Từ đó để góp phần nâng cao khả năng nhớ kiến thức lý thuyết và mối liên hệ giữa các chất vô cơ dấu hiệu của các phản ứng giúp học sinh tư duy sáng tạo trong qúa trình lĩnh hội kiến thức. Với mong muốn đó tôi mạnh dạn viết ra đây một số kinh nghiệm nhỏ đó là:“Rèn luyện kĩ năng giải bài tập “Nhận biết các hợp chất vô cơ” cho học sinh khá, giỏi lớp 9 trường THCS
Trang 1M C L CỤC LỤC ỤC LỤC
I Mở đầu trang 1
2 Mục đích nghiên cứu trang 1
3 Đối tượng nghiên cứu trang 2
4 Phương pháp nghiên cứu trang 2
II Nội dung sáng kiến kinh nghiệm ……… trang 2
1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm ……… trang 2
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trang 2
3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề ……… trang 3
3.2 Những giải pháp và biện pháp tiến hành trang 3 3.2.1 Tạo hứng thú học tập cho học sinh và yêu thích học môn
hóa học cho học sinh trang 3
3.2.2 Cung cấp cho học sinh những kiến thức cần dùng khi làm
bài tập nhận biết các hợp chất vô cơ. trang 3
3.2.2.1 Phương pháp nhận biết một số hợp chất vô cơ trang 4
3.2.2.3 Thuốc thử cho một số loại chất trang 6 3.2.3.Hình thành kĩ năng giải bài tập nhận biết các hợp chất vô cơ trang 8
3.2.3.1.Phương pháp chung trang 8 3.2.3.2 Hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập nhận biết các
hợp chất vô cơ trang 9
3.2.4 Rèn luyện kĩ năng làm bài tập nhận biết các hợp chất vô cơ trang
14 3.2.5 Phát triển kĩ năng làm bài tập nhận biết các hợp chất vô cơ trang
16
4 Kết quả trang
18 III Kết luận và kiến nghị trang
19
Trang 2I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài.
Là một giáo viên trực tiếp dạy môn hóa ở trường THCS Nga Thạch Tôi nhậnthấy đa phần học sinh đều cho rằng đây là một môn học khá trừu tượng và khó.Các em luôn cảm thấy khó khăn khi nhớ về nội dung lý thuyết và trạng thái củacác chất dẫn đến không giải quyết được các bài tập Cũng như tất cả các giáoviên giảng dạy môn Hóa học ở trung học cơ sở Tôi luôn trăn trở là phải làm sao
để gây hứng thú với các em, giúp các em yêu thích từng bài học và nhất là làmsao để các em hiểu và nắm vững kiến thức lý thuyết bộ môn Khi nắm vững lýthuyết thì các em mới có thể giải các dạng bài tập được dễ dàng Bộ môn hóahọc có rất nhiều dạng bài tập nhưng tôi thấy bài tập dạng nhận biết các chất vô
cơ cho học sinh là một vấn đề rất quan trọng trong việc nắm vững kiến thức lýthuyết và giải toán hóa học Trong bồi dưỡng học sinh giỏi các em gặp nhiềukhó khăn, hóa chất phục vụ cho thí nghiệm không có, các em vẫn còn lúng túng
và hạn chế khi làm bài tập đặc biệt gặp những bài về nhận biết Do trên lớp các
em ít tiếp cận với loại bài tập này nên việc nhận biết các chất là rất khó khăn.Các em chưa được cung cấp hệ thống, phương pháp giải các bài tập cụ thể,nhiều em còn chưa xác định được mình bắt đầu làm từ đâu Để học sinh lĩnh hộiđược sâu sắc bài học, không lúng túng, tự tin khi giải bài tập hóa học làm tiền
đề giúp các em tiếp thu kiến thức mới Thì giáo viên giảng dạy cần phải phânloại được các dạng bài tập tương ứng với mỗi dạng bài tập cần áp dụng phươngpháp giải phù hợp Giáo viên phải thường xuyên cho học sinh làm nhiều các bàitập, giải các đề thi học sinh giỏi bằng các hình thức khác nhau như ra bài tập vềnhà Từ đó để góp phần nâng cao khả năng nhớ kiến thức lý thuyết và mối liên
hệ giữa các chất vô cơ dấu hiệu của các phản ứng giúp học sinh tư duy sáng tạotrong qúa trình lĩnh hội kiến thức Với mong muốn đó tôi mạnh dạn viết ra đây
một số kinh nghiệm nhỏ đó là:“Rèn luyện kĩ năng giải bài tập “Nhận biết các
hợp chất vô cơ” cho học sinh khá, giỏi lớp 9 trường THCS Nga Thạch”.
- Đây cũng là tài liệu cần thiết cho giáo viên dùng để bồi dưỡng học sinh khágiỏi
- Nghiên cứu một số phương pháp giải các bài toán nhận biết các hợp chất vôcơ
- Nêu ra phương pháp giải theo từng dạng nhằm giúp học sinh khá giỏi rènluyện kỹ năng, giải tốt nhiều dạng bài toán nhận biết nhằm nâng cao chất lượnghọc sinh khá giỏi
3 Đối tượng nghiên cứu.
Trang 3Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khá và giỏi lớp 9 trường THCS Nga Thạch nămhọc 2015 – 2016.
+ Sách giáo khoa Hoá học 9
+ Sách bài tập Hoá học lớp 9
+ Một số tài liệu liên quan
4 Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu sách giáo khoa, sách bài tập, tài liệu dành cho giáo viên và học
sinh cũng như các tài liệu có liên quan tới dạng bài tập Nhận biết các chất vô
cơ.
- Rút kinh nghiệm từ thực tế giảng dạy và học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp
- Áp dụng đề tài vào giảng dạy trên lớp , bồi dưỡng học sinh khá, giỏi tại trường
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Cơ sở lí luận.
Việc làm bài tập Hóa học nhất là giải đề học sinh giỏi, không thể thiếu đượcdạng bài tập nhận biết các chất nói chung và hợp chất vô cơ nói riêng Các em sẽkhông biết làm bài tập khi giáo viên không cung cấp cho các em phương phápnhận biết Đây là dạng bài tập mà giúp các em củng cố phần tính chất của cácchất rất tốt Nếu các em không nắm được tính chất, đặc biệt là những dấu hiệu
cơ bản, những tính chất riêng biệt thì các em sẽ không làm được Là một dạngbài tập định tính mà các em không làm được dẫn đến các em sẽ chán nản gâymất hứng thú trong học tập môn Hóa
Qua thực tế dạy đội tuyển để các em nhận biết được các hóa chất cần phảinắm vững tính chất lý, hóa học cơ bản của chất đó, chẳng hạn: trạng thái tồn tại,màu sắc, mùi vị, độ tan, sủn bọt khí, thay đổi màu sắc,….kể cả các chất chúngtạo nên trong quá trình nhận biết
Phản ứng hóa học được chọn để nhận biết phải hội tụ đủ 2 yếu tố: Đơn giản
và có dấu hiệu rõ ràng Trừ trường hợp đặc biệt, muốn nhận biết n hóa chất cầnphải tiến hành (n-1) thí nhiệm
Tất cả các chất được lựa chọn dùng để nhận biết các hóa chất theo yêu cầucủa đề bài, đều được coi là thuốc thử
2 Thực trạng của vấn đề cần nghiên cứu
a Thuận lợi:
Học sinh rất yêu thích môn Hoá học đây là một động lực giúp tôi cảm thấyyêu nghề và có thêm bầu nhiệt huyết say sưa với công việc giảng dạy của mìnhhơn Nhà trường quan tâm, giúp đỡ tạo điều kiện có đủ dụng cụ, hoá chất,phương tiện hiện đại để tiến hành giảng dạy cho phù hợp với từng tiết dạy …Đặc biệt là có nhiều tài liệu tham khảo giúp bổ trợ và nâng cao kiến thức chohọc sinh hơn
b Khó khăn:
Học sinh của trường trung học cơ sở Nga Thạch chủ yếu là con nhà nôngnghiệp, bố mẹ thường đi làm ăn xa, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, dovậy ngoài thời gian học trên lớp về nhà các em còn phải phụ giúp gia đình nên
đã ảnh hưởng tới thời gian học tập của các em Chất lượng học tập của các em
Trang 4không đồng đều Vì vậy để có giải HSG môn Hoá học các cấp cũng như vấn đềnâng cao chất lượng đại trà còn nhiều hạn chế.
c Kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề tài:
Vào đầu năm 2014-2015, tôi kiểm tra 10 em khá giỏi lớp 9A, 9B năm học
2015- 2016 ở mức độ đề bài là những bài tập “Nhận biết các hợp chất vô cơ”,
nh n ận được kết quả : được kết quả : c k t qu : ết quả : ả :
Học sinh làm được
Qua điều tra cơ bản và trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy đa số các emcòn bỡ ngỡ trong việc vận dụng kiến thức đã học để làm bài tập Các em khôngbiết chọn thuốc thử để nhận biết các chất, không biết dựa vào đâu để xác địnhdấu hiệu của phản ứng Cơ sở để nhận biết các chất, hoặc không biết trình bàybài làm sao cho khoa học,… không biết viết PTHH để minh hoạ… Tất cả nhữngkhó khăn trên càng làm cho tôi có suy nghĩ mình cần phải cố gắng hơn, đem hếttâm huyết yêu nghề, mến trẻ, kiến thức và năng lực công tác để giảng dạy các
em đạt hiệu quả tốt hơn
3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
3.1 Phân loại: Dựa vào yêu cầu của đề bài được phép sử dụng thuốc thử như
thế nào ta có thể chia Bài tập nhận biết các chất vô cơ thành 3 loại cơ bản sau:
Dạng1 Nhận biết các hợp chất vô cơ với số thuốc thử không hạn chế:
Thí dụ: Cho các dung dịch sau đây KOH, K2SO4, KCl, HCl Hãy nêu phươngpháp hóa học nhận biết từng dung dịch
Dạng2 Nhận biết các chất bằng cách không được dùng chất thử nào khác:
Thí dụ: Cho các dung dịch sau đây NaOH, CuSO4, BaCl2 Hãy tìm cách nhậnbiết mỗi dung dịch trên mà không dùng thuốc thử nào khác
Dạng3 Nhận biết các chất với số thuốc thử có hạn chế
Thí dụ: Cho các dung dịch sau đây NaOH, H2SO4, CuCl2, Ba(NO2)2 Hãynhận biết mỗi dung dịch, mà chỉ dùng giấy quỳ tím
3.2 Những giải pháp và biện pháp tiến hành
3.2.1 Tạo hứng thú học tập cho học sinh và yêu thích học môn hóa học
cho học sinh.
Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh làm một số thí nghiệm ngoại khoá vềHoá học vui, nghe, đọc một số bài thơ, về một số nguyên tố hoá học, về axit, vềbazơ, về muối… trong các tiết học cụ thể có liên quan, nhờ có phương pháp này
mà tiết học trở nên sôi nổi hơn, sinh động hơn, các em nắm kiến thức bài họcsâu sắc, tạo được niềm say mê, thích thú học tập hơn và cũng qua đó mà mốiquan hệ giữa giáo viên và học sinh có sự gắn bó, gần gũi và hiểu nhau hơn gópphần “Xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích cực” Từ đó giáo viên cónhững biện pháp thích hợp, cụ thể giúp các em học tập tốt hơn yêu thích mônhọc nhiều hơn
3.2.2 Cung cấp cho học sinh những kiến thức cần dùng khi làm bài tập nhận biết các hợp chất vô cơ.
Trang 5Giáo viên thực hiện nội dung này vào các tiết ôn tập, luyện tập đặc biệt vào các buổi dạy bồi dưỡng học sinh khá giỏi.
3.2.2.1 Phương pháp nhận biết một số hợp chất vô cơ.
a Đối với chất khí:
-Khí CO 2 : Dùng dung dịch nước vôi trong có dư quan sát thấy hiện tượng
xảy ra: Làm đục dung dịch vôi trong PTHH: CO2 Ca OH( ) 2 CaCO3 H O2
- Khí CO: Khi khí đi qua CuO nung nóng, màu đen của CuO sẽ chuyển
thành mầu đỏ của C PTHH: CuO + H 2 t o Cu + H 2 O
- Khí SO 2 : Mùi hắc, khó ngửi, làm phai màu hoa hồng.
Cho khí SO2 sục qua nước vôi trong, hiện tượng: Làm đục nước vôi trong PTHH: SO2 Ca OH( ) 2 CaSO3 H O2
Hoặc cho khí SO2 qua dung dịch Brom, khí SO2 làm mất màu dung dịchBrom PTHH: SO2 Br2 H O2 2HBr H SO 2 4
Hoặc khí SO2 tác dụng với H2O tạo ra axit H2SO3 làm đỏ giấy quỳ
- Khí HCl: (Khí hiđro clorua) làm giấy quỳ tím tẩm nước hoá đỏ, hoặc sục
vào dung dịch AgNO3 tạo được kết tủa trắng AgCl
PTHH: AgNO3 HCl AgCl HNO3
- Khí H 2 S (khí sunfua hiđro)
+ Dựa vào mùi trứng thối đặc trưng
+ Dùng thuốc thử là chì nitrat Pb(NO3)2 tạo kết tủa đen PbS
PTHH H S Pb NO2 ( ) 3 PbS 2HNO3
Hoặc sục khí vào dung dịch Br2, dung dịch bị mất màu
- Hơi nước: Cho hơi nước đi qua bột CuSO4 khan (trắng), màu trắng củaCuSO4 khan chuyển sang màu xanh lam của CuSO4, 5H2O
b Đối với ba zơ.
- Với dung dịch bazơ (kiềm)
Phương pháp chung: Dùng quỳ tím để thử hoặc phenolphtalein
Hiện tượng: Dung dịch kiềm làm quỳ tím chuyển sang màu xanh, làmphenolphtalein không màu chuyển sang màu đỏ
+ Trường hợp Ca OH( ) 2có thể dùng Na CO2 3hiện tượng tạo ra CaCO3 kết tủa.PTHH Ca OH( ) 2 Na CO2 3 CaCO3 2NaOH
+ Trường hợp: Ba OH( ) 2có thể dùng H SO2 4
Trang 6-Hiện tượng: Tạo ra BaSO4 kết tủa trắng.
c Đối với dung dịch axit:
Phương pháp chung: Dùng quỳ tím nhỏ vào
Hiện tượng quỳ tím hoá đỏ
Ngoài ra còn có thể dùng các thuốc thử cụ thể sau:
- Axit HCl: Dùng dung dịch AgNO3 tạo AgCl kết tủa trắng
PTHH AgNO3 HCl AgCl HNO3
- Axit HNO3: Dùng bột Pb tạo dung dịch Pb(NO3)2
PTHH: Pb + 4HNO 3(đặc nóng) Pb(NO 3 ) 2 + 2NO 2 + 2H 2 O
Sau đó cho dd H2S cho vào sản phẩm trên
Hiện tượng: Tạo kết tủa PbS màu đen
PTHH H S Pb NO2 ( 3 2 ) PbS 2HNO3
d Đối với muối: Nhận biết tương tự như axit.
- Muối Clorua (- Cl): Dùng dung dịch AgNO3 Hiện tượng: Tạo kết tủa AgCl
- Muối sunfat (= SO4): Dùng dung dịch BaCl2 Hiện tượng: Tạo kết tủa trắngBaSO4
- Muối cacbonnat (= CO3): Dùng dung dịch HCl Hiện tượng: Có bọt khí
1 Quỳ tím -Dd kiềm: NaOH, KOH…-Axit -Quỳ tím hoá đỏ- Quỳ tím hoá xanh
(Na2O, K2O, CaO, BaO)
-Tan, tạo dd làm Phenolphtalein chuyển màu đỏ
Riêng CaO tạo “dd” đục
Trang 7Tan và có khí CO2, SO2,
H2S thoát ra
Tan và có khí H2 thoát raHNO3,
Ag2O CuO
Tạo ra khí Cl2 thoát raTạo ra AgCl kết tủa trắngTạo dd CuCl2 màu xanh
H2SO4 Ba, BaO, BaCl2, Ba(NO3)2
Ba(OH)2
Tạo ra BaSO4 kết tủa trắng
HNO3 Fe, FeO, Fe3O4, FeS, FeS2,
FeCO3, Cu2S
Tạo khí NO2 màu nâu
H2SO4(đn) Fe, FeO, Fe3O4, FeS, FeS2,
FeCO3, Cu2S
Tạo khí SO2 không màu
3.2.2.3 Thuốc thử cho một số loại chất.
Dd HNO3 đặc, nguội Al không tan còn Zn tan,
tạo ra khí NO2 màu nâuCác kim loại từ
Mg đến Pb
Dd HCl Tan, có khí H2 thoát ra Riêng
Pb tạo PbCl2 kết tủa trắng.Kim loại Cu Dd HNO3 đặc Tan, dd màu xanh và có khí
NO2 màu nâu
Kim loại Hg Dd HNO3 đặc, sau
đó cho sợi Cu vào dd
Tan, có khí NO2 màu nâu, có màu trắng bám lên đỏ, dd chuyển dần sang xanh
Kim loại Ag Dd HNO3 đặc, sau
đó cho NaCl vào dd
Tan, có khí NO2 màu nâu sau
đó có kết tủa trắng
Trang 8C(màu đen) Đốt trong O2,
CO Đốt trong không khí CO2 làm nước vôi trong bị vẫn
đục CaCO3
Nước Br2 (dd màu da cam)
chuyển màu xanh
sang màu đỏ
trong các axit khác)
Tan, tạo SiF
Al2O3 Tan cả trong axit
và trong kiềmCuO Dd axit HCl, H2SO4l Dd màu xanh
Trang 9 CdS vàng, PbS đenBaSO4 trắng
Màu vàng (Na) Màu tím(K), màu da cam (Ca)…
Fe2+ Dd kiềm: NaOH Fe(OH)2 trắng xanh để
lâu trong không khí đỏ nâu (Fe(OH)3 )
Al3+ Dd kiềm dư : NaOH Al(OH)3 keo trắng
a Nghiên cứu đề bài: Học sinh cần nghiên cứu kĩ đề bài, xác định được đề
bài cho biết cái gì và yêu cầu phải làm gì? Đề bài thuộc dạng bài tập nào?
b Xác định hướng giải:
Học sinh cần phải phân loại các chất cần nhận biết, sử dụng những kiến thức
đã được giới thiệu về một số thuốc thử để nhận biết các chất vô cơ cùng dấuhiệu của phản ứng tương ứng mà giáo viên đã trình bày ở mục II để tìm thuốcthử cho từng chất Có thể vạch ra sơ đồ nhận biết như sau:
Dấu hiệu… Thuốc thử 1 Dấu hiệu…
Trang 10c Trình bày lời giải: Sau khi thực hiện các bước trên, bước tiếp theo học
sinh trình bày bài làm Đây là bước quan trọng nhất vì đánh giá được trình độ vàkết quả học tập của học sinh Học sinh có thể trình bày theo các cách sau:
Cách trình bày bài làm về nhận biết : thường dùng 1 trong 2 phương pháp sau :
* Phương pháp mô tả : qua 4 bước
Sau cùng nhớ phải viết phương trình phản ứng
d Kiểm tra: Đây là một khâu không kém phần quan trọng, sau khi làm tập
xong học sinh cần có thói quen kiểm tra lại phần trình bày của mình xem có saisót gì không, nếu sai cần phải sửa kịp thời, nhờ đó mà rèn luyện tính cẩn thậncho học sinh
3.2.3.2 Hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập nhận biết các hợp chất vô cơ.
Qua các thí dụ sau giáo viên có thể hình thành kĩ năng giải các bài tập nhậnbiết các hợp chất vô cơ bằng phương pháp hoá học cho học sinh
Hướng dẫn học sinh:ng d n h c sinh:ẫn học sinh: ọc sinh:
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung chính
-Nghiên cứu đề bài: Giáo viên cho
học sinh nghiên cứu đề bài sau đó cho
học sinh xác định được đây thuộc loại bài
tập nhận biết các chất dùng thuốc thử
không hạn chế: Có thể dùng một hoặc
Thí dụ1: Cho các dung dịch
đựng trong các lọ bị mất nhãn sauđây: KOH, K2SO4, KCl, HCl Hãynêu phương pháp hoá học nhậnbiết từng dung dịch
Trang 11KOH: Kiềm, có thể nhận biết bằng
quỳ tím hoặc phenolphtalein
K2SO4: Muối trung hoà, có thể dùng
-Nghiên cứu đề bài: Yêu cầu học sinh
xác định được đây thuộc loại bài tập
nhận biết các chất dùng thuốc thử không
hạn chế
-Xác định hướng giải: Giáo viên
yêu cầu học sinh :
+Phân loại chất và tìm thuốc thử riêng
cho từng dung dịch:
Dd H2SO4: Nhận biết bằng dd BaCl2
Dd HCl: Nhận biết được sau khi đã
nhận biết được dd H2SO4 (Hoặc nhận biết
+Trích mỗi chất một ít làm mẫuthử cho mỗi lần thí nghiệm vàđánh số 1, 2, 3, 4 tương ứng
Lần lượt nhúng mẫu giấy quỳtím vào mỗi mẫu thử, mẫu thử nàolàm quỳ tím chuyển sang màuxanh thì đó là dung dịch KOH,mẫu thử nào làm quỳ tím đổi sangmầu đỏ thí mẫu thử đó là dungdịch axit HCl Hai mẫu thử còn lạikhông làm đổi màu quỳ tím thì đó
là dung dịch K2SO4 và dung dịchKCl
+Lần lượt nhỏ dung dịch BaCl2
vào hai mẫu thử còn lại, mẫu thửnào xuất hiện kết tủa trắng thì mẫuthử đó là dung dịch K2SO4; mẫuthử nào không có hiện tượng gì thìmẫu đó là dung dịch KCl
- Trình bày lời giải:
+Trích mỗi chất một ít làm mẫuthử cho mỗi lần thí nghiệm vàđánh số 1, 2,3 tương ứng
+Lần lượt nhúng mẫu giấy quỳtím vào mỗi mẫu thử, kết quả :Mẫu thử không làm đổi màu quỳtím đó là dung dịch Na2SO4 Haimẫu thử làm quỳ tím đổi sang mầu
đỏ hai dung dịch: dd HClvà dd