Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt Ngữ nghĩa ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng việt
Trang 1Đ ại học Q uốc gia Hà Nội Trường Đ ai H oc Khoa hoc Xã hôi và Nhân Văn
Trang 2Đại học Q uốc gia Hà Nội Trường Đại Học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
Đ Ể T À I K HO A H O C C Ấ P ĐẠI H Ọ C Q U Ố C GIA
MÃ SỐ QX.97.09
Thực hiện đề tài: TS Lê Đông
TS Nguyễn Văn Hiệp
Trang 3Khái ruéra tiéu từ tình thái Vài nét khái quát vé
vị ư í của vấh đé ũểu òr linh thái ưong ngôn ngữ
so với mênh đé và sự két hơp các úểu tờ tình thái ư 77
Vai trò của các tiểu từ tình ihái cuối cân irong
ư 157
ư 158
Trang 4LỜI M Ở Đ Ầ U
Các tiểu từ tình thái tiếng Việt thuộc vào nhóm các đơn vị mang bản chất ngữ nghla-ngữ dụng rất phức tạp, không dễ dàng phàn lập, phân tích và miêu tả Trong các chuyên khảo về từ vựng, ngữ pháp tiếng Viột đã có, nhóm từ này thường được miêu tả hết sức sơ lược Điều đó thôi thúc chúng tôi chọn chúng làm đối tượng nghiên cứu
Mục đích của chúng tôi khống phải là miêu tả ngữ nghĩa-ngữ dụng của tất cả các tiểu từ tình thái tiếng Việt mà là xác lập một khung miêu tả có hiộu lực cho nhóm từ này, chỉ ra những đặc trưng ngữ nghĩa chung của chúng, khảo sát hoạt động của chúng trong hoạt động nói năng của người Việt, với những chiều kích Dụng học của vấn đề
Công trình này là kết quả nghiên đề tài khoa học cấp Đai học Quốc Gia Hà Nội Nhóm chủ trì để tài xin tỏ lòng cám ơn các cấp hữu quan đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành công trình, đăc biệt là xin cám ơn Ban chủ nhiệm Khoa Ngòn
ngữ và các anh chị ở Phòng Khoa học Đại học Khoa học Xã hội và nhân vãn
Hà Nội đã không ngừng động viên, không ngừng tin tưởng, khỏns ngừng tạo điều kiộn giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện để tài
Trang 5Những đặc trưng cơ bản đó của tình thái được thể hiện qua nhiều cách đinh nghĩa của các tác giả khác nhau, tuy rằng cách thức diễn đạt cụ thể và mức độ chi tiết tường minh hay ngầm ẩn có thể khác nhau ít nhiều.
Trong cách quan niệm của Vinogradov, những mối quan hệ khác nhau của thông báo với thực tế trước hết là phạm vi của quan hệ tình thái Cái được thông báo, chẳng hạn, có thể được người nói hiểu như là hiện thực, là có trong quá khứ hay hiện tại, là điểu được thực hiện trong tương lai, là điều mong muốn hay đòi hỏi đối với ai đó, là cái không có trons hiện thực v.v Tính tình thái được xác lập theo quan điểm của người nói, song ban thân quan điểm đó lại được xác định bới vị trí của nsười nói vào lúc nói đối với người đối thoại và với cái phân đoan thưc tế được phan ánh, được thể hiện trong càu Theo cách định nghĩa của Gak, pham trù tinh tình thái phcin ánh mòi quan hệ của nsười nói đối với nội
Trang 6dung phát ngòn và nội dung phát ngòn đối với thực tế Trong tính tình thái thế hiện nhân tố chủ quan của phát ngôn, đó là sư khúc xạ của một phân đoạn thực
tế qua nhận thức của người nói [Gak 1986;tr 133] Benveniste không đưa ra một định nghĩa cụ thể về tính tình thái, nhưng những đặc trưng cơ bản của phạm trù này có thể được thấy rất rõ qua những nhận xét rải rác của ông Đó là một phạm trù rộng lớn, khó có thể phạm trù hoá được nó gắn với những chờ đợi, mong muốn, đánh giá, thái độ của người nói đối với nội dung phát ngôn, với người đối thoại, với những kiểu mục đích phát ngôn: hỏi, cầu khiến, trần thuật v.v và có thể được thể hiộn bằng những phương tiộn đủ loại: thức của động từ, quán ngữ v.v [Benveniste 1966], Có thể so sánh thêm các định nghĩa trên đây với một số định nghĩa khác:
Tinh thái là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau đối với điểu được thông báo [Liapol]
Tinh thái là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh để mà câu biếu thị hay cái sự tình mà mệnh để đó miêu tá [Lyons 1977; tr 425]
Tuy nhiẽn, càng đi vào chi tiết thì khái niệm tính tình thái càng lộ rõ tính phức tạp, gắn với những nội dung quan niệm, những cách hiểu rất khác nhau: cách quan niệm trong lô gich truyền thống có khác so với cách quan niệm trong ngôn ngữ học; cách quan niệm của nhà ngôn ngữ học này không hoàn toàn giong với cách quan niệm của nhà ngôn nơữ học khác Do đó, cần dừng lại xem xét tỉ mỉ hơn một số bình diện của vấn để, làm cơ sờ cho việc giải quyết những vấn để mà chúns ta quan tâm
2 Vài n ét vê tinh thái trong quan niệm của lô gich học truyền thống
Như đã biết, khái niệm tính tình thái (modality, modalité) hay modus vốn đã được sử dụng từ lâu trons lồ gich học truyền thống, gắn với sự phàn loai các phán đoán, các mệnh đê lò gich dưa trên những đãc trưng cơ bản của mối liên
hè ^iữa hai thành phàn chu từ và VỊ từ, xét ư khía canh mức độ phù hợp cua
Trang 7phán đoán với thực tế Theo truyền thóng lô gich đó, các phán đoán được phân thanh 3 nhóm lớn: khả năng, tất yếu, hiện thực Phán đoán khả năng phản ánh xác suất có mặt hay vắng mặt của một đặc trưng nào đó ở đối tượng (tức đối tượng có thể mang đặc trưng đó ít nhất là trong một thế giới khả năng); phán đoán tất yếu phản ánh những nội dung nhận thức mà đặc trưng nêu ơ vị từ có ở đối tượng trong mọi điều ldện (tức đối tượng mang đặc trưng được nêu trong mọi thế giới khả năng); phán đoán hiện thực đcm thuần xác nhận sự có mặt hay vắng mặt của đặc trưng nào đó ở đối tượng như là một hiện thực Khái niệm tình thái hay modus của lô gich, như vậy, chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ chung nhất của phán đoán với hiện thực, mang tính khách quan, bản thể và xem
đó như một đặc trưng nội tại của bản thân cấu trúc chủ từ- vị từ lô gich, hoàn toàn trừu tượng hoá khỏi những nhân tố thuộc mục đích, nhu cầu, ý chí, thái độ, tình cảm, đánh giá của con người nói chung và các chủ thể cụ thể nói riêng Tình thái của lô gich như vậy có thể được xem là tình thái khách quan, ơ đó hoàn toàn không biểu thị thái độ của chúng ta đối với phán đoán được phát ngôn ra Và, điều đó là cần thiết để những vấn đề của lô gich học không trờ thành những vấn đề của những lĩnh vực khác
3 K hái niệm tình thái trong ngôn ngữ học
3.1.Trong những năm gân đây, cùng với sự quan tâm ngày càng sâu sắc hơn dến nhân tố con người trons ngôn ngữ và hoạt động ngôn ngữ, vấn để tính tình thái của ngôn ngữ rư nhiên được đặc biệt quan tâm trong ngôn ngữ học Sự quan tâm manh mẽ đó là một tất vếu Bởi vì ngôn ngữ tư nhiên (của con người) lếu tước bỏ hoàn toàn các bình diện của tình thái, thì không thể phạn ánh được
;hế siới với tính cách là hiện thưc trong hoạt động chiếm linh và tương tác liên ihủn của con người Không có một nội dung nhận thức và giao tiếp hiện thực vìo lai có thể tách khỏi nhữns nhàn tồ như muc đích, nhu cẩu thái độ đánh giá / Y của nơười noi đỏi với điéu được nói ra xét trona quan hè với hiện thưc với ỉối tượnơ giao tiếp và các nhàn tô khác cùa ngữ canh siao tiếp Nói như Bally,
Trang 8tình thái tính là linh hổn của phát ngồn, mà nói rộng ra, là cùa nsòn nsữ trong hoạt động nói chung Sự phong phú và đa dạng của các nhân tố tình thái cũng là một nhân tố rất quan trọng phân biệt ngôn ngữ tư nhiên với hệ thống tín hiệu ờ động vật Benveniste nhận xét rằng, trong ngôn ngữ của bầy ong không có đối thoại, không có những biểu hiện khác nhau của ý kiến, tình cảm, thái độ chủ
quan đối với thông báo, không có một cái gì đại loại như hình như, có lẽ, e
rằng, chắc hẳn, tôi nghĩ rằng v.v , không có hỏi về thông báo, không có trả lời
v.v
Sự quan tâm mạnh mẽ đó của các nhà ngôn ngữ học đã đẩy lĩnh vực ngữ nghĩa tình thái và hiểu biết về tình thái tiến lên một bước lớn Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn phải thừa nhận ràng tình thái của ngôn ngữ tự nhiên vản còn là một vấn để cực kỳ phức tạp Đến nỗi, có những học giả đã phải thốt lên những
ý kiến cho rằng "cho đến nay vẫn khó có thể tìm thấv hai tác giả có quan niệm hoàn toàn thống; nhất với nhau về tình thái của ngôn ngữ”, rằng "không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và thành phần các ý nghĩa bộ phận lai gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tình thái" [V.Z Panfilov 1977, tr 37-38 ] Ngav đến cả việc xác lập một cách đầy đủ và có hộ thống một kiểu tình thái chủ quan cũng đã là một nhiệm vụ của tương lai, khó thực hiện được [Volf E.M 1985;tr 124; Hintikka J.A 1969] Sở dĩ như vậy là do hàng loạt các nhân tố: nhữns sự khác biệt về tình thái có ý nghĩa đối với ngôn nsữ học là hết sức đa dạng, khòng thể chỉ bó hẹp trons một số đối lập khái quát, phổ quát và tách khỏi bình diện chủ quan như lô aich học; các ý nghĩa tình thái trong nsỏn ngữ làm thành một banc màu cưc kv đa sắc, đan nhau, giao hoà vào nhau, chổng chéo lên nhau, chúng liên quan đến nhữns bình diện rất lvhác nhau của tổ chức phát ngồn, tới đồng nshTa, đa nshĩa tới việc xác định các cấp độ và pham trù khác của nsôn nsữ v.v mà không dễ gì có thể phân bièt ra ch ròi giữa các bình diện Cho nên trong lĩnh vực tinh thái cùa naòn ngữ, nơười ta thàv phò bièn một tình hình là: cùng một hiện tượng lại được chi bãng
Trang 9những thuật ngữ khác nhau và cùng một thuật ngữ lai được cấp cho ahữns nội dung khác nhau, phản ánh những quan niệm rộng hẹp khác nhau Dưới đâv chúng tôi sẽ tổng kết lại một số vấn đề chính, xoay quanh sự phàn biệt giữa khái niệm tình thái và khái niệm nội dung mệnh đề, từ đó chúng tôi lựa chọn một quan điểm thích hợp, làm cơ sở cho việc nghiên cứu các tiểu từ tình thái tiếng Việt.
3.2.Phân biệt tình thái và nội dung mệnh đề
Trong ngôn ngữ học, có lẽ bắt đầu từ Ch Bally, hay ít ra ông cũng là người đầu tiên đề cập vấn đề một cách hệ thống, người ta phân biệt trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn hai thành phần cơ bản tương ứng với cách gọi của Bally là
modus và dictum Trong đó, dictum là bộ phận biểu hiện một nội dung sự tình ở
dạng tiềm năng nào đó Do vậy, dictum gắn với chức nâng thông tin, chức nâng miêu tả của ngôn ngữ Modus (tức bộ phân tình thái) gán với bình diện tâm lý, thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sư đánh giá của người nói đối với điều được nói ra, xét trong mối quan hệ với thưc tế, với người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp Modus tham gia vào quá trình thực tại hoá, biến nội dung sự tình còn ở dạng tiềm năng thành phát ngôn hiện thưc Nó cho biết, chảng hạn, sự tình nêu trong phát ngôn là khả năng hav hiện thực, khắng định hay phủ đinh, mức độ cam kết của người nói đối với độ tin cậy của thòng tin đến đâu, đánh giá, tình cảm, ý chí, mong muốn, ý đồ của người ọói khi phát ngôn là thế nào v.v Ví dụ, với cùng một nội dung sự tình nói về việc Đức đi
Hà Nội, người ta có thê thể hiện những nội duns tình thái rất khác nhau:
Trang 107 Đức không đi Hà Nội.
8 Đức đi Hà Nội à? v.v
Với phát ngôn (1), người nói thể hiện thông báo của anh ta như một lời xác nhận, một điểu xác tín đối với người đối thoại, về một sự tình coi là hiện thực Với phát ngôn (2), người nói thể hiện thông báo của anh ta như một đoán định; nội dung sự tình là một kiến giải chủ quan mà người nói không đảm bảo, không cam kết về tính chân thực, tính phù hợp với thực tế của nó, song đó lại là điều cần nêu lên để quan tâm xem xét tới Với phát ngôn (3), người nói thể hiện nội dung sự tình như là điểu anh ta mong muốn người nghe thực hiện và thúc đẩy, kêu gọi anh ta thực hiện v.v
Sự đối lập giữa hai thành phần cơ bản trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn như vừa nêu là một trong những đối lập cơ bản làm cơ sở cho lý thuyết tình thái
và được thừa nhận rộng rãi trong ngôn ngữ học, tuy rằng, tuỳ theo từng tác giả, nhằm nhấn manh khía canh này hay khía cạnh khác, mà các thuật ngữ cụ thể được dùng có thể khác nhau: modus/dictum; tình thái/ngôn liệu; tình thái/cơ sở mệnh đề; tinh thái/mệnh đề; tình thái/propo Dưới đây là một vài nét tóm tắt
về quan niệm của một số tác giả:
Trong quan niệm của Fillmore, cấu trúc nghĩa của càu bao gồm hai thành phần: thành phần "mệnh đề" được hiểu như là tập hợp nhữnơ quan hệ có tính phi thời (tenseless) giữa các động từ và các danh từ, phân biệt với thành phần
"tình thái", gồm các loại V nghĩa có liên quan đến toàn bộ câu (the
sentence-as-a-whoIe) như phủ định, th ì, Thức và th ể (Fillmore 1968; tr 23) Quan niệm này
được thể hiện trons còng thức: s = M + p Trong đó M thực chất là thành phần tình thái, p là thành phần mệnh đề
T rons quan niệm của Culioli sư đối lập đó là tình thái và ngôn liệu (lexis)
Mỏt tronơ những ly do cúa sư lưa chọn thuât ngữ như vây, theo tác ơiả này là ờ chỗ thuật nm~r mệnh đé (proposition) khiên ngưòì ta khòns rõ nó được hiểu theo nghĩa cúa lò sich hav theo nshĩa nào khác; thèm nữa thuât ngữ
Trang 11M od/M ood {thức) có thể được hiểu theo nghĩa rất hẹp Trong khi đó, tình thái không chỉ được biểu hiện bằng thức và không đồng nhất với thức theo nghĩa
hẹp, mặc dù trong ngôn ngữ học không phải không có những tác giả gắn tình
thái với phạm trù thức của động từ, chẳng hạn thức subjunctive thường được
định nghĩa là cách biểu thị một điều giả thiết hay sự không chắc chắn Còn về
thuật ngữ ngôn liệu (lexis), về thực chất là tương đương với dictum của ƠI
Bally, nhưng nhấn manh tính chất nguyên liệu, tiềm tàng, phi tình thái, chưa có
tư cách là một phát ngôn về một sự tình nào đó Với cùng một tinh thần như vậy, Portier sử dụng cặp thuật ngữ Propo và tình thái [Portier 1992],
ơ một số tác giả khác, ta thấy sử dụng các thuật ngữ tình thái /nội dung
mệnh đ ề và có lẽ đây là cặp thuật ngữ được dùng phổ biến nhất hiện nay, trong
pham vi các văn liệu mà chúng tôi tham khảo được Tuy nhiên, sư phân biệt hai khái niệm này củng được hiểu theo nghĩa hẹp hay rộng rất khác nhau Hiểu theo nghĩa hẹp, Rescher cho rằng : một mệnh để, xét một cách tổng thể, về lchách quan, có thê đúng hav sai, nhưng khi một mệnh để như vậy 'được người nói đánh giá định tính thêm (further qualification) thì sự đánh giá định tính này được xem là tình thái của mệnh đề đó [dẫn theo Palmer 1986; tr 12] Hiểu theo nghĩa rộng hơn, Lewis cho rằng tình thái là sự đánh giá, xác nhận về nội dung mệnh để; và sự xác nhận này có thể nêu thành nghi vấn, bác bỏ hay chỉ là được
ơiả đinh, và có thể được thể hiện ở các thức khác nhau Tình thái, theo nghĩa
như vây dùng để chỉ tất cả những sì trong câu khôns thuộc vào nội dung mệnh
để [dẫn theo Palmer 1986; tr 14-15] Hiểu theo nghĩa rộng hơn nữa, Palmer và một số tác giả khác cho rằns có thể thảo luận vấn để trong khung lý thuyết hành vi nsôn ngữ (theory of speech acts): "Sự phân biệt giữa nội dung mệnh đề Vcà tình thái rất sán 2Ũi với sư phân biệt giữa hành vi tạo lời và hành vi tai lời theo tinh thần cùa Austin Tron2 hành vi tạo lời, chúng ta nói vể một điểu 2Ì đó, còn tronz hành vi tại lời, chúnơ ta làm một cái 21 đó như trả lời câu hỏi, thong
Trang 12báo một phán quyết, khuyến cáo hoặc hứa hẹn”[Palmer 1986; tr 14], Theo tinh thần này, J.R Searle cho rằng khung lý thuyết hành vi ngôn ngữ (theory of speech acts) là thích hợp nhất để thảo luận những vấn đề về tình thái, bời vì thuyết hành vi ngôn ngữ quan tâm đến quan hệ giữa người nói và điều được nói Theo lổ gích của mình, tác giả nhấn mạnh đến 5 phạm trù cơ bản thuộc hành vi tại lời (illocutionary acts) sau đây:
Xác nhận (assertives): người nói thông báo cho người nghe biết (có thể đúng
sự thât hoặc không) sự vật như thế nào
Cầu khiến (directives): người nói muốn người nghe thực hiện'hành động được biểu hiện ở nội dung mệnh đề
độngđược biểu hiện ở nội dung mệnh để
Tuyên bố (declarations): người nói làm nên những thay đổi nào đó trong thế giới hiện thực băng chính lời nói của anh ta
Biểu lộ (expressives): người nói bày tỏ tình cảm và thái độ của mình (dẫn theo Palmer F.R 1986, tr 13)
Những người theo khuynh hướng trên đây đểu cho rằng, trong số các hành
vi ngôn ngữ thì nhóm xúc nhận liên quan đến tình thái nhận thức, nhóm cầu
khiến và hứa hẹn liên quan đến tình thái đạo nghĩa, nhóm biểu lộ liên quan đến
sự đánh giá tích cực hay tiêu cực về sự tình được truyền đạt, nhóm tuyên bô'liên
quan đến các phát ngôn nsữ vi (Palmer F.R 1986, tr 13- 14)
Sự phân biệt của Hare có hơi khác, nhưng thực ra cũng vẫn là một tinh thần,
một đôi lập cơ bán Tác giá này phàn biệt trong câu ba bộ phận: Phrastic,
Tropic và Neusnc Trong đó, Phrastic là bộ phận chung cho các câu tuyên bố,
mệnh [ẻnh, nghi vấn Đó chính là nội duns mệnh đề, nội dung sự tinh, hay dictum theo cách ơọi cúa các tác giả khác; Tropic tương ứnơ với kiểu hành vi
n a ỏn ngữ thòng thườns được thưc hiện bans câu này, tức tương ứng với chi
Trang 13hiệu của thức, bởi vì, như Lyons nhận xét, trong khá rihiểu ngòn ngữ Tropic
được ngữ pháp ở cấp độ thức Nội dung của Neustic chính là những gì thuộc phạm vi mà Hare gọi là chỉ hiệu của sự cam kết (sign of subscription) đối với
hành vi ngôn ngữ được thực hiện: Nó thể hiện sự cam kết, bảo đảm của người nói liên quan đến tính thực hữu, sự mong muốn v.v của nội dung mệnh để được truyền đạt [dẫn theo Lyons 1977; tr 749]1 Hai khái niệm Neustic và Tropic của Hare tương đương với 2 cấp độ (trong số 4 cấp độ) phân tích câu mà
Dik để xuất Khi xét đến các thành tố phụ (satellites) dùng để mở rộng lỗi (cấp
độ 1) và khung (cấp độ 2) của câu, Dik phân biệt những chỉ tố cho biết thái độ
hay cách đánh giá của người nói đối với nội dung mệnh đề của câu (cấp độ 3)
và những chỉ tố biểu thị kiểu hành vi ngôn ngữ (cấp độ) mà câu thể hiện (cấp
độ 4) [Dik s 1989; tr
72]-Có thể thấy rằng, để trỏ sự đối lập mà Ch.Bally để xuất, thì việc dùng cặp thuật ngữ tình thái/nội dung mệnh đề là hợp lý hơn cả Trước hét, vì thuật ngữ tình thái tỏ ra bao quát và quen thuộc hơn các thuật ngữ Mod, Tropic, Neustic Còn thuật ngữ nội dung mệnh đề một mặt cho phép chúng ta chỉ ra tính tiềm năng của sự tình được biểu hiện, mặt khác nó không hoàn toàn trùng với cách hiểu của lô gich học: đó là những yếu tố ngôn liệu cấu thành bình diện miêu tả của phát ngôn với những vai nghĩa học cũng như vai trò tạo cấu trúc lô gich của hành động tư duy, nhưng còn ở thế tiềm tàng2 Cặp thuật ngữ này cũng tạo điều
kiện cho việc cấu tạo các thuật ngữ khác như khung tình thái (khi người ta miêu
tá tinh thái như một cấu trúc khung tương đối ổn định mà nội dung mệnh để
nằm trong sư chê định qua lại), nội dung mệnh để của hành vi ngôn ngữv.v
1 C húng tôi ch o rang, thưc ra, hai ihàiih phán Tropic và N e u sú c chính là nam irons những sư phàn biẻt vé bình ciiỏn troI1U nổi oỏ pham trù tìiiii thái, chứ khờng phái là những dôi lâp Iisana hàna với [ 3i duna sư tmh.
: V ới lý thuvéi kct In cùa rósnicre cùn>> với sư phát trièn những nahiihi cứu vể các cách sâu, hay "cách n<;ữ nahĩa" cua F illm ore, Q ia le , H ailiday, Dik, Hurford, H easlev, Fraw lev phàn dictum (n sô n liêu’) dươc phán
su ii [hành các vai nghĩa (participants), lức các ihưc thó (entity I tham gia (ớ thẻ tiẻm n;Uis) vào m ột quan hè hay đac [rima n>io tló do VI àr VI nuữ biéu liu.
10
Trang 143.3.Như vây, theo chúng tôi, hiểu theo nghĩa rộng nhất, khái niệm tình [hái trong ngôn ngữ học sẽ bao hàm những kiểu ý nghĩa rất khác nhau Có thể tam nèu những nhóm cơ bản nhất sau đây:
1) Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói, hay nói theo lý thuyết hành vi ngôn ngữ, kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (hỏi, ra lệnh, yêu cầu, bác bỏ, khuyên, mời v.v ) gắn trực tiếp với chiều tương tác liên nhân của giao tiếp, với kiểu tác động của người nói đến người đối thoại
2) Các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường hay cảm xúc của người nói đối với nội dung thông báo: người nói đánh giá nội dung thông báo vể mức độ quan trọng, vể độ tin cậy, xem nó là điểu tích cực (mong muốn) hay tiêu cưc, bất ngờ, ngoài chờ đợi hay bình thường, về tính khả năng, tính hiện thực v.v
3) Ý nghĩa thuộc đối lập giữa khẳng đinh và phủ đinh đối với sự tồn tại của
sư tình
4) Những đặc trưng liên quan đến sự diễn tiến của sự tình, liên quan đến
khung vị nì và mòi quan hệ giữa chủ thể được nói đến trong càu và vị từ (thời,
th ể hay các ý nghĩa được thể hiện bàng vị từ tình thái ).
5) Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác của phát ngôn và hành động phát ngôn với ngữ cảnh, theo quan điểm, đánh giá của người nói Ví dụ, đặc tính siêu naỏn ngữ, hỏi lại, sư đánh giá của người nói về mức độ hiểu biết của người nahe, thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe, sự đầnh giá của người nói đối với các quan điểm, ý kiến khác v.v
Cách hiểu tình thái theo nghĩa rộns nhất như vây được Bybee diễn đạt là "tất
cá nhửns gì mà người nói thưc hiện cùnơ với toàn bộ nội dung mệnh để” [dẫn theo Frawley 1992 tr 385] Nói cách khác, phạm trù tinh thái bao gồm tất cả
những phươnơ diện nội dung gắn với sự thực tại Ììũá câu, biến các nội duns
mènh đề ờ thế tiểm năns trờ thành các phát nsòn trong giao tiếp
Trang 153.4 Cách quan niệm rộng vể tình thái như trên đây nhìn chung có thể thấy, chẳng hạn, ở Vinogradov, Benveniste, Portie , W ierbicka , Kasevich v.v ơ Viột Nam, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Tuệ, đặc biệt Cao Xuân Hạo, cũng chủ trương một quan niêm rộng như thế Đương nhiên, đi vào chi tiết, giữa các tác giả nói chung và những tác giả đi theo hướng quan niệm rộng nói riêng sẽ có những
điểm cụ thể khác nhau Chẳng hạn, Vinogradov không xem hiện tượng phủ
định như m ột kiểu ý nghĩa tình thái Trong khi đó Frawley thì cho rằng :"Phủ
đinh có liên hệ trực tiếp đến tính thực hữu thông qua các khái niệm về sự sai lầm và bác bỏ, và như vậy tất nhiên phải nằm trong khuôn khổ tính tình thái"
[Frawley 1992, tr 384], Một số tác giả dứt khoát xếp thời vào phạm vi tình thái, một số khác trong khi xác nhận rằng thời gắn liền với tình thái, có mối quan hệ chạt chẽ với tình thái, vẫn chủ trương phân biệt, coi thời là một phạm trù riêng
Một số khác nữa thì chấp nhân có trình trạng nước đôi, chẳng han Lyons cho
rang có nhiều trường hợp việc sử dụng thỉ quá khứ và thì tương lai mang màu sắc tình thái tính hơn là thời tính Theo tác giả này, trong một số trường hợp thì
sự tình được dẫn chiếu trong tương lai, đối lập với sự tình được dẫn chiếu trong
quá khứ hoặc hiện tại, có thể mang màu sắc không chắc chắn hoặc, có thể nói, chỉ là một sự tình được mong chờ và phỏng đoán [Lyons 1995, tr 319] Sau
nhiều đắn đo, cân nhắc, cuối cùng tác giả cũng dè dặt để nghị " có thể xem xét thì (tense), bản thân nó, trước hết, là một vấn để thuộc tình thái" [Lyons 1995;
tr 333], Palmer cũng có thái độ tương tự khi cho rằng, ví dụ, "will và shall trong
tiếng Anh nên xem là các chỉ tố đánh dấu tình thái hơn là đánh dấu thời" [Palmer 1986; cr 8].?
' Đ ac biỏt, c ó tác gia uhư [-law lev, Chung và Tim berlake Iiháu m anh dếu bản chái i n í c c l ù củ a pham trù ùiih
thái, tức lừ xem tìiứi thái Iilnr mot liièn tượng trưc chì vé Iihãn thức (m odality as E pisteinic D eix is) Theo ho.
[ình [hái là cách m à ngòn ngữ mã lioá sư so s.íiih giũa hiên ilurc dượ c biê u tin (exp ressed world) với hiện thưc
/ U Y ih i e tt (Inference w orld), giữa ilie ,<«/7 ĩhưc nu (actual world) với ihẽ ẹ/ới phi thưc tai (nonactual world) và
như v;ly có thè xét đOn các clú éu kích đac ihù cùa các liitin cuơng trưc chi Iihư (lộ xa gáii (rem oteness) hườn"
( d i r e c t i o n ) Tác g i á lián VI (iu: Kill noi "John m a y g o " , n g ư ờ i nói c h i ra c ó mỏt k h oản2 c á c h 2 Ìữa thỏ giới ihưc
tai (liiổn tại) với m ột the giớ i phi thưc mi iv ie c (li của Jolui) c ó thó sẽ diẻn ra Kin nói "John m igli ịịo" tin cũiiụ
1 :
Trang 16Sư không thống nhất, đa dạng trong ý kiến, quan điếm cua các tác gia vè vấn
đề tình thái nảy sinh cả khi xác định cương vị tình thái của các ý nghĩa cu thế nào đó lẫn khi xác đinh cương vị tình thái của các kiểu ý nghĩa liên quan [à do nhiều nguyên nhân: cách hiểu các thuật ngữ theo những nghĩa rộng hẹp khác nhau, tính chất chuyển tiếp trung gian, nhiều mức độ của hiện tượng v.v Không thể đi vào chi tiết, chúng tôi chỉ xin nêu ra ở đây một sỏ' nét chính gấn với các nhân tố cơ bản tác động tới sự đa dạng trong quan niệm
a) Trong phạm vi những ý nghĩa liên quan đến mục đích phát ngôn, những tác giả chỉ chú ý những đối lập trong khuôn khổ ngữ pháp truyền thống, gắn với
các thức ngữ pháp, thường chỉ kể đến ba kiểu ý nghĩa được ngữ pháp hoá: trần
thuật, hỏi, cầu khiến Những tác giả vượt ra ngoài khuôn khổ đó, sẽ kể vào đấy tất cả các dang hành vi tại lời được thể hiện bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau, trước hết là các càu ngữ vi
b) Mối quan hệ giữa tính tình thái với người nói cũng có những mức độ khác
nhau, và do đó, hiểu theo nghĩa hẹp nhất thì những yếu tố tình thái trực tiếp gắn với chủ thể của hành động, trạng thái hay môi quan hệ của chủ thể với hành động, trạng thái (Nó muốn ăn cơm; 20 năm trước ôns có thể vác 100 kg hàng; Thằng bé buồn ngù v.v ) chỉ gắn với nsười nói một cách gián tiếp Do vậy,
nhiểu tác giả (chẳng hạn Bybee, gọi loai V nghĩa tinh thái nàv là tình thái hướng
tác f/ỉể(agent-oriented modality) coi đó là những vếu tố thuộc ngôn liệu, thuộc
nội dunơ mệnh đề chứ không phải là tình thái thưc thu [Bybee 1994, tr 177], Tuy nhiên, sư thể khôns hoàn toàn đơn giản như vậy khi chúng ta xem xét các động từ tình thái: Trong nhiều trường hợp, các độns từ tình thái lại được dùng với màu sác chu quan, sán với sư đánh giá, mong muôn hav áp đãt của chù thể
nói năns Chán? han, với phát nsòn: "Nó muốn ăn cơm", có thể khúc giải là
vơi m ọ t c á c h Iiluín ihứ c n h ư \ IV n h ư n g c ó sư k h á c biot vé k h o á n g c á c h và d o (ló, c ó s ư k h á c bi ồt vé m ứ c (lô c a m
kot cua ntiưừi noi ilòi wri kJi.1 mum xay ra >ư tinh (Viéc di cùa J o lu i): VỚI rnuy IISÌUÓÌ IIÓI till luơnụ hun v;i cam
lcét ờ m ư e j n o h ơ n c ò n với m i ạ h t thì m ứ c (lô c a m kẽt c ù a n g ư ờ i nói thãp h ơ n h a y n ó i c á c h k h á o , kill (ÌUIIQ
m ight na ười 1101 (lã làm jjiiun ihiéu III lie dỏ cain kci cua minh [Frawlev 1V92 Lr 3S7]
Trang 17người nói chỉ trình bày một cách khách quan trang thái tâm sinh lý của đối tượng được biểu thị bang đại từ "nó" Nhưng phát ngôn này cũng có thể được khúc giái như là đoán đinh của người nói đối với khả nâng xảy ra sự tình "Nó- ản-cơm", và câu này có thể khúc giải là: Theo đoán đinh của tôi, nó sẽ ãn cơm
nói miêu tả một cách khách quan tình thế tất yếu của việc đi gắn với chủ thể
của hành động, nhưng cũng có thể được hiểu như người nói "áp đặt", đề nghi hay mong muốn người nghe thực hiện hành động Tình hình tương tự cũng xảy
ra đối với hiện tượng phủ định Ta thấy ở đây tính chất không xác đinh về nội hàm của bản thân thuât ngữ mệnh đề trong lô gich học và ngôn ngữ học Hơn thế nữa, sự không rỗ ràng còn nảy sinh do thuật ngữ mệnh đề (proposition) được dùng trong sách vở ngôn ngữ học thường không có sự phàn biệt là nó
phán ánh một hành động nhận đinh (statement), có tính thời sự , cận cảnh (foreground) hay cho cả một sự tình được tiền giả định, đẩy lùi vào hậu cảnh (background)4 Nếu thuật ngữ mệnh để được dùns theo cả hai nghĩa thì các tiền
gia đinh (presupposition) cũns có thể được xem là tình thái, bởi vì nó giả định
một cam kết ngầm ấn của người nói đối với tính chân thực của một sự tình nào
đó ĩ~ [Givón 1993; tr 170]
c) Ảnh hường của truvển thống lô gich học cũng là một nhân tố quan trọng Nếu quan niệm tình thái chỉ là mối quan hệ của phát ngôn với hiện thực theo nơhĩa hẹp, ít nhiều sắn với quan điểm lô sich học thì tình thái sẽ chỉ bao £ổm những kiểu ý nshĩa có liên quan đến tính khả năng, tính tất yếu (bất kể nó thuộc phạm vi nhữnơ quan hệ hiện thực của thế giới khách quan, hay nhận thức, đao n hĩa), không phu thuộc vào naười nói, không phu thuộc vào nhận thức của
J v é thuật ngữ "ntènh d ể ”, C ao Xuàn Hao đã nhàn xét chí lý liu "t h át khỏna c ó thuật ngữ nào bát hanh hem"
|C i o X u An H ao 194 I : tr 201
M ènli dề trom: c;íc can phu (adverbial clauses! đươc bat đâu bơi B ecause , W h en In spile o f the fact thill
A lth o u g h S in ce W h ile đêu (lươc G ivon cho là ilươc liên £Ìà dinh cháii thưc, [ức thuộc vào cá c sư tình
Juơc DỊHrời nói ch o là tlnrc hữu ireaiis) G ivon 199?, ir 177]
Trang 18người nói và do đó, các kiếu V nghĩa khác (như khẩng định, phu định, mục đích phát ngôn) không được xem xét tới Trong khi đó, theo cách hiểu cúa Vinogradov, chẳng hạn, những mối quan hệ như vậy là rất đa dạng, hầu như bao hàm tất cả các kiểu ý nghĩa đã kể trên kia Các tác giả như V Gak ở bình diện cú pháp, chỉ nói tới các kiểu ý nghĩa tình thái thuộc phạm vi này Gak đưa
ra sơ đổ sau:
đạo nghĩa
bất buộc phải cho phép cấm đoán
ơ bình diện giao tiếp, ông kể đến những V nghĩa: kha nâng, tin cậy, hoài nghi, m ons muốn, khôns mong muốn [Gak B.1986, tr 115] Lyons [1977] cũng
có một quan điểm tương tự như vậv khi xem xét phạm trù tình thái.trong ngôn ngữ học
Để tổns kết lại mục này, chúns tôi chấp nhận quan niệm rộng về tình thái
Lý lẽ mà chúng tôi đưa ra là như sau:
1 K hôns nên quv các kiểu quan hệ tình thái trong n2ồn ngữ tư nhiên vào một số phạm trù của lô sich tình thái cổ điển Bởi lẽ các sư kiện ngôn ngữ phục
vu cho những nhu cáu rất đa dans của siao tiếp trons thưc tế khônơ chì bó hẹp trong một số kiểu tình thái khái quát Thèm nữa, nsav chính các nhà lò sich học cũng thừa nhàn, những kiểu tình thái của lò 2Ìch cổ điển là sư ơiới han cán thièt đè lò sich học khòng phai giai quyèt những nhiệm vu vượt ra ngoài khuòn khò quan tàm của lò gich học cò điên; và lý thuyết tình thái trong ló gich chưa
Tình thái
chân thực lô gich (aletique) tất yếu
có thể không thể
nhận thức
báo đám tin cậy (xác tín)
có tính xác xuất
bị gạt bỏ
Trang 19phải đã hoàn thiện Thưc vậy lô gich học ngày nay đã vươn sang những lĩnh vưc rộng hơn trước, chẳng hạn: các hành vi tai lời (trong lý thuyết các hành vi
ngòn ngữ), nghiên cứu thời, như là một nhánh của lô gich tình thái, nghiên cứu
các yếu tố chỉ thái độ mệnh đề và các dạng tình thái chủ quan gắn với chủ thể nói nâng nói chung v.v Nếu bó hẹp tính tình thái trong quan hệ của lô gich hình thức, người ta sẽ không thể miêu tả những hiện tượng mà ngôn ngữ học gọi là tiểu từ tình thái
2 Cũng không nên quy tình thái vào những kiểu phương tiện chi nằm trong
cơ cấu hình thái cú pháp (chẳng hạn, thức) Tình thái, đúng ra nên coi là một
phạm trù ngữ nghĩa chức năng rộng lớn, có thể được thể hiện bằng những phương tiện ngôn ngữ rất khác nhau, và do đó, trên quy mô tổng thể, không thể quy chúng vào một số thế đối lâp ngữ pháp theo nghĩa hẹp, với tư cách là phạm trù của cấu trúc cú pháp
3 Có điều chắc chắn là, ngay trong sự đối lâp nền tảng nhất, đối lập giữa tình thái và nội dung mệnh để, bản thân thuât ngữ chưa đủ xác định, và do đó,
có những cách hiểu rộng hẹp khác nhau Việc xác đinh khái niệm mệnh đề là một vấn để lý thuyết còn bỏ ngỏ Sư đối lập giữa hai bình diện này,, thể hiện rõ ràng nhất ở những bộ phận trực tiếp gắn với lâp trường, thái độ của người nói vào lúc nói, và do đó nhiều tác giả đã coi là trung tâm chũ V của tinh thái trong ngổn ngữ học Sự đối lập trở nên mờ nhạt nhất ở những kiểu ý nshĩa gắn với
mối quan hệ giữa chủ từ và vị từ (kiểu chủ thể muốn/định/thích làm gì )
4 P hàn loại các kiểu ý nghĩa thuộc phạm trù tình thái
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhữns cách phân loai khác nhau nhằm sắp xếp các kiếu tính tình thái vào một số phạm trù Phần lớn cách phân loai đó thực ra chi là một sư phàn loai trong khuôn khố một nhóm V nghĩa tình thái chứ khỏnự; phái là nhữns sư phàn loai bao quát toàn bộ các ý nghĩa tình thái hiểu rheo nghĩa rộng nhất cua pham trù nàv Châng han Jerpersen [1924] cho rảns phạm trù tình thái, với tư cách là một pham trù ngữ nghĩa (notional category) có
16
Trang 20thế được chia làm 2 tiểu pham trù, dưa trên tiêu chí có hay không có thành tố sư mong muốn (will) của người nói Hai tiểu loại này tương ứng với hai phạm trù tình thái đạo nghĩa (deontic) và nhận thức (epistemic), thuộc vào 4 thái (modes;
mà von W right [1951] đề nghị sau đây:
- thái khách quan lô gich (alethic modes), hay thái chân thực;
- thái nhận thức (epistemic modes), hay thái của sự hiểu biết;
- thái đạo nghĩa (deontic modes), hay thái của sự bắt buộc;
- thái tổn tại (existential modes), hay thái của sự hiện hữu [dẫn theo Palmer 1986; tr 10-11]
Những năm gần đây, cách phân chia các ý nghĩa tình thái thành ba phạm
trù: tình thái kììácỉì quan lô gich (alethic), tình thái nhận thức (epistemic) và tình thái đạo nghĩa (deontic) là cách phân loai khá phổ biến, được nhiều tác giả
nói tới Tình thái khách quan lô gich quan tâm đến tính chân thực tất yếu hay ngẫu nhiên của mệnh để Có những mệnh đề tất yếu chân thực hay tất yếu sai lầm (phán đoán tất yếu) Có những mệnh để mà tính chân thưc chỉ thể hiện ở một xác suất nào đó, có điều kiện (phán đoán khả nãng) Tất cả phán đoán cất
yếu đều mang tính khả nãng (tức là tất yếu p kéo theo khả năng P: nec p - +
poss P), nhưng điểu ngược lại thì không đúng [Lyons 1977; tr 791] Tinh thái
nhộn thức chỉ ra vi t h ế {status) hiểu biết của nsười nói, bao gồm cả sự xác nhận
cũng như những đảm bảo cá nhân của người nói đối với điều anh ta nói ra Tình thái đạo nghĩa liên quan đến tính hợp thức về đạo đức hay các chuẩn mực xã hội khác đối với hành động do một người nào đó hay chính nơười nói thực hiện [Palmer 1986; tr 51 96], [Lvons 1977; tr 823] Tuy nhiên, cách phân chia này thực ra chi nhằm vào một số kiểu ý nghĩa tình thái mà thôi Một số thế đối lập chung hơn, chảns han, sự phân biệt tình thái khách quan và tình thái chủ quan, giữa tình thái hành độ n s phát ngôn và lời phát nsòn xem ra có sức bao quát hơn Sons cũ n s khỏnơ phái là dẻ dàng phân biệt và nội dung phân biệt cũng khònsỉ thòng nhất giữa các tác giá Chảng hạn, phàn lớn tác siá cho ráng sự
Trang 21phân biệt tình thái khách quan và tình thái chu quan là ở chỗ tình thái khách quan (hay tình thái lô gich) loại trừ vai trò của người nói, còn tình thái chủ quan (hay tình thái ngôn ngữ) lại thể hiện vai trò của người nói (đánh giá, cam kết, bày tỏ mục đích) đối với điều được nói ra Tuy nhiên, sự phân biệt này không phải là đã có sức thuyết phục Xét phát ngôn: "Mẹ nó nói nó ốm", thoạt nhìn thì dường như người nói không bày tỏ thái độ chủ quan nào về sự tình "Nó-ốm", cụ thể là người nói không cam kết gì về tính chân thực của sự tình này cả, chỉ trình bày sự tình qua nguồn chứng cứ là "mẹ nó nói" Tuy nhiên, nếu xét kỷ thì sự không cam kết cũng là một dạng cam kết Và như vậy, ngữ đoạn "mẹ nó nói" cũng có giá trị tương đương với các quán ngừ biểu thị tình thái như "nghe đâu",
"nghe nói", "nghe đồn" và xa hơn nữa "có lẽ", "có thể" Đó là chưa tính đến
sư thể là các thuật ngữ tình thái khách quan/chủ quan còn được một số tác giả
sử dụng khác với cách hiểu thông thường Chẳng hạn, các nhà ngữ học thuộc nhóm Ngữ pháp Chức năng Hà Lan đã đồng tình với Hengeveld khi phân biệt 3
pham trù tình thái: tình thái nội tai (inherent modality), tình thái khách quan (objective modality), tình thái chủ quan (subjective modality) Trong đó, tình
thái nội tai xác định quan hộ giữa một tham tố của sự tình với việc hiện thực hoá sự tình đó, thể hiện ở năng lực hoặc ý muốn của tham tố đó trong việc thực hiện hành động được nêu trong sư tình Tinh thái khách quan thể hiện sự đánh giá về tính có thực (the actuality) của sự tình và gồm có hai tiểu loại: nhận thức
và đạo nghĩa, mỗi loại đều được biểu hiện trên một thang độ, từ chắc chấn đến
không thể’ từ bắt buộc đến cấm đoán Tình thái chủ quan lại biểu thị cam kết có
tính cá nhân của người nói về tính chân thực của sự tình, thể hiện qua những băng chứng (suy luận, trải nghiệm, trích dẫn, nghe cường thuật ) [Dik 1989; tr 205-206], [Siewierska 1991: t r l 24-125]- Rõ ràng là thuật ngữ tình thái khách
Trang 22quan mà Hengeveld, Dik và Siewierska sừ dụng bao gồm cả nhữrig nội dung vốn vản được phần lớn các tác giả khác xem là thuộc tình thái chủ quanù.
Có thể thấy, như Benveniste và các tác giả khác từng phát biểu, thật khó mà
có được một cách pham trù hoá rạch ròi, bao quát và triệt để cho rinh vực tình thái Điều này là dễ hiểu Các biểu hiện của tính tình thái là rất đa dạng, phạm
vi của nó, đối với ngôn ngữ học, cũng chưa hoàn toàn xác đinh, các ý nghĩa tình thái, như đã nói, đan bện vào nhau làm thành một phổ đa sắc không dễ gì chia cắt thành những ô, những bình diện rạch ròi Nhiều khi trong bảng phân loại,
dù mới chỉ là một bộ phận mà các tác giả để xuất, một kiểu ý nghĩa có thể đổng thời tham gia vào nhiều ô, nhiều bình diện khác nhau Thèm nữa, nhiều khi không dễ gì có thể phân biệt được chính xác các tiêu chí đề xuất Thành thử, chẳng hạn cùng nói đến tình thái nhận thức, mà các tác giả khác nhau có thể hiểu theo những cách khác nhau, cùng một hiện tượng, cùng chấp nhận một cách phân loại mà tác giả này xếp vào ô này, tác giả khác xếp vào ô khác Có những sự phần biệt mà nhà nghiên cứu đưa ra, nhưng rồi liền sau đó, lại phải nói rằng nó chi có tính lý thuyết mà thôi Chảng hạn, J Lyons từng cho ràng:
"Về lý thuyết, có thể phân biệt hai kiểu tình thái nhân thức: tình thái nhận thức khách quan và tĩnh thái nhận thức chủ quan Đó không phải là một sự phân biệt
mà người ta có thể thiết lập rõ ràng trong sử dụng ngôn ngữ hàng ngày, và cương vị nhận thức luận của sự phân biệt đó, ít ra cũng là không chắc chắn Cũng khó mà thiết lập được một sự phân biệt rõ ràng giữa cái mà người ta gọi là tình thái nhận thức khách quan (modalité epistemique objective) và tình thái khách quan lô gich (modalité alétique) [Lyons 1977; tr 416],
n Palm er c h o r;ui'j n é n nèu t h è m Idiái Iiiỏm tình thái d y n a m ic bèn canh cnp khái nièm tình [hái nhân thức
(ep istem ic m od ality) ' à tình thái (lao nghía (d eom ie m odality) Tình thái d y n a m i c "liên quan đến năng lưc hay
k ha /lũ/iỊỊ c ó d ư ợ c" ciia chủ ihẻ troiiìỊ viẹc ihưc hiện hành d ộ n s [Pakner 1986; ir 102], Khái lúệin tình thái ntjnih cua Palm er ph;'ui lù o s-iong khái mèm tình thái h àn (Vlã! cùa H en aeveld và tình thái hướnu lác thé'
( a n e n t - o n e n t e d m o d a l i t y ) CUÍI l ỉy b e e [B y b e e 1 9 94; tr 177]
19
Trang 23Những những nãm 70 trở lại đây, hướng phàn loại các kiểu tính ùnh thái theo quan điểm phát ngôn và hành động phát ngôn được nhiều tác giả khai thác, chẳng hạn A M eunier (1974); Kerbat-Orecchioni (1980); Cao Xuân Hạo (1991)
Trong tiếng Việt, sự phân biệt của Cao Xuân Hạo là như sau:
Trước hết, phân biệt hai thứ tình thái khác nhau về bình diện: tình thái của hành động phát ngôn (modalité d'enonciation) và tình thái của lời phát ngôn (modalité d'énoncé) Tình thái của hành động phát ngôn phân biệt các lời về phương diện mục tiêu và tác dụng của giao tế, bao gồm sự phân biệt giữa các loại câu trần thuật, hỏi, cầu khiến vốn được ngữ pháp hoá trong hầu hết các thứ tiếng và được ngữ pháp truyền thống miêu tả; những câu có giá trị ngôn trung (hay tại lời) được đánh dấu: câu xác nhận, câu phản bác, câu ngôn hành Tình thái của hành động ngôn trung thuộc lĩnh vực dụng pháp Tình thái của lời phát ngôn thuộc nội dung được truyển đạt hay được yêu cầu truyển đạt (trong câu trần thuật hay câu hỏi) Nó có liên quan đến thái độ của người nói đối với điểu mình nói ra, hoặc đến quan hệ giữa sở để và sở thuyết của mệnh đề Đó là một phần quan trọng của bình diện nghĩa học
Tinh thái của lời phát ngôn (trong câu trần thuật) phân ra làm hai loại: 1) tình thái của câu và 2) tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân
Tình thái của câu nói phản ánh thái độ của người nói đối với điều mình nói
ra, cách người nói đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, giới hạn của
tính hiện thực (trong thời gian, chẳng hạn, phạm trù thi), mức độ của tính xác
thực, của tính tất vếu (khách quan hay đạo lý), tính khả năng (vật chất hay tinh thần), tính chất đáng mong muốn hay đáng tiếc của điểu được thông báo
Tinh thái của cấu trúc vị nsữ hat nhân (modalité de la predication) phản ánh nhữns dang thức cua hành động, quá trình, trạng thái hay tính chất do phần thuyết biểu thị (kéo dài/khòns kéo dài, bát đầu/kết thúc) v.v thườns đươc aoi
là những đãc trưng về thể Nếu VỊ ngữ cùa câu có chú thể thì tính thái phan ánh
20
Trang 24mối quan hệ của chủ thể (tham tố thứ nhất) đối với tính hiện thực, tính tất yếu tính kha năng của hành động, quá trình, trạng thái hay tính chất do vị ngữ hạt nhân của phân thuyết biểu đạt (chẳne hạn, có V muốn, có ý định làm, có đủ can đám hay tàn nhẫn để làm, mức độ của trạng thái, tính chất mà chủ thể thể hiện hay có được v.v ) Những lối nói cầu khiến trong tiếng Việt như:" Làm đi!",
"Hãy mở cửa!", liên quan đến các yếu tố hãỵ, đi cũng được ông xếp vào tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân (?)
Tình thái của câu có thể được biểu thị bằng những khởi ngữ như có lẽ, tất
nhiên, những cấu trúc chủ vị hay để thuyết có "tôi" làm chủ thể của một vị từ có
nghĩa "nhân thức", bằng trợ từ tình thái đăt trong hay ngoài ngữ đoạn vị từ Tinh thái của cấu trúc đề thuyết cũng được biểu thị bằng những phương tiện nêu trên " [Cao Xuân Hao 1991; tr 50-51]
Vế những nội dung cơ ban, chúng tôi chấp nhận những sư phân biẻt mà Cao Xuân Hao để xuất Tuy nhiên, chúng tôi thấv cần có những bổ sung và điều chinh sau đây:
tac giả sau này như Ducrot, Todorov, Searle, Kerbrat-Orcchioni ' thuât ngữ
"hành động phát ngôn" thường được hiểu như là hành động của naười nói, sử dụng ngôn ngữ vào lúc mà anh ta nói, và kết quả của nó là sản sinh ra phát ngôn Các đặc tính cơ bản cùa hành độns phát nsôn mà người nói thể hiện được phán ánh vào phát ngôn nhờ một bộ máy những công cụ, những chi dẫn thuộc
pham vi ngữ duns, nhữns shifter, theo cách sọi của Jakobson (trước hết, đó là
các phương tiện tình thái 2ắn với cái tôi cúa nơười nói chỉ ra mục đích, ý đồ
cùa anh ta, thái độ đánh siá cúa anh ta đối với những điều anh ta nói ra với người đối thoai, với khổng sian thời gian siao tiếp v.v ) Và do đó tất cả các ý nghĩa săn với người nói vào lúc anh ta phát ngòn đểu là thuộc hành động phát n2òn xác đinh đăc tính cua hành động phát ngón Theo truyền thòns đó, chúnơ tòi sẽ xếp vào tình thái cua hành động phdt nsòn: a) nhữns kiểu muc đích phát
Trang 25ngôn được ngữ pháp hoá, được thể hiện bằng các phương tiện ngữ pháp cũng
như các kiếu càu ngôn hành v.v và gọi đây là tình thái tại lời (modalité
illocutoire) và b) tất cả những ý nghĩa tình thái liên quan đến thái độ, cách đánh giá của người nói đối với điều anh ta nói ra (tức là bộ phận tình thái cúa câu nói, theo cách gọi của Cao Xuân Hạo) Hay nói theo cách nói của Hare, đó là những ý nghĩa thể hiện những sự cam kết của người nói đối với hành vi tại lời
Cả hai bộ phận ý nghĩa trên đây, trực tiếp gắn phát ngôn với cái tôi chủ thể, chủ quan của người nói với ngữ cảnh giao tiếp, với sự tương tác liên chủ thể và
do đó, đó là những kiểu ý nghĩa ngữ dụng và đểu thuộc phạm vi nghiên cứu của ngữ dụng (chứ không phải chỉ tình thái tại lời như hỏi, yêu cầu, tuyên bố mới
thuộc dung học) Chúng tôi gọi chung những loại ý nghĩa tình thái này là tình
thái chủ quan.
Những kiểu ý nghĩa tình thái, mà Cao Xuân Hạo xếp vào tình thái của lõi vị
ngữ, phản ánh đăc trưng mang tính bẩn th ể (ontologie) của hành động, trạng
thái, tính chất (bắt đầu/kết thúc, kéo dài/khỏng kéo dài) hay mối quan hệ của chủ thể đối với hành động, tính chất, trạng thái do vị ngữ hạt nhân biểu thị (ví
du, chủ thê muốn, có ỷ định, có khả năng thực hiện hành động, mức độ của tính chất, trạng thái mà chú thể mang trong bản thân), chúng tôi sẽ gọi là tình
thái của sự tình được truyền đạt, bởi vì chúng được thể hiện như những thuộc
tính của sư tình khách quan Chính bộ phận này của tình thái, mà người nói đơn
thuần truvển đat lai, có thể sọi là tình thái khách quan và về cơ bản nằm ở bình
diện nghĩa học Không phải ngdu nhiên mà nhữna V nghĩa như vậy thường được coi là vẫn nằm bèn trong nội dung mênh để, thuộc bình diện miêu tả, và được gọi là tình thái bản thể, tình thái miêu tà, tình thái bèn trong, tình 'thái của sự vật, của đối rư ơn 2 Có thể tóm tắt sự phân biệt hai loại tình thái mà chúng tôi vừa để nghị như sau:
Trang 26T ình thái của hành dông phát ngôn
Tình thái của sự tình dược ph ả n ánh
-Tinh thái tại lời (tình thái hành động tại lời): hỏi, yêu cầu, khẳng
định, bác bỏ
-Tình thái của lời được phát ngôn, xác đinh đặc trưng của hành động tại
lời, dưới hình thức những cam kết,
những đánh giá, những thái độ của
người nói đối với đối với những gì mà
anh ta nói ra
Phản ánh bình diện chủ quan của ngôn ngữ, phản ánh hoàn cảnh giao
tiếp
- phản ánh trực tiếp thuộc tính của hoàn cảnh, sự vật
Phản ánh hoàn cảnh, sự vật dưới góc độ bản thể
Theo chúng tôi, xếp những tình thái thuộc chủ thể nói vào một bậc với những tình thái thuộc quan hệ giữa chủ từ và vị từ là không hợp lý So sánh:
(A) Tôi tin rằng, nó ốm
Có lẽ, nó ốm
Tôi có tiền cơ mà
Họ diễn chèo âv mà
(B) Nó muốn đi chơi
Nó tiếp tục đọc sách
Nó đang ăn cơm
Nó định phát biểu
Trang 27Mẹ đánh cho ấy chứ Hổi ấy òng có thể nàng được bao hàng
100kg
Các tình thái ở nhóm A, cùng với các tình thái về mục đích nói (hỏi, khuyến lệnh ) đều thuộc phạm vi quan điểm, thái độ, ý chí, mong muốn của người nói đối với điểu nói ra, vào lúc và nơi phát ngôn, nghĩa là thuộc phạm vi chủ quan của người nói Trong khi đó, các tình thái ở nhóm (B) chỉ liên quan đến người nói một cách gián tiếp; nó thuộc về bản thân những quan hệ của thế giới khách quan, nằm ở bình diện nhận định, trần thuật
2 Do đó, các tình thái ở nhóm (A) rõ ràng tham gia trực tiếp vào hành động phát ngôn của người nói, xác đinh những đặc tính của hành động phát ngôn mà người nói thực hiện khi nói (trong khi tình thái ở nhóm (B) không có cương vị như vậy) Trong nhiều trường hợp, các tình thái ở nhóm (A) có thể là một chỉ
Khi nói "Hình như là, nó đi", tôi không chỉ đơn thuần đánh giá nội dung mệnh đề của phát ngôn là chưa đảm bảo chân thực; tồi còn thể hiện chính cái hành động phát ngôn của tôi, như là một đoán định, phỏng đoán, và chính tôi đang thực hiện hành vi phỏng đoán Nói: "Nó đi rổi cơ mà!", tôi không chỉ thực hiện một sự thông báo, mà đổng thời chỉ rõ những đặc tính của sự thông báo đó: tôi thông báo với anh một điều đã được tôi đảm bảo là chân thực (tính chân thưc đã được tiền siả định), và tồi phát ngôn là còn với ý đổ gạt bỏ một điều lầm tưởng ở anh, hay đòi hỏi ở anh một sự giải đáp thắc mắc, mâu thuẫn hay điều chỉnh lại quan niệm, thái độ, niềm tin của anh Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà Hare xác định những ý nghĩa tình thái loại này là "chỉ hiệu của sự cam kết cùa người nói đối với hành động nsôn ngữ đang được thực hiện" [dẫn theo Lvons 1977, tr 749 ]
Trang 28Nhân thế cũng nói [hèm chúng tòi lchòng cho ráng, trong nhữnơ lòi nói
kiểu: ''Hãy làm đi!", ''Anh ãn đi một chút!", có thể xét hãv, đi trong pham vi
tình thái thuộc khung vị từ Bởi lẽ chủ thể tình thái ở đây là nsười nói, và những yếu tố đang xét thể hiện V chí, mong muốn chủ quan của người nói chứ không phải là của chủ thể của trạng thái hay hành động được nói tới trong mệnh đề (như trong "Nam muốn ăn", "Nam đinh ăn một chút")
Cách phân định của Cao Xuân Hạo cũng khiến ta bán khoăn, vì sao khi nói tới sự phân định giữa "tình thái của câu" và tình thái của vị ngữ hạt nhân, ông chỉ nói rằng "đối với câu trần thuật" thì sự phân định là như thế Vậy trong các kiểu câu khác, sự phân định đó có hiệu lưc hay không?
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, sự phân biệt giữa những ý nghĩa tình thái thuộc phạm vi người nói (tình thái của hành động phát ngôn) và tĩnh thái của sư tình được phản ánh, đúng như Cao Xuân Hao và một số nhà nghiên cứu khác đã nhận xét, có thể gặp những trường hợp gây mơ hổ, cho phép hiểu nước đôi Điểu đó thường đặc biệt hay xảy ra với những vếu tố liên quan đến tính khả nãng, tất yếu mà vị trí xuất hiện của chúng, xét vé măt ngữ đoan, là nãm giữa
chù từ và vị từ (kiểu như có thể phải) Ví dụ:
(1) Anh ta có th ể làm việc đó.
(2) Anh phải ở nhà.
Phát ngôn (1) có thè hiếu như là một đoán định của nsười nói, có thế khúc ơiai như sau: với một xác suất nào đó, tôi nghĩ rằng điều được nêu trong nội dung mệnh đề (Anh ta làm việc đó) là chân thưc; hoặc (1) có thể hiểu như là mòt đánh giá về tính đao lv cùa hành động, có thể khúc giải là: tôi nshĩ rằng
anh ta được phép làm việc đó: hoác (1) có thể hiểu chì là sư xác nhàn của nsười
noi vể khá nănơ (ability) làm của chú thế được nói đến trong càu Phát ngòn (2)
có thế thế hiếu như là sư ép buộc, áp đạt, chẳng han, xét theo khía canh đao nshĩa (deontic) của nsười nói đòi vơi chu thế được nói đến tron2 cảu nhữns
c ũ n s c ó t h ế đ ư ợ c h i ế u n h ư SU' m i è u ta m o t t r ạ n ơ t h á i bị é p b u ò c m a n s t í n h
Trang 29khách quan "phải ớ nhà" cúa chủ thể được nói đến trong câu Tuy nhiên nếu những yếu tố biểu thị tình thái đang xét không nằm giữa chủ từ và vị từ thì tình trạng mơ hồ, có thể hiểu nước đôi sẽ không xảy ra Chẳng hạn, phát ngôn: "Có thể anh ta làm việc đó" chỉ có thể hiểu như là m ột đoán đinh của người nói vể khả năng chân thực của mệnh đề "Anh ta-làm-việc đó" Một vài nhân tố ngữ nghĩa khác cũng có thể góp phần làm triệt tiêu tính mơ hổ, chẳng hạn có những
từ tình thái trong câu khẳng đinh biểu thị sự đánh giá của người nói về hành động được nói đến trong câu (đánh giá mang tính đạo nghĩa, thuộc tình thái của hành động phát ngôn), nhưng trong câu phủ đinh lại biéu thị thái độ, trạng thái tâm lý cúa chủ thể được nói đến trong câu (tường thuật khách quan, thuộc tình thái của sự tình được phản ánh) Hay có những vị từ tình thái, khi chủ thể là người hay động vật [+ animal] thì biểu thị thái độ, trạng thái tâm lý của chủ thể (tường thuật khách quan, thuộc tình thái của sự tình được phản ánh), nhưng kni chủ thể là bất động vật [- animal] thì lại biểu thị sự phỏng đoán, cách đánh giá của người nói (phỏng đoán hay đánh giá mang tính nhận thức, thuộc tình thái của hành động phát ngôn)7
Đối với cac tiểu từ tình thái mà chúng ta nghiên cứu, chủ thể của đánh giá tình thái luôn thuộc về nsười nói (hoặc vể chủ ngồn, khi người nói người nói tường thuật lại toàn bộ nội dung phát ngôn và hành động phát ngôn của chủ
Mày đi à?/ Nó hỏi tôi: mày đi à?
Mày đi chứ?/ Nó bảo tồi: mày đi đi chứ!
Mua những 5 kg táo cơ! / Nó giao hẹn với tôi: đúng thứ 5 đấy nhé, nhớ nhé!
' C a o XuAn H a o (lã dản ra m ỏ t số ví du lý thú vé Iihững trường hợp này So sánh:
la Ih e m à nó nỡ bó thang be m ột m ình,
l b N ó k h ỏ i i ” I 1 Ỡ b ò t h a n g be m ó t m ìn h
2a Mo m u ô n h o c n u o i i Iiiũr lioc.
2 b c'át g h è n à v m u ỏ n Lỉiĩv ciổn nơi.
['rời IT1UÓI1 mim |('a o Xuàn Hao 1991: tr 52]
26
Trang 30Chương 2
J ơ tA i n ìỉm tíẨu từ tin h th ú i <1)01 nét k h á i q iiú t ơẦ a i tr í
(tủn I%íín đ ê tiê u l í t tijn h th ú i ht&ttẨỊ tuỊjà*L nẨỊĨL hơe txà ^Ỉ)ÌỀÍ
n ạ ữ h ọe
1 Khái niệm tiểu từ tinh thái
ơ các chương trước, chúng tôi đã sử dụng thuật ngữ tiểu từ tình thái để chỉ các đơn vị từ vựng làm thành đối tượng nghiên cứu của công trình này mà chưa
có một sự xác đinh chính thức nào về nội dung thuật ngữ Nhiệm vụ của phần này là trình bày vể vấn đề đó
1.1 -Trong các tài liệu nước ngoài mà chúng tôi có dịp tham khảo, lớp từ có những thuộc tính tương tự với phạm vi đối tượng khảo sát của công trình này thường được chỉ bằng m ột thuật ngữ mà ta quen dịch là tiểu từ, trợ từ (tiếng
Nga.-ỳacĩUlỢ*' • tiếng Anh: particle; tiếng Pháp: particule).
Tuy nhiên, thuật ngữ tiểu từ (hay trợ từ) trong truyền thống ngôn ngữ học chãu Âu vốn có nhiều nghĩa khác nhau Lớp từ vừa nêu chỉ tương ứng với một nghĩa của thuật ngữ này Theo những tổng kết của Nicolaeva, trong một chuyên luân của bà dành cho một bộ phân tiểu từ tiếng Nffa thì ít nhất thuật ngữ này đã
có tới 4 nghĩa sau đây:
Theo nghĩa thứ nhất, hiện nay đã được coi là phản ánh một cách quan niệm
cũ, là để chỉ một lớp rộng lớn các hư từ, đối lập với các thực từ
Theo nghĩa thứ hai, thuật ngữ tiểu từ chỉ các thành tố không biến đổi, về thưc chất không tổn tại với cư cách là từ mà được ghép vào các từ thực để cấu tao một hình thái ngữ pháp, do đó, cũng còn được ơọi là các tiểu từ cấu tạo hình thái Trong tiếng Nga, đó là các yêu tố n h ư
Theo nshĩa thứ ba thuãt nsữ tiếu từ 2ãn với truyền thông nghiên cứu các nsòn ngữ cổ (như tiếng La Tinh, tiếna Hv Lap, tiếnơ Sanskrit ) và chủ vếu
Trang 31Cuốn sách bán được có mòi một đồng bac!/Nó phàn nàn với tồi: cuôn sach bán được có mỗi m ột đổng bạc!
27
Trang 32Chương 2
DCSiái n iẻ m tiẨuL từ tìn h th á i r()ỉù n é t k ítá i (ỊX iát ỉĩè I%i t r í
c ủ a iMiẦi, đê tiẤiL từ tin h , th ú i tr&nẨỊ, nẨặòẽi njạữ h ở e íiír ^ O iỉi
I t ạ ũ ' Uởe.
I Khái niệm ứểu từ tình thái
ớ các chương trước, chúng tôi đã sử dụng thuật ngữ tiểu từ tình thái để chỉ các đơn vị từ vựng làm thành đối tượng nghiên cứu của công trình này mà chưa
có một sự xác đinh chính thức nào về nội dung thuật ngữ Nhiệm vụ của phần này là trình bày vể vấn đề đó
1.1.Trong các tài liệu nước ngoài mà chúng tôi có dịp tham khảo, lớp từ có những thuộc tính tương tự với phạm vi đối tượng khảo sát của công trình này thường được chỉ bằng một thuật ngữ mà ta quen dịch là tiểu từ, trợ từ (tiếng Ngaityđốí/MV**'; tiếng Anh: particle; tiếng Pháp: particule)
Tuy nhiên, thuật ngữ tiểu từ (hay trợ từ) trong truyén thống ngôn ngữ học châu Âu vốn có nhiều nghĩa khác nhau Lớp từ vừa nêu chỉ tương ứng với một nghĩa của thuật ngữ này Theo những tổng kết của Nicolaeva, trong một chuyên luân của bà dành cho một bộ phân tiểu từ tiếng Nsa thì ít nhất thuật ngữ này đã
có tới 4 nghĩa sau đây:
Theo nghĩa thứ nhất, hiện nay đã được coi là phản ánh một cách quan niệm
cũ, là để chỉ một lớp rộng lớn các hư từ, đối lập với các thực từ
Theo nghĩa thứ hai, thuật ngữ tiểu từ chỉ các thành tố không biến đổi, về thực chất không tổn tại với tư cách là từ mà được ghép vào các từ thực để cấu tạo một hình thái ngữ pháp, do đó, cũng còn được gọi là các tiểu từ cấu tạo hình thái Trong tiêng Nga, đó là các yêu tô n h ư
Theo nghĩa thứ ba, thuật ngữ tiếu từ gán với truyền thống nghiên cứu các nsòn ngữ cổ (như tiêng La Tinh, tiêng Hy Lap, tiêng Sanskrit ) và chú yếu
28
Trang 33dùng để chỉ các kết tố (connector) mà nhiều tác giả cho là đúng ra nèn gọi là liên từ.
Theo nghĩa thứ tư và là nghĩa phổ biến hiện nay, tiểu từ là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ những đơn vị ngôn ngữ được sử dụng để truyền đạt những đặc trưng tinh thái-giao tiếp đa dạng của thông báo, kiểu như những tiểu từ của tiếng Nga
Để chính xác hoá thêm, tránh sự mơ hồ lầm lẫn, lớp từ tương ứng với nghĩa thứ tư còn được gọi bằng những tên gọi khác: tiểu từ nhấn manh, tiểu từ biểu cảm, tiểu từ tình thái Cũng theo Nicolaeva, tổng kết những biến đổi trong cách gọi tên lớp từ này trong thời kỳ từ 1901 đến 1977, ở Đức đã lần lượt có các thuật ngữ sau:
Flich worter (1); Erlebnis worter (2); Fullworter (3); Farbeworer (4);
M odaworter (5); M odalverbien (6); Partikeln (7); Rangverleihende Parikeln (8); Kommunikative Partikeln (9); Satz Parikeln (10); Emotional-Expressive Parikeln (11); Abtonparikeln (12); Aptonungsparikeln (13); Modalpartikeln (14)
1.2.Trong tiếng Việt, các đơn vị thuộc phạm vi chúng tôi quan tâm cũngđược các tác giả khác nhau gọi bầng những tên gọi khác nhau, được tách riêng
ra hay được gộp chung vào những lớp từ rộng hẹp khác nhau
Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê sử dụng thuật ngữ trợ từ và xếp vào
đây những từ như: à, ư, nhỉ, nhé, hở, chăng, ngay, chính, cả , những thán từ như: ái, ôi, ô hô và cả những tiếng chỉ dùng để thêm vào cho khỏi lỡ nhịp câu hát như: í a, ì a Nói chung, đó là những tiếng không có thực nghĩa hay đã mất thực nghĩa và dùng trong câu nói không có chức vụ ngữ pháp nào, chức năng của chúng là để giúp lời nói ý nhi, mạnh mẽ, linh hoạt thêm hoặc cho lời nói khỏi cuc càn, cộc lốc [1963, tr 180],
Thuật ngữ trợ từ ớ hai tác giả này như vậy, vể đại thể, tương đương với thuật
ngữ tình thái từ của Đinh Văn Đức Ý nghĩa chung của lớp từ này là diễn đạc
mối quan hệ giữa người nói và thực cai trong các phát ngôn có tính thônơ báo
29
Trang 34(câu) [1986, tr 188], Đó là các từ như :à, ư, nhi, nhé, a a, ấy, với, hờ, ha chứ, sao, chăng, mà, kia, cơ ; ngay, chính, cả, than ôi, hỡi ôi, chao ôi Trong phạm
vi tiểu từ, tác giả phân biệt hai tiểu loại là các tiểu từ và các trợ từ
Nguyễn Anh Quế tuy sừ dụng thuật ngữ hơi khác, là “hư từ phụ trự ', song
nội dung quan niệm vể cơ bản cũng giống như trợ từ của Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê và tình thái từ của Đinh Văn Đức ở đây, các “hư từ phụ trợ” được phân thành các từ phụ trợ cho một từ trong đoản ngữ hoặc trong câu (như ngay, chính, cả) và các từ phụ trợ cho cả cấu trúc để dạng thức hoá, để nêu tình thái (à, ư, nhỉ, nhé, ô, ôi ) [1988, tr 216]
Một số tác giả khác tách thán từ thành một loại riêng, và do đó, các thuật ngữ “ trợ từ” , “ngữ khí từ” , ‘tiểu từ” mà họ sử dụng về cơ bản là có nội dung trùng nhau và không bao hàm các thán từ như nhóm tác giả vừa nêu trên Chẳng han, các tác giả Từ điển tiếng Việt sử dung thuật ngữ trợ từ và đinh nghĩa đó là lớp từ biểu thị thái độ, không làm phần để, phần thuyết của nòng cốt câu: cũng không làm chính tố, phu tố của ngữ Đó là yếu tố được gia thèm vào cho câu để biểu thị sự ngạc nhiên, vui mừng, lễ phép hay sự khảng đinh đặc biệt Theo đó, trợ từ bao gồm những đơn vị mà điển hình là: à, ư, nhỉ, nhé, chính, cả, ngay, chứ, cơ chăng, cơ mà Pham Hùng Việt cũng dựa trên quan niệm đó [tham khảo thêm: Nguyễn Kim Thản 1964, phần ngữ khí từ, Nguyễn Tài c ẩ n (chủ biên) 1975, phần tiểu từ tình thái v.v ]
Hẹp hơn nữa, là những tác giả gạt ra khỏi danh sách, không chỉ các thán từ,
mà cả các từ thường được gọi là “ tiểu từ nhấn mạnh”, ‘‘trợ từ nhấn mạnh" [xem khái niệm tiểu từ câu của Glêbôva 1976 , tiểu từ tình thái của Phan Mạnh Hùng 1982],
Trờ lên trên là một vài nét sơ lược, cốt để hình dung những hướnơ quan niệm chính của các nhà nshièn cứu cũng như sự đa dạng của các thuật nsữ được dùnơ Đi sàn vào chi tiết, giữa các tác giá có thê còn có nhữna nét khac bièt cu thế nữa sons sư quá chi tiết ấy cũns khòna thât càn thiết
Trang 351.3.Trong công trình này, chúng tôi về cơ bản theo hướng thứ nhất với một vài điều chinh nêng Chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ “tiểu từ tình thái” để trỏ :hung những từ kiểu như à, ư, nhỉ, nhé, ngay, chính, cả, những, nào v.v nghĩa
Là, tách thán từ ra một nhóm riêng Các thán từ và tiểu từ và tiểu từ tình thái cùng nằm trong 1 từ loại mà người ta có thể lựa chọn cho nó một tên gọi nào đó thích hợp hơn, hoặc dùng lại thuật ngữ đã được các tác giả trên đề xuất (như tình thái từ, của Đinh Văn Đức)-câu chuyện thuật ngữ này, chúng tôi sẽ không bàn thêm ở đây để tập trung vào phạm vi đối tượng mà chúng tôi quan tâm (các tiểu từ tình thái)
Chúng tôi chấp nhận thuật ngữ tiểu từ tình thái vì mấy lẽ: thứ nhất, như đã
thấy, đây là thuật ngữ đã trở nên quen thuộc, phổ biến trong các tài liệu nghiên
cứu gần đây; thứ hai, nó tránh được sư đa nghĩa của các thuật ngữ như trợ từ,
tiểu từ\ thứ ba, nó tránh được tình trạng thiếu khái quát của các thuật ngữ như ngữ khí từ, tiểu từ biểu cảm, tiểu từ nhấn mạnh đồng thời xác đinh được rõ
hơn vị trí, mối liên hộ của hiện tượng ngôn ngữ này với phạm trù rộng lớn hơn: phạm trù tính tình thái của ngôn ngữ
Trong quan niệm mà chúng tôi chấp nhận, tiểu từ tình thái là lớp từ mang những đặc trưng cơ bản sau đây:
a.Không có nội dung miêu tả, không làm chức năng định danh mà biểu hiện ihửng đặc trưng tình thái chủ quan thuộc hành động phát ngôn
b.Không đóng vai trò là thành phần đoản ngữ, cũng không đóng vai trò :hành phần câu hiểu theo nshĩa hẹp, nghĩa truyền thống của thuật ngữ này (tức ihững chức năng cú pháp như chủ ngữ/vị ngữ hay đề/thuyết, trạng ngữ .), chôns phải là yếu tố biểu hiện các quan hệ ngữ pháp theo cách hiểu truvền hông
c.Không độc lập làm thành phát ngôn tỉnh lược thành phần
d.Không có khá nãn2 làm thành cảu độc lâp Itừ-cău) với tính cách là phản
mg trở lại một kích thích phi ngôn ngữ
Trang 36e.Có thể lược bỏ mà không làm phương hại đến cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc nghĩa quan niệm (tức nội dung sự tình, nội dung mệnh để của phát ngồn).
Về đặc trưng thứ nhất (vốn là thuộc tính ngữ nghĩa-chức năng chung của tất
cá các tiểu từ tình thái), tình hình đã khá LÕ ràng, không cần nói thèm ở đây Chi tiết hơn về các điểm liên quan, xin xem thêm chương 3 và chương 5 Do đặc trưng này, chúng tôi sẽ không xếp vào phạm vi tiểu từ tình thái những trường hợp mà Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê gọi là những tiếng đệm
cho khỏi lỡ nhịp câu hát (kiểu ‘T ình bằng có cái trống com Ấ y mấy lội sông
ấy mấy đi tìm ”) Bản thân những tiếng đệm này không phải là phương tiện để
biểu hiện thái độ, đánh giá, mục đích phát ngôn của người nói, mối-liên hệ của hành động phát ngôn với ngữ cảnh, và cũng không bao giờ được dùng trong giao tiếp ngôn ngữ (nói hay viết) thông thường
Về đặc trưng thứ hai, chúng tôi cơ bản dưa trên khái niệm đoản ngữ đã được trình bày trong cỏng trình của các tác giả Nguyễn Tài cẩn [1975], Đinh Văn Đức [1986], Đây cũng là tiêu chuẩn được nhắc đến nhiều trong các công trình nghiên cứu về tiểu từ Các yếu tố phụ quây quần chung quanh trung tâm đoản ngử biểu thị những kiểu ý nghĩa có tính phạm trù phổ biến của thành tố trung tam và có quan hệ hướng tâm, quan hệ ngữ pháp chính-phu với thành tố trung tâm, trong khi đó, như sẽ thấy dưới đây, các tiểu từ tình thái không có những kiểu quan hệ về ngữ nghĩa và ngữ pháp kiểu như vậy Cần nói rõ hơn về vế thứ hai của tiêu chí đang xét
Nói rằng, các tiểu từ tình thái không đóng vai trò là những thành phần câu hiểu theo nghĩa hẹp có nghĩa là nói rằng, chúng không thê làm những chức năng ngữ pháp như chủ nsữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, hay để, thuyết của phát ngòn, theo những cách quan niệm sần đây Cái cương vị của chúng, đúng ra,
;hỉ có thể gọi bằng chính cái đăc điểm ngữ nghĩa chức nâng của chúng là thành nhàn tình thái chuvèn biệt cua câu, nèu chúng ta chấp nhận một cách quan
Trang 37niệm rộng hơn về quan hệ ngữ pháp và về thàiih phần câu như cư cường mà
V inogradov đề xuất, ô n g viết:
“ Q uan hệ ngữ pháp có thể có hai loại: hoặc là quan hê cú pháp khách quan tồn tại giữa các rừ trong tổ hợp từ, trong câu; hoặc là quan hộ của phát ngỏn hay câu với hiện thực, được gọi là quan hệ khách quan-chủ quan hay quan hệ tình thái” Ô ng viết thêm:
“ Các từ tình thái ( ) m ất chức năng đinh danh ( ) dường như được nẻm thêm vào, chêm xen vào câu hay nương tựa vào nó”
Có thể thấy,các tiểu từ tình thái, ở phương diện này, không chỉ khác với các
yếu tố như đã, đang, sẽ, những, các ; định, toan, m uốn m à còn khác so với
cả những yếu tố biểu thị tình thái chủ quan, thuộc hành động phát ngôn khác
như có l ẽ c ó thề, e rằng, e là, tất nhiên là Bởi vì, những yếu tố kiểu này,
ngoài cương vị tình thái, người ta vẫn có thể xác lập cho chúng cái cương vị
như phầ n đ ề của phát ngôn, nghĩa là m ột thành phần mà ý nghĩa khái quát của
nói, theo cách định nghĩa của Li & Thom pson, hay của Chafe, là biểu hiện cái khung không gian, thời gian, cá nhân v.v cho nhận đinh đi sau Sự vắng mặt của những quan hệ và cương vị thuộc những kiểu vừa nêu trên là quá rõ ràng
đối với các tiểu từ tình thái như à, ư, nhỉ, nhé , những đơn vị hiển nhiên là
không đóng vai trò thành phần câu nào, m à cũng chẳng thể xác lập những mối quan hệ ngữ pháp trong tổ hợp từ thông thường Bởi vì chúng vốn là những yếu
tố có quan hệ với cả phát ngôn nói chung, thể hiện những đặc trưng của hành động phát ngôn áp dụng cho m ột nội dung m ênh đề và không có m ột sự chế định trực tiếp nào về khả năng kết hợp, vể khả năng tổ hợp nghĩa cũng như những ý nghĩa phạm trù cụ thể với bất cứ từ nào trong câu (so sánh: Mày thích kẹo chanh à? Mày à? Thích à? Kẹo chanh à?) Tinh hình trở nên có vẻ mập mờ
hơn nếu xét các tiếu từ nhấn m ạnh, như nhữlặg trong "N ó mua những 5 kg táo” ,
n%ax cà trong “ Nó chứi ngav cá bác nó” Bời vì, ờ đâv các tiểu từ tình thái
nhan m ạnh, một mặt luòn gắn lién với những thành phàn mà chúng nhấn mạnh;
Trang 38m át khác, những từ như vậy, thường có những đặc trưng nghĩa Iìh atđ in h tương
hợp ở cấp độ khái q u át nào đó với thành phần được nhấn m ạnh (ví du: đánh giá
về lượng-từ chỉ số lượng ) khiến cho chúng có vẻ gần với quan hệ ngữ pháp trong tổ hợp từ Tuy nhiên, thứ nhất là, điều này có thể được giải thích xuất phát
từ bản chất, chức năng của đối tượng: nhấn m ạnh là đánh dấu, là chỉ báo ra cái
phân đ o ạn thông tin được nhấn m ạnh, được nêu bật lên để thu hút sự chú ý so
với các phân đoạn thông tin khác, đổng thời chỉ ra cái khía cạnh, cái nguyên cớ,
cái lý do hay cơ sở khiến nó đáng được chú ý Cho nên, vị trí ưu tiên và điển hình của chúng là đứng áp sát với thành phần cần được đánh dấu và bao giờ cũng đòi hỏi m ột cách trực tiếp hơn, ở thành phần nhấn m anh m ôt đặc điểm tương hợp với khung đ án h giá Thứ hai là, các nội dung đánh giá tình thái ở đây, lập thành cả m ột cái khung phức tạp, có bản chất m ệnh đề, gắn với chủ thể đánh giá, nội dung đánh giá được đưa vào phát ngôn hoàn toàn do nhu cầu bộc
lộ những đánh giá chủ quan của giao tiếp-tác động, chúng không lập thành
những vị trí nghiêm ngặt, chi có 1 vếu tố xuất hiện, theo quan hệ ngữ pháp
thông thường, và sự phối hợp giữa các nghĩa theo kiểu như vậy không thể có
trong m ô hình kết hợp của những chuỗi đơn vị có quan hệ ngữ pháp thông
thường (NgưV tôi cũng ch ịu/N gay cả tôi cũng chilliN °<T đến cả tôi cũng chịu;
N ó m ưa những 5 kg tá o /N ó m ua hẳn 5kg táo/N ó mua hẳn những 5kg táo/*N ó
m ua nhiều 5kg tá o /* N ó m ua theo tôi là quá nhiêu 5kg táo) Quan hệ ngữ pháp
phép số từ biểu thị số lượng, kết hợp với những thái độ đánh giá chủ quan về
lượng Ta có 'ịảnítrẻnlảướilxấp XI 5 k ° nhưng khônơ thể có *rất nhiêu/*quá
nhiều 5k\j T rong khi 5 kg và ị i t ì i trên í dưới/ xấp x ì 5 kg, giống với tiliữnu sinh viên ịỉĩcTỳ) và sinh viên Mày, là nhữnơ pham vi qui chiếu, phạm vi hiện thực
khách quan đươc m iêu tá khác nhau, ánh hưởng trực tiếp đến tính chân thưc cùa phat n sò n thì 5 k s, những 5kg hãn những 5kg, có mỗi 5 k s lại chì là mọt phân
Trang 39đoạn hiện thực được m iêu ca không ảnh hường gì đến giá trị chân 1-ý Rõ ràng, những quan hệ tình thái chủ quan như vậy nằm ở m ột bậc khác, dường như được “ chêm vào” , xen vào (theo cách nói của Vinogradov) hay chổng lên những “ quan hệ ngữ pháp khách q u an ” , tức những quan hẻ ngữ pháp được xét trong tổ hợp từ truyền th ố n g 8 Cũng cần nói thêm là, các yếu tố nhấn m ạnh, vì
n ằm ở m ột bậc khác trong tổ chức ngữ pháp, kiểu ý nghĩa mà chúng thể hiên không phải là những ý nghĩa phạm trù của m ột từ trung tâm nào, hay m ột chức năng ngữ pháp chuyên biệt nà ), cho nên, khả năng xuất hiện của chúng rất rộng rãi: những 5kg/ những tưởng/ những m ắt là m ắự chi những nước thôi/ khuôn mặt chỉ những mắt; ngay m ày nó cũng không chịu/ ngay giải quyết xong chuyện ấy rổi cũng chưa ổn
Sự khác nhau giữa các hư từ cú pháp (liên từ, giới từ) và tiểu từ tình thái cũng đã rõ: các tiểu từ tình thái phục vụ không phải cho nhu cầu liên kết các từ,
các thành phần câu, chúng không phải là chỉ tố của những quan hệ ngữ ph á p
(theo cách hiểu truyền thống) giữa từ này với từ kia, thành phần này với thành phần kia T rong khi đó, đấy lại chính là chức năng của các hư từ cú pháp Điều này liên quan đến đặc điểm thứ tư (d): Sự lược bỏ các tiểu cừ tình thái có thể làm thay đổi kiếu mục đích thông báo, thay đổi thái độ chừ quan của người nói đối với nội dung sự tình và những điều kiộn ngữ cảnh khác của hành động phát
ngôn, song, không làm thay đổi nội dung sự tình, nội dung mệnh đ ề của phát ngôn và quan hệ ngữ pháp của các thành tố bên trong nội dung mệnh đ ề (Chính
nó đánh tôi/ Nó đánh tôi đấy/ Nó đánh tôi à?/ Nó đánh tôi)
Về đặc điểm thứ ba (c), các tiểu cù tình thái không có khả năng tự thân làm thành Gầu dạng tinh lược thành phần, chúng ta hãy quan sát và so sánh:
(1)- C hính m ày đánh nó à?
-*Chính
" P a n íílo v e ọ i k iể u q u an hỏ như v ậ y là "cận cú pháp" hay “ g ià cú pháp" Ị 19X4 ir 6 / 1
Trang 40(2)-M ày ấy à?/*Ấy à.
m ột kích thích ngoài ngôn ngữ Và, nếu như cái nguồn kích thích ấy đã rõ, thì
không cần có m ột thông báo nào bổ sung Đ au quá, người ta bật kêu lên ái! á!
ổi giời ơi nhiều khi không phải là để giao tiếp với ai, cũng chẳng phải để tự nói
với m ình; theo nghĩa đó, nó không nhất thiết phải gắn với m ột sự kiện ngôn ngữ khác (chảng hạn, như một yếu tố đánh siá nhằm vào một nội dung m ệnh đề,
m ột phản ứng ngôn từ đáp lại m ột kích thích ngôn từ ) Trong khi đó, các tiểu
từ tình thái không thể có khả năng này Những phát ngôn như 1(b) và 2:
1 (a) Lan ơi!
(b) Hở?
2 Nhỉ mẹ nhì? Me cho con đi mẹ nhỉ?
rò ràng, là nhữnơ phản ứns đối tho li, thực hiện những chức ná] g phản ứng ngôn từ trờ lai nhữns kích thích ngôn từ, khỏng bao giờ có khả nãns; tổn tai như
n hữ ns phàn ứng độc làp đáp lai mòt kích thích phi ngôn òr Thêm nữa ngav