Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây dựng cho học sinh những tính cách nhất định và bồi dưỡng cho các em những quy tắc hành vi thể hiện trong thá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC -
NGUYỄN THỊ NGUYỆT ANH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
VŨ VĂN HIẾU, THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Quốc Bảo
HÀ NỘI - 2016
Trang 2Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của mình tới PGS.TS Đặng Quốc Bảo, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt
quá trình thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các đồng chí cán bộ giáo viên, các bác phụ huynh và các em học sinh trường THPT Vũ Văn Hiếu đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp số liệu, cho ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình khảo nghiệm thực tế
Trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, của các quý thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25/11/2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Nguyệt Anh
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTĐTN Bí thư đoàn thanh niên
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 7
1.2 Khái niệm cơ bản của đề tài 9
1.2.1.Quản lý 9
1.2.2 Quản lý giáo dục 12
1.2.3.Quản lý nhà trường phổ thông 13
1.2.4.Đạo đức 15
1.2.5 Ý thức pháp luật 17
1.3 Đạo đức và cái đích tối thiểu của giáo dục đạo đức là hình thành ý thức pháp luật 20
1.3.1 Mục tiêu của giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật 20
1.3.2 Chức năng của giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật 20
1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật 21
1.3.4 Phương pháp giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật 22
1.4 Vấn đề cơ bản của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh THPT 23
1.4.1 Mục tiêu 24
1.4.2 Nội dung 25
1.4.3 Phương pháp 28
Trang 51.4.4 Điều kiện 28
1.5 Những yêu cầu quản lý đối với hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh trường THPT Error! Bookmark not defined 1.5.1 Kế hoạch hóa Error! Bookmark not defined 1.5.2.Tổ chức hiện thực kế hoạch Error! Bookmark not defined 1.5.3 Chỉ đạo điều phối Error! Bookmark not defined 1.5.4 Giám sát, kiểm tra Error! Bookmark not defined Tiểu kết chương 1 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC / Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT VŨ VĂN HIẾU, THÀNH PHỐ HẠ LONG , TỈNH QUẢNG NINH 33
2.1 Khái quát đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh 33
2.1.1 Vài nét về đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Hạ Long 33
2.1.2 Tình hình giáo dục của thành phố Hạ Long 34
2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh Trường THPT Vũ Văn Hiếu 36
2.2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh Trường THPT Vũ Văn Hiếu 36
2.2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh Trường THPT Vũ Văn Hiếu 38
2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh / ý thức pháp luật cho học sinh trường THPT Vũ Văn Hiếu 43
2.3.1 Xây dựng kế hoạch 43
2.3.2.Tổ chức thực hiện 45
2.3.3.Chỉ đạo điều phối 45
2.3.4 Giám sát, kiểm tra 46
2.4 Đánh giá chung 47
2.4.1 Ưu điểm và thuận lợi 47
Trang 62.4.2 Khuyết điểm và khó khăn 48
2.4.3 Nguyên nhân 50
Tiểu kết chương 2 53
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC/Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT VŨ VĂN HIẾU, THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 54
3.1 Đổi mới giáo dục và nguyên tắc đề xuất biện pháp biện pháp 54
3.1.1 Định hướng đổi mới giáo dục 54
3.1.2 Nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ 55
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 55
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 55
3.1.5 Nguyên tắc tính hiệu quả 55
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Vũ Văn Hiếu 56
3.2.1 Quán triệt các chỉ thị giáo dục đạo đức/ ý thức pháp luật của Đảng, Nhà nước vào nội dung hoạt động của nhà trường 56
3.2.2 Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh phù hợp với tình hình nhà trường 57
3.2.3 Tổ chức nâng cao nhận thức, vai trò trách nhiệm của các thành viên, các tổ chức trong nhà truờng về hoạt động giáo dục đạo đức/ý thức pháp luật cho học sinh 60
3.2.4 Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm và các bộ phận hữu quan trong nhà trường thực hiện kế hoạch đặt ra 63
3.2.5 Giám sát, kiểm tra, xác định hiệu quả, kịp thời biểu dương gương tốt và việc tốt, chấn chỉnh các yếu kém thực hiện giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh 66
3.2.6 Tăng cường cung ứng các điều kiện vật chất và tinh thần cho mục tiêu đề ra 71
3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp 73
Trang 7Tiểu kết chương 3 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
1.Kết luận: 78
2 Khuyến nghị: 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 83
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Đối tượng khảo sát thực trạng 37 Bảng 2.2- Bảng thăm dò ý kiến của học sinh về sự cần thiết của GDĐĐ / YTPL 38 Bảng 2.3-Nhận thức của học sinh về các phẩm chất đạo đức / ý thức pháp luật cần giáo dục cho học sinh THPT hiện nay 39 Bảng 2.4: Mức độ vi phạm nội qui của học sinh THPT Vũ Văn Hiếu 40 Bảng 2.5: Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh trong 3 năm gần đây 42 Bảng 2.6 : Thực trạng việc xây dựng kế hoạch GDĐĐ / ý thức pháp luật cho học sinh của CBQL, GV ở trường THPT Vũ Văn Hiếu 43 Bảng 2.7 : Thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục đạo đức/ ý thức pháp luật cho học sinh trường THPT Vũ Văn Hiếu 45 Bảng 2.8 : Thực trạng kiểm tra đánh giá giáo dục đạo đức/ ý thức pháp luật cho học sinh trường THPT Vũ Văn Hiếu 46 Bảng 3.1 Khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp quản lý được đề xuất 75 Bảng 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý được đề xuất 76
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội càng phát triển con người càng phải hoàn thiện, một con người
hoàn thiện về nhân cách là con người không chỉ có tài mà cần phải có cả đức Nhân cách của con người muốn được xây dựng và phát triển cần bắt đầu ngay
từ khi mới sinh ra và đặc biệt là trong giai đoạn ngồi trên ghế nhà trường Có thể nói, việc hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức, tri thức cho thế
hệ trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, đây cũng là một trong những nhiệm vụ của nhà trường nói riêng, của ngành giáo dục nói chung cần phải thực hiện Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây dựng cho học sinh những tính cách nhất định và bồi dưỡng cho các em những quy tắc hành vi thể hiện trong thái độ với bạn bè, gia đình, người khác và đối với Nhà nước, Tổ quốc Đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa không chỉ là thành phần quan trọng về cơ bản của giáo dục mà là mục đích của toàn bộ công tác giáo dục thế hệ trẻ Trong giáo dục không những có kiến thức mà phải có đạo đức Vì vậy công tác giáo dục trước tiên phải đặt chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho học sinh, coi đó là cái căn bản, cái gốc cho sự phát triển nhân cách Khi nói đến nhân cách của việc
học trong chế độ mới chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Bây giờ phải học; học để yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức”
Học để có đạo đức, để hành động có đạo đức, để yêu đạo đức Đó là một tư tưởng lớn của thời đại, một định hướng đúng đắn và quan trọng của nền giáo dục hiện đại Ngày nay, với những thành tựu vĩ đại của cách mạng khoa học và kỹ thuật, con người nắm trong tay những tư tưởng và khoa học hết sức hùng hậu, có giá trị và sức sáng tạo cực kỳ lớn lao đồng thời cũng có sức tàn phá và hủy diệt thật kinh khủng Bước tiến phi thường đó của xã hội loài người đòi hỏi mỗi con người, mỗi dân tộc nhất thiết phải có tâm hồn và đạo đức trong sáng của lòng nhân ái
Trang 10Công cuộc đổi mới xã hội hiện nay ở nước ta cũng nhằm tiếp tục nhân đạo hóa các quan hệ giữa người và người, giữa người và môi trường sống, làm cho những nguyên tắc của nền đạo đức mới được khẳng định trong các chính sách và chủ trương, trong các hoạt động và quan hệ xá hội Đồng thời chính sự nghiệp đổi mới cũng đòi hỏi xuất hiện những con người có phẩm chất đạo đức đầy đủ
để đưa sự nghiệp đó tiến lên đúng hướng và thu được nhiều kết quả Thái độ đặc
biệt coi trọng nhân cách đã được Hồ Chủ Tịch dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó” Đức là nền tảng
tạo đà cho tài phát triển, tài làm cho đức phát triển toàn diện vững chắc làm gia tăng các giá trị xã hội cho mỗi người
Người Việt Nam từ xưa đã có biết bao truyền thống tốt đẹp Truyền thống tôn sư trọng đạo được người Việt Nam tôn vinh, người thầy được kính trọng và đề cao Song, do sự du nhập của nhiều nguồn văn hóa không lành mạnh và do cơ chế thị trường kinh tế chạy theo lợi nhuận thì việc giáo dục đạo đức có ít nhiều ảnh hưởng Trước đây trong các trường học, hiện tượng
vô lễ với giáo viên, nói tục chửi bậy là rất hiếm, ý thức kỷ luật của học sinh rất tốt, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái là rất cao Trong gia đình con cháu yêu thương ông bà, cha mẹ:
“Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
Song cũng thật đáng buồn là hiện nay chất lượng đạo đức đang bị suy giảm xuống trông thấy, trong các nhà trường hiện tượng vô lễ, nói tục chửi bậy tăng lên, phong trào học tập đi xuống, hiện tượng lười học, chán học tăng vọt, truyền thống tôn sư trọng đạo bị chà đạp Ngoài xã hội xuất hiện nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội gia tăng và tràn lan khắp mọi nơi Có những gia đình cha mẹ mải chạy theo cơn lốc xoáy của kinh tế thị trường, bị cuốn theo tiền tài danh vọng mà quên đi trách nhiệm giáo dục con cái và chính sự thiếu quan tâm giáo dục của gia đình làm cho chúng trở thành những đứa con bất hiếu,đạo đức bị giảm sút
Trang 11Đánh giá thực tra ̣ng giáo du ̣c, đào ta ̣o Nghị quyết TƯ 2 khóa VIII nhấn mạnh: “Đă ̣c biê ̣t đáng lo nga ̣i là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n ho ̣c sinh , sinh viên có tình tra ̣ng suy thoái về đa ̣o đức, mờ nha ̣t về lý tưởng, theo lối sống thực du ̣ng, thiếu hoài bão lập thân, lâ ̣p nghiê ̣p vì tương lai của bản thân và đất nước Trong những năm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức công dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh… tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp với lứa tuổi và với yêu cầu giáo dục toàn diện”
Trường THPT Vũ Văn Hiếu thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh cũng không đứng ngoài thực tra ̣ng đó Trong những năm qua, nhiều gia đình, cha
mẹ mải làm ăn, lo kiếm tiền, không chăm lo đến sự học hành, đời sống của con trẻ
Bên cạnh đó sự phát triển của các hàng quán trò chơi từ đánh xèng, bi
A, games, chát…để móc tiền học sinh Số thanh niên đã ra trường không có việc làm thường xuyên tụ tập, lôi kéo học sinh bỏ học tham gia hút thuốc, uống rượu, ma tuý, trộm cắp, cắm quán, đánh nhau và nhiều tệ nạn khác, làm cho số học sinh yếu về rèn luyện đạo đức của trường ngày càng tăng
Từ những lý do khách quan , chủ quan như đã phân tích tôi lựa chọn đề
tài: “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trường THPT
Vũ Văn Hiếu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” để nghiên cứu luận
văn thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Qua viê ̣c nghiên cứu lý luâ ̣n v à khảo sát thực trạng qu ản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Vũ văn Hiếu thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh, đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh của nhà trường
3.Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1.Khách thể nghiên cứu
Trang 12Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trường THPT Vũ Văn Hiếu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
4 Phạm vi nghiên cứu
- Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trường THPT
Vũ Văn Hiếu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh của hiệu trưởng từ năm
2012 đến năm 2015
- Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, phụ huynh và học sinh trường THPT Vũ Văn Hiếu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
5 Câu hỏi nghiên cứu
Vai trò của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh như thế nào? Và cần những biện pháp quản lý như thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Trường THPT Vũ Văn Hiếu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
6 Giả thuyết nghiên cứu
Việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trường THPT
Vũ Văn Hiếu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh còn có những hạn chế Nếu thực hiện được những biện pháp quản lý hợp lý sẽ nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh của nhà trường
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Xác định cơ sở khoa học của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông
7.2 Khảo sát, đánh giá, phân tích thực tra ̣ng vi ệc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trường THPT Vũ Văn Hiếu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 137.3 Đề xuất biê ̣n pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Vũ Văn Hiếu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu, văn bản liên quan đến đề tài
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi ; Phương pháp quan sát các hoạt động giáo dục đạo đức của nhà trường; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
trường THPT
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức/ý thức pháp luật
cho học sinh trường THPT Vũ Văn Hiếu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức/ý thức pháp luật
cho học sinh Trường THPT Vũ Văn Hiếu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 14CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Từ xưa đến nay, trong mọi thời đại, đạo đức có vai trò quan trọng trong
xã hội với những chuẩn mực giá trị đúng đắn, đạo đức là một bộ phận quan trọng trong nền tảng tinh thần của xã hội Đạo đức góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội Ngược lại nếu xã hội bị khủng hoảng về đạo đức, chính là một nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội Do đó vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức luôn được nhiều người quan tâm
Ở phương Đông, ngay từ thời cổ đại Khổng Tử (551-479 TCN) nhà giáo dục lớn của Trung Hoa phong kiến đề cao đường lối đức trị và lễ trị để trị quốc an dân, phát triển đất nước Theo quan điểm của ông thì cơ sở của đường lối đức trị là lòng Nhân, lòng yêu thương con người Ông coi Nhân là gốc rễ của các đức khác, các đức tụ cả ở Nhân Khổng Tử cho rằng: “ Điều mình không muốn thì đừng làm cho kẻ khác” Làm người phải biết sửa mình
“ Không nhìn cái không hợp Lễ, không nghe cái không hợp Lễ, không nói điều không hợp Lễ, không làm việc không hợp Lễ” Với những cống hiến ấy, Khổng Tử được coi là nhà giáo dục lớn của Trung Quốc, được tôn làm “ Vạn thế sư biểu”
Ở phương Tây, nhà triết học Socrat ( 470 – 399 TCN ) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau Có được đạo đức là nhờ sự hiểu biết,
do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành đạo đức Đồng thời, ông cũng quan niệm, cái gốc của đạo đức là tính thiện Muốn xác định được chuẩn mức đạo đức phải nhận thức lý tính với phương pháp khoa học
Aristoste ( 384 – 322 TCN ) cho rằng không phải hi vọng vào thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên
Trang 15trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức Ông xem đạo đức là cái cái thiện của cá nhân, còn chính trị là cái thiện của xã hội
Thế kỷ XVII,Ịan Amos.Komenxki (1592-1670) – nhà giáo dục vĩ đại của Tiệp Khắc đã đúc kết “Một số qui tắc trong ứng xử” để giáo dục cho thanh thiếu niên Ông đặc biệt quan tâm đến phương pháp làm gương và nêu gương trong giáo dục đạo đức cho học sinh
Ở thế kỷ XX, nhiều nhà tâm lý học và giáo dục học trên thế giới cũng đã
đề cập và nghiên cứu về giáo dục đạo đức Trong số đó nối bật là nhà giáo dục học và tâm lý học Liên Xô A.X Makarenco, ông nêu lên nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể Trong tác phẩm “ Bài ca sư phạm’’ ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của giáo dục đạo đức
Theo quan niệm của học thuyết Mác – Lê Nin: đạo đức là một hình thái
ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Nếu tồn tại xã hội thay đổi tì ý thức cũng thay đổi theo, Do vậy, đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Ỏ Việt Nam cũng như các nước phương Đông khác, hàng nghìn năm trước đây đã xây dựng mô hình giáo dục theo truyền thống Nho giáo, coi trọng Lễ và Văn Văn hiểu theo nghĩa rộng là kiến thức là văn chương cũng
có nghĩa là tài năng Lễ được hiểu theo nghĩa rộng là nghi thức, khuôn phép
mà mọi người phải tuân theo trong hành vi ứng xử để thể hiện là con người có những phẩm chất cơ bản: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín có nghĩa là đạo đức
Đạo đức và tài năng là hai yếu tố căn bản của nhân cách con người, trong
đó cha ông ta coi trọng đạo đức, coi đạo đức là gốc rễ, “ Tiên học Lễ, Hậu học Văn” là xuất phát từ tư tưởng đó
Kế thừa và phát triển những tư tưởng về giáo dục của các bậc tiền nhân, Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng luôn đề cập đến vấn đề đạo đức Bác viết:
“ Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn
Trang 16Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[34;18]
Theo tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng giúp con người vượt mọi thử thách, không lùi bước trước khó khăn gian khổ Bản thân Người chính là tấm gương sáng nhất về đạo đức cách mạng Do đó cuộc vận động “ Học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động được đông đảo nhân dân ta hưởng ứng tham gia
Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thức được vai trò của GD đạo đức đối với sự nghiệp giáo dục nói riêng và sự phát triển bền vững của toàn xã hội nói chung Chính vì vậy, năm 1979 khi Bộ chính trị ra quyết định về cải cách giáo dục, Uỷ ban cải cách giáo dục đã có quyết định số 01 mở cuộc vận động:
" Tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng trong các trường học" [19]
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế mở đầy năng động hiện nay đã tạo ra những định hướng giá trị xã hội mới, bên cạnh những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, những giá trị của con người trong thời đại mới cũng được hình thành Tuy vậy, bên cạnh những mặt tích cực cũng đã xuất hiện một số nét tiêu cực ảnh hưởng công tác giáo dục đạo đức cho học sinh Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu của một số tác giả về đạo đức và giáo dục đạo đức học sinh:
Tác giả Phạm Minh Hạc đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước và nêu lên 6 giải pháp cơ bản để giáo dục đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH: “ Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức giáo dục đạo đức trong các trường học; củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật Tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết là cán bộ đảng
Trang 17viên, thầy cô giáo các trường học, xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về giáo dục đạo đức, nâng cao nhận thức cho mọi người” [71; 12]
Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Đinh Thị Kim Thoa - Trần Văn Tính
- Vũ Phương Liên đã nghiên cứu giáo dục giá trị sống nhằm giáo dục đạo đức
cho học sinh THPT, đồng thời các tác giả đã viết cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông” [17] Đây là tài liệu
bổ ích cho đội ngũ giáo viên THPT trong việc giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh hiện nay và đã được rất nhiều trường THPT sử dụng
Qua một số nghiên cứu và thực tiễn giáo dục đạo đức trên đây cho thấy, giáo dục đạo đức học sinh THPT là công việc khó khăn, vất vả, phức tạp đòi hỏi phải có những biện pháp phù hợp, giáo dục đạo đức học sinh phổ thông là mối quan tâm không chỉ của những người làm công tác giáo dục mà còn là của toàn xã hội, nhất là trong tình hình xã hội ta hiện nay
1.2 Khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1.Quản lý
Từ khi con người sống thành xã hội có sự phân công hợp tác trong lao động thì bắt đầu xuất hiện sự quản lý Tính chất của việc quản lý thay đổi và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, nhằm bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ “quản lý” được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” [24]
Nhà triết học V.G Afnatsev cho rằng, quản lý xã hội một cách khoa học là nhận thức, phát hiện các quy luật, các khuynh hướng vận động của xã hội và hướng sự vận động của xã hội cho phù hợp với các khuynh hướng đó;
là phát hiện và giải quyết kịp thời các mâu thuẫn của sự phát triển; là duy trì
sự thống nhất giữa chức năng và cơ cấu của hệ thống; là tiến hành một đường lối đúng đắn dựa trên cơ sở tính toán nghiêm túc những khả năng khách quan, mối tương quan giữa các lực lượng xã hội [326; 8]
Trang 18Frederick Winslow Taylor (1856-1915) là nhà thực hành quản lý khoa học về lao động đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất [327; 8]
Henry Fayol (1841-1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành 5 chức năng cơ bản: “kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” và sau này được kết hợp lại thành 4 chức năng
cơ bản của quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Những cống hiến của ông về lý luận quản lý đã mang tính phổ quát cao và nhiều luận điểm đến nay vẫn còn giá trị khoa học và thực tiễn [327; 8]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý, nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến” [341; 8]
Từ quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể khái quát lại:
Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức
1.2.1.1 Bản chất quản lý
Đó chính là các hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên các đối tượng quản lý để đạt mục tiêu đã xác định Các hoạt động của chủ thể quản lý chính là việc dựa vào các nguồn lực, nhân lực để lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá hiệu quả đạt được theo mục tiêu
đã đề ra
1.2.1.2 Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định gồm 4 chức năng cơ bản sau đây:
- Dự báo và lập kế hoạch
- Tổ chức thực hiện kế hoạch
Trang 19- Lãnh đạo/Chỉ đạo thực hiện kế hoạch
- Kiểm tra, đánh giá
1.2.1.3 Các nguyên tắc quản lý
- Nguyên tắc mục tiêu
Mục tiêu là mối quan tâm hàng đầu của mọi tổ chức, đơn vị … nên hoạt động quản lý phải coi mục tiêu là nguyên tắc cơ bản để định hướng, chi phối các nguyên tắc khác
Việc tổ chức thực hiện mục tiêu, phải cụ thể hoá mục tiêu chung của tổ chức thành các mục tiêu cụ thể và phân công cho các cá nhân, bộ phận trong
tổ chức để thực hiện Chỉ khi tổ chức đạt được mục tiêu thì mới thoả mãn được lợi ích
- Nguyên tắc thu hút sự tham gia của tập thể (Tập trung dân chủ)
Vừa phải tập trung thống nhất trong hoạt động quản lý vừa phải dân chủ công khai để có thể huy động và khai thác được trí tuệ của tập thể, giúp cho chủ thể quản lý luôn luôn chủ động trong việc tổ chức điều hành cũng như đảm bảo sự tác động của chủ thể lên đối tượng quản lý trong bất kì hoàn cảnh điều kiện nào Mặt khác việc quan tâm thu hút sự tham gia của tập thể yêu cầu không thể coi nhẹ để tạo ra sự thống nhất ý chí của các chủ thể với đối tượng để cùng hướng tới thực hiện mục tiêu của tổ chức
- Nguyên tắc kết hợp hài hoà giữa các lợi ích
Nguyên tắc này tạo cho mối quan hệ giữa các nhà quản lý với đối tượng quản lý có sự cởi mở và tác động qua lại nhau một cách tích cực Cần phải được kết hợp hài hoà các lợi ích ngay từ khi hoạch định và phát triển tổ chức
Thông qua giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích sẽ tạo nên tính thống nhất trong tổ chức, đảm bảo cho tổ chức hoạt động đồng bộ thông suốt, ít nảy sinh các mâu thuẫn cục bộ
- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả cao
Tiết kiệm và hiệu quả là mục đích của mọi hoạt động quản lý Hoạt dộng quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích Việc đạt được mục
Trang 20tiêu sẽ làm thoả mãn những lợi ích mà tổ chức mong muốn Tuy nhiên để đạt tới lợi ích một cách tối đa với các chi phí hợp lý nhất thì các nhà quản lý phải quan tâm đến tiết kiệm và hiệu quả cao
- Nguyên tắc thích ứng linh hoạt
Nhà quản lý phải có được tư duy mềm dẻo, linh hoạt, nhậy cảm và khách quan trong việc nhìn nhận đánh giá vấn đề, tránh lối tư duy bảo thủ, trì trệ, cứng nhắc, quan liêu, vì những thói quen này sẽ phá hỏng sự tồn tại của tổ chức và sự phát triển của tổ chức
- Nguyên tắc phối hợp hoạt động các bên có liên quan
Nhà quản lý phải biết liên kết phối hợp với các tổ chức khác để khai thác hết tiềm năng của họ, tăng cường sức mạnh cho mình và hạn chế những điểm yếu của tổ chức mình Đặc biệt với địa phương, vùng lãnh thổ của tổ chức
1.2.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trước cho các thế hệ sau Cũng như bất kỳ một hoạt động xã hội nào, hoạt động giáo dục cần được tổ chức và quản lý với cấp độ khác nhau (nhà nước, nhà trường, lớp học ) nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích và các mục tiêu giáo dục phù hợp với
Theo Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động
có mục đích, có kế hoạch phù hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho
Trang 21hệ thống vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy - học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”[20]
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo sự phát triển mở rộng cả về mặt số lượng cũng như chất lượng để đạt mục tiêu giáo dục
Bản chất của quản lý giáo dục được biểu hiện ở các chức năng quản lý Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý trong những năm gần đây đã đưa đến một kết luận tương đối thống nhất về 5 chức năng cơ bản của quản lý là:
kế hoạch hoá; tổ chức; kích thích; kiểm tra; điều phối
- Kế hoạch hoá: lập kế hoạch, phổ biến kế hoạch
- Tổ chức: tổ chức triển khai, tổ chức nhân sự, phân công trách nhiệm
- Kích thích: khuyến khích, tạo động cơ
- Kiểm tra: kiểm soát, kiểm kê, hạch toán, phân tích
- Điều phối: phối hợp, điều chỉnh
Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý, nội dung làm việc của chủ thể quản lý, phương pháp quản lý và là cơ
sở để phân công lao động quản lý
1.2.3.Quản lý nhà trường phổ thông
Quản lý nhà trường là một bộ phận trong quản lý giáo dục Nhà trường chính là nơi tiến hành các quá trình giáo dục có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định, thực hiện tối đa một quy luật tiến bộ xã hội là: thế hệ đi sau phải lĩnh hội được tất cả những kinh nghiệm xã hội mà các thế hệ đi trước đã tích luỹ và truyền lại, đồng thời phải làm phong phú thêm những kinh nghiệm đó
Trang 22Trong tác phẩm Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục, M.I Kondakov đã viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội - kinh tế, tổ chức - sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang trưởng thành”
Quản lý nhà trường là những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ theher quản lý đối với các nguồn lực trong và ngoài nhà trường nhằm thúc đẩy tất cả các hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục, tiến tới đạt mục tiêu trọng tâm là đưa hoạt động dạy và học tiến tới một trạng thái mới nhất về chất
Quản lý trực tiếp trường học bao gồm quản lý tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục, tài chính, nhân lực, hành chính và quản lý môi trường giáo dục
Trong quản lý và thực tiễn quản lý nhà trường gồm 2 loại quản lý: Một là: Quản lý của chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường nhằm định hướng cho nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển( Các cấp quản lý nhà nước và sự hợp tác, giám sát xã hội/ cộng đồng)
Hai là: Quản lý của chính chủ thể bên trong nhà trường, hoạt động
tổ chức các chủ trương, chính sách giáo dục thành các kế hoạch hoạt động, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra để đưa nhà trường đạt tới những mục tiêu đã đề ra (thực hiện các chức năng quản lý của một tổ chức)
Tóm lại, quản lý nhà trường là quản lý giáo dục được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm
vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội
Hiện nay các nhà quản lý trường học quan tâm nhiều đến các thành tố mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức quản lý và kết quả Đó là các thành
Trang 23tố trung tâm của quá trình sư phạm, nếu quản lý và tác động hợp quy luật sẽ
đảm bảo cho một chất lượng tốt trong nhà trường
1.2.4.Đạo đức
Đạo đức là một hiện tượng xã hội, là một hình thái ý thức đặc biệt phản ánh mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của xã hội loài người Đạo đức bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với xã hội
Bàn về đạo đức đã có nhiều định nghĩa khác nhau:
Theo chủ nghĩa Mác thì đạo đức là cái có thật trong ý thức xã hội, trong đời sống tinh thần của con người nghĩa là về lý luận nó là bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội Đạo đức tồn tại trong mọi ý thức, hoạt động giao lưu, trong toàn bộ hoạt động sống của con người Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người, do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có Đời sống đạo đức của mỗi người gồm có : Ý thức đạo đức, tình cảm, niềm tin đạo đức, hành
vi đạo đức, vận động trong mối quan hệ biện chứng [157; 2]
Trong từ điển tiếng Việt có nêu: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi quan hệ của con người
đối với nhau và đối với xã hội” [297; 24]
Theo tác giả Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng: “ Đạo đức là một thái của ý thức xã hội, là tổng hợp những qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [51;4]
Theo tác giả Hà Nhật Thăng:“ Khi giá trị đạo đức biến thành nhận thức chung của mọi thành viên thì nó trở thành truyền thống, có sức mạnh vật chất điều chỉnh nhận thức và hành động chung của toàn xã hội Vì vậy đạo đức có vai trò, ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Trang 24Đạo đức bị chi phối bởi điều kiện chính trị, kinh tế xã hội, truyền thống dân tộc, tôn giáo Ở nước ta, trong xã hội phong kiến, chuẩn mực đạo đức là “ Nhân- Lễ - Nghĩa- Trí- Tín”, riêng người phụ nữ còn phải có “ Tam tòng - Tứ đức” Đến thời đại Hồ Chí Minh, Người quan niệm đạo đức là “ Nhân- Nghĩa-Trí-Dũng-Liêm”, đó là đạo đức cách mạng, đạo đức mới, đạo đức vì lợi ích của Đảng, của dân tộc, của loài người Tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiêu biểu cho đạo đức của thời đại chúng ta ngày nay
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng có hai quan điểm lớn về đạo đức:
+ Quan điểm đạo đức truyền thống: Đạo đức là hệ thống những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng người, giữa con người với xã hội
+ Quan điểm hiện đại: Đây là quan điểm của các nhà nghiên cứu chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước do GS.VS Phạm Minh Hạc đứng đầu Theo các tác giả thì đạo đức phải thể hiện ở 5 mối quan hệ:
- Con người với chính bản thân
- Con người với con người
- Con người với công việc ( học tập, lao động…)
- Con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
- Con người với lý tưởng của dân tộc
Tóm lại, về bản chất, đạo đức là những qui tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội được hình thành và phát triển trong cuộc sống Những qui tắc, những chuẩn mực đạo đức đó được mọi người, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện
Đạo đức có vai trò rất lớn trong xã hội, nhất là trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Vai trò của đạo đức thể hiện trong các chức năng của đạo đức: Chức năng giáo dục, Chức năng nhận thức, Chức năng điều chỉnh hành vi
Trang 25- Chức năng giáo dục: Đây là chức năng quan trọng nhất của đạo đức, Những chuẩn mực đạo đức được tập thể và cộng đồng thừa nhận sẽ tác động vào ý thức và hành vi của mỗi cá nhân để mỗi cá nhân tự giáo dục, rèn luyện, hoàn thiện nhân cách của mình theo chuẩn mực chung của xã hội
- Chức năng nhận thức: Đạo đức là công cụ giúp con người nhận thức
xã hội về mặt đạo đức
- Chức năng điều chỉnh hành vi: Đạo đức có tác dụng điều chỉnh hành
vi, hoạt động của con người phù hợp với lợi ích chung của xã hội,của cộng đồng
Vậy có thể hiểu: Đạo đức là một hệ thống những quy tắc những chuẩn mực mà qua đó con người tự nhận thức và điều chỉnh hành vi của mình vì hạnh phúc của cá nhân, lợi ích của tập thể và cộng đồng
1.2.5 Ý thức pháp luật
Với tư cách là một trong những hình thái của ý thức xã hội, ý thức pháp luật xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật, phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế, văn hoá, xã hội Ý thức pháp luật là một trong những hình thái của ý thức xã hội, là một trong những biểu hiện của trình độ văn hoá xã hội dưới dạng chung nhất Nó là sản phẩm của quá trình phát triển của xã hội, chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của các hệ tư tưởng, quan điểm
và quan niệm trong xã hội Nếu một xã hội mà người dân được giáo dục ý thức pháp luật, nâng cao hiểu biết, nhận thức về pháp luật thì xã hội đó sẽ hạn chế được vi phạm pháp luật, tội phạm Bằng cách đó mà góp phần tích cực vào việc hình thành, xây dựng văn hoá pháp lý cho cá nhân và toàn xã hội
Là một trong những bộ phận cấu thành thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội, ý thức pháp luật chịu sự quy định, tác động mạnh mẽ của đời sống xã hội Quan điểm biện chứng là không phải tất cả các quan điểm đều thể hiện trực tiếp các quan hệ kinh tế và những nhu cầu giai cấp và của toàn xã hội Ví dụ, quan điểm về hình thức tổ chức quyền lực nhà nước, về tổ chức, trình tự tư
Trang 26pháp và xem xét khiếu nại, về thừa kế, được hình thành không chỉ dưới ảnh hưởng của cơ sở kinh tế, mà còn dưới ảnh hưởng của chính trị, truyền thống, văn hoá, đạo đức, tập quán, thậm chí cả tôn giáo Các hình thái ý thức xã hội khác ở những mức độ khác nhau tác động mạnh mẽ đến ý thức pháp luật cũng như đối với bản thân pháp luật Chẳng hạn, ý thức pháp luật của người dân Việt Nam trong chế độ phong kiến đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của ý thức hệ tư tưởng nho giáo và tư tưởng chính trị - đạo đức của dân tộc Việt Nội dung Bộ luật Hồng Đức dưới triều vua Lê Thánh Tông là một ví dụ tiêu biểu, tư tưởng văn hoá, đạo đức nho giáo cũng như văn hoá đạo đức dân tộc đã thể hiện sâu sắc trong bộ luật như trật tự đạo đức trong gia đình, xã hội và cả những sự đề cao vai trò của phụ nữ và người cao tuổi Phạm trù ý thức pháp luật có biểu hiện rất đa dạng, phong phú, vừa có sức ỳ to lớn lại vừa thường xuyên biến đổi do sự tác động của các hình thái ý thức xã hội khác, nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay Sự biến động và tác động thường xuyên của các hiện tượng xã hội, những cảm nhận, thái độ, quan niệm, các lý thuyết, tư duy pháp lý của con người, của các nhóm xã hội, của nhà nước và của toàn xã hội cũng vận động không ngừng Sự bất bình của người dân về một quyết định không công bằng, chưa thấu tình đạt lý của toà án hay một quyết định sai trái của cơ quan hành chính, sự trung lập về một văn bản mới ra đời Một quan điểm mới về cách thức, mức độ điều chỉnh của luật bảo vệ môi trường vv đều thuộc phạm trù ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật được hình thành từ những quan niệm của con người
về sự cần thiết của các quy tắc xử sự mà nhà nước cần đảm bảo thực hiện, về tính hợp pháp hay không hợp pháp của các thiết chế, chế định pháp lý Nếu như pháp luật (xét theo nghĩa khách quan) là những chế định bề ngoài, là hệ thống các quy phạm pháp luật, thì ý thức pháp luật là phạm trù chủ quan, là những quan niệm, quan điểm về pháp luật, là tâm lý, cảm xúc, tâm trạng, nguyện vọng của con người về pháp luật, về các vấn đề pháp lý nói chung
Trước kia, giới khoa học Xô viết đã từng nhận định “thái độ chủ quan
Trang 27của con người đối với pháp luật hiện hành và mong muốn về những quy định pháp luật mới, được gọi là ý thức pháp luật” Khi một văn bản pháp luật ra đời
và được áp dụng vào thực tế cuộc sống, điều luật đó có tính hợp pháp hay không hợp pháp trong cách xử sự của con người Nếu điều luật đó được đa số nhân dân công nhận và nghiêm túc chấp hành thì điều luật có tính đúng đắn
Phạm vi tác động của ý thức pháp luật rất rộng, không có lĩnh vực hành vi pháp luật nào của con người lại không cần đến tư duy nhận thức pháp luật – xã hội
Ý thức pháp luật kiểu mới mà chúng ta đang tiếp tục phát triển hình thành từ trong xã hội tư bản được chứa đựng trong các tác phẩm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, trong cương lĩnh của các đảng công nhân Trong các yêu sách đấu tranh của giai cấp vô sản trong các tác phẩm của mình, Mác và Ph Ăng-ghen không những chỉ ra cho giai cấp vô sản những yêu cầu pháp lý để đấu tranh nhằm xây dựng một xã hội mới, mà còn xây dựng những khái niệm quan trọng nhất về pháp luật, tạo cơ sở cho sự phát triển ý thức pháp luật mới sau này Cùng với sự phát triển của hệ thống các quan hệ xã hội mới và của pháp luật, ý thức pháp luật kiểu mới ngày càng được phát triển và nâng cao
Vấn đề ý thức pháp luật được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau như triết học, luật học, tâm lý học, xã hội học Tuy vấn đề này còn có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng đa số các nhà nghiên cứu cho rằng: ý thức pháp luật là tổng thể những tư tưởng, học thuyết, quan điểm, thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con người về pháp luật trên các phương diện, tiêu chí
cơ bản như: về sự cần thiết (hay không cần thiết), về vai trò, chức năng của pháp luật, về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của các quy định pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua trong quá khứ, pháp luật cần phải có, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành
vi của các cá nhân, tổ chức nhà nước và xã hội
Trang 281.3 Đạo đức và cái đích tối thiểu của giáo dục đạo đức là hình thành ý thức pháp luật
1.3.1 Mục tiêu của giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật
Mục đích quan trọng nhất của giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật là tạo lập được những thói quen về hành vi đạo đức / ý thức pháp luật đúng đắn
Mục tiêu giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh ở trường THPT là:
+ Trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết về chính trị, tư tưởng, pháp luật, văn hoá xã hội
+ Hình thành ở mỗi học sinh thái độ và hành vi đạo đức, pháp luật đúng đắn với bản thân, với mọi người Dẫn dắt học sinh nắm được các chuẩn mực đạo đức, hành vi pháp luật mà xã hội yêu cầu
+ Rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử văn hoá để thói quen tự giác thực hiện các chuẩn mực đạo đức, thói quen sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật trong mỗi học sinh
+ Phát triển nhu cầu đạo đức cá nhân theo định hướng giá trị mang đặc thù của dân tộc và thời đại Giáo dục lòng yêu nước, yêu CNXH, yêu lao động và người lao động Giáo dục lòng yêu khoa học và những tiến bộ của nhân loại, đồng thời biết phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam + Hình thành bản lĩnh của con người Việt Nam XHCN
Các mục tiêu trên chỉ có thể thực hiện được khi con người biết giữ được chữ “ Lễ” trong đạo làm người Ngày nay phạm trù “ Lễ” được hiểu là “ ý thức pháp luật” của người công dân trong xã hội
1.3.2 Chức năng của giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật
Giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật trong nhà trường có các chức năng sau cơ bản:
+ Giáo dục ý thức đạo đức / ý thức pháp luật: Là cung cấp cho học sinh những kiến thức và tri thức cơ bản về các phẩm chất, chuẩn mực đạo đức, quy định pháp luật trên cơ sở đó hình thành niềm tin đạo đức và thực hiện pháp luật
+ Giáo dục tình cảm đạo đức / ý thức pháp luật : là khơi dậy cho học
Trang 29sinh những rung động, cảm xúc đối với hiện thực xung quanh; biết yêu, ghét
rõ ràng có thái độ đúng đắn với các hành vi đạo đức và thực hiện pháp luật của mọi người
+ Giáo dục thói quen đạo đức / ý thức pháp luật : là tổ chức, rèn luyện học sinh những thói quen về hành vi đạo đức, hành vi thực hiện pháp luật thông qua các hoạt động giáo dục được lặp đi lặp lại nhiều lần trong quá trình giáo dục ở gia đình, nhà trường và xã hội
1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật
Nội dung giáo dục đạo đức/ ý thức pháp luật trước hết phải phù hợp với yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, phù hợp với mục tiêu giáo dục Vì vậy, nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay bao gồm các vấn đề cơ bản sau:
+ Giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức: Giáo dục thế giới quan khoa học, Giáo dục lòng yêu nước, ý thức thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước Giáo dục lòng yêu thương, nhân ái và hành vi ứng xử
có văn hoá Giáo dục lòng tự hào dân tộc, niềm tin vào chế độ XHCN, hoài bão lập thân lập nghiệp vì hạnh phúc của bản thân và đất nước
+ Giáo dục pháp luật: Giáo dục ý thức sống và làm việc theo hiến pháp
và pháp luật Trước hết là giáo dục việc thực hiện nội qui qui định của nhà trường, giáo dục việc chấp hành các qui định của địa phương nơi cư trú + Giáo dục đạo đức trong các mối quan hệ XH: Đó là các mối quan hệ của cá nhân với cộng đồng, quan hệ cá nhân với lao động Giáo dục các phẩm chất cá nhân: Tính thật thà, khiêm tốn, lòng tự trọng, đức tính kiên trì, dũng cảm, lạc quan…
+ Giáo dục đạo đức gia đình: Thái độ kính trọng lễ phép với ông bà cha
mẹ và người lớn tuổi Tinh thần đoàn kết, cảm thông, nhường nhịn, vị tha, quan tâm giúp đỡ mọi người Giáo dục ý thức trách nhiệm của bản thân với gia đình, với người thân
+ Giáo dục tình bạn: Tình bạn chân chính phải được xây dựng trên nền
Trang 30của đạo đức chân chính Trong nhà trường phải giúp các em tránh ngộ nhận
về tình bạn, biến thành bè phái, nhóm bạn xấu, bao che khuyết điểm cho nhau + Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống: Giáo dục cho học sinh nhận biết các giá trị như: Giá trị truyền thống, Giá trị toàn cầu
Giáo dục kỹ năng sống như: Kỹ năng nhận biết và sống với chính mình;
Kỹ năng nhận biết và sống với người khác; Kỹ năng ra quyết định
1.3.4 Phương pháp giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật
Phương pháp giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật là cách thức tác động của các nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất cần thiết Về cơ bản phương pháp giáo dục được chia thành 3 nhóm chính:
+ Nhóm phương pháp thuyết phục: Thuyết phục là nhóm các phương pháp tác động đến nhận thức, tình cảm của con người để hình thành cho họ ý thức, thái độ tốt đẹp với cuộc sống Nhóm phương pháp này gồm:
Phương pháp khuyên giải: Khuyên giải là phương pháp gặp gỡ, trò chuyện, tâm tình riêng của nhà giáo dục với đối tượng cần giáo dục để khuyên răn, giải thích những điều hay lẽ phải, làm rõ những khái niệm đạo đức, những nội dung, qui tắc, chuẩn mực xã hội mà mỗi người cần phải tuân theo Phương pháp trao đổi, đối thoại: Là phương pháp tác động của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục bằng tổ chức trao đổi, đối thoại Trao đổi, đối thoại là phương pháp cởi mở, các bên nêu ra quan điểm, những vướng mắc để cùng nhau phân tích, tìm cách giải đáp, cùng đi đến lẽ phải
Phương pháp nêu gương-làm gương: Là phương pháp dùng những tấm gương cụ thể người tốt, việc tốt, những lý tưởng cao đẹp… tác động vào đời sống tình cảm, ý thức của học sinh
+ Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động: là quá trình tổ chức đưa học sinh vào hoạt động để rèn luyện đạo đức tạo nên thói quen hành vi Nhóm này gồm hai phương pháp:
Phương pháp luyện tập: Là phương pháp đưa học sinh vào các hoạt động
Trang 31có kế hoạch, có mục đích trong một thời gian dài để tạo cho họ thói quen hành vi Luyện tập cần được thực hiện càng sớm càng tốt, ngay từ lức trẻ còn
ở gia đình, lớn lên trong nhà trường Luyện tập càng đa dạng phong phú, các hoạt động càng đa dạng thì giá trị giáo dục càng cao Do đó nhà trường cần tổ chức nhiều hoạt động để học sinh được rèn luyện đạo đức
Phương pháp đưa học sinh vào cuộc sống xã hội: đây là phương pháp gắn liền cuộc sống của học sinh với thực tiễn xã hội, từ đó các em trưởng thành theo những yêu cầu của xã hội
+ Nhóm phương pháp kích thích hành vi đạo đức, thực hiện pháp luật: Đây là nhóm phương pháp tác động vào mặt tình cảm của đối tượng giáo dục nhằm tạo ra những phấn chấn, thúc đẩy tính tích cực hoạt động đồng thời giúp người có khuyết điểm nhận ra và khắc phục sai lầm đã mắc Nhóm phương pháp này gồm:
Phương pháp khen thưởng: Khen thưởng là biểu thị sự hài lòng, công nhận của tập thể, của cấp trên với những tập thể và cá nhân hoàn thành tốt một nhiệm vụ nào đó
Phương pháp trách phạt: Trách phạt là biểu thị sự không đồng tình, sự lên án của nhà giáo dục với những hành vi sai lầm của học sinh
Phương pháp thi đua: Là phương pháp khích lệ tập thể, cá nhân học sinh
cố gắng để giành thắng lợi trong hoạt động nào đó Qua phong trào thi đua, sẽ kích thích học sinh học tập và rèn luyện để tự khẳng định bản thân
Hồ Chủ Tịch từng căn dặn: “Ở mỗi con người đều có cái thiện và cái ác
ở trong lòng Ta phải biết làm cho phần tốt ở mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu dần dần mất đi” [25; 18] đó cũng chính là phương
châm giáo dục đạo đức của chúng ta ngày hôm nay
1.4 Vấn đề cơ bản của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh THPT
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật là quá trình tác động có định hướng của chủ thể giáo dục lên đối tượng giáo dục nhằm đạt
Trang 32được mục tiêu giáo dục đã đề ra Giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật là một
bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể của nhà trường Như vậy, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật là một quá trình chủ đạo, điều hành hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật của chủ thể giáo dục tác động đến đối tượng giáo dục để hình thành những phẩm chất đạo đức và ý thức thực hiện pháp luật của người học sinh, đảm bảo quá trình giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật đúng hướng, phù hợp với những chuẩn mực, quy tắc đạo đức, pháp luật được xã hội thừa nhận
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh còn
là một qua trình huy động cá lực lượng giáo dục, giúp học sinh có được tri thức đạo đức,tình cảm đạo đức, ý thức pháp luật từ đó hình thành hành vi đạo đức và thực hiện pháp luật
Tóm lại, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh là quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp, điều kiện đảm bảo qúa trình giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật được tiến hành một cách khoa học, đồng
bộ, phù hợp với những nguyên tắc, chuản mực xã hội góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh
1.4.1 Mục tiêu
Quản lý giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh ở trường THPT hướng đến một mục đích chung là phát triển toàn diện nhân cách học sinh Thông qua các hoạt động giáo dục, bằng các hoạt động dạy học trên lớp và các hoạt động ngoài giờ lên lớp làm cho quá trình giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật tiến hành có hiệu quả hơn
Mục tiêu của quản lý giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh ở trường THPT bao gồm:
- Về nhận thức: Giúp cho mọi người, mọi ngành, mọi tổ chức xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lý giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật , nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển toàn diện con người
Trang 33- Về thái độ tình cảm: Giúp mọi người có hiểu biết và ủng hộ những việc làm đúng, đấu tranh với những việc làm sai trái, có thái độ đúng đắn với hành
vi của bản thân trong công tác quản lý giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh
- Về hành vi: Tích cực tham gia quản lý và tổ chức việc rèn luyện tu dưỡng đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh theo chuẩn mực chung của xã hội
- Phân tích kế hoạch giáo dục của ngành, địa phương, của trường để làm
cơ sở xây dựng kế hoạch Cần thống nhất giữa giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật với các mặt giáo dục khác trong nhà trường để xây dựng mục tiêu giáo dục đạo đức& ý thức pháp luật cho học sinh
- Tìm hiểu đặc điểm kinh tế-xã hội, văn hoá-giáo dục của địa phương bởi
vì giáo dục đạo đức luôn thống nhất với quá trình phát triển xã hội và môi trường sống của học sinh
- Tìm hiểu các chuẩn mực, giá trị đạo đức trong xã hội chúng ta hiện nay
Trang 34và các giá trị đạo đức trên thế giới để xây dựng nội dung giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh
- Xác định các điều kiện cho công tác giáo dục đạo đức như: cơ sở vật chất, tài chính, sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường
- Quyết định những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật
- Kế hoạch phải thể hiện tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ thể và trọng tâm trong từng thời kỳ
- Kế hoạch thể hiện được phân cấp quản lý của hiệu trưởng, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và cụ thể
- Kế hoạch phản ánh được mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu, nội dung, phương pháp phương tiện, thời gian, hình thức tổ chức, biện pháp kiểm tra, đánh giá
+ Tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh
Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh sau khi đã lập xong kế hoạch, đó là luc cần phải chuyển hóa những ý tưởng thành hiện thực
Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh THPT là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong nhà trường để giúp họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu đặt ra Vì vậy các thành viên và các bộ phận cần được giải thích mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật, thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch, sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, kinh tế định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc
Quá trình tổ chức bao gồm nhiều công việc:
- Thông báo mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch giáo dục đạo đức / ý thức
Trang 35- Thảo luận các biện pháp thực hiện kế hoạch
- Phân công, bố trí, sắp xếp nhân sự sao cho đúng người, đúng việc, phát huy tối đa ưu điểm, tiềm năng của cá nhân Khi sắp xếp cần chú ý nguyên tắc:
vì việc chọn người
- Phân định thời gian, tiến độ công việc (Bắt đầu và kết thúc)
+ Chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh
Chỉ đạo là việc xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người lãnh đạo trong quá trình quản lý Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức để đảm bảo cho việc giáo dục đạo đức diễn ra trong trật tự, kỷ cương và đúng hướng, đúng kế hoạch Trong quá trình chỉ đạo, Hiệu trưởng cần kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch bằng cách thu thập thông tin chính xác, phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin để đưa ra những quyết định đúng đắn Có thể đó là những quyết định điều chỉnh, sửa sai để hoạt động giáo dục diễn ra theo đúng
kế hoạch
Việc chỉ đạo sẽ đạt hiệu quả cao nếu Hiệu trưởng biết kết hợp giữa sử dụng uy quyền và thuyết phục, giữa pháp lý-đạo lý-công lý, động viên khích
lệ để phát huy hết tiềm năng của bộ máy thực hiện
+ Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục /
ý thức pháp luật cho học sinh
Kiểm tra là công việc rất cần thiết trong quản lý Kiếm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức có ý nghĩa không những đối với người quản lý mà còn
có ý nghĩa đối với chính học sinh Thông qua kết quả kiểm tra đánh giá của các thầy cô giáo mà học sinh hiểu biết rõ hơn về quá trình rèn luyện tu dưỡng đạo đức của bản thân, đồng thời các em sẽ tự điều chỉnh các hành vi đạo đức của bản thân phù hợp với chuẩn mực đạo đức Kiểm tra giúp chúng ta có thông tin phản hồi, xác định được những lệch lạc nếu có để có thể tiến hành những hành động điều chỉnh cần thiết Hiệu trưởng có thể kiểm tra định kì, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp hoặc gián tiếp, cần xây dựng chuẩn đánh giá phù hợp với đặc điểm của nhà trường thì việc kiểm tra, đánh giá mới khách quan công bằng, rõ ràng chính
Trang 36xác Qua kiểm tra đánh giá người quản lý sẽ rút kinh nghiệm và điều chỉnh, bổ sung, cải tiến kế hoạch để đạt hiệu quả cao nhất
Nếu thực hiện tốt và chặt chẽ công tác kiểm tra đánh giá người quản lý
sẽ xác định được mức độ đạt mục tiêu đã đề ra và khẳng định được chất lượng
“sản phẩm” mà mình giáo dục
1.4.3 Phương pháp
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật là quá trình tác động có định hướng của chủ thể giáo dục lên đối tượng giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra Giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật là một
bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể của nhà trường Như vậy, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật là một quá trình chủ đạo, điều hành hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật của chủ thể giáo dục tác động đến đối tượng giáo dục để hình thành những phẩm chất đạo đức và ý thức thực hiện pháp luật của người học sinh, đảm bảo quá trình giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật đúng hướng, phù hợp với những chuẩn mực, quy tắc đạo đức, pháp luật được xã hội thừa nhận
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh còn
là một qua trình huy động cá lực lượng giáo dục, giúp học sinh có được tri thức đạo đức,tình cảm đạo đức, ý thức pháp luật từ đó hình thành hành vi đạo đức và thực hiện pháp luật
1.4.4 Điều kiện
1.4.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT
Học sinh THPT là lứa tuổi vị thành niên từ 15 đến 19 tuổi, đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ về thể chất, tâm sinh lý Đây là thời kỳ chuyển tiếp
từ trẻ em sang người lớn Ỏ lứa tuổi này, các em luôn hiếu động, thích bắt chước, muốn tự khẳng định bản thân….Đây là lứa tuổi ương bướng, khó dạy bảo theo sự áp đặt quyền uy của người lớn Đồng thời sự kiểm tra giám sát chăm sóc quá chu đáo của gia đình và người lớn sẽ làm các em tỏ ra khó chịu Học sinh THPT thường thích khám phá, tìm hiểu những vấn đề mới lạ của
Trang 37chước, để làm theo do đó những tấm gương, cách hành động và ứng xử của người lớn, của những nhân vật trong phim ảnh thường được các em để ý, bắt chước Mặt khác, ở lứa tuổi này nhu cầu về giao tiếp của các em rất lớn đặc biệt là giao tiếp với bạn bè, từ đó hình thành các nhóm bạn cùng sở thích Nếu không có sự giáo dục, định hướng của người lớn đối với các em thì rất dễ dẫn đến nhận thức, thái độ, hành vi lệch lạc
Trong điều kiện hiện nay, phần đông các gia đình ít con, có điều kiện về kinh tế nên nuông chiều con cái, các em được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin và văn hoá, khoa học kỹ thuật, Internet trong nước và thế giới do đó các
em có thể tiếp cận nhiều lĩnh vực mà cha mẹ thầy cô không để ý đến Điều đó làm cho trẻ lầm tưởng mình đã trưởng thành, mình là người lớn thực thụ cho nên các em thường coi nhẹ lời khuyên, lời dạy bảo của ông bà, cha mẹ, thầy
cô và người lớn Đây chính là mầm mống làm cho học sinh nhanh hư và rất khó khăn khi rèn luyện đạo đức
Các yếu tố bẩm sinh như thiểu năng trí tuệ, khiếm khuyết về các giác quan, rối loạn về tâm sinh lý… cũng ảnh hưởng quá trình hình thành, phát triển nhân cách cũng như giáo dục đạo đức cho học sinh
1.4.4.2 Yếu tố gia đình
Gia đình chính là nơi nuôi dưỡng và giáo dục trẻ từ lúc mới lọt lòng Ông bà, cha mẹ chính là những người thầy đầu tiên của trẻ, dạy cho trẻ từ cách nói năng, chào hỏi, đi đứng… Những tấm gương của người lớn sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự hoàn thiện nhân cách của trẻ bởi vì trẻ thường có xu hướng bắt chước những hành vi của người lớn xung quanh, do đó nếu được gia đình giáo dục một cách chu đáo, cẩn thận sẽ là cơ sở quan trọng để trẻ mau hoàn thiện nhân cách và trưởng thành khi đến trường Ngược lại, nếu giáo dục gia đình không tốt sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách của trẻ, thực tế cho thấy đa số trẻ em-học sinh hư đều có nguyên nhân từ phía gia đình, nhất là những gia đình mà ông bà cha mẹ không gương mẫu, bố mẹ bất
Trang 38hoà hoặc ly thân… Trẻ em là phiên bản của người lớn, muốn giáo dục trẻ thì người lớn trong gia đình và cả ngoài xã hội phải gương mẫu
Mặt khác, việc giáo dục nhân cách cho trẻ không phải là việc làm đơn giản, đó là cả một quá trình với sự quan tâm đúng mức Với cách dạy trẻ bằng quyền uy của cha mẹ một cách cực đoan mà ít quan tâm đến nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của trẻ và cách giáo dục chiều theo sở thích, nuông chiều trẻ một cách thái quá đều ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ
Ông Bà ta vẫn thường nói: “ Dạy con từ thủa còn thơ” là nói lên vai trò quan trọng của gia đình, của ông bà, cha mẹ trong việc giáo dục trẻ, nếu coi nhẹ yếu tố này học sinh sẽ phát triển lệch lạc nhân cách
1.4.4.3 Yếu tố nhà trường
Nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Đối với học sinh, nhà trường không chỉ thực hiện nhiệm vụ cung cấp kiến thức mà còn tổ chức giáo dục đạo đức học sinh, coi trọng cả tài và đức Với lực lượng thầy cô giáo, những người được đào tạo sư phạm, nhà trường là nơi tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trong nhà trường, học sinh nhanh chóng chiếm lĩnh tri thức và phát triển nhanh về mặt nhân cách, điều này thể hiện rõ ràng ngay từ khi trẻ em bắt đầu đi học mẫu giáo, chỉ một thời gian ngắn trẻ đã bắt đầu có ý thức và nền nếp của lối sống
tập thể chứ không tự do theo ý thích như ở nhà
Thầy giáo cô giáo trong nhà trường ngoài nhiệm vụ dạy kiến thức văn hoá còn tham gia giáo dục đạo đức học sinh, muốn làm tốt công tác này thì mỗi thầy cô giáo phải là tấm gương đạo đức cho học sinh học tập, noi theo, đặc biệt là học sinh THPT
Tuy nhiên hiện nay vẫn còn một số cán bộ quản lý, giáo viên thiếu gương mẫu trong đạo đức lối sống Kinh nghiệm, nghệ thuật và phương pháp giáo dục học sinh của một số giáo viên chủ nhiệm còn hạn chế Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục chưa thường xuyên và thống nhất… điều đó đã
Trang 39làm ảnh hưởng lớn đến quá trình giáo dục đạo đức học sinh, làm giảm niềm tin của học sinh vào thầy cô và nhà trường
1.4.4.4 Yếu tố xã hội
Xã hội có tác động không nhỏ đến sự hành thành và phát triển nhân cách của trẻ Tác động của cơ chế thị trường tạo ra sự phân cực rất lớn đối với học sinh; tác động của lối sống coi trọng vật chất ham hưởng thụ hơn tính nhân văn Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, học sinh có điều kiện tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin, khoa học kỹ thuật, văn hoá xã hội nên nhìn chung học sinh ngày nay phát triển nhanh về nhiều mặt và có những hiểu biết rất phong phú về mọi mặt của đời sống xã hội Tuy nhiên, điều đáng lo ngại ở đây chính là kinh nghiệm, vốn sống và khả năng phân biệt bản chất các vấn đề xã hội của trẻ còn rất hạn chế Chính vì thế mà chỉ với những hiểu biết
bề nổi, trẻ tưởng rằng mình đã là người lớn thực thụ nên tự ý quyết định những vấn đề của bản thân mà xem nhẹ những lời khuyên của cha mẹ, của thầy cô, của người lớn từ đó dẫn đến những biểu hiện lệch lạc về chuẩn mực đạo đức
Bên cạnh đó, những biểu hiện tiêu cực trong xã hội, trong cộng đồng dân
cư mà trẻ tiếp xúc là những tấm gương phản diện với những gì mà cha mẹ và nhà trường giáo dục cho nên gây khó khăn cho quá trình giáo dục đạo đức học sinh, làm giảm niềm tin của học sinh vào những chuẩn mực đạo đức mà thầy
cô và gia đình giáo dục các em
Bởi vậy, tất cả các lực lượng giáo dục cần nắm bắt đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, những lý luận của về đạo đức học để giáo dục, để quản lý học sinh
có hiệu quả nhất theo các chuẩn mực đạo đức của xã hội
Tiểu kết chương 1
Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới sâu sắc, đặc biệt chúng ta vừa mới ký kết Hiệp định hợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), vì thế đất nước ta đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực, Đảng và nhà nước ta coi trọng vấn đề con người, coi con
Trang 40người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Trường học có đóng góp rất lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực Để nâng cao chất lượng giáo dục theo yêu cầu ngày càng cao của xã hội, các nhà trường không chỉ chú trọng đến việc trang bị kiến thức mà còn phải chú ý đến công tác giáo dục đạo đức & ý thức pháp luật
Giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật là vấn đề không mới, song để thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay là vấn đề có tính cấp thiết và cấp bách
Từ những cơ sở lý luận cơ bản về quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT và các khái niệm liên quan sẽ là cơ sở để đi sâu nghiên cứu, phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh THPT Vũ Văn Hiếu thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh học sinh trường THPT Vũ Văn Hiếu Thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay