Năng lực quản lý và tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở của cán bộ quản lý và giáo viên .... 61 2.4.2 Thực trạng quản lý việc tổ chức thực hiện kế hoạch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hoài
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đề tài này được hoàn thành với sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của Hội đồng khoa học, các thầy cô giáo, các cán bộ quản lý của Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng với sự nỗ lực học hỏi nghiên cứu khoa học của bản thân tác giả trong thời gian học tập tại trường
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn và biết ơn sâu sắc đến TS Trần Thị Hoài - người đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong suốt thời
gian nghiên cứu và thực hiện nhiệm vụ của đề tài
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn UBND huyện Na Hang, Phòng Giáo dục và Đào tạo, ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm của 13 trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Na Hang đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập dữ liệu và khảo nghiệm phục vụ cho vấn đề nghiên cứu của đề tài
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm giúp đỡ, cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 4Phụ huynh học sinh Trung học cơ sở
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤCKỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1 1 Ở nước ngoài 6
1.1.2 Ở trong nước 8
1.2 Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài 12
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 12
1.2.2 Kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống 15
1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống 18
1.3 Giáo dục kỹ năng sống trong trường Trung học cơ sở 19
1.3.1 Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của trường Trung học cơ sở 19
1.3.2 Giáo dục kỹ năng sống trong trường Trung học cơ sở 20
1.4 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống trong trường Trung học cơ sở 22
1.4.1 Xây dựng kế hoạch hoạt độnggiáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 26
1.4.2 Tổ chức hoạt độnggiáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 27
1.4.3 Chỉ đạo hoạt độnggiáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 27
1.4.4 Kiểm tra đánh giáhoạt độnggiáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 27
1.4.5 Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí phục vụhoạt động giáo dục kĩ năng sống 28
Trang 61.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng
sống trong trường Trung học cơ sở 29
1.5.1 Mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục 29
1.5.2 Đặc điểm phát triển tâm sinh lý của học sinh Trung học cơ sở 30
1.5.3 Năng lực quản lý và tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở của cán bộ quản lý và giáo viên 36
1.5.4 Nhận thức của các lực lượng tham gia quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 37
1.5.5 Văn hóa nhà trường 37
1.5.6 Các điều kiện cơ sở vật chất 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG 42
2.1 Khái quát chung về huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 42
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 42
2.1.2 Tình hình về giáo dục của huyện Na Hang 42
2.1.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh Trung học cơ sở dân tộc thiểu số huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang ảnh hưởng tới quản lý và tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống 49
2.1.4 Đánh giá chung về những tồn tại, hạn chế của giáo dục huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 51
2.2 Giới thiệu về khảo sát 52
2.2.1 Mục đích khảo sát 52
2.2.2 Nội dung khảo sát 52
2.2.3 Đối tượng khảo sát 52
2.2.4 Phương pháp khảo sát 53
2.3 Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh các trường Trung học cơ sở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 53
Trang 72.3.1 Thực trạng nhận thức về hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho
học sinhTrung học cơ sở của cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học
sinh và các lực lượng xã hội khác 53 2.3.2 Thực trạng về hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
Trung học cơ sở ở các trường Trung học cơ sở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 56
2.4 Thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học sơ sởhuyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 61
2.4.1 Thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt dộng giáo dục kĩ năng sốngtrong các trường 61 2.4.2 Thực trạng quản lý việc tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục kĩ năng sống trong các trường Trung học cơ sở huyện Na Hang 62 2.4.3 Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh Trung học cơ sở huyện Na Hang 64 2.4.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh 67 2.4.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh của các trường Trung học cơ sở huyện Na
Hang, tỉnh Tuyên Quang 69 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN
NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG 73 3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 73
3.1.1 Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước trong hoạt động giáo dục 73 3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích, tính kế hoạch 73 3.1.3 Nguyên tắc tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THCS, HS dân tộc thiểu số huyện
Na Hang 74 3.1.4 Các biện pháp phải đảm bảo phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh 75
Trang 83.1.5 Nguyên tắc đảm bảo sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục 76
3.2 Biện pháp quản lý công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinhTrung học cơ sở huyện Na Hang trong giai đoạn hiện nay 76
3.2.1 Quản lý hoạt động tổ chức, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường về giáo dục kĩ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong giai đoạn hiện nay 76
3.2.2 Quản lý công tác bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ giáo viên về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh 79
3.2.3 Chỉ đạo đổi mới, đa dạng hóa hình thức, phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống 84
3.2.4 Chỉ đạo giáo viên thiết kế giáo án tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học các môn học chiếm ưu thế ở trường Trung học cơ sở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 88
3.2.5 Quản lý thực hiện đổi mới công tác kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện chương trình GDKNS gắn với công tác thi đua, khen thưởng 91
3.2.6 Quản lý sự phối hợp giữa các lực lượng tham gia tổ chức thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh 93
3.2.7 Quản lý các điều kiện đảm bảo cơ sở vật chất và tài chính phục vụ cho hoạt động giáo dục kĩ năng sống 97
3.2.8 Mối quan hệ giữa các biện pháp 100
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý công tác GDKNS cho HS THCS huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 100
3.3.1 Đối tượng khảo nghiệm 101
3.3.2 Nội dung khảo nghiệm 101
3.3.3 Phương pháp khảo nghiệm 101
3.3.4 Khảo nghiệm 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 113
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Kết quả xếp loại hạnh kiểm HS THCS huyện Na Hang năm
học 2015-2016 46 Bảng 2.2: Kết quả xếp loại học lực HS THCS huyện Na Hang 47 Bảng 2.3: Bảng tổng hợp đánh giá chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS
huyện Na Hang năm học 2015-2016 48 Bảng 2.4: Nhận thức về vai trò của hoạt động giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh THCS của CBQL, GV, PHHS và HS 54 Bảng 2.5: Thực trạng nội dung GDKNS cho HS thực hiện tích hợp
qua các môn học và HĐ GDNGLL 57 Bảng 2.6 Thực trạng hình thức tổ chức GDKNScho HS THCS 58 Bảng 2.7: Những khó khăn khi tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng
sốngtrong trường THCS huyện Na Hang 60 Bảng 2.8: Thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch giáo dục kĩ
năng sống của CBQL, GV 61 Bảng 2.9: Thực trạng quản lý việc tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt
động giáo dục kĩ năng sống cho HS THCS 62 Bảng 2.10: Thực trạng chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn GV lập kế hoạch
tích hợp HĐGDKNS qua dạy học và hoạt động giáo dục 64 Bảng 2.11: Thực trạng chỉ đạo tổ chuyên môn bồi dưỡng GV về GDKNS 67 Bảng 2.12: Thực trạng việc kiểm tra đánh giá kết quả HĐ GDKNS của
BGH và GV 68Bảng 3.1: Mức độ cấp thiết của các biện pháp quản lý GDKNS ở các
trường THCS huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 102 Bảng 3.2: Mức độ khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng
sống ở các trường THCS huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 103 Biểu đồ 3.1 Mức độ cấp thiết và tính khả thi 104
Trang 10Kĩ năng sống (KNS) không phải tự nhiên có mà là kết quả rèn luyện của mỗi người trong suốt cuộc đời, trong các mối quan hệ xã hội, dưới ảnh hưởng của GD, trong đó GD nhà trường có vai trò hết sức quan trọng GD nhà trường tạo ra những cơ sở ban đầu quan trọng nhaatscho sự phát triển nhân cách nói chung và KNS của trẻ nói riêng Ở trường phổ thông hoạt động quản lý GD trong công tác tổ chức, quản lý GDKNS là một yêu cầu tất yếu, gắn liền với vai trò và nhiệm vụ của nhà trường
GDTrung học cơ sở (THCS) là bậc học cơ bản của hệ thống GD quốc dân, vì vậy vai trò của nhà trường đối với việc GDKNS cho HS THCS càng trở lên ý nghĩa hơn HS THCS là những HS đang trong quá trình hình thành
và phát triển các phẩm chất nhân cách, những thói quen cơ bản chưa ổn định
mà đang được hình thành và củng cố Do đó việc GDKNS cho các em là một việc làm rất cần thiết, là nền tảng giúp các em phát triển nhân cách sau này
Từ năm học 2010 - 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã đưa nội dung GDKNSđược lồng ghép vào các môn học và các hoạt động (HĐ) ngoài giờ lên lớp ở các bậc học phổ thông Đây là một chủ trương cần thiết và hết sức đúng đắn đã được xã hội và đặc biệt là các bậc cha mẹ quan tâm, đón nhận và coi đây là một chương trình GD hết sức cần thiết đối với HS
Trang 11Trong thực tế, lo lắng trước những cảnh báo về những hành vi, việc làm
và cả những hậu quả thương tâm của một lớp trẻ thiếu KNS Ở thành phố và cáckhu vực thuận lợi nói chung, thành phố Tuyên Quang nói riêng, tranh thủ những tháng nghỉ hè vừa qua, không ít phụ huynh bên cạnh việc cho con đi học ngoại ngữ, năng khiếu, thể thao, cũng tìm kiếm những trung tâm huấn luyện KNS cho trẻ với kỳ vọng: Trẻ sẽ có đủ tự tin, bản lĩnh để vững bước vào đời Ở nông thôn và những nơi vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, nhất là vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số như huyện Na Hang, hầu hết phụ huynh lại không quan tâm tới việc GDKNS cho con em mình, các
em lớn lên với những bản năng sẵn có; để rồi đã có rất nhiều hậu quả đau lòng
đã xảy ra khi các em thiếu đi KNS trong xã hội hiện nay
Do đó, việc đưa KNS vào trường học không chỉ được nhiều phụ huynh tán thành, mà còn được đông đảo đội ngũ cán bộ giáo viên (GV) ủng hộ Qua
ba năm triển khai và thực hiện, tác giả nhận thấy: KNS thực sự không phải là những gì quá cao siêu, phức tạp, mà là những nội dung hết sức đơn giản, gần gũi với trẻ em; là những kiến thức tối thiểu để giúp các em tự tin hơn, tự lập hơn trong cuộc sống Việc tổ chức HĐGDKNS trong các nhà trường được thực hiện theo tinh thần chỉ đạo của các cấp quản lý Tuy nhiên, thực tế cho thấy tại tỉnh Tuyên Quang nói chung và huyện Na Hang nói riêng, khi đưa HĐGDKNS vào trường học, việc quản lý hoạt động này như thế nào để phát huy tốt hiệu quả của nó thì các trường học còn gặp không ít lúng túng Bên cạnh đó, Phòng GD&ĐT mặc dù đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ HĐ GDKNS nhưng mới chỉ dừng ở mức độ kế hoạch, còn việc
tổ chức thực hiện kế hoạch như thế nào, kiểm tra đánh giá ra sao, các điều kiện để tổ chức thực hiện kế hoạch được đảm bảo như thế nào chưa được thực hiện đồng bộ và bài bản Từ đó dẫn tới việc, chất lượng HĐ GDKNS cho
HS phổ thông của huyện Na Hang đạt kết quả chưa cao
Với những ý nghĩa đó, tác giả đã chọn vấn đề “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở tại huyện Na Hang,
Trang 12tỉnh Tuyên Quang” làm luận văn tốt nghiệp cao học; với mong muốn trước
hết là tìm ra những biện pháp quản lý sát với tình hình thực tiễn của đơn vị mình để nâng cao chất lượng HĐ GDKNS, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đồng thời, đóng góp xứng đáng vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người, cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Na Hang
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp quản lý HĐ GDKNS cho HS THCS tại huyện Na Hang,tỉnh Tuyên Quang, qua đó góp phần đổi mới GD trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý HĐ GDKNS cho HS THCS tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
Hoạt động GDKNS cho học sinh các trường THCS
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về nội dung: Nghiên cứu tại 13 trường THCS huyện Na Hang
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục KNS cho HSTHCS và quản
lý HĐ GDKNS cho HS trong các trường THCS
4.2.Tiến hành khảo sát và phân tích, đánh giá thực trạng của quản lý HĐ
GDKNS cho HS trong các trường THCS huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
4.3 Đề xuất biện pháp quản lý HĐGDKNS cho HS THCS tại huyện Na
Hang, tỉnh Tuyên Quang nhằm góp phần đổi mới GD trong giai đoạn hiện nay
4.4 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
5 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, công tác GDKNS cho HS trong các trường THCShuyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang còn nhiều bất cập, chưa thực sự hiệu quả Nếu triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý đề xuất thì chất lượng hoạt động giáo dục
Trang 13KNS cho HSTHCS của huyện Na Hang sẽ được nâng cao, góp phần đáp ứng được yêu cầu đổi mới GD trong giai đoạn hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhằm tổng hợp các vấn đề lý luận làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu Tìm hiểu và phân tích các quan điểm lý luận thể hiện trong các văn kiện của Đảng, văn bản của Chính phủ, nghiên cứu trên sách, báo chí, các tài liệu chuyên môn liên quan đến nội dung đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra: Nhằm khảo sát thực trạng về GD, về KNS,
GDKNS và quản lý GDKNS cho HSTHCStại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
+ Phương pháp chuyên gia: Nhằm tìm hiểu thêm các nội dung được đề
cập trong đề tài nghiên cứu; các vấn đề về đời sống văn hóa của địa phương trên địa bàn có liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và mức
độ tin cậy của các sản phẩm nghiên cứu
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Nhằm tập hợp và phân tích các
thành công của GV và CBQL GD trong việc GDKNS cho HSTHCStại huyện
Na Hang, tỉnh Tuyên Quang cũng như của các địa phương khác
6.3 Phương pháp xử lý thông tin
Ngoài các phương pháp trên, tác giả còn sử dụng các phương pháp xử
lý số liệu điều tra bằng excel để xử lý kết quả
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận việc quản lý hoạt động GDKNS cho HSTHCS nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất những biện pháp quản lý phù hợp với thực tế và có tính khả thi
để góp phần nâng cao chất lượng GD THCS của địa phương
Trang 148 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh trong các trường THCS
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh THCS tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤCKỸ NĂNG
SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1 1 Ở nước ngoài
Trong lịch sử cũng như những nghiên cứu đề cập tới vấn đề giáo dục KNS Rabơle (1494 - 553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và tư tưởng giáo dục thời kì văn hóa Phục hưng Ông đòi hỏi việc giáo dục phải trên tất cả nội dung: “Trí dục, đạo đức, thể chất, thẩm mĩ”
và đã có những sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục như, ngoài việc học
ở lớp và ở nhà, còn có các buổi thăm quan xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghệ sĩ, đặc biệt là mỗi tháng nột lần thầy và trò về sống
ở nông thôn một ngày [22]
C.Mác (1818 -1883) và F.Anghen (1820 - 1895) [12] đã xác định mục đích nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là tạo ra“con người phát triển toàn diện”, đó
là con người biết làm mọi việc, có khảnăng thích ứng cao Quan điểm giáo dục của hai ông là phát triển nhân cáchcon người về mọi mặt theo “phương thức giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” Quan điểm này được Lênin kế thừa
và phát triển thành học thuyết giáo dục xã hội chủ nghĩa Con người phát triển toàn diện theo quan điểm của Mácvà Ăng Ghen là con người có sức khoẻ, biết làm mọi việc, đó là con người sống khoẻ mạnh, sống an toàn và có khả năng thích ứng với sự biến đổi của xã hội và biến đổi của nghề nghiệp
Đến thế kỉ XX, A.S.Macarenko (1888-1939), nhà sư phạm nổi tiếng củaNga đã nói về tầm quan trọng của công tác giáo dục các kỹ năng ngoài giờ học: Ông cho rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trongviệc dạy học trong phạm vi lớp học mà quá trình giáo dụccần được tiến hành trong cuộc sống thực tiễn của đất nước [1] Thực tiễn công tác giáo dục của mình A.S.Macarenko đã tổ chức các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ
Trang 16học sinh ở trại M.Gorki và công xã F.E.Dzerjinski như: Tổ đồng ca, tổ văn học Nga, tổ khiêu vũ, xưởng tự do, tổ thử nghiệm khoa họctự nhiên, tổ vật lí hóa học, thể thao… Việc phân phối các em vào cac tổ ngoại khóa, câu lạc bộ được tổ chức trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các em có thểxin ra khỏi tổ bất
cứ lúc nào, nhưng các tổ phải có kỉ luật trong quá trình hoạt động [2] Như vậy vấn đề GDKNS đã được Makarenko đặc biệt coi trọng
Bước vào thế kỉ 21, khủng hoảng về giá trị đã diễn ra trên toàn cầu và tại mỗi quốc gia Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã có khuyến cáo về vấn đề này và các quốc gia đều đã có những quan tâm nhất định Trên thế giới nhiều ngành khoa học trong đó có Tâm lý học, GD học đã chú ý nghiên cứu việc giáo dụng giá trị sống cho thế hệ trẻ Thực tiễn giáo dục cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI cho thấy chỉ thông qua con đường GD, giá trị mới có thể tạo nên cơ sở bền vững cho việc giải quyết khủng hoảng trong phát triển nhân cách của học sinh
Năm 1996 Hội đồng quốc tế về GD cho thế kỉ XXI của UNESCOdo JaccqueDelor làm chủ tịch đã đưa ra một báo cáo khẳng định vai trò quan trọng củaGD đối với sự phát triển tương lai của cá nhân, dân tộc và nhân loại Báocáo này nhấn mạnh giáo dục là “kho báu tiềm ẩn”, đồng thời đưa ra một
tầmnhìn về GD cho thế kỉ XXI dựa trên 4 trụ cột: Học để biết (Learning
toknow); Học để làm (Learning to do); Học để cùng chung sống (Learning to live together); Học để tự khẳng định mình (Learning to be) Bốn trụ cột này là
một cách tiếp cận KNS dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa các nhóm kĩ năng
nhận thức, kĩ năng thực tiễn, kĩ năng xã hội và kĩ năng cá nhân [13]
Tại Diễn đàn GD Thế giới Dakar, tháng 5/2000 trường học thân thiện với người học được phản ánh trong quan điển toàn diện về chất lượng được nêu trong Khuôn khổ Hành động Dakar, UNESCO và UNICEF đã nhận thấy
mô hình : "trường học thân thiện" với các yếu tố của nó là một giải pháp nâng cao chất lượng và đảm bảo công bằng GD Vì vậy, mô hình này đã được phổ biến, áp dụng ở 40 quốc gia trên thế giới Trong mô hình trường
Trang 17học thân thiện,tiêu chí GDKNS vừa như là một biểu hiện của chất lượng
GD, vừa để giúp HS sống an toàn Kế hoạch hành động Dakar về GD cho mọi người mỗi quốc gia cũng nhấn mạnh; cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình GDKNS phù hợp và KNS của người học là một tiêu chí của chất lượng GD Cho nên, trong mục tiêu 6 của chương trình đã coi KNS là một khía cạnh của chất lượng GD Đánh giá chất lượng GD cần tính đến những tiêu chí đánh giá KNS của người học Như vậy tiến hành GDKNS để nâng cao chất lượng GD [27]
Tại nền GD của các nước Phương Tây, thanh thiếu niên đã được học những KNS về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện và đương đầu tại trung tâm với những khó khăn, và cách vượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn , xung đột, bạo lực giữa người
và người Tại Hàn Quốc, học sinh tiểu học được học cách đối phó thích ứng với các tai nạn như cháy, động đất, thiên tai tại Trung tâm điều hành tình trạng khẩn cấp Seoul [31]
Như vậy qua những nghiên cứu trên thế giới cho thấy GDKNS cho HS
là một vấn đề quan trọng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu ở những nền GD của các quốc gia trong các giai đoạn lịch sử khác nhau Nhìn chung GDKNS được coi là một thành tố cấu thành nên mục đích GD trong quá trình
GD tổng thể Các nhóm KNS cần GD cho HS dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa các nhóm kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực tiễn, kĩ năng xã hội và kĩ năng
cá nhân Trong giáo dục cần tổ chức hài hòa giữa việc tổ chức hoạt động nhận thức và các HĐ GDKNS cho HS để đạt được mục đích GD toàn diện
Trang 18tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng và trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học" Bác yêu cầu: "Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn" Với nguyên lý GD "Học đi đôi với hành, GD gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội", Bác đã từng nói: "GD phải theo hoàn cảnh và điều kiện" và "Một chương trình nhỏ mà được thực hành hẳn hoi còn hơn một trăm chương trình lớn mà không làm được"[28]
Trong xu thế hội nhập, nhiệm vụ GD của các nước là đào tạo thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu như: năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội Nói cách khác
là đào tạo một lớp người mới tinh thông về nghề nghiệp, có khả năng thích ứng cao với những biến động của cuộc sống Ở Việt Nam, mục tiêu của GD phổ
thông đã được qui định tại điều 27 - Luật Giáo dục 2005 như sau: "Mục tiêu
của GD phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động
và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"[8]
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF(1996) [13]: "GDKNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường" Giai đoạn đầu của chương trình, khái niệm KNS được giới thiệu chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị,
kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu Ở giai đoạn này chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề giáo dục sức khoẻ của thanh thiếu niên Giai đoạn hai của chương trình mang tên: "Giáo dục sống khoẻ mạnh và KNS" trong đó nội dung của khái niệm KNS và GDKNS đã được phát triển sâu sắc hơn Ngành GD đã triển khai chương trình đưa GDKNS vào hệ thống GD chính qui và không chính qui Nội dung GD của
Trang 19nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu GDKNS Các nội dung GDKNS cơ bản đã được triển khai ở các cấp THCS là: năng lực thích nghi, năng lực hành động, năng lực ứng xử, năng lực tự học suốt đời; định hướng HS: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định
Việc GDKNS ở các bậc học THCS và THPT được thực hiện chủ yếu thông qua chương trình các môn học và các hoạt động GD của nhà trường cùng với một số chương trình dự án do nước ngoài tài trợ Cụ thể với cấp THCS những môn học được khai thác nhằm GDKNS cho HSlà môn Giáo dục công dân, môn Công nghệ, Sinh học
Đã có một số công trình nghiên cứu trong nước đề cập đến vấn đề KNS
nói chung và KNS trong nhà trường nói riêng như: Đặng Vũ Hoạt (1998),
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở [18], tác giả
Nguyễn Thị Oanh (2009) Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên [30]; Tác giả Phạm Văn Nhân (2009) Cẩm nang tổng hợp kỹ năng hoạt động thanh thiếu
niên [29];Tác giả Nguyễn Thị Hường (2009), Quản lý giáo dục KNS trong dạy môn Tự nhiên - Xã hội ở trường tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng [21]… Trong các nghiên cứu của mình các tác giả đã đưa ra hệ thống
kỹ năng sống cốt lõi cần giáo dục cho học sinh, đặc biệt là những kĩ năng cần
thiết cho lứa tuổi thanh thiếu niên
Tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự với nhiều nghiên cứu về giáo
dục KNS cho học sinh, có thể kể tới như:Những nghiên cứu và thực hiện
chương trình giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam (2003) [4]; Giáo dục kĩ năng sống - Giáo trình dành cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm(2007) [5]; Giáo trình chuyên đề giáo dục kĩ năng sống (2010) [6] Trong các nghiên cứu của
mình Ông đã chỉ rõ thực trạng thực hiện công tác GD KNS ở Việt Nam, từ đó phân tích các KNS cần thiết và chỉ rõ vai trò của việc giáo dục KNS cần sự phối kết hợp của nhiều lực lượng nhà trường - gia đình- xã hội
Nguyễn Thị Hường (2009), nghiên cứu kỹ năng sống dưới góc độ khai thác trên môn học giáo dục sống khoẻ mạnh và tích hợp nội dung giáo dục KNS trong dạy môn Tự nhiên - Xã hội ở trường tiểu học [21]
Trang 20Nguyễn Thị Tính, Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2010) nghiên cứu GDKNS cho HS tiểu học khu vực miền núi phía Bắc thông qua dạy học môn đạo đức Tác giả đã nghiên cứu GDKNS qua cách tiếp cận mônhọc chiếm ưu thế và đề xuất được hệ thống các biện pháp GDKNS cho học sinh tiểu học khu vực miền núi phía Bắc (đề tài cấp Bộ B2009TN 09-14) [31]
Các tác giảNguyễn Thị Mỹ Lộc - Đinh Thị Kim Thoa - Đặng Hoàng
Minh, Vũ Phương Liên với nghiên cứu về Phương pháp giáo dục Giá trị sống -
Kỹ năng sống cho học sinh phổ thông(2012) [26]; và Bài giảng Phương pháp Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống(2012) [27], đã phân tích làm rõ các giá trị
sống, kỹ năng sống phương pháp GDKNS cho học sinh phổ thông
Từ năm học 2009 - 2010, Bộ GD&ĐT đã đưa chương trình GDKNS vào chỉ thị thực hiện nhiệm vụ năm học Nội dung GDKNS cho HS trong nhà trường phổ thông tập trung vào các kĩ năng tâm lý - xã hội là những kĩ năng được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác với người khác
và giải quyết hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống, tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý công tác GDKNS cho HS dân tộc thiểu số Ngày 28 tháng 2 năm 2014, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư 04/2014/TT-BGD-ĐT,Quy định quản lý HĐ GDKNS và HĐ GD ngoài giờ chính khóa Điều này thể hiện tầm quan trọng của việc GDKNS và quản lý HĐGDKNS ở các trường phổ thông trong bối cảnh hiện nay [11]
Qua những nghiên cứu về GDKNS ở trên thế giới và Việt Nam cho thấy đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm đến vấn đề GD giá trị sống và KNS, nhưng chủ yếu các đề tài phân tích làm rõ thực trạng trước tính cấp bách của vấn đề GD giá trị sống, hoặc KNS, hầu hết để ýchưa giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu lý luận một cách hệ thống, về biện pháp quản lý, nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục giá trị sống, KNS cho HS nói chung và HS ở một trường THCS cụ thể nói riêng Một số nghiên cứu đã đề cập tương đối đầy đủ các nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng và
đề xuất giải pháp quản lý HĐ GDKNS cho HS nhưng mới chỉ dừng lại trong
Trang 21phạm vi hẹp của từng nhà trường, chưa áp dụng rộng rãi cho những trường ở
những vùng miền và có những điều kiện khác nhau Đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang” có kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu
trên Vấn đề mà tác giả quan tâm là biện pháp quản lý của hiệu trưởng để chỉ đạo và thực hiện HĐ GDKNS cho HS một cách hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện, góp phần vào sự đổi mới của GD trong bối cảnh hiện nay
1.2 Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
* Quản lý
Khái niệm “quản lý” được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát
triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn nó được xây dựng
và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn Mọi HĐ của xã hội đều cần tới quản
lý Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô Hoạt động quản lý là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung
Chính vì thế quản lý được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và được định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau:
- Cách tiếp cận theo thực tiễn: Trên cơ sở phân tích sự quản lý bằng
cách nghiên cứu kinh nghiệm thông thường qua các trường hợp cụ thể Từ việc nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc thất bại, sai lầm ở các trường hợp cá biệt của những người quản lý cũng như những dự định của họ
để giải quyết những vấn đề đặc trưng để từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào để quản lý có hiệu quả trong những hoàn cảnh tương tự
- Cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống: Cách tiếp cậnnày cho phép
xem xét các hoạt động quản lý như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm những yếu tố và mối liên hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định
Trang 22- Cách tiếp cận theo thuyết hành vi: Dựa trên những ý tưởng cho rằng
quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người Do vậy việc nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa người với người Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý, vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu thì “con người nên hiểu con người” Với học thuyết này giúp con người quản lý ứng
xử một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức Hiện nay hoạt
động quản lý được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu
của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.” [24, tr.9]
Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo dục cũng được quản lý trên bình diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động giáo dục có tổ chức mới hình thành
* Quản lý giáo dục
QLGD chính là quá trình tác động có định hướng của nhà QLGD trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có
kế hoạch quá trình dạy và học theo mục tiêu đào tạo
QLGD là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Giống như khái niệm “quản lý” đã trình bày ở trên, khái niệm “QLGD” cũng có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song trong mỗi cách định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: chủ thể QLGD, khách thể QLGD, mục tiêu QLGD, ngoài ra còn phải kể tới cách thức (phương pháp quản lý giáo dục) và công cụ (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật) QLGD
Trang 23Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “QLGD là quá trình tác động có kế
hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra.”[24, tr.16 ]
Nói chung, QLGD được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực GD Nói một cách rõ ràng hơn, đầy đủ hơn, QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống GD, là sự điều hành hệ thống GD quốc dân, các cơ sở GD nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
* Quản lý nhà trường
Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý, về bản chất
là huy động các nguồn lực để tổ chức tốt các hoạt động GD trong nhà trường theo mục tiêu GD [24, tr.369]
Có nhiều cấp quản lý trường học: cấp cao nhất là Bộ GD&ĐT, cơ quan quản lý hệ thống GD quốc dân bằng các biện pháp vĩ mô Có hai cấp trung gian quản lý trường học là Sở GD&ĐT ở tỉnh, thành phố và các Phòng GD ở các huyện, thành phố, nơi chỉ đạo và giám sát nhà trường thực hiện các chương trình
GD Cơ quan quản lý trực tiếp các hoạt động GD trong nhà trường là ban giám hiệu nhà trường
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang
có, tiến lên một trạng thái phát triển mới, bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng GD.Công tác QD trong nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động diễn
ra trong nhà trường và sự tác động qua lại giữa nhà trường với các hoạt động ngoài xã hội Quản lý nhà trường bao gồm các nội dung sau: Quản lý chương trình dạy, quản lý chương trình học và quản lý khâu hỗ trợ chương trình dạy, chương trình học như: quản lý cơ sở vật chất và thiết bị GD, quản lý việc bồi dưỡng GV, quản lý môi trường GD, quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của HS
Trang 241.2.2 Kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống
* Khái niệm kỹ năng sống
Có nhiều quan niệm khác về kỹ năng sống:
- Theo tổ chức Y tế thế giới ( WHO), KNS là khả năng để có hành vithích ứng và tích cực giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày
- Theo UNICEF, KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức hình thành thái độ KNS
- Theo UNESCO, KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là [13]:
+ Học để biết ( Learning to know) gồm các kĩ năngtư duy như: tư duy
phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả
+ Học làm người ( Learning to be) gồm kĩ năng cá nhân như: ứng phó
với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin
+ Học để sống với người khác ( Learning tolive together) gồm các kỹ
năng xã hội như: giao tiếp thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông:
+ Học để làm ( Learning to do) gồm các kỹ năng thực hiện công việc
và các nhiệm vụ như: kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm[10]
Phân tích và quan niệm trên cho thấy: Quan niệm của WHO nhấn mạnh đến khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi tích cực khi tương tác với người khác với môi trường của mình Quan niệm này mang tính chất khái quát nhưng chưa thể hiện rõ các kỹ năng
cụ thể, mặc dù khi phân tích sâu thì thì thấy tương đối gần với nội hàm KNS theo quan niệm của UNESCO Quan niệm của UNESCO là quan niệm nhiệm
vụ Còn quan niệm của UNICEF nhấn mạnh kỹ năng không hình thành, tồn tại một cách độc lập mà hình thành, tồn tại trong mối tương tác mật thiết có
sự cân với kiến thức và thái độ
Trang 25Kỹ năng mà một người có được phần lớn cũng nhờ có được kiến thức (ví dụ: muốn có kỹ năng thương lượng phải biết nội dung thương lượng) việc
đề cập thái độ cũng là mộtgóc nhìn hữu ích vì thái độ có tác động mạnh mẽ đến kĩ năng (ví dụ: thái độ kì thị khó làm cho một người thực hiện tốt kỹ năng biết thể hiện sự tôn trọng với người khác)
Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy KNS bao gồm một loạt các
kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của KNS là kĩ năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân
tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả
Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống
KNS là những kỹ năng tâm lý - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại
và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại… Kỹ năng sống đơn giản là tất cả điều cần thiết chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống
KNS là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúp giải quyết hoặc đáp ứng các nhu cầu cụ thể, trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của con người KNS bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duy trong não bộ của con người KNS có thể hình thành một cách tự nhiên, thông qua giáo dục hoặc rèn luyện của con người
KNS không phải tự nhiên có được mà phải hình thành dần trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống Quá trình hình thành KNS diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục
KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội, KNS mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân KNS mang tính xã hội vì KNS phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển lịch sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống
và văn hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc
* Giáo dục kĩ năng sống
Trang 26GDKNS cho HS là mô ̣t trong những nô ̣i dung, mục tiêu quan trọng của phong trào “Xây dựng trường ho ̣c thân thiê ̣n, học sinh tích cực Tuy nhiên, hiện nay, theo đánh giá của nhiều giáo viên: “Lỗ hỏng của nhiều HS hiê ̣n nay là thiếu KNS Viê ̣c GDKNS cho HS là vô cùng bức thiết không chỉ của nhà trường mà của toàn xã hội.”
GDKNS cho HS phải bảo đảm các yếu tố: giúp HS ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội; giúp HS hiểu biết về thể chất, tinh thần của bản thân mình; có hành vi, thói quen ứng xử có văn hoá, hiểu biết và chấp hành pháp luật…
Tuy nhiên, GDKNS để đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố chứ không phải chỉ từ các bài giảng KNS là cái có sau những trải nghiệm thực tế nên việc lồng ghép này sẽ không dừng lại ở mức giảng dạy lý thuyết mà sẽ cụ thể hóa thành từng trường hợp, hoàn cảnh và yêu cầu HS xử lý
GDKNS tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học
có cả kiến thức, giá trị , thái độ và kỹ năng thích hợp
Vì vậy GDKNS cho HS được biểu hiện là GD những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp các emcó thể tải những gì mình biết (nhận thức) những gì mình cảm nhận (thái độ) và những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng thực thụ giúp HS biết phải làm gì và làm như thế nào (hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống Trong chương trình GDKNS, không có khái niệm “vâng lời”, chỉ có khái niệm “lắng nghe”,
“đồng cảm”, “chia sẻ”
Mục tiêu của GDKNS là rèn luyện cách tư duy tích cực, hình thành thói quen tốt thông qua các hoạt động và bài tập trải nghiệm, chứ không đặt mục đích “rèn nếp” hay “nghe lời” Công dân toàn cầu là người biết suy nghĩ bằng cái đầu của mình, biết phân tích đúng sai, quyết định có làm điều này hay điều khác và chịu trách nhiệm về điều đó, chứ không tạo ra lớp công dân chỉ biết “biết nghe lời”
Trang 27Đây là sự khác biệt cơ bản của việc GDKNS với các môn học truyền thống như Đạo đức và Giáo dục công dân
1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 02 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ rõ: [11, tr3]
- Hoạt động GDKNS trong quy định này được hiểu là hoạt động GD giúp
cho người học hình thành và phát triển những thói quen, hành vi, thái độ tích cực, lành mạnh trong việc ứng xử các tình huống của cuộc sống cá nhân và tham gia đời sống xã hội, qua đó hoàn thiện nhân cách và định hướng phát triển bản thân tốt hơn dựa trên nền tảng các giá trị sống
- Hoạt động GDKNS không phải là hoạt động giáo dục ngoài giờ chính
khóa.Theo quy định của Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 02
năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì hoạt động giáo dục ngoài
giờ chính khóa được hiểu là HĐ GD đáp ứng nhu cầu người học không thuộc chương trình, kế hoạch GD do các cơ quan có thẩm quyền đã phê duyệt
- Hoạt động GDKNS và hoạt động GD ngoài giờ chính khóa góp phần củng cố, nâng cao kiến thức, kỹ năng, GD nhân cách cho người học; có nội dung phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý người học, phù hợp với thuần phong
mỹ tục Việt Nam
Quản lý HĐ GDKNS là hoạt động của cán bộ quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, HS và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để nâng cao GDKNS trong nhà trường
Quản lý HĐ GDKNS chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác GDKNS Đó chính là những hoạt động có ý thức, có
kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động GDKNS trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và dạy KNS cho HS
Từ đó có thể nói: “Quản lý HĐ GDKNS trong nhà trường được hiểu như
là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể
Trang 28quản lý đến tập thể giáo viên, HS, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động GDKNS của nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD và rèn luyện KNS cho HS đã đề ra”
Nói cách khác, Quản lí HĐ GDKNS cho HS chính là quản lí kế hoạch, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức; quản lý công tác kiểm tra đánh giá, sự phối hợp các lực lượngtrong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu các nhiệm vụ GD kỹ năng sống ở HS
1.3 Giáo dục kỹ năng sống trong trường Trung học cơ sở
1.3.1 Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của trường Trung học cơ sở
Luật giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mục 2 - Điều 26 quy định: Giáo dục phổ thông: Giáo dục tiểu học, Giáo dục trung học cơ sở, Giáo dục trung học phổ thông [8]
- GD THCS được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín HS vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một tuổi (Điều 26)
- Điều 27 - Mục tiêu của GD phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc GD THCS nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của GD tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
- Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THCS:
+ Tổ chức giảng dạy, học tập và HĐ GD đạt chất lượng theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành
+ Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ
Trang 29em đã bỏ học đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng Nhận bảo trợ và giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lí các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình THCS cho HS trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn trường được phân công phụ trách
+ Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ GD&ĐT
và nhiệm vụ phát triển GD của địa phương
+ Thực hiện kiểm định chất lượng GD
+ Quản lí cán bộ, giáo viên, nhân viên và HS
+ Quản lí, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật
+ Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động giáo dục
+ Tổ chức cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và HS tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng
+ Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.3.2 Giáo dục kỹ năng sống trong trường Trung học cơ sở
Tuổi HS THCS (từ lớp 6 đến lớp 9) là các em có tuổi từ 11-15 tuổi Đây là lứa tuổi có một vị trí quan trọng đặc biệt trong thời kỳ phát triển của con người Ở lứa tuổi này có sự tồn tại song song "vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn" Các em có cảm giác về sự trưởng thành và rất chú ý đến bản thân Điều quan trọng và có ý nghĩa lớn đối với các em HS THCS là cha mẹ không còn coi các em là bé nhỏ nữa mà đã quan tâm đến ý kiến của các em hơn, dành cho các em những quyền sống độc lập hơn, đề ra những yêu cầu cao hơn, các em được tham gia bàn bạc một số công việc của gia đình và đã biết quan tâm đến việc xây dựng bảo vệ uy tín của gia đình Những thay đổi đó đã làm cho các em ý thức được vị thế của mình trong gia đình và động viên kích thích các em hoạt động tích cực, độc lập, tự chủ [20]
Trang 30Ở trường THCS HS được tiếp xúc với nhiều môn học khác nhau có nội dung trừu tượng, sâu sắc và phong phú hơn do đó đòi hỏi các em phải có sự thay đổi về cách học Sự phong phú về tri thức của từng môn học làm cho khối lượng tri thức các em lĩnh hội được tăng lên nhiều, tầm hiểu biết của các
em được mở rộng Các em được học với nhiều thầy, nhiều bạn và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân cách, phong cách xử thế khác nhau Các em còn được tham gia vào nhiều dạng hoạt động trong nhà trường như: lao động, hoạt động ngoại khoá, văn nghệ, thể dục thể thao, Hoạt động học tập và các hoạt động khác của HS THCS đòi hỏi và thúc đẩy các em có thái độ tích cực và độc lập hơn, tạo điều kiện cho các em thoả mãn nhu cầu giao tiếp của mình
Ở lứa tuổi này các em được thừa nhận như một thành viên tích cực trong xã hội và được giao một số công việc nhất định trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: tuyên truyền, cổ động, giữ trật tự đường phố, giúp đỡ gia đình thương binh liệt sĩ, Các em đã nhận thức được rằng công tác xã hội là một việc làm của người lớn và có ý nghĩa lớn lao, do đó được làm các công việc xã hội là thể hiện mình đã là người lớn và các em muốn được thừa nhận mình là người lớn Tham gia công tác xã hội làm cho quan hệ của HS THCS được mở rộng, kinh nghiệm cuộc sống phong phú hơn [20]
Sự phát triển tự ý thức của HS THCS đã giúp các em bắt đầu có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm của mình, xuất hiện ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng Các em đã có khả năng đánh giá về mặt mạnh, mặt yếu của bản thân mình và những người xung quanh, có những biện pháp kiểm tra đánh giá
sự tự ý thức của bản thân, bước đầu nhận thức được vị trí của mình trong xã hội hiện tại Mặt khác ở lứa tuổi này các em rất hiếu động, nhu cầu giao tiếp lớn, quan hệ giao tiếp đã bắt đầu mở rộng, các em đã được tiếp thu các chuẩn mực trong xã hội, tiếp thu các tri thức về khoa học tự nhiên, xã hội Các em bắt đầu muốn làm người lớn nhưng chưa có kinh nghiệm, các em thường quá tự tin, muốn tự khẳng định mình nên ở lứa tuổi này thường xuất hiện các hành vi: hay cãi lại, bắt đầu tự tìm hiểu, không nghe theo lời khuyên của bố mẹ, thầy cô, có
Trang 31thể có những phản ứng như: phá phách, bướng bỉnh có khi rất mạnh mẽ và tiêu cực Do đó, rất cần có một môi trường tốt, hoạt động phù hợp với sở thích, với năng lực của các em để giúp các em tự khẳng định mình đồng thời tránh được những tác động xấu của môi trường
GDKNS cho HS là nhiệm vụ rất cần thiết bởi KNS giúp các em phát triển hài hoà, toàn diện về nhân cách và phương thức GDKNS, rất phù hợp với đặc điểm tâm lý HS THCS Với HS THCS - đây là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song chưa
có những hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống GDKNS thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực ở các em
Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu sự tác động đan xen của những yếu tố tích cực
và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực Do đó việc GDKNS cho thế hệ trẻ sẽ giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và cộng đồng, có khả năng ứng phó tích cực trước sức ép của cuộc sống và sự lôi kéo, tác động của những yếu tố xấu, giúp các
* Quản lý hoạt động GDKNS trong dạy học
Hoạt động dạy học là quá trình thống biện chứng giữa GV và HS, dưới tác động tổ chức điều khiển của GV, HS tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đặt ra, tổng hợp thành quả các bài học, các môn học, các mặt giáo dục, HS hình thành được nhân cách của bản thân thông qua kiến thức, kỹ năng, thái độ với các
Trang 32hiện tượng của đời sống thực tiễn Quản lý HĐ GDKNS trong các HĐ dạy học chính là quản lý việc thực hiện các nội dung trong chương trình có liên quan đến việc GDKNS; Quản lý phương pháp dạy học của GV giúp HS không chỉ nắm vững, nắm chắc nội dung bài học mà còn nhận thức được các giá trị đạo đức và nhân văn cao cả, hình thành các thái độ, hành vi ứng xử tốt đẹp trong cuộc sống; Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS không chỉ đơn thuần là chú trọng đến việc nắm kiến thức của HS mà còn quản lý việc đánh giá thông qua hành vi, thái độ mà HS lĩnh hội được thông qua bài học Nói cách khác quản lý HĐ GDKNS trong các HĐ dạy học trên
cả ba phương diện: kiến thức, thái độ và hành vi
* Quản lý HĐ GDKNS trong các hoạt động giáo dục
Quá trình GDKNS cho HS là quá trình tác động bền bỉ, lâu dài bằng nhiều con đường khác nhau Ngoài việc GDKNS thông qua HĐ dạy học, việc GDKNS còn được thông qua HĐ GD Nhà trường phải quản lý từ việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo việc thực thi kế hoạch, đôn đốc, kiểm tra đánh giá sát sao; chỉ đạo phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đoàn thanh niên, với GVCN lớp, GV phụ trách các HĐ GDNGLL, lao động hướng nghiệp, GV giảng dạy bộ môn, phối hợp với các lực lượng xã hội như hội CMHS và hội khuyến học, với chính quyền địa phương trên địa bàn tuyển sinh nhà trường và nơi HS cư trú, công an, Đoàn thanh niên, Trung tâm sức khỏe sinh sản nhằm tổ chức các trương trình giáo dục chuyên về KNS
* Quản lý hoạt động của đội ngũ giáo viên tham gia GDKNS cho HS THCS
Để quá trình GDKNS cho HS đạt hiệu quả, nhà trường cần xây dựng phương hướng chỉ đạo theo một kế hoạch thống nhất, nhằm động viên và phát huy tối đa khả năng của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tạo nên sức mạnh tổng thể trong quá trình GDKNS Trong nhà trường THCS, nhà trường cần quản lý chỉ đạo phối hợp tốt các lực lượng sau:
+ Quản lý các hoạt động tích hợp GDKNS vào môn học của GV
Từ kiến thức lý thuyết của bài giảng đến thực tế cuộc sống là quãng
Trang 33đường khá xa, một giờ học trên lớp chỉ có 45', vì vậy để tích hợp được nội dung GDKNS, KNS vào bài giảng, đòi hỏi người GV giảng dạy bộ môn phải linh hoạt khéo léo điều khiển giờ dạy, thầy trò cùng tích cực làm việc để có thể truyền tải và lĩnh hội đầy đủ nội dung kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng, vừa thông qua kiến thức của bài học để biết lắng nghe, chia sẻ với người khác, kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng tư duy sang tạo, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thích ứng xã hội Như vậy vai trò của GV bộ môn là hết sức quan trọng trong công tác GDKNS cho HS, nhưng việc tích hợp GDKNS vào môn học còn là lập kế hoạch chi tiết, cụ thể cho HĐ còn phải tổ chức tập huấn, hội thảo, tọa đàm để nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ GV, đồng thời phân cấp quản lý cho đội ngũ tổ trưởng, tổ phó, nhóm trưởng chuyên môn để thống kê việc tích hợp GDKNS vào từng chương, từng bài cụ thể Tổ chức làm điểm, rút kinh nghiệm chung và triển khai đại trà Theo dõi sát sao việc thực hiện tích hợp vào bài dạy của đội ngũ giáo viên, đánh giá giờ dạy và kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện của HS
+ Quản lý hoạt động GDKNS cho HS của GVCN
GVCN là người gần gũi nhất với các em HS, GVCN cũng chính là những người bạn tâm tình chia sẻ tâm tư tình cảm với các em HS, là người tổ chức cho các em hoạt động tập thể, là cố vấn cho các hoạt động Đoàn GVCN cần sáng tạo rèn luyện KNS trong các HĐ tập thể, các giờ sinh hoạt lớp theo một kịch bản linh hoạt GVCN phát huy các phương pháp GD truyền thống, chủ động và tích cực, cởi mở tiếp thu cái mới, chủ động kết hợp với các phương pháp tích cực
Trong nhà trường, người GVCN chính là vị thủ lĩnh tinh thần làm điểm tựa để tạo ra một tập thể lớp năng động, sáng tạo, biết học hết mình và chơi hết mình Một tập thể lớp năng động sẽ tạo ra rất nhiều thành viên năng động sáng tạo, chính vì vậy mà GVCN đóng vai trò thổi lửa để các em tự khẳng định được mình Với vai trò đó GVCN sẽ tạo ra được động lực thi đua, tạo môi trường thân thiện giữa thầy, cô và trò, giữa các thành viên trong tập thể,
Trang 34giữa tập thể lớp với tổ chức Đoàn, với hội CMHS Như vậy việc GDKNS thông qua HĐ của GVCN sẽ giúp hoàn thiện nhân cách cho các em HS, tạo cho các em tự tin hơn khi bước vào tương lai Người GVCN là lực lượng quan trọng tham gia HĐ GDKNS cho HS
Để đội ngũ GVCN lớp thực thi tốt nhiệm vụ của mình, nhà quản lý cần chỉ đạo GVCN căn cứ kế hoạch tổng thể của nhà trường xây dựng kế hoạch giáo GDKNS phù hợp với từng khối lớp, triển khai kế hoạch và tổ chức HĐ cho
HS, quản lý phát huy hiệu quả của giờ sinh hoạt lớp, đôn đốc, kiểm tra đánh giá thi đua kết quả rèn luyện của HS bằng các tiêu chí cụ thể
+ Quản lý HĐGDKNS của các tổ chức Đoàn, Đội trong trường THCS
Tổ chức Đoàn thanh niên trong nhà trường là nơi đoàn kết, tập hợp thanh niên, tham gia các hoạt động tập thể, Đoàn có nhiệm vụ GD chính trị tư tưởng, GD lý tưởng XHCN cho đoàn viên, GD luật pháp, lối sống, nếp sống, giáo dục về khoa học kỹ thuật công nghệ, về dân số, sức khỏe, môi trường
GD về phát huy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc GD truyền thống Cách mạng, truyền thống lịch sử dân tộc, tự hào với các thế hệ cha anh đi trước từ
đó có trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường và cả cộng đồng
Bên cạnh việc GD chính trị tư tưởng Đoàn còn tổ chức nhiều phong trào hành động cách mạng cụ thể, thiết thực đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của tuổi trẻ Các phong trào hành động cách mạng của Đoàn là nơi để tuổi trẻ nhàtrường xây dựng cho mình nền tảng giá trị sống vững chắc rèn luyện kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng phòng vệ khơi dậy trong Đoàn viên thanh niên tinh thần tình nguyện của tuổi trẻ, dám nhận những nhiệm vụ khó khăn, dám đón nhận sự hy sinh gian khổ từ đó hình thành ý thức trách nhiệm của người thanh niên với cộng đồng xã hội
Bằng các hoạt động tích cực và các phong trào hành động cách mạng Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thực sự là nơi để tuổi trẻ nhà trường rèn luyện, cống hiến và trưởng thành
Để nâng cao được hiệu quả HĐ GDKNS trong hoạt động của Đoàn
Trang 35thanh niên Nhà quản lý cần nhận thức đẩy đủ các yếu tố có ảnh hưởng tới việc GDKNS ở Đoàn viên thanh niên nhà trường, từ đó có những biện pháp quản lý để tác động vào những yếu tố tích cực, phát huy có hiệu quá GD, khắc phục và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực Đồng thời quản lý tốt các giờ sinh hoạt chi đoàn, các tiết chào cờ đầu tuần, các hoạt động chủ điểm, chủ
đề nhân các ngày lễ lớn trong năm, các hoạt động phối hợp với CMHS, với GVCN, GV bộ môn, với các tổ chức tập thể và cá nhân trong và ngoài nhà trường Chỉ đạo đoàn thanh niên xây dựng các tiêu chí đánh giá xếp loại thi đua về mức độ tham gia hoạt động của các chi đoàn
+ Quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục khác
Để tạo nên sức mạnh tổng thể trong công tác giáo dục đạo đức cho HS nói chung và giáo dục KNS cho các em nói riêng, nhà trường cần huy động các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia vào quá trình giáo dục như Hội cha mẹ HS, các cấp ủy Đảng, chính quyền nơi HS cư trú, các cơ quan đoàn thể trên địa bàn tuyển sinh như Công an, Y tế, Đoàn Có như vậy nhân cách và lý tưởng sống của các em được giáo dục và rèn luyện ở mọi lúc, mọi nơi, đồng thời giúp các em củng cố bổ sung và nâng cao thêm hiểu biết
về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, hoàn thiện cáctri thức đã được học trên lớp, mở rộng nhãn quan với thế giới xung quanh, biết vận dụng những tri thức đã học để giải quyết các vấn đề do đời sống thực tiễn đặt ra Chính vì vậy để công tác GDKNS cho HS nhà trường đạt hiệu quả cao nhà trường cần tạo dựng được sự chung tay ủng hộ và tham gia của các lực lượng
xã hội trong và ngoài nhà trường
1.4.1 Xây dựng kế hoạch hoạt độnggiáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở
Xây dựng kế hoạch hoạt động là một bộ phận quan trọng trong nội dung quản lý HĐ GDKNS Kế hoạch được lập cho một thời kỳ ngắn chính là
sự sắp xếp công việc cụ thể cho một thời gian nhất định: tuần, tháng, học kỳ, năm học Kế hoạch HĐ GDKNS là trình tự những nội dung HĐ, hình thức tổ
chức hoạt động được bố trí, sắp xếp theo thứ tự thời gian của năm học
Trang 36Quản lý về kế hoạch HĐ GDKNS bao gồm: quản lý việc xây dựng kế hoạch HĐ thường xuyên, kế hoạch HĐ theo chủ điểm, kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GV, kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất cũng như các điều kiện thực hiện,
kế hoạch phối hợp với các lực lượng GD, kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả
HĐ KNS
Để quá trình GDKNS cho HS đạt hiệu quả, nhà trường cần xây dựng phương hướng chỉ đạo theo một kế hoạch thống nhất, nhằm động viên và phát huy tối đa khả năng của các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường để
tạo nên sức mạnh tổng thể trong quá trình GDKNS
1.4.2 Tổ chức hoạt độnggiáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở
Tổ chức quá trình dạy học, GDKNS trong nhà trường đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và yêu cầu quản lý Nhà nước về GD đối với nhà trường Phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội trong và ngoài trường tập trung vào việc thực hiện nhiệm vụ GD của nhà trường Thực hiện nội dung giảng dạy đúng chương trình, lồng ghép GDKNS vào mỗi bài, mỗi chủ đề môn học Tổ chức cải tiến phương pháp dạy học, quán triệt các thành tựu đổi mới về phương pháp dạy học
1.4.3 Chỉ đạo hoạt độnggiáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở
Một mặt, chú trọng việc bồi dưỡng giáo viên trẻ, khuyến khích GV tự học, tự bồi dưỡng Xây dựng tập thể sư phạm nhà trường có động cơ và ý chí tự học, tự giáo dục Mặt khác, tăng cường các hoạt động ngoại khóa, vui chơi, giao lưu của HS để thông qua các hoạt động đó GD giá trị sống cho HS được trải nghiệm và hình thành những kỹ năng sống thiết yếu cho bản thân Có hình thức giúp đỡ, tương trợ HS nghèo vượt khó trong học tập; bồi dưỡng HS giỏi, thực hiện tốt công tác hướng nghiệp cho HS, chú ý kết hợp GD và lao động sản xuất trong nhà trường Hướng cho HS yêu thích và thực hiện các nghiên cứu tự nhiên, xã hội ở địa phương phù hợp với nội dung GD và trình độ của HS
1.4.4 Kiểm tra đánh giáhoạt độnggiáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở
Việc kiểm tra, đánh giá HĐ GDgiá trị sống, KNS góp phần đánh giá
Trang 37chất lượng GD nhưng trong nhà trường, qua kiểm tra đánh giá CBQL nhà trường đánh giá mức độ thực hiện của đội ngũ GV, mức độ hưởng ứng tham gia của HS, quá trình thực hiện trong nhà trường diễn ra có đảm bảo kế hoạch hay không, đó là cơ sở để CBQL nhà trường xây dựng chiến lược GD về mục
tiêu, nội dung, đội ngũ, phương pháp và hình thức tổ chức HĐ
Để việc đánh giá đạt mục tiêu đề ra, CBQL cần phải bám sát vào những nội dung đánh giá, các mức đánh giá, sử dụng các hình thức đánh giá
phù hợp và tuân theo một quy trình đánh giá khoa học
UNESCO ủng hộ nguyên tắc: Đánh giá chất lượng GD phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các KNS và tác động của KNS đối với xã hội và cá nhân
Tuy nhiên, việc đó tác động của GDKNS cần phải xem chương trình đó
có đạt mục tiêu ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, kỹ năng và hành vi của nhóm hưởng lợi hay không? GDKNS trước hết phải được đánh giá ở 3 mức độ:
+ Kết quả ngắn hạn: Thể hiện ở kết quả hình thành các kỹ năng của người học (ví dụ: Biết ra quyết định, biết thể hiện kỹ năng kiên định)
+ Kết quả trung hạn: Thể hiện ở sự thay đổi hay sự lưu giữ được những hành vi hiện tại của người học (ví dụ: Không sử dụng tài liệu trong thi cử, không hút thuốc lá, bỏ nói tục, chửi bậy)
+ Kết quả dài hạn: Đạt được các mục tiêu của chương trình, thay đổi về thực trạng hoặc có những kết quả về mặt xã hội (như là: giảm hiện tượng bạo lực học đường, hiện tượng mang thai sớm, hiện tượng tai nạn giao thông)
Bên cạnh đó cần quản lý tốt cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học của nhà trường Quản lý công tác tài chính trường học theo đúng quy chế đã ban hành
và thực sự tạo ra sự thúc đẩy cho mục tiêu phát triển nhà trường Tạo dựng
"môi trường sư phạm thân thiện", cảnh quan nhà trường "xanh - sạch - đẹp", đáp ứng yêu câu thực hiện các mục tiêu GD rèn luyện phát triển nhân cách HS
1.4.5 Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí phục vụhoạt động giáo dục kĩ năng sống
* Về tài liệu, sách tham khảo
Trang 38Cũng như trong dạy học các môn văn hóa, HĐ GDKNS cần có tài liệu
để hoạt động đạt hiệu quả GD mong muốn Trên thực tế, đại đa số GV nhà trường chưa được đào tạo một cách căn bản về GDKNS, phương tiện, tài liệu dành cho hoạt động này còn thiếu thốn nhiều, vì vậy, ngoài việc giao trách nhiệm cho GV, nhà trường cũng thường xuyên tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng nâng cao kỹ năng và nghiệp vụ tổ chức HĐ cho GV, động viên khích
lệ tinh thần và có chế độ thỏa đáng kịp thời, từ đó khơi dậy lòng nhiệt tình và
ý thức trách nhiệm trong họ, có như vậy tính hiệu quả của hoạt động mới cao
Trong thư viện của nhà trường cần phải có đầy đủ các loại sách tham khảo bổ trợ các môn học, sách GD đạo đức, pháp luật để GV lựa chọn nội dung cho các hoạt động
* Về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
HĐ GDKNS rất cần có cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật để hoạt động đạt được hiệu quả giáo dục mong muốn Điều kiện tổ chức và phương tiện tốt sẽ làm tăng tính hấp dẫn của hoạt động Thiết bị tối thiểu để tổ chức các hoạt động là: âm ly, loa đài, đầu video, đàn, dụng cụ thể thao và kinh phí
HĐ Trong khi kinh phí dành cho HĐ không nhiều thì việc GV cần có ý tưởng sáng tạo, tìm tòi các phương tiện phù hợp với điều kiện của lớp, của trường là rất cần thiết Về phía nhà trường ngoài việc quản lý tận dụng những CSVC hiện có để phát huy hiệu quả GD của HĐ, cần phải tiết kiệm, cân đối nguồn ngân sách được giao hàng năm để mua sắm thêm CSVC, tài liệu cho
HĐ, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của hội CMHS, của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn, hỗ trợ cho HĐ
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống trong trường Trung học cơ sở
1.5.1 Mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục
* Mục tiêu quản lý HĐ GDKNS cho HS THCS là quản lý các HĐ GD
trong nhà trường kể cả hoạt động dạy học nhằm thay đổi nhận thức và hành
vi của HS từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực
Trang 39thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực, có hiệu quả để nâng cao chất lượng GD và chất lượng cuộc sống
Mục tiêu quản lý HĐ GDKNS cho HS THCS là hướng tới quản lý các hoạt động dạy học và hoạt động GD giúp HS hình thành các khả năng tâm lý
xã hội, để HS nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc, biết tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại, củng cố mở rộng kiến thức đã học với đời sống thực tiễn, củng cố các kỹ năng, hình thành và phát triển các năng lực chủ yếu Năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực tổ chức, quản lý, hợp tác và cạnh tranh, năng lực HĐ chính trị xã hội giải quyết tốt các vấn đề của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân
* Yêu cầu về nội dungvà phương pháp GD phổ thông nói chung và của
THCS nói riêng
- Về nội dung giáo dục: bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp, có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi HS, đáp ứng mục tiêu ở mỗi cấp học Trong đó, giáo dục THCS phải bảo đảm cho HS có hiểu biết, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về giáo dục đạo đức - ý thức công dân, văn hóa - thẩm mỹ, lao động hướng nghiệp, thể chất - quân sự
- Về phương pháp: giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.”
1.5.2 Đặc điểm phát triển tâm sinh lý của học sinh Trung học cơ sở
Trang 40cùng độ tuổi, nhưng đến 18, 20 tuổi thì sự phát triển chiều cao lại dừng lại Các
em nam ở độ tuổi 15, 16 tuổi thì cao đột biến, vượt các em nữ và đến 24, 25 tuổi
mới dừng lại.Trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng từ 2,4 đến 6 kg [20, tr.89-94]
- Sự phát triển hệ xương như các xương tay, xương chân rất nhanh,
nhưng xương ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm Vì vậy ở lứa tuổi này các em không mập béo, mà cao, gây thiếu cân đối, các em có lóng ngóng vụng về, không khéo léo khi làm việc, thiếu thận trọng hay làm đổ vỡ …
Điều đó gây cho các em một biểu hiện tâm lý khó chịu
- Sự phát triển của hệ thống tim mạch cũng không cân đối Thể tích của tim tăng rất nhanh, hoạt động của tim mạnh mẽ hơn, nhưng kích thích của mạch máu lại phát triển chậm Do đó có một số rối loạn tạm thời của hệ tuần hoàn, tăng huyết áp, tim đập nhanh, hay nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi
em trai vào khoảng 15,16 tuổi, các em gái khoảng 13,14 tuổi.Đến 15, 16 tuổi giai đoạn phát dục đã kết thúc, có thể sinh đẻ được, tuy nhiên các em chưa trưởng thành về mặt cơ thể và đặc biệt là sự trưởng thành về mặt xã hội Chính vì thế các nhà khoa học cho rằng ở lứa tuổi HS THCS không có
sự cân đối giữa sự phát dục, giữa bản năng tương ứng, những tình cảm và ham muốn đợm màu sắc tình dục với mức độ trưởng thành về mặt xã hội và