Bảng 1.1 Số hộ và diện tích được cấp chứng nhận VietGap 3 Bảng 1.3 Thực trạng hoạt động sản xuất thanh long trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, Long An, Tiền Giang và cả nước 4 Bảng 2.1 Bảng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
- -
NGUYỄN VIẾT BẰNG
CÁC THÀNH PHẦN TÀI SẢN THƯƠNG HIỆU TRÁI CÂY TƯƠI TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM: TRƯỜNG HỢP THANH LONG BÌNH THUẬN
Chuyên ngành: Kinh doanh Thương mại
Mã số: 62.34.01.21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Thị Ngọc Huyền
PGS.TS Lê Tấn Bửu
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2tại thị trường Việt Nam: trường hợp thanh long Bình Thuận” là công trình
nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Tất cả những phần thông tin tham khảo đều được trích dẫn và ghi nguồn cụ thể trong danh mục tài liệu tham khảo
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC PHỤ LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Giới thiệu chương
1.1 Bối cảnh nghiên cứu …… ………
1.1.1 Về mặt thực tiễn ………
1.1.2 Về mặt lý luận ………
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu ………
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu ………
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu ………
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ………
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu ………
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu ………
1.4 Phương pháp nghiên cứu……… ………
1.5 Tính mới của đề tài………
1.6 Kết cấu của đề tài………
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Giới thiệu chương 2.1 Cơ sở lý thuyết về tài sản thương hiệu ………
2.1.1 Thương hiệu………
2.1.2 Tài sản thương hiệu………
2.1.3 Các thành phần tài sản thương hiệu dưới góc độ người tiêu dùng…
2.2 Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu đề xuất ………
2.3 Kết luận………
1
1
6
9
9
9
10
10
10
11
13
14
16
16
19
22
32
48
Trang 43.1 Quy trình nghiên cứu………
3.2 Nghiên cứu định tính………
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu định tính ………
3.2.2 Kết quả nghiên cứu định tính………
3.3 Nghiên cứu định lượng sơ bộ………
3.3.1 Thiết kế nghiên cứu định lượng sơ bộ………
3.3.2 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ………
3.4 Nghiên cứu định lượng chính thức………
3.5 Kết luận………
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Giới thiệu chương 4.1 Kết quả khảo sát người tiêu dùng trực tiếp ………
4.1.1 Mẫu nghiên cứu chính thức………
4.1.2 Kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu chính thức ………
4.1.3 Kết quả phân tích độ tin cậy của các thang đo………
4.1.4 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA ………
4.1.5 Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA ………
4.1.6 Kết quả kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu…………
4.1.7 Kết quả kiểm định về sự khác biệt hệ số hồi quy (hệ số Beta) trong mô hình tài sản thương hiệu………
4.1.8 Kết quả kiểm định mô hình đa nhóm………
4.2 Kết quả khảo sát nhà bán lẻ ………
4.2.1 Mẫu nghiên cứu chính thức ………
4.2.2 Kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu chính thức ………
4.2.3 Kết quả phân tích độ tin cậy của các thang đo………
4.2.4 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA ………
4.2.5 Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA ………
49
52
52
56
66
66
67
78
83
85
85
86
87
89
91
99
102
103
108
108
109
109
111
113
Trang 5PHỤ LỤC 7
PHỤ LỤC 8
PHỤ LỤC 9
4.3 Kết quả so sánh hệ số hồi quy (hệ số Beta) trong mô hình tài sản thương
hiệu khi tiếp cận dưới góc độ người tiêu dùng trực tiếp và người tiêu
dùng gián tiếp (các nhà bán lẻ)……… ………
4.4 Kết luận………
CHƯƠNG 5: KÊT LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CÚU Giới thiệu chương 5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu và hàm ý nghiên cứu……….…
5.1.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu………
5.1.2 Hàm ý nghiên cúu ………
5.2 Đóng góp của đề tài………
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo………
5.4 Kết luận………
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
PHỤ LỤC 4
PHỤ LỤC 5
PHỤ LỤC 6
124
126
128
128
133
145
146
147
Trang 6Bảng 1.1 Số hộ và diện tích được cấp chứng nhận VietGap 3
Bảng 1.3 Thực trạng hoạt động sản xuất thanh long trên địa bàn tỉnh
Bình Thuận, Long An, Tiền Giang và cả nước
4
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp các định nghĩa và mô hình lý thuyết về tài
sản thương hiệu và các thành phần của nó dưới góc độ người tiêu dùng
26
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về tài sản
thương hiệu dưới góc độ người tiêu dùng
27
Bảng 3.2 Kết quả thống kê mô tả giới tính của mẫu nghiên cứu định
Bảng 3.5 Kết quả phân tích EFA các thành phần thương hiệu thanh
Bảng 3.8 Kết quả thống kê mô tả thời gian kinh doanh của các cửa
hàng của mẫu nghiên cứu định lượng sơ bộ
74
Trang 7Thuận
CFA với dữ liệu thị trường
Bảng 4.5 Kết quả phân tích EFA các thành phần tài sản thương hiệu
thanh long Bình Thuận
Trang 8Bảng 4.15 Mối quan hệ giữa các khái niệm (bất biến và khả biến theo
giới tính)
105
Bảng 4.16 Kết quả sự khác biệt các chỉ tiêu tương thích (bất biến và
khả biến theo độ tuổi)
106
Bảng 4.17 Kết quả sự khác biệt các chỉ tiêu tương thích (bất biến và
khả biến theo thu nhập)
106
Bảng 4.18 Mối quan hệ giữa các khái niệm (bất biến và khả biến theo
thu nhập)
107
Bảng 4.19 Kết quả sự khác biệt các chỉ tiêu tương thích (bất biến và
khả biến theo khu vực)
108
Bảng 4.21 Kết quả thống kê mô tả thời gian kinh doanh của mẫu
nghiên cứu
109
Bảng 4.23 Kết quả phân tích EFA các thành phần tài sản thương hiệu
thanh long Bình Thuận
Trang 9Bảng 4.31 Kết quả kiểm định sự khác biệt của hệ số hồi quy (hệ số
beta) trong mô hình tài sản thương hiệu
124
Bảng 4.32 Bảng so sánh hệ số hồi quy trong mô hình tài sản thương
hiệu giữa người tiêu dùng và nhà bán lẻ
Trang 10Hình 2.1 Mô hình sản phẩm và thương hiệu 17
Hình 2.2 Tác động của các thành phần tài sản thương hiệu thanh long
Bình Thuận đến tài sản thương hiệu tổng thể
41
Hình 2.3 Tác động của nhận biết thương hiệu, liên tưởng thương hiệu,
chất lượng cảm nhận và an toàn thương hiệu đến lòng trung
thành thương hiệu
43
Hình 2.4 Tác động của nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận và
an toàn cảm nhận lên liên tưởng thương hiệu
45
Hình 2.5 Tác động của nhận biết thương hiệu và an toàn cảm nhận đến
chất lượng cảm nhận
46
Hình 4.7 Kết quả kiểm định giá trị phân biệt giữa khái niệm nghiên cứu 197
Trang 11Hình 4.14 Kết quả CFA thang đo tài sản thương hiệu 117 Hình 4.15 Kết quả kiểm định giá trị phân biệt giữa khái niệm nghiên cứu 118
Trang 13
Phụ lục 1 Dàn bài thảo luận tay đôi/ thảo luận nhóm
Phụ lục 2 Bảng câu hỏi định lượng (Dành cho người tiêu dùng trực tiếp và
thường xuyên sản phẩm thanh long Bình Thuận) Phụ lục 3 Bảng câu hỏi định lượng (Dành cho các nhà bán lẻ sản phẩm thanh
long Bình Thuận)
Phụ lục 5 Danh sách chuyên gia tham gia nghiên cứu định tính
Phụ lục 6 Danh sách các nhà bán lẻ và người tiêu dùng tham gia thảo luận
nhóm Phụ lục 7 Kết quả kiểm định phân phối các biến quan sát
Phụ lục 8 Kết quả phân tích độ tin cậy của các thang đo thông qua hệ số
Cronbach’s Alpha Phụ lục 9 Kết quả phân tích nhân tố khám phá
Trang 14
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
GIỚI THIỆU CHƯƠNG
Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm 06 nội dung sau đây: bối cảnh nghiên cứu của đề tài; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; tính mới của đề tài; và kết cấu của đề tài
1.1.1 Về mặt thực tiễn:
Thanh long là cây trồng đặc sản có lợi thế cạnh tranh đứng thứ nhất trong 11 loại trái cây ở nước ta đã được Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (NN & PTNT) xác định trong hội nghị trái cây có lợi thế cạnh tranh được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) ngày 07/06/2004 (thanh long; vú sữa; măng cụt; cây
có múi – bưởi, cam sành; xoài; sầu riêng; dứa; vải; nhãn; dừa và đu đủ) Nó đem lại hiệu quả kinh tế và nâng cao thu nhập đáng kể cho nông dân ở các vùng trồng thanh long Đặc biệt thanh long ở tỉnh Bình Thuận trong những năm gần đây đã góp phần rất lớn trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp và chương trình xóa đói giảm nghèo đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn của các huyện trồng thanh long trong tỉnh Đời sống của người nông dân ngày càng đổi mới, khởi sắc cũng nhờ phát triển cây thanh long
Tuy nhiên, thời gian qua việc phát triển thanh long trên địa bàn tỉnh Bình Thuận đã biểu lộ những điểm cho thấy chưa bền vững, phát triển thanh long tự phát một cách ồ ạt trên nền đất lúa đã diễn ra tại một số địa phương trong tỉnh, làm phá
vỡ diện tích quy hoạch vùng trồng thanh long tập trung của tỉnh Bên cạnh đó, các
hộ nông dân sản xuất thanh long trên địa bàn tỉnh vẫn chưa sản xuất theo một tiêu chuẩn nhất định (tiêu chuẩn VietGap); quy trình canh tác của các hộ sản xuất chưa được kiểm soát từ khâu chăm sóc, bón phân, làm cỏ, phòng trừ sâu bệnh hại đến thu
Trang 15hoạch, chế biến và bảo quản sau thu hoạch làm cho mẫu mã và chất lượng trái thanh long không đồng nhất (Theo báo cáo số 01/BC – TTTL của TTNCPT cây thanh long Bình Thuận thì đến hết năm 2014, toàn tỉnh chỉ có 403 tổ/nhóm với 8.862 hộ sản xuất trên tổng số diện tích là 7.984,71 ha và 11 nhà đóng gói được cấp chứng nhận theo tiêu chuẩn VietGap được trình bày trong bảng 1.1 và bảng 1.2) mặc dù công tác triển khai đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất, thu hoạch, sơ chế và chế biến thanh long đã được thực hiện quyết liệt từ các cấp, các ngành, người trồng
và người kinh doanh nhưng sức lan tỏa chưa mạnh, người dân vẫn còn tâm lý ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, còn tâm lý so bì, đối phó khi tham gia chương trình sản xuất thanh long an toàn theo VietGap, khi mà giá cả của sản phẩm thanh long an toàn và không an toàn không được phân định rõ ràng, chưa có nhiều lợi ích thực sự cho người sản xuất thanh long theo hướng an toàn, nguy cơ lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất, bảo quản thanh long vẫn còn khả năng tiếp diễn (Sở NN & PTNT Bình Thuận, 2013); công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch còn lạc hậu nên sản phẩm thanh long không bảo quản được lâu dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh của trái thanh long (hiện nay, nhiều tỉnh trong cả nước cũng đã phát triển trồng thanh long trong đó có 02 tỉnh có diện tích tương đối lớn là Tiền Giang và Long An được trình bày như bảng 1.3; Đáng chú ý, một số nước khác cũng đang đầu tư phát triển mạnh cây thanh long như Đài Loan, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, v.v nên trong thời gian sắp tới thanh long tỉnh Bình Thuận cũng phải cạnh tranh hết sức gay gắt trên thị trường trong nước cũng như ngoài nước theo báo cáo
số 151/BC – SNN của Sở NN & PTNT Bình Thuận), đặc biệt thanh long Bình Thuận đã có thương hiệu nhưng chưa mạnh và chưa bán sản phẩm bằng chính thương hiệu của mình mặc dù thanh long Bình Thuận là nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ của Cục Sở Hữu Trí Tuệ vào năm 2011 (phụ lục 4)
Trang 16Bảng 1.1 Số hộ và diện tích được cấp chứng nhận VietGap
(Nguồn: Báo cáo 01/BC – TTTL của TTNCPT cây thanh long)
Bảng 1.2 Danh sách các cơ sở đóng gói được cấp chứng nhận VietGap
STT Huyện Danh sách các cơ sở đóng gói được cấp chứng nhận
1
Hàm Thuận Bắc
Doanh nghiệp tư nhân sản xuất thương mại Phương Giang
6 Bắc Bình Công ty cổ phần xuất nhập khẩu nông sản Hồng Ân
7
Hàm Thuận Nam
Công ty trách nhiệm hữu hạn Bé Dũng
11 Thành phố Phan Thiết Công ty trách nhiệm hữu hạn Hưng Loan
(Nguồn: báo cáo 01/BC – TTTL của TTNCPT cây thanh long)
Trang 17Bảng 1.3 Thực trạng hoạt động sản xuất thanh long trên địa bàn tỉnh Bình Thuận,
Long An, Tiền Giang và cả nước
(Đơn vị tính: Diện tích: Ha; Sản lượng: Tấn; Năng suất: Tấn/Ha)
Bình Thuận
Diện tích trồng 8.993 10.663 11.885 13.404 18.616 19.419 20.551 Diện tích thu hoạch 6.457 8.582 9.381 10.826 15.287 15.807 18.184 Sản lượng 141.283 236.067 258.134 299.302 397.584 392.373 400.800
Cả nước
Diện tích trồng 11.792 13.710 14.595 16.096 23.015 25.177 28.729 Diện tích thu hoạch 7.947 11.355 11.711 13.026 18.976 19.680 23.820 Sản lượng 178.801 283.873 300.967 346.510 468.325 486.094 517.463
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ Niêm giám thống kê của tỉnh Bình Thuận, Long
An, Tiền Giang và Báo cáo tổng kết của Cục Trồng Trọt – Bộ NN& PTNT)
Trang 18Bảng 1.4 Thực trạng giá bán thanh long Bình Thuận tại vườn
(Nguồn: Sở NN & PTNT Bình Thuận, 2014)
Nếu như năm 2008 thanh long Bình Thuận được trồng trên diện tích là 10.663 ha (trong đó diện tích thu hoạch là 8.582 ha) với sản lượng là 236.067 tấn đạt năng suất 27,51 tấn/ha và bán ra thị trường với giá bán bình quân là 4.586 đồng/kg cho sản phẩm chính vụ và 6.404 đồng/kg cho sản phẩm trái vụ thì đến năm
2013 diện tích trồng thanh long đã đạt 20.551 ha tăng 128% (trong đó diện tích thu hoạch tăng 181% và đạt 18.184 ha) với sản lượng là 400.800 tấn tăng 69,78% và đạt năng suất 22,04 tấn/ha với giá bán bình quân là 13.273 đồng/kg cho sản phẩm chính vụ và 17.210 đồng/kg cho sản phẩm trái vụ như bảng 1.3 và bảng 1.4
Nhìn chung, sản lượng và giá bán thanh long Bình Thuận (trong chính vụ và trái vụ) tăng đều qua các năm nhưng do chất lượng, mẫu mã trái cây không đồng nhất theo yêu cầu của thị trường, công nghệ đóng gói và bảo quản thanh long còn quá đơn giản nên thời gian bảo quản ngắn dẫn đến cảm nhận của người tiêu dùng về
Trang 19chất lượng thanh long Bình Thuận thấp Thêm vào đó là sự quản lý thiếu chặt chẽ của cơ quan chức năng về vệ sinh an toàn thực phẩm từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm đặc biệt là việc lạm dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật của các nông hộ trong quá trình sản xuất thanh long, của các doanh nghiệp kinh doanh thanh long trong quá trình đóng gói và bảo quản làm cho người tiêu dùng chưa cảm thấy an toàn khi sử dụng sản phẩm; công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến thương mại đối với sản phẩm thanh long Bình Thuận còn yếu, chưa được thường xuyên và thiếu tính chiến lược nên chưa tạo được hình ảnh tốt của trái thanh long trong trí nhớ người tiêu dùng từ đó dẫn đến giá trị hàng hóa còn thấp Chính vì vậy đã đến lúc quan tâm đến vấn đề lớn hơn là xây dựng và phát triển thương hiệu thanh long Bình Thuận nhằm làm gia tăng giá trị thương hiệu thanh long Bình Thuận trên cơ
sở tập trung theo chiều sâu, chuyên nghiệp hơn, vừa phát triển thị trường nội địa, vừa thâm nhập sâu rộng vào thị trường thế giới Tuy nhiên, để xây dựng và phát triển một thương hiệu thì cần phải hiểu rõ về tài sản thương hiệu (Keller và Lehmann, 2006), tức là phải nắm bắt được vai trò của tài sản thương hiệu và các thành phần của nó, cũng như cách thức để đo lường chúng (Thọ và Trang, 2011)
1.1.2 Về mặt lý luận:
Khái niệm tài sản thương hiệu (Brand Equity) được nghiên cứu trong nhiều bối cảnh khác nhau với những mục đích khác nhau và cũng có nhiều định nghĩa về khái niệm này
Tài sản thương hiệu được xem như là giá trị tăng thêm do thương hiệu mang lại (Aaker, 1991, 1996); giá trị tăng thêm vì sản phẩm có tên hiệu (Srivastava và Shocker, 1991; Wood, 2000) Tài sản thương hiệu là một khái niệm rất quan trọng trong thực tế kinh doanh cũng như trong nghiên cứu học thuật vì doanh nghiệp có thể đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua một thương hiệu thành công (Hoàng Thị Phương Thảo và cộng sự, 2010)
Tài sản thương hiệu có thể được tiếp cận dưới 02 góc độ khác nhau (Lassar
và cộng sự, 1995; Wood, 2000): (i) dưới góc độ tài chính (Financial Based Brand Equity); và (ii) dưới góc độ người tiêu dùng (Customer Based Brand Equity) Cách
Trang 20tiếp cận thứ nhất (tiếp cận dưới góc độ tài chính), tài sản thương hiệu được xem như tài sản của doanh nghiệp (Davis và Doughlass, 1995) Tài sản này được định nghĩa như kết quả dòng tiền có được từ doanh thu của sản phẩm có tên hiệu (Shocker và Weitz, 1988; Simon và Sullivan, 1993) Cách tiếp cận thứ hai (tiếp cận dưới góc độ người tiêu dùng), tài sản thương hiệu được xem xét trong ngữ cảnh ra quyết định Marketing Theo cách tiếp cận này thì tài sản thương hiệu được xem xét như một tập hợp những yếu tố được hoặc mất liên quan đến thương hiệu (tên và biểu tượng) được cộng thêm vào hoặc trừ bớt ra khỏi giá trị của sản phẩm/dịch vụ đối với một doanh nghiệp hoặc các khách hàng của doanh nghiệp đó (Aaker, 1991, 1996); như một tập các liên tưởng và hành vi của người tiêu dùng đối với thương hiệu một sản phẩm làm gia tăng lợi nhuận của thương hiệu sản phẩm đó so với một sản phẩm không có tên hiệu (Srivastava và Shocker, 1991)
Tài sản thương hiệu ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận trong tương lai của doanh nghiệp (Srivastava và Shocker, 1991) Chính vì vậy, tài sản thương hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu, và sự thành công của một thương hiệu phụ thuộc vào mức độ giá trị mà khách hàng cảm nhận được (Thọ và Trang, 2011) Tuy nhiên, nguồn gốc của tài sản thương hiệu là từ nhận thức của người tiêu dùng nên sẽ rất hữu ích nếu nhà quản trị có thể xây dựng
mô hình định lượng và thang đo để đo lường chúng ở góc độ người tiêu dùng (Thảo
và cộng sự, 2010)
Trong hơn 2 thập niên qua đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm của các nhà khoa học trong và ngoài nước về tài sản thương hiệu tiếp cận dưới góc độ người tiêu dùng theo nhiều hướng khác nhau (được trình bày chi tiết tại tiểu mục 2.1.3) Nhìn chung, các nghiên cứu thực nghiệm của các nhà khoa học trong và ngoài nước trước đây về tài sản thương hiệu phần lớn đều dựa trên lý thuyết nền của tác giả Aaker (1991, 1996), Keller (1993) Điều này cho thấy mô hình rất phù hợp để nghiên cứu và đo lường mối quan hệ tác động giữa các thành phần tài sản thương hiệu cũng như mối quan hệ tác động giữa các thành phần này đến tài sản thương hiệu tổng thể
Trang 21Tuy nhiên, các nghiên cứu này phần lớn được thực hiện tại những quốc gia phát triển có sự khác biệt về văn hóa và phát triển kinh tế so với Việt Nam Thêm vào đó, các nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành đối với thương hiệu của các sản phẩm công nghiệp, sản phẩm tiêu dùng, dịch vụ, v.v Trong khi tồn tại sự khác biệt
về các thành phần tài sản thương hiệu giữa thị trường sản phẩm hữu hình và thị trường dịch vụ (Mackay, 2001); giữa thị trường hàng tiêu dùng và thị trường hàng công nghiệp (Hutton, 1997); giữa sản phẩm công nghiệp và các sản phẩm thực phẩm (Kim, 2012); giữa các sản phẩm công nghiệp và các sản phẩm nông nghiệp (Manning, 2007) Bên cạnh đó, các nhà khoa học khi thực hiện nghiên cứu về tài sản thương hiệu dưới góc độ người tiêu dùng chủ yếu thực hiện nghiên cứu định lượng hoặc định tính kết hợp với định lượng nhưng định lượng vẫn là chủ yếu thông qua khảo sát thái độ (hoặc hành vi) của người tiêu dùng trực tiếp (Yoo và cộng sự,
2000, 2001, 2002; Ramos và Franco, 2005; Orth và cộng sự, 2005; Atilgan và cộng
sự, 2005, 2009; Morrison và Eastburn, 2006; Duhan và cộng sự, 2006; Rosa và Hernan, 2008; Tong và Hawley, 2009; Dopico và cộng sự, 2009; Chen và Tseng, 2010; Thảo và cộng sự, 2010; Thọ và Trang, 2011; Taglioni và cộng sự, 2011; Kim, 2012; Saydan, 2013; Ping và cộng sự, 2013; Welch, 2014; Saleem và cộng sự, 2015) hoặc các nhà bán lẻ (Quân, 2006; Hương và Lin, 2011) dựa trên mô hình lý thuyết nền về tài sản thương hiệu của tác giả Aaker (1991, 1996), Keller (1993) mà chưa có nghiên cứu đánh giá đa chiều, xem xét nhiều góc độ, nhiều quan điểm về mối quan hệ giữa tài sản thương hiệu và các thành phần của nó cũng như mối quan
hệ tác động giữa các thành phần này với nhau trong khi có sự khác biệt về nhu cầu
và mong muốn giữa người tiêu dùng trực tiếp và các nhà bán lẻ đối với thương hiệu sản phẩm vì vậy sẽ có những đánh giá khác nhau của các nhóm đối tượng này về các thành phần tài sản thương hiệu (Fairhurst và Fiorito, 1990; Quân, 2006; Huong
và Lin, 2011)
Xuất phát từ tình hình lý luận và thực tiễn nêu trên nên rất cần một nghiên cứu thực nghiệm để xác định các thành phần của tài sản thương hiệu sản phẩm trái cây tươi tại thị trường Việt Nam; đo lường mối quan hệ giữa các thành phần tài sản
Trang 22thương hiệu với nhau; và đo lường mối quan hệ của các thành phần này đến tài sản thương hiệu tổng thể nhằm đề xuất một số gợi ý chính sách làm gia tăng tài sản thương hiệu vì đây là cơ sở để xây dựng và phát triển thương hiệu thành công Vì
thế, tác giả đã chọn đề tài “Các thành phần tài sản thương hiệu trái cây tươi tại thị trường Việt Nam: trường hợp thanh long Bình Thuận” làm đề tài nghiên cứu
luận án tiến sỹ kinh tế chuyên ngành kinh doanh thương mại
1.2.1 Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định và đo lường tác động giữa các thành phần tài sản thương hiệu thanh long Bình Thuận; tác động của các thành phần này đến tài sản thương hiệu tổng thể Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất một số hàm ý nghiên cứu nhằm gia tăng tài sản thương hiệu thanh long Bình Thuận
Mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm:
1 Xác định các thành phần của tài sản thương hiệu trái cây tươi tại thị trường Việt Nam: trường hợp thanh long Bình Thuận;
2 Đo lường tác động giữa các thành phần tài sản thương hiệu thanh long Bình Thuận; và tác động của các thành phần này đến tài sản thương hiệu tổng thể;
3 Gợi ý một số hàm ý chính sách cho TTNCPT cây thanh long Bình Thuận, Hiệp hội thanh long Bình Thuận nhằm gia tăng tài sản thương hiệu thanh long Bình Thuận
1.2.2 Các câu hỏi nghiên cứu:
Từ những mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài cần trả lời được những câu hỏi sau:
1 Tài sản thương hiệu trái cây tươi tại thị trường Việt Nam: trường hợp thanh long Bình Thuận bao gồm những thành phần nào?
2 Mối quan hệ giữa các thành phần tài sản thương hiệu thanh long Bình Thuận như thế nào? Và các thành phần này có mối quan hệ như thế nào với tài sản thương hiệu tổng thể?
Trang 233 Chính sách nào là cần thiết cho TTNCPT cây thanh long Bình Thuận, Hiệp Hội thanh long Bình Thuận để gia tăng tài sản thương hiệu thanh long Bình Thuận?
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Về đối tượng nghiên cứu của đề tài: là tài sản thương hiệu thanh long Bình
Thuận và các thành phần của nó
Về đối tượng khảo sát của đề tài: là khách hàng tiêu dùng trực tiếp thường
xuyên và các nhà bán lẻ sản phẩm thanh long Bình Thuận
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu của đề tài được thực hiện trong phạm vi sau đây:
- Góc tiếp cận nghiên cứu về mặt lý luận:
Tài sản thương hiệu có thể được tiếp cận dưới 02 góc độ khác nhau (Lassar
và cộng sự, 1995; Wood, 2000): (i) dưới góc độ người tiêu dùng và (ii) dưới góc độ tài chính Tiếp cận dưới góc độ tài chính thì tài sản thương hiệu được xem như tài sản của doanh nghiệp (Davis và Doughlass, 1995) và vì vậy việc đánh giá tài sản thương hiệu dưới góc độ tài chính đóng góp vào việc đánh giá tài sản của một công
ty và nó sẽ không giúp nhiều cho các nhà quản trị trong việc tận dụng và phát triển giá trị của thương hiệu (Thọ và Trang, 2011) Vì vậy, trong nghiên cứu này tác giả thực hiện nghiên cứu tài sản thương hiệu tiếp cận dưới góc độ người tiêu dùng
- Góc tiếp cận nghiên cứu về mặt không gian:
Đề tài thực hiện phỏng vấn trực tiếp các đối tượng khảo sát thông qua bảng
câu hỏi chi tiết theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện tại Tp.HCM và Bình Thuận
Cụ thể:
Tại Tp.HCM: khách hàng tiêu dùng thường xuyên trực tiếp và các nhà bán lẻ sản phẩm thanh long Bình Thuận tại các siêu thị, các chợ nông sản, và các cửa hàng trái cây tươi
Trang 24Tại Bình Thuận: khách hàng tiêu dùng thường xuyên trực tiếp và các nhà bán
lẻ sản phẩm thanh long Bình Thuận tại chợ Phan Thiết, chợ tạm, siêu thị Co.opMart, siêu thị Lotte Mart và các điểm dừng chân của khách du lịch
- Góc tiếp cận nghiên cứu về mặt thời gian:
Đề tài thực hiện nghiên cứu định tính trong giai đoạn từ tháng 11/2012 đến tháng 12/2013 bằng việc thảo luận tay đôi cùng các chuyên gia và thảo luận nhóm tập trung cùng các đối tượng khảo sát
Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện trong giai đoạn từ tháng 12/2013 đến tháng 01/2014 bằng việc phỏng vấn trực tiếp các đối tượng khảo sát thông qua bảng câu hỏi chi tiết
Nghiên cứu định lượng chính thức được thực hiện trong giai đoạn từ tháng 02/2014 đến tháng 06/2014 bằng việc phỏng vấn trực tiếp các đối tượng khảo sát thông qua bảng câu hỏi chi tiết
Về phương pháp luận (Methodology):
Dựa trên hệ nhận thức thực dụng, phương pháp luận được tác giả sử dụng trong nghiên cứu này là phương pháp hỗn hợp bằng cách kết hợp giữa nghiên cứu định tính (thông qua phỏng vấn chuyên gia, thảo luận nhóm tập trung với người tiêu dùng trực tiếp và các nhà bán lẻ) và nghiên cứu định lượng (thông qua phỏng vấn trực tiếp các đối tượng khảo sát) để thực hiện việc kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
Về phương pháp và công cụ xử lý thông tin (Method/Tools):
Dữ liệu thứ cấp được thu thập thông qua các Niêm giám thông kê của các tỉnh Bình Thuận, Long An, Tiền Giang từ năm 2007 đến 2013; báo cáo tổng kết về tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long trên địa bàn tỉnh Bình Thuận của Sở NN & PTNN Bình Thuận từ năm 2007 đến 2013; báo cáo tiến độ thực hiện chương trình sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn VietGap của TTNCPT cây thanh long Bình
Trang 25Thuận năm 2015; báo cáo tổng kết của Cục Trồng Trọt – Bộ NN & PTNT năm
2013
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn chuyên gia, thảo luận nhóm tập trung và điều tra khảo sát Cụ thể:
Phỏng vấn chuyên gia: Tác giả thực hiện phỏng vấn 08 chuyên gia là các
nhà khoa học và các nhà quản lý tại phòng làm việc của các chuyên gia để khám phá các thành phần tài sản thương hiệu thanh long Bình Thuận, điều chỉnh các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu;
Thảo luận nhóm: tác giả thực hiện thảo luận nhóm tập trung cùng 02
nhóm đối tượng là các đối tượng khảo sát (01 nhóm là người tiêu dùng thường xuyên trực tiếp và 01 nhóm là các nhà bán lẻ sản phẩm thanh long Bình Thuận) để xác định lại các thành phần tài sản thương hiệu thanh long Bình Thuận; và điều chỉnh các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu;
Điều tra khảo sát: tác giả thực hiện điều tra khảo sát 02 lần: (i) lần 1:
thực hiện phỏng vấn trực tiếp 144 đáp viên là các đối tượng khảo sát thông qua bảng câu hỏi chi tiết theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện để điều chỉnh và xác định lại cấu trúc thang đo; (ii) lần 2: thực hiện phỏng vấn trực tiếp 781 đáp viên là các đối tượng khảo sát để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
Dữ liệu thu thập từ các đáp viên (các bảng câu hỏi) được xem xét và loại đi những bảng không đạt yêu cầu Sau đó dữ liệu được mã hóa và làm sạch bằng phần mềm SPSS 20.0
Dữ liệu thu thập từ các đối tượng khảo sát được sử dụng để đánh giá thang
đo bằng công cụ phân tích độ tin cậy (Reliability Analysis) thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratary Factor Analysis), phân tích nhân tố khẳng định CFA (Confirmatory Factor Analysis) và mô hình cấu
Trang 26trúc tuyến tính SEM (Structural Equation Modeling) được sử dụng để kiểm định
mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
1.5 TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài có một số điểm mới về mặt học thuật như sau:
Một là, kết quả nghiên cứu của đề tài đã chứng minh được: mô hình tài sản
thương hiệu trái cây tươi tại thị trường Việt Nam: nghiên cứu điển hình trường hợp thanh long Bình Thuận bao gồm 05 thành phần: (i) nhận biết thương hiệu, (ii) liên tưởng thương hiệu, (iii) chất lượng cảm nhận, (iv) lòng trung thành thương hiệu, (v)
an toàn cảm nhận; và 05 thành phần này đều có tác động trực tiếp đến tài sản thương hiệu tổng thể ở mức ý nghĩa 5% Như vậy, so với mô hình lý thuyết tài sản thương hiệu của tác giả Aaker (1991, 1996) thì mô hình tài sản thương hiệu trái cây tươi tại thị trường Việt Nam: nghiên cứu điển hình thanh long Bình Thuận còn có
01 thành phần khác nữa là an toàn cảm nhận và đây chính là thành phần mới của tài sản thương hiệu thanh long Bình Thuận
Hai là, đề tài nghiên cứu tài sản thương hiệu thanh long Bình Thuận theo
cách tiếp cận đa chiều (thông qua phỏng vấn trực tiếp 02 nhóm đối tượng: người tiêu dùng thường xuyên trực tiếp và các nhà bán lẻ sản phẩm thanh long Bình Thuận) để đánh giá mối quan hệ tác động của các thành phần tài sản thương hiệu thanh long Bình Thuận đến tài sản thương hiệu tổng thể; và mối quan hệ tác động giữa các thành phần này với nhau Kết quả đã chứng minh được có sự khác biệt về cách đánh giá tác động của các thành phần tài sản thương hiệu đến tài sản thương hiệu tổng thể khi tiếp cận dưới góc động người tiêu dùng trực tiếp và các nhà bán lẻ Đối với người tiêu dùng thì chất lượng cảm nhận và an toàn cảm nhận là 02 thành phần có tác động nhiều nhất đến tài sản thương hiệu; trong khi đó, đối với các nhà bán lẻ thì không có sự khác biệt tác động giữa các thành phần tài sản thương hiệu đến tái sản thương hiệu tổng thể ở mức ý nghĩa 5%, độ tin cậy 95%
Trang 271.6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài nghiên cứu bao gồm 05 chương được trình bày theo thứ tự như sau:
Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu
Trong chương này, tác giả trình bày bối cảnh nghiên cứu của đề tài; mục tiêu
và câu hỏi nghiên cứu của đề tài; phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài; phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài; những điểm mới của đề tài; và cuối cùng là phần kết cấu của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Trong chương này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về tài sản thương hiệu bao gồm: các mô hình lý thuyết về tài sản thương hiệu, tổng quan các công trình nghiên cứu thực nghiệm của các nhà khoa học trong và ngoài nước về tài sản thương hiện dưới góc độ người tiêu dùng Trên cở sở đó, tác giả đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu của mình
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Trong chương này, tác giả trình bày thiết kế nghiên cứu được tác giả sử dụng trong nghiên cứu tài sản thương hiệu trái cây tươi tại thị trường Việt Nam: trường hợp thanh long Bình Thuận Nội dung của chương này bao gồm: toàn bộ quy trình
và tiến độ tác giả thực hiện cho nghiên cứu của mình Ngoài ra, kết quả nghiên cứu định tính và định lượng sơ bộ cũng được tác giả trình bày trong chương này
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày kết quả nghiên cứu chính thức của đề tài bao gồm: kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, kết quả kiểm định các thang
đo nghiên cứu, kết quả kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu đề xuất trong chương 2
Trang 28Chương 5: Kết luận và hàm ý nghiên cứu
Trong chương này, tác giả thảo luận kết quả nghiên cứu của đề tài có được ở chương 4 Đồng thời, dựa trên kết quả nghiên cứu này tác giả đề xuất một số hàm ý nghiên cứu nhằm làm gia tăng tài sản thương hiệu thanh long Bình Thuận Bên cạnh
đó, trong chương này tác giả cũng trình bày những đóng góp của đề tài về phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn; những hạn chế và hướng nghiên cứu cho các đề tài tiếp theo
Trang 29CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
GIỚI THIỆU CHƯƠNG
Chương này tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về tài sản thương hiệu Trước tiên, tác giả thực hiện lược khảo lý thuyết bao gồm 02 nội dung: (i) lược khảo mô hình lý thuyết về tài sản thương hiệu và (ii) thực hiện tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm của các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về tài sản thương hiệu tiếp cận dưới góc độ người tiêu dùng Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu của mình
2.1.1 Thương hiệu
Khái niệm thương hiệu
Khái niệm về thương hiệu đã ra đời từ rất lâu Từ khi ra đời và phát triển, khái niệm thương hiệu cũng đã được thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của ngành Marketing Có nhiều quan điểm về thương hiệu và có thể có chia ra làm 02 quan điểm chính: (i) quan điểm truyền thống và (ii) quan điểm tổng hợp (Thọ và Trang, 2003)
Quan điểm truyền thống: Theo quan điểm này thì thương hiệu được xem như
là một cái tên, biểu tượng, ký hiệu hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm mục đích để nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với thương hiệu của các đối thủ cạnh tranh (Kotler, 1994) Như vậy, theo cách định nghĩa này thì thương hiệu được hiểu như một thành phần của sản phẩm và chức năng của thương hiệu là dùng để phân biệt sản phẩm của nhà sản xuất với sản phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh tranh có mặt trên thị trường Thương hiệu giúp người tiêu dùng nhận biết được sản phẩm và thương hiệu được sử dụng để bảo vệ người tiêu dùng và các nhà sản xuất trước các đối thủ cạnh tranh cung cấp các sản phẩm
Trang 30tương tự trên thị trường (Aaker, 1991) Quan điểm truyền thống về thương hiệu tồn tại trong một thời gian khá dài cùng với sự ra đời và phát triển của ngành marketing Nhưng đến cuối thế kỷ 20, quan điểm thương hiệu đã có nhiều thay đổi và các nhà nghiên cứu về thương hiệu cho rằng quan điểm này không thể giải thích được vai trò của thương hiệu trong nền kinh tế toàn cầu và cạnh tranh gay gắt Chính vì vậy, một quan điểm mới về thương hiệu ra đời (quan điểm tổng hợp)
Quan điểm tổng hợp: Theo quan điểm tổng hợp thì thương hiệu không chỉ là
một cái tên hay một biểu tượng mà nó phức tạp hơn nhiều, thương hiệu là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi (David, 2002) Thương hiệu theo quan điểm này cho rằng sản phẩm chỉ là một phần của thương hiệu chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho người tiêu dùng (Thọ và Trang, 2003) Quan điểm tổng hợp ngày càng được các nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận vì người tiêu dùng có 02 nhu cầu: (i) nhu cầu chức năng và (ii) nhu cầu tâm lý (Thọ và Trang, 2003) Sản phẩm chỉ cung cấp cho người tiêu dùng nhu cầu chức năng, chính thương hiệu mới cung cấp cho người tiêu dùng cả hai (Amber và Styles, 1996; Thọ và Trang, 2003) và sản phẩm có thể bị bắt chước bởi các đối thủ cạnh tranh nhưng thương hiệu là tài sản riêng của công ty, sản phẩm có thể nhanh chóng
bị lạc hậu nhưng thương hiệu nếu thành công sẽ không bao giờ bị lạc hậu (Aaker, 1991)
Hai quan điểm về thương hiệu và sản phẩm được mô tả minh họa tại hình 2.1 Thương hiệu là một thành phần của
THƯƠNG HIỆU
Sản phẩm
Trang 31Thành phần của thương hiệu
Khái niệm thương hiệu ngày càng được hiểu theo nghĩa rộng hơn chứ không chỉ là cái tên, biểu tượng để phân biệt sản phẩm của mình với đối thủ cạnh tranh
Do vậy thương hiệu được xem như là một tập các thành phần có mục đích cung cấp lợi ích chức năng và tâm lý cho khách hàng mục tiêu (Amber và Styles, 1996; Thọ
và Trang, 2003) Theo quan điểm này thì thương hiệu bao gồm 02 thành phần chính (Aaker, 1996): (i) thành phần chức năng: có mục đích cung cấp lợi ích chức năng của thương hiệu cho khách hàng mục tiêu và nó chính là sản phẩm; và (ii) thành phần cảm xúc: bao gồm các yếu tố giá trị mang tính biểu tượng nhằm tạo cho khách hàng mục tiêu những lợi ích tâm lý Hai thành phần cơ bản của thương hiệu (chức năng và tâm lý) cùng với giá cả tương đối của nó (giá so sánh với lợi ích của nó) sẽ tạo nên giá trị mà thương hiệu muốn cung cấp cho khách hàng
Phân loại thương hiệu
Thương hiệu có thể được chia ra làm 04 loại chính: (i) thương hiệu cá biệt, (ii) thương hiệu gia đình, (iii) thương hiệu tập thể, và (iv) thương hiệu quốc gia (Thịnh và Trung, 2012)
Thương hiệu cá biệt (Individual Brand): còn được gọi là thương hiệu cá thể
hoặc thương hiệu riêng là thương hiệu của từng chủng loại hàng hóa hoặc dịch vụ
cụ thể (Thịnh và Trung, 2012) Như vậy, với thương hiệu cá biệt, mỗi loại hàng hóa lại mang một thương hiệu riêng và như thế một doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nhiều loại hàng hóa khác nhau có thể có nhiều thương hiệu khác nhau Chẳng hạn như: Future, Super Dream, SH là những thương hiệu cá biệt của công ty Honda
Thương hiệu gia đình (Umbrella Brand hay Family Brand): thương hiệu gia
đình đề cập đến việc sử dụng một thương hiệu cho hai hay nhiều sản phẩm khác nhau của một doanh nghiệp (Fry, 1967) Chẳng hạn như: thương hiệu Kleenex (cho các sản phẩm giấy của Kleenex) hay thương hiệu Del Monte (cho tất cả các sản phẩm trái cây tươi và rau đóng hộp của Del Monte)
Thương hiệu tập thể (Collective Brand): là những thương hiệu của một nhóm
hay một số chủng loại hàng hóa nào đó, có thể do một cơ sở sản xuất hoặc do các cơ
Trang 32sở khác nhau sản xuất và kinh doanh và thường trong một khu vực địa lý gắn với yếu tố xuất xứ, địa lý nhất định (Thịnh và Trung, 2012) Chẳng hạn như: thanh long Bình Thuận, xoài cát Hòa Lộc, rượu vang Bordeaux Thương hiệu tập thể giúp người tiêu dùng liên tưởng đến sản phẩm có chất lượng cao do thương hiệu đó mang lại và nó yêu cầu các thành viên của thương hiệu cần đầu tư nhiều hơn để duy trì chất lượng của thương hiệu (Fishman và cộng sự, 2011) và thương hiệu tập thể mang 02 đặc điểm đặc trưng cơ bản: (i) việc dán thương hiệu tập thể lên sản phẩm được coi như một dấu hiệu của sản phẩm có chất lượng cao được cảm nhận bởi người tiêu dùng và họ sẵn sàng trả tiền để có được sản phẩm; (ii) các thành viên là các doanh nghiệp độc lập (họ tự ra các quyết định kinh doanh và giữ lại lợi nhuận
mà họ kiếm được) cùng nhau chia sẽ thương hiệu tập thể
Thương hiệu quốc gia (National Brand hay Country Brand): là thương hiệu
gán chung cho các sản phẩm, hàng hóa của một quốc gia nào đó và nó thường gắn với những tiêu chí nhất định, tùy thuộc vào từng quốc gia, từng giai đoạn (Thịnh và Trung, 2012) Chẳng hạn như: Thai’s Brand là thương hiệu quốc gia của Thái Lan, Vietnam Value là thương hiệu quốc gia của Việt Nam
2.1.2 Tài sản thương hiệu (Brand Equity)
Khái niệm
Khái niệm tài sản thương hiệu xuất hiện từ những năm 1980 và từ khi ra đời thì khái niệm này đã nhận được quan tâm rất nhiều bởi các nhà nghiên cứu hàn lâm cũng như nghiên cứu thực nghiệm; và đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này (Keller, 1993)
Tài sản thương hiệu được xem như một tập các liên tưởng và hành vi của người tiêu dùng, kênh phân phối, doanh nghiệp đến thương hiệu sản phẩm và làm gia tăng lợi nhuận của thương hiệu đó so với việc nó không có tên hiệu (Leuthesser, 1988); như là giá trị tăng thêm bởi một sản phẩm có tên hiệu (Farquhar, 1989); là giá trị tăng thêm do thương hiệu mang lại (Aaker, 1991, 1996); như là ý kiến của khách hàng về thương hiệu (Blackston, 1992); như kiến thức của khách hàng về thương hiệu Keller (1993), tức là một thương hiệu có giá trị cao khi khách hàng
Trang 33nhận biết nhiều về thương hiệu đó cũng như có ấn tượng tốt về các thuộc tính mà thương hiệu cung cấp lợi ích cho họ; phần lợi ích gia tăng (Simon và Sullivan, 1993); phần chênh lệch giữa sự yêu thích thương hiệu tổng thể và sự yêu thích thương hiệu dựa trên các thuộc tính khác nhau nói riêng (Park và Srinivasan, 1994); chất lượng tổng thể và ý định lựa chọn (Agarwal và Rao, 1996); giá trị của thương hiệu đến người tiêu dùng (Erdem và Swait, 1998) Tóm lại, tất cả những định nghĩa của các nhà khoa học đều có điểm chung là họ đều xem tài sản thương hiệu như là giá trị lợi ích tăng thêm từ một sản phẩm vì có tên hiệu (Srivastava và Shocker, 1991; Wood, 2000)
Phương pháp tiếp cận tài sản thương hiệu
Tài sản thương hiệu có thể được tiếp cận dưới 02 góc độ khác nhau (Lassar
và cộng sự, 1995; Wood, 2000): (i) dưới góc độ tài chính (Financial Based Brand Equity) và (ii) dưới góc độ người tiêu dùng (Customer Based Brand Equity)
Dưới góc độ tài chính (Financial Based Brand Equity)
Tài sản thương hiệu được xem như tài sản của doanh nghiệp (Davis và Doughlass, 1995) Tài sản này được định nghĩa như kết quả dòng tiền có được từ doanh thu của sản phẩm có tên hiệu (Shocker và Weitz, 1988; Simon và Sullivan, 1993) Một trong những lý do để phát triển dòng nghiên cứu này là do nhu cầu cần phải thiết lập một mức giá cho thương hiệu để bán; cũng như các chỉ số để thu hút các nhà đầu tư và các bên liên quan xem xét tài sản thương hiệu như một tài sản vô hình trên bảng cân đối kế toán (Feldwick, 1996)
Có 03 phương pháp dùng để đo lường tài sản thương hiệu khi tài sản thương hiệu được xem như tài sản của doanh nghiệp (Simon và Sullivan, 1993; Myers, 2003), cụ thể: (i) Phương pháp phổ biến nhất là dựa trên giá chứng khoán Phương pháp này căn cứ trên giá trị của thị trường tài chính để xác định tài sản thương hiệu của một doanh nghiệp Theo phương pháp này thì tài sản thương hiệu được xác định bằng cách tách giá trị cổ phần của doanh nghiệp thành những tài sản hữu hình và tài sản vô hình, rồi sau đó lại tách tài sản thương hiệu khỏi các tài sản vô hình này; (ii) Phương pháp 2: phương pháp này sử dụng tình huống kết hợp giữa kinh phí yêu cầu
Trang 34để giới thiệu sản phẩm mới ra thị trường với xác suất thành công trong việc thiết lập một thương hiệu mới; (iii) Phương pháp thứ 3: phương pháp này dựa trên bảng xếp hạng giá trị thương hiệu được công bố hằng năm trên thế giới
Dưới góc độ người tiêu dùng (Customer Based Brand Equity)
Tài sản thương hiệu được xem xét như một tập hợp những yếu tố được hoặc mất liên quan đến thương hiệu (tên và biểu tượng) được cộng thêm vào hoặc trừ bớt
ra khỏi giá trị của sản phẩm/dịch vụ đối với một doanh nghiệp hoặc các khách hàng của doanh nghiệp đó (Aaker, 1991, 1996); như một tập các liên tưởng và hành vi của người tiêu dùng đối với thương hiệu một sản phẩm làm gia tăng lợi nhuận của thương hiệu sản phẩm đó so với một sản phẩm không có tên hiệu (Srivastava và Shocker, 1991); chính là kiến thức của khách hàng về thương hiệu và kiến thức này chịu ảnh hưởng bởi các hoạt động marketing về thương hiệu (Keller, 1993); như là
sự đánh giá khác nhau của người tiêu dùng đối với một sản phẩm có thương hiệu và một sản phẩm không có thương hiệu với cùng một đặc tính (Edell, 1993; Yoo và cộng sự, 2000, 2002; Yoo và Donthu, 2001) Như vậy, tài sản thương hiệu thể hiện
sự chọn lọc có ý chí và tình cảm của khách hàng dành cho thương hiệu trong một tập các thương hiệu cạnh tranh khác (Davis và Doughlass, 1995) và đây cũng là điểm nhấn giải thích bao quát tài sản thương hiệu như là kết quả của nổ lực marketing của doanh nghiệp nhằm xây dựng những nhận thức, hành vi tích cực của người tiêu dùng đối với thương hiệu và giải thích giá trị vô hình vì sao người tiêu dùng chọn mua thương hiệu này mà không chọn mua thương hiệu khác
Có 02 cách để đo lường tài sản thương hiệu khi tiếp cận dưới góc độ người tiêu dùng (Keller, 1993; Christodoulides và Chernatony, 2009): (i) đo lường trực tiếp (Direct Approach) và (ii) đo lường gián tiếp (Indirect Approach) Cách đo lường gián tiếp được thực hiện thông qua đo lường nhận biết thương hiệu, các thành phần của liên tưởng thương hiệu cũng như mối quan hệ của các thành phần này Trong khi cách đo lường trực tiếp tập trung vào việc đánh giá phản ứng của người tiêu dùng đối với các hoạt động marketing của doanh nghiệp Bên cạch đó, tài sản thương hiệu dựa trên khía cạnh người tiêu dùng có thể được tiếp cận theo hai quan
Trang 35điểm khác nhau (Silverman và cộng sự, 1999): (i) dựa vào nhận thức của người tiêu dùng (nhận biết thương hiệu, liên tưởng thương hiệu, chất lượng cảm nhận, lòng tin vào thương hiệu) và (ii) hành vi của người tiêu dùng (lòng trung thành với thương hiệu và sự sẵn sàng trả giá cao)
Sơ đồ 2.1 Phương pháp nghiên cứu tài sản thương hiệu
(Nguồn: Keller,1993; Christodoulides và Chernatony, 2009)
2.1.3 Các thành phần của tài sản thương hiệu dưới góc độ người tiêu dùng
Tài sản thương hiệu được nghiên cứu trong nhiều bối cảnh khác nhau với những định nghĩa khác nhau và được đo lường bởi các thành phần khác nhau Chẳng hạn như: tài sản được xem như là giá trị tăng thêm do thương hiệu mang lại (Aaker, 1991, 1996) và được đo lường bởi bốn thành phần: (i) nhận biết thương hiệu (Brand Awareness), (ii) chất lượng cảm nhận (Perceived Quality), (iii) liên tưởng thương hiệu (Brand Association), (iv) lòng trung thành thương hiệu (Brand Loyalty); như một tiện ích do thương hiệu mang lại (Shocker và Weitz, 1988) và bao gồm 02 thành phần: (i) lòng trung thành thương hiệu (Brand Loyalty) và (ii) hình ảnh thương hiệu (Brand Image); như là ý kiến của khách hàng về thương hiệu (Blackston, 1992) và được đo lường bởi 02 thành phần: (i) lòng tin của khách hàng
về thương hiệu (Trust in the Brand) và (ii) sự thỏa mãn của khách hàng (Customer Satisfaction); như là kiến thức của khách hàng về thương hiệu đó (Brand
Trang 36Knowledge) trước các hoạt động marketing thương hiệu (Keller, 1993) và kiến thức này bao gồm hai thành phần chính: (i) nhận biết thương hiệu (Brand Awareness), (ii) ấn tượng về thương hiệu (Brand Association); như là sự gia tăng lợi ích cảm nhận của khách hàng đối với thương hiệu (Lassar và cộng sự, 1995) và được đo lường bởi 05 thành phần: (i) chất lượng cảm nhận (Perceived Quality), (ii) giá trị cảm nhận (Perceived Value), (iii) ấn tượng thương hiệu (Social Image), (iv) lòng tin
về thương hiệu của khách hàng (Trustworthiness) và (v) cam kết với khách hàng về thương hiệu (Commitment); như là lợi thế của hoạt động marketing cộng dồn vào doanh nghiệp từ việc kết hợp giữa nhận biết thương hiệu và ý nghĩa của thương hiệu đối với khách hàng (Berry, 2000) và bao gồm 02 thành phần: (i) nhận biết thương hiệu (Brand Awareness), và (ii) ý nghĩa thương hiệu (Brand Meaning); như một tập các thuộc tính ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của người tiêu dùng (Lenon và cộng sự, 2001) và bao gồm 03 thành phần: (i) nhận biết thương hiệu (Brand Awareness), (ii) thái độ của người tiêu dùng đối với thương hiệu (Attitude toward the brand) và (iii) đạo đức doanh nghiệp (Corporate Ethics); như một sự lôi cuốn của một sản phẩm cụ thể được cung cấp bởi một công ty cụ thể được tạo ra mà không phải từ các đặc tính của sản phẩm mặc dù ban đầu thương hiệu đồng nghĩa với sản phẩm, nhưng theo thời gian, thông qua các quảng cáo, kinh nghiêm sử dụng, các hoạt động và các ảnh hưởng khác, thương hiệu có thể phát triển sự gắn bó và liên tưởng của khách hàng mà nó tồn tại bên ngoài mục tiêu của sản phẩm (Keller
và Lehmann, 2006) và tài sản thương hiệu bao gồm 05 thành phần: (i) nhận biết thương hiệu (Awareness), (ii) liên tưởng thương hiệu (Associations), (iii) thái độ của người tiêu dùng (Attitude) thể hiện thái độ của người tiêu dùng từ chấp nhận đến bị thu hút bởi thương hiệu, (iv) gắn bó của người tiêu dùng (Attachment) và (v) hoạt động (Activity); là sự bình ổn về giá trị cho thương hiệu trong hiện tại và tương lai bắt nguồn từ các hoạt động về thương hiệu từ bên trong và bên ngoài (Burmann và cộng sự, 2009) và tài sản thương hiệu theo quan điểm này thì được đo lường bởi 05 thành phần: (i) lợi ích cụ thể (Brand Benefit Clarity), (ii) chất lượng cảm nhận (Perceived Brand Quality), (iii) tính độc đáo của thương hiệu (Brand
Trang 37Benefit Uniqueness), (iv) sự đồng cảm (Brand Sympathy) và (v) lòng tin của khách hàng đối với thương hiệu (Brand Trust) Tổng hợp các khái niệm và mô hình lý thuyết nền về tài sản thương hiệu tiếp cận dưới góc độ người tiêu dùng được trình bày trong bảng 2.1
Dựa vào các mô hình lý thuyết về tài sản thương hiệu tiếp cận dưới góc độ người tiêu dùng, các nhà khoa học trong và ngoài nước thực hiện nghiên cứu về tài sản thương hiệu và các thành phần của nó tại những thị trường khác nhau, trên các thương hiệu sản phẩm khác nhau và theo nhiều hướng nghiên cứu khác nhau
Một trong những hướng nghiên cứu chính về tài sản thương hiệu là hướng nghiên cứu tập trung vào đánh giá tác động của hoạt động Marketing đến tài sản thương hiệu và các thành phần của nó bằng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát người tiêu dùng trực tiếp.Điển hình cho hướng nghiên cứu này chính là nghiên cứu của Yoo và cộng sự (2000), Ramos và Franco (2005), Tong và Hawley (2009), Thọ và Trang (2011) Kết quả nghiên cứu cho thấy: các hoạt động Marketing có tác động tích cực đến tài sản thương hiệu và các thành phần của nó Hướng nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các thương hiệu hàng tiêu dùng, hàng công nghiệp thể hiện rõ vai trò của nhà sản xuất trong hoạt động marketing để làm gia tăng giá trị tài sản thương hiệu và các thành phần của nó Đây là cơ sở để xây dựng và phát triển thương hiệu
Một hướng nghiên cứu khác về tài sản thương hiệu là việc đánh giá tác động qua giữa các thành phần tài sản thương hiệu với nhau; hoặc tác động của các thành phần này đến tài sản thương hiệu tổng thể bằng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát người tiêu dùng trực tiếp các thương hiệu sản phẩm này Điển hình cho hướng nghiên cứu này như là nghiên cứu của tác giả Netemeyer và cộng
sự (2004), Atilgan và cộng sự (2005, 2009), Morrison và Eastburn (2006), Rosa và Hernan (2008), Tong và Hawley (2009), Chen và Tseng (2010), Taglioni và cộng
sự (2011), Saydan (2013), Welch, Saleem và cộng sự (2015) Kết quả nghiên cứu cho thấy: các thành phần tài sản thương hiệu có tác động cùng chiều với tài sản thương hiệu tổng thể, và các thành phần tài sản thương hiệu này cũng có tác động
Trang 38với nhau Hướng nghiên cứu này tập trung vào đánh giá thái độ của người tiêu dùng đối với tài sản thương hiệu và các thành phần của nó Trên cơ sở đó, đề xuất một số hàm ý nhằm gia tăng giá trị tài sản thương hiệu
Bên cạnh đó, cũng có một số nhà khoa học thực hiện nghiên cứu về tài sản thương hiệu đối với các thương hiệu nông sản, thương hiệu tập thể bằng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát người tiêu dùng trực tiếp các thương hiệu này hoặc phương pháp phân tích tổng hợp để đánh giá tài sản thương hiệu và các thành phần của nó Điển hình như nghiên cứu của tác giả Orth và cộng
sự (2005), Tregear và Gorton (2005), Duhan và cộng sự (2006), Dopico và cộng sự (2009), Ping và cộng sự (2013), Spielmann (2014), Kim (2012) Hướng nghiên cứu này tập trung vào các thương hiệu nông sản và thương hiệu tập thể bằng cách tiếp cận dưới góc độ người tiêu dùng trực tiếp
Ngoài ra, một hướng nghiên cứu hoàn toàn khác được các nhà khoa học tiếp cận khi thực hiện để đánh giá tài sản thương hiệu và các thành phần của nó bằng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát các đối tượng là người tiêu dùng gián tiếp (các nhà bán lẻ) Điển hình như nghiên cứu của tác giả Quan (2006), Hương và Lin (2011) Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm của các nhà khoa học trong và ngoài nước tiếp cận dưới góc độ người tiêu dùng được tác giả trình bày trong bảng 2.2
Trang 39Bảng 2.1 Bảng tổng hợp các định nghĩa và mô hình lý thuyết về tài sản thương hiệu và các thành phần
của nó dưới góc độ người tiêu dùng
khách hàng về thương hiệu
(i) Nhận biết thương hiệu; (ii)
Ấn tượng thương hiệu Lassar và
cộng sự
(1995)
Tài sản thương hiệu được xem như là sự gia tăng về lợi ích cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm có tên thương hiệu khi so sánh với các sản phẩm khác
(i) Chất lượng cảm nhận; (ii) Giá trị cảm nhận; (iii) Ấn tượng thương hiệu; (iv) Lòng tin của khách hàng; (v) Cam kết với khách hàng
Berry (2000) Tài sản thương hiệu chính là lợi thế của hoạt
động marketing cộng dồn vào doanh nghiệp từ việc kết hợp giữa nhận biết thương hiệu và ý nghĩa của thương hiệu đối với khách hàng
(i) Nhận biết thương hiệu; (ii) Ý nghĩa thương hiệu
(i) Nhận biết thương hiệu; (ii) Thái độ của người tiêu dùng đối với thương hiệu; (iii) Đạo đức doanh nghiệp
(i) Nhận biết thương hiệu; (ii) Liên tưởng thương hiệu; (iii) Thái độ; (iv) Sự gắn bó; (v) Hoạt động
(i) Lợi ích rõ ràng; (ii) Chất lượng cảm nhận; (iii) Tính độc đáo; (iv) Sự đồng cảm; (v) Lòng tin của khách hàng
(Nguồn: tổng hợp của tác giả)
Trang 40Bảng 2.2 Bảng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm của các nhà khoa học trong và ngoài
nước về tài sản thương hiệu dưới góc độ người tiêu dùng
thành phần tài sản thương hiệu, và tác động của các
thành phần này đến tài sản thương hiệu tổng thể
thông qua khảo sát người tiêu dùng trực tiếp sản
phẩm giầy thể thao, ti vi màu, phim chụp hình tại
thị trường Mỹ
(i) Nhận biết thương hiệu/Liên tưởng thương hiệu; (ii) Chất lượng cảm nhận; (iii) Trung thành thương hiệu
thương hiệu và ý định sử dụng thương hiệu thông
qua khảo sát người tiêu dùng tại thị trường Mỹ
(i) Chất lượng cảm nhận; (ii) Sự khác biệt của sản phẩm; (iii) Giá
phần tài sản thương hiệu thông qua khảo sát người
tiêu dùng sản phẩm máy giặt và các sản phẩm gia
đình tại thị trường Tây Ban Nha
(i) Nhận biết thương hiệu; (ii) Liên tưởng thương hiệu; (iii) Chất lượng cảm nhận; (iv) Trung thành thương hiệu
đến tài sản thương hiệu tổng thể thông qua khảo sát
người tiêu dùng nước giải khát tại thị trường Thổ
Nhĩ Kỳ
(i) Nhận biết thương hiệu; (ii) Liên tưởng thương hiệu; (iii) Chất lượng cảm nhận; (iv) Trung thành thương hiệu
về môi trường Tregear và
Gorton
(2005)
Phương pháp tổng hợp và phân tích để phân tích sự cần thiết phải đăng ký chỉ dẫn địa lý cho
các sản phẩm nông nghiệp: nghiên cứu về thương
hiệu rượu địa phương
(i) Nhận biết thương hiệu; (ii) Liên tưởng thương hiệu