Đã có một số đề tài nghiên cứu về năng lực của học sinh như: Luận văn thạc sĩ Vũ Thị Lành về "“Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Nam Định
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC - o0o -
PHẠM VĂN DUY
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH BẰNG DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG ESTE - LIPIT TẠI MỘT SỐ TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN VÀ DẠY NGHỀ TỈNH VỈNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN HÓA HỌC
Mã số: 60 14 01 11
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC - o0o -
PHẠM VĂN DUY
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH BẰNG DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG ESTE - LIPIT TẠI MỘT SỐ TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN VÀ DẠY NGHỀ TỈNH VỈNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN HÓA HỌC
Mã số: 60 14 01 11
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Phạm Văn Hoan
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, đề tài “Phát triển năng lực tự học cho học sinh bằng dạy học bài tập chương Este - Lipit tại một số trung tâm giáo dục và dạy nghề tỉnh Vĩnh Phúc” đã hoàn thành
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và cán bộ của trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp tôi hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Phạm Văn Hoan, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình làm đề tài
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc, các thầy cô và các em học sinh trung tâm GDTX&DN: Tam Đảo, Tam Dương, Bình Xuyên đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động sinh, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Vĩnh Phúc, tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Văn Duy
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn iv
Danh mục chữ viết tắt v
Mục lục vi
Danh mục bảng xiii
Danh mục hình xiv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4.1 Khách thể nghiên cứu 3
4.2 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Giả thuyết khoa học 3
8 Những đóng góp của đề tài 4
9 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Một số năng lực cần bồi dưỡng cho học sinh 7
1.3 Cơ sở lý luận về bồi dưỡng năng lực tự học 9
1.3.1 Tự học 9
1.3.1.1 Khái niệm về tự học 9
1.3.1.2 Quan niệm về tự học trên thế giới 10
1.3.1.3 Quan niệm về tự học trong giáo dục Việt Nam 10
1.3.1.4 Vai trò của tự học 11
Trang 61.3.1.6 Chu trình tự học của học sinh 13
1.3.2 Năng lực tự học 14
1.3.2.1 Khái niệm năng lực tự học 14
1.3.2.2 Vai trò của năng lực tự học 15
1.3.2.3 Những biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 15
1.3.3 Hệ thống kỹ năng tự học 17
1.3.4 Hướng dẫn người học tự học 18
1.3.4.1 Một số quan điểm về “dạy cách học” 18
1.3.4.2 Dạy người học tự học 19
1.3.4.3 Tự học bộ môn Hóa học 19
1.4 Bài tập hoá học 20
1.4.1 Khái niệm về bài tập hoá học 20
1.4.2 Tác dụng của bài tập hoá học[13], [14] 21
1.4.3 Phân loại bài tập hoá học [13] 22
1.4.4 Xu hướng phát triển bài tập hóa học 22
1.4.5 Quá trình hoàn thiện bài tập hoá học 24
1.4.6 Vai trò của bài tập hoá học trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 25
1.4.7 Mối quan hệ giữa bài tập hóa học và sự hình thành năng lực tự học 25
1.5 Điều tra thực tiễn 25
1.5.1 Đặc điểm của học sinh Trung tâm GDTX&DN 25
1.5.2 Thực trạng về việc sử dụng bài tập trong dạy học và việc tự học của HS ở Trung tâm GDTX&DN trên đi ̣a bàn tỉnh Vĩnh Phúc 27
1.5.3 Điều tra thực trạng sử dụng bài tập hóa học và năng lực tự học trong quá trình dạy học hóa học ở trung tâm giáo dục thường xuyên và dạy nghề tỉnh Vĩnh Phúc 28
1.5.3.1 Về phía học sinh 28
1.5.3.2 Về phía giáo viên 28
1.5.3.4 Đối tượng điều tra 29
Trang 71.5.3.5 Kết quả điều tra 29
1.5.3.5 Nhận xét về kết quả điều tra 35
Tiểu kết chương 1 38
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP PHẦN CHƯƠNG ESTE – LIPIT 39
2.1 Giới thiê ̣u về phần Chương Este- Lipit 39
2.1.1 Quan điểm xây dựng chương trình Hoá học hữu cơ lớp 12 39
2.1.2 Cấu trúc của phần Chương Este- Lipit 40
2.1.3 Mục tiêu của chương Este – Lipit 40
2.1.3.1 Kiến thức 40
2.1.3.2 Kĩ năng 40
2.1.3.3 Tình cảm, thái độ 41
2.1.4 Bài tập trong dạy học bồi dưỡng năng lực tự học 41
2.1.4.1 Khái niệm, đặc điểm bài tập bồi dưỡng năng lực tự học 41
2.1.4.2 Đặc điểm của bài tập bồi dưỡng năng lực tự học 41
2.2 Nguyên tắc xây dựng bài tập trong dạy học bồi dưỡng năng lực tự học 42 2.2.1 Những nguyên tắc khi xây dựng bài tập trong dạy học 42
2.2.2 Đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại 42
2.2.3 Đảm bảo tính logic, hệ thống 43
2.2.4 Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng 43
2.2.5 Đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với các đối tượng học sinh 43
2.2.6 Bám sát kiến thức trọng tâm 43
2.2.7 Gây hứng thú cho người học 44
2.2.8 Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tự học 44
2.2.9 Vận dụng được kiến thức và phát triển năng lực tự học 44
2.3 Quy trình xây dựng bài tập bồi dưỡng năng lực tự học 44
2.3.1 Giai đoạn 1: Nghiên cứu nội dung, xác định mục tiêu dạy học : 45
Trang 82.3.2 Giai đoạn 2: Xác định kiến thức trọng tâm của bài và của chương
Este-Lipit 45
2.3.3 Giai đoạn 3: Tìm kiếm và sưu tầm tài liệu 45
2.3.4 Giai đoạn 4: Hệ thống hóa bài tập theo mục tiêu 45
2.3.5.Giai đoạn 5: Kiểm nghiệm 45
2.3.6.Giai đoạn 6: Tham khảo ý kiến đồng nghiệp, chỉnh sửa, hoàn thiện 46
2.4 Một số phương pháp xây dựng bài tập mới 46
2.4.1 Phương pháp tương tự 46
2.4.2 Phương pháp đảo cách hỏi 47
2.4.3 Phương pháp tổng quát 48
2.4.4 Phương pháp phối hợp 48
2.5 Một số biê ̣n pháp sử dụng bài tập phát triển năng lực tự học 49
2.5.1 Bồi dưõng năng lực tự học qua nghiên cứu sách giáo khoa (SGK), sách tham khảo 49
2.5.2 Bồi dưõng năng lực tự học qua việc giảng dạy bài tập hoá học 50
2.6 Bồi dưỡng năng lực tự học theo chủ đề chương Este-Lipit 50
2.6.1 Dạng 1: Đồng đẳng, đồng phân, danh pháp 50
2.6.2 Dạng 2: Sơ đồ chuyển hóa 53
2.6.3 Dạng 3: So sánh nhiêt độ sôi 54
2.6.4 Dạng 4: Nhận định khả năng phản ứng 56
2.6.5 Dạng 5: Nhận biết và tách 57
2.6.6 Dạng 6: Bài tập thông qua phản ứng cháy 59
2.6.7 Dạng 7 : Bài tập thông qua phản ứng thủy phân este 65
2.6.9 Dạng 9: Bài tập về các Chỉ số axit, chỉ số xà phòng hóa, chỉ số este 72
2.7 Sử dụng BT bồi dưỡng năng lực tự học chương Este - Lipit 76
2.7.1 Hướng dẫn sử dụng BT bồi dưỡng năng lực tự học 76
2.7.2 Những lưu ý đối với học sinh khi sử dụng BT tự học 76
2.7.3 Những lưu ý đối với GV khi sử dụng BT 77
Trang 92.7.4 Một số giáo án có sự lựa chọn, phối hợp các hình thức tổ chức dạy học
nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 77
2.7.4.1 Bài 1 Este 77
2.7.4.2 Bài 4 Luyện tập: Este và chất béo 83
Tiểu kết chương 2 90
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 92
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 92
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 92
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 92
3.3 Tiến trình và nội dung thực nghiệm sư phạm 93
3.3.1 Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 93
3.3.2 Trao đổi với GV dạy thực nghiệm 93
3.3.3 Tiến hành thực nghiệm 94
3.3.3.1 Chuẩn bị cho tiết lên lớp 94
3.3.3.2 Tổ chức kiểm tra 94
3.3.3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 94
3.4 Phương pháp xử lí kết quả thực nghiệm 95
3.4.1 Kết quả bài kiểm tra của HS 96
3.4.1.1 Bài kiểm tra 15 phút 96
3.4.1.2 Bài kiểm tra 1 tiết 98
3.4.1.3 Phân tích kết quả thực nghiệm 100
Tiểu kết chương 3 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 103
1 Kết luận 103
2 Khuyến nghị 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 108
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 So sánh: thành phần nguyên tố, đặc điểm cấu tạo và tính chất hoá
học chất béo và este đơn chức……… 83
Bảng 3.1 Bảng điểm bài kiểm tra 15 phút 89
Bảng 3.2 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra 15 phút……… 90
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra 15 phút 90
Bảng 3.4 Tổng hợp các tham số đặc trƣng bài kiểm tra 15 phút 91
Bảng 3.5 Bảng điểm bài kiểm tra 1 tiết 91
Bảng 3.6 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra 1 tiết….……… 92
Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra 1 tiết 92
Bảng 3.8 Tổng hợp các tham số đặc trƣng bài kiểm tra 1 tiết 93
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Qúa trình tự học 11
Hình 2.1 Cấu trúc chương Este - Lipit 38
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 15 phút 90
Hình 3.2 Đồ thị kết quả bài kiểm tra 15 phút 91
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 1tiết 92
Hình 3.4 Đồ thị kết quả bài kiểm tra 1tiết 93
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước ta, đổi mới nền giáo dục là một trong những trọng tâm của sự phát triển Công cuộc đổi mới này đòi hỏi nhà trường phải tạo ra những con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo của cả nước sau năm 2015 đã được Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kí ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Trong nhiều năm qua, việc nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học ở trường phổ thông đã được chú trọng Nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho người GV nói chung và GV hóa học nói riêng là phải đổi mới PPDH, chú trọng bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực tự học, giải quyết vấn đề học tập thông qua mọi nội dung, mọi hoạt động dạy và học hóa học, trong đó BT hóa học dạy học liên hệ với thực tiễn giữ vị trí hết sức quan trọng
Trong dạy học, giải đáp các câu hỏi lý thuyết và giải BTHH là phương tiện cơ bản để giúp HS gợi nhớ kiến thức và bồi dưỡng NLTH cho HS BTHH đóng vai trò vừa là nội dung vừa là phương tiện để chuyển tải kiến thức, phát triển tư duy bộ môn một cách hiệu quả nhất BTHH không chỉ củng
cố nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức mà còn là phương tiện để tìm tòi, hình thành kiến thức mới
Tuy nhiên trong thực tế, có rất nhiều loại sách, tài liệu tham khảo được lưu hành cùng với sự phổ biến rộng của mạng internet đã cung cấp cho HS nguồn tài liệu đa dạng và phong phú Chính điều đó đã gây khó khăn cho HS khi phải lựa chọn, phân loại tài liệu để tham khảo, nghiên cứu và sử dụng Vì
Trang 13vậy, muốn nâng cao hiệu quả dạy học, mỗi GV cần phải xây dựng và lựa chọn
BT hoá học, tìm ra phương pháp giải nhanh và sử dụng chúng sao cho phù hợp với đặc điểm của từng kiểu bài lên lớp để củng cố hoàn thiện, nâng cao kiến thức nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho HS
Đã có một số đề tài nghiên cứu về năng lực của học sinh như: Luận văn thạc sĩ Vũ Thị Lành về "“Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Nam Định thông qua bài tập trong dạy học phân hóa phần Este - Lipit – Cacbohidrat lớp 12 chương trình cơ bản”
Xuất phát từ các nhu cầu và thực trạng đó, chúng tôi chọn đề tài : “Phát triển năng lực tự học cho học sinh bằng dạy học bài tập chương Este - Lipit tại một số trung tâm giáo dục thường xuyên và dạy nghề tỉnh Vĩnh Phúc” với mong muốn góp phần đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và
để giúp rèn luyện, phát triển năng lực tư duy và bồi dưỡng năng lực tự học cho HS lớp 12, với hy vọng góp phần giúp các em hoàn thiện năng lực nhận thức, tư duy, năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong cuộc sống đồng thời cung cấp cho các em một BT để ôn luyện, phục vụ cho các kỳ thi cuối cấp
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận, thực tiễn và xây dựng BT nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học Chương Este - Lipit
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng năng lực tự học
- Khảo sát thực trạng việc sử dụng hệ thống BTHH bồi dưỡng năng lực tự học cho HS trong QTDH
- Xây dựng mới bài tập trong dạy học hóa học phù hợp với các mức độ của quá trình nhận thức và tư duy Hệ thống câu hỏi và bài tập này khi sử dụng sẽ giúp cho HS lĩnh hội kiến thức vững chắc và vận dụng các kiến thức đó một cách chủ động, logic và linh hoạt
Trang 14-Thực nghiệm sư phạm để đánh giá chất lượng , hiệu quả của BT đã xây dựng và các biện pháp đã đề xuất trong thực tế dạy học ở một số Trung tâm GDTX&DN Tam Đảo , Trung tâm GDTX &DN Bình Xuyên , Trung tâm GDTX&DN Lâ ̣p Tha ̣ch, Trung tâm GDTX&DN Phúc Yên
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy và học môn Hóa học ở Trung tâm GDTX&DN
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng BT bồi dưỡng năng lực tự học có hướng dẫn và nghiên cứu cách
sử dụng BT để bồi dưỡng năng lực tự học cho HS bằng dạy học bài tập Chương Este - Lipit
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về việc HS tự học
- Nghiên cứu tác dụng và cách sử dụng bài tập trong dạy học hoá học
- Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương trình SGK hoá học 12, phần Hữu cơ
- Điều tra bằng các phiếu câu hỏi
-Thực nghiệm sư phạm đánh giá hiệu quả và tính khả thi của BT và các biện pháp bồi dưỡng HS tự học đã đề xuất trong đề tài
- Xử lý kết quả TNSP bằng các phương pháp thống kê toán học
6 Phạm vi nghiên cứu
Quá trình dạy học Hoá học ở Trung tâm GDTX&DN, giới hạn đề tài: Chương Este - Lipit
7 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng thành công BT tự học đảm bảo tính khoa học của nội dung thì sẽ phát triển năng lực tự học và gây hứng thú học tập cho HS Đồng thời biết cách sử dụng hợp lý có hiệu quả BT bồi dưỡng năng lực tự học cho HS Chương Este - Lipit thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy học hoá học hiện nay ở Trung tâm GDTX&DN
Trang 158 Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng dạy học và tổ chức việc
tự học có hướng dẫn cho HS Trung tâm GDTX&DN
-Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho HS thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập hoá học
-Tuyển chọn và xây dựng được bài tập trong dạy học phù hợp cho việc giảng dạy Hóa ho ̣c hữu cơ lớp 12
- Xây dựng cho HS những phương pháp giải nhanh và hiệu quả khi làm bài tập phần hữu cơ lớp 12 để phù hợp với tình hình thi cử hiện nay
- Là tài liệu tham khảo cho GV và HS trong quá trình dạy học hóa học ở Trung tâm GDTX&DN
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bồi dưỡng năng lực tự học
Chương 2: Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học trong dạy học bài tập Chương Este - Lipit
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16Ở nước ta vấn đề tự học đã có từ thời phong kiến Truyền thống tự học là một bộ phận trong truyền thống hiếu học của nhân dân ta Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng, phát động rộng rãi phong trào tự học từ năm
1945 và chính Người cũng là một tấm gương sáng về tự học Người từng nói “còn sống là còn học” và “việc học phải lấy tự học làm cốt” Truyền thống tự học luôn luôn được phát huy Thực tiễn chứng minh rằng khả năng
tự học là rất dồi dào và tự học là một trong những yếu tố quyết định thành công đối với sự nghiệp giáo dục
Với bộ môn Hóa học ở trường phổ thông, quá trình tự học của người học càng đóng vai trò quan trọng vì thời lượng môn học ít nhưng khối lượng kiến thức lại rất lớn, nếu không có quá trình tự học người học sẽ rất khó nắm bắt được nội dung kiến thức Hóa học là môn học thực nghiệm và ứng dụng trong các bài tập thực tiễn nhiều nên quá trình tự học của người học không thể thiếu hệ thống bài tập hóa học bổ trợ Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về BTHH và việc sử dụng BTHH trong dạy học hóa học Điển hình như GS.TS Nguyễn Ngọc Quang nghiên cứu lý luận về bài tập hóa học; PGS.TS Nguyễn Xuân Trường nghiên cứu về bài tập thực nghiệm định lượng; PGS.TS Lê Xuân Trọng, PGS.TS Đào Hữu Vinh, PGS.TS Cao
Trang 17Cự Giác và nhiều tác giả khác quan tâm đến nội dung và phương pháp giải toán
Đã có một số luận văn thạc sĩ bước đầu nghiên cứu về tự học và hệ thống BTHH hỗ trợ quá trình tự học như:
1 Hoàng Kiều Trang (2004), Tăng cường năng lực tự học phần hoá vô cơ (chuyên môn I) cho HS ở trường Cao đẳng Sư phạm bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun, Luận văn thạc sĩ giáo dục, ĐHSP Hà Nội
2 Nguyễn Thị Liễu (2008), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 nâng cao, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP
7 Đặng Nguyễn Phương Khanh (2010), Thiết kế ebook hỗ trợ HS tự học hóa học lớp 9 THCS, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
8 Nguyễn Ngọc Nguyên (2010), Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun nhằm nâng cao năng lực tự học cho HSG hóa lớp 11, Luận văn
Trang 189 Đỗ Thị Việt Phương (2010), Thiết kế ebook hướng dẫn HS tự học phần hóa vô cơ lớp 10 chương trình nâng cao, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
10 Nguyễn Thị Hoài Thanh (2012), Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh thông qua hệ thống bài tập phần hóa học hữu cơ lớp 11 nâng cao, Luận văn thạc sĩ giáo dục, ĐH Giáo dục - ĐH Quốc gia Hà Nội
11 Trương Hoài Thương (2012), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học phần hóa vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao trường trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Vinh
Tuy nhiên việc nghiên cứu sử dụng hệ thống BTHH chương Este – lipit lớp 12 nhằm bồi dưỡng năng lực tự học của các học viên ở các Trung tâm GDTX vẫn chưa được quan tâm đúng mức Hiện nay chưa có cuốn sách nào viết dành riêng cho đối tượng học viên Trung tâm GDTX là đối tượng nhận thức yếu, mà chủ yếu viết cho học sinh ở các trường THPT và đối tượng người học khá giỏi Do đó, xây dựng, lựa chọn và sử dụng hệ thống bài tập phân hóa phần Este - Lipit nhằm nâng cao năng lực tự học cho các học viên Trung tâm GDTX là cần thiết
1.2 Một số năng lực cần bồi dưỡng cho học sinh
- Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề hết sức quan trọng đối với con người Nhờ năng lực này học sinh vừa tự làm giàu kiến thức của mình, vừa rèn luyện tư duy và thói quen phát hiện, tìm tòi, Năng lực này đòi hỏi học sinh phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lí luận và hiểu biết đã có của mình
- Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía
Trang 19cạnh, thu thập và xử lí thông tin; đề xuất cách giải quyết, kiến nghị và kết luận Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều người học thu thập được khối lượng thông tin phong phú nhưng không biết cách xử lí để tìm ra con đường đạt được mục tiêu Điều này đòi hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của các
GV ngay từ những hoạt động đầu của giải quyết vấn đề Nếu nói rằng trong dạy học, quan trọng nhất là dạy cho người học cách học, thì trong đó cần coi trọng dạy cho học sinh kĩ thuật giải quyết vấn đề Với kĩ thuật nay, người học
có thể áp dụng vào rất nhiều tình huống trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình
- Năng lực xác định những kết luận đúng
Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đê, hay nói cách khác, các tri thức cần được lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được một khi chính học sinh có năng lực này Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng nếu cần thiết Trên thực tế có rất nhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn
đề nên người học có thể đi chệch ra khỏi vấn đề chính đang được giải quyết hoặc lạc với mục tiêu đề ra ban đầu Vì vậy hướng dẫn cho người học kĩ thuật xác định kết luận đúng quan trọng không kém so với các kĩ thuật phát hiện và giải quyết vấn đề Các quyết định phải được dựa trên logic của quá trình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu
- Năng lực vận dụng kiến thức ( hoặc tự nhận thức kiến thức mới)
Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trong thực tiễn, cuộc sống, hoặc là người học vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sỏ kiến thức và phương pháp đã có nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới Cả hai đều đòi hỏi người học phải có năng lực vận dụng kiến thức Việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đặc biệt trong các trường hợp mới, lại làm xuất hiện các vấn đề đòi hỏi
Trang 20và kết quả của việc giải quyết vấn đề giúp cho người học thâm nhập sâu hơn vào thực tiễn Từ đó kích thích hứng thú học tập, niềm say mê, khao khát được tìm tòi khám phá Kết quả của hoạt động thực tiễn vừa làm giàu thêm tri thức, vừa soi sáng, giải thích, làm rõ thêm các kiến thức được học từ SGK, tài liệu Người học thấy tự tin, chủ động hơn, đồng thời họ lại phải có thái độ dám chịu trách nhiệm về các quyết định của mình đã lựa chọn và có kĩ năng lập luận, bảo vệ các quyết định của mình
- Năng lực đánh giá và tự đánh giá
Kết quả tất yếu của việc rèn luyện các kĩ năng phát hiên và giải quyết vấn đề, kết luận và áp dụng kết quả của quy trình giải quyết vấn đề hỏi người học phải luôn đánh giá và tự đánh giá Người học phải biết được mặt mạnh, mặt hạn chế của mình, cái đúng- cái sai trong việc mình làm mới có thể tiếp tục vững bước trên con đường học tập chủ động của mình Không có khả năng đánh giá và tự đánh giá, người học khó có thẻ tự tin trong phát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học Năm năng lực trên vừa đan xen vừa tiếp nối nhau, tạo nên năng lực tự học ở người học Rèn luyện được những năng lực đó chính là rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu của người học
1.3 Cơ sở lý luận về bồi dưỡng năng lực tự học
1.3.1 Tự học
1.3.1.1 Khái niệm về tự học
“Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trìu tượng, khách quan, có trí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [25]
Trang 21“Tự học nghĩa là người học tích cực chủ động tự mình tìm ra bằng hành động của mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn mình, học bạn, học thầy và học mọi người Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình để nhận biết vấn đề, thu thập xử lý thông tin cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…” [18]
1.3.1.2 Quan niệm về tự học trên thế giới
Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử giáo dục ở trên thế giới Nó vẫn còn là vấn đề nóng bỏng cho các nhà nghiên cứu giáo dục hiện tại và tương lai bởi vì tự học có vai trò rất quan trọng, quyết định mọi sự thành công trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chất lượng của mọi quá trình giáo dục, đào tạo [25]
1.3.1.3 Quan niệm về tự học trong giáo dục Việt Nam
Ở nước ta, tự học đã có từ thời phong kiến Truyền thống tự học là một
bộ phận trong truyền thống hiếu học của nhân dân ta
Vấn đề tự học được phát động, nghiên cứu nghiêm túc và rộng rãi từ năm
1945, mà chủ tịch Hồ chí Minh vừa là người khởi xướng vừa là tấm gương để mọi người noi theo Người từng nói “còn sống thì còn học” và “về cách học phải lấy tự học làm cốt”
GS TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta
Từ một GV trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứu ông
đã trở thành nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn có nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học Ông cho rằng “học bao giờ cũng gắn liền với tự học, tự rèn luyện, coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài”
Trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện một số bài viết về tự học
Trang 22Trong “Tôi tự học”, các tác giả Thu Giang và Nguyễn Duy Cần đã đúc kết những kinh nghiệm quý báu trong quá trình tự học và đưa ra 8 nguyên tắc
để làm việc
Trong “Biển học vô bờ”, GS TSKH Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) và các tác giả đưa ra những lời khuyên chung về phương pháp học tập một số môn ở trung tâm GDTX&DN và giúp HS trả lời câu hỏi “Học như thế nào là tốt nhất?”
Cuốn “Học và dạy cách học” do GS TSKH Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên, NXB ĐHSP xuất bản năm 2002 là một trong những cuốn sách đầu tiên
ở Việt Nam viết một cách có hệ thống về việc “học” và “dạy cách học”
Sau đó, năm 2009, NXB tổng hợp Tp.HCM xuất bản cuốn “Tự học thế nào cho tốt” đã rút ra những kinh nghiệm, những nguyên tắc, những quy luật giúp người học thấy được các bước đi rõ ràng để tiến nhanh đến đích, biết cách giải quyết nhiều khó khăn trong quá trình tự học Hai cuốn sách này đã thực sự
là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học Tuy vậy, các cuốn sách hầu như mới chỉ dừng lại ở phần lý thuyết chung nhất cho mọi môn học mà chưa đi vào các biện pháp cụ thể đối với từng môn học
1.3.1.4 Vai trò của tự học
Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người “Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn nhiều, do mình tự tìm lấy” Chính vì vậy, ông thầy hay nhất là ông thầy không lo nhồi nhét kiến thức mà lo truyền dạy phương pháp tự học cho HS
Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người Tự học là con
đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Tự học khắc phục nghịch lí: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì giới hạn Tự học góp phần dân chủ hóa, xã
Trang 23hội hóa giáo dục một cách hiệu quả nhằm phát huy, tận dụng tiềm năng to lớn của mỗi thành sinh trong cộng đồng.[11]
* Có thể nêu vai trò của tự học theo cách khác :
Tự học là phương thức tạo ra chất lượng thực sự lâu bền, là điều kiện quyết định trực tiếp đến chất lượng học tập của người học Chỉ có tự học mới giúp người học thông hiểu, bổ sung, hoàn thiện vào vốn tri thức và vốn kinh nghiệm của mình, giúp họ vững vàng hơn trong học tập và công tác sau này
Tự học còn là cơ sở cho tính tích cực nhận thức của người học Tự học sẽ rèn luyện cho người học đức kiên trì, lòng dũng cảm vượt khó, tính tự lực, chủ động trong công việc Tự học còn giúp người học khắc phục được những nét tính cách không phù hợp, giúp họ tiến hành được hoạt động học tập ở mức độ khó khăn cao hơn.[2]
Tự học có hướng dẫn từ xa: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác
Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận dụng các kiến thức trong đó Theo cách học này người học sẽ gặp rất nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian và đòi hỏi khả năng tự học rất cao
Khi đã có hệ thống SGK thì việc tự học có thể diễn ra theo 3 cách sau :
- Có sách và có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, trong tuần Bằng những hình thức thông tin trực tiếp không qua máy móc hoặc ít nhiều có sự hỗ trợ của máy móc đặt ngay tại lớp Đó là học giáp mặt trên lớp và về nhà tự học có
Trang 24- Có SGK và có thêm thầy giáo ở xa hướng dẫn tự học bằng tài liệu hoặc các phương tiện thông tin viễn thông khác Đó là tự học có hướng dẫn
- Có SGK rồi người học tự đọc lấy mà hiểu, mà thấm các kiến thức trong
sách, qua việc hiểu mà tự rút ra kinh nghiệm về tư duy, tự phê bình về tính cách Đó là tự học ở mức cao
Tác giả [29], lại chia chi tiết hơn Theo tác giả, việc tự học có thể diễn
ra theo 2 cách
Cách thứ nhất là tự học không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV, biểu hiện: Tự học hoàn toàn (không có GV) thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập, thí dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông Tự học qua phương tiện truyền thông (học
từ xa): HS được nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với
GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn
Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp
Cách thứ hai là tự học có hướng dẫn, biểu hiện: HS nhận được sự
hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ GV Đối với tự học có hướng dẫn từ tài liệu, HS không dùng SGK phổ thông mà sử dụng tài liệu viết riêng cho HS tự học Tài liệu tự học có hướng dẫn cung cấp cho HS nội dung kiến thức và phương pháp học nội dung kiến thức đó
Từ những quan điểm về các hình thức tự học nêu trên, chúng tôi đi đến phân loại các hình thức tự học như sau: Tự học hoàn toàn (không có thầy
hướng dẫn) và tự học có hướng dẫn
1.3.1.6 Chu trình tự học của học sinh
Chu trình tự học của HS là một quá trình gồm 3 giai đoạn:
Trang 25Hình 1.1 Chu trình tự học Giai đoạn 1: Tự nghiên cứu
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề
Giai đoạn 2: Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính xã hội của cộng đồng lớp học
Giai đoạn 3: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)
Chu trình tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh “thực chất cũng là con đường phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn đề của nghiên cứu khoa học
1.3.2 Năng lực tự học
1.3.2.1 Khái niệm năng lực tự học
“ Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [23]
Vận dụng quan điểm này vào tự học, có thể phát biểu “Năng lực tự học
là khả năng tự tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới
Trang 261.3.2.2 Vai trò của năng lực tự học
Năng lực tự học có 4 vai trò chính sau:
+ Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kĩ xảo nhận thức, tạo ra cầu nối nhận thức trong tình huống học
+ Làm chủ tri thức hiện diện trong chương trình học và tri thức siêu nhận thức qua các tình huống học
+ Tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử
lí thông tin từ môi trường xung quanh mình
+ Tự học, tự nghiên cứu, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, cá nhân hoá việc học, đồng thời hợp tác với bạn trong cộng đồng lớp học dưới sự hướng dẫn của GV – xã hội hoá lớp học
1.3.2.3 Những biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
Thực chất của việc bồi dưỡng năng lực tự học là hình thành và phát triển năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề, năng lực giải quyết vấn
đề, năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, giải pháp, biện pháp, ) từ quá trình giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn hoặc vào nhận thức kiến thức mới, năng lực đánh giá và tự đánh giá
Để có thể bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học cho học sinh thì bản thân các em phải có ý chí quyết tâm cao độ, luôn tìm tòi phương pháp học tập tốt cho mình, phải học bằng chính sức mình, nghĩ bằng cái đầu mình, nói bằng lời nói của mình, viết theo ý mình, không rập khuôn theo câu chữ của thầy, rèn luyện khả năng độc lập suy nghĩ, suy luận đúng đắn và linh hoạt sáng tạo thông qua những câu hỏi và bài toán
Muốn rèn được NLTH thì trước hết và quan trọng nhất là phải rèn luyện cho các em năng lực tư duy độc lập Bởi lẽ, việc rèn cho HS có thói quen tư duy (suy nghĩ và hành động) độc lập, sẽ dẫn đến tư duy phê phán, khả năng phát hiện, giải quyết vấn đề rồi đến tư duy sáng tạo Rõ ràng, độc lập là tiền đề cho sự tự học
Trang 27Biểu hiện của “độc lập”:
- Không có sự viện trợ trực tiếp từ bên ngoài
- Tự mình nhìn thấy vấn đề, phát hiện vấn đề, đặt vấn đề để giải quyết
- Tự mình tìm ra cách giải quyết bài toán, tự mình kiểm tra được, đánh giá được cách giải của bản thân
- Có đầu óc tự phê phán và phê phán được cách giải của người khác
- Bằng sự hiểu biết tự mình trình bày suy nghĩ, lập luận cách giải bài toán một cách chặt chẽ
Như vậy, để rèn được tư duy độc lập cho HS thì phải tạo điều kiện để
HS suy nghĩ độc lập GV nêu câu hỏi, nêu vấn đề để HS nghiên cứu đề xuất cách giải quyết, ra kết luận GV quan tâm chỉ đạo công tác độc lập của HS, nhất là bài tập ở nhà; khuyến khích nhận xét cách giải của bạn giúp HS biết phương pháp suy nghĩ độc lập và thực hiện hành động độc lập; tái hiện kiến thức trước khi làm bài tập vận dụng; yêu cầu HS tự ra đề của bài tập; cho giải bài tập nâng cao dần nội dung của bài tập tính toán; ra bài tập nhỏ áp dụng vào tình huống mới, gây cho HS hứng thú suy nghĩ độc lập; hướng dẫn HS sử dụng SGK và tự học; khuyến khích HS sưu tầm các hiện tượng trong thực tế
và bài tập mới GV phải có kế hoạch kiểm tra, đánh giá đúng mức suy nghĩ và hành động độc lập của HS
Ngoài ra, để bồi dưỡng NLTH cho HS một cách toàn diện hơn, chúng
ta cần phối hợp một số biện pháp cụ thể sau:
* Đối với Giáo viên
-Tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn, năng lực nhận thức của bản thân để có kinh nghiệm thực tiễn trong việc hướng dẫn HS cách tự học
-Giảm tỉ lệ thuyết trình trên lớp của GV, dành thời gian thích đáng cho HS tự học, tự nghiên cứu, làm thí nghiệm, thảo luận, giải đáp thắc mắc
-Tăng cường biên soạn giáo án theo hướng phát triển năng lực tự lực nhận thức cho HS, đáp ứng yêu cầu về tài liệu tham khảo và trang bị đầy đủ các
Trang 28-Tăng cường tìm kiếm và xây dựng các dạng bài tập, các hình thức ôn tập và
tự ôn tập kiến thức qua nhiều kênh thông tin
- Đổi mới PP dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
- Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học nhằm tăng hiệu quả giờ học
* Đối với học sinh
- Cần xác định thái độ học tập đúng đắn
- Bồi dưỡng cho HS phương pháp, kĩ năng tự học, tự nghiên cứu
- Xây dựng kế hoạch và thời gian biểu tự học và nghiêm túc thực hiện kế hoạch, thời gian biểu
- Bồi dưỡng phương pháp đọc sách, phương pháp nghe bài giảng hoặc ghi chép
- Rèn luyện cho HS khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá trong học tập
- Hướng dẫn HS tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo, tìm kiếm các trang web phục vụ cho quá trình học tập
1.3.3 Hệ thống kỹ năng tự học
Tùy theo môn học mà người học có những kĩ năng tự học phù hợp Một cách chung nhất, người học cần phải được rèn luyện các kĩ năng tự học cơ bản sau:
- Biết đọc, nghiên cứu giáo trình và tài liệu học tập, chọn ra những tri thức cơ bản chủ yếu, sắp xếp hệ thống hóa theo trình tự hợp lí, khoa học
- Biết và phát huy được những thuận lợi, hạn chế những mặt non yếu của bản thân trong quá trình học ở lớp, ở nhà
- Biết vận dụng các lợi thế, khắc phục các khó khăn, thích nghi với điều kiện học tập (cơ sở vật chất, phương tiện học tập, thời gian học tập )
- Biết sử dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp học tập phù hợp
để đạt hiệu quả học tập cao
- Biết xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, tháng, học kỳ, cả năm
Trang 29- Biết sử dụng có hiệu quả các kĩ thuật đọc sách, nghe giảng, trao đổi, thảo luận, tranh luận, xây dựng đề cương, viết báo cáo, thu thập và xử lí thông tin
- Biết sử dụng các phương tiện học tập, đặc biệt là công nghệ thông tin
- Biết phân tích, đánh giá và sử dụng thông tin
- Biết kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của bản thân và bạn học
- Biết vận dụng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng
1.3.4 Hướng dẫn người học tự học
1.3.4.1 Một số quan điểm về “dạy cách học”
Một số quan niệm của giáo viên về việc dạy học:
- Dạy là giúp cho người học được học tập dễ dàng: Việc dạy của GV được nhấn mạnh là việc giúp người học Giáo viên giúp người học thông hiểu vấn đề bằng cách trình bày, giải thích nội dung ở mức độ thích hợp và có thể
áp dụng kiến thức mọt cách linh hoạt và sáng tạo
- Dạy là hỗ trợ cho việc học của người học: Theo quan niệm này thì dạy
là “ lấy trò làm trung tâm”, trong đó người học chịu trách nhiệm về việc học
và nội dung học Trách nhiệm của GV là giúp người học trong việc làm kế hoạch; điều khiển và cung cấp những “mối liên hệ ngược” những phản hồi, cũng như đưa ra những hướng dẫn về quan niệm Cách dạy này đặc biệt phù hợp cho học sinh trình độ sau đại học Hai quan niệm đầu về dạy thiên về số lượng, GV chỉ chú trọng đến lượng kiến thức truyền đạt cho người học, sau
đó kiểm tra xem người học đã đạt được những kiến thức gì và đánh giá Hai quan niệm cuối về dạy thiên về chất ượng Trọng điểm của việc dạy là thay đổi cách nhìn nhận và cách sử dụng kiến thức của người học Đây là quan điểm tiến bộ đang được áp dụng trong công cuộc cải tiến đổi mới giáo dục hiện nay
Trang 30- Tạo ra tình huống để tạo động cơ, nhu cầu hứng thú nhằm huy động cao độ sức lực, trí tuệ của người học vào hoạt động sáng tạo
- Giáo viên phân chia nhiệm vụ nhận thức thành hệ thống những nhiệm vụ nhỏ liên tiếp thuộc vùng phát triển gần của người học
- Người học tự lực hoạt động, áp dụng những phương pháp nhận thức đã biết
để thích nghi với môi trường, vượt qua khó khăn, giải quyết những vấn đề nêu
những đặc trưng riêng đòi hỏi người học phải có cách tự học và tư duy thích hợp Cần rèn luyện kĩ năng quan sát, năng lực phân tích và tổng hợp, năng lực khái quát hóa những sự kiện riêng lẻ thành quy luật chung Phải có phong
Trang 31cách học tập độc lập và sáng tạo Học không chỉ là quá trình ghi nhận các khái niệm hóa học, công thức hóa học thu thập thông tin về phản ứng hóa học, về cấu tạo chất, … Học là hiểu, ghi nhớ, liên hệ và vận dụng Nhờ liên hệ và vận dụng mà hiểu nội dung hóa học sâu sắc hơn, nhớ hiện tượng hóa học lâu hơn để vận dụng Trong thực tế, một người có thể học hóa học theo nhiều hình thức khác nhau, nhưng dù dưới hình thức nào thì tự học hóa học cũng là cốt lõi của quá trình học hóa học Thời gian học ở trên lớp quá ngắn và không bao giờ đủ, vì vậy tự học hóa học đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiếp thu tri thức hóa học và góp phần hoàn thiện nhân cách của con người
Các bài học Hóa học có đặc điểm chung là cùng cấu trúc bài học riêng đối với từng loại bài, loại chất Thí dụ, đối với bài về chất cụ thể thường có cấu trúc : Tính chất vật lí, Tính chất hóa học, Ứng dụng, Điều chế Nếu GV xây dựng được hệ thống các câu hỏi gợi ý đối với từng phần, giúp HS biết được những nội dung cần học thì sau một số bài về chất cụ thể, HS sẽ biết cần trả lời được nh ững nội dung gì Như thế là HS đã biết cách tự học
1.4 Bài tập hoá học
1.4.1 Khái niệm về bài tập hoá học
- Bài tập là một hệ thông tin chính xác bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, đó là những điều kiện và những yêu cầu
Người giải bao gồm hai thành tố là cách giải và phương tiện giải (cách biến đổi, thao tác trí tuệ…)
- Thông thường trong SGK và tài liệu lý luận dạy học bộ môn, người ta hiểu bài tập là những bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng hoá học, hình thành khái niệm, phát triển tư duy hoá học và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Theo chúng tôi, thuật ngữ “Bài tập hoá học” chung hơn khái niệm
Trang 32BTHH là những vấn đề học tập được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm hoá học trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hoá học
1.4.2 Tác dụng của bài tập hoá học[13], [14]
Bài tập hoá học là một trong những công cụ hiệu nghiệm cơ bản nhất
để dạy HS vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình Kiến thức nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp nhận định:" Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu học sinh có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành”
Bài tập hoá học có tác dụng đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, chỉ có vận dụng kiến thức vào giải bài tập HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc Nó còn là phương tiện để ôn tập, củng
cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất
Bài tập hoá học giúp rèn luyện kĩ năng hóa học cho HS như: Kĩ năng viết và cân bằng phương trình hoá học, kĩ năng tính toán theo công thức và phương trình hoá học, kĩ năng thực hành như cân, đo, nung sấy, đun nóng, lọc, nhận biết hoá chất,…
Bài tập hoá học giúp phát triển năng lực nhận thức cho HS
Bài tập hoá học còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật, ) khi trang bị kiến thức mới, giúp
HS tích cực, tự lực lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững Điều này thể hiện rõ khi HS làm bài tập thực nghiệm định lượng
- Bài tập hoá học có tác dụng phát huy tính tính cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập hợp lý
- Bài tập hoá học còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kĩ năng của
HS một cách hiệu quả
Trang 33- Bài tập hoá học có tác dụng giáo dục đạo đức tác phong, rèn luyện tính kiên trì, trung thực, chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học (có tổ chức, kế hoạch,…), nâng cao hứng thú học tập bộ môn Điều này thể hiện rõ khi giải bài tập thực nghiệm
Bản thân một bài tập hoá học chưa có tác dụng gì cả Không phải một bài tập hoá học "hay" thì luôn có tác dụng tích cực Vấn đề phụ thuộc chủ yếu
là "người sử dụng nó" Làm thế nào phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh của bài toán, để HS tự mình tìm ra cách giải, lúc đó bài tập hoá học thật sự có ý nghĩa
1.4.3 Phân loại bài tập hoá học [13]
Có nhiều cách phân loại bài tập hoá học dựa trên các cơ sở khác nhau:
- Dựa vào nội dung toán học của bài tập: Bài tập định tính (không có
tính toán), bài tập định lượng (có tính toán)
- Dựa vào nội dung của bài tập hóa học: Bài tập định lượng, bài tập lý
thuyết, bài tập thực nghiệm, bài tập tổng hợp
- Dựa vào tính chất hoạt động học tập của học sinh: Bài tập lý thuyết
(không có tiến hành thí nghiệm), bài tập thực nghiệm (có tiến hành thí nghiệm)
- Dựa vào hình thức của bài tập: Bài tập tự luận, bài tập trắc nghiệm khách
quan
- Dựa vào đặc điểm của hoạt động nhận thức: Bài tập mức độ biết, bài tập
mức độ hiểu, bài tập vận dụng mức độ thấp và bài tập vận dụng mức độ cao (sáng tạo)…
Giữa các cách phân loại không có ranh giới rõ rệt, sự phân loại thường để nhằm phục vụ cho những mục đích nhất định
1.4.4 Xu hướng phát triển bài tập hóa học
Theo, xu hướng xây dựng bài tập hóa học hiện nay là:
Trang 34- Loại bỏ những bài tập có nội dung kiến thức hoá học nghèo nàn, lạm dụng quá nhiều các thao tác toán học và mang tính đánh đố học sinh như giải
hệ nhiều ẩn, nhiều phương trình, bất phương trình, phương trình bậc cao
- Loại bỏ những bài tập có nội dung lắt léo, giả định rắc rối phức tạp,
xa rời hoặc sai với thực tiễn
- Tăng cường sử dụng các bài tập thực nghiệm hoặc bài tập có gắn bó trong thực tế
- Tăng cường sử dụng các bài tập theo hình thức trắc nghiệm khách quan, trong đó các đáp án được chọn lựa kỹ càng Nội dung bài tập có kiến thức hoá học phong phú, sâu sắc Phần tính toán đơn giản, nhẹ nhàng
- Xây dựng hệ thống bài tập mới về hoá học với môi trường, đa dạng hoá các loại hình bài tập như sử dụng sơ đồ, vẽ đồ thị, dùng hình vẽ hoặc lắp ráp các mô hình thí nghiệm đơn giản
- Xây dựng các bài tập có tác dụng rèn cho học sinh năng lực phát hiện
và giải quyết vấn đề đối với những vấn đề có liên quan đến vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống
- Xây dựng và tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm định lượng
- Sử dụng bài tập hoá học theo hướng tích cực
- Sử dụng bài tập trong phát triển tự học của học sinh thông qua các hình thức giải đáp thắc mắc, phổ biến bài tập thông qua các phương tiện truyền thông như website của trường phổ thông, website hướng dẫn giải bài
tập môn Hoá học
Như vậy xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay hướng đến rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức, phát triển năng lực tư duy hóa học cho HS ở các mặt: lí thuyết, thực hành và ứng dụng Những bài tập có tính chất học thuộc trong các câu hỏi lí thuyết sẽ giảm dần mà được thay bằng các câu hỏi đòi hỏi sự
tư duy, tìm tòi
Trang 351.4.5 Quá trình hoàn thiện bài tập hoá học
Quá trình hoàn thiện một bài tập hóa học chúng ta cần phải trải qua các giai đoạn sau đây:
Giai đoạn 1: Tìm hiểu được mục đích của câu hỏi
- Đọc kĩ đề bài, tìm hiểu điều kiện đầu bài và yêu cầu của bài ra
- Tóm tắt đầu bài theo theo cách hiểu của riêng mình
- Quy đổi, thống nhất đơn vị theo cùng hệ thống
Giai đoạn 2: Tìm mối liên hệ giữa các dữ liệu đề bài cho
- Mô tả hiện tượng, quá trình hoá học có thể xảy ra trong bài toán
- Xác lập các yếu tố tương quan và điều kiện cần của bài toán
- Xác định các kĩ thuật cần dùng để giải quyết bài toán yêu cầu
Giai đoạn 3: Tiến trình tìm kết quả
- Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá để rút ra kết luận cụ thể
- Từ mối liên hệ giữa các đại lượng để thành lập các bài toán qua đó luận giải tìm ra kết quả xác đáng cho bài tập
- Xác định kết quả với độ chính xác cho phép
Giai đoạn 4: Xác minh và công nhận kết quả
Để xác nhận được kết quả vừa tìm được cần kiểm tra lại một số phương án sau:
- Kiểm tra lại các trường hợp, trả lời
- Kiểm tra lại các phép tính đã chính xác chưa, thứ nguyên
- Kiểm tra lại kết quả vừa giải có phù hợp với thực nghiệm
- Thử giải bài tập bằng phương án khác
Trong quá trình giảng dạy cần tạo cho HS có thói quen giải các bài tập theo quá trình khái quát này sẽ giúp HS những phương hướng chung để giải bài tập, nó giúp HS định hướng giải bài tập tốt hơn, tuy nhiên với mỗi loại bài tập cần có hành động và thao tác cụ thể, chúng chỉ giống nhau ở bốn bước cơ bản
mà thôi
Trang 361.4.6 Vai trò của bài tập hoá học trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
Trong việc bồi dưỡng NLTH cho HS, bài tập nói chung và bài tập hoá học nói riêng là phương tiện không thể thiếu để rèn luyện, bồi dưỡng cho các em kĩ năng tự học cơ bản như: kĩ năng thu thập, xử lí thông tin; kĩ năng vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn và đặc biệt là kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh quá trình tự học
1.4.7 Mối quan hệ giữa bài tập hóa học và sự hình thành năng lực tự học
Trong việc bồi dưỡng NLTH cho HS, bài tập nói chung và bài tập hoá học nói riêng là phương tiện không thể thiếu để rèn luyện, bồi dưỡng cho các em kĩ năng tự học cơ bản như: kĩ năng thu thập, xử lí thông tin; kĩ năng vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn và đặc biệt là kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh quá trình tự học
1.5 Điều tra thực tiễn
1.5.1 Đặc điểm của học sinh Trung tâm GDTX&DN
Hiện nay, hệ thống giáo dục thường xuyên không được chú trọng về mảng văn hóa của học sinh, chưa có giáo án hay hình thức dạy học cụ thể mà toàn vận dụng từ các loại hình giáo dục khác như: THPT chuyên, THPT công lập, THPT dân lập - tư thục
Với cương vị là GV công tác trong ngành GDTX&DN, đã và đang tìm hiểu về vấn đề tự học và sử dụng bài tập tự học của học sinh, tôi nhận thấy tình hình học tập thực tế của các học sinh ở các Trung tâm GDTX&DN có những đặc điểm sau:
* Về kiến thức:
- Hầu hết các học sinh ở trung tâm GDTX&DN đều thiếu và yếu về kiến thức Điều này được biểu hiện ở điểm thi đầu vào khối THPT, sau khi đã xét
Trang 37vào các hình thức THPT công lập thì chỉ còn lại những học sinh với điểm số thấp không trúng tuyển sẽ theo học ở trung tâm GDTX&DN
- Từ thực tế trên cho thấy, với đối tượng học sinh trung tâm GDTX&DN,
GV khi giảng dạy phải có hệ thống kiến thức và bài tập phù hợp, vừa học bài mới đồng thời vừa ôn tập lại kiến thức cũ
* Về kĩ năng:
- Hầu hết học sinh chưa có kĩ năng học tập môn Hóa học, do học lực yếu nên
kĩ năng tính toán cũng như khả năng tư duy logic chưa cao Vì vậy, học sinh vấp phải rất nhiều khó khăn trong việc hình thành các kĩ năng giải bài tập hóa học, kĩ năng thực nghiệm dẫn đến hiệu quả môn học chưa cao Chính vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm của GV khi giảng dạy chính là hình thành kĩ năng học tập cho học sinh bằng những bài tập mang tính hệ thống, phân loại, có hướng dẫn giải và yêu cầu cụ thể Nếu phân hóa được học sinh thì hiệu quả càng cao
* Về thái độ học tập:
- Hầu hết học sinh có ý thức học tập chưa cao, do lực học yếu dễ dẫn đến chán nản Một nguyên nhân nữa khiến cho học sinh không thích học đó là tâm lí mặc cảm, cảm giác sợ bị coi thường nên các em ít nghĩ tới việc sẽ tiếp tục học lên, hoặc có nghĩ tới cũng không dám chắc chắn mình sẽ cố gắng được nên sinh ra “sức ì” trong việc học đặc biệt là với những môn học yêu cầu cường độ tập trung cao như Hóa học
- Phương pháp giảng dạy của GV còn nhiều điểm chưa phù hợp Nhiều
GV khi lên lớp vẫn “thao thao bất tuyệt” những gì mình biết mà không để ý xem học sinh cần gì và hiểu được đến đâu Bên cạnh đó là sự quan tâm chưa đúng mực, thời gian phân phối cho môn học ít trong khi có quá nhiều kiến thức và kĩ năng học sinh cần phải xây dựng và thậm chí là rèn dũa lại Chính những vấn đề trên làm cho môn Hóa học với học sinh tiếp thu chậm trở nên
đã khó lại càng khó hơn Vì vậy, với HS GDTX&DN, thầy cô không chỉ làm
Trang 38tâm lí của học sinh để uốn nắn, động sinh kịp thời Bên cạnh đó, GV phải tìm hiểu kĩ càng đối tượng để có phương pháp giảng dạy phù hợp, đáp ứng yêu cầu của từng loại đối tượng học sinh, đảm bảo tính chính xác, đầy đủ và vừa sức để tăng lòng yêu thích của học sinh với môn học, có như thế mới hi vọng cải thiện chất lượng học tập của học sinh
1.5.2 Thực trạng về việc sử dụng bài tập trong dạy học và việc tự học của
HS ở Trung tâm GDTX&DN trên đi ̣a bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Bản thân đã kinh qua nhiều năm giảng dạy và công tác ở môi trường giáo dục thường xuyên cùng sự trao đổi kinh nghiêm cùng các đồng nghiệp tôi nhận thấy thực trạng của học sinh trong môn Hóa học như sau:
- Do khả năng nhận thức của các học sinh còn kém nên khả năng tiếp nhận kiến thức của học sinh còn chậm và lương kiến thức ít trong giờ lên lớp Nguyên nhân khiến đa số học sinh chưa tiếp thu hết lượng kiến thức cần thiết
là do lượng kiến thức nhiều; học sinh chưa có cách học tập phù hợp; học sinh quá thụ động, không chủ động tích cực học tập; chưa có tài liệu phù hợp cho học sinh tự học, tự nghiên cứu; thiếu thời gian tự học; cách truyền đạt của GV đôi khi chưa phù hợp, chưa gây hứng thú học tập cho học sinh
- Việc tự học là rất quan trọng, nhưng hiện nay hoạt động tự học của học sinh hầu hết chưa đạt hiệu quả, nguyên nhân là do học sinh chưa có
phương pháp học, GV còn quá ỷ lại vào tinh thần tự giác của học sinh mà
“quên” mất việc ra bài tập phù hợp và kiểm tra việc tự học của học sinh, không cung cấp cho học sinh các tài liệu học tập vừa sức cũng như hướng các
em vào sự yêu thích học tập ( hiện tại học sinh có làm bài tập cũng chủ yếu là
để đối phó chứ chưa thật sự ý thức được việc học là cho mình)
- Thực tế cho thấy tài liệu mà GV tự biên soạn phù hợp giúp cho học sinh tự học tốt hơn nhưng rất ít GV tự biên soạn tài liệu, nguyên nhân là do chưa có nhiều thời gian hoặc chưa đủ kinh nghiệm biên soạn tài liệu (cá biệt
Trang 39vẫn có những GV coi thường đối tượng học sinh mình giảng dạy, cho rằng không cần đầu tư chuyên môn quá nhiều cho các học sinh GDTX&DN)
- Ngoài ra cũng không thể không nói đến yếu tố tâm lý cũng ảnh hưởng không ít đến thực trạng “học ì ạch” của học sinh Các em thường mặc cảm mình là học sinh Trung tâm GDTX&DN, khả năng học tập yếu, bị bạn bè chê cười vì vậy sinh ra chán nản, lười học vì nghĩ tương lai mù mịt
Thực trạng học tập và tự học của học sinh Trung tâm GDTX&DN trên đây chính là cơ sở quan trọng, định hướng cho tôi nghiên cứu xây dựng bài tập trong dạy học hóa học nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho các học sinh trong quá trình giảng dạy bộ môn của mình Tuy nhiên để có cơ sở để khẳng định những nhận xét trên và có giải pháp đúng hơn cho việc phát triển năng lực tự học, chúng tôi đã tiến hành điều tra về các nội dung trên
1.5.3 Điều tra thực trạng sử dụng bài tập hóa học và năng lực tự học trong quá trình dạy học hóa học ở trung tâm giáo dục thường xuyên và dạy nghề tỉnh Vĩnh Phúc
1.5.3.1 Về phía học sinh
- Tìm hiểu nhận thức của học sinh về BTHH
- Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của học sinh
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập và các yếu tố giúp học sinh giải thành thạo một dạng bài tập
- Tìm hiểu nhận thức của học sinh về tự học và vai trò của tự học
- Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi tự học và các yếu tố tác động đến hiệu quả của việc tự học
1.5.3.2 Về phía giáo viên
- Tìm hiểu về tình hình xây dựng BT của GV
Trang 40- Tìm hiểu tình hình dạy BTHH ở trung tâm GDTX&DN: mức độ thành công, những khó khăn gặp phải khi dạy BTHH
- Tìm hiểu về biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH bồi dưỡng học sinh tự học, tự làm bài tập
1.5.3.4 Đối tượng điều tra
Tiến hành điều tra trên hai đối tượng: 112 học sinh Trung tâm GDTX&DN
&DN Tam Đảo và 09 GV hóa học dạy ở các trung tâm GDTX&DN&DN trong tỉnh Vĩnh Phúc
1.5.3.5 Kết quả điều tra
Phiếu điều tra dành cho học sinh gồm các câu hỏi sau:
Câu 1: Trong giờ học môn Hóa học
Câu 2: Ở nhà em dành bao nhiêu
thời gian cho việc học môn Hóa ?
Câu 3: Em thường sử dụng phần lớn thời gian
tự học ở nhà đối với môn Hoá học để