Quản trị chiến lược AMERICAN INTERNATIONAL GROUP (AIG)
Trang 2Phần I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY AMERICAN INTERNATIONAL GROUP,
INC (AIG) 5
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN AIG 5
1 Tổng quan về tập đoàn AIG 5
2 Thông tin cơ bản của tập đoàn AIG 5
3 Lĩnh vực kinh doanh 5
4 Khu vực hoạt động 5
II LỊCH SỬ CHIẾN LƯỢC 6
1 Lịch sử chiến lược 6
2 Thành tựu đạt được 11
III PHÂN TÍCH VIỄN CẢNH, SỨ MỆNH 11
1 Viễn cảnh 11
2 Sứ mệnh 13
PHẦN II: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI 17
I MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU 17
1 Những thảm họa thiên nhiên và khủng bố tràn lan 17
2 Kinh tế - tài chính thế giới 19
II MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ 25
1 Môi trường kinh tế 25
2 Môi trường chính trị - quân sự 27
3 Môi trường chính trị pháp luật 29
4 Môi trường nhân khẩu 30
5 Môi trường công nghệ 33
III MÔI TRƯỜNG NGÀNH VÀ CẠNH TRANH 33
1 Định nghĩa ngành 34
2 Mô tả ngành 34
3 Phân tích tính hấp dẫn ngành 34
IV KẾT LUẬN CHÚNG VỀ CÁC MÔI TRƯỜNG 50
1 Khuynh hướng thay đổi của môi trường 50
Trang 32 Cơ hội – đe dọa 51
PHẦN III : PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC 54
I CHIẾN LƯỢC CÔNG TY 54
1 Liên doanh chiến lược 55
2 Mua lại 56
3 Cải tổ 59
II CHIẾN LƯỢC TRONG MÔI TRƯỜNG QUỐC TẾ 63
1 Sự hiện diện toàn cầu 63
2 Lợi ích mở rộng toàn cầu 64
3 Cách thức thâm nhập thị trường 64
4 Lựa chọn chiến lược 65
5 Thị trường hoạt động của nhóm bảo hiểm nhân thọ 70
III CHIẾN LƯỢC CHỨC NĂNG 71
1 Chiến lược R & D 71
2 Chiến lược Marketing 73
3 Chiến lược nhân sự 75
IV CHIẾN LƯỢC CẤP KINH DOANH 79
1 Phân chia SBU 79
2 Chiến lược các SBU 80
V THỰC THI CHIẾN LƯỢC 82
1 Cơ cấu tổ chức 82
2 Hệ thống kiểm soát chiến lược 84
VI THÀNH TỰU CHIẾN LƯỢC 86
1 Thành tựu thị trường 86
2 Thành tựu tài chính 87
VII SỰ PHÙ HỢP CHIẾN LƯỢC 99
VIII PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH 100
1 Bản chất lợi thế cạnh tranh 100
2 Nguồn gốc lợi thế cạnh tranh 102
Trang 4IX Kết luận về sự phù hợp chiến lược 115 Phần IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 5Phần I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY AMERICAN INTERNATIONAL
GROUP, INC (AIG)
1 Tổng quan về tập đoàn AIG :
American International Group, Inc - còn được gọi là AIG - là một tập đoàn bảohiểm và dịch vụ tài chính hàng đầu thế giới, có trụ sở chính đặt tại Mỹ.AIG hoạt động ởhơn130 quốc gia phục vụ hơn 88 triệu khách hàng là các công ty thương mại, tổ chức và
cá nhân, thông qua mạng lưới bảo hiểm tài sản - tai nạn trên toàn cầu,và các dịch vụ quản
lý tài sản, dịch vụ tài chính
Từ năm 1967, Maurice Greenberg làm chủ tịch tập đoàn , với sự lãnh đạo của mìnhông đã đưa AIG từ một công ty bảo hiểm nhỏ không ai biết đến thành một “gã khổng lồ”trong thị trường bảo hiểm và tài chính trên quốc tế Tỉ suất lợi nhuận của AIG luôn đứng
ở top cao nhất trong ngành bảo hiểm thế giới Năm 2014, theo Fortune AIG được xếpthứ 40 trong danh sách 500 công ty lớn nhất và đứng thứ 42 trong danh sách 2000 công
ty cổ phần lớn trên thế giới theo Forbes Global
2 Thông tin cơ bản của tập đoàn AIG :
Trụ sở chính : New York, Mỹ
Thành lập : năm 1919
Người sáng lập : Cornelius Vander Starr
Chủ tịch và Giám đốc điều hành : Robert H Benmosche
Doanh thu : 68,8 tỷ USD (2013)
Nhân viên : 64.000 (2013)
Website : http://www.aig.com
3 Lĩnh vực kinh doanh:
Bảo hiểm nhân thọ và hưu trí
Bảo hiểm phi nhân thọ
Quản lý tài sản
Dịch vụ tài chính
4 Khu vực hoạt động :
Châu Mỹ :Antigua & Barduda, Canada, Brazil, Mexico, Colombia, Chile, United
states, Uruguay, Venezuela,……
Châu Âu : Austria, Pháp, Đức, Hungary, Nga, Đan Mạch, Thổ Nhĩ kì, Vương
Trang 6 Châu Phi : Ai cập , Kenya, Nam Phi, Uganda,
1. Lịch sử chiến lược :
1.1 Giai đoạn 1919- 1940: Khởi đầu
Năm 1919, AIG được thành lập tại Trung Quốc bởi Cornelius VanderStarr - một
doanh nhân trẻ người Mỹ.
Lúc bấy giờ, Starr nhận thấy được rằng các thảm họa thiên tai như: động đất, songthần, bão lũ,… thường xuyên xảy ra trên thế giới, mức độ gây thiệt hại rất lớn và nặng nề,không một ai có thể đảm bảo được các thiên tai này sẽ không xảy ra, nhưng bù đắp thiệthại đó là có thể Từ đó ông nảy sinh ra một ý tưởng siêu việt là dùng các dòng tiền “chảy”
từ người này sang người khác từ những những nơi này sang nơi khác khắp trên thế giới
đề đền bù thiệt hại cho lẫn nhau AIG được thành lập dựa trên mục đích ban đầu là nhưvậy Ban đầu thành lập AIG là một cơ quan bảo hiểm nói chung, American AsiaticUnderwriters (AAU), AIG là tên gọi sau này
Trong suốt những năm 1920, AAU mở rộng hoạt động của họ lên khắp lãnh thổ
Trung Quốc và đặc biệt là khu vực Đông Nam Á.
Thế chiến thứ I nổ ra, mang lại thiệt hại rất nặng nề và vô kể, các đế quốc tập trungđánh chiếm, xâm lược các nước Đông Nam Á, thiệt hại là vô cùng to lớn và nặng nề, cả
về tính mạng cong người và tài sản Starr nhận thấy bảo hiểm tính mạng con người là mộtcon mồi béo bở, và thị trường siêu tiềm năng là Đông Nam Á Đây là bước đánh dấu sựphát triển vượt bậc của AIG, đưa dịch vụ của họ bước đầu ra toàn Châu Á
Năm 1926, ông Starr mở văn phòng đầu tiên của mình tại Hoa Kỳ, Hoa Kỳ Tổng
công ty bảo hiểm quốc tế (AIU)
Từ lúc thành lập, với trụ sở ban đầu tại Thượng Hải, Trung Quốc, AAU chỉ bànhtrướng hoạt động của mình tại Trung Quốc rồi lan sang khu vực Đông Nam Á mà chưa
để ý đến thị trường châu Mỹ Để tăng cường vị thế trên thương trường của công ty, Starrnhận thấy cần phải tìm kiếm thêm thị trường mới Với quyết định mở văn phòng đầu tiêntại Hoa Kỳ, công ty có thể tiếp cận trực tiếp với khách hàng tại châu Mỹ, do đó dễ dàngtập trung các cơ hội, bước đầu xâm nhập thị trường nước nhà tại châu Mỹ
Năm 1927, nhận thấy cần liên kết tài chính với các công ty lớn và mở rộng trực tiếp
dịch vụ đến họ.
AIU chuyển sang các hoạt động đầu tư kết hợp với trụ sở chính đặt tại 17 The BundThượng Hải Bước đầu cho sự liên kết tài chính với các tập đoàn lớn ở Trung Quốc vàtrên thế giới
Trang 7Giai đoạn khởi đầu dù còn sơ khai nhưng đã đánh dấu sự ra đời của một siêu tậpđoàn với một ý tưởng siêu việt, mở ra một ngành công nghiệp dịch vụ mới mẻ và hấp dẫntrên thế giới.
1.2 Giai đoạn 1940- 1960: Mở rộng thị trường trong nước và thế giới
Những thập niên 1940 : Sau thế chiến thứ 2, AIU gia nhập vào Nhật Bản và Đức
bằng cách cung cấp bảo hiểm cho lực lượng quân đội Mỹ chiếm đóng tại đây Với nhữngđiều kiện sau chiến tranh, cùng với những chính sách tài chính chặt chẽ của công ty bảohiểm địa phương đã tạo vị thế để AIU mở rộng kinh doanh tại Châu Âu Cuối những nămnày AIU đã có văn phòng tại Pháp , Ý và Vương quốc Anh
Năm 1947 : Starr thành lập Các Philippine Mỹ và Tổng Công ty Bảo hiểm Cuộc
sống (Philamlife), là công ty lớn nhất trong quốc gia.
Bên cạnh đó, Starr còn thành lập Công ty Bảo Hiểm Quốc Tế Mỹ, Ltd (AIA) để nhậplại bảo hiểm nhân thọ của thị trường Đông Nam Á Để mở rộng ra ngoài Châu Á, công
ty mở thêm Công ty Bảo hiểm Nhân Thọ (ALICO) Trong giai đoạn này, doanh nghiệpvừa mở rộng cả về thị phần lẫn qui mô của mình
Năm 1948 : Starr bắt đầu hợp nhất mạng lưới phân mảnh của các công ty bảo hiểm
bằng cách hình thành hai thực thể dựa trên Bermuda :
Đầu tiên, American International Underwriters ở nước ngoài, Ltd (AIUO), đã trởthành cha của tất cả các công ty thành lập cơ quan AIU ở nước ngoài Thứ hai, Công tyTái bảo hiểm Quốc tế Mỹ, Inc (Airco), được thiết kế để kiểm soát công ty kinh doanh chủyếu trong bảo hiểm nhân thọ Airco cũng nắm quyền kiểm soát các chương trình đầu tưcông ty và phục vụ như là một công ty bảo hiểm cho các công ty con Với việc hợp nhấtnày, Starr có thể dễ dàng quản lý cũng như nhận biết được rõ hơn các cơ hội kinh doanhtrên thị trường đối với từng mảng dịch vụ mình cung cấp cho khách hàng
Những năm 1950 là một thời kỳ phát triển nhanh chóng cho AIU Chi nhánh đã
được thành lập ở Tây Âu, Trung Đông, Bắc Phi, và Australia Đến cuối thập kỷ AIU đãhoạt động tại 75 quốc gia
Năm 1952 : Airco mua lại phần lớn công ty bảo hiểm Globe & Rutgers Fire
Đây là một công ty bảo hiểm cháy nổ tại Mỹ Trong đó có công ty bảo hiểm của tiểubang Pennsylvania, được thành lập năm 1794, là công ty bảo hiểm chứng khoán lâu đờithứ hai tại Hoa Kỳ Vì là công ty lớn và có từ lâu nên thị phần của nó tương đối lớn cũngnhư gây được danh tiếng thương hiệu Với việc mua lại các công ty lâu đời này, AIG cóthể tận dụng được thương hiệu của công ty này để phát triển kinh doanh
Trang 8* Những hoạt động đẩy mạnh mở rộng thị trường làm cho AIG có mặt gần như hầuhết các khu vực trên thế giới, làm tăng quy mô của công ty đáng kể
1.3 Giai đoạn 1960 – 1980 : Tái cấu trúc và chuyên môn hóa
Trong suốt những năm 1960, các doanh nghiệp ở nước ngoài của AIU đã tăng.
Bất chấp những tổn thất kinh doanh lớn của Cuba sau khi Fidel Castro tiếp quản nhànước Kể từ khi nó đã bước vào thị trường lớn nhất ở thập kỷ trước đó, trong giai đoạnnày việc mở rộng chỉ tập trung ở trong nước và các quốc gia nó đã có mặt Việc mua lạihàng loạt công ty ở các quốc gia trong giai đoạn này bao gồm việc kiểm soát lợi ích trongcông ty bảo hiểm của National Union Fire Insurance của Pittsburgh, Pennsylvania, (đãđược đại diện bởi AIU kể từ năm 1927) và Công ty Bảo hiểm New Hampshire Công tybảo hiểm Thương mại và Công nghiệp và Công ty Tái bảo hiểm xuyên Đại Tây Dươngcũng đã được mua lại trong thời gian này
Năm 1966: Công ty bắt đầu có bảo hiểm trách nhiệm dành cho cán bộ và nhân
viên.
Ban đầu AIG chỉ cung cấp bảo hiểm trách nhiệm cho các nhân viên của mình Điềunày làm tăng niềm tin cũng như sự trung thành của nhân viên đối với công ty, tạo nhiệthuyết cống hiến hết mình cho tập đoàn của các nhân viên, làm vững mạnh sự đoàn kếtbên trong tổ chức Nhận thấy lợi ích to lớn từ việc đó, AIG đẩy mạnh cung cấp bảo hiểmtrách nhiệm nhân viên cho các tổ chức khác Đa dạng thêm sản phẩm bảo hiểm mà công
ty cung cấp
Năm 1967, American International Group (AIG) được thành lập
Đây như là một tổ chức bảo trợ thống nhất cho hầu hết các doanh nghiệp nói chung
và bảo hiểm nhân thọ CV Starr AIG được thành lập với tư cách là công ty mẹ, thốngnhất tập đoàn AIG như ngày nay Ông Greenberg được bầu làm chủ tịch và CEO củaAIG, đánh dấu sự chuyển biến lớn trong sự lãnh đạo của công ty, mở ra một kỷ nguyênmới cho chế độ bảo hiểm mà ông đặt ra Năm sau đó, người sáng lập ông Starr qua đời
Năm 1969: công ty bắt đầu cổ phần hóa
AIG có được lợi ích lớn trong Liên minh Quốc gia, New Hampshire, và AmericanHome, trả tiền cho cổ phần tăng lên của nó trong ba công ty có cổ phiếu của AIG Năm
1970 AIU và các cơ quan và các công ty con của nó đã trở thành sở hữu toàn bộ công tycon của AIG
Trong đầu những năm 1970, AIG tăng cường chuyên môn của mình bằng cách
hình thành một số nhóm mới và mua lại cổ phần.
Trang 9Trong thời gian này AIG đã mua toàn bộ cổ phần còn lại của công ty New
Hampshire và Liên minh Quốc gia.Lợi nhuận của AIG đã bắt đầu tăng vào năm 1970, với
tốc độ tăng trưởng kép khoảng 20 phần trăm, với thu nhập ròng của AIG vượt 50.000.000
$ so với năm 1975 do phí bảo hiểm cao trong các thị trường mới: giàn khoan và quản lýlương hưu, quỹ cũng như việc sử dụng hạn chế hợp tác bảo hiểm cho rủi ro cao đóng gópvào sự tăng trưởng
Trong một nỗ lực để củng cố vị trí ở nước ngoài của AIG, một chương trình 18tháng đã được bắt đầu vào năm 1972 tạo ra một hệ thống lợi ích khu vực cho các nhàquản lý châu Âu, châu Phi, Trung Mỹ, Nam Mỹ, Trung Đông, Viễn Đông và Hoa Kỳ
Năm 1976, AIG tiếp tục tái cấu trúc và chuyên môn hóa
Với việc chia làm 4 bộ phận: bộ phận đối ngoại, bộ phận môi giới bảo hiểm trongnước, cơ quan bảo hiểm chung trong nước, và bộ phận bảo hiểm nhân thọ AIG thuận lợihơn trong việc đẩy mạnh chuyên môn hóa cho từng mảng dịch vụ phục vụ, dễ dàng nắm
rõ các cơ hội cũng như thách thức trong ngành
Năm 1978, hoàn thành một kế hoạch hợp nhất chín năm để đơn giản hóa cấu trúc
doanh nghiệp.
Vào cuối những năm 1970, doanh thu của AIG tăng trưởng mạnh.
AIG đã tăng trưởng 20 phần trăm doanh thu hàng năm và đã tăng kích thước của nógần gấp mười lần Năm 1979, AIG báo cáo trên 250 triệu USD lợi nhuận ròng
1.4 Giai đoạn 1980- 2000 : Mở ra nhiều cơ hội mới
Trong những năm 1980: AIG đầu tư vào các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, và có
được nhiều nguồn tài chính và đầu tư cũng như cổ phiếu, bất động sản và mua lại hàngloạt các công ty bảo hiểm: tổng công ty Bảo Việt, ngân hàng Uberseebank AG ThụySỹ…
Năm1984 :Cổ phiếu của AIG được niêm yết tại thị trường chứng khoán New York.
Chứng tỏ được công ty AIG đã đủ tiêu chuẩn do trung tâm hoặc sở giao dịch chứngkhoán đặt ra để niêm yết giá cổ phiếu, doanh nghiệp có thể huy động vốn một cách nhanhchóng, thuận tiện, dễ dàng từ việc phát hành cổ phiếu dựa trên tính thanh khoản cao và uytín của doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường
Năm 1987: AIG đã trở thành công ty bảo hiểm nước ngoài thứ hai tại Hàn Quốc.
Trang 10AIG được ủy quyền bởi chính phủ Hàn Quốc, bắt đầu hoạt động bảo hiểm nhân thọ,kết thúc một cuộc đấu tranh 15 năm để đột nhập vào thị trường Hàn Quốc., trở thành đốithủ cạnh tranh lớn nhất quốc tế so với các công ty trong ngành
Thập niên 1990:AIG mở rộng hoạt động kinh doanh đến các quốc gia như Trung
Quốc, Châu Mỹ Latin, Israel, Nga, Uzbekistan và ĐôngÂu.
Năm 1990:Mở rộng mảng Dịch vụ tài chính
Đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp, sử dụng hiệu quả nguồn vốn của công ty
Năm 1999:AIG mua lại công ty Sun America Inc
Đây là công ty cung cấp dịch vụ hưu trí lớn nhất nước Mỹ đây là động thái đầu tiên
để AIG tiềm kiếm thêm một chân thứ 4 hoạt động trong lĩnh vực tiết kiệm hưu trí và quản
lí tài sản
1.5 Kết luận :
Trong truyền thống kinh doanh của mình AIG đã có kinh nghiệm hơn 80 nămtrong lĩnh vực bảo hiểm và tài chính, bao gồm 4 mảng chính : bảo hiểm phi nhân thọ, bảohiểm nhân thọ và hưu trí, quản lý tài sản, các dịch vụ tài chính Qua thời gian nó pháttriển và trở thành tổ chức bảo hiểm –tài chính hàng đầu thế giới
Trong suốt quá trình hoạt động của mình AIG luôn theo đuổi triết lý kinh doanh :
“Chúng ta cạnh tranh quyết liệt để tạo ra những cơ hội mới cho khách hàng và chính bảnthân chúng ta Chúng ta tìm kiếm những lợi thế cạnh tranh thông qua các hoạt động kinhdoanh hợp pháp và có đạo đức” Tuân theo những nguyên tắc nền tảng : đổi mới, đề caocon người, tôn trọng quan hệ đối tác và đặt sự chính trực lên hàng đầu
Xuyên suốt chặng đường lịch sử của mình, AIG phát triển chiến lược thâm nhậpthị trường trong những giai đoạn đầu của phát triển thị trường Theo như CEO –Greenberg, “Các công ty AIG đều là những công ty bảo hiểm nước ngoài đầu tiên thâmnhập vào thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, và một số quốc gia Nam Á khác Những sự kếthợp liên doanh của chúng tôi tại Trung Âu và Đông Âu đều là những hình thức liêndoanh tài chính đầu tiên tại thị trường của họ” Việc sớm thâm nhập vào thị trường manglại cho AIG 3 lợi thế cạnh tranh chính :
- Thứ nhất, AIG có thể phát triển thuận lợi mối quan hệ với chính phủ Sau khi thịtrường của họ được chính phủ bảo vệ, AIG dễ dàng chiến thắng sự thâm nhập của cáccông ty khác cũng như những công ty mới hình thành bởi việc sử dụng mối quan hệ mậtthiết với chính phủ
- Thứ hai, việc cạnh tranh tại những thị trường này sẽ bớt khốc liệt hơn khi cạnhtranh tại Mỹ hoặc Châu Âu, vì vậy AIG có thể chiếm được lợi thế trên những thị trườngthích hợp Kể cả nếu khi những đối thủ cạnh tranh thâm nhập vào thị trường trễ hơn, lúc
Trang 11đó AIG gần như đã xây dựng được thương hiệu của họ, và họ có thể được gọi là những
“Người cha lớn” đứng ra lớn tiếng để bảo vệ những gì họ cho là họ đúng, hiển nhiên làđúng Ví dụ như, một số công ty bảo hiểm nước ngoài khác đã yêu cầu chính phủ TrungQuốc sắp đặt cho họ tham gia liên doanh với một số công ty của người Trung Quốc bảnđịa, nhưng AIG đã được cho phép mở hai chi nhánh mới của họ ngay tại khu bản địa đó
- Thứ ba, AIG có thể đạt được tới kích thước tối thiểu hiệu quả nhanh nhất và sau
đó cạnh tranh với những người đến sau từ những vị trí giá thấp nhất Với giá thấp phủđầu tại những thị trường này và chi phí hoạt động thấp thông qua một hệ thống phân phốirộng lớn, AIG có thể đạt được những mô hình nhỏ nhất nhưng hiệu quả một cách nhanhchóng Điều này giúp nó đạt được một mức lợi nhuận cao
2 Thành tựu đạt được :
1951: AIG trở thành công ty bảo hiểm nhân thọ lớn nhất tại Mỹ
1950 - 1960: AIG có trụ sở đại diện tại 75 quốc gia trên toàn thế giới, thâmnhập thành công vào thị trường Tây Âu và Trung Đông
1 Innovation
We encourage change, always pursuing promising opportunities for our clients, our partners and ourselves
Trang 121 Sự đổi mới :
Chúng tôi khuyến khích sự thay đổi, luôn theo đuổi những cơ hội đầy hứa hẹn cho khách hàng, cho đối tác và cho cả chúng tôi.
2 Công dân toàn thế giới :
Chúng tôi nắm lấy sự đa dạng và nuôi dưỡng một nền văn hóa khuyến khích làm việc theo nhóm và cùng theo đuổi lợi ích chung.
Trang 13Sự đổi mới :AIG luôn khuyến khích phát triển tài năng, ủng hộ sự đổi mới, sáng
tạo Và AIG luôn nắm bắt những cơ hội đem lại lợi ích tốt nhất cho khách hàng củamình, cho đối tác và cho chính doanh nghiệp
Con người : AIG nắm rõ sự đa dạng về văn hóa của nhân viên trong tổ chức, do
đó AIG chú trọng hòa hợp sự khác biệt này để tạo ra một môi trường làm việc với mộtnền văn hóa theo nhóm cùng theo đuổi mục đích
Sự tin tưởng : là yếu tố quan trọng hàng đầu của AIG khi làm việc với khách
hàng, AIG muốn khách hàng thực sự an tâm và tin tưởng khi chọn AIG Tinh thần đó sẽtạo nên tương lai của chúng ta, nâng cao uy tín của AIG
Sự chính trực : điều không bao giờ chuyển dịch đó là môi trường làm việc công
bằng tôn trọng lẫn nhau giữa các đồng nghiệp Luôn làm việc với tinh thần trung thực.Các giá trị cốt lõi và nguyên tắc được đặt ra của AIG giúp phân biệt AIG với cáccông ty khác và là một thành phần không thể thiếu của định hình những giá trị mà AIGmang đến cho khách hàng, nhân viên và tất cả các cộng đồng của AIG Giá trị cốt lõitrong công việc kinh doanh của AIG là một lời hứa rằng AIG sẽ bảo vệ các sản phẩm vàdịch vụ của AIG Những giá trị cốt lõi này là chất kết dính của tổ chức, là chất xúc tácthôi thúc tinh thần làm việc của nhân viên để đạt được viễn cảnh của AIG
1.1.2 Mục đích cốt lõi :
“Để tạo ra giá trị chưa từng có cho khách hàng, nhân viên, đối tác kinh doanh và các cổ đông của chúng tôi bằng cách cung cấp dịch vụ đáng chú ý đó là phù hợp, công bằng và minh bạch.”
1.2 Hình dung tương lai :
“Chúng tôi mong muốn trở thành nhà cung cấp hàng đầu các lựa chọn về dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ khách hàng hàng ở mọi nơi trên thế giới.”
Điều này không phải dễ dàng khi điểm xuất phát của AIG là một công ty vô danhtrên thị trường, được thành lập từ những năm tháng có sự biến động mạnh về chính trị vàkinh tế qua các thế chiến thế giới AIG phải đối diện với nhiều thách thức và rủi ro quacác thời kì, nhưng với tư tưởng cốt lõi của mình đã giúp AIG vượt qua tất cả để có vị thếnhư ngày hôm nay
Trang 14"Là một tổ chức dịch vụ tài chính toàn cầu, chúng tôi đã cam kết nguồn lực của chúng tôi để phát triển sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như thúc đẩy một văn hóa doanh nghiệp là sự chính trực, đa dạng, đổi mới và xuất sắc."
2.1 Định hướng khách hàng và định nghĩa kinh doanh:
AIG khẳng định là “một tổ chức tài chính toàn cầu”.
AIG cung cấp các dịch vụ về bảo hiểm, tài chính, quản lý tài sản cho các đối tượngkhách hàng bao gồm các công ty thương mại , tổ chức, hay cá nhân trên bất kì nơi đâu.Tuy là một định hướng tưởng chừng đơn giản nhưng không phải dễ để thực hiện được,với điều đó AIG phải có chiến lược thâm nhập vào phục vụ nhiều thị trường trên toàn thếgiới của nó
2.2 Các cam kết:
AIG đã tạo dựng nền tảng cho tổ chức của mình bằng cách đưa ra những giá trị camkết tới cộng đồng và các bên hữu quan của mình Qua đó, AIG đã đạt được vị trí quantrọng trong ngành kinh doanh của mình, đồng thời coi đó là lợi thế cạnh tranh củamình.Việc thực hiện các cam kết của chúng ta là vấn đề quan trọng sống còn đối vớinhân viên, khách hàng, cổ đông và những cộng đồng mà chúng ta sống và làm việc Cốtlõi công việc kinh doanh của AIG là một lời hứa rằng chúng ta sẽ bảo vệ các sản phẩm
và dịch vụ của chúng ta.Tính liêm chính của cá nhân và tổ chức có ý nghĩa quan trọngtrong việc thực hiện lời hứa này và bảo vệ danh tiếng của chúng ta Những giá trị camkết đó là:
Những cam kết và giá trị mà AIG mang đến cho các bên hữu quan:
C.V Starr nói: “Tôi hy vọng các bạn sẽ trung thực, làm việc chăm chỉ và coi công ty như tài sản riêng của chính mình” Và ông khẳng định: “Công việc của chúng ta là gì?
Nó không có gì hơn một sự đảm bảo, một mẫu giấy, tất cả là vì con người và chúng ta quan tâm tới con người của chúng ta.”
Cam kết tạo ra một môi trường làm việc tôn trọng lẫn nhau: Đối xử với nhau mộtcách tôn trọng không phân biệt đối xử dựa vào sắc tộc, màu da, tôn giáo, giới tính, nguồngốc dân tộc, độ tuổi, sự khuyết tật, sự phục vụ trong quân đội, tình trạng hôn nhân, hoặcđịnh hướng tình dục
Cung cấp cho nhân viên cơ hội dựa vào hiệu suất và đặc tính thích hợp với hiệu suấtcông việc Tuân thủ luật lao động và tuyển dụng tại địa phương bao gồm luật điều chỉnhviệc phân biệt đối xử và quấy rối Cung cấp môi trường làm việc không có quấy rối bấthợp lý Đảm bảo môi trường làm việc an toàn, lành mạnh và bảo đảm an ninh
AIG tôn trọng thông tin cá nhân và tài sản của nhân viên Chỉ những người thíchhợp với lý do hợp lệ để truy cập vào thông tin cá nhân hoặc tài sản của nhân viên mới
Trang 15được phép truy cập vào thông tin hoặc tài sản này Tuy nhiên, thỉnh thoảng, AIG có thểtruy cập và giám sát việc sử dụng và giao tiếp qua internet của nhân viên Tùy theo luậtpháp địa phương, nhân viên sẽ không hy vọng có sự bảo mật liên quan đến giao tiếp tạinơi làm việc hoặc việc sử dụng các nguồn công nghệ thông tin của AIG.
Đối với các khách hàng :
AIG nổi tiếng vì tinh thần kinh doanh của mình “Chúng ta cạnh tranh quyết liệt đểtạo ra những cơ hội mới cho khách hàng và chính bản thân chúng ta Chúng ta tìm kiếmnhững lợi thế cạnh tranh thông qua các hoạt động kinh doanh hợp pháp và có đạo đức.”Không bao giờ làm tổn hại đến lòng tin của khách hàng bằng việc tiết lộ thông tinriêng cho những người không có mục đích công việc hợp pháp.Việc phân loại thông tin làthông tin cá nhân hoặc dữ liệu kinh doanh có thể khác nhau tùy theo từng quốc gia.Những nhân viên xử lý thông tin của khách hàng có trách nhiệm hiểu và tuân thủ các quiđịnh của pháp luật hiện hành về bảo mật thông tin.Trong mọi trường hợp, chúng ta phảiduy trì biện pháp bảo vệ vật thể, quản trị và kỹ thuật cho thông tin cá nhân và dữ liệukinh doanh
AIG khẳng định: “Chúng ta phải đặc biệt thận trọng tuân thủ pháp luật, các qui định và chính sách khi chuyển thông tin cá nhân và dữ liệu kinh doanh qua biên giới quốc gia Nếu bạn có bất cứ câu hỏi nào về bảo mật thông tin cá nhân và hoặc bảo mật
dữ liệu, hãy tham vấn với người quản lý của mình, luật sư hoặc chuyên viên tuân thủtrong đơn vị của bạn.”
“Các cổ đông tin tưởng gửi gắm tài sản của họ cho chúng ta AIG bảo vệ các tài sản này bằng việc hành động liêm chính trong tất cả các hoạt động kinh doanh của chúng ta.”
Bảo vệ các nguồn lực của AIG : để phục vụ tốt nhất khách hàng và cổ đông củachúng ta, cần đặc biệt thể hiện việc giữ gìn và sử dụng thích hợp các nguồn lực của chúngta
Đối với xã hội:
“Thông qua các sản phẩm, dịch vụ và hoạt động kinh doanh có trách nhiệm của chúng ta, AIG cố gắng cải thiện chất lượng cuộc sống trong mọi quốc gia nơi chúng ta
có hoạt động kinh doanh Khuyến khích tuân thủ pháp luật và qui định áp dụng đối với công việc của chúng ta trên cơ sở tập thể công dân.”
Thông qua các hoạt động bền vững, mỗi nhân viên có thể góp phần giúp AIG đónggóp tích cực cho xã hội và môi trường Lĩnh vực bảo hiểm môi trường của AIG dẫn đầutrong việc cung cấp các giải pháp khuyến khích một môi trường sạch và an toàn hơn Cácđơn vị bảo hiểm của AIG có kinh nghiệm lâu năm trong việc giúp đỡ khách hàng phụchồi từ những thảm họa tự nhiên Qua nhiều năm, các công ty của AIG đã đầu tư vào việc
Trang 16phát triển “nguồn vốn xanh” đầu tư vào các dự án và công nghệ mang lại lợi ích cho môitrường Việc đầu tư vào các quốc gia trên khắp thế giới nơi chúng ta có hoạt động kinhdoanh là chiến lược cốt lõi mang lại lợi ích cho các nền kinh tế địa phương và là chiếnlược có truyền thống lâu đời tại AIG.
Ông Winston Churchill: “ Bảo hiểm là phép thuật của những con số trung bình có tác dụng tuyệt vời cho hàng triệu”.
AIG rất coi trọng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, hợp tác với các tổ chức từ thiệnkhác nhau và hỗ trợ có mục tiêu cho trẻ em tại các cơ sở điều trị y tế, bệnh viện lâm sàngcủa trẻ em (trong đó trẻ em vô gia cư được điều trị) và trại trẻ mồ côi
Trang 17PHẦN II: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
Giới hạn nghiên cứu: Lĩnh vực bảo hiểm- tài chính
Phạm vi: Toàn cầu.
Thời gian: Từ năm 2000 đến nay, đặc biệt giai đoạn 2005-2010
1 Những thảm họa thiên nhiên và khủng bố tràn lan:
1.1 Những thảm họa thiên nhiên chấn động thế giới:
Thống kê từ năm 2000 đến nay đã xảy ra rất nhiều thảm họa thiên nhiên thảm khốc
để lại những hậu quả nặng nề cho nhân loại :
- Cơn bão Catarina (2004) -cơn bão lần đầu tiên xuất hiện ở phía Nam Đại Tây
- Động đất dưới biển ngoài khơi ở Indonesia (2004) : gây ra “vạt” sóng thần lớn
và rộng làm thiệt mạng gần 300.000 người ở nhiều nước Đông Nam Á và Nam Á Đây làtrận động đất mạnh nhất trong vòng 40 năm (8,9 độ richter) đến thời điểm năm 2004
- Bão Katrina, Mỹ (2005) - 125 tỷ USD
Cho đến nay, Katrina vẫn là thảm họa thiên nhiên tồi tệ và nguy hiểm nhất từnggây ra cho nước Mỹ, với con số ước tính lên tới 125 tỷ USD Các bang bị thiệt hại năng
nề nhất là Alabama, Florida, Louisiana và Mississipi với 1.836 người chết Rất nhiềuthành phố bị lụt trong hàng tuần, ngăn chặn bất cứ ai trở về ngôi nhà của họ
- Siêu bão Nargis ở Myanmar (năm 2008) làm hơn 78.000 người chết và 50.000
người mất tích, tàn phá nặng nề nhiều vùng dân cư Thiệt hại của thảm họa này lên tớihàng trăm tỷ USD
- Trận động đất Tứ Xuyên, Trung Quốc (2008)
Thiệt hại 29 tỷ USD, 70.000 sinh mạng và 18.000 người mất tích là những gì màtrận động đất kinh hoàng ở Tứ Xuyên gây ra cho Trung Quốc Trận động đất mạnh 8,0 độrichter này xảy ra vào ngày 12/5/2008
Trang 18- Siêu bão Irene Mỹ (28/8/2011) phá hủy các cầu tàu ở North Carolina, quất
Virginia bằng gió mạnh và càn quét bờ biển trước khi tấn công những thành phố của Mỹ,
để lại những tổn thất nghiêm trọng về người và của tại Mỹ
- Động đất và sóng thần Nhật Bản (2011) - 235 tỷ USD
Không chỉ là trận động đất 9 độ richter và sóng thần đắt đỏ nhất, thảm họa năm
2011 này còn gây thương vong nhiều nhất Ước tính có tới 8.649 người chết và 13.262người mất tích Chính xác, trận động đất tấn công xứ sở mặt trời mọc từ ngày 11/3/2011,
và sau đó là những cơn sóng lớn cuốn phăng mọi thứ trên đường đi Chưa dừng lại ở đó,
sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima còn khiến người ta lo lắng hơn về một thảm họa
đe dọa cuộc sống lâu dài và rộng rãi Đó là chưa kể đến ảnh hưởng của nó đến nền kinh tếcủa nước Nhật, khiến sản xuất của hàng loạt công ty bị đình trệ, giao dịch bị tê liệt Chínhphủ Nhật Bản uớc tính thiệt hại do đại thảm họa này gây ra có thể lên tới 309 tỉ USD
- Bão Sandy Mỹ (năm 2012 )thiệt hại hơn 80 tỷ USD :
Trước khi đổ bộ vào Mỹ, siêu bão Sandy quét qua các quốc đảo Caribe đã cướp đi
69 sinh mạng, gây thiệt hại nặng nề về tài sản Bão Sandy được coi là cơn bão lớn nhất
đổ bộ vào bờ biển miền Đông nước Mỹ trong vòng 100 năm qua và là cơn bão gây thiệthại kinh tế lớn nhất trong lịch sử nước này Hàng nghìn ngôi nhà bị phá hủy, 95 ngườichết, hàng triệu người phải sống trong tình trạng mất điện kéo dài, hàng chục nghìnchuyến bay phải hủy bỏ Thiệt hại do siêu bão Sandy lên tới 80 tỷ USD, cao hơn mức tànphá do bão Katrina gây ra vào năm 2005 Cơn bão đã làm ảnh hưởng đến hoạt động củanhiều ngành công nghiệp hàng đầu của Mỹ như bán lẻ, hàng không và đặc biệt là ngànhkhai thác dầu (70% cơ sở lọc dầu tại bờ Đông nước Mỹ đã phải ngừng hoạt động do cơnbão này)
Bên cạnh đó, thời tiết khô hạn nghiêm trọng tại Mỹ trong năm 2012 cũng đã dẫnđến một trong những đợt hạn hán tồi tệ nhất trong nhiều thập niên gần đây, ảnh hưởngđến hơn một nửa đất nước
Đánh giá của Swiss Re cũng cho biết, năm 2012, thảm họa thiên nhiên đã cướp đisinh mạng của khoảng 11.000 người và số tiền đòi bồi thường lên tới 60 tỷ USD Số tiềnchi bảo hiểm trong năm 2012 hiện cao hơn mức trung bình trong 10 năm qua
1.2 Tình hình chính trị cực đoan, khủng bố lây lan toàn cầu :
- Cuộc khủng bố Mỹ ngày 11/9/2001 : là cuộc đánh khủng bố cảm tử, tàn
phá nặng nề thành phố New York.Theo tường thuật của hãng thông tấn Associated Press,thành phố đã nhận diện hơn 1.600 tử thi, nhưng không thể làm được như thế với số tử thicòn lại (khoảng 1.100 người).Tổng cộng có ít nhất 2.986 người thiệt mạng, ảnh hưởngnghiêm trọng đến sức khỏe của người dân tại đây Thêm vào đó, toà Tháp đôi cao 110
Trang 19tầng của Trung tâm Thương mại Thế giới, cùng với năm toà nhà khác thuộc khu vựcWTC, gồm có toà nhà số 7 của WTC, toà nhà chọc trời khung bằng thép cao 48 tầng cách
đó một khu phố, không hề bị máy bay đụng vào, và bốn trạm tàu điện ngầm hoặc bị sụp
đổ hoàn toàn hoặc bị thiệt hại nặng nề Tính tổng cộng, trên Đảo Manhattan, có 45 toànhà bị thiệt hại.Các thiết bị truyền thông như tháp truyền hình, truyền thanh, radio haichiều bị thiệt hại đến mức không còn sửa chữa được Tại Arlington, một phần của toà nhàLầu Năm Góc bị hư hại nghiêm trọng do hoả hoạn, một phần khác bị sụp đổ Cuộc khủng
bố này cũng kéo theo những tác hại nghiêm trọng đến nền kinh tế nước Mỹ và thị trườngthế giới
- Vụ nổ tại khách sạn hạng sang Mariot ở trung tâm thủ đô Jakarta, Indonesia.
( 5/8/2003 ) : sức công phá của quả bom được ghi nhận là đặt trong một chiếc xe hơi hiệu
Toyota đã phá nát 5 tầng dưới của tòa khách sạn 33 tầng Vụ khủng bố này do tổ chứcHồi giáo cực đoan Jameeh Islamiah đứng đầu
- Vụ đánh bom liên liếp tại London(6/7/2010) khiến cả thế giới boàng hoàng
Kết luận :
- Trái đất đang ngày càng nóng hơn, các nguy cơ về thảm họa thiên tai tăng cao,
tính khốc liệt mạnh hơn và khó lường trước được hậu quả Hàng trăm triệu người có thểlâm vào cảnh đói nghèo, thiếu nước, lũ lụt, hạn hán Những tác động tiêu cực của biếnđổi khí hậu có thể làm thay đổi tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội
- Tình hình chính trị ngày càng bất ổn, các cuộc khủng bố có thể xảy ra bất cứ nước
nào, trong hoàn cảnh nào, và luôn để lại những tác hại xấu về người và của
Ảnh hưởng đến tâm lý con người, muốn được an toàn, xu hướng mua bảohiểm tăng nhanh
- Khó tránh khỏi ảnh hưởng trực tiếp từ khủng bố và thiên tai ( bị thiệt hại tài sản,
con người,….)
- Mức bồi thường bảo hiểm cao, khó đảm bảo lợi nhuận
- Các công ty bảo hiểm không đảm bảo khả năng chi trả , sẽ làm suy giảm uy tín
hoặc dễ lâm vào đổ vỡ
- Mang đến nhiều khách hàng tiềm năng hơn tại các khu vực thường xuyên xảy ra
thiên tai, khủng bố
- Chính việc gia tăng lượng khách hàng tiềm năng giúp các tổ chức bảo hiểm mở
rộng thị trường Các công ty bảo hiểm có thế lực mạnh, uy tín lâu đời sẽ có nhiều ưu thếhơn trong điều này
Trang 20- Tạo điều kiện để các công ty đa dạng hóa các sản phẩm bảo hiểm, dễ dàng thu hút
khách hàng nhiều hơn
2 Kinh tế - tài chính thế giới :
Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008:
Đây là năm nền kinh tế thế giới có nhiều biến động mạnh Cuộc khủng hoảng trongnăm này là vấn đề xuyên suốt, trọng tâm của kinh tế thế giới năm 2008 Sự đổ vỡ dâychuyền trong ngành tài chính Mỹ ở thời kỳ đỉnh điểm giữa tháng 9/2008 đã lan qua ĐạiTây Dương, tới châu Âu, và gây ra những cơn “dư chấn” ở châu Á Sau nỗi hoảng sợ của
cả thế giới là trạng thái đóng băng tín dụng gần như trên phạm vi toàn cầu Nguyên nhânsâu xa của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng và nhà đất tại Mỹ.Bong bóng nhà đất càng lúc càng phình to đã đặt thị trường nhà đất và tiếp đó là tín dụngtại Mỹ cũng như nhiều quốc gia châu Âu vào thế nguy hiểm
Ba nền kinh tế lớn nhât thế giới đồng loạt suy thoái lần đầu tiên kể từ Đại chiến Thế giới thứ hai, kinh tế toàn cầu tụt dốc mạnh
Cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất từ Đại khủng hoảng 1929 tới nay đã đẩyđồng loạt cả ba nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ, Nhật Bản và khu vực sử dụng đồngtiền chung châu Âu (Eurozone) vào suy thoái Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo các nềnkinh tế phát triển trên thế giới sẽ tăng trưởng âm 0,3% trong cả năm 2009, trong đó dựkiến tăng trưởng tại Mỹ sẽ là âm 0,7%, tăng trưởng tại Nhật Bản là âm 0,2%, tăng trưởngtại Eurozone là âm 0,5%
Sự đổ vỡ hàng loạt của các ngân hàng
Là tâm điểm của khủng hoảng, nước Mỹ là nơi diễn ra nhiều vụ đổ vỡ nhất trongngành tài chính - ngân hàng Trước hết, phải kể tới sự “biến mất” của mô hình ngân hàngđầu tư độc lập (investment bank) của Phố Wall Kế đến là hàng loạt vụ giải thể trong lĩnhvực ngân hàng thương mại của Mỹ
Những nạn nhân đáng kể đầu tiên "dính trấu" đều liên quan trực tiếp tới hoạt độngcho vay dưới chuẩn như Northern Rock và Countrywide Financial vào hai tháng 8 và9/2007 Northern Rock, ngân hàng lớn thứ năm tại Anh, vào tháng 9/2007, sau khi mấtthanh khoản nghiêm trọng do thua lỗ từ cho vay thế chấp bất động sản, đã phải cầu cứuNgân hàng Trung ương Anh Nhà đầu tư ùn ùn kéo đến rút tiền khiến Chính phủ buộcphải tiếp quản tập đoàn ngân hàng này Trước đó, Country Financial, tập đoàn tài chínhchuyên cho vay thế chấp địa ốc của Mỹ cũng bị phá sản do nợ khó đòi vào tháng 8/2007.Đến tháng 1/2008, ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về giá trị vốn hóa và tiền gửi, Bank ofAmerica, đã mua lại Country Financial với giá 4 tỷ đôla
Trang 21Tiếp đến, vào ngày 17/2, Nothern Rock chính thức bị quốc hữu hóa Sự kiệnNothern Rock và Country Financial là dấu hiệu báo trước cơn bão sắp đổ xuống thịtrường tài chính toàn cầu cũng như làn sóng sáp nhập, phá sản, và bị Chính phủ tiếp quảncủa các định chế tài chính.
Cơn địa chấn tài chính thực sự nổ ra vào ngày 7/9 khi hai nhà cho vay cầm cốkhổng lồ của Mỹ là Freddie Mac và Fannie Mae buộc phải được Chính phủ tiếp quản đểtránh khỏi nguy cơ phá sản Sự kiện này tiếp tục châm ngòi cho vụ đổ vỡ với những têntuổi lớn khác Vào ngày 15/9, Ngân hàng Đầu tư lớn thứ 4 nước Mỹ Lehman Brotherssau 158 năm tồn tại đã tuyên bố phá sản Đúng 10 ngày sau, Washington Mutual tạo nên
vụ phá sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử với tổng tài sản thiệt hại lên tới 307 tỷ đôla.Ngoài ra, do khủng hoảng tài chính, ngân hàng đầu tư số một nước Mỹ, Merill Lynchcũng bị thâu tóm bởi Bank of America
Xen giữa những sự kiện trên, 9 tháng đầu năm cũng chứng kiến các cơn sốt dầu, lương thực, và lạm phát làm khuynh đảo nền kinh tế toàn cầu
Giá dầu bắt đầu leo thang (từ $90/ thùng đầu năm 2008 lên trên $100/ thùng vào20/2 và lập kỷ lục trên $147/thùng vào 11/7) kéo theo giá hàng hóa cơ bản và lương thựctăng theo Nạn lạm phát từ đó cũng xảy ra tràn lan tại nhiều quốc gia Tuy nhiên, càng vềcuối năm, nỗi lo này càng giảm bớt cùng với sự đi xuống nhanh chưa từng có của giánhiên liệu Mặc dù vậy, thế giới lại phải đương đầu với một mối đe dọa mới là giảm phát
Đáng chú ý, các quốc gia không chỉ tiến hành cắt giảm lãi suất riêng lẻ, mà còn thựchiện những đợt phối hợp cắt giảm lãi suất toàn cầu, mà mở đầu là đợt cắt giảm lãi suấthôm 8/10 do FED, ECB và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) dẫn đầu trong bối cảnhdiễn biến khủng hoảng căng thẳng
Năm chao đảo của thị trường chứng khoán toàn cầu
Trang 22Khủng hoảng tài chính, kéo theo sự đổ vỡ và nguy cơ đổ vỡ của nhiều tập đoàn lớn
trong ngành này, cùng với sự suy thoái của kinh tế toàn cầu, đã khiến thị trường chứng
khoán thế giới liên tục rung chuyển trong năm 2008 Cũng theo số liệu của Bloomberg,
tính tới ngày 19/12 này, thị trường chứng khoán thế giới đã sụt giảm 46% giá trị so với
hồi đầu năm, còn 32.000 tỷ USD Riêng tại thị trường Mỹ, tính tới ngày 17/12, chỉ số
Dow Jones đã giảm 33,47%, chỉ số S&P 500 giảm 38,4%, còn chỉ số Nasdaq giảm
Số lượng nhân viên: 26200 người
Là một trong 4 ngân hàng đầu
tư lớn nhất của Hoa Kỳ
Nợ ngân hàng: 613 tỷ USD
Nợ trái phiếu: 155 tỷ USD
Cổ phiếu mất giá trên 90% vào ngày
15/09/2008
15/09/2008: nộp đơn phásản theo chương 1 Luật Phá sản Mỹ
Là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ
2Merrill
Lynch
Tổng tài sản: 1,02 nghìn tỷ USD
Số lượng nhân viên: 60.000 người
Xếp thứ 32 trong danh sách Global 2000 (các công ty lớn nhất thế giới)
Thua lỗ quý IV/2007:
9,83 tỷ USD
Thua lỗ ròng quý I/2008: 1,97 tỷ USD
mất giá tài sản (2007):
16,7 tỷ USD
Bán cho ngân hàng Mỹ(BoA) với giá 50 tỷUSD
3Bear
Stearns
Tổng tài sản: 350,4 tỷ USD
Tổng vốn góp cổ phần: 66,7 tỷUSD
Số lượng nhân viên: 15.500người
4Freddie Tổng tài sản: 794,4 tỷ USD Thua lỗ (2007): 4,6 tỷ 07/09/2008: FED kí hợp
Trang 23USDThua lỗ quý II/2008:
821 triệu USD
đồng bỏ ra 1 tỷ USD hỗtrợ cho Freddie Mac, đổilại giành quyền kiểmsoát các cổ phiếu ưu đãiđặc biệt của công ty này
5Fannie
Mae
Tổng tài sản: 882,5 tỷ USDTổng vốn góp cổ phần: 44 tỷUSD
Là tổ chức hàng đầu trong thịtrường thế chấp dưới chuẩn củaMỹ
Thua lỗ (2007): 2 tỷ USD
Thua lỗ quý II/2008: 2,3
tỷ USD
07/09/2008: cùng với Freddie Mac bị FED tiếpquản
( Nguồn : doko.vn.com )
Trong cuộc khủng hoảng này, AIG gần như trên bờ vực phá sản, phải nhận
gói cứu trợ từ chính phủ của Mỹ, cho thấy AIG bị ảnh hưởng mạnh mẽ, dù là một công ty
bảo hiểm-tài chính lớn nhất thế giới nhưng cũng không dễ gì trụ vững được
Tình hình kinh tế - tài chính bất ổn năm 2011 :
Kinh tế châu Âu bên bờ vực suy thoái
So với quý 2/2011, GDP eurozone tăng trưởng 0,2% trong quý 3/2011 Tăng trưởng
GDP quý 3/2011 tại 2 nền kinh tế lớn nhất châu Âu bao gồm Đức và Pháp giúp bù lại cho
nhóm nền kinh tế yếu trong khu vực Nhiều chuyên gia dự báo khả năng kinh tế eurozone
suy thoái nhẹ trong năm 2012 lên tới 40%
Trang 24Kinh tế Mỹ sau 15 quý mới phục hồi trở lại mức trước khủng hoảng GDP Mỹ quý3/2011 tăng trưởng 1,8% và tổng giá trị GDP đạt 13,35 nghìn tỷ USD, cao hơn mức đỉnh13,33 nghìn tỷ USD quý 4/2007.
Kinh tế Nhật thoát khỏi tình trạng suy thoái do động đất, sóng thần nhờ xuất khẩu
và tiêu dùng tăng trưởng mạnh So với quý 2/2011, GDP Nhật quý 3/2011 tăng trưởng1,5% sau 3 quý suy giảm liên tiếp và tăng trưởng 6,1% so với cùng kỳ
Ngày 02/08/2011, trần nợ Mỹ được điều chỉnh tăng thêm 2,4 nghìn tỷ USD để ngăn
Mỹ vỡ nợ Ngày 05/08/2011, S&P hạ xếp hạng tín dụng AAA của Mỹ xuống mứcAA+.Trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ có xếp hạng thấp hơn so với trái phiếu chính phủ Anh,Đức, Pháp hay Canada.Mỹ có thể tiếp tục bị hạ xếp hạng tín dụng trong từ 12 đến 18tháng tới
Trang 255 chính phủ châu Âu sụp đổ vì khủng hoảng nợ và bị hạ xếp hạng tín dụng nhiềulần: Tây Ban Nha, Italy, Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha EIU hạ mức dự báo tăng trưởngGDP cho eurozone xuống còn 0,3% vào năm 2012 từ dự báo trước đó là 0,8% EU khôngđạt được thỏa thuận đột phá để cải thiện tình hình.
Khoảng 7 tháng đầu năm 2011, lạm phát trên thế giới, đặc biệt tại nhóm thị trườngmới nổi tăng nóng Nguyên nhân chính bởi nhu cầu tiêu thụ hàng hóa tăng cao, tác động
từ các gói kích thích kinh tế của Fed
Tại Ấn Độ, lạm phát tháng 5/2011 chạm mức 9,6%; lạm phát tại Trung Quốc lậpđỉnh 6,4% vào tháng 7/2011; tại Nga, lạm phát lập đỉnh trên 9% Lạm phát tại eurozonecũng vượt mức mục tiêu 2% của ECB…
Trong những tháng cuối năm 2011, lạm phát tại nhiều nền kinh tế hạ nhiệt khi nhucầu yếu đi, khủng hoảng châu Âu căng thẳng hơn khiến đồng USD tăng mạnh, giá hànghóa giảm theo
Kết luận :
- Nền kinh tế biến động không ngừng Thị trường tài chính bất ổn, khó dự đoán
được diễn biến tình hình kinh tế - tài chính trong tương lai
- Các công ty có xu hướng phòng thủ hơn là mở rộng thị trường, cắt giảm nhân sự,
giảm chi phí nhằm đảm bảo duy trì hoạt động của công ty
- Gây ra “Khủng hoảng niểm tin” > khách hàng nhạy cảm hơn với lĩnh vực bảo
hiểm tài chính
- Các ngân hàng và công ty bảo hiểm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ngân hàng
đang trên bờ vực đổ vỡ, gây ra hiệu ứng domino với các công ty bảo hiểm
- Khách hàng thận trọng hơn với các công ty bảo hiểm, đòi hỏi khắc khe hơn với
các sản phẩm
- Lượng khách hàng có thể sụt giảm, do lo sợ từ khủng hoảng kinh tế.
Giới hạn nghiên cứu : lĩnh vực bảo hiểm – tài chính
Phạm vi :Quốc gia Mỹ
Thời gian : từ năm 2000 đến nay, đặc biệt là giai đoạn từ 2005 – 2010
1 Môi trường kinh tế:
1.1 Môi trường thế giới:
Trang 26Trong khoảng 7 năm từ năm 2001 – 2007 giá trị tổng sản phẩm quốc gia (GDP)tăng từ 35.000 tỉ USD đến khoảng 46.000 tỉ USD với tốc độ tăng trưởng trung bình là4,04%
Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong thời kì này có biên độ khá rộng ví dụ như năm
2007 tăng 5,2% thì ở một số năm như 2002 chỉ có 2,1% , những tháng đầu năm 2001 chỉ
có 1,3%
Cơ cấu GDP từ nhóm các nước phát triển và các nước đang phát triển có sự thayđổi rõ rệt Nhóm nước đang phát triển ngày một chiếm tỉ trọng cao trong cấu GDP thếgiới, luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng trên 6% trong suốt giai đoạn này Tuy nhiêncác nước phát triển vẫn chiếm trên 70% GDP của toàn thế giới Cao nhất vẫn là Hoa Kìluôn chiếm xấp xỉ 1/4 GDP của thế giới
1.2 Tình hình kinh tế Mỹ
- Đầu tư quốc tế.
Giá trị đầu tư (investment) năm 2008 của toàn thế giới đã tăng gấp 2.13 lần so vớinăm 1998 Song song với quá trình thúc đẩy tiêu dùng để kích thích tăng trưởng kinh tếtrong ngắn hạn, các biện pháp kích thích và thu hút vốn đầu tư vẫn là nhân tố cơ bản đểtạo ra tăng trưởng kinh tế
Quy mô các dòng vốn hoạt động trong các khu vực kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ.Năm 2007 tổng dòng vốn chảy vào Mỹ đạt 2129.5 tỷ USD (tăng gấp 2.72 lần năm 2001),tổng dòng vốn vào EU đạt 1629.0 tỷ USD (tăng gấp 2.14 lần năm 2001) và tổng dòngvốn vào các nước đang phát triển đạt 1666.2 tỷ USD (gấp 9.11 lần năm 2001) Về dòngvốn ra, năm 2007, dòng vốn ra của Mỹ tăng gấp 3.85 lần năm 2001, tương tự mức tăng3.19 và 12.61 lần của EU và nhóm các nước đang phát triển
Trung Quốc nổi lên như một nước có mức đầu tư vốn ra nước ngoài đặc biệt gây ấntượng trong giai đoạn này với tỷ trọng vốn đầu tư ra nước ngoài năm 2007 chiếm tới24.2% tổng giá trị xuất khẩu vốn của toàn thế giới (tỷ lệ này là 14.2% năm 2004) Hoa
Kỳ không còn là nước nhập khẩu vốn chiếm ưu thế như những năm đầu thế kỷ 21, năm
2007, tỷ trọng vốn chảy vào Hoa Kỳ chỉ còn chiếm 43% tổng giá trị nhập khẩu vốn trêntoàn thế giới (tỉ lệ này năm 2004 là 65.1%)
- Khu vực tài chính ngày càng phát triển mạnh và trở thành tâm điểm của thế giới.
Cùng với quá trình tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, nhu cầu về vốn và sự luânchuyển mạnh mẽ của các dòng vốn đã tạo nên động lực thúc đẩy khu vực tài chính tăngtrưởng nhanh chóng Trong 3 thập kỷ gần đây, tài sản tài chính của toàn thế giới đã tăngnhanh hơn gấp 3 lần mức tăng trưởng của GDP, từ 12 nghìn tỷ USD năm 1980 đã tăng
Trang 27lên 195 nghìn tỷ USD năm 2007 (tương đương với mức tăng từ 119% GDP năm 1980 lên356% GDP năm 2007)
Hoa Kỳ tiếp tục là khu vực tài chính lớn nhất thế giới với tổng tài sản tài chính củaHoa Kỳ năm 2005 là 50 nghìn tỷ USD (chiếm 1/3 tổng tài sản tài chính toàn thế giới).Đứng thứ 2 và thứ 3 là khu vực EU (30 nghìn tỷ USD) và Nhật Bản (19.5 nghìn tỷ USD)
Chứng khoán vốn, chứng khoán nợ tư nhân và tín dụng ngân hàng là 3 thành tốchủ yếu trong cơ cấu tổng tài sản tài chính toàn cầu Năm 2007, tổng giá trị tín dụng ngânhàng của toàn thế gới là 61.1 nghìn tỷ USD (bằng 101% tổng GDP), tăng 221% so vớinăm 1990, trong đó tín dụng Ngân hàng tại Mỹ đạt 12.5 tỷ USD (chiếm 20.4%) Quy môcủa nợ chính phủ tăng trưởng chậm hơn và dần chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong tổng cơ cấuthị trường tài chính Tuy nhiên cơ cấu này cũng khác nhau giữa các quốc gia và thay đổigiữa các thời kỳ trong cùng một quốc gia Như tại thị trường Nhật Bản, chứng khoán vốnchiếm tới 68% tổng giá trị tài sản, tỷ lệ này ở EU là 36%, Hoa Kỳ là 22% và ở các nềnkinh tế mới nổi là 56%, nợ chính phủ chiếm tỷ trọng đặc biệt lớn tại Nhật Bản (26%),Chứng khoán nợ tư nhân phát triển mạnh tại thị trường Hoa Kỳ (42%) và EU (36%)
- FED giảm mạnh lãi suất.
Trong những năm khủng khoảng thị trường tài chính ở châu Á, để đưa nền kinh tếthoát khỏi khủng hoảng Cục dự trữ liên bang Mỹ đã tìm cách hỗ trợ các ngân hàngthương mại, ngân hàng đầu tư để giúp họ không bị vỡ nợ Cho nên FED đã bắt đầu thựchiện chính sách cắt giảm lãi suất từ những năm 2000
- FED giảm mạnh lãi suất, tăng mạnh các gói dự trữ để giúp các công ty thoát khỏikhủng hoảng, tạo dựng cân bằng cho và điểm tựa tài chính để các công ty bảo hiểm cóthể vực dậy được sau hậu khủng hoảng
Kết luận
- Nền kinh tế thế giới phát triển nhanh, tuy nhiên có nhiều biến động khó nắm bắt
và dự đoán Xuất hiện ngày một nhiều các trung tâm tài chính toàn cầu
- Kinh tế thế giới tăng trưởng mạnh trên toàn thế giới, ngành tài chính và dịch vụ tàichính dẫn dắt nền kinh tế thế giới đặt biệt là Mỹ
Trang 28- Tài sản tài chính trên toàn thế giới nói chung tăng gấp 3 lần, trong đó Mỹ chiếm1/3 tổng tài sản tài chính thế giới => tạo ra cơ hội lớn cho ngành bảo hiểm với dịch vụbảo hiểm tài chính cho các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức.
- Vốn chứng khoán có xu hướng tăng, tạo điều kiện thúc đẩy vốn đầu tư vào các tổchức, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái đầu tư cũng như phát triển quy mô của các tổchức trong ngành
Việc mở rộng thị trường tài chính quá nhanh vượt ra khỏi tầm kiểm soát và điều tiếtcủa các hệ thống tài chính hiện có dẫn đến những nguy cơ rủi ro đang ngày một lớn hơn.Lãi suất thấp dẫn đến các giao dịch tài chính như thế chấp, vay vốn, đầu tư diễn ra mạnhhơn; nhu cầu về tín dụng leo thang dữ dội Đồng thời việc hình thành nhiều khoản vayxấu đặt ra yêu cầu về những khoản bảo hiểm đảm bảo cho những khoản đầu tư
2 Môi trường chính trị - quân sự
Các sự kiện và khuynh hướng của các sự kiện chiến tranh và khủng bố
Ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã diễn ra vụ tấn công khủng bố tàn khốc nhất trong lịch
sử nước Mỹ, làm thiệt mạng khoảng 3000 người, hai máy bay thương mại đã bị chỉnhhướng đâm vào 2 tòa nhà Trung Tâm Thương Mại Thế Giới, chiếc thứ 3 đâm vào LầuNăm Góc và chiếc thứ tư được dự tính lao vào tòa nhà Quốc Hội Mỹ nhưng sau đó lại bịrơi ở 1 cánh đồng ở Shanksville, Pennsylvania
Al-Qaeda là chủ mưu các cuộc tấn công này, hành động có trong Đạo Luật HồiGiáo 1998 đã ban hành nhằm chống lại Mỹ và các đồng minh quân sự dưới sự chỉ huycủa bin Laden, al-Zawahiri và một số kẻ khác
Thiệt hại: Cuộc khủng bố làm hơn 3000 người chết và giá trị tài sản ước tính lên tới
150 triệu USD
- Chiến tranh ở Afghanistan tháng 10 năm 2001
Sau thảm khốc, hậu quả nghiêm trọng từ cuộc khủng bố 11/9 mà theo Mỹ là doBinLaDen đưa ra, Mỹ đã nổ ra cuộc chiến tranh ở Afghnistan
Bắt đầu vào tháng 10 năm 200 với tên gọi là “Chiến dịch tự do bền vững-tên gọichính thức của Hòa Kỳ sử dụng cho cuộc chiến ở Afghanistanđể đáp trả cuộc khủng bố11/9 Mục đích của cuộc chiến tranh này là để bắt Osama Binladen, tiêu diệt Al-Qaeda và loại bỏ các thành phần Taliban đã cung cấp hỗ trợ và bến cảng an toàn cho Al-Qaeda
Trang 29Thiệt hại: Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Afghanistan đã đưa lại thiệt hại nặng nề hơn10.000 dân thường Afghanistan đã thiệt mạng trong cuộc chiến tranh Hơn 2.500 binh sĩquốc tế cũng thiệt mạng- chủ yếu là người Mỹ Mỹ đã bỏ ra hơn 400 tỷ đôla cho cuộcchiến tranh ở Afghanistan.
- Chiến tranh Iraq năm 2003
Lực lượng đa quốc gia do Mỹ đứng đầu bất ngờ ném bom Iraq rồi cho lục quânvượt biên giới xâm lược nước này và lật đổ chế độ của Tổng thống Saddam Hussein.Cuộc chiến Iraq năm đó còn được gọi là Chiến tranh Vùng vịnh lần 2 (do Tổng thốngBush con phát động) để phân biệt với Chiến tranh Vùng Vịnh lần 1 diễn ra năm 1991(dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Bush cha)
Thiệt hại: Cuộc chiến tranh của Mỹ tại Iraq đã tiêu tốn 800 tỷ USD đã để lại một thủ
đô Baghdad bị tàn phá nặng nề, hàng ngàn dân thường và binh lính uổng mạng trongcuộc chiến tranh phi nghĩa
Kết luận:
- Tình hình chính trị - quân sự tại Mỹ xảy ra nhiều biến động, bên cạnh đó Mỹ lànước hiếu chiến luôn tự mở màn cho nhiều cuộc chiến tranh gây tổn thất cho các bêntrong cuộc
- Nguy cơ khủng bố làm tăng rủi ro về an toàn tính mạng và tài sản của đặt ra chongười dân Mỹ và dân trên toàn Thế Giới, việc bảo vệ tính mạng và tài sản trở thành nhucầu thiết yếu hơn bao giờ hết Nhu cầu về bảo hiểm tăng, cơ hội cho các ngành Bảo hiểmphát triển
- Bên cạnh đó, để giảm bớt sự thiệt hại cho quân đội chính phủ các nước sẽtăng nhu cầu bảo hiểm tính mạng cho quân nhân
3 Môi trường chính trị pháp luật:
Nghiên cứu cách thức mà các doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến chính phủ vàcách thức chính phủ ảnh hưởng đến họ
3.1 Vai trò của chính phủ
Nhiều người phàn nàn rằng sự điều tiết của chính phủ đối với nền kinh tế là quá ít ỏi
và quá chậm chạp Một số người khác lại cho rằng nền kinh tế Mỹ vẫn chưa hoàn toànđược tự do vì có quá nhiều hành vi điều tiết của chính phủ Những ý kiến trái ngược này
đã gây ra các cuộc tranh luận kéo dài trong lịch sử kinh tế Mỹ với tiêu điểm là vai trò củachính phủ
Trang 30- Chính quyền các bang có trách nhiệm hoàn tất các mục tiêu đề ra trong thươngmại quốc tế Các bang phải khuyến khích xuất khẩu các ngành công nghiệp của mình.Chính quyền liên bang có nhiệm vụ đàm phán để hàng hóa xuất khẩu được đánh thuếthấp hơn và hàng hóa nhập khẩu không còn bị ngăn cản bởi các rào cản thương mại từphía nước ngoài nữa Chính phủ cũng có nhiệm vụ bảo vệ các công ty Mỹ trước sự cạnhtranh không lành mạnh từ bên ngoài.
- Chính quyền bang cũng chi trả bảo hiểm cho những người mất việc làm và chovay lãi suất thấp đối với những người bị mất nhà cửa do thiên tai Hệ thống bảo hiểm xãhội, được trả bằng thuế do người lao động và chủ lao động đóng góp, là nơi chi trả phầnlớn lương hưu cho người dân Mỹ
- Các công ty ở trong và ngoài khu vực có thể duy trì lợi thế cạnh tranh công bằng,lành mạnh mà không sợ các công ty nội địa lấn lướt Các chính sách bảo hiểm hưu trí hợp
lý là cơ hội cho các công ty bảo hiểm phát triển thu lợi nhuận cao
Tóm lại: Với sự điều tiết và quản lý của chính phủ hạn chế sự thành lập và hoạtđộng của các công ty, doanh nghiệp nhỏ lẻ Khi có sự can thiệt của chính phủ thì các vấn
đề về thuế, luật được thắt chặt hơn nên không có sơ hở để các công ty “lách luật”
3.2 Luật thuế
Trong giai đoạn 2000-2005 thì điểm đáng nói nhất trong các chính sách thuế đó làviệc tổng thống Mỹ thời kì đó là George Walker Bush thực chính ba lần cắt giảm thuếgồm thuế lợi tức cho các cặp đã kết hôn, thuế thổ cư và mức thuế biên tế, dẫn đến sựgiảm sút đáng kể trong số thu ngân sách, tính theo tỷ lệ với GDP, đến mức thấp nhất kể
từ năm 1959
Với chính sách giảm thuế cùng lúc với gia tăng chi tiêu, chỉ trong một nhiệm kỳchính phủ Bush biến ngân sách từ tình trạng thặng dư thành thâm thủng Ngân sách vớimức thặng dư 230 tỷ đô la khi Clinton rời Nhà Trắng đã trở thành thâm thủng 374 tỷ năm
2003 và 413 tỷ vào năm 2004, dù vẫn thấp hơn mức thâm thủng trong thập niên 1980 củachính phủ Rohnan Reagan
Tuy nhiên, theo ước tính của Baseline Budget Projections, tháng 1 năm 2005, mức
thâm thủng trong nhiệm kỳ đầu của Bush sẽ giảm dần trong nhiệm kỳ thứ hai, còn 368 tỷvào năm 2005, 261 tỷ năm 2007, 207 tỷ năm 2009 và sẽ thặng dư đôi chút vào năm 2012.Trong ngắn hạn, giảm thuế sẽ giúp tăng lượng tiền trong túi người dân Trong dàihạn, người dân sẽ làm việc chăm chỉ hơn nếu như họ được nhận về nhiều tiền hơn dophải đóng thuế ít hơn Thời gian lao động tăng lên và các mô hình kinh doanh nhỏ lẻđược mở rộng
Kết luận
Trang 31- Các chính sách đầu tư được nới lỏng hơn, tạo điều kiện gia nhập ngành dễdàng hơn của một số lĩnh vực kinh doanh.
- Các chính sách cắt giảm thuế, tăng chi tiêu công, cắt giảm lãi suất đã tạo radòng vốn lớn giúp cái thiện nguồn cung về vốn trên toàn thị trường
4 Môi trường nhân khẩu:
4.1 Dân số và sự phân bố dân cư:
- Dân số thế giới: Theo báo cáo của Cơ quan Dân số LHQ công bố ngày 11-3-2009,dân số thế giới là 6,8 tỷ người; năm 2011 đạt 7 tỷ và dự đoán sẽ lên tới hơn 9 tỷ vào năm2050
- Dân số Hoa Kỳ: số lượng người nhập cư thế hệ đầu tiên sống tại Hoa Kỳ đến nay
đã tăng gấp bốn lần, từ 9.600.000 năm 1970 lên khoảng 38 triệu người trong năm 2007.Với dân số là 313.059.000 người (1 tháng 1 năm 2012), tăng 1,4% so với năm 2010 , Mỹ
là quốc gia đông dân thứ 3 trên thế giới
Tổng tỷ lệ sinh ở Hoa Kỳ ước tính cho năm 2009 là 2,01, là 1 nước phát triển vàobậc nhất thế giới nhưng Hoa Kỳ có tỷ lệ sinh khá cao Nguyên nhân một phần là do tỷ lệthanh thiếu niên mang thai cao đến mức báo động, và lượng người nhập cư vẫn đều đặntăng Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ cho thấy tốc độ tăng dân số trong giai đoạn mười haitháng sau tháng 7 năm 2011 là 0,91%
Với tình như trên, ước tính đến ngày 01/01/2050 dự kiến Hoa Kỳ sẽ đạt mốc 439triệu người, 46% so với năm 2007
Hoa Kỳ là quốc gia đô thị hóa lớn, với 95% cư trú tại các thành phố và vùng ngoạithành vào năm 2011
Phân bố không đều: Đông đúc ở vùng Đông Bắc, ven biển đại Tây Dương
- Xu hướng từ Nam chuyển về Đông Bắc và ven bờ Thái Bình Dương
Trang 32Bảng đồ: Dân số Hoa Kỳ từ năm 1790 đến năm 2050 4.2 Cấu trúc tuổi:
Dân số Hoa Kỳ năm 2010 có:
từ 65 tuổi
Theo thông kê (2011) cho thấy những người dưới 20 tuổi chiếm hơn một phần tư dân số
Mỹ (27,3%), và những người 65 tuổi trở lên chiếm một phần tám (12,8%) trong năm
2011 Tuổi thọ trung bình của quốc gia là 36,8 tuổi
4.3 Phân phối thu nhập :
- Ở Mỹ có sự phân chia chia giàu nghèo rõ rệt, theo Cơ quan Ngân sách của Quốchội, thu nhập của nhóm hộ gia đình có thu nhập cao nhất của nước Mỹ đã chiếm tới53,5% tổng thu nhập của người dân Mỹ, trong khi đó, thu nhập của nhóm hộ gia đình
Trang 33nghèo nhất chỉ chiếm có 4,1% Riêng nhóm 1% đứng đầu đã có thu nhập chiếm 16,3%tổng thu nhập toàn quốc.
- Phân phối thu nhập ở Mỹ biểu hiện cả trên khía cạnh địa lí, màu da
- Theo số liệu bộ thống kê Mỹ, năm 2006 ta có thu nhập bình quân đầu người trên
cả nước là 51.283 USD, nhưng phân phối không đều giữa các bang với nhau Cụ thể thunhập bình quân cao nhất thuộc về bang New Jery với mức thu nhập 71.284 USD gấp 1,9lần bang Mississipi là 36.674 USD
- Theo màu da cũng có sự chênh lệch về thu nhập cụ thể, người da đen thua xangười da trắng Nếu tính 100 điểm cho người da trắng theo các tiêu chí đó thì người dađen chỉ đạt 56,8% - báo cáo do Liên đoàn Thành thị Quốc gia (National Urban League-NUL) Số người Mỹ da đen sống dưới mức nghèo khổ (tức là có thu nhập dưới 20 nghìnUSD/năm đối với gia đình bốn người) cao gấp ba lần số người da trắng Số người Mỹ dađen thất nghiệp cũng cao gấp đôi số người da trắng
Kết luận:
- Dân số Mỹ tăng nhanh, dân số trẻ chiếm tỉ trọng cao trong tổng dân số, Nhu cầu
về bảo hiểm sẽ khá cao
- Thu nhập trung bình của người dân có sự chênh lệch giữa các bang nhưng nhìn
chung tương đối cao Từ đó khi mức sống cao, họ quan tâm đến những nhu cầu cầu antoàn hơn khi đã đáp ứng được các nhu cầu cơ bản cần thiết Các tổ chức bảo hiểm có thểnắm được đặc điểm này để tác động đến việc mua bảo hiểm của người dân
Dân số Hoa Kỳ đang tăng nhanh, mức sống cũng nâng cao đáng kể, cộng thêmvới sơ thích đi du lịch nhiều cũng như thiên tai, nạn khủng bố xảy ra nhiều nơi do đó nhucầu bảo hiểm tăng mạnh để giảm bớt gánh nặng về chi phí khi có rủi ro xảy ra Các công
ty bảo hiểm nắm bắt tâm lý đó thúc đẩy việc mua bảo hiểm của người dân cao hơn
5 Môi trường công nghệ:
Trước sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường bảo hiểm trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay, yêu cầu hình thành sản phẩm riêng biệt đang là mục tiêu được nhiềucông ty bảo hiểm theo đuổi và “chìa khóa” để triển khai kế hoạch này là các giải pháp vềcông nghệ thông tin, trong đó phần mềm đóng vai trò chủ đạo
Là một đất nước không những có nền kinh tế phát triển mà còn có trình độ khoa họccông nghệ cao, có hệ thống các phát minh sáng chế mới nhất, đồng thời hệ thống máymóc trang thiết bị hết sức hiện đại Có thể nói, Hoa Kì là một trong các nước dẫn đầu vềcông nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực máy tính, điện thoại, mạng không dây…
Trang 34Công nghệ thông tin và truyền thông phát triển mạnh mẽ, làm cho hai chiều thôngtin doanh nghiệp – khách hàng ngày càng thuận tiện và nhanh chóng Doanh nghiệp cóthông tin chính xác hơn, tiếp cận khách hàng nhanh hơn và thỏa mãn nhu cầu khách hàngtốt hơn Ngược lại khách hàng có được thông tin đầy đủ hơn về sản phẩm và dịch vụ củacông ty.Ngoài ra khi công nghệ thông tin phát triển thì các trang thiết bị phục vụ cho việctrao đổi công việc ngày càng hiện đại và tốt hơn.
Công nghệ hiện đại giúp cho khách hàng và doanh nghiệp dễ dàng hiểu nhau hơn,
dễ quảng cáo về doanh nghiệp đến đại quần chúng mà không cần phải tốn nhiều chiphí.Các công ty bảo hiểm còn cần chú ý đến việc nâng cao sự hài lòng của khách hàng.Nói cách khác, thông tin theo yêu cầu là tâm điểm của kiến trúc hướng dịch vụ Các giảipháp thông tin theo yêu cầu kết nối trực tiếp đến hầu hết các nhân tố tác động tới hoạtđộng của công ty bảo hiểm, bao gồm bảo hiểm tự động, quản lý dữ liệu, phản ứng và giảiquyết thảm họa; kiểm soát doanh nghiệp tự động; tích hợp và thay thế các hệ thống cũ;dịch vụ an ninh, bảo mật thông tin cho khách hàng trở nên chặt chẽ hơn, tốt hơn
III MÔI TRƯỜNG NGÀNH VÀ CẠNH TRANH :
1 Định nghĩa ngành :
AIG hoạt động ở nhiều ngành : ngành bảo hiểm nhân thọ, ngành bảo hiểm phi nhânthọ ,… Nhóm chọn ngành bảo hiểm nhân thọ để phân tích
Ngành bảo hiểm nhân thọ : là ngành gồm các doanh nghiệp thực hiện các hợp
đồng giữa họ với khách hàng liên quan đến tính mạng hoặc sức khỏe con người nhằmbảo vệ cá nhân và gia đình trước những tổn thất tài chính phát sinh từ những rủi ro bấtngờ như tử vong, thương tật, bệnh hiểm nghèo,…nhờ vào một khoản đóng góp trước đó.Khi rủi ro xảy ra công ty sẽ căn cứ trên hợp đồng bảo hiểm để chi trả các quyền lợicho người tham gia bảo hiểm
2 Mô tả ngành :
Ngành bảo hiểm nhân thọ là ngành có cơ cấu tập trung , top 5 các công bảo ty hiểmlớn nhất thế giới : Metlife, Prudential Financial Inc, American International Group, Inc,State Farm Insurance Cos, Liberty Mutual Holding
Trang 350 20,000
Biểu đồ: thể hiện doanh thu và lợi nhuận của các công ty bảo hiểm lớn trong
ngành
3 Phân tích tính hấp dẫn ngành :
3.1 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh :
Bao gồm : đối thủ tiềm tàng, cạnh tranh trong ngành, năng lực thương lượng củangười mua, năng lực thương lượng của nhà cung cấp và sản phẩm thay thế
3.1.1 Đối thủ tiềm tàng :
Đối thủ tiềm tàng là những những đối thủ hiện tại chưa xâm nhập vào ngành, nhưng
họ có thể làm điều đó nếu họ muốn
Lĩnh vực bảo hiểm – tài chính rất hấp dẫn với các nhà kinh doanh, nhưng không dễthâm nhập vào ngành bởi lẽ tùy thuộc vào rào cản gia nhập ngành cao hay thấp, chi phốibởi các yếu tố :
- Quy định của chính phủ :
Theo qui định pháp luật tại Mỹ, những công ty muốn tham gia ngành bảo hiểm cầnphải có vốn, được sự cấp phép và chấp thuận của các tiểu bang thì có quyền mở công tybảo hiểm Như vậy quy định về mặt luật pháp không quá khó khăn cho các công ty muốnxâm nhập vào ngành
- Sự trung thành nhãn hiệu:
Trang 36Thị trường bảo hiểm đã được chiếm lĩnh bởi các công ty bảo hiểm lớn như AIG,Metlife, Prudential Financial, TIAA-CREF, UnitedHealth Group… các công ty này cólịch sử lâu đời, rất thân thuộc với khách hàng, nhắc đến bảo hiểm những nhãn hiệu nàynảy ra trong tâm trí họ đầu tiên về uy tín, chất lượng, sự đảm bảo, có nguồn tài chínhvững mạnh, dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt hơn.
Top 20 công ty bảo hiểm tốt nhất tại Hoa Kỳ
Trang 37Bảo hiểm nhân thọ là lĩnh vực giúp khách hàng giảm thiểu rủi ro trong cuộc sốnghằng ngày, do đó khách hàng rất cẩn trọng và đòi hỏi khắt khe, họ sẽ tin dùng các công tybảo hiểm lâu đời có uy tín , rất khó để họ chuyển đổi sang công ty khác Họ cũng khôngdám mạo hiểm chịu rủi ro để thay đổi nhãn hiệu của mình Bên cạnh đó, bảo hiểm làngành hàng thụ động nên khách hàng có xu hướng tin dùng những hãng bảo hiểm nổitiếng trên thị trường hơn Do đó, các công ty mạo hiểm muốn nhập cuộc nếu không cónguồn thu khác, sẽ rất dễ đi đến thất bại.
- Chi phí chuyển đổi :
Các công ty bảo hiểm phải có chuyên gia tính phí bảo hiểm, chi phí đào tạo cũngkhá cao và mất nhiều thời gian, khoảng từ 10 -15 năm
Khách hàng trong ngành dễ dàng chuyển đổi nhà cung cấp do không có ràng buộc
về chi phí Do đó các tổ chức bảo hiểm ngoài việc thu hút được khách hàng phải cónhững chính sách hấp dẫn khác biệt để giữ chân khách hàng Điều này có nghĩa các công
ty thâm nhập vẫn có thể xoay chuyển tình thế nhưng tính khả thi không cao
- Tính kinh tế theo qui mô :
Đây cũng là điều gây ra sự “nhọc nhằng” cho các đối tượng muốn nhảy vào ngành.Các công ty bảo hiểm lớn, hoạt động lâu đời đã có mạng lưới phân bố rộng khắp trên cáckhu vực địa lý Các công ty đi sau phải làm cho người khác biết đến mình rồi mới quagiai đoạn tin dùng nhãn hiệu của mình Do đó khi tham gia, các doanh nghiệp phải xâydựng mạng lưới của mình trong việc đối đầu cạnh tranh gây gắt với các công ty đi trước.Tính kinh tế theo qui mô đã có của các công ty trong ngành gây bất lợi rất lớn cho cáccông ty muốn vào ngành
- Lợi thế chi phí tuyệt đối :
Các công ty đã hoạt động trong ngành có lợi thế về chi phí hơn so với các công tynhập cuộc Bởi lẽ các công ty đi trước đã có thâm niên trong ngành, tích lũy nhiều kinhnghiệm về quản lý đội ngũ nhân viên, kỹ năng quản trị, bán hàng vì vậy khả năng vậnhành sẽ tốt hơn
Bên cạnh đó, ngành bảo hiểm cũng cần nguồn tài chính vững mạnh, đó là sức mạnhhoạt động cho công ty Các công ty này đã có mối quan hệ hợp tác uy tín với các ngânhàng cũng như được khách hành quen thuộc bởi mạng lưới rộng rãi, họ sẽ không tốn kémchi phí cho việc thuyết phục hợp tác với các tổ chức khác cũng như chi phí quảng cáo sẽthấp hơn các công ty mới nhập môn
Như vậy rào cản nhập cuộc của ngành rất cao Đặc biệt : sự trung thành vớithương hiệu của khách hàng dành cho các công ty lâu đời và lợi thế về tính kinh tế theo
Trang 38qui mô tạo thành 2 rào cản lớn nhất trở ngại cho các đối thủ tiềm tàng muốn thâm nhậpngành.
3.1.2 Cạnh tranh giữa các công ty trong ngành:
- Cấu trúc cạnh tranh:
Ngành bảo hiểm nhân thọ ở Mỹ là một ngành tập trung, bị lấn át bởi một số công tylớn Trong năm 2009, ngành công nghiệp bảo hiểm của Mỹ tạo ra tổng doanh thu đạt776.700.000.000 $ Đến năm 2013 đã lên đến , trong đó doanh thu của AIG là 70.143triệu USD Dưới đây là số liệu thông kê doanh thu của các công ty bảo hiểm đầu ngành( Theo Fotune 500 năm 2013) :
( triệu USD )
Lợi nhuận ( triệu USD )
và khắc liệt do sự xuất hiện cùng lúc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm Do sản phẩm giữacác công ty cơ bản là giống nhau, không có nhiều sự khác biệt lớn nên việc thu hút hútđược khách hàng phụ thụ chủ yếu vào các dịch vụ đi kèm, các dịch vụ giá trị gia tăng.Kết quả là công ty nào có cơ cấu chi phí thấp, hiệu quả cao hơn và dịch vụ khách hàng tốthơn sẽ đánh bại được các đối thủ cạnh tranh
- Các điều kiện nhu cầu:
Điều kiện nhu cầu trong những năm gần đây gia tăng nhanh chóng khi mà chínhphủ và người dân ngày càng chú trọng hơn về chăm sóc sức khỏe và đảm bảo lợi ích cho
Trang 39cá nhân, điều kiện sống ngày càng tăng, bên cạnh đó việc ô nhiễm, bệnh tật, thiên tai,biến đổi khí hậu, xảy ra ngày càng nhiều và khó lường trước được Và chính phủ luônkhuyến khích người dân của mình mua bảo hiểm với những chi phí ưu đãi Đây là mộtđiều kiện thuận lợi để cho các công ty bảo hiểm gia tăng doanh số, tăng lượng kháchhàng để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn.
Những số liệu thể hiện nhu cầu chăm sóc sức khỏe của những người dân Mỹ nhưsau:
Với thu nhập ở mức thấp, các gia đình ở Mỹ phải đưa ra quyết định khó khăn về những ưu tiên về tài chính được Thật không may, bảo hiểm nhân thọ không ở trên cùng của danh sách
Sở hữu bảo hiểm nhân thọ/ Bảo hiểm vẫn còn thấp
30% hộ gia đình Mỹ không có bảo hiểm nhân thọ; chỉ có 44% có bảo hiểmnhân thọ cá nhân
50% hộ gia đình Mỹ (58 triệu USD) nói rằng họ cần bảo hiểm nhân thọ hơn
Số tiền trung bình của người lớn của Mỹ dành cho bảo hiểm là 167.000$ giảm 30.000$ theo phạm vi bảo hiểm trung bình vào năm 2004
Trong khi 4 trong số 10 hộ gia đình có trẻ em dưới 18 hiện nay bao gồm một người mẹ, người có thu nhập duy nhất hoặc chưa có gia đình, trong số những phụ nữ
có bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm của họ là chỉ có 69 % trong bình quân so với nam giới
- Rào cản rời ngành:
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện thông qua việc doanh nghiệp bảohiểm tiến hành thu phí bảo hiểm của người mua bảo hiểm để lập quỹ bảo hiểm và tiếnhành chi trả cho những trường hợp thuộc trách nhiệm của bảo hiểm Chính vì tính đặc thùcủa hoạt động kinh doanh bảo hiểm nên vốn đóng vai trò rất quan trọng
Đối với những công ty nhỏ thiếu vốn nếu họ không đủ khả năng để gánh chịu gánhnặng khi gặp các rủi ro thì rất dễ rời ngành Và chi phí cố định khá cao: chi phí bồithường trong hợp đồng bảo hiểm cũng cao khi mà công ty giải thể
Yếu tố về cảm xúc với ngành: nhiều công ty không muốn rời ngành chỉ vì lí do nàymặc dù lợi nhuận giảm nhưng trong họ có một giá trị mà họ muốn giữ gìn
Rào cản rời ngành ở mức trung bình
3.1.3 Năng lực thương lượng của người mua:
Trong ngành bảo hiểm nhân thọ phần lớn khách hàng là những khách hàng cá nhânriêng lẻ, họ mua bảo hiểm cho bản thân, người thân trong gia đình hoặc bạn bè Các cánhân này không có sức mạnh đáng kể Năng lực thương lượng của người mua được bảo
Trang 40vệ thông qua chính phủ, do đó khách hàng chỉ có năng lực thương lượng đối với giá vàphạm vi bảo hiểm thông qua chính phủ.
Do sự chênh lệch về chất lượng sản phẩm giữa các doanh nghiệp bảo hiểm ngàycàng thu hẹp nên sức cạnh tranh tự thân của các sản phẩm bảo hiểm không mang tínhquyết định nữa Dẫn đến khách hàng có khả năng lựa chọn giữa các nhà cung cấp, điềunày cũng tạo ra một năng lực thương lượng của người mua
Đối những khách hàng là các doanh nghiệp lớn như: các hãng hàng không, công ty
du lịch, công ty dược phẩm, phải trả hàng triệu đô la cho các công ty bảo hiểm mộtnăm, những doanh nghiệp này cũng có năng lực thương lượng của người mua trung bình
Vì các công ty bảo hiểm muốn có những khách hàng như vậy để có thể có doanh số,doanh thu lớn, nên có thể nhượng bộ một số điều kiện để thu hút khách hàng tạo ra nănglực thương lượng của người mua
Bên cạnh đó, phần lớn các khách hàng thường trung thành với các thương hiệu bảohiểm, mặc dù chi phí chuyển đổi không cao nhưng do lòng trung thành này làm năng lựcthương lượng của khách hàng thấp
Trong ngành bảo hiểm lực đe dọa của người mua là trung bình
3.1.4 Năng lực thương lượng của các nhà cung cấp:
Các nhà cung cấp chính của các công ty bảo hiểm thường là các tổ chức tài chínhnhư ngân hàng Việc chuyển đổi nhà cung cấp, có nghĩa là chuyển đổi từ ngân hàng sangngân hàng khác gặp nhiều khó khăn và tốn kém chi phí Nên họ có khả năng gây áp lựcmạnh mẽ cho các doanh nghiệp
Bên cạnh đó, các ngân hàng là các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng, có thể sử dụng đedọa hội nhập xuôi chiều về phía ngành bảo hiểm và cạnh tranh trực tiếp với các công tytrong ngành
Năng lực thương lượng của nhà cung cấp trong ngành bảo hiểm cao
3.1.5 Sản phẩm thay thế :
Bảo hiểm nhân thọ là một sản phẩm bảo hiểm vừa có tính bảo vệ, phòng ngừa rủi
ro, vừa có tính tiết kiệm và đầu tư Nếu như có rủi ro xảy ra thì tính chất bảo hiểm củabảo hiểm nhân thọ sẽ phát huy tính năng của mình Sẽ là bạn đồng hành nhằm giảm thiểutối đa những tổn thất tài chính có thể gây ra cho các chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm.Còn nếu như may mắn, không có rủi ro xảy ra thì đó chính là khoản tiền tiết kiệm, đầu tưcủa người tham gia Các sản phẩm thay thế trong ngành bảo hiểm nhân thọ là: chứngkhoán và gửi tiền ngân hàng