1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng

135 556 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng

Trang 1

MỤC LỤC

Ký hiệu viết tắt iii

Mục Lục iii

Mở Đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu: 3

4 Đối tượng nghiên cứu: 3

5 Các nhiệm vụ nghiên cứu: 3

6 Giả thuyết khoa học: 4

7 Phạm vi nghiên cứu: 4

8 Phương pháp nghiên cứu: 4

9 Cấu trúc của luận văn: 5

Chương 1: Cơ sơ lý luận về quản lý hoạt động dạy - tư học 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề tự học 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 ở Việt Nam 8

1.2 Cơ sở lý thuyết hoạt động dạy - tự học 9

1.2.1 Hoạt động dạy-học 9

1.2.2 Hoạt động dạy - tự học 11

1.2.2.1 Khái niệm tự học 11

1.2.2.2 Hoạt động dạy - tự học: 13

1.2.3 Hoạt động dạy - tự học ngoại ngữ 17

1.2.4 Vị trí vai trò tự học của sinh viên trong quá trình đào tạo ở trường đại học 18

1.3 Quản lý hoạt động tự học 20

1.3.1 Khái niệm quản lý, chức năng quản lý 20

1.3.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 25

1.3.3 Quản lý quá trình dạy-học và quản lý quá trình dạy-tự học: 26

1.3.4 Quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên 27

Trang 2

1.3.5 Nội dung, biện pháp quản lý HĐTH ngoại ngữ của sinh viên 29

1.3.6 Cơ sở pháp lý của quản lý hoạt động tự học 32

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Y tế Công cộng 34

2.1 Đặc điểm hoạt động đào tạo ở trường Đại học Y tế Công cộng 34

2.1.1 Khái quát về trường Đại học Y tế Công cộng 34

2.1.2 Đặc điểm đối tượng đào tạo của trường Đại học Y tế Công cộng 36

2.1.3 Mục tiêu đào tạo của trường Đại học Y tế Công cộng 38

2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý của trường Đại học Y tế Công cộng 39

2.2 Thực trạng dạy - học ngoại ngữ ở trường ĐHYTCC 42

2.2.1 Tình hình chung 42

2.2.2 Thực trạng dạy - học tiếng Anh cho sinh viên cử nhân YTCC 44

2.3 Thực trạng dạy-tự học ngoại ngữ và công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC 46

2.3.1 Thực trạng dạy-tự học ngoại ngữ cho sinh viên cử nhân YTCC 46

2.3.2 Thực trạng quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC 47

2 4 Nhận xét, đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC 68

2.4.1 Những điểm mạnh trong công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC 68

2.4.2 Những điểm hạn chế trong công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC 69

2.4.3 Nguyên nhân của thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC 69

2.4.4 Những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên ở trường ĐHYTCC 71

Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường đại học y tế công cộng .73

3.1 Định hướng chung cho việc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân trường ĐHYTCC 73

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân YTCC hệ chính quy trường ĐHYTCC 74

3.2.1 Nhóm biện pháp thứ nhất: Nâng cao nhận thức về vai trò và kỹ năng tự học ngoại ngữ trong học tập, và công tác thuộc lĩnh vực YTCC 74

Trang 3

3.2.2 Nhóm biện pháp thứ hai: Xây dựng động cơ tự học ngoại ngữ cho sinh viên cử

nhân YTCC nhà trường 76

3.2.3 Nhóm biện pháp thứ ba: Xây dựng và hoàn chỉnh nội quy, quy định hoạt động tự học và tự học ngoại ngữ cho sinh viên: 77

3.2.4 Nhóm biện pháp thứ tư: Hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tự học ngoại ngữ cho sinh viên 78

3.2.5 Nhóm biện pháp thứ năm: Tăng cường tổ chức thực hiện dạy- tự học ngoại ngữ cho sinh viên cử nhân YTCC 79

3.2.6 Nhóm biện pháp thứ sáu: Đảm bảo cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên 82

3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp 8 0 Kết luận và khuyến nghị .88

1 Kết luận 8 8 2 Khuyến nghị 89

Tài liệu tham khảo .92

Phụ Lục .96

Phụ Lục 1: Các mẫu điều tra 96

Phụ Lục 2: Các bảng kết quả điều tra 107

Bảng 1: Kết quả khảo sát ý kiến CBQL về thực trạng quản lý tự học ngoại ngữ: 107

Bảng 2: Kết quả khảo sát ý kiến giảng viên về thực trạng quản lý tự học ngoại ngữ 109

Bảng 3: Kết quả khảo sát ý kiến sinh viên về thực trạng quản lý tự học ngoại ngữ 112 Phụ Lục 3: Mục tiêu cụ thể của Chương trình cử nhân YTCC 115

Bảng chương trình đào tạo cử nhân Y Tế Công Cộng 116

Chương trình tổng quát đào tạo cử nhân y tế công cộng 117

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang cùng nhân loại bước vào nhữmg năm đầu của thế kỷ XXI, thế kỷ với đặc trưng là sự phát triển của nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn cầu, thế kỷ của sự bùng nổ thông tin và khoa học công nghệ Nền kinh tế tri thức đòi hỏi con người phải có nhiều kiến thức, kỹ năng mới và một thái độ tích cực

để làm chủ cuộc sống Với sự bùng nổ của thông tin và khoa học công nghệ, kiến thức của nhân loại ngày càng tăng nhanh Kiến thức con người được học ở nhà trường luôn có nguy cơ bị lạc hậu, và hơn thế nữa thời gian học ở nhà trường là

có hạn, không thể đủ để học tất cả kiến thức ngày càng gia tăng của nhân loại

Để giải quyết mâu thuẫn trên, theo giáo sư Phan Trọng Luận thì chỉ có cách tự học Theo ông, tự học là con đường khắc phục nghịch lý: Học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có giới hạn

Việt Nam mới bước vào sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hóa, nghĩa

là phải thực hiện hai cuộc cách mạng cùng một lúc để từ nền văn minh nông nghiệp tiến lên văn minh công nghiệp rồi tiến thẳng luôn đến nền văn minh trí tuệ Rõ ràng dân tộc ta đang phải giải quyết một bài toán cực kỳ khó là làm sao trong một thời gian lịch sử độ 20 năm sẽ phải thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu, sánh vai với các cường quốc năm châu Theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, một trong những cách để giải bài toán này là tự học

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước đặt ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục - đào tạo là phải đào tạo ra con người có sức khoẻ, có đạo đức,

có tri thức và trình độ chuyên môn sâu, có năng lực học tập thường xuyên và học tập suốt đời, năng động, tự chủ, sáng tạo để thực hiện tốt công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

Nghị quyết Trung Ương 4, khoá VII chỉ rõ một nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục - đào tạo là phải “khuyến khích tự học” Nghị quyết Trung ương

2 khoá VIII tiếp tục khẳng định “đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học , đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh nhất là sinh viên sau đại học, phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên ”

Văn kiện Đại hội Đảng IX cũng nhấn mạnh: “tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học,

tự hoàn thiện học vấn và tay nghề” Tinh thần của nghị quyết Đảng về tự học được thể chế hoá trong luật giáo dục Điều 4 khoản 2 luật Giáo dục nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1998 có ghi: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”

Tự học đã trở thành vấn đề cấp thiết đối với giáo dục và đào tạo nước ta Hoạt động tự học có ý nghĩa quyết định biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo

Y tế công cộng là vấn đề toàn cầu và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân của Đảng và nhà nước ta Trường ĐHYTCC, với trách nhiệm đào tạo ra các cán bộ YTCC cho Đảng và nhà nước, luôn quan tâm đến chất lượng đào tạo, đặc biệt chất lượng đào tạo cử nhân YTCC Tiếng Anh là ngôn ngữ của YTCC Học tốt tiếng Anh, có trình độ tiếng Anh tốt không những sẽ giúp sinh viên tự học, tự nghiên cứu chuyên môn YTCC tốt mà còn giúp cho họ công tác tốt khi ra trường nhất là trong thời kỳ hội nhập hiện nay Tuy nhiên với thời gian học ngoại ngữ trên lớp có hạn theo

Trang 7

chương trình quy định của Bộ Giáo dục - Đào tạo, thì chỉ có tự học ngoại ngữ mới giúp sinh viên có đủ trình độ để học tập tốt các môn chuyên môn khác Trường ĐHYTCC rất quan tâm đến việc học ngoại ngữ (tiếng Anh) của sinh viên cử nhân YTCC Việc phát triển năng lực tự học ngoại ngữ, quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ do vậy đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường

Xuất phát từ những lý do nêu trên, người nghiên cứu chọn đề tài:

“Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng” với mong muốn xây dựng được các biện pháp khả thi

và hiệu quả trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn nhằm nâng câo chất lượng quá trình đào tạo cử nhân YTCC của nhà trường

2 Mục đích nghiên cứu:

- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ (tiếng Anh) của sinh viên ở trường Đại học Y tế Công cộng nhằm nâng cao chất lượng quá trình đào tạo cử nhân y tế công cộng của nhà trường

3 Khách thể nghiên cứu:

- Quá trình quản lý sinh viên trong trường Đại học Y tế Công cộng

4 Đối tƣợng nghiên cứu:

- Biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học

Y tế Công cộng

5 Các nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên

Trang 8

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên ở trường Đại học Y tế Công cộng

- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng quá trình đào tạo của trường Đại học Y tế Công cộng

6 Giả thuyết khoa học:

- Nếu đề xuất và áp dụng được một hệ biện pháp có tính hiện thực và khả thi quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên ở trường Đại học Y tế Công

cộng sẽ nâng cao chất lượng quá trình đào tạo của nhà trường

7 Phạm vi nghiên cứu:

- Địa bàn nghiên cứu: Thực hiện tại trường Đại học Y tế Công cộng

- Phạm vi nghiên cứu: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân trường Đại học Y tế Công cộng

- Phạm vi thời gian: từ năm 2002 đến nay

8 Phương pháp nghiên cứu:

- Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Bao gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống những vấn đề lý luận có liên quan đến nhiệm vụ nghiên

cứu của đề tài qua hệ thống sách, báo, và tài liệu tham khảo

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng các phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn, tọa đàm đối với sinh viên, giảng viên, cán bộ quản lý để thu thập thông tin về thực trạng tự học ngoại ngữ của sinh viên và

thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ

Trang 9

- Phân tích sử lý số liệu: dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý những

số liệu thu được từ khảo sát thực trạng hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh

viên và công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ

- Các phương pháp bổ trợ khác: trò chuyện, trao đổi, phỏng vấn, quan sát sinh viên, giảng viên, các cán bộ khác của nhà trường để tìm hiểu nhận thức, thái

độ của họ về hoạt động tự học ngoại ngữ và công tác quản lý hoạt động tự

học ngoại ngữ ở nhà trường

- Phương pháp hỏi ý kiến các chuyên gia

9 Cấu trúc của luận văn:

- Ngoài phần mở đầu (5 trang), phần kết luận (4 trang), luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy - tự học; ( 26 trang) Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường

Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên

Cuối luận văn là danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) rất quan tâm đến việc kính thích

sự suy nghĩ, sáng tạo của học trò Cách dạy của ông là gợi mở để học trò tìm ra chân lý Theo ông, thày giáo chỉ tìm ra cho học trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác học trò phải từ đó mà tìm ra, người thầy giáo không được làm thay hết cho học trò Ông đã từng nói vói học trò của mình rằng: “Không giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bầy vẽ cho Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc, mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa” [12, 55]

Socrate (469-390 trước công nguyên) đã từng nêu khẩu hiệu “Anh hãy tự biết lấy anh” qua đó ông muốn học trò phát hiện ra „chân lý‟ bằng cách đặt câu hỏi để dần dần tìm ra kết luận [12, 55]

J.A Comenxki (1592 - 1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, người đặt nền móng cho sự ra đời của nhà trường hiện nay, nhà giáo dục lỗi lạc của Slovakia và nhân loại cũng đã nêu ra các nguyên tắc, phương pháp giảng dạy trong tác phẩm “Phép giảng dạy vĩ đại” nhằm phát huy tính tích cực chủ động

Trang 11

của học sinh và ông cương quyết phản đối lối dạy học áp đặt giáo điều làm cho học sinh có thói quen không tự giác trong học tập [8]

Thế kỷ XVIII-XIX, nhiều nhà giáo dục nổi tiếng như J.J Rousseau 1778); Pestalogie (1746-1827); Distecvec (1790-1866); Usinxki (1824-1873) đều có chung quan điểm cần hướng cho học sinh tự nắm bắt kiến thức bằng cách

(1712-tự tìm tòi và sáng tạo

Những năm gần đây, trên cơ sở kế thừa có phê phán các tư tưởng của các tác giả đi trước, các nước phương Tây nổi lên cuộc cách mạng để tìm phương pháp giáo dục mới dựa trên tiếp cận “lấy người học làm trung tâm” để phát huy năng lực nội sinh của con người Đại diện cho tư tưởng này John Dewey (1859-1952), ông phát biểu “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” Một loạt các phương pháp dạy học theo tư tưởng quan điểm này

đã được đưa vào thực nghiệm: “Phương pháp tích cực”, “phương pháp hợp tác”,

“phương pháp cá thể hoá” Nói chung đây là các phương pháp mà người học không chỉ lĩnh hội kiến thức bằng nghe thầy giảng, học thuộc mà còn từ HĐTH,

tự tìm tòi lĩnh hội tri thức Giáo viên là người trọng tài, đạo diễn thiết kế tổ chức giúp cho học sinh biết cách làm, cách học

T Makiguchi, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật bản, trong những năm 30 của thể kỷ XX đã cho rằng “Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào trong tay mỗi học sinh Giáo dục xét như là quá trình hướng dẫn học sinh tự học” [19]

Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế kỷ XXI, những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương” đã đưa ra quan điểm về quá trình “Nhận biết dạy - học” và ông chủ trương rằng người học phải là người tham gia tích cực vào quá trình “Nhận biết dạy - học”

Trang 12

Như vậy vấn đề tự học của học sinh - sinh viên đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử giáo dục và nó vẫn còn là vấn đề nóng bỏng cho các nhà nghiên cứu giáo dục hiện tại và tương lai bởi vì tự học có vai trò rất quan trọng, quyết định mọi sự thành công trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chất lượng của mọi quá trình giáo dục đào tạo

Trong khoa học, đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về vấn đề tự học như: “Quá trình dạy - tự học” của giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Giáo sư Vũ Văn Tảo; “Luận Bàn và kinh nghiệm về tự học: của Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn,

“Tự học - chìa khoá vàng của Giáo dục” của Giáo sư Phan Trọng Luận, và nhiều công trình nghiên cứu về tự học của các Giáo sư, các nhà giáo dục học như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức, Thái Duy Tuyên và rất nhiều luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục trong những năm gần đây đề cập đến nhiều khiá cạnh về hoạt động tự học và các biện pháp quản lý, tổ chức hoạt động tự học với mục đích nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo

Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tự học như đã khái quát ở trên, song hoạt động tự học, đặc biệt là hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử

Trang 13

nhân trường Đại học Y tế công cộng vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ, chưa có một công trình nào nghiên cứu Vì vậy trong luận văn này, tác giả tập trung vào việc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân trường Đại học Y tế công cộng để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tự học và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đội ngũ cán bộ y tế công cộng của nhà trường

1.2 Cơ sở lý thuyết hoạt động dạy - tự học

1.2.1 Hoạt động dạy-học

Dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình học sinh chiếm lĩnh khái niệm khoa học, trong và bằng cách đó, phát triển và hình thành nhân cách Dạy có hai chức năng thường xuyên tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau (“chức năng kép”), đó là truyền đạt thông tin và điều khiển hoạt động học tập

Học là một hoạt động với đối tượng, trong đó học sinh là chủ thể, khái niệm khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh Học là quá trình tự giác tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên

Dạy và học có những mục đích cụ thể khác nhau Nếu học nhằm vào việc chiếm lĩnh khái niệm, thì dạy lại có mục đích là điều khiển sự học tập

Quá trình dạy - học là một hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố cơ bản: khái niệm khoa học, dạy, và học Khái niệm khoa học là nột dung của bài học và

là đối tượng của sự lĩnh hội bởi học sinh, nó là một trong hai yếu tố khách quan quyết định lô gích của bản thân quá trình dạy-học về mặt khoa học

Hoạt động dạy gồm hai chức năng truyền đạt và điều khiển, luôn luôn

Trang 14

khái niệm và lô gích sư phạm của tâm lý học lĩnh hội Hoạt động học là yếu tố khách quan thứ hai quy định lô gích của quá trình dạy học về mặt lý luận dạy học; nghĩa là độ trí dục và quy luật lĩnh hội và tự điều khiển

Cấu trúc của quá trình dạy - học có thể diễn tả trực quan bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1: Cấu trúc của quá trình dạy học

Quá trình dạy- học là một hệ thống toàn vẹn, các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng:

- Giữa dạy với học;

- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy; và

- Giữa lĩnh hội và với tự điều khiển trong học

Khái niệm Khoa học

Trang 15

có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi

cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi vv ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành của mình” [32, 59]

Theo Giáo sư Vũ Văn Tảo: “Sự học dù dưới dạng nào, tại trường lớp hoặc ngoài trường lớp, có người thầy hướng dẫn hoặc không có thầy, có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật, của công nghệ thông tin hoặc chưa, đều phải là sự tự học Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh mình” [32, 55]

Tự học là nội lực của người học, nhân tố quyết định sự phát triển bản thân người học Có tự học mới phát triển được tư duy độc lập, từ chỗ có tư duy độc lập mới có tư duy phê phán, có khả năng phát hiện vấn đề và nhờ đó mới có tư duy sáng tạo Tự học là quá trình tích cực, tự giác chiếm lĩnh tri thức, hình thành

kỹ năng, kỹ xảo của chính bản thân người học Nhờ có tự học, người học mới

Trang 16

thực sự nắm vững tri thức, làm chủ tri thức và vận dụng những tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống

Hoạt động tự học diễn ra dưới ba hình thức chính sau:

- Hình thức thứ nhất: Có sách, tài liệu người học tự tìm kiếm tri thức để thoả mãn nhu cầu nâng cao, mở rộng hiểu biết của riêng mình, bổ sung, mở rộng kiến thức ngoài chương trình đào tạo của nhà trường Đây là tự học ở mức độ cao

- Hình thức thứ hai: Có sách, tài liệu và có thêm những ông thầy ở xa hướng dẫn tự học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin viễn thông khác Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến thức Đó là tự học có hướng dẫn

- Hình thức thứ ba: Có sách và có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, trong tuần Tự học diễn ra dưới sự điều khiển, chỉ đạo hướng dẫn trực tiếp của thầy

và các phương tiện kỹ thuật trên lớp Đây là học giáp mặt trên lớp và về nhà

tự học có hướng dẫn

Tự học có thể tóm tắt lại như sau: Trò học, cốt lõi là tự học, học cách học, cách tư duy Thầy dạy cốt lõi là dạy cách học, cách tư duy Tác động dạy của thày là ngoại lực đối với sự phát triển của người học Theo quy luật phát triển của sự vật, ngoại lực dù quan trọng đến đâu, lợi hại đến mấy cũng chỉ là nhân tố

hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện Nội lực mới là nhân tố quyết định phát triển bản thân sự vật Sự vật phát triển đó đạt trình độ cao khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng được với nhau

Hoạt động tự học có thể tiến hành ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người, bằng mọi cách và qua nội dung nói như Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là thực hiện “năm mọi” trong học tập Trong đề tài này, do mục đích và phạm vi nghiên cứu, tác

Trang 17

giả chỉ đề cập đến hoạt động tự học của sinh viên dưới sự điều khiển trực tiếp hoặc gián tiếp của thầy

1.2.2.2 Hoạt động dạy - tự học:

Nghiên cứu hoạt động dạy - tự học, người ta thường đề cập đến chu trình dạy - tự học, một hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố cơ bản: thày (dạy), trò (tự học) và tri thức Ba thành tố cơ bản này luôn luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau theo những quy luật riêng nhằm kết hợp chu trình tự học làm cho dạy và tự học cộng hưởng với nhau tạo ra chất lượng, hiệu quả cao

Chu trình dạy - tự học bao gồm chu trình tự học của trò dưới tác động của chu trình dạy của thầy nhằm biến tri thức kho tàng văn hoá khoa học nhân loại thành học vấn riêng của bản thân người học

Chu trình tự học của trò là một chu trình ba thời:

Thời một: H1 - Tự nghiên cứu

Thời hai: H2 - Tự thể hiện

Thời ba: H3 - Tự kiểm tra, tự điều chỉnh

H 1

H 2

H 3

TỰ HỌC

Trang 18

Sơ đồ 2: Chu trình tự học

* Chu trình dạy của thầy nhằm tác động hợp lý, phù hợp và cộng hưởng với chu trình tự học của trò, cũng là chu trình ba thời tương ứng với chu trình tự học ba thời của trò:

Thời một: D1 - Hướng dẫn Thời hai: D2 - Tổ chức Thời ba: D3 - Trọng tài, cố vấn, kết luận và kiểm tra

Trang 19

Sơ đồ 3: Chu trình dạy

D3: Trọng tài, cố vấn, H3: Tự kiểm tra,

kết luận và kiểm tra tự điều chỉnh

* Tri thức qua ba thời:

Theo tam giác sư phạm: thầy - trò - tri thức, tính chất của tri thức người học chiếm lĩnh được qua từng thời kỳ như sau:

Thời một KT1: Tri thức mang tính cá nhân

Thời hai KT2: Tri thức mang tính chất xã hội (xã hội lớp học)

Thời ba KT3: Tri thức khách quan khoa học

Trang 20

Sơ đồ 4: Chu trình dạy - tự học

Hình tròn bên trong tượng trưng cho nội lực - năng lực tự học, trên đường tròn đó là các cực “trò” của tam giác sư phạm cùng với ba thời của chu trình tự học: tự nghiên cứu => tự thể hiện => tự kiểm tra, tự điều chỉnh (H1, H2, H3)

Đường tròn bên ngoài tượng trưng cho ngoại lực - tác động dạy của thầy, trên đường tròn đó là các cực „thầy‟ của tam giác sư phạm cùng với ba thời của chu trình dạy: Hướng dẫn => tổ chức => trọng tài, cố vấn, kết luận kiểm tra (D1,

D2, D3)

Đường tròn ngoài cùng tượng trưng cho tri thức người học cần chiếm lĩnh, trên đường tròn đó là các cực „tri thức‟ của tam giác sư phạm cùng với ba tính chất của tri thức ứng với ba thời của chu trình tự học: cá nhân => xã hội => khoa học (Kt1, Kt2, Kt3)

Trang 21

Các mũi tên => trong sơ đồ ở vào từng thời đều xuất phát từ cực „thầy‟: sáng kiến điều hành chung cả chu trình dạy- tự học đều thuộc về thầy Thầy là người khởi xướng, người dẫn chương trình tự học của trò

1.2.3 Hoạt động dạy - tự học ngoại ngữ

Hoạt động dạy - tự học ngoại ngữ cũng như hoạt động dạy - tự học các môn học nói chung, đều liên quan đến chu trình dạy - tự học gồm ba thời với ba thành tố cơ bản thày (dạy), trò (tự học) và tri thức như đã trình bầy ở phần 1.2.2

Tuy nhiên với đặc thù của môn học ngoại ngữ, cũng có những khác biệt ở các thành tố ở các thời của chu kỳ dạy - tự học ngoại ngữ, đặc biệt là thành tố tri thức Đối với môn học ngoại ngữ, tri thức không chỉ là kiến thức về ngôn ngữ, văn hoá của thứ tiếng đó mà còn phải được hiểu là các kỹ năng ngôn ngữ người học phải đạt được để sử dụng như một công cụ giao tiếp Trong việc học ngoại ngữ, người ta thường đề cập đến bốn kỹ năng ngôn ngữ là: Nghe - Nói - Đọc - Viết cùng với kiến thức về ngữ âm - từ vựng - ngữ pháp và kiến thức về văn hoá, lịch sử của đất nước có thứ tiếng đó

Chu trình dạy - tự học ngoại ngữ gồm ba thời sau:

Thời một: Giảng viên hướng dẫn cho sinh viên về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và các bài tập luyện các kỹ năng nghe - nói - đọc - viết Sinh viên tự nghiên cứu, luyện tập, tự giải quyết các bài tập luyện các kỹ năng

Thời hai: Giảng viên tổ chức tạo môi trường cho sinh viên tự thể hiện mình trong các buổi tranh luận, trình bầy, đóng vai, trao đổi sinh viên - sinh viên; sinh viên - giảng viên, sinh hoạt trong nhóm, theo cặp, sử dụng ngoại ngữ đang học với bốn kỹ năng nghe - nói - đọc - viết để giao tiếp Giảng viên là người chỉ đạo và dẫn chương trình

Trang 22

Thời ba: Giảng viên là trọng tài, cố vấn kết luận về các cuộc tranh luận, uốn nắn, sửa sai cho sinh viên về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp cũng như chữa các bài luyện tập về các kỹ năng nghe - nói - đọc - viết

Cuối cùng giảng viên là người kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của sinh viên trên cơ sở sinh viên tự đánh giá, tự điều chỉnh bản thân

1.2.4 Vị trí vai trò tự học của sinh viên trong quá trình đào tạo ở trường đại học

HĐTH luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình học tập và phát triển của mỗi người Bàn về vai trò của tự học nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã phát biểu: “Tự học tự đào tạo là con đường phát triển suốt cuộc đời mỗi con người trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau, đó cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành tự giáo dục Quy mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào „toàn dân tự học‟ Trích thư gửi Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo 6/01/1998)” [23]

Tự học, tự đào tạo là mục đích của quá trình giáo dục - đào tạo, là phương thức tạo ra chất lượng thực sự, lâu bền của quá trình giáo dục đào tạo Tự học là cốt lõi của việc học, khi có học là có tự học, không ai có thể học thay người khác được Khi nói đến học, hàm ý nói đến mối quan hệ giữa nội lực của người học và ngoại lực của người dạy, còn khi nói đến tự học thì chỉ xét riêng đến nội lực của người học

Chúng ta đã bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ của thời đại thông tin và nền kinh tế tri thức Với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công

Trang 23

nghệ, tri thức mà nhà trường cung cấp luôn luôn ở trạng thái “lạc hậu” Trong bối cảnh của sự thay đổi thường xuyên như vậy, nếu người học chỉ hoàn toàn lệ thuộc vào nhà trường, không tự mình cập nhật tri thức thì sẽ bị tụt hậu, không theo kịp được cuộc sống hiện đại Điều này hoàn toàn đúng với sinh viên đại học Như chúng ta đã biết, người tốt nghiệp đại học ngày nay phải có ba năng lực, đó là khả năng thường xuyên cập nhật kiến thức của mình; chiếm lĩnh được những trình độ thành thạo chuyên môn mới hay còn gọi là năng lực thích ứng với việc làm và năng lực sáng nghiệp tự tìm, tự tạo việc làm Với những đòi hỏi như thế, trong khoảng thời gian học tập có hạn 4 hoặc 5 năm học ở trường đại học, nếu sinh viên không tự học, mày mò nghiên cứu, tự đào sâu suy nghĩ ngoài kiến thức của nhà trường cung cấp thì khi ra trường họ không thể nào đáp ứng được yêu cầu của xã hội

Tự học sẽ giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghề nghiệp trong tương lai Chính quá trình tự học giúp sinh viên hiểu sâu bài, mở rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ vững chắc tri thức, biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập mới Tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ở nhà trường mà còn giúp sinh viên có được hứng thú, thói quen và phương pháp tự học để thường xuyên làm phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình Giúp họ tránh được sự lạc hậu, tụt hậu trước sự „bùng nổ thông tin‟ khoa học kỹ thuật trong thời đại hiện nay

Như đã trình bầy ở trên, tự học là cốt lõi của việc học, tự học là phải tự lực cánh sinh, không ai có thể học hộ người khác được “Không ai có thể đưa một kiến thức từ ngoài vào đầu óc người học nếu người đó không tích cực học tập

Sự lĩnh hội kiến thức luôn luôn là kết quả của quá trình hoạt động nhận thức riêng của từng học sinh - sinh viên, mặc dù hoạt động này được giảng viên chỉ

Trang 24

đạo, hướng dẫn” (Kỷ yếu hội thảo khoa học ngành Tâm lý - Đại Học Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội)

Tóm lại, tự học, tự đào tạo ngày càng có vai trò quan trọng đối với giáo dục nói chung và nhu cầu nắm vững tri thức của mỗi cá nhân nói riêng Việc tìm

ra các biện pháp hữu hiệu để tổ chức có hiệu quả hoạt động tự học cho người học nói chung và sinh viên các trường đại học nói riêng là hết sức cần thiết và mang

ý nghĩa thiết thực đối với lợi ích trước mắt và lâu dài, nó không chỉ giúp sinh viên rèn luyện và nâng cao khả năng độc lập, sáng tạo trong học tập, trong cuộc sống mà còn góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục nước nhà, làm cho nước ta rút ngắn khoảng cách, vươn lên ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới

1.3 Quản lý hoạt động tự học

1.3.1 Khái niệm quản lý, chức năng quản lý

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, mọi hoạt động của đời sống

xã hội đều cần tới quản lý Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển hệ thống xã hội ở tầm vi mô và vĩ mô Có tập thể, tổ chức là có quản

lý Quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung K Marx đã nói đến sự cần thiết của quản lý: “Bất kỳ lao động nào có tính xã hội và chung, trực tiếp được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần đến sự quản lý một người chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [26, 21]

Vậy quản lý là gì? Có rất nhiều định nghĩa về quản lý:

Trang 25

- Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [6]

- Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm nhiệm vụ và các mục tiêu đã định [19]

- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng bị quản lý) về các mặt chính trị văn hoá xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ta môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [19]

- Quản lý là việc đảm bảo sự hoạt động của hệ thống trong điều kiện có

sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống tới trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới [6]

Nghiên cứu các định nghĩa trên chúng ta có thể thấy mặc dù các tác giả

có các quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất:

- Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây trồng và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý

áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý

- Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một

Trang 26

tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra

- Như vậy quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội Chủ thể quản lý và khách thể quản lý luôn luôn có quan hệ tác động qua lại và chịu tác động của môi trường Con người là yếu tố trung tâm của hoạt động quản lý vì thế quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật Người quản lý phải nhạy cảm, linh hoạt, sáng tạo và mềm dẻo

 Các chức năng quản lý:

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các chức năng quản lý như quan điểm của Henri Fayol; quan điểm của V.G Afanaxiep, v.v song hoạt động quản lý có bốn chức năng cơ bản sau:

- Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức;

- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này

Trang 27

- Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên

Tổ chức là quá trình hình thành nên các cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ thực hiện chức năng tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực và nhân lực

Theo Ernest Dale, chức năng tổ chức gồm năm bước:

- Bước một: Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu của tổ chức

- Bước hai: Phân chia toàn bộ công việc thành những nhiệm vụ để các thành viên hay các bộ phận (nhóm) trong tổ chức thực hiện một cách thuận lợi và hợp lô gích Đây gọi là bước phân công lao động

- Bước ba: Kết hợp các nhiệm vụ một cách lô gích và hiệu quả Đây là bước phân chia bộ phận

- Bước bốn: Thiết lập một cơ chế điều phối Sự liên kết hoạt động của các các nhân, các nhóm, các bộ phận một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện

để đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách dễ dàng và hiệu quả hơn

- Bước năm: Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cấu trúc tổ chức và tiến hành những điều chỉnh cần thiết

Chỉ đạo hay lãnh đạo bao gồm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được các mục tiêu của

tổ chức Chỉ đạo tập trung vào các ưu tiên sau:

Trang 28

- Nhận thức lãnh hội quan điểm, xây dựng tầm nhìn, lý tưởng.sứ mệnh của hệ thống

- Làm sáng tỏ được thực trạng vận động của hệ thống, phân tích các mâu thuẫn trong quá trình phát triển, phát hiện ra nhân tố mới

- Tổng kết được quy luật, xu thế phát triển của hệ thống

- Đề xuất các phương án chiến lược phát triển hệ thống

Kiểm tra là chức năng cuối cùng trong bốn chức năng cơ bản của quản lý Kiểm tra đề cập đến các phương pháp và cơ chế được sử dụng để đảm bảo rằng các hành vi, hoạt động và thành tựu phải tuân thủ, phù hợp với mục tiêu, kế hoạch và chuẩn mực của tổ chức Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Quản

lý mà không kiểm tra thì coi như không quản lý”

Theo Rorbert J Mockler, kiểm tra có bốn bước:

- Bước một: Xác định tiêu chuẩn (chuẩn mực) và phương pháp đo lường thành tựu Các tiêu chuẩn thành tựu phải đủ tường minh để các thành viên liên quan lĩnh hội được một cách dễ dàng, thống nhất Phương pháp đo lường chuẩn mực phải đảm bảo so sánh chính xác và công bằng giữa thành tựu với chuẩn mực đặt ra

- Bước hai: Đo lường thành tựu, là một quá trình lặp đi lặp lại và diễn biến liên tục, với tần suất thực hiện phụ thuộc vào các dạng hoạt động

Trang 29

Các nhà quản lý có thể điều chỉnh các sai lệch bằng cách thay đổi các hoạt động của các cá nhân thành viên hay các nhiệm vụ hoạt động của một bộ phận trong tổ chức, hoặc là sửa đổi lại các chuẩn mực thành tựu nếu thấy chúng không thể thực hiện được

Tóm lại bốn chức năng quản lý này có quan hệ hữu cơ, biện chứng với nhau Cả bốn chức năng trên đều được triển khai khi tiến hành hoạt động quản

lý Bất cứ người quản lý nào cũng phải làm công việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

1.3.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

- Quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức, được định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố của các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục một cách có hiệu quả [19]

Nói chung quản lý giáo dục là quá trình vận dụng những nguyên lý, phương pháp, khái niệm của khoa học quản lý vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, một ngành chuyên biệt, đó là ngành giáo dục

 Quản lý nhà trường

Trang 30

Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm

vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục

để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [19]

Quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt; các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi nhà trường Đó là một

hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra đối với ngành giáo dục trong từng giai đoạn phát triển của đất nước Quản lý nhà trường gồm:

- Quản lý chương trình dạy-học và giáo dục của nhà trường;

- Quản lý học sinh (quản lý các hoạt động của học sinh);

- Quản lý giáo viên, phát triển nghề nghiệp của người thày;

- Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, thư viện của nhà trường, đảm bảo cho nhà trường hoạt động để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra

1.3.3 Quản lý quá trình dạy-học và quản lý quá trình dạy-tự học:

 Quản lý quá trình dạy-học

Quản lý quá trình dạy-học là một trong những nội dung chính của quản lý nhà trường Quản lý quá trình dạy-học là quản lý việc chấp hành những quy định, quy chế về hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh, sinh viên nhằm đảm bảo cho các hoạt động đó được thực hiện một cách nghiêm túc, tự giác có chất lượng, hiệu quả

Quản lý quá trình dạy-học gồm:

- Quản lý hoạt động dạy-học trên lớp

Trang 31

- Quản lý hoạt động tự học ngoài giờ học trên lớp

 Quản lý quá trình dạy- tự học

Quản lý quá trình dạy- tự học là một trong những nội dung chính của quản

lý nhà trường theo xu thế phát triển hiện nay Đó là quản lý việc chấp hành những quy định, quy chế về hoạt động giảng dạy của giảng viên và hoạt động học tập của sinh viên theo chu trình dạy - tự học ba thời nhằm đảm bảo cho các hoạt động ở các thời đó được thực hiện một cách tốt nhất, nâng cao chất lượng dạy-học

Quản lý quá trình dạy - tự học cũng thực hiện bốn chức năng cơ bản của quản lý nói chung Chức năng kế hoạch hoá trong quản lý quá trình dạy - tự học

là việc xây dựng các kế hoạch về thời gian, nội dung, phương pháp dạy - tự học

và các điều kiện vật chất cần thiết, phù hợp cho chu trình dạy - tự học ba thời

Chức năng tổ chức là việc vạch ra các nhiệm vụ, phân công nhiệm vụ, và

cơ chế để thực hiện được các kế hoạch đã được xây dựng cho chu trình dạy - tự học nói trên

Chỉ đạo và kiểm tra đóng vai trò rất quan trọng, đó là công việc uốn nắn, chỉnh sửa làm sao cho các hoạt động trong ba thời của chu trình dạy - tự học đạt được kết quả như mong đợi

1.3.4 Quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên

 Quản lý hoạt động tự học

Thông thường mọi người nghĩ rằng tự học thì cần gì phải quản lý nhưng thực tế cho thấy bất cứ hoạt động nào dù tự lực tốt nhưng khi có thêm cộng hưởng bên ngoài (tác động ngoại lực) thì kết quả sẽ tốt hơn rất nhiều Chủ Tịch

Trang 32

Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Cách học tập lấy tự học làm cốt Có thảo luận và chỉ đạo giúp vào” [22, 18]

Chỉ đạo ở đây chính là một trong những chức năng của hoạt động quản lý Vậy tự học cũng phải có quản lý Như đã đề cập ở trên, tự học là hoạt động chính của bản thân sinh viên, được tiến hành ngoài giờ lên lớp có hoặc không có sự hướng dẫn của thầy nhằm nắm vững, mở rộng tri thức, nó mang tính độc lập cao

và mang đậm sắc thái cá nhân Tuy kết quả tự học phụ thuộc vào yếu tố tự giác, tích cực và phương pháp của sinh viên, nhưng nó cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi những yếu tố bên ngoài Vậy muốn cho hoạt động tự học của sinh viên đạt kết quả tốt thì không thể coi nhẹ vai trò của quản lý

Quản lý hoạt động tự học của sinh viên là một trong những nội dung cơ bản của quản lý nhà trường, quản lý quá trình dạy - học, quản lý quá trình dạy -

tự học ở các trường đại học Đó là công tác nhằm cho hoạt động tự học của sinh viên đạt kết quả tốt hơn

 Quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên

Ngoại ngữ là một môn học trong chương trình giảng dạy ở trường đại học Việt Nam Sinh viên các trường đại học đều phải học một ngoại ngữ (không tính các trường chuyên ngữ) hiện tại hầu hết các trường đều dạy tiếng Anh Ngoại ngữ đóng vai trò rất quan trọng trong thời kỳ hội nhập hiện nay Sinh viên phải đọc được các tài liệu tham khảo chuyên môn bằng ngoại ngữ Theo quy định của

Bộ Giáo dục - Đào tạo, sinh viên các trường không chuyên ngữ học 15 đơn vị học trình ngoại ngữ, tương đương 225 tiết học Với thời lượng như vậy đòi hỏi sinh viên phải tự học rất nhiều để sử dụng ngoại ngữ được học như một công cụ giao tiếp và để đọc được các tài liệu tham khảo chuyên môn bằng tiếng nước ngoài Muốn đạt được kết quả như trên công tác quản lý quá trình tự học ngoại

Trang 33

ngữ của sinh viên phải được quan tâm và thực hiện tốt Ngoài giờ học trên lớp, sinh viên có thể tự học ngoại ngữ ở nhiều nơi khác như giảng đường, phòng tự học, thư viện, phòng ở tại khu ký túc xá (đối với sinh viên nội trú) hoặc ở nhà hay nhà trọ (đối với sinh viên ngoại trú) Địa điểm tự học ngoại ngữ của sinh viên đa dạng dẫn tới công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên gặp nhiều khó khăn Để hạn chế những khó khăn này, cần tạo ra những cơ chế mới, thích hợp để khuyến khích sinh viên tự học ngoại ngữ ví dụ như đào tạo theo tín chỉ

1.3.5 Nội dung, biện pháp quản lý HĐTH ngoại ngữ của sinh viên

Với ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao kết quả học tập môn ngoại ngữ, quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên có những nội dung sau:

 Xây dựng động cơ tự học cho sinh viên

Bất cứ một hoạt động nào của con người cũng đều có mục đích, có động

cơ Động cơ là nhân tố thúc đẩy, định hướng và duy trì hoạt động tự học nói chung và hoạt động tự học ngoại ngữ nói riêng của sinh viên Theo thuyết “nhu cầu” về động cơ của A Maslow, các nhu cầu được xếp từ thấp tới cao gồm: nhu cầu cơ bản - sinh học; nhu cầu về sự an toàn, nhu cầu về sự được thừa nhận, nhu cầu về sự được thừa nhận, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện Động

cơ tự học của sinh viên cũng có nhiều thứ bậc khác nhau: bắt đầu từ nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ học tập, tự khẳng định mình, cơ hội có việc làm và công danh sự nghiệp, nhu cầu học để biết, để khẳng định, để thể hiện mình

Động cơ là tiền đề, là điều kiện cho hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên Việc xây dựng động cơ tích cực tự học cho sinh viên là nội dung cơ bản, rất quan trọng của công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên

Trang 34

 Quản lý kế hoạch tự học của sinh viên Quản lý kế họach tự học của sinh viên là việc lập các kế hoạch tự học và thực hiện các kế hoạch đó

Các kế hoạch tự học sẽ bao gồm việc phân chia thời gian cho các nội dung

tự học; các phương pháp tự học, nó cũng giúp cho cán bộ quản lý kiểm soát được quá trình tự học của sinh viên một cách thuận lợi, và có kết quả tốt

 Quản lý nội dung tự học của sinh viên

Quản lý nội dung tự học ngoại ngữ nhằm hướng nội dung tự học phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của môn học Giảng viên cần phải hướng dẫn nội dung tự học cho sinh viên theo các tiêu chí sau:

- Hệ thống kiến thức về ngoại ngữ gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp đòi hỏi sinh viên phải nắm được

- Mức độ, trình độ, các kỹ năng ngôn ngữ nghe-nói-đọc-viết sinh viên phải đạt được, sử dụng được ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp

- Định hướng, giới thiệu các tài liệu chuyên môn sinh viên phải đọc hiểu được bằng ngoại ngữ

 Quản lý phương pháp tự học

Quản lý phương pháp tự học ngoại ngữ của sinh viên bắt đầu từ việc xác định mục đích, động cơ của học ngoại ngữ đến việc lựa chọn cách học, biện pháp phù hợp Học ngoại ngữ với mục đích sử dụng ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp thì phương pháp tự học phải là thực hành giao tiếp Phương pháp này đòi hỏi sinh viên phải tự học theo cặp hoặc theo nhóm để thực hành, luyện tập các kỹ năng giao tiếp

 Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học của sinh viên

Trang 35

Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập có ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả học tập của sinh viên Để tăng cường hiệu quả tự học thì phải đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất như phòng tự học, thư viện, tài liệu sách giáo khoa và các trang thiết bị cho sinh viên tự học ngoại ngữ như đài các xét, đầu video, băng hình, đầu đĩa hình, các chương trình dạy ngoại ngữ

 Quản lý các điều kiện phục vụ, dịch vụ khác tuy không phải là nội dung trực tiếp của quản lý hoạt động tự học nhưng nó cũng có ảnh hưởng đến hoạt động tự học của sinh viên, điều này đòi hỏi cán bộ quản lý phải quan tâm đến

 Kiểm tra đánh giá kết quả tự học của sinh viên là công việc của giảng viên Muốn cho sinh viên tự học có kết quả tốt, giảng viên phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá Phải đưa nội dung tự học của sinh viên vào các bài kiểm tra, đánh giá Điều này sẽ giúp giảng viên nhận xét được quá trình tự học của sinh viên Kết quả kiểm tra đánh giá, sẽ giúp sinh viên tự điều chỉnh hoạt động tự học của mình Kiểm tra đánh giá sẽ giúp sinh viên hệ thống hoá kiến thức, xác định được trình độ của mình và sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập

Đề cập đến quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên, chúng ta phải nói đến các biện pháp quản lý Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên bao gồm:

- Việc xây dựng động cơ tự học cho sinh viên

- Nâng cao nhận thức của sinh viên cũng như giảng viên về tầm quan trọng của tự học và tự học ngoại ngữ trong quá trình đào tạo

- Xây dựng nội quy, quy định về hoạt động tự học của sinh viên

- Xây dựng kế hoạch tự học cho sinh viên, và các điều kiện đảm bảo thực hiện kế hoạch

Trang 36

- Thực hiện phương pháp dạy - tự học

- Tổ chức, kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học

1.3.6 Cơ sở pháp lý của quản lý hoạt động tự học

Vấn đề tự học được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm Nó được đề cập đến ở nhiều nghị quyết trung ương Đảng từ khoá VII đến nay Nghị quyết Trung ương 2 khoá XIII đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nền nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn nhân dân, nhất là trong thanh niên”

Tinh thần của nghị quyết cũng đã được thể chế hoá trong Luật Giáo Dục: tại điều 4, khoản 2, “yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục” đã nêu rõ

“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”; tại điều 36, khoản 1, điểm b quy định phương pháp giáo dục đại học cũng đã nêu “Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, ứng dụng”

Nhằm quán triệt và triển khai nhiệm vụ quan trọng này, Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo đã ra chỉ thị 15/1999/CT, trong đó đã nêu: “Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập Đối với học sinh, sinh viên: có ý thức và xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu giáo trình tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành,

Trang 37

phát huy tính tích cực, sáng tạo biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.”

Điều 15, khoản 5 Điều lệ trường đại học ban hành theo quyết định số 153/2003/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 7 năm 2003 của Thủ tướng chính phủ có ghi nhiệm vụ của các trường đại học: “ Xây dựng hệ thống giáo trình, tài liệu, trang thiết bị dạy - học đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện về nội dung, phương pháp dạy học, năng lực tự học, tự nghiên cứu của người học”

Điều 5, khoản 6 quy chế công tác học sinh, sinh viên nội trú trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề 1997 có nêu trách nhiệm của Hiệu trưởng: “Chỉ đạo và kiểm tra việc tổ chức ăn, ở, tự học, sinh hoạt cho học sinh, sinh viên nội trú ”

Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các văn bản dưới luật kể trên là cơ sở để các trường đại học xây dựng nội quy, quy chế của trường mình làm cơ sở pháp lý cho công tác quản lý hoạt động tự học ở mỗi trường

Trang 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ

CÔNG CỘNG

2.1 Đặc điểm hoạt động đào tạo ở trường Đại học Y tế Công cộng

2.1.1 Khái quát về trường Đại học Y tế Công cộng

Sự phát triển của ngành y tế công cộng (YTCC) tại Việt Nam gắn liền với

sự ra đời của trường Đại Học Y tế Công Cộng (ĐHYTCC) mà tiền thân là trường cán bộ y tế trung ương, được thành lập năm 1956 tại số nhà 138 Giảng

võ, Hà Nội, là sự kết hợp của hai trường Y sĩ Việt Nam (được thành lập năm 1948) và trường dược sĩ Việt Nam (được thành lập năm 1952) Trong giai đoạn đầu, từ 1956 đến 1975, trường Cán Bộ Y tế Trung ương đã cung cấp cho đất nước một số lượng cán bộ y tế qua đào tạo bổ túc Cũng trong thời gian này, với

sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế như Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) v.v , nhiều chương trình sức khỏe cộng đồng đã được thiết lập như: Chương trình tiêm chủng mở rộng, phòng chống tiêu chảy, phòng chống suy dinh dưỡng, dân số và kế hoạch hoá gia đình v.v Những hoạt động đa dạng như vậy dần dần đòi hỏi ngành y tế phải có đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý được đào tạo chính quy Đồng thời, do yêu cầu đổi mới, cập nhật và nâng cao kiến thức cho phù hợp với sự phát triển của thế giới, ngày 01 tháng 10 năm

1976, Thủ Tướng chính phủ đã đổi tên trường thành trường Cán Bộ Quản lý Y tế (CBQLYT) Từ đó cho đến cuối những năm 1980, những chương trình đào tạo chuyên khoa cấp I về Y tế công cộng đã giúp cho một số lượng cán bộ ngành y

tế có điều kiện tiếp cận với chương trình đào tạo về y xã hội học

Trang 39

Năm 1979, nhà trường đã đăng ký chính thức với Tổ Chức Y tế Thế giới (WHO) với tên gọi bằng tiếng Anh là Ha Noi School of Public Health

Năm 1990, khoa YTCC đầu tiên được thành lập với sự tham gia của trường cán bộ quản lý y tế, bộ môn vệ sinh dịch tễ trường Đại học Y Hà nội và trung tâm nhân lực y tế (nay là Viện Chiến lược và Chính Sách Y tế)

Năm 1996, Tổ chức Rockerfeller Foundation vào Việt Nam tiến hành khảo sát để đặt nền móng mới cho việc hình thành và phát triển một cách đề cập mới trong đào tạo YTCC - gắn đào tạo hàn lâm với các hoạt động phục vụ thực

tế Hơn một năm sau, chương trình đào tạo cao học YTCC đầu tiên đã được tiến hành tại trường CBQLYT (tháng 9 năm 1997) Từ đó đến nay nhà trường đã tiến hành rất nhiều việc từ phát triển một chương trình đào tạo y tế công cộng gắn với thực tế của Việt Nam, phát triển cán bộ, nâng cao khả năng nghiên cứu và phát triển cơ sở vật chất mở rộng hợp tác trong và ngoài nước v.v

Sự phát triển không ngừng của trường CBQLYT nhằm thoả mãn những đòi hỏi mới của YTCC tại Việt Nam đã khiến Bộ Y tế và chính phủ thấy được tiềm năng phát triển của trường và quyết định thành lập Trường Đại học Y tế công cộng đầu tiên của Việt Nam vào ngày 26 tháng 4 năm 2001 Từ đây, một trang mới của trường nói riêng và của ngành YTCC Việt Nam nói chung đã được mở ra, hướng tới việc đào tạo một đội ngũ những người thực hiện chức năng YTCC một cách chính quy và chất lượng

Hơn 4 năm thực hiện nhiệm vụ mới, đào tạo đại học, trường ĐHYTCC vừa tập trung phát triển đào tạo cử nhân y tế công cộng, vừa duy trì các hình thức đào tạo cũ như đào tạo thạc sĩ y tế công cộng, và đào tạo ngắn hạn cho cán bộ Bộ

Y tế, đồng thời nhà trường cũng tập trung xây dựng chương trình đào tạo Tiến sĩ

Y tế công cộng và Cử nhân y tế công cộng hệ tại chức

Trang 40

Nhà trường đã và đang phát triển đúng hướng, tạo lập niềm tin với Bộ Y tế

và xã hội Số lượng sinh viên cử nhân y tế công cộng ngày càng tăng Năm học 2002-2003 nhà trường tuyển 90 sinh viên cử nhân YTCC khoá đầu tiên, năm học 2005-2006, khoá thứ tư, chỉ tiêu tuyển sinh cử nhân YTCC đã là 150 sinh viên

Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, với các mốc lịch sử 1948: Trường Y sĩ Việt Nam; năm 1952: Trường dược sĩ Việt Nam, 1956: Trường cán

bộ Y tế Trung ương, 1976: Trường Cán bộ Quản Lý Y tế và năm 2001: Trường Đại Học Y tế Công Cộng, nhà trường đã có những bước tiến dài về cả quy mô và chất lượng Nhà trường đã làm tròn các nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ y tế được Đảng và nhà nước giao phó phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn trong từng giai đoạn lịch sử Nhà trường đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ y tế phục vụ công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Nhà trường đã được Đảng và nhà nước ghi nhận thành tích to lớn của mình qua huân chương Lao động hạng Nhì năm 1996

Với trọng trách, nhiệm vụ mới trường ĐHYTCC đã và đang nỗ lực phấn đấu xây dựng nhà trường “trở thành một đại học hàng đầu trong giảng dạy, nghiên cứu và tư vấn trong lĩnh vực y tế công cộng ở Việt Nam và khu vực” [17]

2.1.2 Đặc điểm đối tượng đào tạo của trường Đại học Y tế Công cộng

Trường ĐHYTCC đã và đang thực hiện nhiều loại hình đào tạo phục vụ cho công tác đào tạo cán bộ y tế nói chung và y tế công cộng nói riêng Các loại hình đào tạo đang thực hiện tại nhà trường bao gồm:

Ngày đăng: 28/03/2017, 22:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
23. Đỗ Mười (1998), Thư của đồng chí Đỗ Mười gửi hội thảo khoa học: “Nghiên cứu phát triển tự học - tự đào tạo ngày 6/1/1998” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển tự học - tự đào tạo ngày 6/1/1998
Tác giả: Đỗ Mười
Năm: 1998
1. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng (2004) Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp. NXB Chính trị quốc gia Khác
2. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2004) Bài giảng quản lý giáo dục, quản lý nhà trường dành cho lớp cao học QLGD Khác
3. Lê Khánh Bằng (2003) Phát huy nội lực của người học, một phương hướng cơ bản đổi mới phương pháp dạy học ở đại học, Tạp chí dạy và học ngày nay số 4/2-2003 Khác
4. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996), Bài giảng cơ sở khoa học quản lý dành cho lớp cao học quản lý giáo dục Khác
5. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2001), Bài giảng những quan điểm giáo dục hiện đại dành cho lớp cao học QLGD Khác
6. Nguyễn Quốc Chí (2003), Bài giảng những cơ sở lý luận quản lý giáo dục dành cho lớp cao học quản lý giáo dục Khác
7. Nguyễn Đức Chính - Lâm Quang Thiệp (2004), Bài giảng đo lường - đánh giá kết quả học tập của học sinh, sinh viên - dành cho lớp cao học QLDG Khác
8. Phạm Khắc Chương (1997), Jan Amos Komenxki, ông tổ của nền sư phạm cận đại. NXB giáo dục Khác
10. Andrian Doff (1988) Teach English - A training course for teachers. Cambridge University Press & The Bristish Council Khác
11. Vũ Cao Đàm (2003), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB khoa học và kỹ thuật Khác
12. Đỗ Ngọc Đạt (1997), Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
13. Giáo dục đại học (2000) Đại học Quốc gia Hà Nội - Truờng cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo Khác
14. Đặng Xuân Hải (2004), Tập bài giảng quản lý về nhà nước về giáo dục dành cho lớp cao học QLGD Khác
15. Đặng Xuân Hải (2004), Tập bài giảng quản lý sự thay đổi trong giáo dục dành cho lớp cao học QLGD Khác
16. Kỷ yếu hội thảo khoa học chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên (2004) Khoa sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
16. Đặng Bá Lãm (2003) Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI - Chiến lược phát triển - NXB Giáo dục Khác
17. Đặng Bá Lãm ( chủ biên) (2005) Quản lý nhà nước về giáo dục lý luận và thực tiễn_NXB chính trị quốc gia Khác
18. Phan Trọng Luận (1998), Tự học - một chìa khoá vàng về giáo dục, Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 2 Khác
19. Nguyễn Ngọc Lan (2003), Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường kết quả tự học cho sinh viên hệ chính quy trường đại học Công Đoàn, Luận văn thạc sỹ QLGD khoa sư phạm. Đại học quốc gia Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w