập, người học phải thực hiện những nhiệm vụ học tập do DAHT đề ra và hoàn thành các sản phẩm hành động Dạy học định hướng vào hoạt động có thể được vận dụng với nhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào mục tiêu, nội dung và điều kiện dạy học cụ thể ở từng nơi DHTDA là một hình thức điển hình của dạy học trong hoạt động và bằng hoạt động

Trong DHTDA, người học phải tự lực hoặc phối hợp với mọi người xung quanh để làm việc sao cho hoàn thành nhiệm vụ học tập, hoàn thành những công việc được giao và tạo ra được những sản phẩm của DAHT Trong quá trình thực hiện những hoạt động của nhóm, có những thời điểm từng cá nhân phải tự lực thực hiện những công việc để hoàn thành phần việc của bản thân được phân công Nhưng về cơ bản, người học cần phải tiến hành làm việc theo nhóm để xây dựng kế hoạch công việc cần làm, cùng nhau tiến hành thực hiện các hoạt động cần thiết để hoàn thành DAHT của cả nhóm Do đó, trong DHTDA, GV cần phải vận dụng Dạy học hợp tác để tổ chức các hoạt động dạy học cần thiết

Mỗi DAHT là một vấn đề mang tính phức hợp mà người học, các nhóm học tập cần phải giải quyết Để giải quyết được vấn đề phức hợp đó thì các nhóm học tập, người học cần phải biết phân chia nó thành những vấn đề, những chủ đề thành phần Do đó, để hoàn thành DAHT các nhóm học tập cần phải biết phân công cho từng thành viên trong nhóm để tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu và giải

Trang 32

trình tổ chức DHTDA cho người học, GV cần vận dụng Dạy học giải quyết vấn đề

để tổ chức cho người học thực hiện việc triển khai nghiên cứu, tìm hiểu những chủ

đề, những nội dung của DAHT đã cho

Để hoàn thành sản phẩm DAHT chung của nhóm, để trao đổi những nội dung cần tìm hiểu, nghiên cứu, các nhóm cần phải tiến hành tổ chức thảo luận, trao đổi trong nhóm để các thành viên trong nhóm cùng nắm được nội dung nhóm đang nghiên cứu, thống nhất nội dung cần nghiên cứu, thông qua sản phẩm chung của nhóm Trong quá trình tổ chức để các nhóm tiến hành báo cáo kết quả nghiên cứu, sau khi từng nhóm lên trình bày kết quả nghiên cứu, GV cùng với tập thể lớp tiến hành thảo luận, đánh giá, nhận xét và góp ý về nội dung sản phẩm của nhóm lên trình bày Như vậy, trong quá trình tổ chức DHTDA, nhiều lúc GV cũng cần phải vận dụng phương pháp thảo luận để tổ chức các hoạt động dạy học cần thiết

Ngoài ra, trong quá trình tổ chức DHTDA, GV còn cần phải sử dụng những PPDH, những hình thức tổ chức dạy học khác như: PPDH Thuyết trình, PPDH Đàm thoại, Dạy học khám phá, Dạy học trong môi trường công nghệ thông tin

để tổ chức các hoạt động dạy học cho người học

Từ đó cho thấy, DHTDA có mối quan hệ chặt chẽ với những PPDH, với những hình thức tổ chức dạy học khác trong việc tổ chức dạy học Trong DHTDA có sự phối hợp của nhiều PPDH, nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau để tổ chức các hoạt động học tập cho người học để làm cho hoạt động dạy học đạt kết quả cao

1.9 Dạy học theo dự án và vấn đề hình thành, phát triển năng lực HS

* Năng lực: Năng lực là một vấn đề của Tâm lý học và có nhiều cách tiếp cận khác nhau

A.G.Côvaliôp cho rằng: “Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu lao động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao” [1]

Trang 33

Theo Xavier Roegiers [31]: “Năng lực là sự tích hợp các kỹ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loạt tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra”

Tác giả Phạm Minh Hạc [12] cho rằng: “Năng lực là một tổ hợp tâm lý của một người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy”

Theo Bùi Văn Huệ [16]: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” Theo Nguyễn Ngọc Bích [5] cho rằng: “Năng lực là tổ hợp những thuộc tính tâm lý phù hợp với yêu cầu một loại hoạt động nhằm làm cho hoạt động đó đạt được kết quả”

Từ những trích dẫn ở trên, chúng tôi thấy mặc dù các tác giả có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau, nhưng có thể thấy các tác giả đều thống nhất rằng:

- Năng lực tồn tại và phát triển thông qua hoạt động Nói đến năng lực là nói đến khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó của cá nhân

- Năng lực biểu hiện và quan sát được trong hoạt động, nó gắn liền với tính sáng tạo tuy có khác nhau về mức độ

- Năng lực chỉ có thể rèn luyện mới phát triển được

- Có nhiều năng lực khác nhau, mỗi cá nhân khác nhau có năng lực khác nhau Theo chúng tôi: Năng lực là hệ thống những thuộc tính của cá nhân con người, phù hợp với yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả cao

* Năng lực hợp tác Hợp tác là mọi người cùng chung sức để đạt được

những mục tiêu chung Trong các tình huống hợp tác, các cá nhân tìm kiếm những kết quả có ích cho họ và đồng thời cho cả các thành viên trong nhóm Năng lực hợp tác của người HS được thể hiện ở khả năng trao đổi, chia sẻ

Trang 34

những khó khăn, những kinh nghiệm của bản thân, phối hợp với các thành viên trong nhóm và những người xung quanh trong hoạt động học tập và nghiên cứu

khoa học

* Năng lực sáng tạo Theo Từ điển tiếng Việt [20] “Sáng tạo là tạo ra

những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, hay sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới và không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có” Từ đó, ta có thể hiểu một cách ngắn gọn: Sáng tạo là tìm ra cái mới, độc đáo, có ích và hiệu quả HS có năng lực sáng tạo được thể hiện ở khả năng tư duy sáng tạo trong các hoạt động liên quan đến học tập và trong quá trình nghiên cứu khoa học

Để có năng lực sáng tạo, HS cần có các khả năng như: Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá, tương tự hoá, suy luận lôgíc, tư duy linh hoạt

* Năng lực giao tiếp Năng lực này bao gồm những hoạt động liên quan

đến việc xác lập có tính chất sư phạm những mối liên quan giữa nhà giáo dục

và đối tượng giáo dục Năng lực giao tiếp được thể hiện trong việc đánh giá và phát triển nhu cầu của đối tượng để phối hợp hoạt động dạy và học Năng lực giao tiếp của HS còn được thể hiện ở sự lịch thiệp trong cách ứng xử sư phạm của mỗi HS

* Năng lực tổ chức Là năng lực được thể hiện ở hai mặt: Tổ chức của tập

thể HS và tổ chức công việc của chính bản thân HS Năng lực này thể hiện ở tính cẩn thận, chính xác, ở khả năng lập kế hoạch hoạt động, khả năng kiểm tra hoạt động và khả năng vận dụng các hình thức dạy học khác nhau trong việc tổ chức dạy học các tình huống điển hình trong môn Sinh học

* Năng lực giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dạy - học

Thành công trong dạy học của GV phụ thuộc vào việc phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong quá trình dạy - học của họ Nhờ có năng lực nghiên cứu, có thói quen và khả năng giải quyết các vấn đề gặp phải trong hoạt động nghề nghiệp bằng nghiên cứu khoa học mà người

GV có thể xử lý được những tình huống, những vấn đề xảy ra Bằng con

Trang 35

đường nghiên cứu khoa học, người GV không những tìm ra được giải pháp hợp lý với điều kiện, hoàn cảnh xác định mà còn nâng cao được trình độ nghề nghiệp của bản thân

Để giải quyết tốt các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dạy - học các nội dung Sinh học ở trường phổ thông, GV cần có các khả năng như: Khả năng xây dựng giả thuyết khoa học, xây dựng đề cương nghiên cứu, giải quyết các vấn

đề, xây dựng phiếu điều tra, xử lý và đánh giá kết quả nghiên cứu

* Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngày nay,

công nghệ thông tin được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống,

xã hội, trong đó có giáo dục Những hiện tượng, sự vật trước đây khó có thể thực hiện tại lớp để HS quan sát thì nhờ có công nghệ thông tin nay đã có thể

mô tả được những sự vật, hiện tượng đó như thật để HS quan sát công nghệ thông tin với khả năng xử lý một khối lượng thông tin lớn, với những số liệu phức tạp trong một khoảng thời gian ngắn đã làm giảm nhẹ lao động trong quá trình dạy - học Sự phát triển của Internet sẽ nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giữa giáo dục nước ta với giáo dục các nước trên thế giới Vì vậy, để không bị tụt hậu, GV, HS phải có khả năng sử dụng công nghệ thông tin và biết ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy - học

Mục tiêu của DHTDA là thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập, người học có được một số khả năng như: Khả năng sáng tạo, khả năng thích ứng trong công việc, khả năng làm việc theo nhóm, khả năng tìm kiếm và xử lý thông tin… Để đảm bảo chất lượng học tập thì việc dạy học không chỉ giới hạn trong việc truyền thụ những tri thức lý thuyết, khả năng tái hiện mà còn chú trọng rèn luyện năng lực thực hành, năng lực vận dụng sáng tạo các tri thức và các kỹ năng đã học vào việc giải quyết các vấn đề khoa học và thực tiễn cuộc sống cho HS.v.v Việc đánh giá kết quả học tập theo dự án không chỉ chú trọng vào khả năng tái hiện tri thức mà còn chú trọng năng lực vận dụng tri thức, tính tích cực, sự sáng tạo thông qua đánh giá quá trình học tập và rèn luyện của mỗi

Trang 36

HS Như vậy, thông qua DHTDA sẽ giúp cho HS không những tích luỹ được những kiến thức cần thiết mà còn hình thành những kỹ năng, năng lực cần thiết cho bản thân

Mỗi chủ đề của DAHT cần phải gắn với thực tiễn, kết quả DAHT có ý nghĩa thực tiễn - xã hội Do đó, nhiệm vụ của DAHT cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của HS Hơn nữa, các nhiệm vụ học tập lại do chính

HS tự xây dựng nhằm đáp ứng được các mục đích, yêu cầu của DAHT đã đề ra

Từ đặc điểm này cho thấy, DHTDA giúp HS phát triển một số khả năng như: Khả năng dự kiến trước công việc, khả năng nghiên cứu tài liệu, khả năng xác định nội dung bài học phù hợp với yêu cầu của chương trình và mục tiêu đề ra

Trong DHTDA, các chủ đề và nội dung của DAHT cần phải phù hợp với hứng thú của HS Việc cho phép HS tự xây dựng kiến thức cho bản thân đã khuyến khích được tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm và sự sáng tạo của

HS Trong DHTDA, HS được tham gia lựa chọn đề tài, nội dung học tập sao cho phù hợp với khả năng và hứng thú của cá nhân Từ đó cho thấy, DHTDA giúp HS phát triển các khả năng như: Khả năng phân tích, khả năng dự kiến trước công việc, khả năng sáng tạo

Vì trong DHTDA, HS tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học nên DHTDA sẽ giúp HS bồi dưỡng được các năng lục cần thiết như: Năng lực nghiên cứu tài liệu, năng lực tự giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực xử lý và điều khiển thông tin

Do trong DHTDA, các DAHT thường được thực hiện theo nhóm, việc học mang tính xã hội nên thông qua DHTDA sẽ góp phần rèn luyện cho HS khả năng phối hợp, hợp tác với những thành viên trong nhóm nhằm giải quyết các vấn đề do DAHT đưa ra Bên cạnh đó, thông qua quá trình làm việc theo nhóm

sẽ góp phần rèn luyện cho SV một số năng lực như: Năng lực tổ chức, điều khiển, năng lực giao tiếp, năng lực xử lý các tình huống sư phạm, năng lực lập

kế hoạch

Trang 37

DHTDA tạo ra môi trường dạy học không bị ràng buộc chặt chẽ về không gian và thời gian Thời gian thực hiện một DAHT có thể là một ngày, nhiều ngày hay hàng tuần tuỳ thuộc vào quy mô và mức độ của DAHT Cùng một nội dung nhưng mỗi thành viên trong nhóm có thể tiếp cận bằng những cách thức khác nhau sao cho phù hợp với năng lực, sở trường và điều kiện thực tế của từng thành viên trong nhóm Vì vậy, DHTDA sẽ giúp HS phát triển năng lực làm việc trong các môi trường dạy học không truyền thống: Làm việc trong lớp học ảo, làm việc online HS có thể phân tán ở nhiều nơi khác nhau khi học tập Mỗi người cùng một lúc có thể làm việc với nhiều trường hợp, nhiều đối tượng, nhiều nội dung chương trình khác nhau Do vậy, thông qua DHTDA sẽ giúp HS phát triển các khả năng như: Khả năng hợp tác, khả năng tổ chức, khả năng lập kế hoạch, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học DHTDA tạo ra môi trường thuận lợi cho hoạt động tương tác đa chiều: Tương tác giữa GV - HS, HS - HS, HS - xã hội Tương tác giữa các thành tố trong quá trình thực hiện DA Khi đó, trong môi trường tương tác, HS có cơ hội phát triển các khả năng như: Khả năng giao tiếp, khả năng tổ chức, khả năng hợp tác, khả năng lập kế hoạch, khả năng thu nhận và xử lý thông tin cho bản thân DHTDA có khả năng tích hợp cao các hình thức, các PPDH khác như: Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, Dạy học hợp tác, Dạy học trong môi trường công nghệ thông tin , nội dung của các DAHT có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau HS còn có cơ hội để vận dụng các kiến thức của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết các vấn đề thuộc nội dung của các DAHT Qua đó, HS có điều kiện để hình thành và phát triển các khả năng như: Khả năng nghiên cứu tài liệu, khả năng tự giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo, khả năng xử lý và điều khiển thông tin

Trong quá trình triển khai nghiên cứu, tìm hiểu và xử lý thông tin thu được từ các nguồn tài nguyên liên quan tới DAHT, HS cần biết cách khai thác

Trang 38

thông tin từ những nguồn tài nguyên đó, biết tra cứu những thông tin cần thiết

để phục vụ cho công việc của bản thân Từ đó, HS phát triển được các khả năng như: Khả năng nghiên cứu tài liệu, khả năng tự học của bản thân, khả năng phân tích, khả năng tổng hợp, khả năng xử lý thông tin

Trong quá trình các nhóm hoàn thiện sản phẩm của DAHT, hoàn thiện nội dung báo cáo sản phẩm của DAHT để trình bày trước tập thể lớp, HS sẽ có cơ hội phát triển các khả năng như: Khả năng trình bày, khả năng giao tiếp, khả năng tổ chức, khả năng hợp tác, khả năng sử dụng ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ Sinh học), khả năng sử dụng các phương tiện dạy học, khả năng khai thác

và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Từ những phân tích ở trên chúng tôi cho rằng, DHTDA là một hình thức

tổ chức dạy học nếu GV biết cách vận dụng một cách hợp lý, tổ chức dạy học một cách khoa học, hiệu quả thì không những giúp cho HS tiếp thu kiến thức được nhiều hơn, sâu sắc hơn mà còn góp phần hình thành và phát triển các kỹ năng cần thiết

1.10 Đánh giá trong dạy học theo dự án

DHTDA giúp cho HS không những có được những kiến thức cần thiết mà còn góp phần hình thành và rèn luyện những kỹ năng, năng lực nghiên cứu cần thiết thông qua quá trình HS triển khai các hoạt động để hoàn thành các DAHT Do vậy, trong quá trình đánh giá, chúng ta cần tiến hành đánh giá sản phẩm của các DAHT, đánh giá sự phát triển các kỹ năng, năng lực cũng như thái độ của HS thông qua DHTDA và đánh giá DAHT Trong các tài liệu viết về DHTDA của Intel và Hiệp hội Công nghệ trong Giáo dục Quốc tế, dự án Việt - Bỉ hay theo các tác giả Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường để đáp ứng được các vấn đề trong đánh giá và phù hợp với DHTDA, đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết là những hình thức đánh giá rất cần thiết và phù hợp để có thể khẳng định được những tác động tích

cực của DHTDA đối với quá trình học tập của HS [6], [7]

Trang 39

Đánh giá quá trình là loại hình đánh giá được tiến hành trong quá trình

dạy và học một nội dung nào đó, nhằm thu thập thông tin phản hồi về kết quả học tập của HS về nội dung đó, dùng làm cơ sở cho việc định hướng hoạt động dạy và học tiếp theo làm cho những hoạt động này có hiệu quả hơn

Đánh giá quá trình trong DHTDA là đánh giá theo các giai đoạn hoạt động của HS để triển khai DAHT Để đánh giá được hiệu quả của DHTDA trong dạy học thì trong mỗi giai đoạn hoạt động, ngoài đánh giá về thái độ của HS cần đánh giá sản phẩm của HS Để có được kết quả đánh giá một cách khách quan, toàn diện về mọi mặt thì ngoài đánh giá của giảng viên đối với HS thì GV cần sử dụng thêm một

số hình thức đánh giá như: Đánh giá chéo lẫn nhau trong nhóm và HS tự đánh giá Chúng ta có thể tiến hành đánh giá theo các giai đoạn sau:

- Đánh giá việc hình thành DAHT: Trong đó cần đánh giá khả năng lựa chọn chủ đề cũng như khả năng xác định mục tiêu, nội dung của DAHT, xác định những công việc cần thực hiện trong DAHT, những sản phẩm chính cần đạt được sau khi hoàn thành DAHT, dự kiến thời gian thực hiện DAHT, xác định những mốc thời gian quan trọng trong quá trình thực hiện DAHT Mặt khác trong quá trình đánh giá, chúng ta cần đánh giá mức độ hỗ trợ của giảng viên cũng như mức độ tự đề xuất ý tưởng của HS trong mỗi công việc

- Đánh giá việc xây dựng kế hoạch thực hiện DAHT: Trong đó cần đánh giá: Khả năng dự kiến các công việc cần triển khai trong nhóm có chi tiết, logic

và khả thi hay không?, khả năng dự kiến các nội dung cần nghiên cứu tìm hiểu

có cụ thể hay không?, phân công công việc cho từng thành viên trong nhóm có phù hợp không?, dự kiến thời gian hoàn thành từng nội dung công việc, thời gian hoàn thành dự án có hợp lý không?, khả năng xác định các sản phẩm cần đạt được trong mỗi giai đoạn, trong mỗi nội dung công việc, đối với mỗi cá nhân trong nhóm có phù hợp hay không?, khả năng dự kiến những khó khăn có thể gặp phải trong quá trình thực hiện DAHT Trong quá trình đánh giá, chúng

Trang 40

ta cần đánh giá mức độ hỗ trợ của GV cũng như mức độ tự đề xuất ý kiến, ý tưởng của HS trong mỗi công việc

- Đánh giá việc thực hiện DAHT: Khi đánh giá việc thực hiện DAHT, chúng ta cần tiến hành đánh giá chất lượng của các sản phẩm trong việc thực hiện các công việc đó, đánh giá tiến độ thực hiện các công việc trong nhóm (đánh giá tiến độ thực hiện nội dung các phần việc do từng thành viên trong nhóm, tiến độ thực hiện nội dung các công việc cũng như tiến độ thực hiện DAHT của từng nhóm so với kế hoạch thực hiện đã đề ra), đánh giá khả năng, thái độ và hiệu quả làm việc của từng cá nhân trong việc tự lực cũng như cộng tác với các thành viên trong nhóm để hoàn thành các công việc được giao HS

có biết đánh giá DAHT hay không (sản phẩm, cách làm việc ) Trong quá trình đánh giá, chúng ta cần đánh giá mức độ hỗ trợ của GV cũng như mức độ

tự đề xuất ý kiến của HS trong mỗi công việc

Đánh giá việc hình thành DAHT của HS, xây dựng kế hoạch thực hiện DAHT của từng nhóm và việc thực hiện DAHT của HS, mức độ đánh giá được thể hiện trong mô hình dưới đây:

Đánh giá tổng kết là loại hình đánh giá được thực hiện vào cuối mỗi giai

đoạn đào tạo; cung cấp thông tin về kết quả học tập của HS so với mục tiêu giáo dục của mỗi giai đoạn; là cơ sở để phân loại HS nhưng không góp phần nâng cao kết quả học tập của HS trong giai đoạn học tập được đánh giá Tuy

Mức độ hỗ trợ của GV

Ngày đăng: 29/03/2017, 13:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.V Petrovski (1982). Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm, tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm, tập II
Tác giả: A.V Petrovski
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
2. Bộ giáo dục va Đào tạo (2008). Sách giáo khoa Sinh học 12. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Sinh học 12
Tác giả: Bộ giáo dục va Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
3. Bộ giáo dục và Đào tạo (2009). Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Sinh học lớp 12. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Sinh học lớp 12
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008). Tài liệu tập huấn: Đồng đẳng về 3 PPDH – học theo góc, theo hợp đồng, theo dự án, Dự án Việt – Bỉ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn: Đồng đẳng về 3 PPDH – học theo góc, theo hợp đồng, theo dự án
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
5. Nguyễn Ngọc Bích (2000) Tâm lý học nhân cách (một số vấn đề lý luận., NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học nhân cách (một số vấn đề lý luận)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
6. Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2005). Hội thảo tập huấn: Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển Trung học phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo tập huấn: Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới
Tác giả: Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2005
7. Nguyễn Văn Cường (1997). Dạy học Project hay DHTDA, Thông báo khoa học Trường ĐHSP, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Project hay DHTDA
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Năm: 1997
8. Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004). DHTDA - một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo GV, Tạp chí Giáo dục, số 80 9. Trần Việt Cường. Đôi nét về PPDH theo Dự án. TCGD số 207 năm 2009.Tr. 25 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: DHTDA - một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo GV
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Thị Diệu Thảo
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2004
10. Đảng cộng sản Việt Nam (1997). Văn kiện Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
13. Trần Bá Hoành (2007). Đổi mới PPDH, CT và SGK. NXBĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới PPDH, CT và SGK
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXBĐHSP
Năm: 2007
15. Nguyễn Văn Hồng (2010 ). Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, NXBKH&KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục
Nhà XB: NXBKH&KT
16. Bùi Văn Huệ (2000). Giáo trình Tâm lý học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học
Tác giả: Bùi Văn Huệ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
17. Intel và Hiệp hội Công nghệ trong Giáo dục Quốc tế (2005). Intel teach to the future, Tài liệu tập huấn chương trình “Dạy học cho tương lai”, ISTE, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intel teach to the future, Tài liệu tập huấn chương trình “Dạy học cho tương lai”
Tác giả: Intel và Hiệp hội Công nghệ trong Giáo dục Quốc tế
Năm: 2005
19. Luật Giáo dục (2005). NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Luật Giáo dục
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
20. Hoàng Phê (1997). Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1997
21. Lê Thị Thanh Thảo (2006). DHTDA, Intel: Teach to the future, CENTEA Sách, tạp chí
Tiêu đề: DHTDA, Intel: Teach to the future
Tác giả: Lê Thị Thanh Thảo
Năm: 2006
22. Nguyễn Thị Diệu Thảo (2008). DHTDA và vận dụng trong đào tạo GV môn Công nghệ phần Kinh tế gia đình, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: DHTDA và vận dụng trong đào tạo GV môn Công nghệ phần Kinh tế gia đình
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Thảo
Năm: 2008
25. David Moursund (2003). Project-based learning using with ICT, Eugene, Oregon - Washington, DC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Project-based learning using with ICT
Tác giả: David Moursund
Năm: 2003
26. Digumarthi Harshitha (2006). Techniques of teaching computer science, Sonali Publications, New Delhi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Techniques of teaching computer science, Sonali Publications
Tác giả: Digumarthi Harshitha
Năm: 2006
27. Joseph L. Polman (2002). Deigning Project - Based Science Learning Environments, NARST Sách, tạp chí
Tiêu đề: Deigning Project - Based Science Learning Environments
Tác giả: Joseph L. Polman
Nhà XB: NARST
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w