1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần tại thành phố hồ chí minh

174 277 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam : Theo Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính 24-5-1990 : " Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận ti

Trang 1

TRẦN THỊ VIỆT THU

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2001

Trang 2

MỞ ĐẦU

1- Tính cấp thiết của đề tài :

Trong quá trình cùng cả nước tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều biện pháp xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, từng bước hình thành cơ chế quản lý mới nhằm huy động mọi thành phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh Nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước từng bước phát triển, khơi dậy các tiềm năng và năng lực phục vụ sản xuất, kinh doanh, tăng trưởng qua các năm

Trong những năm gần đây, hoạt động của ngân hàng đã tác động trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế thị trường Cùng với việc xuất hiện của nhiều loại hình ngân hàng khác nhau, hoạt động của ngân hàng trở nên sôi nổi, phong phú Chính vì vậy, ngoài việc điều chỉnh các nghiệp vụ ngân hàng cho phù hợp với môi trường mới – một môi trường mà trong đó từng ngân hàng thương mại phải tìm cách để đạt mục tiêu tạo vốn cho xã hội và lợi nhuận cho chính mình Nhằm thích ứng với một môi trường kinh tế năng động và phức tạp, một hoàn cảnh pháp lý đang thay đổi cùng với một tốc độ phát triển nhanh chóng về kỹ thuật, nghiệp vụ, một mức độ gay gắt hơn về cạnh tranh, cùng những xu hướng đáng quan tâm về công nghệ ngân hàng Tất cả những yếu tố đó kết hợp lại với nhau tạo ra nhu cầu phải quan tâm đặc biệt đến các hoạt động của ngân hàng

Riêng ở nước ta, so với sự hình thành và phát triển của các Ngân hàng thương mại nói chung, thì Ngân hàng thương mại cổ phần vẫn là một loại hình hình thành và phát triển chậm hơn cả

Trang 3

Ngân hàng thương mại cổ phần là mô hình mới trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt nam Hiện nay hệ thống này vừa vận hành, vừa rút kinh nghiệm tự điều chỉnh và khẳng định lại mình Để đạt được kết quả như mong đợi, hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần phải thực sự vững mạnh trong hoạt động của mình – nhất là trong giai đoạn hiện nay Các Ngân hàng thương mại cổ phần trong thời gian qua đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế, song hoạt động của các Ngân hàng thương mại cũng chứa đựng nhiều rủi ro, bộc lộ nhiều yếu kém trong nghiệp vụ và quản lý dẫn đến nhiều thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế và cho chính các Ngân hàng thương mại cổ phần

Qua thực tiễn công tác, do nhận thức được tầm quan trọng và nhu cầu bức xúc của hoạt động ngân hàng trong giai đoạn hiện nay và cần thiết phải hoàn thiện hơn nữa để nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần nên tôi đã chọn nội dung “Những biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài cho luận văn bảo vệ học vị Tiến sĩ kinh tế của mình

2- Mục đích nghiên cứu của luận án :

Mục đích của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó rút ra các bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp thiết thực để từng bước xây dựng các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam ngày càng lớn, mạnh, góp phần xứng đáng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước

3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án :

Sự phát triển và khủng hoảng của các định chế tài chính thường chịu tác động từ 03 phía : - Các biến đổi của tình hình kinh tế, tài chính quốc gia và quốc tế ; các thay đổi của sự điều hành vĩ mô ; việc quản lý vi mô của đơn vị – Do

Trang 4

vấn đề quá rộng, quá lớn nên luận án chỉ trình bày giới hạn và tập trung vào một số vấn đề nổi bật nhất liên quan đến các hoạt động mang tính lý luận cũng như thực tiễn của hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh Đối tượng của luận án bao gồm :

- Những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần

- Hoạt động thực tiễn của Ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

- Khảo cứu những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại cổ phần

4- Phương pháp nghiên cứu :

Bằng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác, cụ thể như phương pháp khảo cứu thực tế, phương pháp so sánh, phân tích, thống kê, phương pháp kinh nghiệm, luận án đã nêu lên một số vấn đề về hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất một số biện pháp để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh

5- Kết cấu của Luận án :

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dụng của luận án bao gồm 03 chương :

Chương 1 : Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường

Chương 2 : Thực trạng hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 : Một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 5

CHƯƠNG 1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Kinh tế thị trường đã xuất hiện như một yêu cầu khách quan của nền kinh tế hàng hóa Kinh tế thị trường bao giờ cũng gắn liền với kinh tế hàng hóa mặc dù kinh tế thị trường không đồng nhất với kinh tế hàng hóa Kinh tế thị trường là giai đoạn cao của kinh tế hàng hóa

Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm được sản xuất ra hầu như đều đem trao đổi, mua bán trên thị trường Hàng hóa được làm ra chỉ khi nào thực hiện được việc mua, trao đổi trên thị trường, mới được coi là đã được xã hội thừa nhận

Tiền tệ cũng là một loại hàng hóa và K.Mark đã chứng minh : Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt độc quyền giữ vai trò làm vật ngang giá chung, để phục vụ cho quá trình lưu thông hàng hóa : " Một khi người ta đã hiểu rằng nguồn gốc của tiền tệ là ở ngay hàng hóa, thì người ta đã khắc phục các khó khăn chính trong sự phân tích tiền tệ "

Tiền tệ xuất hiện để phục vụ cho quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa ngày càng phát triển Nhưng tiền tệ cũng tạo ra những vấn đề riêng của nó, những nghịch lý mới trong quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường : Tiền tệ thiết lập một không gian thống nhất - đó là thị trường - nhưng lại tạo ra những bất bình đẳng, những đẳng cấp kinh tế ; tiền tệ là biểu hiện quyền lực Nhà nước, nhưng đôi lúc cũng làm xói mòn quyền lực Nhà nước Sự xuất hiện của tiền tệ đã làm cho việc sản xuất và lưu thông hàng hóa ngày càng phát triển, đến lượt nó sản xuất, lưu thông hàng hóa đòi hỏi một sự cung ứng tiền tệ ngày càng nhiều

Trang 6

hơn Sự lưu thông hàng hóa quyết định sự lưu thông tiền tệ Nhưng sự lưu thông tiền tệ lại là một tiền đề quan trọng cho lưu thông hàng hóa

Quá trình tác động qua lại giữa lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ đã hình thành nên hai lĩnh vực kinh doanh quan trọng : Kinh doanh hàng hóa và kinh doanh tiền tệ Kinh doanh tiền tệ phục vụ cho kinh doanh hàng hóa và kinh doanh hàng hóa là cơ sở của kinh doanh tiền tệ

Kinh doanh tiền tệ ra đời với những “ doanh nghiệp ” đặc thù đó là các Ngân hàng - các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ

Sự xuất hiện của Ngân hàng được đánh giá như là một phát minh vĩ đại của loài người, nó tạo ra những phương tiện để đo lường giá trị của hàng hóa, để lưu thông hàng hóa, để thanh toán các món nợ và cất giữ những giá trị của hàng hóa mà không cần phải cất giữ hàng hóa như trước đây

Không những thế, Ngân hàng còn có một vị trí rất quan trọng là tạo ra những phương thức để lưu thông tiền tệ được dễ dàng nhất, nhanh chóng nhất, an toàn nhất, nó tập trung vào tay mình phần lớn tiền tệ trong nền kinh tế để có thể cấp cho các chủ thể nền kinh tế những khoản tín dụng từ nhỏ đến lớn nhằm bảo đảm rằng khi hàng hóa cần lưu thông thì lập tức nó sẽ có đầy đủ các phương tiện để lưu thông mà không phải chờ đợi quá trình tích lũy tiền tệ

Vậy Ngân hàng thương mại là gì ? Chức năng của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường là gì ?

1.1 Ngân hàng thương mại - Chức năng của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường

Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng giống như một doanh nghiệp thương mại, đều hướng đến mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận Ngân hàng thương mại tìm kiếm lợi nhuận bằng cách đi vay và cho

Trang 7

vay lại So với các doanh nghiệp thương mại dịch vụ khác thì hàng hóa của Ngân hàng thương mại là một loại hàng hóa đặc biệt, đó là tiền Giá cả của hàng hóa này biểu hiện ra bên ngoài là các mức lãi suất huy động hoặc lãi suất cho vay, chịu tác động bởi quan hệ cung - cầu vốn trên thị trường và trên cơ sở khoản lợi nhuận đạt được khi đưa vốn vay vào sản xuất kinh doanh Vì vậy, lợi nhuận chủ yếu của hoạt động ngân hàng sẽ là khoản chênh lệch giữa chi phí trả lãi huy động với thu nhập từ lãi cho vay Để có hàng hóa kinh doanh, ngân hàng phải tạo ra được tiền, cũng như đa dạng các hình thức huy động vốn để có vốn cho vay Đồng thời, ngân hàng cũng đa dạng hóa các hình thức cho vay nhằm phân tán giảm thiểu rủi ro Với vị thế kinh doanh, Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ trung gian hưởng hoa hồng Ngày nay, hệ thống Ngân hàng thương mại phát triển mạnh mẽ, nó tham gia sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội Sự đa dạng và phong phú các nghiệp vụ kinh doanh đã làm cho Ngân hàng thương mại trở thành một tổ chức kinh doanh không thể thiếu trong tiến trình phát triển kinh tế

Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất, nó hoạt động mang tính tổng hợp, các định chế tài chính khác hoạt động trong một lĩnh vực hẹp hơn Ngoài ra, Ngân hàng thương mại còn là thành viên chủ yếu tham gia vào hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn Với chức năng quan trọng của Ngân hàng thương mại, Chính phủ các nước rất quan tâm đến hoạt động kinh doanh ngân hàng Nhà nước phải ban hành Luật Ngân hàng để tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức kinh tế hành nghề ngân hàng hoạt động, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng và hướng hoạt động ngân hàng cho phù hợp với lợi ích chung của quốc gia

1.1.1- Khái niệm về Ngân hàng thương mại :

Một số khái niệm về Ngân hàng thương mại của một số nước trên thế giới

Trang 8

và của Việt nam được trình bày dưới đây tuy có khác nhau về cách diễn đạt, song hầu như tất cả đều có một điểm chung về các chức năng khi đề cập đến khái niệm Ngân hàng thương mại

Ở Pháp : Ngân hàng là doanh nghiệp mà nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hay dưới hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính

Ở Mỹ : Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính

Ở Ấn Độ : Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư

Ở Việt Nam : Theo Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính ( 24-5-1990 ) : " Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán " [ 48 ]

- Theo Điều 20 khoản 2 và 7 Luật các Tổ chức tín dụng đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa X kỳ họp thứ hai thông qua

ngày 12 tháng 12 năm 1997 định nghĩa Ngân hàng thương mại như sau : " Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán " [ 50 ]

Tóm lại, từ những định nghĩa trên và nhận thức của bản thân cho phép kết luận : Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ,

Trang 9

trong đó có hai nghiệp vụ cơ bản :

- Nhận tiền gửi của khách hàng - nghĩa là các Ngân hàng thương mại sẽ nhận những khoản ký thác của các doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức dưới các hình thức ngắn, trung, dài hạn và không kỳ hạn

- Sử dụng các khoản ký thác đó để cho vay, chiết khấu đối với các cá nhân, doanh nghiệp trong nền kinh tế và làm phương tiện thanh toán cho các khách hàng của Ngân hàng thương mại

Tùy theo nguồn hình thành vốn chủ sở hữu mà có các loại hình Ngân hàng thương mại như sau : Ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng thương mại liên doanh, … Tuy vậy, do bản chất đều là ngân hàng thương mại, cho nên chúng cùng có những chức năng sau đây :

1.1.2 Các chức năng của Ngân hàng thương mại :

Trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng thương mại thực hiện các chức năng sau đây :

1.1.2.1 Chức năng thủ quỹ xã hội :

Ngân hàng thương mại khi mới xuất hiện chủ yếu là nhận tiền ký thác của cá nhân và tổ chức với mục đích là đảm bảo sự an toàn, tránh được sự mất mát,

hư hỏng, trộm cắp Các khoản tài chính của cá nhân và tổ chức được đem gửi vào các ngân hàng, Ngân hàng thu một khoản phí do việc giữ hộ tiền Khi cần, họ sẽ đến ngân hàng xin rút ra để chi tiêu

Ngày nay nghiệp vụ giữ hộ tiền này đã biến thành nghiệp vụ nhận tiền gửi thanh toán của khách hàng và nghiệp vụ giữ hộ các tài sản tài chính khác như : trái phiếu, cổ phiếu, các giấy tờ có giá khác, các tài sản quý như vàng, đá quý, bằng cấp, chứng từ quan trọng như là những dịch vụ mà nó có thể giúp ngân hàng tạo ra những khoản thu rất quan trọng và ít rủi ro

Việc giữ hộ tiền cho xã hội ngày nay còn được chuyển qua việc nhận các

Trang 10

khoản ký thác có kỳ hạn dài hoặc ngắn Người có các khoản thặng dư tài chính có thể gửi vào các ngân hàng với cam kết là đến một kỳ hạn nhất định họ mới rút ra Ngân hàng có thể sử dụng số tiền đó để cho vay sinh lợi Vì vậy để khuyến khích việc gửi tiền có kỳ hạn vào ngân hàng, các ngân hàng đã trả cho người gửi một khoản lãi tùy theo số tiền gửi có kỳ hạn dài hay ngắn

Nếu các ngân hàng thực hiện đúng cam kết và luôn luôn đảm bảo sự chi trả kịp thời, đầy đủ cho khách hàng thì sẽ được xã hội tin tưởng và ký thác phần lớn thu nhập bằng tiền vào các ngân hàng dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn hoặc tiền gửi có kỳ hạn và qua đó sử dụng các tiện ích của ngân hàng trong dịch vụ thanh toán

Chức năng thủ quỹ xã hội của Ngân hàng thương mại còn phát triển ra bằng việc ngân hàng sẵn lòng thu hộ các khoản tài chính của khách hàng và đưa vào các tài khoản cho khách hàng Điều này giúp khách hàng tiết kiệm được nhiều thời gian để đi thu các khoản nợ của mình

Có thể nói chức năng thủ quỹ xã hội là một chức năng rất quan trọng giúp các ngân hàng tạo ra nguồn vốn để có thể thực hiện các chức năng sau đó là chức năng tín dụng và thanh toán

1.1.2.2 Chức năng tín dụng :

Khi ngân hàng nắm trong tay nhiều khoản tài chính của xã hội thì vấn đề nảy sinh ra ngân hàng là nơi giữ nhiều tiền nhất Nhờ vào hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phát triển mà người rút tiền ra khỏi ngân hàng thì ít, người ký thác tiền vào ngân hàng ngày càng nhiều

Lợi dụng sự chênh lệch giữa thu tiền mặt vào thì nhiều, chi tiền ra thì ít nên các ngân hàng có thể sử dụng một phần tiền mặt để cho vay khách hàng cần tiền mà họ chưa có được các khoản thu Nói khác đi, ngân hàng thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng với cam kết của khách hàng là khách hàng sẽ hoàn trả

Trang 11

cho ngân hàng toàn bộ số vốn vay và một khoản tiền lãi kèm theo vào một thời hạn cụ thể

Điều này đã tạo cho ngân hàng có một vị trí quan trọng trên thị trường tài chính là có thể thỏa mãn yêu cầu của khách hàng về một khoản thanh toán nào đó mà khách hàng cần bất cứ lúc nào, nếu khách hàng tin tưởng rằng người vay có thể hoàn trả được nợ

Chính vì việc cấp tín dụng này mà ngân hàng được coi là người có thể tạo

ra tiền Vì khi ngân hàng cho một khách hàng vay tiền trên cơ sở số dư tiền gửi thanh toán của khách hàng, ngân hàng đã tạo ra trong lưu thông thêm một khoản tiền nữa

Chính nhờ vào tín dụng ngân hàng mà nhiều cá nhân, tổ chức chưa tập trung được các khoản tài chính của mình vẫn có thể chi tiêu, mở rộng sản xuất, làm cho hàng hóa ngày càng lưu thông nhanh chóng hơn

Tín dụng là một nghiệp vụ mà ngày nay đã trở thành nghiệp vụ được các Ngân hàng thương mại quan tâm nhất do nó mang lại cho Ngân hàng thương mại nhiều doanh thu hơn tất cả các nghiệp vụ khác

1.1.2.3 Chức năng thanh toán

Khi Ngân hàng thương mại trở thành người thủ quỹ của xã hội thì việc thanh toán giữa các thành viên xã hội có thể thực hiện bằng cách là ngân hàng sẽ đứng ra làm trung gian nhận sự ủy quyền của cả hai bên để thực hiện việc thanh toán đó một cách nhanh chóng và dễ dàng

Việc thanh toáùn đó có thể thực hiện bằng cách là ngân hàng thay mặt chủ tài khoản trích tiền ký thác của con nợ, chuyển vào tài khoản của chủ nợ, hoặc trích tiền ký thác của con nợ để giao cho chủ nợ bằng tiền mặt tùy theo ý muốn của chủ nợ Chức năng thanh toán của ngân hàng đã làm cho ngân hàng khác hẳn các định chế tài chính khác, vì chỉ có làm chức năng thanh toán và sử dụng

Trang 12

số dư tiền gửi thanh toán của khách hàng để tạo ra tín dụng mà ngân hàng là định chế tài chính duy nhất có khả năng tạo ra thêm phương tiện lưu thông trực tiếp cho nền kinh tế

Làm tốt chức năng thanh toán, ngân hàng sẽ được khách hàng tin tưởng và ủy quyền cho ngân hàng thực hiện hộ phần lớn các khoản thanh toán mà khách hàng phải thực hiện Nghiệp vụ thanh toán có một ý nghĩa kinh tế lớn trong nền kinh tế hiện nay, vì nó làm cho tiền tệ lưu thông nhanh chóng hơn lại tiết kiệm được ngân quỹ, an toàn vì không phải kiểm đếm, vận chuyển

1.1.3 Đặc điểm kinh doanh của Ngân hàng thương mại :

1.1.3.1 Kinh doanh ngân hàng luôn chứa đựng sự mất khả năng thanh toán, do vậy cần có sự kết gắn hệ thống để tương trợ lẫn nhau và sự giúp sức của Ngân hàng Trung ương

Do các Ngân hàng thương mại có thể tạo thêm tiền thông qua tín dụng, lấy tiền gửi thanh toán của khách hàng làm gốc, khi khách hàng gửi tiền thực hiện quyền của mình bằng cách rút tiền ra để chi tiêu hay chuyển khoản để trả nợ cho người khác sẽ làm cho ngân hàng không có đủ lượng tiền mặt để chi trả và dẫn đến mất khả năng thanh toán

Điều này là một đặc điểm quan trọng trong hoạt động ngân hàng, buộc các ngân hàng phải nhận sự giúp đỡ của ngân hàng bạn và Ngân hàng Trung ương khi ngân hàng gặp phải rủi ro

Chính điều đó mà các ngân hàng phải kết gắn lại với nhau trong một thị trường tiền tệ liên ngân hàng để kịp thời hỗ trợ cho nhau Nếu các ngân hàng không thể hỗ trợ đầy đủ thì Ngân hàng Trung ương sẽ giúp đỡ các ngân hàng về khoản tiền mặt còn thiếu

Ví dụ như ngân hàng nhận được một khoản tiền gửi thanh toán là 1 tỷ đồng, ngân hàng lập tức cho vay ra 500 triệu đồng Sau đó khách hàng đến yêu cầu

Trang 13

ngân hàng chuyển trả số tiền 1 tỷ đồng đó cho một khách hàng khác Lập tức ngân hàng sẽ thiếu đi một khoản tiền mặt 500 triệu đồng vì đã cho vay ra mà chưa thu hồi được

Chính vì điều này mà các Ngân hàng thương mại phải luôn luôn có một khoản dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo khả năng thanh toán của mình Đồng thời phải vay ngân hàng khác hoặc Ngân hàng Trung ương để đảm bảo dự trữ bắt buộc và khả năng thanh toán khi ngân hàng gặp khó khăn

1.1.3.2 Kinh doanh ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro do môi trường kinh tế mang lại

Khi cho vay ngân hàng chủ yếu dựa trên lòng tin rằng khách hàng có khả năng hoàn trả nợ và lãi Song sự cam kết đó không có gì đảm bảo rằng khách hàng luôn luôn trả được nợ và lãi Trong một nền kinh tế thị trường thì bất trắc luôn luôn xảy ra đâu đó - ở nhà kinh doanh này hoặc ở nhà kinh doanh khác Khi các nhà kinh doanh gặp rủi ro thì họ sẽ không thể trả nợ và lãi cho ngân hàng, vì vậy ngân hàng sẽ chịu sự rủi ro đó

Sự thay đổi lãi suất trên thị trường cũng làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro Khi lãi suất tăng lên, ngân hàng không thể thu được lãi suất cao ở các món tín dụng đã cho vay ra Do đó ngân hàng phải chịu sự thiệt hại, doanh thu thu về có thể sẽ không đủ để trả các chi phí đầu vào

Sự thay đổi quan hệ tỷ giá giữa các loại tiền tệ quốc gia khác nhau cũng sẽ làm cho hoạt động ngân hàng có nhiều rủi ro

Tiền tệ xuất hiện dưới hình thức là vàng hay được bảo đảm bằng vàng không còn tồn tại trong nền kinh tế hiện đại nữa, mà giá trị hay sức mua của một loại tiền tệ quốc gia nào đó hoàn toàn phụ thuộc vào giá trị hàng hóa, dịch vụ do nền kinh tế của quốc gia đó sản xuất ra trong mối quan hệ với khối lượng tiền tệ

Trang 14

do quốc gia đó phát hành vào lưu thông, và hơn nữa trong mối quan hệ cung cầu giữa tiền tệ của quốc gia đó với tiền tệ của một quốc gia khác

Một ngân hàng hiện đại không chỉ kinh doanh một loại tiền tệ của một quốc gia mà nó kinh doanh trên nhiều loại tiền tệ của nhiều quốc gia khác nhau

Do vậy, khi giá trị của một đơn vị tiền tệ của các quốc gia thay đổi sức mua sẽ mang đến những bất lợi hay có lợi cho một ngân hàng

Khi một ngân hàng nắm giữ một lượng tiền tệ của một quốc gia nào đó mà giá trị của nó bị suy giảm thì trong quan hệ bán lại lượng tiền tệ đó trên thị trường ngân hàng sẽ chịu một khoản thiệt hại Hay khi một ngân hàng cần mua một lượng tiền tệ của một quốc gia nào đó trên thị trường mà giá của loại tiền tệ đó đang tăng lên cũng mang đến cho ngân hàng một khoản thiệt hại Đó là rủi ro tỷ giá

Các biến động của môi trường tự nhiên như thiên tai, địch họa làm cho khách hàng của ngân hàng bị thiệt hại, cũng làm cho ngân hàng bị rủi ro

Các biến động về chính trị – kinh tế – xã hội nói chung đều có thể đưa đến hậu quả khó lường cho hoạt động ngân hàng

1.1.3.3 Kinh doanh ngân hàng luôn luôn chịu sự ràng buộc nghiêm ngặt của luật pháp

Lưu thông tiền tệ có thể dẫn đến những thuận lợi hay bất lợi cho sự lưu thông hàng hóa và phát triển kinh tế Vì vậy Nhà nước luôn đưa ra nhiều điều khoản của luật pháp để chi phối các hoạt động của ngân hàng nhằm bảo đảm hoạt động ngân hàng phải phục vụ cho hoạt động kinh tế, không được đặt lợi nhuận của ngân hàng lên trên lợi ích chung của nền kinh tế

Điều này sẽ dẫn đến nhiều sự khác biệt giữa kinh doanh ngân hàng với kinh doanh sản xuất hàng hóa, dịch vụ khác

Trước hết hoạt động của hệ thống ngân hàng phải bảo đảm sự ổn định về

Trang 15

giá trị của đơn vị tiền tệ quốc gia Mọi hành vi làm bất ổn giá trị đơn vị tiền tệ quốc gia sẽ bị ngăn cấm

Thứ hai là “giá cả” hay lãi suất trong kinh doanh ngân hàng không thể chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường một cách tự do hoàn toàn, mà luôn luôn có sự can thiệp của Nhà nước nhằm đưa ra một chính sách lãi suất tốt nhất cho nền kinh tế

Thứ ba là khối lượng tín dụng mà các ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế càng được giám sát thường xuyên của Nhà nước sao cho đảm bảo loại “hàng hóa” này không quá nhiều hay quá ít so với nhu cầu

1.2 Các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại :

Ngày nay, trong hệ thống ngân hàng trung gian thì Ngân hàng thương mại thực hiện đầy đủ nhất các nghiệp vụ ngân hàng, còn các định chế tài chính phi ngân hàng khác chỉ thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ ngân hàng Về cơ bản, Ngân hàng thương mại thực hiện ba loại nghiệp vụ chính : Nghiệp vụ tạo nguồn vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn và dịch vụ tài chính – ngân hàng khác

1.2.1 Nghiệp vụ tài sản nợ - Nghiệp vụ tạo nguồn vốn :

Nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn để ngân hàng hoạt động gọi là nghiệp vụ nợ

vì những khoản mục nguồn vốn do nghiệp vụ này tạo nên khi thể hiện trên bảng tổng kết tài sản của Ngân hàng thương mại sẽ nằm bên tài sản nợ Nguồn vốn kinh doanh của Ngân hàng thương mại bao gồm:

1.2.1.1 Nguồn vốn chủ sở hữu ( Vốn tự có ) :

1.2.1.1.1 Vốn pháp định - Vốn điều lệ :

- Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng do pháp luật quy định

- Vốn điều lệ là vốn do các cổ đông đóng góp hoặc chủ sở hữu cung cấp và được ghi vào điều lệ Nguồn vốn này phải bằng hoặc lớn hơn mức vốn pháp

Trang 16

định

Tùy theo loại hình ngân hàng mà nguồn hình thành vốn điều lệ do các chủ sở hữu đóng góp như sau :

+ Ngân hàng tư nhân : Vốn riêng của các nhà doanh nghiệp đầu tư

+ Ngân hàng cổ phần : Các cổ đông đóng góp vốn dưới hình thức mua cổ phiếu

+ Ngân hàng liên doanh : Vốn do đóng góp của bên ngân hàng nước sở tại và bên ngân hàng nước ngoài

+ Chi nhánh ngân hàng nước ngoài : Ngân hàng nước ngoài cấp vốn ( gọi là vốn được cấp )

+ Ngân hàng quốc doanh : Vốn do ngân sách Nhà nước cấp

Đối với ngân hàng, vốn điều lệ ( được ghi trong điều lệ và giấy phép hoạt động ) là cơ sở pháp lý để thành lập và hoạt động ; đồng thời làm cơ sở đảm bảo tối thiểu cho quá trình kinh doanh, thể hiện trách nhiệm vật chất của ngân hàng đối với các hoạt động của nó

Mức vốn điều lệ và sự tăng trưởng của nó thể hiện năng lực và thế phát triển của mỗi Ngân hàng thương mại

1.2.1.1.2- Các quỹ dự trữ của ngân hàng : Được coi là nguồn vốn tự có

và được bổ sung hằng năm từ lợi nhuận ròng của ngân hàng Theo khoản 1 Điều

87 Luật các Tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, khóa X kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 quy định về việc trích lập các quỹ từ lợi nhuận, các Ngân hàng thương mại phải tiến hành trích lập các quỹ :

- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ

- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro

- Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng

Trang 17

- Quỹ phúc lợi, khen thưởng

Tỷ lệ các quỹ này được trích lập theo quy định của Chính phủ, của Ngân hàng Nhà nước và quyết định của đại hội cổ đông

Vốn tự có và các quỹ chỉ chiếm một phần nhỏ so với tổng vốn hoạt động của ngân hàng (khoảng 1/20 – 1/10) Vốn tự có là điều kiện pháp lý căn bản, đồng thời là yếu tố tài chính quan trọng nhất trong việc đảm bảo các khoản nợ đối với khách hàng Chính vì vậy, quy mô của vốn tự có là yếu tố quyết định quy mô huy động vốn, quy mô các nghiệp vụ thuộc tài sản có và năng lực cạnh tranh của ngân hàng

1.2.1.2- Nguồn vốn tiền gửi của khách hàng (Vốn huy động) :

Đây là nguồn vốn hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, chiếm tỷ trọng cao nhất trong nguồn vốn Dựa vào yếu tố thời gian và tính chất của những khoản tiền gửi, tiền gửi của khách hàng có hai loại : Tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi kỳ hạn

1.2.1.2.1- Tiền gửi không kỳ hạn :

Là tiền gửi chờ thanh toán mà người gửi tiền có thể rút ra hoặc sử dụng bất cứ lúc nào và ngân hàng phải thỏa mãn nhu cầu này vô điều kiện Đây là khoản tiền gửi thường xuyên biến động, ngân hàng không thể định ra kế hoạch sử dụng trước được mà chỉ dựa vào kinh nghiệm quản lý trong quá khứù và khả năng dự đoán trong tương lai có thể tận dụng để đưa ra một mức thanh khoản cho hợp lý Ngày nay ở các nước người gửi tiền để sử dụng phương tiện thanh toán của ngân hàng không được hưởng lãi Ở Việt nam để thu hút tối đa nguồn vốn loại này, ngân hàng cần đa dạng hóa các nghiệp vụ trung gian thanh toán Bên cạnh đó, ngân hàng còn sử dụng công cụ lãi suất, mặc dù rất nhỏ, nhưng nó cũng có thể kích thích khách hàng thanh toán qua ngân hàng Mức lãi trả cho loại tiền gửi không kỳ hạn được tính trên số dư bình quân và được tính hàng tháng Các loại

Trang 18

tiền gửi không kỳ hạn bao gồm : tiền gửi dùng séc, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi rút tiền tự động,…

1.2.1.2.2- Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm :

- Tiền gửi có kỳ hạn : là loại tiền gửi mà người gửi tiền chỉ được rút ra khi đến hạn, về nguyên tắc nếu người này gửi tiền rút ra trước hạn thì ngân hàng sẽ không thanh toán Tuy nhiên, do sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng nên vẫn thanh toán bằng hai cách :

+ Chi trả phần gốc, không trả lãi

+ Trả phần gốc cộng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn

Ngoài ra việc phát hành các giấy nợ ngắn hạn của ngân hàng cũng được coi như là tiền gửi định kỳ – phát hành giấy nợ có hai loại :

+ Chứng chỉ tiền gửi ( Certificate of Deposits ) của Mỹ hoặc phiếu ngân quỹ của Pháp ( Bons de caisse ) có mệnh giá nhỏ

+ Chứng chỉ tiền gửi được chuyển nhượng ( Mỹ ), chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá cao ( Pháp ) lớn hơn hoặc bằng 1 triệu USD

Ở Việt nam chỉ có loại thứ nhất : séc và kỳ phiếu ngân hàng, còn loại thứ hai thì chưa có

- Tiền gửi tiết kiệm : là một dạng của tiền gửi định kỳ, chỉ khác là người gửi được cấp giấy chứng nhận tiền gửi Đây là cơ sở pháp lý xác định quan hệ tiền gửi giữa ngân hàng và khách hàng, tùy theo nhu cầu thực tế của từng thời kỳ mà các Ngân hàng thương mại có chính sách ưu đãi cho từng loại tiền gửi nhưng thông thường thì tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dài hơn và lãi suất cao hơn tiền gửi định kỳ

1.2.1.3- Nguồn vốn vay :

Ngoài việc huy động tiền gửi theo các hình thức truyền thống, Ngân hàng thương mại có thể bổ sung vốn hoạt động của mình bằng cách :

Trang 19

- Vay từ các tổ chức và các tầng lớp dân cư thông qua phát hành trái phiếu hoặc kỳ phiếu ngân hàng sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận

- Vay các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác :

Nguồn vốn này được hình thành bởi mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau trong quá trình hoạt động kinh doanh

- Vay Ngân hàng Trung ương :

Các Ngân hàng thương mại có thể vay Ngân hàng Trung ương khi gặp khó khăn ( chủ yếu là trong thanh toán ), thông qua chính sách tái cấp vốn mà chủ yếu là tái chiết khấu Ngân hàng Trung ương với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng nên luôn đóng vai trò là người chủ nợ và là " Người cho vay cuối cùng " đối với các Ngân hàng thương mại

Nguồn vốn này được hình thành từ các nghiệp vụ ủy trị Ngân hàng nhận ủy thác từ khách hàng để quản trị các tài sản ủy thác Có thể phân loại tài sản ủy thác : tiền và hiện vật Phần đông khách hàng ủy thác cho ngân hàng quản trị tài sản bằng tiền, ký gửi vào một tài khoản, ủy thác cho ngân hàng quản trị nó Ngân hàng tiếp nhận các khoản vốn ủy thác của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện những chương trình, dự án định trước Ngoài ra, ngân hàng cũng được ủy thác quản trị tài sản người quá cố, của vị thành niên, của người vô năng gồm tiền gửi ở ngân hàng, bất động sản Ngân hàng cũng được ủy thác quản trị quỹ dự phòng của các công ty

1.2.1.5- Các nguồn vốn khác :

Nguồn vốn khác bao gồm các khoản nguồn vốn phát sinh trong hoạt động ngân hàng làm nghiệp vụ trung gian

- Vốn trong thanh toán :

Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng thực hiện việc trích tiền từ tài

Trang 20

khoản tiền gửi của đơn vị này nhập vào tài khoản của đơn vị khác hoặc cung cấp các loại dịch vụ đòi hỏi các khách hàng phải ký quỹ Ngân hàng sẽ sử dụng nguồn tiền tạm thời này để làm nguồn vốn tín dụng ngắn hạn

- Nguồn vốn phát sinh từ nghiệp vụ đại lý :

Ngân hàng chuyên thu hay chuyên chi hộ khách hàng hoặc Ngân hàng thương mại làm đại lý cho tổ chức tín dụng khác ( thí dụ làm đại lý cho Ngân hàng nước ngoài ) nhận vốn để chuyển vốn đó cho một khách hàng, một dự án đầu tư nào đó, việc phát tiền có thể theo tiến độ công việc, bởi vậy có thể tạo nên một tồn khoản và ngân hàng có thể sử dụng tạm thời tồn khoản ấy vào kinh doanh

1.2.2- Nghiệp vụ tài sản có - Nghiệp vụ sử dụng vốn :

Là nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn, nghiệp vụ này hình thành nên tài sản ngân hàng mà khi lên bảng tổng kết tài sản nó nằm bên phía tài sản có Nghiệp vụ sử dụng vốn bao gồm :

1.2.2.1- Nghiệp vụ ngân quỹ :

Nghiệp vụ ngân quỹ tại Ngân hàng thương mại bao gồm :

- Tiền mặt tại quỹ : là khoản tiền mặt nằm tại quỹ nghiệp vụ của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu chi dùng trong ngày như chi trả lãi, trả vốn tiền gửi, giải ngân tiền vay Tiền mặt tại quỹ đóng vai trò rất quan trọng ảnh hưởng đến tình hình hoạt động và khả năng tạo lợi nhuận của một ngân hàng

Cơ cấu tiền mặt tại quỹ bao gồm tiền mặt đồng Việt nam và ngoại tệ, ngân phiếu thanh toán Ngoài ra, tại quỹ nghiệp vụ ngân hàng còn dự trữ dưới dạng các chứng từ có giá ngắn hạn có khả năng chuyển đổi thành tiền nhanh chóng như tín phiếu kho bạc, thương phiếu … gọi là dự trữ thứ cấp

- Tiền gửi tại Ngân hàng Trung ương :

+ Dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương hoặc chi nhánh

Trang 21

Ngân hàng Nhà nước

+ Tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương hoặc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước

- Tiền gửi tại các Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác

1.2.2.2- Nghiệp vụ tín dụng :

Hoạt động tín dụng là việc các Ngân hàng thương mại sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Đây là hoạt động quan trọng nhất của các Ngân hàng thương mại trong giai đoạn hiện nay, vì nguồn vốn dành cho nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn và tạo ra thu nhập chủ yếu cho các Ngân hàng thương mại

Việc cho vay ngắn hạn hay cho vay trung, dài hạn đều có thể áp dụng hình thức cho vay có bảo đảm bằng tài sản hoặc cho vay không có bảo đảm Tùy theo các quy định của pháp luật và tùy theo tình hình thực tế mà các Ngân hàng thương mại có thể lựa chọn hình thức cho vay có bảo đảm hay không có bảo đảm bằng tài sản

Nếu xét theo từng ý nghĩa như mục đích, thời gian, xuất xứ, … thì sẽ có nhiều loại hình tín dụng khác nhau Ở đây, nếu ta chỉ dựa vào tính chất và hình thức cho vay vốn thì hoạt động tín dụng bao gồm :

1.2.2.2.1- Nghiệp vụ cho vay ngắn hạn :

Là việc các Ngân hàng thương mại sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cho khách hàng vay một khoản tiền trong thời gian không quá 12 tháng nhằm đáp ứng nhu cần vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống trên nguyên tắc đảm bảo tiền vay, cũng như các quy định khác của luật các Tổ chức tín dụng, Nghị định của Chính phủ và các thông tư hướng dẫn của Ngân

Trang 22

hàng Nhà nước

Cho vay ngắn hạn là hình thức cho vay phổ biến, chiếm phần lớn hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại

1.2.2.2.2- Nghiệp vụ cho vay trung, dài hạn :

Là nghiệp vụ mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vay với thời gian được thỏa thuận trên một năm trở lên, thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng

- Thời hạn cho vay trung hạn : từ 12 tháng đến 60 tháng ( 5 năm )

- Thời hạn cho vay dài hạn : từ trên 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với cho vay các dự án phục vụ đời sống

1.2.2.2.3- Nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng :

Tín dụng tiêu dùng là khoản tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu, tiêu dùng của các khách hàng cá nhân Các khoản vay này thường được dùng để trang trải việc mua sắm nhà cửa, đồ dùng gia đình, xe cộ, bên cạnh đó tổ chức tín dụng cũng có thể tài trợ cho các chi tiêu liên quan đến học hành, y tế, du lịch, cưới hỏi, sinh đẻ Tín dụng tiêu dùng góp phần nâng cao đời sống cho người dân, là nhân tố tích cực góp phần kích cầu và phát triển sản xuất

1.2.2.2.4- Nghiệp vụ chiết khấu :

Chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán bằng cách sẽ cấp cho khách hàng một số tiền bằng mệnh giá thương phiếu, trừ đi tiền lãi chiết khấu và phí hoa hồng

Thực chất của nghiệp vụ chiết khấu là ngân hàng bỏ tiền ra để mua lại một

Trang 23

trái quyền ngắn hạn với giá rẻ hơn giá trị trái quyền đó khi đến hạn thanh toán Đây là hình thức cho vay được ngân hàng thương mại ưa chuộng nhất vì ít gặp rủi ro ; có tính đảm bảo cao, không làm nguồn vốn ứ đọng, …

Trên thực tế chiết khấu còn tạo điều kiện cho Ngân hàng thương mại xin tái chiết khấu ở Ngân hàng Trung ương để củng cố năng lực thanh toán của mình

1.2.2.2.5- Nghiệp vụ mua các phiếu bán hàng (Dealer paper ) tiêu dùng và máy móc nông nghiệp :

(3) Người mua thanh toán cho ngân hàng theo định kỳ

Khi thực hiện các nghiệp vụ này ngân hàng cần lưu ý :

- Ngân hàng thỏa thuận với người bán hàng các điều khoản bắt buộc khi thực hiện việc bán hàng trả góp và ngân hàng chỉ mua lại những hồ sơ bán hàng theo đúng thỏa thuận

Ngân hàng thanh toán cho người bán một khoản tiền sau khi giữ lại từ 10 30% trị giá phải thanh toán và sẽ hoàn lại người bán khi người mua thanh toáùn

Trang 24

-hết nợ

- Hợp đồng mua lại các phiếu bán hàng trả góp là hợp đồng được phép truy đòi, có nghĩa là khi người mua không thanh toán được nợ thì người bán phải có trách nhiệm thanh toáùn cho ngân hàng

1.2.2.2.6- Tín dụng thấu chi :

( Cho vượt chi hay cho phép khách hàng để dư nợ tài khoản vãng lai ) Thấu chi là hình thức cấp tín dụng đặc biệt được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó, khách hàng được phép có số dư nợ tài khoản vãng lai theo một hạn mức thấu chi nhất định, trong một thời gian nhất định, giúp cho khách hàng sử dụng vốn vay chủ động và tiện lợi Tuy nhiên, loại tín dụng này có khả năng gây cho ngân hàng nhiều rủi ro Vì vậy, ngân hàng thường chỉ áp dụng cho những khách hàng có khả năng tài chính mạnh và có uy tín

1.2.2.2.7- Nghiệp vụ factoring :

Nghiệp vụ factoring hay còn gọi là mua các tích trái ( khoản phải thu theo hóa đơn ) là một hình thức tài trợ vốn ngắn hạn; nghiệp vụ này thường do các công ty mua nợ ( FACTOR ) thực hiện

Khách hàng Người mua nợ

SƠ ĐỒ 1.2 : NGHIỆP VỤ FACTORING

(1) Khách hàng bán các tích trái cho người mua nợ ( FACTOR - thường là công ty của ngân hàng )

(2) Người mua nợ thanh toán một khoản tiền bằng số tiền trên tài khoản

Trang 25

nợ trừ đi lãi và hoa hồng mà người mua nợ được hưởng, đồng thời người mua nợ còn giữ lại một phần để phòng ngừa hàng trả lại

(3) Khi đến hạn con nợ phải thanh toán cho người mua nợ

Nghiệp vụ factoring gần giống nghiệp vụ chiết khấu thương mại nhưng có các điểm khác nhau sau :

- Các khoản nợ được mua là các khoản nợ có hoá đơn

- Hợp đồng mua tích trái là hợp đồng không được truy đòi

- Ngân hàng thường giữ lại 10-20% để dự phòng hàng hóa bị trả lại

- Lãi suất mà người mua đượïc hưởng trong nghiệp vụ này cao hơn so với nghiệp vụ tín dụng khác, vì nghiệp vụ factoring có rủi ro cao

1.2.2.2.8- Nghiệp vụ cho thuê tài chính :

Là hoạt động tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê Trong thời hạn thuê các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng …

1.2.2.2.9- Tín dụng bằng chữ ký - Bảo lãnh của ngân hàng :

Là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay

Với các hình thức tín dụng này, ngân hàng có thể không ứng tiền ra mà chỉ cam kết thanh toán một khoản nợ cho khách hàng trong trường hợp khi đến hạn thanh toán nhưng khách hàng không trả được nợ Thực chất là nghiệp vụ ngân hàng cho khách hàng sử dụng uy tín của mình

Thông thường để thực hiện hoạt động bảo lãnh ngân hàng phải lập quỹ bảo lãnh theo một tỷ lệ so với vốn pháp định Quỹ bảo lãnh quyết định qui mô và

Trang 26

giới hạn bảo lãnh ( từ 20 - 40 lần quỹ bảo lãnh )

1.2.2.2.10- Nghiệp vụ tín dụng chứng từ :

Là phương thức mà ngân hàng cấp tín dụng cho cả hai bên nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu trong hoạt động ngoại thương Sự can thiệp của ngân hàng ở cả hai đầu đem lại cho các doanh nghiệp liên quan một sự an toàn cao Tín dụng chứng từ đáp ứng yêu cầu của cả hai bên với phương cách là phương tiện thanh toán giao dịch thương mại Ngân hàng tham gia kiểm tra quá trình giao hàng của nhà xuất khẩu, đồng thời cam kết thanh toán kịp thời của nhà nhập khẩu khi nhà xuất khẩu đã thực hiện đúng những điều khoản trong thư tín dụng Tín dụng chứng từ còn là một công cụ tín dụng Căn cứ vào những bảo đảm mà nó đem lại cho mỗi bên : bảo đảm giao hàng đối với nhà nhập khẩu, bảo đảm thanh toán đối với nhà xuất khẩu, nên các bên có thể xin vay vốn của ngân hàng phục vụ họ

Từ " Tín dụng " trong tín dụng chứng từ ở đây hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa tín nhiệm, chứ không phải là khoản tiền cho vay như nghĩa thông thường Khi thực hiện nghiệp vụ này thực chất là ngân hàng cho nhà nhập khẩu vay sự tín nhiệm của mình Lời hứa trả tiền của ngân hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà nhập khẩu, vì ngân hàng có uy tín hơn nhà nhập khẩu nên dễ được nhà xuất khẩu chấp nhận

1.2.3-Các nghiệp vụ kinh doanh khác của Ngân hàng thương mại:

1.2.3.1- Nghiệp vụ thu, chi và chuyển tiền :

1.2.3.1.1- Nghiệp vụ thu ( thu hộ ) :

Nghiệp vụ này được áp dụng chủ yếu trong thanh toán tiền hàng và dịch vụ giữa người mua và người bán trên cơ sở hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng Sau khi hoàn thành việc giao hàng cho người mua, người bán sẽ chủ động làm thủ tục ủy nhiệm cho ngân hàng thu hộ số tiền người mua phải thanh toán Ở đây

Trang 27

quyền chủ động đòi tiền là ở người bán, ngân hàng chỉ tiến hành thu hộ trên cơ sở giấy đòi tiền của người bán với người mua Người mua và người bán có thể có tài khoản ở cùng một ngân hàng hoặc hai ngân hàng khác nhau, có thể cùng hệ thống hoặc khác hệ thống ngân hàng, có thể cùng ở trong một nước hoặc một bên đối tác ở nước ngoài Ngoài việc nhờ thu tiền bán hàng, các doanh nghiệp còn nhờ ngân hàng thu nợ hoặc thu lãi chứng khoán đến hạn

Ngoài ra giữa các ngân hàng cũng thực hiện nghiệp vụ thu hộ cho nhau

1.2.3.1.2 - Nghiệp vụ chi ( chi hộ ) :

Nghiệp vụ chi hộ bắt nguồn từ bên chi trả Được áp dụng trong thanh toán tiền hàng, dịch vụ cũng như thanh toán phí hàng hóa như chuyển gấp kinh phí, trả nợ, thực hiện nghĩa vụ ngân sách có thể diễn ra trong phạm vi một ngân hàng hoặc khác ngân hàng Theo thông lệ, bên chi trả chủ động lấy ủy nhiệm chi gửi tới ngân hàng xin trích tài khoản của mình để chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng

1.2.3.1.3- Nghiệp vụ chuyển tiền :

Nghiệp vụ chuyển tiền là một hình thức thanh toán đơn giản, trong đó người chuyển tiền ủy nhiệm cho ngân hàng chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng

Ngân hàng căn cứ vào giấy ủy nhiệm chuyển tiền hoặc giấy nộp tiền ( kiêm ủy nhiệm chuyển tiền ) do người chuyển tiền lập gửi tới Sau khi kiểm tra các yếu tố trên giấy ủy nhiệm như tên, địa chỉ của người chuyển tiền, số tiền xin chuyển, tên địa chỉ người nhận tiền, lý do chuyển tiền Ngân hàng sẽ làm thủ tục và thực thi các yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng và chính xác Việc chuyển tiền có thể thực hiện bằng thư, bằng điện hoặc bằng mạng máy vi tính của Ngân hàng Nhà nước Sử dụng phương thức nào là tùy thuộc vào yêu cầu của khách hàng

Trang 28

Người chuyển tiền có thể đề nghị ngân hàng trích tài khoản của mình để chuyển cho người thụ hưởng Người thụ hưởng có thểø rút ra bằng tiền mặt hoặc chuyển cho người thụ hưởng ở một ngân hàng khác

1.2.3.2 Góp vốn, mua cổ phần :

Ngân hàng thương mại được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và của các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật

1.2.3.3 Tham gia thị trường tiền tệ :

Ngân hàng thương mại được tham gia thị trường tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước tổ chức, bao gồm thị trường đấu giá tín phiếu kho bạc, thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

1.2.3.4 Một số nghiệp vụ về ngoại hối và vàng :

Một số nghiệp vụ cơ bản về kinh doanh ngoại tệ, vàng của Ngân hàng thương mại :

- Huy động vốn bằng ngoại tệ, vàng trong và ngoài nước ( nghiệp vụ tài sản nợ )

- Cho vay bằng ngoại tệ và vàng đối với các doanh nghiệp từ nguồn vốn tự có và huy động ( nghiệp vụ tài sản có ) :

- Nghiệp vụ hối đoái - Mua bán ngoại tệ, vàng dưới các hình thức khác nhau Nghiệp vụ này thường được thực hiện dưới dạng trao ngay hoặc có thời hạn

- Một số dịch vụ ngoại tệ khác : Mở tài khoản ngoại tệ và phát triển quan hệ đại lý với ngân hàng nước ngoài ; thực hiện chuyển tiền thanh toán bằng ngoại tệ cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ; bảo lãnh các khoản vay cho các doanh nghiệp trong nước vay vốn nước ngoài dưới các hình thức : mở thư

Trang 29

tín dụng mua hàng chậm trả, ký bảo lãnh trên các thương phiếu với nước ngoài, phát hành thư bảo lãnh, lập giấy chứng nhận kỳ hạn nợ với nước ngoài, tái bảo

lãnh các khoản vay vốn nước ngoài đối với các Ngân hàng thương mại khác

1.2.3.5- Nghiệp vụ ủy thác và đại lý :

Các Ngân hàng thương mại được quyền ủy thác, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức , cá nhân theo hợp đồng

Việc sở hữu tài sản dẫn đến nhu cầu về các dịch vụ quản lý tài sản Nghiệp vụ ủy thác được các ngân hàng quan tâm phát triển vào cuối những năm 40, đầu những năm 50 của thế kỷ 20

1.2.3.6- Kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm :

Ngân hàng thương mại được lập công ty độc lập để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật và được cung ứng các dịch vụ bảo hiểm theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, các Ngân hàng thương mại được thực hiện dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê két sắt, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật

1.2.3.7- Dịch vụ tư vấn :

Hoạt động tư vấn là việc ngân hàng cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng Nhờ những thông tin tin cậy, chính xác, những lời khuyên có chất lượng của ngân hàng mà khách hàng có thể xây dựng được những phương án sản xuất, kinh doanh tối ưu, hoặc có những quyết định kịp thời trong đầu tư hoặc trong sản xuất kinh doanh, giúp họ có thể giảm tối thiểu được rủi ro hay thiệt hại và đạt được mức lợi nhuận tối đa

Thu nhập của ngân hàng trong dịch vụ tư vấn không chỉ đơn thuần là thu lệ phí phục vụ do khách hàng thanh toán mà qua nghiệp vụ này, các ngân hàng còn

Trang 30

mở rộng khách hàng, củng cố và tăng cường vị trí và uy tín của mình một cách nhanh chóng

Tất nhiên, để chiếm được lòng tin của khách hàng đối với mình, ngoài việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, áp dụng các thành tựu khoa học tin học hiện đại, ngân hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng các dịch vụ tư vấn, đảm bảo luôn cung cấp cho khách hàng những lời khuyên chính xác nhất, tin cậy nhất với tinh thần phục vụ tận tình, chu đáo nhất

1.3 Hiệu quả của hoạt động Ngân hàng thương mại và những nhân tố ảnh hưởng hiệu quả của hoạt động Ngân hàng thương mại

1.3.1 Hiệu quả của hoạt động Ngân hàng thương mại

1.3.1.1 Hiệu quả đối với nền kinh tế

Hoạt động của Ngân hàng thương mại là thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh để cung ứng cho xã hội các dịch vụ nhằm đẩy mạnh tốc độ lưu thông của hàng hoá, thúc đẩy kinh tế phát triển và ổn định giá trị đơn vị tiền tệ quốc gia Nhìn trên khía cạnh xã hội, hiệu quả của hoạt động các Ngân hàng thương mại được đo lường trước hết Ngân hàng thương mại đã cung cấp cho xã hội nhiều dịch vụ tiện lợi, an toàn, sẵn sàng và nhanh chóng

Đó là những dịch vụ thu nhận các khoản tiền gửi của cá nhân tổ chức dưới mọi hình thức mà cá nhân và tổ chức có yêu cầu Điều này thể hiện qua tỉ trọng tiền thanh toán mà dân cư đưa vào hệ thống ngân hàng để thanh toán và tỉ trọng tiền tiết kiệm mà dân cư ký thác vào các ngân hàng Tỉ trọng này càng cao chứng tỏ hoạt động của hệ thống ngân hàng đang được dân cư và xã hội thừa nhận tính hiệu quả kinh tế của nó

Thứ hai là các hình thức thanh toán mà Ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng ngày càng phong phú và đa dạng được mọi cá nhân và tổ chức hưởng ứng Dịch vụ thanh toán là một dịch vụ quan trọng hàng đầu trong hoạt

Trang 31

động ngân hàng vì lẽ rằng thanh toán qua ngân hàng được mở rộng sẽ tạo ra một sự an toàn và kịp thời cho quá trình chi trả của các cá nhân và tổ chức Thứ ba là việc thanh toán qua ngân hàng có tỉ trọng lớn sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí như kiểm, đếm, bó gói tiền mặt, vận chuyển và in ấn tiền Điều quan trọng hơn cả là thanh toán qua ngân hàng được tổ chức tốt, thu hút nhiều khách hàng với tổng lượng thanh toán lớn sẽ tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng tạo thêm được một lượng phương tiện thanh toán mới ( tạo tiền ) cho nền kinh tế, thông qua các khoản tín dụng giá rẻ ( do lãi suất tiền gửi thanh toán thấp )

Dịch vụ tín dụng là dịch vụ chủ yếu mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng thương mại, nhưng đồng thời cũng là dịch vụ mang lại nhiều rủi ro cho Ngân hàng thương mại Dịch vụ tín dụng Ngân hàng thương mại có một ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế Trước hết nó cung cấp cho nền kinh tế một khối lượng vốn lớn đầu tư vào các dự án phát triển sản xuất kinh doanh mới, thực hiện việc cải tiến công nghệ sản xuất kinh doanh, duy trì sự hoạt động của các doanh nghiệp đang hoạt động, mở rộng hoạt động của các doanh nghiệp khi có cơ hội và sau hết là cung cấp cho dân cư những khoản chi trả cần thiết khi có nhu cầu tiêu dùng

Do vậy mà tốc độ phát triển của nền kinh tế sẽ đạt được ở mức độ nào sẽ lệ thuộc một phần vào hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng

Hơn thế nữa, ngày nay tín dụng được coi như là một đòn bẩy giúp Nhà nước thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội đã được hoạch định một cách có hiệu quả, dựa trên cơ sở Nhà nước cùng với hệ thống Ngân hàng thương mại tìm và đưa ra các giải pháp tín dụng hợp lý để đầu tư cho các ngành, các vùng kinh tế trọng điểm, chiến lược hoặc đầu tư cho các tầng lớp nhân dân nghèo, các tầng lớp nhân dân có khó khăn ở các vùng sâu, vùng xa

Như vậy, nếu các mục tiêu kinh tế xã hội của Nhà nước được thực hiện đầy

Trang 32

đủ, chứng tỏ hiệu quả hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại đang đạt ở mức cao và ngược lại, nếu các chỉ tiêu kinh tế - xã hội không thể đạt được chứng tỏ hiệu quả hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại thấp Bên cạnh đó hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại còn tạo ra sự ổn định của tiền tệ Khi mà hoạt động tín dụng của ngân hàng được nâng lên có nghĩa là nhiều doanh nghiệp làm ăn tốt, nợ ngân hàng được hoàn trả, sản phẩm sản xuất được thị trường thừa nhận thì giá trị đơn vị tiền tệ quốc gia sẽ được ổn định

Sự cung cấp tín dụng cho hoạt động xuất khẩu tốt, việc kinh doanh ngoại tệ có hiệu quả cũng là cơ sở để cho tỉ giá của đơn vị tiền tệ quốc gia so với đơn vị tiền tệ nước ngoài được ổn định, các hoạt động khác của Ngân hàng thương mại như dịch vụ quản lý tài sản tài chính ủy thác, dịch vụ cho thuê két sắt, dịch vụ tư vấn làm tốt sẽ làm cho sự an toàn xã hội - kinh tế tăng lên, thặng dư tài chính của cá nhân, tổ chức được đầu tư kịp thời vào các doanh nghiệp, hoạt động của thị trường tài chính sẽ thuận lợi

Đứng về mặt xã hội mà nói, hệ thống các Ngân hàng thương mại là công cụ của Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệ Do vậy mà hệ thống Ngân hàng thương mại hoạt động tốt sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng Nhà nước thực hiện tốt chính sách tiền tệ Và ngược lại khi mà chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước được thực hiện tốt có nghĩa là hoạt động của Ngân hàng thương mại có hiệu quả cao

Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của tín dụng đối với nền kinh tế :

- Tỷ trọng thanh Tổng khối lượng thanh toán qua ngân hàng

toán qua ngân hàng Tổng khối lượng thanh toán của nền kinh tế = x 100%

- Tốc độ gia tăng tín Tổng tín dụng ngân hàng kỳ báo cáo

dụng ngân hàng đối = Tổng khối lượng tín dụng ngân hàng x 100% với nền kinh tế kỳ so sánh

Trang 33

- Tốc độ gia tăng ký Số dư tiền gửi bình quân kỳ báo cáo

thác qua ngân hàng = Số dư tiền gửi bình quân kỳ so sánh x 100%

1.3.1.2 Hiệu quả đối với khách hàng :

Khách hàng của Ngân hàng thương mại có hai nhóm : nhóm gửi tiền, ký thác tiền vào các Ngân hàng thương mại và nhóm sử dụng các dịch vụ, nhận tín dụng của Ngân hàng thương mại

Đối với khách hàng gửi tiền thì hiệu quả của hoạt động Ngân hàng thương mại là đã tạo ra những điều kiện cần thiết cho họ đưa được phần lớn các khoản tiền tệ thu nhập được vào ký thác ở các Ngân hàng thương mại một cách nhanh chóng, thuận lợi, an toàn và bảo toàn Để làm được điều này, các Ngân hàng thương mại phải tổ chức một hệ thống mạng lưới nhận tiền rộng khắp, nhất là ở các khu dân cư đông đúc, các khu hoạt động thương mại và sản xuất kinh doanh tạo điều kiện cho mọi tổ chức, cá nhân khi cần đến ngân hàng là có ngay gần kề

Đối với khách hàng vay và sử dụng các dịch vụ của ngân hàng, hiệu quả của kinh doanh ngân hàng được thể hiện qua việc ngân hàng đã tận tụy với khách hàng, hiểu biết khách hàng và ngược lại Qua đó mà ngân hàng đưa ra những khoản tín dụng kịp thời giúp khách hàng đạt được những cơ hội kinh doanh, hoặc giúp khách hàng thoát qua được những khó khăn tạm thời về tài chính, giúp khách hàng ngày một mở rộng sản xuất kinh doanh và đạt hiệu quả kinh tế cao Tất nhiên kết quả kinh doanh của một khách hàng là do chính khả năng quản lý kinh doanh của khách hàng quyết định, song sự tài trợ của Ngân hàng thương mại là một điều không thể thiếu và nhiều lúc nó là con bài quyết định cho sự thắng lợi của khách hàng

Trang 34

Tất nhiên nếu cung cấp vốn cho khách hàng một cách bừa bãi, thiếu sự thẩm tra, kiểm soát sẽ dẫn đến hậu quả khó lường Nó vừa không giúp ích gì cho khách hàng, mà còn đưa khách hàng lún sâu vào cảnh nợ nần và có thể

bị phá sản

Đối với khách hàng là những người sử dụng các dịch vụ khác như dịch vụ thanh toán, tư vấn, ủy thác họ cũng luôn luôn mong đợi ở ngân hàng đưa ra được những sản phẩm tốt làm cho họ có thể sử dụng các khoản tài chính của họ có lợi nhất, tiết kiệm nhất

Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của tín dụng đối với khách hàng :

- % Giá trị sản lượng SL1 – SL0

tăng do tín dụng SL0

SL1 : Giá trị sản lượng khi có tín dụng

SL0 : Giá trị sản lượng khi không có tín dụng

- % Lợi nhuận tăng LN1 – LN0

do tín dụng LN0

= x 100%

LN1 : Lợi nhuận khi có tín dụng

LN0 : Lợi nhuận khi không có tín dụng

1.3.1.3 Hiệu quả đối với Ngân hàng thương mại :

Hiệu quả của hoạt động Ngân hàng thương mại là ổn định, phát triển của Ngân hàng thương mại trên mọi mặt cả về số lượng và chất lượng

Trước hết là về mặt số lượng, hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại thể hiện qua sự mở rộng mạng lưới kinh doanh của Ngân hàng thương mại, số lượng khách ngày càng tăng lên và thị phần thị trường mà ngân hàng thâm nhập được ổn định và phát triển ; số lượng lợi nhuận thu được ngày càng tăng

Về mặt chất lượng, hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại thể hiện

Trang 35

qua trình độ và số lượng sản phẩm của Ngân hàng thương mại cung cấp cho thị trường ngày càng tăng, tỉ suất lợi nhuận trên vốn tự có, và tài sản có cũng tăng lên Đặc biệt là các rủi ro về tín dụng, rủi ro thanh khoản và các rủi ro khác được hạn chế ở mức thấp, có thể chấp nhận được và ngày càng giảm đi

Có thể nói rằng hoạt động Ngân hàng thương mại chỉ có thể có hiệu quả cao khi mà những rủi ro trong hoạt động được hạn chế ở mức độ thấp nhất Sự tuân thủ các luật lệ và các nguyên tắc của quản trị một phần nào cũng đã làm cho hoạt động của ngân hàng được an toàn Song sự an toàn trong hoạt động ngân hàng mới chỉ là điều kiện cần để có thể mang lại hiệu quả cao, đặc biệt là sự mở rộng, phát triển và gia tăng lợi nhuận

Hiệu quả của hoạt động Ngân hàng thương mại gắn liền với sự phồn vinh của khách hàng và sự phát triển của nền kinh tế Do vậy, môi trường kinh doanh luôn có một sự tác động lớn đến hiệu quả của các ngân hàng

Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế đối với Ngân hàng thương mại :

Tổng lợi nhuận kỳ báo cáo

- Tỷ suất lợi nhuận / Vốn tự có =

Vốn tự có kỳ báo cáo

Lợi nhuận kỳ báo cáo

- Tốc độ tăng lợi nhuận =

Lợi nhuận kỳ so sánh

Tổng tín dụng kỳ báo cáo

- Tốc độ tăng quy mô tín dụng =

Tổng tín dụng kỳ so sánh Tổng tín dụng ngân hàng kỳ báo cáo

- % Tăng trưởng Tổng tín dụng toàn thị trường kỳ báo cáo

thị phần tín dụng Tổng tín dụng ngân hàng kỳ so sánh

Tổng tín dụng toàn thị trường kỳ so sánh

Trang 36

1.3.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại

1.3.2.1- Môi trường kinh doanh

Sự thuận lợi của môi trường kinh doanh luôn luôn là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại

1.3.2.1.1- Sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc gia nói riêng và của sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung

Kinh doanh ngân hàng chủ yếu là đưa ra các sản phẩm dịch vụ phục vụ lưu thông hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sản xuất Do vậy, trong điều kiện nền kinh tế ổn định và phát triển thì hoạt động kinh doanh ngân hàng gặp được sự thuận lợi cả về hai mặt quy mô hoạt động và chất lượng hoạt động Khối lượng hàng hoá dịch vụ lưu thông tăng lên đòi hỏi phải cung ứng dịch vụ thanh toán, tín dụng nhiều hơn, các giao dịch khác như mua bán ngoại tệ, gửi tiền cũng tăng lên làm cho hoạt động ngân hàng cũng tăng lên nhanh chóng

1.3.2.1.2- Sự điều hành chính sách tiền tệ và quản lý hoạt động tiền tệ ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước

Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước chủ yếu là tạo ra những khung pháp lý linh hoạt và an toàn cho các Ngân hàng thương mại để các Ngân hàng thương mại căn cứ vào đó mà thực hiện các hoạt động của mình được thuận lợi và có định hướng rõ rệt

Nếu Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ và điều hành chính sách tiền tệ một cách nhanh nhạy, linh hoạt và nhuần nhuyễn, ít sai lầm thì hoạt động của hệ thống các Ngân hàng thương mại càng trở nên hiệu quả hơn và ngược lại nếu Ngân hàng Nhà nước lúng túng trong việc hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ thì các Ngân hàng thương mại sẽ gặp khó khăn

Ngân hàng Nhà nước còn là chỗ dựa vững chắc cho các Ngân hàng thương

Trang 37

mại về cung cấp tiền giấy và thanh khoản Do vậy, nếu quá trình hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước cho các Ngân hàng thương mại được thực hiện đầy đủ và hợp lý sẽ cho phép nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh ngân hàng, cho phép hạ lãi suất, hạ chi phí, gia tăng tỷ phần sinh lợi trên nguồn vốn huy động Có thể nói rằng Ngân hàng Nhà nước là “ Mẹ hiền ” của các “ Ngân hàng thương mại ”, nếu người mẹ có sức khỏe, có sữa tốt thì có điều kiện chăm sóc cho đàn con chóng lớn và khỏe mạnh Ngược lại, nếu người mẹ ốm yếu, thiếu sữa thì đàn con sẽ gặp khó khăn

1.3.2.2- Môi trường xã hội

Môi trường xã hội cũng có một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Trước hết là trình độ dân trí, nó có một tầm quan trọng đáng kể trong việc sử dụng các sản phẩm của hệ thống ngân hàng Tùy thuộc vào yêu cầu và sự phát triển các công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa, công nghệ viễn thông mà các ngân hàng có thể vận dụng vào sản phẩm của mình Song các sản phẩm ấy có được sử dụng và sử dụng có hiệu quả hay không lại tùy thuộc vào trình độ hiểu biết của khách hàng

Đơn giản như việc sử dụng một tờ séc cũng có những nguyên tắc chung đòi hỏi người sử dụng phải biết và thực hiện đúng để không bị sai sót, gây ra những ách tắc trong quá trình luân chuyển

Hơn nữa khi khách hàng hiểu biết đầy đủ các sản phẩm của ngân hàng thì khách hàng sẽ tự tin hơn và hiểu thấu các ý nghĩa kinh tế của nó và yêu cầu đúng những sản phẩm thích hợp cho mỗi hoàn cảnh, tình huống cụ thể

Thứ hai là sự nhận thức và thói quen của dân cư trong việc sử dụng các sản phẩm ngân hàng càng cao thì hoạt động của ngân hàng sẽ trở nên thuận lợi và ngược lại

Trang 38

Những thói quen như sử dụng tiền mặt hay sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt là một vấn đề quan trọng làm cho hoạt động ngân hàng trở nên là một điều không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường hay là một cái gì đó xa lạ với dân cư Khi người dân quen sử dụng tiền mặt thì họ thấy thanh toán qua ngân hàng là một sự phiền toái, ngược lại khi người dân quen thanh toán qua ngân hàng, thì họ sẽ thấy việc đến ngân hàng lãnh ra hàng chục, hàng trăm bó tiền là điều không thể chấp nhận được trong cuộc sống của mình

1.3.2.3- Trình độ nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng và sự phục vụ tận tụy của ngân hàng đối với khách hàng

Trình độ nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng và sự tận tụy của nhân viên ngân hàng là điều kiện tiên quyết để làm cho sản phẩm có tính kinh tế cao, cũng như có sự hấp dẫn về mặt tinh thần đối với người sử dụng nó, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng nhằm tạo điều kiện phục vụ cho khách hàng ngày càng tốt hơn

Việc phát triển mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng trong giai đoạn hiện nay cực kỳ quan trọng, ngoài mục đích phục vụ cho tiện ích của người sử dụng, nó còn góp phần thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển và đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế, không bị tụt hậu Vì vậy, đổi mới, hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng là một nhu cầu tất yếu khách quan, trong tương lai nhiều ứng dụng công nghệ mới sẽ đi vào cuộc sống như : thanh toán điện tử, thương mại điện tử sẽ thay thế các hình thức truyền thống, dịch vụ ngân hàng hiện đại, phong phú, đa dạng và tiện ích như E – Banking, Home Banking, Internet Banking,… Để đẩy nhanh tốc độ đổi mới, hiện đại hóa công nghệ có nhiều vấn đề cần quan tâm, trong đó có 03 vấn đề cơ bản là : Đào tạo nhân lực, đầu tư kỹ thuật và hoàn thiện hành lang pháp lý

Nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ thông tin, Nghị Quyết Đại

Trang 39

hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nêu “ Ứng dụng Công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra sức chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế … ” và sau đó hàng loạt các văn bản ra đời nhằm triển khai Nghị quyết này như Nghị quyết 49/CP ngày 04/08/93 của Chính Phủ kèm theo kế hoạch tổng thể về phát triển công nghệ thông tin đến năm 2000 ; Nghị quyết ngày 05/06/2000 của Chính Phủ về xây dựng và phát triển công nghệ phần mềm giai đoạn 2000 – 2005 Đặc biệt ngày 17/10/2000, Bộ Chính Trị đã ra chỉ thị số 58/CT-TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thực hiện chỉ thị trên, Cục Công nghệ Thông tin Ngân hàng đang cùng các Ngân hàng tổng kết, đánh giá kết quả xây dựng và phát triển công nghệ thông tin từ thời kỳ đổi mới đến nay và xây dựng kế hoạch tổng thể đến năm 2005

Khi các sản phẩm ngân hàng đảm bảo các yêu cầu về kinh tế, nghĩa là nó cho phép người sử dụng có được những lợi ích nhất định thì nó sẽ được công chúng ủng hộ và sử dụng Ngược lại nó sẽ bị xa lánh Một sản phẩm ngân hàng tốt chưa đủ, nó còn đòi hỏi ở người cung cấp sản phẩm có sự tận tụy hướng dẫn, niềm nở chào mời, mong muốn khách hàng đến và sử dụng sản phẩm của mình thì mới được khách hàng chấp nhận

Một thái độ quan liêu, không sốt sắng có thể làm cho khách hàng xa lánh ngân hàng và tìm biện pháp thay thế Một sự thiếu hiểu biết về nghiệp vụ sẽ làm cho khách hàng mất lòng tin đối với ngân hàng Do vậy sự hiểu biết tường tận về nghiệp vụ, sự lịch sự, hòa nhã trong quan hệ sẽ là những nhân tố quan trọng cho phép mở rộng các mối quan hệ và phát triển các sản phẩm của ngân hàng đối với khách hàng của mình

1.3.2.4 Môi trường tự nhiên :

Sự biến động thuận lợi hay không thuận lợi của môi trường tự nhiên sẽ ảnh

Trang 40

hưởng đến sản xuất kinh doanh của khách hàng Do vậy mà môi trường tự nhiên có ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại

Ví dụ như thiên tai, lũ lụt gây ra mất mùa, làm cản trở lưu thông hàng hóa, làm ngập các kho bãi, … gây ra nhiều thiệt hại cho người vay tiền và do đó làm suy giảm hiệu quả của ngân hàng một cách nghiêm trọng

1.4 Tính ưu việt của Ngân hàng thương mại cổ phần ; tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh :

1.4.1 Tính ưu việt của Ngân hàng thương mại cổ phần trong nền kinh tế thị trường :

Ngân hàng thương mại cổ phần là Ngân hàng thương mại được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần, có số vốn thuộc sỡ hữu chung của nhiều người đóng góp dưới hình thức mua cổ phần Cổ đông của ngân hàng bao gồm cả thể nhân và pháp nhân Tuy nhiên, các cổ đông không được sở hữu số cổ phần quá tỷ lệ do Ngân hàng Nhà nước quy định

Vốn cổ phần là vốn dài hạn, cổ đông không có quyền đòi rút vốn cổ phần mà chỉ có quyền chuyển nhượng cổ phần cho người khác Việc góp vốn cổ phần trên nguyên tắc lời cùng ăn, lỗ cùng chịu theo tỷ lệ trên số vốn của cổ đông Trong trường hợp kinh doanh quá khó khăn không thể tồn tại được thì cổ đông chỉ chịu trách nhiệm với công nợ của công ty cổ phần trong giới hạn số vốn mà họ đã đóng góp

Ngân hàng thương mại cổ phần có những ưu điểm sau đây :

- Ngân hàng thương mại cổ phần được quản lý tập thể thông qua đại hội cổ đông và Hội đồng quản trị

- Ngân hàng thương mại cổ phần có thể gia tăng tài sản có bằng cách phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng

- Ngân hàng thương mại cổ phần có thể phát hành chứng từ có giá để huy

Ngày đăng: 28/03/2017, 22:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w