1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của kích thước và phương thức cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc

40 406 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Khóa luận tốt nghiệp: “Ảnh hưởng của kích thước và phương thức cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA SINH - KTNN

NGUYỄN DOÃN THỊ HUYỀN

ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH THƯỚC, PHƯƠNG THỨC CẤY MẪU ĐẾN

KHẢ NĂNG TÁI SINH CHỒI IN VITRO

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đến thầy giáo

PGS.TS Nguyễn Văn Đính – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo

điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ tận tình

của thầy La Việt Hồng và cô Mai Thị Hồng cùng tập thể, cán bộ Phòng thí

nghiệm Sinh lý thực vật đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành khóa luận, nhân đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn tới những người thân, bạn bè đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ và khích lệ tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 12, tháng 4, năm 2016

Sinh viên

Nguyễn Doãn Thị Huyền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp: “Ảnh hưởng của kích thước và phương thức

cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc” là công

trình nghiên cứu của cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Văn Đính Các kết quả nghiên cứu của khóa luận này là trung thực và các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 12, tháng 4, năm 2016

Sinh viên

Nguyễn Doãn Thị Huyền

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NAA: Napthlacetic acid

BAP: 6-Benzyl amino purin

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nội dung nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2

NỘI DUNG 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Giới thiệu về cây hoa cúc 3

1.1.1 Nguồn gốc cây hoa cúc 3

1.1.2 Vị trí phân loại 3

1.1.3 Một số đặc điểm thực vật học 3

1.2 Tình hình sản xuất cây hoa cúc ở trên thế giới và Việt Nam 6

1.2.1 Tình hình sản xuất hoa cúc trên thế giới 6

1.2.2 Tình hình sản xuất hoa cúc ở Việt Nam 7

1.3 Tình hình nghiên cứu nuôi cấy in vitro về cây hoa cúc trên thế giới và ở Việt Nam 8

1.3.1 Tình hình nghiên cứu nuôi cấy in vitro về cây hoa cúc trên thế giới 8

1.3.2 Tình hình nghiên cứu in vitro về cây hoa cúc ở Việt Nam 9

1.4 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước mẫu và phương thức cấy mẫu đến sinh trưởng của cây in vitro 10

Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 Vật liệu nghiên cứu 13

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 13

2.3 Dụng cụ và thiết bị thí ngiệm 13

2.3.1 Thiết bị 13

Trang 6

2.4 Môi trường nuôi cấy 13

2.5 Điều kiện nuôi cấy 14

2.6 Phương pháp nghiên cứu 14

2.6.1 Chuẩn bị vật liệu thực vật 14

2.6.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 14

2.6.3 Phương pháp xử lý số liệu 16

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17

3.1 Tạo vật liệu khởi đầu 17

3.2 Đánh giá khả năng tái sinh chồi in vitro của các giống hoa cúc nuôi cấy in vitro 19

3.2.1 Số chồi/mẫu 19

3.2.2 Chiều cao chồi 21

3.2.3 Số lá/chồi 23

3.3 Ảnh hưởng của kích thước mẫu đến quá trình nhân nhanh chồi cúc 23

3.4 Ảnh hưởng của phương thức cấy đến sự phát triển của chồi mới phát sinh 25

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Hiệu quả khử trùng bề mặt của dung dịch Javen đối với đỉnh sinh

trưởng của cây hoa cúc 17

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của BAP đến số chồi/mẫu ở một số giống cúc 20

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của BAP đến chiều cao chồi ở một số giống cúc 21

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của BAP đến số lá/chồi ở một số giống cúc 23

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của kích thước mẫu cấy đến số chồi/mẫu của cây hoa cúc 24

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của phương thức cấy đến sự phát triển của chồi cúc 25

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Các mẫu cúc sạch sau 4 tuần vào mẫu 18

Hình 3.2 Sự sinh trưởng của giống cúc vàng hè sau 6 tuần 20

Hình 3.3 Sự sinh trưởng của giống cúc chi đỏ sau 6 tuần 21

Hình 3.4 Sự sinh trưởng của giống cúc đỏ cờ sau 6 tuần 22

Hình 3.5 Sự sinh trưởng của giống cúc kim cương sau 6 tuần 22

Hình 3.6 Sự sinh trưởng của giống cúc thạch bích sau 6 tuần 23

Hình 3.7 Sự sinh trưởng của chồi cúc chi đỏ ở 3 nhóm kích thước mẫu sau 6 tuần nuôi cấy 25

Hình 3.8 Ảnh hưởng của phương thức cấy đến sự phát triển chồi ở cây cúc vàng hè 27

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, khi xã hội phát triển, không chỉ chất lượng đời sống vật chất của con người được cải thiện mà đời sống tinh thần cũng không ngừng tăng lên, và hoa là vẻ đẹp không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại, hoa tô điểm cho cuộc sống, thoả mãn nhu cầu thưởng thức cái đẹp của con người Và trong vô vàn loài hoa, không thể không kể đến hoa cúc - một loài hoa trồng chậu và cắt cành được rất nhiều người ưa chuộng và phổ biến trên thế giới Cúc đẹp không chỉ bởi màu sắc phong phú và hình dáng đa dạng mà còn ở mùi hương kín đáo và đặc tính bền Với các ưu thế đó, hoa cúc đang được các nhà trồng hoa chú trọng đầu tư và phát triển [9]

Trong xu thế hội nhập, cùng với chính sách mở cửa của nhà nước, nhiều nhà đầu tư nước ngoài không ngừng đưa vào Việt Nam những giống cúc đẹp

và có giá trị kinh tế cao Chính vì vậy, hiện nay sản phẩm hoa cúc rất đa dạng

về chủng loại, phong phú về màu sắc Việc xuất hiện liên tục của những giống hoa cúc ngoại nhập, bên cạnh các giống hoa nội địa, đã giúp mở rộng sản xuất

để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng Theo đó, nhu cầu về giống cũng tăng theo, và phương pháp nhân giống cũng không ngừng cải tiến Trong những năm gần đây, một trong những phương pháp hiện đại được ứng

dụng rộng rãi đó là phương pháp nhân giống in vitro bởi những ưu điểm như:

tạo ra được lượng lớn cây giống từ mô, cơ quan với kích thước nhỏ 0,1 – 10

mm; cây giống tạo ra sạch bệnh, có khả năng nhân nhanh các giống sạch bệnh; có thể điều chỉnh khả năng tái sinh của cây theo ý muốn; hệ số nhân giống cao, có khả năng sản xuất số lượng lớn cây trong thời gian ngắn; có thể

tiến hành quanh năm và cây giống in vitro có thể bảo quản trong một thời gian dài trong điều kiện in vitro [2] Quá trình tái sinh và nhân nhanh chồi in

Trang 11

vitro phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như giống (yếu tố di truyền), môi trường

nuôi cấy, chất điều hòa sinh trưởng thực vật, ánh sáng… Ngoài ra, quá trình này còn chịu ảnh hưởng của kích thước mẫu và phương thức cấy mẫu Vì vậy, nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu về nguồn cây cúc giống sạch bệnh, chất

lượng cao bằng kĩ thuật in vitro, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Ảnh hưởng của kích thước và phương thức cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc”

2 Mục đích và nội dung nghiên cứu

2.1 Mục đích

Tạo vật liệu khởi đầu, nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước mẫu, phương thức cấy và khả năng tái sinh chồi của 5 giống hoa cúc, góp phần vào

việc hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro cây hoa cúc

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Tạo vật liệu khởi đầu

- Đánh giá khả năng tái sinh chồi của các giống hoa cúc nuôi cấy in vitro

- Ảnh hưởng của kích thước mẫu cấy đến quá trình tái sinh và nhân

nhanh chồi cúc

- Ảnh hưởng của phương thức cấy đến sự phát triển của chồi mới phát sinh

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp, bổ sung dẫn liệu mới về kĩ

thuật nuôi cấy in vitro cây hoa cúc

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao năng suất, chất lượng

và hiệu quả kinh tế cao của 5 giống cúc trên

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về cây hoa cúc

1.1.1 Nguồn gốc cây hoa cúc

Cây hoa cúc có tên khoa học là Chrysanthemum sp được định nghĩa từ

Chrysos (vàng) và Anthemon (hoa) bởi Linneaus năm 1753, có nguồn gốc từ

Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước Châu Âu Chen (1985) đã chứng minh

được rằng cúc được trồng ở Trung Quốc từ 500 năm trước công nguyên [11]

1.1.2 Vị trí phân loại

Trong hệ thống phân loại thực vật, Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978)

đã xếp hoa cúc vào lớp Hai lá mầm (Dicotyledonae), phân lớp Cúc (Asterydae), bộ Cúc (Asterales), họ Cúc (Asteraceae), phân họ giống hoa Cúc (Asteroidae), chi (Chrysanthemum) [1].

Bộ Cúc có một họ duy nhất là họ Cúc (Asteraceae hay compositae) được xem là họ lớn nhất của ngành hạt kín và giới thực vật Bao gồm 1000 chi, hơn

20000 loài, có những chi có tới 1000 loài Họ Cúc phân bố trên khắp nơi trên trái đất, sống được trong nhiều điều kiện khí hậu, môi trường đất đai khác nhau Dạng sống chủ yếu là thân thảo, cây bụi, hiếm khi thân gỗ, nhưng thân

Trang 13

đến chất chất lượng cành mang hoa

Theo Nguyễn Xuân Linh (2000) cũng khẳng định rễ hoa cúc thuộc loại

rễ chùm, chỉ khi cây thực sinh còn nhỏ mới có rễ chính rõ ràng Đầu chóp rễ cúc có sức phân nhánh mạnh, trong điều kiện đất thích hợp thì rất nhanh hình thành bộ rễ có nhiều nhánh, điều đó có lợi cho sự hút nước và dinh dưỡng Rễ của cây nhân từ phương pháp vô tính đều phát sinh từ thân và đều là rễ bất định Thân cúc bất kể ở đốt hay giữa lóng đều dễ hình thành rễ bất định, vì vậy cây hoa cúc là một loài cây dễ nhân giống từ thể sinh dưỡng [5]

Thân: Cây hoa cúc thuộc loại thân thảo có nhiều đốt giòn, dễ gẫy, khả năng phân cành mạnh Thường những giống cúc đơn có thân mập thẳng còn giống cúc chùm thân nhỏ và cong Theo Vanruiten, De Jong (1984) [32], chiều cao cây, mức độ phân cành, độ mềm hoặc cứng của cành phụ thuộc vào đặc tính di truyền của giống, giống cúc thấp nhất chỉ cao 20 – 30 cm, còn giống cúc cao nhất có thể cao trên 3 m Theo Vanderkamp (2000) [33] cũng cho rằng thân đứng hay bò, cao hoặc thấp, đốt dài hay ngắn, sự phân cành mạnh hoặc yếu còn phụ thuộc vào từng giống Các giống thân dài, thường phân cành ít, thích hợp trồng trên nền đất có giàn cao Giống thân cao, cành cứng thích hợp với việc trồng hoa cắt cành Giống cành nhiều, cảnh nhỏ và mềm thích hợp với việc tạo hình

Lá: Theo Cockshull và Hughes (1972), lá cây hoa cúc mọc cách và thành vòng xoắn trên thân Lá phẳng hoặc hơi nghiêng về phía trên hoặc hơi bị gấp Trên một cành thì lá gần gốc nhỏ, càng lên phía trên lá càng to dần Kích thước lá thường thay đổi theo điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt Cây sinh trưởng kém thì lá nhỏ, mỏng, cứng, hơi chếch về phía trên, màu xanh nhạt không bóng hoặc hơi vàng Đủ dinh dưỡng, cây sinh trưởng khoẻ, lá to

và mềm, phiến lá dày, chóp lá hơi cong xuống, lá xanh thẫm và bóng Biểu hiện màu sắc và trạng thái lá thường là những chỉ tiêu để đánh giá trạng thái

Trang 14

sinh trưởng của cây Lá cúc thường sống 70 - 90 ngày, hiệu suất quang hợp của lá mạnh nhất là ở lá thứ 4 tính từ đỉnh ngọn trở xuống [15] Cũng theo Cockshull (1985) đã mô tả, lá cúc thường xẻ thuỳ, có răng cưa, lá đơn mọc so

le nhau, mặt dưới lá được phủ bởi một lớp lông tơ, mặt trên nhẵn, gân lá hình mạng lưới Mỗi nách lá có khả năng phát triển thành một nhánh Phiến lá to hay nhỏ, dày hay mỏng, xanh đậm hoặc nhạt còn tuỳ thuộc vào đặc tính của các cành nhánh phía dưới để tập trung cho hoa ở phía trên sinh trưởng, phát triển tốt, tạo tán đẹp [14]

Hoa: Theo Cornish, Stevenson (1990) [16] và Okada (1994) [26] đã miêu tả cúc là hoa lưỡng tính hoặc đơn tính với nhiều màu sắc khác nhau, đường kính hoa từ 1,5 – 12 cm, có thể là đơn hay kép và thường mọc nhiều hoa trên 1 cành, phát sinh từ các nách lá Hoa cúc chính là gồm nhiều hoa nhỏ hợp lại trên một cuống hoa, hình thành hoa tự đầu trạng mà mỗi cánh thực chất là một bông hoa Những cánh hoa nằm phía ngoài thường có màu sắc đậm hơn và xếp thành nhiều tầng, việc xếp chặt hay lỏng còn tuỳ thuộc vào giống Cánh có nhiều hình dạng khác nhau, cong hoặc thẳng, có loại cánh ngắn đều có loại dài, xoè ra ngoài hay cuốn vào trong

Theo Zagorski, Asches, Winder (1983) [34] hoa cúc có 4 - 5 nhị đực dính vào nhau bao xung quanh vòi nhuỵ Vòi nhuỵ mảnh, hình chỉ chẻ đôi Khi phấn chín, bao phấn nở tung phấn ra, nhưng lúc này nhuỵ còn non chưa

có khả năng tiếp nhận hạt phấn Bởi vậy hoa cúc tuy lưỡng tính mà thường biệt giao, nghĩa là không thể thụ phấn trên cùng hoa, nếu muốn lấy hạt giống phải thụ phấn nhân tạo Nên trong sản xuất việc cung cấp cây con chủ yếu thực hiện bằng phương pháp nhân giống vô tính

Quả và hạt: Theo Anderson (1998) [11] đã mô tả quả là quả bế khô, hình trụ hơi dẹt chỉ chứa một hạt Hạt có phôi thẳng và không có nội nhũ Ishiwara (1984) [21]: Quả cúc là quả bế, khi chín các lớp vỏ quả khô không

Trang 15

nứt Trong quả có một hoặc nhiều hạt, có thể dùng những quả này để nhân giống hữu tính cho cúc Quả cúc rất nhỏ, dài chừng 2 - 3 mm, rộng 0,7 - 1,5

mm, trọng lượng 1000 hạt khoảng 1 g, có nhiều hình dạng khác nhau như hình kim, hình gậy, hình trứng, hình tròn dài… thẳng hoặc hơi cong, hai đầu cùng bằng hoặc một đầu nhọn, có lớp vỏ hạt rất mỏng màu đen, phôi thẳng, không có nội nhũ, chất dinh dưỡng được tích trữ ở lá mầm

1.2 Tình hình sản xuất cây hoa cúc ở trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình sản xuất hoa cúc trên thế giới

Cúc là cây hoa có giá trị kinh tế quan trọng trong ngành công nghiệp hoa cắt cành (sau cây hoa hồng) [30] Hiện nay, ngành sản xuất hoa cúc trên thế giới đang phát triển mạnh và mang tính thương mại cao Sản xuất hoa đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho nền kinh tế các nước trồng hoa trên thế giới, nhất là đối với các nước đang phát triển Hoa cúc được trồng nhiều nhất

ở Nhật Bản, Pháp, Mỹ, Trung

Ở Nhật Bản, cúc được coi là quốc hoa, thậm chí ở các nhà hàng, người ta

có thể trang trí một bữa ăn với toàn hoa cúc Tiếp sau Nhật Bản, những nước trồng nhiều hoa cúc là: Hà Lan, Colombia và Trung Quốc

Hà Lan là một trong những nước lớn nhất thế giới về xuất khẩu hoa nói chung và hoa cúc nói riêng Diện tích trồng cúc ở Hà Lan chiếm 30% tổng diện tích trồng hoa tươi Năng suất hoa tươi từ năm 1990 - 1995 tăng trung bình từ 10-15%/1 ha Hàng năm, Hà Lan đã sản xuất hàng trăm triệu cành hoa cắt và hoa chậu phục vụ cho thị trường tiêu thụ rộng lớn gồm trên 80 nước trên thế giới Năm 1998, Hà Lan sản xuất 866 triệu cành và năm 1999, sản xuất 1046 triệu cành cúc cắt

Một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần tạo ra sự thành công

của Hà Lan là sử dụng phương pháp nhân giống in vitro để sản xuất cây con

Sau Hà Lan là Colombia - năm 1990 thu được 150 triệu USD từ việc xuất khẩu

Trang 16

hoa cúc, đến năm 1992 đã lên đến 200 triệu USD (Murray và Robyn, 1997) Nhật Bản có nhu cầu sử dụng hoa cúc rất lớn Diện tích trồng hoa cúc chiếm 2/3 tổng diện tích trồng hoa Năm 1991, diện tích trồng hoa cúc ở Nhật Bản và 614 ha ngoài trời và 1150 ha nhà kính (FAO, 1998, Mae, S O, 1993) Tuy vậy, hàng năm, Nhật Bản vẫn phải nhập một lượng lớn hoa cúc từ Hà Lan và một số nước khác trên thế giới Năm 1996, Nhật Bản đã chọn Việt Nam là một trong những nước sẽ xuất khẩu hoa cúc cho Nhật Bản

Một số nước khác như Thái Lan, cúc đã được trồng quanh năm với số lượng cành cắt hàng năm là 50.841.500 Trung Quốc cũng là nơi có nguồn hoa cúc phong phú, việc xuất khẩu hoa cúc được chú trọng ở màu sắc hoa và hình dạng hoa Đây cũng là nước có kĩ thuật tiên tiến trong việc sản xuất hoa cúc khô [9]

1.2.2 Tình hình sản xuất hoa cúc ở Việt Nam

Hoa cúc được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 15, đến đầu thế kỷ 19 đã hình thành một số vùng nhỏ chuyên cung cấp cho nhân dân Một phần để chơi, một phần phục vụ việc cúng lễ và một phần dùng làm dược liệu Nếu xét

về cơ cấu chủng loại tất cả các loại hoa thì trước những năm 1997 diện tích hoa hồng nhiều nhất, chiếm 31% nhưng từ năm 1998 trở lại đây diện tích hoa cúc đã vượt lên chiếm 42%, trong đó, hoa hồng chỉ còn 29,4% Riêng ở Hà Nội, tổng sản lượng hoa cúc năm 1999 đạt 41,3 tỷ đồng, xuất khẩu sang Trung Quốc 3,6 tỷ đồng, tốc độ tăng hàng năm khoảng 10% (Nguyễn Xuân Linh và cộng sự, 2002) [5] Hiện nay, hoa cúc được trồng khắp nước ta, nó có mặt ở mọi nơi từ núi cao đến đồng bằng, từ nông thôn đến thành thị nhưng chủ yếu tập trung ở các vùng hoa truyền thống của thành phố, khu công nghiệp, khu du lịch, nghỉ mát như Ngọc Hà, Quảng An, Nhật Tân (Hà Nội), Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng), Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh), Triệu Sơn, thành phố Thanh Hoá (Thanh Hoá), Gò Vấp (thành phố Hồ Chí Minh), thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng) với tổng diện tích trồng hoa khoảng 2000 ha

Trang 17

Riêng Hà Nội và Đà Lạt là những nơi lý tưởng cho việc sinh trưởng và phát triển của hầu hết các giống cúc được nhập từ nước ngoài (Đặng Văn Đông, 2000) [9]

1.3 Tình hình nghiên cứu nuôi cấy in vitro về cây hoa cúc trên thế giới và

ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình nghiên cứu nuôi cấy in vitro về cây hoa cúc trên thế giới

Năm 1952, lần đầu tiên tại Pháp, Morell và Martin đã tạo được những hoa cúc sạch bệnh nhờ nuôi cấy mô phân sinh đỉnh, cũng theo phương pháp này, Mori (1971), Asatani (1972) và Paludan (1974) đã thu được những giống sạch virut B, Veinmottle, Stunt và Comlex virues (Horst, 1990) [20]

Ngoài chồi đỉnh, nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng các bộ phận khác của cây hoa cúc để nuôi cấy như đoạn thân, mẫu lá Kaul, Miller, Hutchison, Richards (1990) cho thấy các đoạn thân có khả năng tái sinh chồi cao hơn các mẫu lá

Năm 1990, Kenneth và Toress [23] đã nuôi cấy thành công từ giai đoạn thân và lá của giống hoa cúc tím trên môi trường MS Tỉ lệ hình thành chồi đạt 100% và trung bình các cây nuôi cấy mô này sau 3 - 4 tháng là ra hoa

Việc sử dụng đỉnh sinh trưởng để nuôi cấy in vitro cũng được thực hiện

thành công bởi Sussex (1989) [29], kết quả thí nghiệm cho thấy phương pháp tối ưu, để mẫu có tỷ lệ sống sót và tỷ lệ tái sinh chồi cao nhất là bảo quản chồi đỉnh cúc trước nuôi cấy 2 ngày trong điều kiện lạnh dần từ 0,2oC đến 4oC với 10% Dimethyl sulfoxide và 3% Glucose, có nhiều giống đã đạt các tỉ lệ này tới 100% ha

Năm 1990, khi nghiên cứu về ảnh hưởng của thành phần môi trường dinh dưỡng, Lunegent và Wardley [24] đã kết luận khi đoạn thân cúc cao 1 - 2

cm và cho phát triển trong môi trường nuôi cấy Benziladenin thì chúng hình hành 2 - 3 chồi so với mẫu bản và không có rễ bất định, còn trong môi trường

Trang 18

Để hoàn thiện quy trình nuôi cấy mô hoa cúc, việc nghiên cứu giai đoạn

cuối cùng là đưa cây in vitro ra ngoài đất cũng rất quan trọng Năm 1990,

Robert và Smith [28] đã nghiên cứu bảo vệ rễ bằng chất đệm Cellulose sorbarods trong môi trường nuôi cấy dạng lỏng đã làm giảm bớt thiệt hại trong quá trình đưa cây ra ngoài và cho vào 1 lít môi trường ra rễ dạng lỏng 0,5 - 4 mg Paclobutrazol thì sẽ giảm được độ héo của cây khi ra ngoài sản xuất làm thân ngắn hơn, rễ to nhiều và tăng diệp lục trên 1 đơn vị diện tích lá

1.3.2 Tình hình nghiên cứu in vitro về cây hoa cúc ở Việt Nam

Theo Nguyễn Quang Thạch, thì khả năng tái sinh và nhân giống của cây cúc là rất cao, từ 410 đến 610 lần trong một năm Nguồn cấy mô ban đầu là các đỉnh sinh trưởng, các mầm bất định ở nách lá, mô lá , ngoài ra việc nuôi cấy

mô cũng có thể dùng đoạn thân, lá, đài, cánh hoa, nhị,… làm mẫu cấy Việc khử trùng mẫu cấy cây hoa cúc thường dùng HgCl2 0,1% với thời gian khử trùng từ 5 - 10 phút hoặc sử dụng Ca(OCl)2 5 - 7% trong khoảng 15 - 20 phút, hoặc sử dụng H2O2 10% trong 5 - 15 phút Môi trường dinh dưỡng chính trong nuôi cấy mô cây hoa cúc là MS, tuỳ vào mô nuôi cấy và giai đoạn của quá trình nuôi cấy mà có thể bổ sung hàm lượng chất kích thích sinh trưởng khác nhau như IAA, IBA, NAA, hoặc BAP, Kinetin

Nguyễn Bá Nam và cs (2012) [7] đã nghiên cứu ảnh hưởng của các loại mẫu cấy và điều kiện chiếu sáng đến khả năng tái sinh chồi cây hoa cúc, trong nghiên cứu này, các nguồn chiếu sáng khác nhau được sử dụng để nghiên cứu tác động của chúng đến khả năng tái sinh chồi từ các mẫu cấy lá và lớp mỏng

tế bào thân cắt dọc của cây Cúc (Chrysanthemum morifolium Ramat cv

“Jimba”) in vitro Hai nguồn mẫu này được cấy trên môi trường MS có bổ

sung 30 g/l saccarozơ, 8 g/l agar, 0,5 mg/l NAA và 2 mg/l BA và nuôi cấy dưới các điều kiện chiếu sáng khác nhau: 100 % LED đỏ, 100 % LED xanh,

50 % LED đỏ + 50 % LED xanh, 70 % LED đỏ + 30 % LED xanh, 80 %

Trang 19

LED đỏ + 20 % LED xanh, 90 % LED đỏ + 10 % LED xanh, ánh sáng đèn huỳnh quang (Neon) và trong tối Kết quả thu được sau bốn tuần nuôi cấy cho thấy, 70% ánh sáng LED đỏ kết hợp với 30 % ánh sáng LED xanh là tỉ lệ phù hợp cho sự tái sinh chồi trực tiếp từ mẫu lá và gián tiếp từ lớp mỏng tế bào thân cây cúc so với các điều kiện chiếu sáng còn lại Những chồi thu được dưới điều kiện chiếu sáng này là nguồn mẫu thích hợp phục vụ cho quy trình nhân giống cây cúc

Nguyễn Thị Nhật Linh và cs (2012) [4] đã nghiên cứu ảnh hưởng của than hoạt tính (AC) đến khả năng định hướng rễ ở cây hoa cúc và cây Hồng môn Trong nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành cấy các chồi vào môi trường được phân thành 2 phần, một phần không có AC và phần còn lại bổ sung các nồng độ AC tối ưu đã khảo sát ở hai đối tượng cây cúc (3 g/l AC) và Hồng môn (2 g/l AC) bằng cách thay đổi vị trí lớp AC trong môi trường nuôi cấy (trên, giữa hoặc dưới) Kết quả cho thấy, hầu hết các rễ phát sinh trong lớp môi trường có AC (trên 80% rễ) Ngoài ra, các kết quả cũng cho thấy sự định hướng rễ của cây Hồng môn phụ thuộc vào vị trí lớp AC nhiều hơn ở cây cúc

Vị trí lớp môi trường có AC ở dưới là tối ưu cho sự phát triển của cây và rễ in

vitro của cả cây cúc và cây Hồng môn Mặt khác, những cây sinh trưởng và

phát triển tốt trong điều kiện in vitro cũng sinh trưởng và phát triển tốt ở điều kiện ex vitro; điều này có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu nhân giống vô tính

cây trồng

1.4 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước mẫu và phương

thức cấy mẫu đến sinh trưởng của cây in vitro

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng của kích thước mẫu và phương thức cấy mẫu đến quá trình nhân nhanh trong nuôi cấy mô, tế bào thực vật Tuy nhiên những nghiên cứu về phương diện này trên cây hoa cúc là rất ít, các nghiên cứu chủ yếu mới chỉ dừng lại ở mức xây dựng

Trang 20

quy trình nhân giống in vitro các giống hoa cúc

Năm 2007, khi nghiên cứu về ảnh hưởng của thành phần môi trường dinh dưỡng và kích thước mẫu cấy (cánh hoa cúc) đến sự phát sinh mô sẹo và

sự phát sinh chồi ở cây hoa cúc, Nahid và cs [22] đã kết luận rằng, trong các kích thước mẫu và môi trường nuôi cấy mà tác giả đề cập thì ở kích thước mẫu là 7 mm nuôi cấy trên môi trường MS bổ sung 2 mg/l BAP + 0,1 mg/l NAA thì tỉ lệ phát sinh mô sẹo là cao nhất (96,00%), và ở kích thước mẫu 7

mm nuôi cấy trên các môi trường MS bổ sung 2 mg/l BAP + 0,1 mg/l KI; 1 mg/l KI + 0,1 mg/l NAA thì tỉ lệ phát sinh chồi là cao nhất (83,33%)

Năm 2013, Mazri đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của 3 nhóm kích thước mẫu: < 3 cm; 3 – 4 cm và 4,5 – 6 cm lên sự tạo chồi của cây Chà là

(Phoenix dactylifera L.) trên môi trường MS bổ sung 1 g/l Polyvinyl -

pyrrolidone + 0,5 mg/l NAA + 0,5 mg/l Ki và nhận thấy rằng, sau 3 tháng nuôi cấy, ở nhóm chiều cao 4,5 – 6 cm cho chồi mới có chiều cao trung bình cao nhất (14,2 cm) [25] Cùng năm ấy, Boullani cũng tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của 4 nhóm kích thước mẫu: 1 cm; 1 - 1,5 cm; 1,5 – 2 cm và > 2

cm đến sự tạo chồi của cây Atisô Tác giả đã tiến hành khử trùng hạt và nuôi cấy trên môi trường MS bổ sung 1 mg/l IBA + 0,1 mg/l GA3 sau đó cắt lấy chồi và nuôi cấy trên môi trường MS bổ sung 1 mg/l Ki + 0,1 mg/l NAA Kết quả cho thấy, tỉ lệ tạo chồi cao nhất đạt được ở kích thước mẫu 1 – 1,5 cm với

17 chồi/mẫu [27]

Vào năm 2001, Elizabete và cs khi nghiên cứu về cây Phyllanthus

stipulatus (1 cây thuộc họ Diệp hạ châu) đã đưa ra kết luận: đối với phương thức cấy thẳng đứng, tạo mô sẹo tốt nhất ở môi trường MS bổ sung 0,5 µM NAA (điều kiện có ánh sáng) hoặc đối với phương thức cấy nằm ngang là môi trường MS có bổ sung 0,5µM NAA hoặc 1,25 – 5µM BA (điều kiện trong

Ngày đăng: 29/03/2017, 12:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1].Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến, 1978. Phân loại thực vật (Thực vật bậc cao), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại thực vật (Thực vật bậc cao)
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
[2]. Nguyễn Văn Đính, La Việt Hồng, 2015. Sinh trưởng và phát triển của thực vật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh trưởng và phát triển của thực vật
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
[3]. La Việt Hồng, Phạm Thị Tươi, Dương Thị Minh, Trần Thị Thắm, Nguyễn Văn Bằng, Mai Thị Hồng, Phạm Thị Thu Hằng,2014. Xây dựng quy trình nhân giống hoa cúc CN01 (Chrysanthemum maximum Seium – 3) bằng kĩ thuật nuôi cấy in vitro, Tạp chí khoa học (29): 28 – 37, Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng quy trình nhân giống hoa cúc CN01 (Chrysanthemum maximum Seium – 3) bằng kĩ thuật nuôi cấy in vitro
Tác giả: La Việt Hồng, Phạm Thị Tươi, Dương Thị Minh, Trần Thị Thắm, Nguyễn Văn Bằng, Mai Thị Hồng, Phạm Thị Thu Hằng
Nhà XB: Tạp chí khoa học
Năm: 2014
[4]. Nguyễn Thị Nhật Linh, Nguyễn Bá Nam, Nguyễn Thị Kim Yến, Lê Kim Cương, Nguyễn Phúc Huy, Dương Tấn Nhựt, 2012. Ảnh hưởng của than hoạt tính lên khả năng định hướng rễ ở cây Hồng môn và cây Cúc nuôi cấy in vitro, Tạp chí Sinh học, 34(3): 377-388 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của than hoạt tính lên khả năng định hướng rễ ở cây Hồng môn và cây Cúc nuôi cấy in vitro
Tác giả: Nguyễn Thị Nhật Linh, Nguyễn Bá Nam, Nguyễn Thị Kim Yến, Lê Kim Cương, Nguyễn Phúc Huy, Dương Tấn Nhựt
Nhà XB: Tạp chí Sinh học
Năm: 2012
[5]. Nguyễn Xuân Linh chủ biên, 1998. Hoa và kỹ thuật trồng hoa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa và kỹ thuật trồng hoa
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
[6]. Nguyễn Văn Mã, La Việt Hồng, Ong Xuân Phong, 2013. Phương pháp nghiên cứu sinh lý học thực vật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu sinh lý học thực vật
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
[7]. Nguyễn Bá Nam, Nguyễn Đình Lâm, Dương Tấn Nhựt, 2012. Ảnh hưởng của loại mẫu cấy và hệ thống chiếu sáng đơn sắc lên khả năng tái sinh chồi cây hoa cúc (Chrysanthemum morifolium Ramat. cv. “Jimba”) nuôi cấy in vitro, Tạp chí Khoa học và Công nghệ 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của loại mẫu cấy và hệ thống chiếu sáng đơn sắc lên khả năng tái sinh chồi cây hoa cúc (Chrysanthemum morifolium Ramat. cv. “Jimba”) nuôi cấy in vitro
[8]. Hoàng Thị Sản, Phan Nguyên Hồng, 1986. Thực vật học phân loại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật học phân loại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[9]. Đào Thanh Vân, Đặng Thị Tố Nga, 2007. Giáo trình cây hoa, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây hoa
Tác giả: Đào Thanh Vân, Đặng Thị Tố Nga
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
[10]. Vũ Văn Vụ, 2009. Sinh lý thực vật, Nxb Giáo dục. 2. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý thực vật
Tác giả: Vũ Văn Vụ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
[11]. Anderson, NO, 1998. Evaluating Selp - incompatibility in Chrysanthemum - The influence of ovule number: 173- 181 Sách, tạp chí
Tiêu đề: - The influence of ovule number
[12]. Ana M. Vieitez, M. Concepclón Sasnchez, Juan B. Amo-Marco, Antonio Ballester, 1994. Foreed flusing of branch segments as a method of obtaining reactive explants of mature Quercus robus trees for micropropagation, Plant Cell, Tissue and Organ Culture. Vollume 37.Issue 3. pp 287-295 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plant Cell, Tissue and Organ Culture
[13]. Chen. J, 1985. Studies on the origin of Chinese florist Chrysanthemum, Acta- Horticulture: 349-361 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta- Horticulture
[14]. Cockshull, K.E, 1985. Chrysanthemum morifolium, Volume II CRC Press, Boca Ration: 238 – 257 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Volume II CRC Press, Boca Ration
[15]. Cockshull, KE. And Hughes, A.P.,1972. Flower formation in Chrysanthemum morifolium, The influence of level. J. Horticulture.Science: 113 – 127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flower formation in Chrysanthemum morifolium, The influence of level
Tác giả: Cockshull, KE, Hughes, A.P
Nhà XB: J. Horticulture Science
Năm: 1972
[16]. Cornish. E and T. Stevenson, 1990. Designer flower: a Blossoming industry, To days life, Sci.2: 46 – 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Designer flower: a Blossoming industry
Tác giả: E Cornish, T Stevenson
Nhà XB: To days life
Năm: 1990
[17]. Cornu, D &amp; Michel, M.F, 1987. Bacteria contaminant in shoot cultures of prunus avium L. choice and phytotoxicity of antibiotics, Acta Horticulturae 212: 83 – 86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta Horticulturae 212
[18]. Elizabete catapan, Michel eleith otuki, Anamaria viana, 2001. In vitro culture of Phyllanthus stipulatus (Euphorbiaceace), Rev. Bot. Vol 24 no.1 São Paulo Sách, tạp chí
Tiêu đề: In vitro" culture of Phyllanthus stipulatus (Euphorbiaceace), "Rev. Bot. Vol 24
[19]. Enjalric, F., Carron, M.P. &amp; Lardet, 1998. Contamination of primarycultures in tropical areas: The case of Hevea brasiliensis, Acta Horticulturae 225: 57 – 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta Horticulturae
[20]. Horst, R.K, 1990. Handbook of plant cell culture, Vol.5, New York: 215- 217 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vol.5, New York

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Hiệu quả khử trùng bề mặt của dung dịch Javen đối với đỉnh - Ảnh hưởng của kích thước và phương thức cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc
Bảng 3.1 Hiệu quả khử trùng bề mặt của dung dịch Javen đối với đỉnh (Trang 26)
Hình 3.1. Các mẫu cúc sạch sau 4 tuần vào mẫu gồm: 1 - cúc đỏ cờ, 2 -  cúc chi đỏ, 3 - cúc kim cương, 4 - cúc thạch bích, 5 – cúc vàng hè - Ảnh hưởng của kích thước và phương thức cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc
Hình 3.1. Các mẫu cúc sạch sau 4 tuần vào mẫu gồm: 1 - cúc đỏ cờ, 2 - cúc chi đỏ, 3 - cúc kim cương, 4 - cúc thạch bích, 5 – cúc vàng hè (Trang 27)
Hình 3.2. Sự sinh trưởng của giống cúc vàng hè sau 6 tuần - Ảnh hưởng của kích thước và phương thức cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc
Hình 3.2. Sự sinh trưởng của giống cúc vàng hè sau 6 tuần (Trang 29)
Hình 3.3. Sự sinh trưởng của giống cúc chi đỏ sau 6 tuần - Ảnh hưởng của kích thước và phương thức cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc
Hình 3.3. Sự sinh trưởng của giống cúc chi đỏ sau 6 tuần (Trang 30)
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của BAP đến chiều cao chồi ở một số giống cúc - Ảnh hưởng của kích thước và phương thức cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của BAP đến chiều cao chồi ở một số giống cúc (Trang 30)
Hình 3.5. Sự sinh trưởng của giống cúc kim cương sau 6 tuần - Ảnh hưởng của kích thước và phương thức cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc
Hình 3.5. Sự sinh trưởng của giống cúc kim cương sau 6 tuần (Trang 31)
Hình 3.4. Sự sinh trưởng của giống cúc đỏ cờ sau 6 tuần - Ảnh hưởng của kích thước và phương thức cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc
Hình 3.4. Sự sinh trưởng của giống cúc đỏ cờ sau 6 tuần (Trang 31)
Hình 3.6. Sự sinh trưởng của giống cúc thạch bích sau 6 tuần - Ảnh hưởng của kích thước và phương thức cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc
Hình 3.6. Sự sinh trưởng của giống cúc thạch bích sau 6 tuần (Trang 32)
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của BAP đến số lá/chồi ở một số giống cúc - Ảnh hưởng của kích thước và phương thức cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của BAP đến số lá/chồi ở một số giống cúc (Trang 32)
Hình 3.7. Sự sinh trưởng của chồi cúc chi đỏ ở 3 nhóm kích thước mẫu - Ảnh hưởng của kích thước và phương thức cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc
Hình 3.7. Sự sinh trưởng của chồi cúc chi đỏ ở 3 nhóm kích thước mẫu (Trang 34)
Hình 3.8. Ảnh hưởng của phương thức cấy đến sự phát triển chồi - Ảnh hưởng của kích thước và phương thức cấy mẫu đến khả năng tái sinh chồi in vitro một số giống hoa cúc
Hình 3.8. Ảnh hưởng của phương thức cấy đến sự phát triển chồi (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w