Toán học là môn khoa học tự¬ nhiên gây nhiều hứng thú cho HS, nó là môn học rất quan trọng không thể thiếu trong quá trình học tập, nghiên cứu và cả cuộc sống hàng ngày. Một nhà toán học và sư¬ phạm nổi tiếng đã nói: “Toán học được xem là một khoa học chứng minh”. Như¬ng đó chỉ là một khía cạnh, toán học phải đư¬ợc trình bày dư¬ới hình thức hoàn chỉnh. Muốn vậy ngư¬ời học phải nắm vững các kiến thức toán học từ thấp đến cao, phải học toán thư¬ờng xuyên, liên tục, biết quan sát, dự đoán phối hợp và sáng tạo, phải tự lực tiếp thu kiến thức qua hoạt động đích thực của bản thân. Ngày nay, HS luôn đư¬ợc tiếp cận với nhiều kiến thức khoa học tiên tiến, với nhiều môn học mới lại đầy hấp dẫn nhằm hoàn thiện và bắt kịp công cuộc đổi mới, phát triển toàn diện của đất nư¬ớc. Trong các môn học ở trư¬ờng phổ thông, toán học đư¬ợc xem là môn học cơ bản, là nền tảng để các em phát huy năng lực của bản thân trong việc tiếp thu và học tập các môn khoa học khác. Tuy nhiên, để HS học tập tốt môn toán thì GV phải cung cấp đầy đủ l¬ượng kiến thức cần thiết, cần đổi mới các phư¬ơng pháp dạy học, làm cho các em trở nên yêu thích toán học hơn, vì có yêu thích mới dành nhiều thời gian để học toán. Từ đó các em tự ý thức trong học tập và phân bổ thời gian hợp lý đảm bảo yêu cầu học tập của thời đại mới.
Trang 1PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Toán học là môn khoa học tự nhiên gây nhiều hứng thú cho HS, nó là môn học rất quan trọng không thể thiếu trong quá trình học tập, nghiên cứu và
cả cuộc sống hàng ngày Một nhà toán học và sư phạm nổi tiếng đã nói: “Toán học được xem là một khoa học chứng minh”
Nhưng đó chỉ là một khía cạnh, toán học phải được trình bày dưới hình thức hoàn chỉnh Muốn vậy người học phải nắm vững các kiến thức toán học
từ thấp đến cao, phải học toán thường xuyên, liên tục, biết quan sát, dự đoán phối hợp và sáng tạo, phải tự lực tiếp thu kiến thức qua hoạt động đích thực của bản thân
Ngày nay, HS luôn được tiếp cận với nhiều kiến thức khoa học tiên tiến, với nhiều môn học mới lại đầy hấp dẫn nhằm hoàn thiện và bắt kịp công cuộc đổi mới, phát triển toàn diện của đất nước Trong các môn học ở trường phổ thông, toán học được xem là môn học cơ bản, là nền tảng để các em phát huy năng lực của bản thân trong việc tiếp thu và học tập các môn khoa học khác Tuy nhiên, để HS học tập tốt môn toán thì GV phải cung cấp đầy đủ lượng kiến thức cần thiết, cần đổi mới các phương pháp dạy học, làm cho các em trở nên yêu thích toán học hơn, vì có yêu thích mới dành nhiều thời gian để học toán Từ đó các em tự ý thức trong học tập và phân bổ thời gian hợp lý đảm bảo yêu cầu học tập của thời đại mới
Khi chuyển sang bậc THCS, HS được học nhiều môn có tính chất phân nhánh, hẹp hơn và có bề sâu về chuyên môn Chính sự phân chia các nhánh của lĩnh vực khoa học nên hứng thú nhận thức của HS cũng được phân định
rõ nét Đặc biệt, Toán học là môn học khó và trừu tượng, muốn học tốt môn Toán các em phải tư duy, suy luận nhiều hơn và điều này sẽ khiến các em có hứng thú với Toán học, mong muốn khám phá Toán học về thế giới xung quanh thông qua Toán học Sự hứng thú của HS còn phụ thuộc vào phương pháp dạy học của thầy cô Tuy nhiên sự hình thành hoạt động học tập ở mỗi
em khác nhau là khác nhau, có em học tập thụ động, có em học tập tích cực
Là một GV gắn bó nhiều năm với vùng cao Tà Long , tôi luôn cố gắng bằng kiến thức, kĩ năng, phương pháp và “nghệ thuật” của mình truyền đạt hết cho HS thân yêu tất cả nội dung của từng bài dạy Bởi tôi biết rằng bài dạy càng sinh động, càng hấp dẫn thì càng kích thích hứng thú học tập và khám
Trang 2Tại Trường PTDTBT THCS Tà Long mà tôi đang công tác, có nhiều HS trong tình trạng yếu kém môn Toán Chắc hẳn có nhiều nguyên nhân nhưng bản thân tôi tự thấy rằng một trong các nguyên nhân đó xuất phát từ GV là chưa cho học sinh thấy được vẻ đẹp toán học trong thực tế và những bài toán đưa ra mang hình thức tính toán nhiều mà học sinh chưa thấy lợi ích của toán khi cùng với một số môn học khác để giải thích, tính toán các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Làm thế nào để Toán học trở nên thú vị và khơi gợi được niềm say mê? Đó là trăn trở bấy lâu của tôi để HS say mê và có sự tiến bộ trong học tập, nhất là với môn Toán
Chính vì những lẽ đó mà tôi đã trăn trở, nghiên cứu, tìm tòi sau đó quyết
định thực hiện sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp thúc đẩy học sinh học tập tích cực môn Toán tại lớp 6B Trường PTDTBT THCS Tà Long”
với mong muốn bản thân có phương pháp tối ưu truyền đạt kiến thức cho HS
từ đó HS sẽ có hứng thú với học tập nhất là môn Toán Và trước mắt là các
em có thành tích học tập tốt hơn, chất lượng đại trà của trường được nâng cao hơn
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc học tập môn Toán ở lớp 6B Trường PTDTBT THCS Tà Long
+ Những biện pháp thúc đẩy HS học tập tích cực môn Toán ở lớp 6B Trường PTDTBT THCS Tà Long
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Nghiên cứu tại Trường PTDTBT THCS Tà Long -Đakrông;
+ Thời gian: Từ tháng 9/2015 đến tháng 5/2016
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu:
a Mục đích nghiên cứu
Tìm ra biện pháp thúc đẩy HS học tập tích cực, chủ động, các em sẽ hứng thú hơn đối với môn Toán nói riêng và tất cả các môn học nói chung Từ
đó các em sẽ đạt thành tích cao ở các bài kiểm tra và trong các kì thi Khi đó
Trang 3chất lượng học tập của các em sẽ dần dần được cải thiện theo hướng tích cực, chất lượng đại trà được nâng cao
b Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận của việc thúc đẩy học tập tích cực môn Toán
- Mô tả thực trạng, phân tích, đánh giá thực trạng của việc học tập môn Toán ở lớp 6B Trường PTDTBT THCS Tà Long
- Đề xuất những biện pháp thúc đẩy HS học tập tích cực môn toán tại lớp 6B Trường PTDTBT THCS Tà Long
- Quan sát những chuyển biến sau khi áp dụng sáng kiến
- Bài học kinh nghiệm
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận:
+ Là phương pháp thu thập những tài liệu thực tế
+ Mục đích : Nhằm tìm hiểu một cách chính xác, khoa học các vấn đề có liên quan đến nội dung nghiên cứu
- Phương pháp quan sát:
+ Là việc sử dụng thị giác để thu thập số liệu, dữ liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
+ Mục đích: - Vì trực tiếp với đối tượng và khách thể nghiên cứu nên nhận thức được toàn diện, kết quả thu được đáng tin cậy
- Dễ tiến hành và ít tốn kém
- Phương pháp thực ngiệm sư phạm:
+ Là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi số lượng, chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo dục do nhà khoa học tác động đến chúng bằng một số tác nhân điều khiển và đã được kiểm tra
+ Mục đích: Áp dụng sáng kiến vào lớp thực nghiệm để thấy được hiệu quả của sáng kiến
Trang 4+ Là các phương pháp lí thuyết xác suất và thống kê được dùng trong việc đánh giá các tài liệu nghiên cứu; các phương tiện của lí thuyết tập hợp, của logic và của đại số được dùng trong việc mô tả các cứ liệu
+ Mục đích: Phương pháp này đưa đến số liệu chính xác về các vấn đề cần nghiên cứu trong đề tài
Trong các phương pháp trên, phương pháp nghiên cứu tài liệu, thực nghiệm sư phạm, thống kê toán học là những phương pháp chủ yếu mà tôi sử dụng nghiên cứu đề tài
5 Đóng góp của sáng kiến kinh nghiệm
- Đề tài đã chỉ ra được cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu, thực trạng học tập của học sinh lớp 6B Trường PTDTBT THCS Tà Long
- Đề xuất một số biện pháp thúc đẩy HS học tập tích cực
Trang 5PHẦN 2 NỘI DUNG
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.1 Cơ sở lý luận
Thúc đẩy là một quá trình khơi gợi tiềm năng, năng lực, sức sáng tạo của
cá nhân tập thể nhằm đạt được mục đích đề ra
Biện pháp là cách thức tổ chức khắc phục những hiện tượng tiêu cực hoặc có chiều hướng “tiêu cực”
Tích cực là trạng thái tinh thần có tác dụng khẳng định và thúc đẩy sự phát triển
Tính tích cực trong học tập là một phẩm chất trong nhân cách của người học, được thể hiện ở tình cảm, ý chí quyết tâm giải quyết tâm giải quyết các tình huống học tập đặt ra để có tri thức mới, kĩ năng mới
Tính tích cực biểu hiện:
- Hưởng ứng và thấy rõ trách nhiệm cần thực hiện trong các tình huống học tập
- Chịu khó trả lời các câu hỏi, chăm chỉ, tự giác thực hiện các hoạt động học tập
- Quyết tâm hoàn thành công việc tự mình đặt ra hoặc nhiệm vụ được giao và sẵn sàng giúp đỡ người khác hoàn thành công việc
- Thường xuyên có suy nghĩ phản biện, mở rộng, đào sâu vấn đề Hay đặt các câu hỏi tại sao một cách rất có chủ ý
1.2 Cơ sở thực tiễn
Từ năm 2013, Trường THCS Tà Long được đầu tư xây dựng thêm khu bán trú và trở thành Trường PTDTBT THCS Tà Long Có khu bán trú, các
em ở những bản xa xôi của xã được ăn ở tại đó, điều này tác động tích cực đến việc học của các em, các em ngày càng có sự phấn đấu trong học tập Đa
số các em đều chăm ngoan, vâng lời bố mẹ, thầy cô Tỉ lệ học sinh bỏ học ngày càng giảm, cùng với tỉ lệ chuyên cần đến lớp ngày càng cao Các em dần
có sự đầu tư cho việc học như mua máy tính bỏ túi, dụng cụ học tập
Trang 6Năm học 2015 - 2016 trường có 10 lớp học với 334 học sinh Hiện tại trường có 26 CBGV và nhân viên, được chia thành 6 tổ, 1 tổ Văn phòng và 5
tổ chuyên môn (tổ Toán -Tin; tổ Văn - Sử - Giáo dục công dân; tổ Anh - Địa;
tổ Khoa học tự nhiên; tổ Năng khiếu) GV Trường PTDTBT THCS Tà Long
đa số là lực lượng trẻ, khoẻ, nhiệt tình, năng nổ trong các hoạt động, tâm huyết với nghề, sáng tạo trong khoa học và giáo dục Luôn có tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng với sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Chi bộ, Ban giám hiệu nhà trường Các thầy cô luôn trau dồi kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Trong dạy học, đã thực hiện nhiều đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm HS
Tuy nhiên Tà Long vẫn đang là một xã nghèo của huyện vùng cao Đakrông trải rộng trên 9 thôn bản, có thôn thuộc vùng biên giới giáp với nước bạn Lào, điều kiện giao thông đi lại vô cùng khó khăn gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và kinh tế của bà con, ảnh hưởng đến việc học tập của con
em Đa số các em ở ngoại trú ngoài việc học tập còn phải dành nhiều thời gian phụ giúp gia đình, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc học của các
em Hơn thế những em từ lớp 5 lên lớp 6, hơn nửa số đó thuộc HS khu vực lẻ của Tiểu học năm học trước nên việc tiếp xúc với các em còn gặp nhiều khó khăn do các em còn rụt rè và khả năng nói tiếng phổ thông còn hạn chế
Để kiểm tra tình hình học tập của HS lớp 6B, ngay từ đầu năm tôi đã cho các em kiểm tra 15 phút (phụ lục 1) nhằm đánh giá trước mắt khả năng học tập nhưng kết quả kiểm tra không mấy khả quan:
Tổng
38 SL0 TL0 SL5 %13,2TL SL12 %33,6TL SL10 %26,3TL SL11 %26,9TL
Qua số liệu cho thấy học sinh yếu kém chiếm tỉ lệ khá cao (53,2%) Đứng trước kết quả đó bản thân không thể an lòng, luôn mong muốn tìm ra phương án giúp học sinh học tập ngày càng tiến bộ
Trang 7Chương 2 Nội dung và giải pháp
Để khắc phục những tình trạng yếu kém của HS và nhằm nâng cao chất lượng cho học sinh, làm cho học sinh yêu thích môn toán hơn Tôi đã tiến hành các biện pháp giáo dục dưới đây:
2.1 Thay đổi cách thức dạy học
Thay đổi cách thức dạy học không hẳn là thay đổi hoàn toàn mà phải đổi mới phương pháp và kỹ thuật dạy học sao cho phù hợp với từng tiết dạy trên lớp Các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập luôn là những phương pháp quan trọng trong dạy học Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người GV trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, chẳng hạn như kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh Các phương pháp dạy học mới cần tập trung chú trọng phát triển năng lực học sinh Muốn thực hiện được những điều đó bản thân tôi đã chú trọng hơn rất nhiều cho khâu soạn giáo án ở nhà Khi soạn giáo án cần dự kiến các tình huống xảy ra cho từng hoạt động khi dạy học Theo tôi, GV đưa ra các tình huống có vấn đề, dẫn dắt HS phát hiện sau đó hướng dẫn HS giải quyết các vấn đề sẽ gây hứng thú và kích thích HS học tập, từ đó HS sẽ lĩnh hội kiến thức dễ dàng và sâu sắc hơn Ngoài ra, để phát triển năng lực và dạy học sát đối tượng HS, GV cần đặt câu hỏi phù hợp với khả năng học tập, nhận biết và tiếp thu của từng HS
Ví dụ khi dạy tiết 92 Số học 6 bài luyện tập: Giáo viên muốn các em giải bài tập 114 trang 50 SGK: Tính:
3, 2 15 0,8 2 4 : 3 2
Trang 8Với trình độ và khả của học sinh miền núi thì rất ít các em có thể giải tốt bài tập này mặc dù có sự hướng dẫn của GV Vì thế khi tôi dạy bài này tôi cho HS chơi “trò chơi ô chữ” hoàn thiện các tiểu bài tập sau:
Tính:
4 5
32 15
.
10 64
22 11
:
15 3
8 34
10 15
Các tiểu bài tập này hoàn thiện chính là tổng hợp các phép tính ở bài tập
114 SGK Hơn thế nữa, từ khoá của trò chơi này là: “Giỗ tổ Hùng Vương” giáo viên vừa tích hợp lịch sử, vừa giáo dục lòng yêu nước trong các em Các phương pháp và kỹ thuật dạy học đều có những ưu điểm và hạn chế riêng của nó nên giáo viên cần phải biết sử dụng linh hoạt sao cho mỗi bài dạy đạt được kết quả tối ưu nhất Theo tôi một số điểm lưu ý khi dạy các nội dung môn toán cần chú ý:
* Khi dạy tiết lý thuyết:
- Hãy đặt mình vào vị trí của HS Điều quen thuộc đối với thầy giáo có thể là điều rất mới đối với HS
- Cố gắng tạo ra tình huống có vấn đề làm xuất hiện ở HS nhu cầu nghiên cứu kiến thức mới
- Cố gắng tạo ra tình huống có vấn đề làm xuất hiện ở HS nhu cầu nghiên cứu kiến thức mới
- Đừng bỏ qua, mà hãy khai thác ngay câu trả lời của HS Khuyến khích các câu trả lời tốt
- Tăng cường những câu hỏi mà HS phải phán đoán và lựa chọn Nếu
có thể, hướng dẫn HS cùng tranh luận mà thầy giáo là trọng tài
- Nên vừa giảng vừa luyện Vận dụng kiến thức là cách tốt nhất để nắm vững kiến thức
Trang 9- Nên sơ kết ý trước để chuyển sang ý sau Chú ý cân đối giữa củng
cố từng phần và củng cố toàn bài Hãy để dành những điều cần thiết cho bước củng cố cuối bài
Ví dụ khi dạy tiết 20 số học 6: Dấu hiệu chia hết cho 2, cho 5: Tôi cho
HS xep clip hai bạn học sinh thi đấu bài toán: Các số sau có chia hết cho 2? Cho 5?
Học sinh A trả lời rất nhanh và chính xác, nhưng học sinh B làm phép tính để tính, vừa trả lời chậm mà có câu lại sai Vì sao học sinh A có thể trả lời nhanh như vậy? Đây là điều kích thích tính tò mò và ham hiểu biết, học hỏi của các em Mở đầu như vậy học sinh sẽ rất hứng thú với việc học bài mới
* Khi dạy tiết luyện tập:
- Đừng biến tiết luyện tập thành tiết chữa bài tập Tiết luyện tập phải là tiết dạy cách suy nghĩ giải toán
- Đừng đưa ra quá nhiều bài tập trong tiết luyện tập Nên chọn một
số lượng bài vừa đủ để có điều kiện khắc sâu các kiến thức được vận dụng và phát triển các năng lực tư duy cần thiết trong giải toán
- Nên sắp xếp các bài tập thành một chùm bài có liên quan với nhau
- Trong tiết luyện tập, có những bài được giải chi tiết và có những bài chỉ giải vắn tắt
- Hãy để cho HS có thời gian làm quen với bài toán, cùng với HS nghiên cứu tìm tòi lời giải bài toán và để cho HS được hưởng niềm vui khi tự mình tìm được chìa khóa của lời giải
Đặc biệt khi dạy hướng dẫn học sinh chứng minh một bài toán, giáo viên cần đặt các câu hỏi từ tổng quát đến cụ thể như:
1.Em nào có thể giải (chứng minh) bài toán này?
2 Nếu không thực hiện được 1 thì chia ra:
+ Em nào có thể vẽ hình, viết giả thiết, kết luận cho bài toán?
+ Em nào có thể chứng minh bài toán?
Trang 103 Nếu hs không chứng minh được, giáo viên có thể hướng dẫn đi lên để
hs dễ dàng tiếp cận và chứng minh bài toán
Lưu ý, đứng trước một bài toán ta có rất nhiều cách để giải Vì thế giáo viên khi đặt câu hỏi hướng dẫn thì chúng ta phải đi theo hướng suy nghĩ của học sinh (nếu cách giải đúng), sau đó giới thiệu cho hs các cách giải khác
Ví dụ đứng trước bài toán: Cho tam giác ABC cân tại A, các đường trung tuyến BE và CF (E thuộc AC, F thuộc AB) Chứng minh: BE = CF
A
Mặc dù khi soạn giáo án, GV có ý định hướng hs chứng minh hai tam giác AEB và AFC bằng nhau để suy ra BE = CF, nhưng khi lên lớp GV hỏi hs: “Ta cần chứng minh hai tam giác nào bằng nhau để suy ra BE = CF” thì
HS có thể trả lời “∆BFC = ∆CEB” Khi đó ta phải hướng dẫn HS chứng minh
∆BFC = ∆CEB Nhưng sau đó gợi ý thêm cách chứng minh hai tam giác AEB
và AFC bằng nhau
* Khi dạy tiết ôn tập:
- Tiết ôn tập không phải tiết nhắc lại các kiến thức đã học Cố gắng tìm
ra được "sợi chỉ " liên kết các kiến thức ấy với nhau
- Nên có các bảng hệ thống mà các kiến thức trong bảng liên quan với nhau cả theo hàng lẫn theo cột Tận dụng các sơ đồ để hệ thống kiến thức
- Nên chọn những bài tập có nội dung tổng hợp liên quan đến nhiều kiến thức cần ôn tập, qua đó khắc sâu, hệ thống và nâng cao các kiến thức cơ bản
đã học