1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp đổi mới công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn trường THCS Nga Thủy

21 607 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 220 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, Ngữ văn là một môn học tương đối khó, có tính trừu tượng. Đòi hỏi sự cảm nhận và sáng tạo cao. Con đường đến với Ngữ văn không chỉ bằng trí tuệ mà bằng cả tâm hồn. Vì vậy, ít học sinh yêu tích môn Ngữ văn.

Trang 1

1 Mở đầu

- Lý do chọn đề tài:

Giáo dục là nhân tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Giáo dục

là chìa khoá tiến tới một xã hội tốt đẹp Giáo dục phát triển tiềm năng cơ bản củamỗi con người, là điều kiện tiên quyết để thực hiện nhân quyền, dân chủ, hợp táctrí tuệ, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn

chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục, thực sự xem giáo dục là “Quốc sách hàng

đầu” Đặc biệt báo cáo chính trị tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳngđịnh: "Phát triển GD & ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sựnghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - Yếu tố cơ

bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững." Trong suốt

quá trình lịch sử cách mạng, nền giáo dục nước nhà đã đạt được nhiều thành tựu

to lớn, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN,bước đầu đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Tuy nhiên, trong những năm qua do ảnh hưởng của sự biến đổi kinh tế-xãhội, giáo dục vẫn còn nhiều hạn chế Nghị quyết hội nghị lần thứ IX Ban chấphành Trung ương Đảng khoá XI chỉ rõ: “Chất lượng GD - ĐT nhìn chung cònthấp, chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao về nguồn nhân lực trong giaiđoạn đẩy mạnh CNH- HĐH và chủ động hội nhập kinh tế Quốc tế Công tácquản lý Nhà nước về GD & ĐT còn nhiều yếu kém Những bất hợp lý trong cơcấu giáo dục chậm khắc phục, sự phân luồng đào tạo chưa được thúc đẩy mạnh

mẽ, nội dung chương trình vẫn còn bất hợp lý, phương pháp dạy và học đổi mới

chậm.”

Sự cạnh tranh phát triển kinh tế - xã hội giữa các quốc gia trên thế giới, suycho cùng là sự cạnh tranh chất lượng nguồn nhân lực - Sản phẩm của một nềngiáo dục Muốn đẩy nhanh công cuộc CNH- HĐH đất nước mà Đảng ta khởixướng trước hết cần tập trung làm chuyển biến mạnh mẽ chất lượng và hiệu quảcủa nền giáo dục theo định hướng: "Đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhànước trong giáo dục và đào tạo; đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình vàphương pháp giáo dục theo hướng hiện đại hoá, phù hợp với thực tiễn Việt Namcùng với đổi mới cơ chế quản lý giáo dục…”

Dạy – Học là hoạt động đặc trưng của hoạt động giáo dục trong nhà trường.Nâng cao hiệu quả giáo dục tức là nâng cao hiệu quả hoạt động dạy - học Nângcao hiệu quả quản lý giáo dục đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu quả quản lýhoạt động dạy - học Quản lý hoạt động dạy - học có hiệu quả là tiền đề và có vaitrò quyết định mức độ hiệu quả hoạt động dạy - học Từ trước tới nay, đã cónhiều tác giả nghiên cứu, nhằm đề xuất những giải pháp, nâng cao hiệu quả quản

lý hoạt động dạy - học, ở mức độ chung cho các môn học Đối với cấp họcTHCS, các môn học có sự độc lập tương đối về mục tiêu, nội dung và phươngpháp, đòi hỏi phải có sự quản lý hoạt động dạy - học các môn riêng biệt Khichúng ta nói nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy - học tức là nâng cao hiệuquả quản lý hoạt động dạy - học các môn

Với thực tiễn nhiều năm giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THCS, kinhnghiệm quản lý trường học, và hiện nay đang trực tiếp phụ trách chuyên môn tạitrường THCS Nga Thủy, tôi thấy rằng: Thực trạng đội ngũ giáo viên giảng dạy

Trang 2

môn Ngữ văn ở các trường THCS trên toàn huyện Nga Sơn chưa đáp ứng đượcyêu cầu trong tình hình hiện nay Đa phần là giáo viên có trình độ đào tạo gốc làCao đẳng Văn- Sử hoặc Văn - GDCD Vì vậy, vấn đề tìm một số giải phápquản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy - học môn Ngữ văn ở trường THCS làmột đề tài cần được nghiên cứu nhiều hơn nữa Đặc biệt, trong quá trình thựchiện đổi mới giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo mà cả nước đang tiến hành.

Trong những năm gần đây, do xu thế phát triển của xã hội mà các môn Khoahọc xã hội nói chung, môn Ngữ văn nói riêng ít được HS cũng như phụ huynhquan tâm Vì tâm lí sợ khối C,D ít trường khi lựa chọn để thi đại học, khi ratrường lại khó xin việc Nên đa số phụ huynh ngay từ khi con em đang họcTHCS đã hướng cho con học các môn khoa học tự nhiên Vì vậy mà dẫn tới tìnhtrạng các em học lệch môn, không chú trọng đến các môn xã hội trong đó cómôn Ngữ văn

Hơn nữa, Ngữ văn là một môn học tương đối khó, có tính trừu tượng Đòi hỏi

sự cảm nhận và sáng tạo cao Con đường đến với Ngữ văn không chỉ bằng trí tuệ

mà bằng cả tâm hồn Vì vậy, ít học sinh yêu tích môn Ngữ văn

Chính vì những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp đổi mới công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn trường THCS Nga Thủy, huyện Nga Sơn” Hy vọng rằng, với những kinh nghiệm bản

thân đã tích luỹ trong nhiều năm công tác, đề tài sẽ đóng góp một phần vào việcnâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy - học môn Ngữ văn cấp THCS ởtrường THCS Nga Thủy nói riêng, huyện Nga Sơn nói chung Trên cơ sở đó cóthể mở rộng ra cho các môn học khác

- Mục đích nghiên cứu:

Tìm được các giải pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học

môn Ngữ văn ở trường THCS

- Đối tượng nghiên cứu:

Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy - học môn Ngữ văntại trường THCS

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Nghiên cứu tài liệu, các văn bản Nhà nước, Nghị quyết của Đảng về quản lýgiáo dục và quản lý dạy - học ở trường phổ thông;

- Tìm hiểu các công trình nghiên cứu, các bài viết có nội dung liên quan đến

đề tài

+ Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Nghiên cứu kế hoạch hoạt động, hồ sơ chuyên môn của tổ chuyên môn, hồ

sơ dạy học của giáo viên

- Quan sát quá trình dạy - học của GV và HS

- Tổng kết kinh nghiệm: Thông qua sự chỉ đạo của phòng GD và kinh nghiệmquản lý của bản thân ở các trường THCS đặc biệt là THCS Nga Thủy

Trang 3

2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.

2.1.1 Hoạt động dạy - học môn Ngữ văn.

Là hoạt động thống nhất giữa giáo viên dạy môn Ngữ văn và học sinh, trong đó,dưới tác động chủ đạo của GV, HS tự giác tích cực, tự tổ chức, tự điều khiển hoạtđộng học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy - học Ngữ văn đặt ra

Đối với GV cần phải:

- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động học tập với các

hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, vớiđặc điểm và trình độ HS, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương

- Khai thác sâu kiến thức, kỹ năng phải phù hợp với khả năng tiếp thu của HS;tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho HS

- Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho HS được tham gia mộtcách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá, phát hiện, đề xuất và lĩnhhội kiến thức; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng đã có của HS;tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho HS;giúp HS phát triển tối đa năng lực, tiềm năng của bản thân

- Thiết kế và hướng dẫn HS thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát triển tư duy

và rèn luyện kỹ năng; hướng dẫn sử dụng các đồ dùng dạy học; tổ chức có hiệu quảcác giờ thực hành luyện nói, luyện viết; hướng dẫn HS có thói quen vận dụng kiếnthức đã học vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống

- Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lý, cóhiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học, nội dung tính chấtbài học; đặc điểm và trình độ HS; thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụthể của trường, địa phương

- Dạy học chú trọng đến việc động viên, khuyến khích kịp thời sự tiến bộ của

HS trong quá trình học tập

- Chú ý đặc biệt đến việc tổ chức cho học sinh kết hợp học tập cá nhân và họctập theo nhóm

Đối với HS cần phải :

- Có thái độ nghiêm túc, chăm chỉ, hứng thú trong việc học Ngữ văn

- Phát huy tính chủ động, tích cực tự giác trong học tập môn Ngữ văn;

- Tích cực rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tự học, tự nghiên cứu, cảmthụ

- Có tinh thần hợp tác trong học tập, đồng thời có ý thức bảo vệ những suy nghĩ

và việc làm đúng

- Có ý thức rèn luyện các kỹ năng, năng lực hành động vận dụng kiến thức, tăngcường thực hành và gắn nội dung bài học môn Ngữ văn với thực tiễn cuộc sống

2.1.2 Quản lý hoạt động dạy - học môn Ngữ văn

Khái niệm QLDH Ngữ văn nằm chung trong khái niệm QLDH Tuy nhiên, mỗimôn học có đặc thù riêng, cần có quá trình quản lý riêng Khái niệm QLDH môn

Ngữ văn có thể hiểu: Quản lý dạy - học Ngữ văn là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý (hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn…) lên khách thể quản lý (người dạy, người học môn Ngữ văn) bằng hệ thống giải pháp nhằm đạt được mục đích dạy - học Ngữ văn.

Văn chương nghệ thuật là một trong những hoạt động tinh thần hết sức lí thú và

bổ ích trong cuộc sống con người Qua văn chương con người cảm nhận và ý thức

Trang 4

được cái đẹp và sự hài hòa của cuộc sống, tự nâng mình lên với những tư tưởngtình cảm sâu sắc, tinh tế Được bồi dưỡng về ngôn ngữ, văn hóa, phong phú, sốngđộng và giàu sức biểu cảm của dân tộc Người Việt Nam xưa và nay luôn gửi vàovăn chương những khát vọng và tình yêu cuộc sống Chính vì vậy, dạy học mônNgữ văn có một ý nghĩa vô cùng to lớn Bởi vì, qua giờ học Ngữ văn học sinhđược tiếp xúc cảm thụ những vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống, hướng các em tớiđỉnh cao của chân, thiện, mĩ.

Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói "Dạy văn học là chủ yếu dạyhọc sinh diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung thành, sáng

tỏ, chính xác, làm nổi bật điều mình muốn nói" "Dạy học là một quá trình rènluyện toàn diện" (Nghiên cứu Giáo Dục số 28 tháng 11 năm 1973)

Môn Ngữ văn góp phần quan trọng trong việc hình thành cho HS những phẩmchất, năng lực, đáp ứng yêu cầu của nguồn nhân lực mà xã hội đặt ra Vì vậy, để đạthiệu quả cao trong hoạt động dạy - học Ngữ văn THCS, cần có những giải phápquản lý phù hợp với đặc thù môn học

2.1.3 Khái quát chung về môn Ngữ văn ở trường THCS.

2.1.3.1 Vị trí môn Ngữ văn

Môn Ngữ văn trước hết là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đónói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm tư tưởng, tình cảmcho học sinh Môn Ngữ văn cũng là một môn học thuộc nhóm công cụ Vị trí đónói lên mối quan hệ giữa Ngữ văn và các môn khác Học tốt môn Ngữ văn sẽ có tácđộng tích cực đến kết quả học tập các môn khác và các môn khác cũng có thể gópphần giúp học tốt môn Ngữ văn Vị trí đó, tự nó cũng toát lên yêu cầu tăng cườngtính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sứcphong phú, sinh động của cuộc sống

Môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo củatrường THCS Chương trình Ngữ văn THCS có nhiệm vụ cung cấp cho HS một hệthống kiến thức Ngữ văn cơ bản, ở trình độ phổ thông cơ sở, bước đầu hình thành ở

HS những kĩ năng cơ bản phổ thông, góp phần hình thành ở họ các năng lực nhậnthức và các phẩm chất nhân cách mà mục tiêu giáo dục THCS đã đề ra

2.1.3.2 Mục tiêu môn Ngữ văn

Chương trình Ngữ văn THCS đã nêu mục tiêu tổng quát của môn Ngữ văn nhưsau: “Môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung củatrường THCS: góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông

cơ sở, chuẩn bị cho họ hoặc ra đời, hoặc tiếp tục học lên ở bậc học cao hơn Đó lànhững con người có ý thức tự tu dưỡng, biết thương yêu, quý trọng gia đình, bạn

bè, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng, tìnhcảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng cămghét cái xấu, cái ác Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tưduy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệthuật, trước hết là trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếngViệt như một công cụ để tư duy và giao tiếp Đó cũng là những người có hammuốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Mục tiêu tổng quát trên đã được cụ thể hóa thành ba phương diện: Kiến thức, kỹnăng, thái độ:

Về kiến thức:

Trước hết, Chương trình yêu cầu làm cho học sinh “Nắm được những đặc điểm

Trang 5

hình thức và ngữ nghĩa của các loại đơn vị tiêu biểu của từng bộ phận cấu thànhTiếng Việt (Đơn vị cấu tạo từ, đơn vị từ vựng, từ loại chính, kiểu câu thường dùng),nắm được những tri thức về ngữ cảnh, về ý định, về mục đích, về hiệu quả giaotiếp, nắm được các quy tắc chi phối việc sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp trong nhàtrường cũng như ngoài xã hội ”.

Thứ hai, Chương trình yêu cầu làm cho học sinh “Nắm được những tri thức về

các kiểu văn bản thường dùng: Văn bản tự sự, văn bản miêu tả, văn bản biểu cảm,văn bản lập luận, văn bản thuyết minh và văn bản điều hành”, đồng thời “ nắmđược những tri thức thuộc cách thức lĩnh hội và tạo lập các kiểu văn bản đó”

Thứ ba, Chương trình trình yêu cầu làm cho học sinh “Nắm được một số khái

niệm và thao tác phân tích tác phẩm văn học, có được những tri thức sơ giản về thipháp, về lịch sử văn học Việt Nam ” song trước hết là “Nắm được một số tác phẩmvăn học ưu tú của Việt Nam và thế giới tiêu biểu cho những thể loại quen thuộc” Chương trình tiếp tục khẳng định dạy tác phẩm là chủ yếu, nói cụ thể hơn, đó lànhững tác phẩm “tiêu biểu cho những thể loại quen thuộc” Bởi vậy, nếu có rèn

“thao tác phân tích tác phẩm văn học”, có dạy “những tri thức sơ giản về thi pháp,

về lịch sử văn học” thì hướng ưu tiên vẫn là gắn với các thể loại

Về kĩ năng:

Chương trình Ngữ văn THCS nhấn mạnh: “Trọng tâm của việc rèn luyện kỹnăng Ngữ văn cho HS là làm cho HS có kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt kháthành thạo theo các kiểu văn bản và có kỹ năng sơ giản về phân tích tác phẩm vănhọc, bước đầu có năng lực cảm nhận và bình giá văn học”

Trước đây chúng ta cũng đã từng đặt yêu cầu như thế song trong thực tế, chúng

ta quá thiên về luyện đọc và viết, chưa chú ý đúng mức yêu cầu luyện văn chương ,nghe diễn văn nghệ, nghe trong đời thường Không phải ai cũng có thái độ ngheđúng và biết tích lũy những điều nghe được trong cuộc đời Ở một số nước, người

ta còn ghi hẳn vào chương trình là “rèn kỹ năng nghe được những âm thanh nhỏ”,

…Ngay về yêu cầu đọc và viết, có khi quan niệm cũng còn phiến diện Đọc ở đâybao hàm hiểu và cảm Còn viết không chỉ phải viết đẹp, đúng chính tả mà quantrọng hơn là còn phải biết các thao tác để tạo lập các kiểu văn bản Chúng ta đã rấtchú ý cho học sinh làm văn song có khi đã quá đề cao các “mẫu”; chúng ta chỉ mớitập trung dạy loại văn mang tính chất cử nghiệp chủ yếu phục vụ cho thi cử chứchưa chú ý rèn cho các em tập làm các văn bản “phục vụ cho đời sống gia đình, xãhội” Điều đó, dẫn đến văn bản hành chính - công vụ đã bị xem nhẹ

Về tình cảm, thái độ:

Chương trình Ngữ văn THCS yêu cầu một cách toàn diện: Nâng cao ý thức gìngiữ sự giàu đẹp của tiếng Việt và tinh thần yêu quý các thành tựu của văn học dântộc và văn học thế giới; xây dựng hứng thú và thái độ nghiêm túc, khoa học trongviệc học tập tiếng Việt và văn học; có ý thức và biết cách ứng xử, giao tiếp tronggia đình, trong trường học và ngoài xã hội một cách có văn hóa; yêu quý những giátrị chân, thiện, mỹ và khinh ghét những cái xấu xa, độc ác, giả dối được phản ánhtrong các văn bản đã học, đã đọc

2.1.3.3 Chương trình môn Ngữ văn

Chương trình đã lấy sáu kiểu văn bản làm trục đồng quy: tự sự, miêu tả, biểu cảm,nghị luận, thuyết minh và hành chính- công vụ Nhằm giúp HS thành thạo bốn kĩnăng nghe, nói, đọc, viết; năng lực tiếp nhận và tạo lập sáu kiểu văn bản nói trên.Chương trình dùng hai nguyên tắc hàng ngang và đồng tâm để sắp xếp các nội dung

Trang 6

Nguyên tắc hàng ngang là phối kết hợp các hoạt động bồi dưỡng, rèn luyện kiếnthức và kỹ năng của ba phân môn Văn, Tiếng việt, Tập làm văn

Theo nguyên tắc đồng tâm, chương trình chia việc giảng dạy môn Ngữ văn thànhhai vòng: Vòng I (lớp 6-7) và vòng II (lớp 8-9) Ở mỗi vòng sáu kiểu văn bản đềuđược dạy Đồng tâm không có nghĩa là sự lặp lại giản đơn tạo nên chồng chéo,trùng lặp, mâu thuẫn Đồng tâm là một nguyên tắc sư phạm vừa phản ánh tính tiếpnối và phát triển của hệ thống tri thức vừa phản ánh một số quy luật nhận thức theotrình độ và tâm - sinh lý lứa tuổi

2.1.3.4 Phương pháp dạy - học, đồ dùng dạy – học môn Ngữ văn

Phương pháp dạy - học và hình thức tổ chức dạy - học Ngữ văn

- Tăng cường các hoạt động học tập đa dạng của học sinh trên lớp

- Tăng cường phương pháp tìm tòi nghiên cứu, phát hiện và giải quyết vấn đề

- Chú ý đến việc kết hợp học tập cá nhân với học tập theo nhóm

- Trước mắt, cần đảm bảo những đồ dùng tối thiểu cho giờ học Ngữ văn

- Cố gắng sử dụng những đồ dùng dạy học phổ biến, rẻ tiền

- Để giải quyết những khó khăn trước mắt về đồ dùng dạy học môn Ngữ văn,cần kết hợp giữa những nỗ lực trang bị của nhà nước với những cố gắng sưu tầm và

tự tạo các đồ dùng dạy học môn Ngữ văn bằng những vật liệu và dụng cụ dễ kiếm,

rẻ tiền của giáo viên, HS và khai thác tối đa nguồn đồ dùng dạy học trên Internet.2.1.3.5 Đánh giá kết quả học tập của học sinh

- Cần căn cứ vào mục tiêu cụ thể của từng nội dung trong chương trình để đánhgiá toàn diện kết quả học tập của HS

- Mọi hoạt động học tập của HS cần được đánh giá thường xuyên và có kếhoạch Để đánh giá đầy đủ kết quả học tập của HS phải coi trọng không chỉ kiếnthức mà cả kỹ năng và trong điều kiện cho phép, cả thái độ của các em Cũng vì thếcần đánh giá kết quả học tập của HS trong suốt quá trình học tập thông qua nhữngbiểu hiện như :

+ Những phát biểu bằng lời trong việc kiểm tra miệng và trong tranh luận

+ Các bài kiểm tra viết 15 phút, 45 phút, bài viết 90 phút; kiểm tra đánh giá cuốihọc kỳ, cuối năm học

- Kiểm tra không những trình độ nắm vững kiến thức lí thuyết mà cả trình độ kĩnăng vận dụng vào giải quyết các bài tập Đánh giá cao khả năng của HS vận dụngkiến thức và kĩ năng để giải quyết những vấn đề học tập, những tình huống giaotiếp trong cuộc sống

- Tạo điều kiện để HS tự đánh giá và nhóm đánh giá lẫn nhau về kết quả học tập

- Sử dụng tổng hợp các phương pháp và công cụ kiểm tra đánh giá khách quan:Công khai việc đánh giá, nhận xét của giáo viên đối với HS Để có thể đánh giáđược năng lực giải quyết vấn đề cần phối hợp kiểm tra bằng trắc nghiệm tự luận vàtrắc nghiệm khách quan

Tóm lại: Cơ sở lý luận của việc đổi mới công tác quản lý nhằm nâng cao chất

lượng dạy học môn Ngữ văn THCS được thể hiện bằng mối liên quan biện chứngcủa các mặt: Định hướng chiến lược GD&ĐT trong giai đoạn 2011- 2020 định ra vaitrò của nhà trường THCS là thực hiện tốt các nhiệm vụ: Giáo dục đạo đức, trí tuệ, thể

chất, thẩm mỹ cho HS, nhằm: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân

tài cho đất nước; đổi mới công tác quản lý là cách thức để chủ thể quản lý thực hiện

tốt các khâu chức năng của quá trình quản lý Muốn có hiệu quả hoạt động dạy - học môn Ngữ văn tất yếu phải đổi mới quản lý hoạt động dạy - học môn Ngữ văn

Trang 7

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

2.2.1 Thực trạng sử dụng các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS Nga Thủy.

Chúng tôi thống kê ra hệ thống các giải pháp đã sử dụng để nâng cao chất lượngdạy học môn Ngữ văn ở nhà trường trong nhiều năm như sau:

T

1 Xây dựng kế hoạch dạy – học cho từng học kỳ, cả năm học đầy đủ các nộidung.

2 Chỉ đạo, hoạt động giảng dạy cho giáo viên

3 Chỉ đạo phân công chuyên môn hợp lý

4 Theo dõi thực hiện hoạt động giảng dạy của giáo viên và học tập của HS

5 Tổ chức thi giáo viên giỏi

6 Tổ chức bồi dưỡng giáo viên

7 Tổ chức chỉ đạo học tập của học sinh

8 Đánh giá năng lực: giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh

9 Lập kế hoạch kiểm tra hoạt động dạy – học

10 Kiểm tra giảng dạy của giáo viên

11 Kiểm tra hồ sơ của giáo viên

12 Kiểm tra học tập của học sinh

13 Kiểm tra việc sử dụng đồ dùng dạy học

14 Kiểm tra giảng dạy các tiết thực hành

15 Kiểm tra cơ sở vật chất phục vụ cho dạy - học

16 Tổ chức thi làm đồ dùng dạy - học

2.2.2 Những kết luận về thực trạng hiệu quả quản lý dạy - học môn Ngữ văn.

+ Mặt mạnh chủ yếu:

Đã có một số giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý dạy - học môn Ngữ văn,

Hệ thống giải pháp nhiều, tương đối toàn diện ; Mức độ áp dụng một số giảipháp đã cho kết quả ban đầu

+ Các mặt hạn chế:

Các giải pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn thực hiện chưa đồng bộ,chưa theo một quy trình nhất định với bước đi cụ thể, chưa đáp ứng với yêu cầu đổimới công tác quản lý Hiệu quả các chức năng quản lý dạy học môn Ngữ văn cònkhiêm tốn

Theo dõi kết quả giảng dạy của giáo viên Ngữ văn còn nhiều bất cập, kết quảhọc tập của HS về môn Ngữ văn chưa cao ở các năm học trước Thể hiện trongbảng số liệu hai năm học gần đây như sau:

- Ch t lất lượng đội ngũ: ượng đội ngũ: ng đội ngũ: i ng : ũ:

Năm học Số giáo viên

Ngữ văn Giáo viên giỏi cấp trường Giáo viên giỏi cấp huyệnSố lượng % Số lượng %

Trang 8

- Chất lượng thi vào THPT:

Năm học 2013 - 2014: Trung bình điểm thi: 4,5 xếp thứ 15/ 27 trường

Năm học 2014 - 2015: Trung bình điểm thi: 5,6 xếp thứ 7/ 27 trường

Tóm lại: cùng với sự chuyển biến tích cực trong công tác QLDH ở các trường

THCS, việc nâng cao hiệu quả QLDH môn Ngữ văn còn nhiều hạn chế, có tính phổbiến Từ kết quả nghiên cứu thực trạng QLDH ở các trường THCS của đề tài mộtlần nữa chứng minh nhận định của Đảng “Trong giáo dục đào tạo đã xuất hiện nhân

tố mới” nhưng “Công tác quản lý Nhà nước về giáo dục còn nhiều yếu kém”

2.2.3 Nguyên nhân của thực trạng.

Cùng với sự phát triển KT-XH mạnh mẽ của đất nước trong gần 30 năm đổimới, Giáo dục đã có những chuyển biến tích cực, đạt nhiều thành tựu đáng kể.Tuynhiên, nhìn chung giáo dục vẫn chậm đổi mới và còn bộc lộ nhiều hạn chế Để đápứng được yêu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH đất nước,đòi hỏi giáo dục phải nhanh chóng đổi mới, phải khắc phục những yếu kém, đặcbiệt là trong QLGD mà hạt nhân là QLDH

Nguyên nhân hạn chế việc nâng cao hiệu quả QLDH (tức là hạn chế việc nângcao thực hiện các chức năng QLDH) có cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan:

Nguyên nhân khách quan: Quản lý dạy - học là cốt lõi của quản lý nhà trường,

hiệu quả QL nhà trường lại bị chi phối của điều kiện KT- XH, Cơ chế thị trường

mà Đảng ta khởi xướng những năm qua đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp, thúc đẩy

xã hội phát triển mạnh mẽ Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường lại bộc

lộ nhiều tiêu cực ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả QL trường học

Cơ chế quản lý giáo dục chưa đồng bộ, quyền hạn của hiệu trưởng về mặt sửdụng lao động chưa có hiệu lực cao Điều kiện kinh tế của nhiều địa phương khácnhau, có những xã cực kỳ khó khăn nên đầu tư cho giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu.Nguồn tài chính chi cho hoạt động sự nghiệp, để tạo ra hiệu quả trong quản lýchuyên môn rất thấp (khoảng 3% quỹ lương của đơn vị) Đồ dùng dạy học phục vụcho bộ môn Ngữ văn còn nghèo nàn

Nguyên nhân chủ quan: Đội ngũ CBQL ít được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ

quản lý, một bộ phận làm việc thiếu năng động, thiếu sáng tạo, trong QLDH,

“Năng lực của đội ngũ CBQL giáo dục chưa ngang tầm với yêu cầu phát triển của

sự nghiệp giáo dục”

Đội ngũ giáo viên không cân đối về cơ cấu chuyên môn nên tình trạng dạy chéomôn thường xảy ra ở các trường THCS Vẫn còn một bộ phận giáo viên chậm đổimới, làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu trong công tác giáodục

Nhiều học sinh chưa xác định cho mình tinh thần thái độ học tập đúng, lười học,thiếu trung thực trong kiểm tra, thi cử

Trang 9

Qua nghiên cứu lý luận và những kết luận khi nghiên cứu thực trạng hiệu quảQLDH, cho phép chúng tôi tiến hành một số giải pháp đổi mới quản lý, nâng caochất lượng dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS Nga Thủy.

2.3 Một số giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

2.3.1 Nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng lập kế hoạch trong quản lý hoạt động dạy - học môn Ngữ văn ở trường THCS.

Kế hoạch là cương lĩnh hoạt động của nhà trường là văn bản có tính hiệu lực,mọi thành viên nỗ lực phấn đấu hoàn thành Trong năm học, nhà trường có nhữngloại kế hoạch: Kế hoạch năm học (kế hoạch chung); kế hoạch tổ chuyên môn; kếhoạch cá nhân vv CBQL chịu trách nhiệm lập kế hoạch chung của trường và chỉđạo tổ trưởng chuyên môn, các giáo viên lập kế hoạch chuyên môn tổ, của từngmôn học Đối với môn Ngữ văn CBQL đã chỉ đạo tổ trưởng và giáo viên dạy Ngữvăn, xây dựng kế hoạch theo các yêu cầu sau:

- Phải chỉ ra các tiêu đề đảm bảo cho kế hoạch thực hiện có chất lượng, hiệu quả

- Trong kế hoạch cần xác định những vấn đề ưu tiên giải quyết như đổi mớiphương pháp dạy - học, nâng cao chất lượng học sinh

2.3.1.2 Biện pháp thực hiện

Kế hoạch phải phù hợp với điều kiện khách quan, điều kiện chủ quan, hợp lý

về mặt tổ chức, phù hợp với cá nhân:

- Kế hoạch phù hợp với điều kiện khách quan: Xây dựng kế hoạch phải căn cứ

vào các văn bản chỉ đạo của cấp trên, căn cứ vào mục tiêu của cấp học, căn cứ vàotình hình địa phương Phù hợp với nhà trường, đó là đội ngũ giáo viên, chất lượng

học sinh, điều kiện cơ sở vật chất và phù hợp với nguồn tài chính cho phép

- Điều kiện chủ quan: Đánh giá năng lực của giáo viên dạy Ngữ văn về: trình

độ đào tạo, năng lực chuyên môn, số lượng; Đánh giá chất lượng, ý thức học tậpcủa học sinh Từ đó phân loại cụ thể để có biện pháp tăng cường giáo viên, đầu tưthời gian cho công tác bồi dưỡng, phụ đạo sau này

Xem xét điều kiện cơ sở vật chất, đồ dùng phục vụ dạy - học Ngữ văn, có địnhhướng bổ sung hoặc xin cấp thêm, chú trọng đến đồ dùng dạy học theo tinh thầnđổi mới chương trình, sách giáo khoa

Xem xét lại nội lực tổ chuyên môn, nếu tổ trưởng xã hội có chuyên môn khác,phải cử thêm trưởng bộ môn là giáo viên Ngữ văn

- Kế hoạch hợp lý về mặt tổ chức: Căn cứ vào cơ cấu nguồn nhân lực, bố tríhợp lý khả năng, nhân lực sẵn có và phát huy nội lực tối đa của mỗi cá nhân trongtập thể sư phạm

Kế hoạch phải xác định rõ thực trạng, mục đích và con đường để đạt mục đích:

Mỗi nhà trường, khi xây dựng kế hoạch, phải thấy rõ điểm xuất phát, đang ởmức nào, (trung bình, khá, hay đã đạt danh hiệu cao) từ đó đề ra mục đích cho nămhọc mới Tất nhiên mục đích của kế hoạch phải cao hơn mức độ thành tích hiện tại.Chỉ ra các cách thức đạt tới mục đích

Từ những điều kiện trên, chúng ta lựa chọn mục tiêu phù hợp dạy - học Ngữvăn Mục tiêu dạy - học Ngữ văn được quy định trong nội dung chương trình do

Trang 10

Bộ giáo dục và đào tạo ban hành Trong kế hoạch dạy - học cá nhân, CBQL nênchỉ đạo giáo viên lựa chọn mục tiêu (kết quả giả định) là mức độ cần đạt sau khigiảng dạy Đó là, điểm tổng kết, tỷ lệ đạt được trong kiểm tra đánh giá của cấptrên Mỗi lớp đặt ra những chỉ số mục tiêu khác nhau, (ví dụ ở lớp này chỉ tiêuđặt ra:10% Giỏi, 60% khá, nhưng ở lớp chỉ tiêu lại khác).

Trong kế hoạch phải chỉ ra các tiền đề đảm bảo thực hiện có chất lượng và hiệu quả:

Muốn có tính thuyết phục, trước khi xây dựng kế hoạch, cần phân tích kỹ

những thuận lợi, khó khăn, về khách quan, chủ quan Qua phân tích định lượng

và định tính, giúp chúng ta đánh giá đúng thực lực về nguồn nhân lực, tài chính,

cơ sở vật chất Tiến hành so sánh với các tiêu chí đánh giá của ngành đề ra, từ đólựa chọn một mục đích đúng tầm với đơn vị, có như vậy thực hiện kế hoạch mớiđảm bảo thành công Giải pháp này đồng thời tránh được tư tưởng duy ý chítrong lập kế hoạch, thường thấy ở thời kỳ bao cấp

Trong kế hoạch dạy - học Ngữ văn phải có lập luận, chỉ ra các yếu tố đảmbảo mục tiêu lựa chọn thực hiện được, đồng thời chỉ ra được cách thức tiến hành

để đạt được kết quả

Xây dựng kế hoạch cần phải xác định được những vấn đề ưu tiên thực hiện trong năm học:

Tuỳ theo đặc điểm từng trường có những vấn đề ưu tiên giải quyết khác nhau.

Ví dụ trường này sẽ ưu tiên bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, trường kia đặt vấn đềbồi dưỡng học sinh giỏi hoặc vấn đề bức xúc hiện nay là đổi mới phương phápdạy - học phù hợp với đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và thay sáchgiáo khoa Vấn đề này thể hiện sự nhanh nhạy của CBQL khi hoạch định kế

hoạch, tạo ra những nhân tố mới trong hoạt động dạy - học của nhà trường

Vấn đề ưu tiên trong xây dựng kế hoạch dạy - học Ngữ văn là đổi mới phươngpháp dạy - học theo yêu cầu đổi mới chương trình, tăng cường mua sắm, làmmới và sử dụng đồ dùng dạy học

2.3.2.Nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng tổ chức – chỉ đạo hoạt động dạy học Ngữ văn ở trường THCS

-2.3.2.1 Nội dung tổ chức - chỉ đạo

- Hoạt động giảng dạy của giáo viên

- Hoạt động học tập của học sinh

- Bồi dưỡng giáo viên

- Tăng cường cơ sở vật chất; Quản lý, giảng dạy

Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục và dân chủ trong quản lý dạy học

-2.3.2.2 Biện pháp thực hiện

Tổ chức - Chỉ đạo hoạt động giảng dạy của giáo viên.

- Tổ chức - Chỉ đạo hoạt động giảng dạy của giáo viên:

+ Cụ thể hoá các nội dung văn bản dưới luật vào nhà trường: Bằng cách tổ

chức mọi thành viên trong nhà trường được nghe, thảo luận, nội dung các vănbản pháp quy liên quan tới nhiệm vụ người giáo viên, như: Điều lệ trường phổthông; Mục tiêu nhiệm vụ năm học; các văn bản hướng dẫn thực hiện chươngtrình môn học, kiểm tra, đánh giá, xếp loại các mặt giáo dục; công tác khenthưởng, kỷ luật

Ngày đăng: 29/03/2017, 08:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w