Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Trang 1Cán bộ phối hợp nghiên cứu chính:
Thạc sỹ Nguyễn Hữu Nghĩa Thạc sỹ Nguyễn Thị Thục Anh Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh Hương
HOC QUOC G,A ha moiTRWG TÂM TH0NGTIM thư V EN
0 1 / 0 0 5
SÊ-HÀ NỘI, 2006
Trang 2M Ụ C L Ụ C
LỜI MỞ Đ Ầ U i
CHƯƠNG 1 TỪ KIÊM CHẾ TÀI CHÍNH TỚI T ự DO HÓA TÀI CHÍNH - NHỮNG KHÍA CẠNH LÝ T H U Y É T 01
1.1 Kiềm chế tài chính 01
1.1.1 Khái niệm, nguồn gốc của kiểm chế tài chính 01
1.1.2 Các biện pháp kiềm chế tài chính - Lợi ích và chi p h í 02
1.2 Bối cảnh toàn cầu của tự do hóa tài c hính 29
1.2.1 Những điều kiện đang thay đổi trong môi trường kinh doanh toàn cầu 29
1.2.2 Những quan điểm về trình tự tỏng quát của tự do hóa tài khoản vốn 32
1.2.3 Lợi ích của tự do tài chính 34
1.3 Mối quan hệ giữa tự do hóa với khủng hoảng kinh tế 39
1.3.1 Tự do hóa tài khoản vốn và các cuộc khủng hoảng tiền t ệ 41
1.3.2 Tự do hóa tài khoản vốn và các cuộc khủng hoảng ngân hàng 45
1.3.3 Tự do hóa tài chính và khủng hoảng tài chỉnh 52
CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM QUỐC TÉ VỀ T ự DO HÓA TÀI CHÍNH 58
2.1 Tự do hóa lãi s u ấ t 58
2.1.1 Indonesia 58
2.1.2 Án Đ ộ 67
2.1.3 So sánh kiềm chế và tự do hóa tài chính ở Ân Độ và Indonesia 74
2.2 Tự do hóa các dịch vụ tài chính - lĩnh vực bảo hiếm 80
2.2.1 Tỏng quan các thị trường bảo hiểm đang n ổ i 80
2.2.2 Vai trò thích hợp của các hãng bảo hiêm nước n goài 83
2.3 Tự do hóa tài khoản v ố n 86
2.3.1 Brazil (1993-97) - Can thiệp vô hiệu không thành công và chi p h ỉ của ngân hàng trung ương 86
2.3.2 Chile (1991-98) - D ự trữ bắt buộc không trả lũi 89
2.3.3 M alaysia (1994 và 1998-1999)- Kiểm soát (lòng vốn vào và ra 99
Trang 32.3.4 Thái lan (1988-1997) - Tự do hóa tài chỉnh - gia tăng nhanh chóng tinh dễ tổn thương trên cả hai phương diện vi mô và vĩ m o ỉ 01
2.3.5 Hàn Quốc - tự do hóa tài khoản vốn với trình tự s a i 127
2.3.6 Cuộc khủng hoảng Mexico 1994-95 Bài học về tư nhăn hóa các ngân hàng và tác động của giao dịch các công cụ phải sinh trong khủng hoảng
2.4 Một số nhận định từ việc khảo sát kinh nghiệm tự do hóa tài• • • • 14 "Ị chính của các quôc g i a *
2.4.1 Tự do hóa tài chính phải được tiến hành trong khuôn khô một chinh sách kỉnh tế vĩ mô lành m ạnh 143
2.4.2 Tự do hóa tài chính sẽ dẫn đến đẻ vỡ nghiêm trọng nếu không có việc tăng cường khu vực tài chính, đặc biệt đổi với những quôc gia có hệ thống tài chính yểu kém 145
2.4.3 Cung cấp thông íitt, tăng cuờng tính minh bạclt ở cả câp độ vĩ mô và vi ntô là một đòi hỏi bức xúc để ngăn ngừa và giảm nhẹ mửc độ nghiêm trọng của khủng hoản g 146
2.4.4 Tự do hóa các dòng vốn đòi hỏi việc thiết lập trình tự và lựa chọn các biện pháp kiểm soái 147
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GỢI Ỷ CHO QUÁ TRÌNH T ự DO HÓA TÀI CHÍNH Ỏ VIỆT NAM 150
3.1 Khái quát thành quả cải cách tài chính và tự do hoá tài chính ỏ' Việt N a m 150
3.1.1 Thực trạng khu vực ngân hàng Việt Nam sau m ột chặng đường cải cách 150
3.1.2 Tự do hóa lãi suất 156
3.1.3 Tụ (lo hóa tỷ giá hối đo á i 758
3.1.4 Tụ do hoá tín dụng 160
3.1.5 Đồi mới cơ chê quán lý ngoại h ố i Ỉ62 3 ỉ 6 Tự do hóa các dịch vụ tài chính ngân hàng và ph i ngân hàng 167
3.2 Đánh giá năng lực của hệ thông ngân hàng Việt Nam trước áp lực tự do hóa .
3.2.J .\hữnỉ> thách th ú c Ị j j
Trang 43.3 Những gợi ý từ kinh nghiệm quốc t ế 179
3.3.1 Khuôn khổ quản lý phòng ngừa 179
3.3.2 Những nguyên tắc chung về trình tự tự do hóa tài khoản v ố n 193
KẾT LUẬN 197
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM K H Ả O 200
Trang 52.3.4 Thái lan (1988-1997) - Tự do hóa tài chỉnh - gia tăng nhanh chóng tinh dễ tổn thương trên cả hai phương diện vi mô và vĩ m o ỉ 01
2.3.5 Hàn Quốc - tự do hóa tài khoản vốn với trình tự s a i 127
2.3.6 Cuộc khủng hoảng Mexico 1994-95 Bài học về tư nhăn hóa các ngân hàng và tác động của giao dịch các công cụ phải sinh trong khủng hoảng
2.4 Một số nhận định từ việc khảo sát kinh nghiệm tự do hóa tài• • • • 14 "Ị chính của các quôc g i a *
2.4.1 Tự do hóa tài chính phải được tiến hành trong khuôn khô một chinh sách kỉnh tế vĩ mô lành m ạnh 143
2.4.2 Tự do hóa tài chính sẽ dẫn đến đẻ vỡ nghiêm trọng nếu không có việc tăng cường khu vực tài chính, đặc biệt đổi với những quôc gia có hệ thống tài chính yểu kém 145
2.4.3 Cung cấp thông íitt, tăng cuờng tính minh bạclt ở cả câp độ vĩ mô và vi ntô là một đòi hỏi bức xúc để ngăn ngừa và giảm nhẹ mửc độ nghiêm trọng của khủng hoản g 146
2.4.4 Tự do hóa các dòng vốn đòi hỏi việc thiết lập trình tự và lựa chọn các biện pháp kiểm soái 147
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GỢI Ỷ CHO QUÁ TRÌNH T ự DO HÓA TÀI CHÍNH Ỏ VIỆT NAM 150
3.1 Khái quát thành quả cải cách tài chính và tự do hoá tài chính ỏ' Việt N a m 150
3.1.1 Thực trạng khu vực ngân hàng Việt Nam sau m ột chặng đường cải cách 150
3.1.2 Tự do hóa lãi suất 156
3.1.3 Tụ (lo hóa tỷ giá hối đo á i 758
3.1.4 Tụ do hoá tín dụng 160
3.1.5 Đồi mới cơ chê quán lý ngoại h ố i Ỉ62 3 ỉ 6 Tự do hóa các dịch vụ tài chính ngân hàng và ph i ngân hàng 167
3.2 Đánh giá năng lực của hệ thông ngân hàng Việt Nam trước áp lực tự do hóa .
3.2.J .\hữnỉ> thách th ú c Ị j j
Trang 6CÁC CHỮ VIÉT TẤT
Trang 72.3.4 Thái lan (1988-1997) - Tự do hóa tài chỉnh - gia tăng nhanh chóng tinh dễ tổn thương trên cả hai phương diện vi mô và vĩ m o ỉ 01
2.3.5 Hàn Quốc - tự do hóa tài khoản vốn với trình tự s a i 127
2.3.6 Cuộc khủng hoảng Mexico 1994-95 Bài học về tư nhăn hóa các ngân hàng và tác động của giao dịch các công cụ phải sinh trong khủng hoảng
2.4 Một số nhận định từ việc khảo sát kinh nghiệm tự do hóa tài• • • • 14 "Ị chính của các quôc g i a *
2.4.1 Tự do hóa tài chính phải được tiến hành trong khuôn khô một chinh sách kỉnh tế vĩ mô lành m ạnh 143
2.4.2 Tự do hóa tài chính sẽ dẫn đến đẻ vỡ nghiêm trọng nếu không có việc tăng cường khu vực tài chính, đặc biệt đổi với những quôc gia có hệ thống tài chính yểu kém 145
2.4.3 Cung cấp thông íitt, tăng cuờng tính minh bạclt ở cả câp độ vĩ mô và vi ntô là một đòi hỏi bức xúc để ngăn ngừa và giảm nhẹ mửc độ nghiêm trọng của khủng hoản g 146
2.4.4 Tự do hóa các dòng vốn đòi hỏi việc thiết lập trình tự và lựa chọn các biện pháp kiểm soái 147
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GỢI Ỷ CHO QUÁ TRÌNH T ự DO HÓA TÀI CHÍNH Ỏ VIỆT NAM 150
3.1 Khái quát thành quả cải cách tài chính và tự do hoá tài chính ỏ' Việt N a m 150
3.1.1 Thực trạng khu vực ngân hàng Việt Nam sau m ột chặng đường cải cách 150
3.1.2 Tự do hóa lãi suất 156
3.1.3 Tụ (lo hóa tỷ giá hối đo á i 758
3.1.4 Tụ do hoá tín dụng 160
3.1.5 Đồi mới cơ chê quán lý ngoại h ố i Ỉ62 3 ỉ 6 Tự do hóa các dịch vụ tài chính ngân hàng và ph i ngân hàng 167
3.2 Đánh giá năng lực của hệ thông ngân hàng Việt Nam trước áp lực tự do hóa .
3.2.J .\hữnỉ> thách th ú c Ị j j
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
I Tính chất cấp thiết của đề tài
Tự do hóa tài chính là m ột trong những nội dung của quá trình tự do hóa kinh tế đang được tất cả các quốc gia chấp nhận với những mức độ và tốc độ khác nhau Trải qua nhiều thập niên kiềm chế tài chính nặng nề, sự nhận thức về cái giá phải trả của nó cùng với những điều kiện đã và đang thay đổi trong môi trường kinh doanh toàn cầu đã khiến các quốc gia nồ lực lựa chọn cho mình những giải pháp tự do hóa tài chính, cả bên trong và bên ngoài, đe gia tăng tính cạnh tranh trong hệ thống tài chính từ đó cải thiện hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn tiết kiệm toàn cầu
Sự khác biệt giữa những điều kiện cụ thế của từng nước, trong đó có những yếu tố cơ bản của kinh tế vĩ mô; trình độ phát triển của hệ thống tài chính bao gồm các định chế tài chính, các thị trường và công cụ tài chính; múc độ hoàn thiện của hệ thống pháp lý; năng lực điêu hành, quản trị v.v đã khiên cho việc lựa chọn các biện pháp và những tố hợp biện pháp tự do hóa tài chính và trình tự của chúng trở thành một chủ đề sôi động trong giới làm chính sách và nghiên cứu Mục tiêu của quá trình này là tôi đa hóa những lợi ích của tự do hóa tài chính đồng thời giảm thiểu được những thiệt hại mà quá trình này mang theo Hàng loạt nội dung của tự do hóa tài chính và thực tế quá trình này ở mỗi quốc gia đã được tổng kết thành những nguyên lý, những bài học kinh nghiệm, cả thành công và thất bại
Là một quôc gia đang chuyên đôi m ạnh mẽ từ nên kinh tế chỉ huy sang kinh tê thị trường, dù xuất phát điêm có chậm hơn so với nhiều nước đang phát triên trong khu vực, Việt Nam cũng đang xúc tiến tự do hóa tài chính để tận dụng những CO' hội mà quá trình này đem lại cho quá trình tăng trưởng của đất nước, Sức ép từ nhửng đòi hỏi nội tại của nên kinh tê cùng với sức ép từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã khiến cho tự do hóa tài chính, mà đỉnh cao của
nó là tự do hóa các dòng vốn, đang đưọ'c triển khai một cách khẩn trương Tuy nhiên ở Việt N am , những điều kiện đặc thù của nền kinh tế thị trường nói chung đang trong giai đoạn đâu hình thành, và nói riêng là của hệ thông tài chính còn
Trang 9sơ khai, đã khiến cho tự do hóa tài chính rất có thê mang theo những tai họa cho nền kinh tế, nếu như quá trình nàv không được chuân bị đả) đu những đieu kiẹn cần thiết và khỏna được thiết kế theo một lộ trình thích hợp Tinh chat quan trọng cua quá trình này đòi hỏi các nhà làm chính sách phải hiêu rõ bản chat, nhửne nội dung, các cô n s cụ cùa quá trình này, để có thê lựa chọn được những giải pháp đúng đắn nhất, hiệu quả nhất áp dụng vào điêu kiện cụ thê cua đat nước Điều này giải thích vì sao việc nghiên cứu các nguyên ly, nhưng kinh nghiệm quốc tế khi tiến hành quá trình này, từ đó kết họp với nhừng đặc điêm riêng của nền kinh tế Việt Nam, rút ra những gợi ý cho việc tự do hóa tài chính
ở Việt Nam trớ thành một vấn đề bức xúc
II Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tự do hóa tài chính, với tư cách là một bước chuyển cực kỳ quan trọng trong động thái chính sách của các quốc gia trên phạm vi toàn câu, đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều cá nhân các nhà khoa học và các tô chức trên thê giới Đặc biệt, vấn đề tự do hóa tài khoản vốn, biêu hiện cao nlìât của tự do hóa tài chính, với đặc điêm là thường găn với những cuộc khủng hoảng tài chính- ngân hàrm, đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học cũng như cùa các định chê tài chính quôc tẻ như Ngân hàng Thê giới và Quỹ Tiền tệ Quốc
tê Khônụ thê kể hết tên các công trình và tác giả nghiên cứu về chủ đề tự do hỏa tài chính ở tât cả các chiêu cạnh, những xuất phát điẻm khác nhau của các quôc gia, những lộ trình khác nhau, và những bài học kinh nghiệm, những gợi ý chính sách; nghiên cửu định lượng bên cạnh nghiên cứu định tính Nội dung nghiên cứu vê tự do hóa tài chính rất rộng lớn, nhưng có thể tạm phân chia cáccông trình nghiên cứu thành những nhóm vấn đề sau:
• Những khía cạnh lý thuyêt và thực nghiệm về kiềm chế tài chính và
tụ do hóa tài chính (bản chát, lợi ích và chi phí, nhừng điều kiện tiềnđè), với những nghiên cửu tiêu biêu là Barry Johnston, Barryhichengieen \ à Michael Mussa; Gerard Caprio, Patrick Honohan, và Joseph Stiglit/; David O.Beim; Charles w Calomiris v.v
• N d n e n u m kmh nuhiệm cua các quòc gia vê tự do hóa tài chính: các lụa diọn bien pháp \ a lộ trình: phan tích nmivẻn nhân của thành COI1L1 \;i that bại ( ac tác ;_iia tiêu biêu la Akira Arivoshi, Karrl
Trang 10Haberm eier, Bemarrd Laurens, Inci Otker-Robe, Jorge Ivasn Canales-Kriljenko, Andr ei Kirilenko; Michael Bordo, Barry Eichengreen, Jong Woo Kim (trong các chương trình nghiên cứu của IMF, W B tiến hành sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997) v.v
• Mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và khủng hoảng với Stanley Fischer, David Folkerts-Landau; Jeffrey A Frankel; Chudozie Okongwu; Pedro Alba; Leonardo Hernandez; Daniela Klingebiel;
M orris Goldsmith, Philip Turner, John Hawkins v.v
N h ữ n g nghiên cứu trong nước về chủ đề này tuy chưa nhiều nhưng có
thể kể ra m ột số tác giả và công trình, như Ngô Vĩnh Long - “Tự do hóa tài chính: nguy cơ và giải pháp" Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 275; Nguyễn Hồng Sơn- “Cơ chế tự do hóa tài chỉnh và đầu tư ” - Tạp chí Những vấn đề kinh tế thê giới; Nguyễn Văn Hiệu- "Tự do hóa tài chính - Kinh nghiệm Trung Quôc, Canada và bài học đôi với Việt Nam ", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế SỐ 274; Vũ Thị Hải Minh ( Toàn cầu hóa thị trường tăi chính - C ơ hội nào cho nền kinh tế đang p h á t triên Tạp chí Công nghệ
Ngân hàng s ố 11 tháng 7-8/2006), Bộ kế hoạch và đầu tư - Chương
trình Phát triển Liên họp quốc; D ự án VIE/02/009 (N ghiên cứu khả
n ăng cạnh tranh và tác động của tự do hóa dịch vụ tài chỉnh: trường hợp ngành ngân hàng 12-2005) N goài ra nhiều nội dung của tự do hóa
tài chính cũng được đê cập tới, một cách không hệ thông, trong những tham luận tại các hội thảo khoa học của ngành ngân hàng, tài chính và các trường đại học
Chủ đề này vẫn là khá mới mẻ ở Việt Nam M ặc dù Việt Nam thực sự có một hệ thống tài chính đang thoát ra khói chê độ kiềm che đê chuyến sang tự do, chúng
ta vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về thực chất của kiềm chế tài chính, những biểu hiện và công cụ chính sách, chi phí và lợi ích của nó; đồng thời cũng chưa có nghiên cứu nào tổng kết những điều kiện thuận lợi, những lợi ích cùng những thách thức của quá trình chuyên sang một hệ th ô n s tài chính tự do hóa với mọi chiều cạnh của nó Với mong m uôn đáp ứng phân nào nhu cầu học tập, nghiên cứu, hoạch định chính sách liên quan tới một chủ đề rộng lớn và phức tạp
là tự do hóa tài chính, chúng tôi lựa chọn đê tài “T ự do hóa tài chính - Lý thuyết, kinh nghiệm quốc tế và những gợi ý cho Việt N a m ”
Trang 111.2 Bối canh toan cầu cua tự do hóa tài chính
1.3 Mối quan hệ 2Ìữa tự do hóa tài chính với khung hoang kinh te
CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM QUÓC TÉ VÈ T ự DO HÓA TÀI CHÍNH
2.1 Tự do hóa lãi suất
2.2 Tự do hóa các dịch vụ tài chính - lĩnh vực bảo hiêm
2.3 Tự do hóa tài khoản vôn
2.3 Một số nhận định từ việc khảo sát kinh nghiệm tự do hóa tài chính của
các quốc gia
CHƯƠNG 3 MỘT SỎ GỌI Ỷ CHO QUÁ TRÌNH T ự DO HÓA TÀI CHÍNH Ỏ VIỆT NAM
3.1 Khái quát thành quả cải cách và tự do hoá tài chính ở Việt Nam
3.2 Đánh giá nănự lực của hệ thống ngân hàno Việt Nam trước áp lực tự
do hỏa
3.3 Những gợi ý từ kinh nghiệm quốc tế
Trang 12CHƯƠNG 1
TỪ KIÊM CHÉ TÀI CHÍNH TỚI T ự DO HÓA TÀI CHÍNH - NHỮNG KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT
1.1 Kiềm chế tài chính
1.1.1 K hái niệm, nguồn gốc của kiềm chế tài chính
Trước thế kỷ thứ 20, chế độ bản vị tiền kim loại quốc tể được theo đuổi trên toàn thế giới và tính mở nói chung của sự vận động của vốn đã hạn chế quyền lực của một chính phủ trong việc khai thác nguồn lợi từ người tiết kiệm và những người giữ tiền khác thông qua lạm phát Tuy nhiên vào thế
kỷ thứ 20, sự xuất hiện của tiền "fiat" với tư cách là một đơn vị kế toán và
trung gian trao đổi đã nâng cao năng lực của các chính phủ trong việc can thiệp vào khu vực tài chính Sự can thiệp này của chính phủ nhằm mục đích duy trì sự ổn định tài chính, bảo vệ công chúng khỏi những tổn thất không lường trước, đồng thời cũng là đe hạn chế sự tập trung của cải và quyền lực độc quyền, để tạo ra các nguồn lực tài khóa và để chuyển các nguồn lực tới những nhóm được ưu ái thông qua hệ thống tài chính, chứ không phải bằng công cụ tài chính công minh bạch hơn Toàn bộ quá trình này được gọi là
kiềm chế tài chính (financial represion).
Kiềm chế tài chính nặng nề đã diễn ra một cách phố biển trên khắp thế giới trong gần suốt thế kỷ hai mươi Mong m uốn về kiềm chế tài chính gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa dân tày (populism), chủ nghĩa dân tộc (nationalism) và chủ nghĩa nhà nước (statism) Quan điểm dân túy coi các biện pháp kiểm soát lãi suất như là một cách thức phân phối lại thu nhập Các khoản vay tư nhân ngân hàng tới các hãng kinh doanh lớn hoặc người nước ngoài là nhừng mục tiêu chuẩn của phái dân túy hoặc dân tộc Mong muốn tránh được sự tập trung quá mức quyền lực vào tay một số ít tư nhân hoặc mong muốn bảo đảm ràng hệ thống tài chính trong nước không bị kiểm soát bởi người nước ngoài là những người sẽ khôna nhạy cảm với các mục
Trang 13III Mục đích nghiên cứu
Đề tài nàv nhằm ba mục đích:
1 Hê thốnơ hóa các khía cạnh lý thuyết của tự do hóa tài chính Bắt đầu• te • V
từ việc làm rõ cái đôi ỉập với nó là kiêm chê tài chính, đe tai se ly giai tinh tất yếu, những chi phí-lợi ích của tự do hóa tài chính, những nội dung và điều kiện mang tính nsuvên tắc đẻ tiên hành tự do hóa tài chính
2 Tổng kết kinh nghiệm của một số quốc gia về tự do hóa tài chính Đê
tài sẽ chọn lọc kinh nahiệm cùa nhữns nước có những điêm tương đông với hoàn cảnh của Việt Nam, phân tích bôi cảnh kinh tê, những lựa chọn chính sách và những kết quả (thành công và thất bại) của từng quốc gia khi tiên hành tự do hóa tài chính
3 Đe xuất được một số gọi ý chính sách cho quá trình tự do hóa tài
chính của Việt Nam, dựa trên cơ SƯ những kêt quá phân tích vê kinh nghiệm quốc tê kết hợp với sự nhận diện thực trạng hệ thông tài chính của dât mrức, trong bôi canh hội nhập kinh tê quôc tê
IV PliạiTì vi nghiên cứu
Vì chủ đê có nội dunu rát rộnu đê tài giới hạn phạm v i nghiên cứu như sau:
- Tập trung chu yêu vào các hoạt độ nu rmân hàng, với tư cách là bộ phận nòng côt cua hệ thông tài chính nói chung, cũng là bộ phận giũ' vai trò áp đảo trong hệ thống tài chính của Việt Nam so với những khu vực khác (thị trường bao hiếm, thị trường chứna khoán ), và là mắt khâu tập trung nhiều vấn đề càn xứ lý nhất để đón nhận tự do hóa tài chính
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế tập trung vào các hoạt động tự do hóa tai chính của những năm 1980 và nừa đàu những năm 1990 chủ yếu là
ư một sỏ nước đang phát triển ơ Châu Á và có một vài nước cháu Mỹ
La tinh
- Vò lựa chọn nội dung, mặc dù đề tài có đề cập tới tất cả các nội dung cua tự do hoa tai chính, song tập trunu đậm nét hơn vào vấn đề tự do hoa tai khoan vòn dược coi là biêu hiện cao nhất cua tự do hóa tài
I\
Trang 14chính, cũng là khâu khó khăn nhất, nhiều rủi ro nhất, và gây nhiêu tranh cãi nhất.
- về những đề xuất cho quá trình tự do hóa tài chính ở V iệt Nam , đề tài chỉ dừng lại ở những gợi ý m ang tính nguyên lý tổng quát N hững đề xuất cụ thể cho từng vấn đề là chưa thể đáp ứng do giới hạn về nguồn lực
V Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh
VI Những đóng góp của đề tài
1 Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết từ kiềm chế tài chính tới tự do hóa tài chính Đặc biệt làm rõ những lợi ích của tự do hóa tài chính, những rủi ro gắn với việc châm ngòi cho các cuộc khủng hoảng, những vấn đề mang tính nguyên tắc để đảm bảo thành công và giảm thiểu rủi ro của quá trình này,
2 Chọn lọc và phân tích một cách thỏa đáng những bài học điên hình về thành công và thất bại của tự do hóa: bài học vê những lựa chọn phối hợp chính sách tài chính-tiền tệ-tỷ giá hối đoái; bài học về kiêm soát các dòng vốn vào, ra; bài học vê minh bạch tài chính trong khu vực ngân hàng và công ty; về thiết kế lộ trình tự do hóa tài khoản vốn v.v
3 Trên nền tảng khái quát hóa thực trạng cải cách và tự do hóa tài chính ở Việt Nam, đề xuất được một số gợi ý chính sách, dừng lại ở mức độ những nguyên tắc tống quát
Tất cả những nội dung trên đều có thể sử dụng làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu, học tập và đề xuât chính sách
VII K ết cấu của đề tài
Ngoài phần m ở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, đề tài gồm ba chương chính với những nội dung như sau:
CHƯƠNG 1 TỪ KIẺM CHÉ TÀI CHÍNH TỚI T ự DO HÓA TÀI CHÍNH - NHỮNG KHÍA CẠNH LÝ THUYÉT
1.1 Kiềm chế tài chính
Trang 151.2 Bối canh toàn cầu của tự do hóa tài chính
1.3 Mối quan hệ siữa tự do hóa tài chính với khùng hoảng kinh tê
CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM QUỐC TÉ VẺ T ự DO HÓA TÀI CHÍNH
2.1 Tự do hóa lãi suất
2.2 Tự do hóa các dịch vụ tài chính - lĩnh vực bảo hiểm
2.3 Tự do hóa tài khoản vốn
2.3 Một số nhận định từ việc khảo sát kinh nghiệm tự do hóa tài chính của
các quốc gia
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GỢI Ý CHO QUÁ TRÌNH T ự DO HÓA TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
3.1 Khái quát thành quả cải cách và tự do hoá tài chính ở Việt Nam
3.2 Đánh giá năng lực của hệ thống ngân hàng Việt Nam trước áp lực tự
do hóa
3.3 Những gợi ý từ kình nghiệm quốc tế
\
Trang 16CHƯƠNG í
TỪ KIÈM CHÉ TÀI CHÍNH TỚI T ự DO HÓA TÀI CHÍNH - NHỮNG KHÍA CẠNH LÝ THUYÉT
1.1 Kiềm chế tài chính
1.1.1 K hải niệm, nguồn gốc của kiềm chế tài chính
Trước thế kỷ thứ 20, chế độ bản vị tiền kim loại quốc tế được theo đuổi trên toàn thế giới và tính mở nói chung của sự vận động của vốn đã hạn chế quyền lực của một chính phủ trong việc khai thác nguồn lợi từ người tiết kiệm và những người giữ tiền khác thông qua lạm phát Tuy nhiên vào thế
kỷ thứ 20, sự xuất hiện của tiền "fiat" với tư cách là một đơn vị kể toán và
trung gian trao đối đã nâng cao năng lực của các chính phủ trong việc can thiệp vào khu vực tài chính Sự can thiệp này của chính phủ nhàm mục đích duy trì sự ổn định tài chính, bảo vệ công chúng khỏi những tổn thất không lường trước, đồng thời cũng là để hạn chế sự tập trung của cải và quyền lực độc quyền, để tạo ra các nguồn lực tài khóa và để chuyển các nguồn lực tới những nhóm được ưu ái thông qua hệ thống tài chính, chứ không phải bàng công cụ tài chính công minh bạch hon Toàn bộ quá trình này được gọi là
kiềm chế tài chính {financial represion).
Kiềm chế tài chính nặng nề đã diễn ra một cách phố biển trên khắp thế giới trong gần suốt thế kỷ hai mươi Mong muốn về kiềm che tài chính gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa dân túy (populism), chủ nghĩa dân tộc (nationalism) và chủ nghĩa nhà nước (statism) Quan điểm dân túy coi các biện pháp kiểm soát lãi suất như là một cách thức phân phôi lại thu nhập Các khoản vay tư nhân ngân hàng tới các hãng kinh doanh lớn hoặc người nước ngoài là những mục tiêu chuân của phái dân túy hoặc dân tộc Mong muốn tránh được sự tập trung quá mức quyên lực vào tay một số ít tư nhân hoặc mong muốn báo đảm ràng hệ thống tài chính trong nước không bị kiểm soát bởi người nưóc ngoài là những người sẽ không nhạy cảm với các mục
Trang 17tiêu dài hạn của quỏc sia, là nhừne khía cạnh quan trọng nhât trong nhưng quan điểm chính trị loại này Theo đó, các mục tiêu xã hội có thê đạt được một cách dễ dàng hơn nểu các hoạt động của những định chế tài chính lớn không hoàn toàn bị dẫn dắt bởi lợi nhuận Chủ nghĩa dân túy cùng dân tới tình trạng lỏng lẻo trong việc thu nợ, cả từ phía các ngân hàng nhà nước do các áp lực chính trị và từ khuôn khổ pháp lý tổng thể.[6]
Chủ nghĩa nhà nước có lẽ là yếu tổ thậm chí còn quan trọng hơn trong
sự gia tăng kiềm chế tài chính Vào giữa thế kỷ hai mươi, can thiệp của nhà nước được quan niệm rộng rãi là một cách thức đê cải thiện sự phân bô các nguồn lực và thúc đẩy phát triển Đe hoàn thành vai trò đã mở rộns này, nhà nước cần phải có các nguồn lực lớn hon là mức độ có thế huy động được qua các hệ thốníì thuế kém phát triển Nhà nước cũng cố gắng bành trướng vai trò cua mình trona, sự phân bô các nguồn lực nơoài ngân sách thônơ qua những can thiệp vào khu vực tài chính, cũng như vào hệ thống giá cả, vào các quyết định đầu tư và những mối liên hệ với các thị trường quốc tế.[6]
Đi theo những triêt lý này, chính phủ của nhiều nưó'c đã sử dụng nhiêu biện pháp đê tạo ra rmuôn lực cho các ý đồ của mình, tạo nên môi trường kiềm chế tài chính Kiềm chế tài chính được tiến hành theo hai tuyến, gãn bó với nhau trong thực thi nhưng khác nhau về động lực, đó là kiềm chế tài chinh nội địa và kiềm chế tài chính bên ngoài, tức là kiểm soát dòng lưu chuyên cua vòn Sau đây là những nội dung chính của các biện pháp cụ thể
1.1.2 Cúc biện pháp kiềm chế tài chính - Lợi ích và chi p h í
T rân lãi suât đối vói tiền gửi ngân hàng
Một hiện tượng rất phò biến là các chính phu áp đặt một mức trần lên lài suàt mà củc ngân hàng tra cho người gửi tiền Cái lý cho sự hạn chế này
la đè ngăn chặn "cạnh tranh quá mức" thu hút tiền gừi, làm tăng kha năng lợi nhuận và nhã dỏ co thè nói là gia tăng độ an toàn và lành mạnh cùa các ngân hang, c hình plni nào quyếi tàm duy trì các kiêm soát lãi suất đều cần phải dan ap n h u n g lựa chon thị t r ư ơ n g hiệu qua như thị trườnií chứnụ khoán, nơi
ma dvdo c,w imrc lợi Miut cao hon hộ thõng ngân hàng nhất lá tronu nhừng
Trang 18thời kỳ lãi suất tăng; đồng thời cũng phải đàn áp dòng vốn nước ngoài đang tìm kiếm những mức lãi suất cao hon.
Những biện pháp kiểm soát đối với lãi suất tiền gửi đã làm tăng giá trị giấy phép độc quyền (franchise values) của các ngân hàng, mang lại cho họ
những khoản tiền tô - tác là những nguồn thu nhập mà sẽ không sằn có trons
một thị trường cạnh tranh hoàn toàn Những khoản tiền tô này được trả bởi những người tiết kiệm và nhũng người vay tư nhân (thực sự hoặc tiềm năng) không được chính phủ ưu ái Hình 1.1 chỉ ra những hiệu ứng này, sử dụng một biểu đồ cung và cầu đơn giản cho các khoản vay thực như là một hàm
số của lãi suất thực [5]
Hìn h 1.1 C h o v a y s ẵ n có t h ự c tế t r o n g thị t r t rò ìi g tir
Hình 1.1 trình bầy một đường cầu thực về các khoản vay thực Lc, thể hiện lượng các khoản vay L đưọc điều chỉnh theo những thay đổi trong mức giá p mà những người vay có uy tín muốn, với tư cách là một hàm giám của lãi suất thực (đã điều chỉnh theo lạm phát) trên khoản vay, R L Đường cung
Ls cho thấy lượng các khoản vay thực mà những người tiết kiệm sẵn sàng cung cấp như là một hàm tăng của lãi suất thực trên tiền gửi R D biểu diễn
Trang 19điêm cân bàng E tại đó thị trường là "sạch", lãi suất của khoản vay băng lãi suất tiền eừi và lượng các khoản vay thực là Le
Trong thực tế, cho vay ngân hàng sẽ không thể đạt tới điêm E Chi phí hoạt động của các ngân hàng cũng phải được tính là yêu tô quyêt định lãi suất trên khoản vay và tiền gửi Các ngân hàng phải thu được một khoản chênh lệch giữa lãi suất tiền aừi và lãi suât cho vay đê bù đăp khoản chi phí
để vận hành bộ máy của họ (chi phí lao động, chi phí co hội của việc duy trì trong tay khoản dự trữ bằng tiền khôns có lãi để đáp ứng việc rút tiền v.v) Đường thẳng đứng thể hiện khổi lượna của khoản chênh lệch phải có đó (R|_
- Rd) Do đỏ chính sự cần thiết phải dành một phần thu nhập của ngàn hàng
từ các khoan vay để thanh toán các khoản chi phí cố định đă làm giảm phần lợi tức mà người mri tiền có thê nhận được, và thu hẹp khối lượno, khoản vay thực, từ L| còn Lị
Việc áp đặt một trân lãi suảt tiên gửi tại R[JC làm giám neuôn cung săn
có vê tiên lúri băng cách hạn chê khá nănu thu hút những người gửi tiền của các imân hànụ Đè làm cân barm lượng tiền mới (tlìấp hơn) được cung này với lưựníỉ dược call cùa nhĩrniỉ nmrời đi vay, khoản chênh lệch giữa lãi suất tiên m'ri và lãi suất khoan vay phai tăns lên hàm ý một sự mớ rộng đoạn thăng đửnu phàn cách hai mức lãi suất Như vậv, một mức trần lài suất không chi làm giam lợi suất thực Ruc được trả cho người tiết kiệm, mà còn giam ca lượng các khoản vay đang lưu hành và bàng cách đó cho phép đòi những mức lài suất cao hơn đối với những noười vay tư nhân
Chènh lệch độ dài giữa hai đường thảng đứng đo khoan tiền tô trên một đơn vị tièn khoán vay Các níỉân hàng trở nên có khả năng lợi nhuận hon nhưng với phí tổn cua cả những nszười tiết kiệm lẫn những người đi
\ n \ , \ a khoi lượng cua các khoản vay tư nhân săn có sẽ nhò hơn khối lượn°
lò ra đã co đuyc nếu không có những kiểm soát Chính phù được lợi chù yếu bàng cách khòm: cho phép các ngân hàng giữ lại phần lớn khoản tiền tô của
họ nui \ cu cau họ cap các khoán vav trợ câp tới những rmười vay được
c h i n h p h u ư u ái.
4
Trang 20Các mức trần lãi suất, nhất là trong các nền kinh tế lạm phát, đặc biệt
gây tác hại cho những người tiết kiệm Khi lãi suất danh nghĩa tiền gửi ngân
hàng thấp hơn mức lạm phát, người tiết kiệm nhận được lãi suất thực âm
(tức là họ nhận lại tiền với sức mua thấp hơn so với tiền mà họ gửi) Vì điều
này xẩy ra trong nhiều hệ thống tài chính bị kiềm chế, nên mức lãi suất thực của tiền gửi ngân hàng sẽ là một trong sổ những thước đo mà chúng ta sử dụng để lượng hóa mức độ kiềm chế tài chính có thể nghiêm trọng tới đâu
Áp đặt mức dự trữ bắt buộc cao lên các ngân hàng
Ở hầu hết các nước, các ngân hàng đều phải tái gửi một tỷ lệ xác địnhtrong số tiền gửi của họ làm dự trữ tại ngân hàng trung ương Thông lệ này, khi được theo đuổi trong những giới hạn, có thể có lợi cho các ngân hàng và công chúng Các ngân hàng trung ương có thể là một nơi đáng tin cậy để cất giữ các khoản dự trữ và có the sử dụng nhữns, số dư dự trữ này để tạo thuận lợi cho việc thanh toán giữa các ngân hàng Các ngân hànơ cần có những số
dư dự trữ có thể tiếp cận, vừa đê giải quyết dòng các chuyên giao tiền gửi thông thường giữa các ngân hàng, vừa đê dự phòng trước những khủnghoảng tài chính khi những đòi hỏi rút tiền có thê rất lớn
Tuy nhiên, thông lệ không trả lãi trên các khoản dự trừ lại không có được một sự biện minh nào từ quan điếm xúc tiến hoạt động ngân hàng hiệu quả Lợi thế duy nhất của nó là nguồn thu mà nó tạo ra cho chính phủ: dự trữ bắt buộc cung cấp nguồn thu cho chính phủ bàng cách buộc các ngân hàng phải gửi quỹ tại ngân hàng trung ương mà không thu được bất kỳ một khoản lãi nào trên số tiền e;ửi đó Điều đó làm giảm lượng nợ phải trả lãi mà chính phủ phải phát hành, và do đó làm giảm chi phí dịch vụ nợ của chính phủ Trong đa số trường hợp, tỷ lệ dự trừ bắt buộc cao và những mức lãi suất thấp
mà các ngân hàng kiểm được trên những khoản dự trữ nàv phản ánh mong muốn của chính phủ duy trì một dạng thuê có khả năng tạo ra nguồn thu lớn ngầm định Dạng thuế đó có lợi thế chính trị mà nhiều người gừi tiền (mà suy cho cùng là những người đóng thuế) không ý thức được về nó Khi
5
Trang 21khoan thuế này trờ nên lớn, nó có một hiệu ứng tiêu cực nghiêm trọng lên hệ thổng tài chính.
Một khoản thuế dự trừ có nghĩa là các ngân hàng phải đòi nhừng mức lãi suất cao hơn trên các khoản vay tư nhân và trả một lãi suât thâp hơn cho những người tiết kiệm để trả được khoản chi phí của việc năm giữ những khoản dự trữ lãi suất thấp hoặc lãi suất bằng 0 tại ngân hàng trung ương; tức
là khoảng cách theo chiều thẳng đứng giữa hai đường cung và cầu phải mở rộng khi thuế dự trữ tăng lẻn Trong Hình 1.2 khoảng cách này trở thành (R[ 2 - R-D2) = qR-L2, t r o n a đ ó q là d ự t r ữ bắt b u ộ c t í n h t h e o t ỷ lệ p h ầ n t r ă m ; tức là, để đơn giản ta giả định là không có khoản chi phí cổ định nào khác ngoài các khoản dự trừ không có lãi, nếu một ngân hàng có khoản tiền gửi thực D/P có lãi suất thực R D2, và ngân hàng phải tái gửi qD tại ngân hàng trung ương không có lãi, chi phí thực trực tiếp của đòi hỏi dự trữ này là q(D )R! 2; các ngân hàng phải điêu chỉnh những phần chênh lệch lãi suất của
họ tăng lèn đê trariÉỊ trái chi phí này, làm giảm lượng cung các khoản vay tới
U |6 J
Ví dụ trên đây ngầm giả định ràng tỷ lệ lạm phát là 0 Thuế dự trữ trên các ngân hàng được khuyếch đại bới lạm phát, tiếp tục nâng cao chi phí thực cua việc năm giữ dự trữ, bơi chi phí cơ hội thực đối với việc nẳm giữ tiền không có lãi là lãi suất danh nghĩa trên khoản vay Lạm phát có chức năng giỏng như một loại thuế đánh lên tất cả các bên nắm giữ tiền và các tài sản giông tiền có lãi thấp hoặc không lãi Do các đòi hỏi về dự trữ buộc các ngân hàng phai năm giữ những tài sản như thế, nên các ngân hàng đã trả một phần đáng kè khoan Thuế lạm phát đó Do vậy, lạm phát tiếp tục làm dịch chuyển dường cung các quỹ có thè cho vay lên trên và sang trái, tiếp tục giảm khối lượng khoan vay sẵn có từ L: tới L;, Khoàns cách theo chiều thẳng đứng giìra lãi su át thực trên các khoan vay và trên tiền gưi tăng lên bằng một phần cua ty lệ lạm phát (ỏ) Khoáng cách lãi suất thực ạiữa khoản vay và tiền gửi ba\ giừ sẽ là (Rị ; - RI);I = q(ò + Ru ) Khoang cách lớn hơn này phàn ánh c;ii thục te lăng thị trường phai bù dảp cho các rmân hàng về một khoan chi phi co họi thục cao hon Ilui nhập bị từ bo trên việc cho vav bâv uià cao
Trang 22hơn theo giá trị thực vì chênh lệch lãi đã tăng lên giữa thu nhập trên các khoản vay, mà đã được chỉ số hóa theo lạm phát, và thu nhập trên tiền mặt,
là bằng 0 bất kể tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu
Tóm lại, hệ thống ngân hàng thường là một nguồn quan trọng của nguồn thu của chính phủ, mà suy cho cùng phản ánh độc quyền của chính phủ về quyền in tiền (cho phép chính phủ ấn định tỷ lệ lạm phát) và quyền lực quản lý của nó đối với các ngân hàng (cho phép chính phủ thực thi những đòi hỏi về dự trữ không trả lãi) Vì nhũng người vay thường là đổi tượng hiểu biết và thường được chính phủ ưu đãi, nên những người tiết kiệm trong đa số trường hợp là nạn nhân chủ yếu của những loại thuế tài chính giấu mặt này Người tiết kiệm trả những khoản thuế này thông qua lãi suất thực bị giảm đi trên khoản tiểt kiệm của họ Các mức trần lãi suất tiền gửi đã làm giảm lãi suất này đi một cách rõ ràng; còn lạm phát thì làm giảm chúng bằng cách lấy đi một phần trong lãi suất danh nghĩa Và những đòi hỏi về dự trữ buộc các ngân hàng phải eiảm lợi suất thực trả cho những người tiết kiệm
ưj
C h o V1ÌỴ sẵn có thực tế tron g thị ỉr u ò n g tư nhân
H ì n h 1.2 H iệ u ứ n g c ủ a d ự t r ữ b át b u ộ c , lạm p h á t v à tín d ụ n g c h ỉ đ ịn h
7
Trang 23Tín dụnơ chính phủ và chỉ định của chính phủ đổi với tín dụng ngân hàng
Khi hệ thống nsân hàna bị buộc phải tái gửi một tỷ lệ đáng kê tiền gửi cùa nó tại nsân hàng truns ươn2 thì ngân hàng trung ương có được những nguồn lực mà nó có thê cho vav trực tiêp tới các ngành Đa sô cac chinh khách thấy ràng việc có sằn nhữne quỳ như thê trong tay đê sử dụng là điêu hết sức đáng mono muốn Một cách đơn giàn đê đạt được cùng mục tiêu này
là quốc hữu hóa một số hoặc tất cả các ngân hàng Trong trường họp cực đoan như ờ Mexico Iìhữns năm 1980, chính phủ đã quôc hữu hóa tât cả các neân hàne và chi việc chiêm lấy những khoản tiết kiệm của công chúng đê tài trợ cho tình trạng thâm hụt và nhữníĩ dự án cùa chính phủ
Rất ít quan chức chính phu thật sự muốn giao các quyết định phân bô vổn hoặc lá cho các ngân hàna không vụ lợi hoặc cho một thị trườn e chứng khoán hiệu qua Quyền kiêm soát cua chính phu đôi với các dòrm tín dụng
có thè là một phươno tiện đay sức mạnh dè thực hiện các mục tiêu chính sách Hơn nữa kiểm soát đổi với các đòn” tín dụns nâníỉ cao quvền lực cá nhàn cua các quan chức chính phủ và có thè làm tăng của cải cúa họ khi các hãnụ nhận được tín dụrm bao cấp là do những quan chức nàv sở hữu hoặc nêu khônn thì cũns có liên quan tới họ
Ngay ca những chính phu dân chú hav một phần dân chù cũng thấy khỏ mà đẻ hoạt độrm phân bỏ vốn hoàn toàn cho thị trường xừ lý Các chính khách cam kèt hành động vi lợi ích côrm cộng thường tin ràng họ có thề nhìn thày rõ ràng hon và hành động khôn ngoan hon đám người hỗn loạn trên thị tnrừng Các nhà đầu tư thường bị buộc tội là đưa ra những quyết định chi nhâm vào những lợi ích ngăn hạn Các nhà chính trị thường cho ràng bàn tay hướng dàn cua chính phu hay các ngân hàng do chính phủ kiểm soát là cần thièt dè đua ra những quyết định phàn bổ vốn tối ưu cho dài hạn Còn nhữn" chinh phú không quá mù quáng thì thường cảm thấy rất khó từ bỏ quyền kiòin MKit này \ í dụ ơ Nhật Ban Bộ Tài chính (MOF) tổi đa hóa vai trò của
s
Trang 24các ngân hàng trong việc tài trợ cho công nghiệp và (ở mức độ giảm dần qua thời gian) đã đưa ra sự chỉ dẫn chi tiết cho các ngân hàng về việc phải hỗ trợ ngành nào, hãng nào và dự án nào MOF thực sự ngăn cản việc hình thành một thị trường trái phiếu công ty hay một thị trường thương phiếu cho tới tận giữa những năm 1980, và khi đó chính phủ nhượng bộ chỉ vì các hãng lớn của Nhật Bản đã có được sự tiếp cận đầy đủ tới các nguồn vốn quốc tể khiến cho việc M OF ghìm chặt các dòng vốn theo truyền thống là không thể duy trì.
Khi các ngân hàng bị buộc phải giành một phần trong quỹ của họ cho các hãng do chính phủ sở hữu hoặc tới những người vay được chính phủ ưu đãi với những lãi suất được bao cấp, chính phủ đang thu hút một phần trong lượng cung tín dụng sẵn có cho nhừng mục đích sử dụng tư nhân (không được chỉ định) Hình 1.2 cho thấy hiệu ứng của việc tiếp tục thu hẹp nguồn cung tín dụng không chỉ định sẵn có cho nhừng người vay ngân hàng: Nguồn cung tín đụng tư nhàn lại chuyển dịch sang trái và khoảng cách giữa
Rl và Rd mở rộng - như được thể hiện trên Hình 1.2 là sự chuyển dịch từ L3 tới L4
Sở hữu chính phủ và sự quản trị tầm vi mô đối với các ngân hàng
Cách đơn giản nhất để chính phủ kiềm chế hệ thống tài chính là nắm quyền sở hữu tất cả các ngân hàng hay ít nhất là một số hoặc tất cả những ngân hàng lớn nhất; điều nàv rất phố biến ở các nước đang phát triển từ những năm 1960 tới những năm 1980 Ngav cả khi quyền sở hữu các ngân hàng nằm trong tay tư nhân, thì chính phủ có thê vẫn đưa ra những "chỉ đạo" cứng rẳn không chỉ trong các quyết định cho vay mà cả trong việc thuê người, tài trợ, và tất cả nhừng khía cạnh khác của quản trị ngân hàng Một ví
dụ rõ ràng vẫn là Nhật Bản Bên cạnh sự chỉ đạo của chính phủ đối với việc cho vay của ngân hàns tư nhân, nhà nước Nhật Ban còn kiêm soát trực tiếp hoạt động ngân hànơ Hệ thống Tiết kiệm Bưu điện Nhật Bản từ lâu là một trong những định chế tài chính lớn nhất trên thế giới, và nó là một nguồn các quỳ có chi phí thấp được bảo hộ mà chính phủ Nhật sử dụns đê tài trợ cho
9
Trang 25những chương trình tín dụng chi định của mình tới nhừng người vay được
ưu đãi thông qua Ngân hàng Phát triển Nhật Bản và những tổ chức cho vay khác của chính phủ Bằng cách hạn chế cạnh tranh để dành những khách hàng bán lé từ các ngân hàng tư nhân (cho tới mãi gần đây), chính phủ có khả năng tài trợ cho các chính sách tín dụng chi định của mình với chi phí rất thấp
Không phải toàn bộ tư cách sờ hữu của chính phủ đối với các ngân hàng là kết quà của một sự nồ lực có ý thức của chính phủ nhằm kiêm soát các ngân hàng Đôi khi sở hữu chính phù xẩy ra trong điều kiện có một sự sụp đổ và cứu giúp đối với hoạt động ngàn hàng Khi đó, một sổ ngân hàng
bị mất khả năng thanh toán mà các nsân hàns trụ lại được hâu như không có
ý định mua chúna Trorm nhừna trườne hợp như thế, giải pháp thiết thực nhất có thề là chính phủ nam quyền sở hữu trực tiếp đối với ngân hàng, với
dự tính sẽ bán nó đi tronơ tương lai Một trường hợp sớm quổc hữu hóa ngân hàn” ngay sau khủng hoảng ngân hàna là tnrờng hợp của Chi lê Cho dù chính phù cam kết mạnh mẽ về nền kinh tế thị trường, rút cục nó vẫn tiếp quàn khoảng hai phần ba hệ thổn" ngân hàng Tương tự, Mexico quốc hữu hóa toàn bộ hệ thống ngân hàng của nước này trong năm 1982 khi tình trạng
vỡ nợ cua chính phủ đã kích hoạt khúna hoảng nợ toàn cầu
Mặc dù mức độ sờ hữu cùa chính phủ đối với các ngân hàng có thể đo được một cách dễ dàng, điều khó khăn hom nhiều là đo lường sự kiểm soát hữu hiệu đòi với các quyêt định cho vay nsân hàns; của chính phú thông qua quá trinh quan lý Sự thảm nhập của chính phù vào hoạt động quản trị ngân hàng không dề lượng hóa Có thè khó mà phân biệt sự quản lý thích hợp đối
\ 0 1 sự thạn tiọng cua ngdn hànă với nhừn2 mệnh lênh cho vav đươc chs dấu cua chính phu
Trong mòi trường kièm chế tái chính với nhữna đặc trưno như mô tả tròn đáy hoạt động kinh tế cua nhiều nước ngày càn<J xấu đi Các hệ thổno tài chính bị thu hẹp hoặc vần nguyên tình trạng nhò bé; hiệu quả của việc cho \ a\ \u thu hỏi và cua các hoạt động kinh doanh cùa các hệ thốnơ nàv rất
Trang 26thấp, và cuối cùng là tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng trên quy mô rộng Các chính sách đã không đạt được các mục tiêu phân phối đã định, mặc dù những người thụ hưởng khoản tiền chênh lệch (rent) tạo ra từ
đó đã hợp thành một khối cử tri chính trị bào vệ sự tồn tại của chúng Động thái phát triển tổng thể bị tác động xấu này được xác nhận bởi phân tích kinh
tế lượng, cho thấy các nước có lãi suất thực âm mạnh thường có tăng trường
và hiệu quả phân bổ thấp hơn nhiều so với những nước có lãi suất thấp hoặc dương
Lãi suất thực âm, như có thể dự liệu, đã dẫn tới tình trạng phi trung gian hóa (không gửi tiền vào hệ thống ngân hàng), đào thoát vốn và kết quả
là sự phụ thuộc của quốc gia vào nguồn tài trợ nước ngoài vì những người tiêt kiệm trong nước tìm cách bảo toàn vốn của họ ở nước ngoài Trong khi một số chính phủ tiến hành kiềm chế đang cố gắng giữ ổn định kinh tế vĩ mô
ở mức họp lý - mặc dù với một độ sâu tài chính thấp - thì một số chính phủ khác lại trải qua nhừng biến động kinh tế vĩ mô m ans tính chu kỳ, gắn liền với nhừng làn sóng gia tăng kiềm chế tài chính Do đó, các áp lực tài khóa đang hình thành đã buộc các chính phủ phải rút ra ngàv cànơ nhiều nguồn lực từ khu vực tài chính, thông qua một khoản thuế lạm phát tăng tốc và các mức lãi suất thực thấp hơn, cho tới khi hệ quả về sự đánh giá quá cao tỷ giá
và tình trạng đào thoát von tăng lên đã làm bùng nổ một cuộc khủng hoảng
từ bên ngoài Trong những trường hợp cực đoan, siêu lạm phát đã làm giảm
tỷ lệ các tài sàn tài chính trong GDP xuống chỉ còn khoảng 4% ờ Bolivia và 7% ở Argentina [6]
Như vậy, mặc dù rất đói nguồn quỹ có thê cho vay, các hệ thống tài chính bị kiềm chế vẫn cứ phân bô sai phân lớn sô quỹ mà họ có được, tín dụng thường chảy tới các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quà và tới nhừng người vay tư nhân được iru ái (mặc dù họ khôn2; thiêu vốn)
Trên thực tế, việc sử dụns lài suất cho vay thấp hơn thị trường nhất thiết kéo theo một cơ chế phân bố tín dụng phi thị trường nào đó, mà chắc chắn đồng nghĩa với việc một phần trong số tín dụng đó sẽ tới với nhữnơ dự
Trang 27án khône có lợi nhuận, và lãi suất thấp khuyến khích việc sừ dụng những kỳ thuật có hàm lượng vốn quá lớn Đồng thời, những dự án có lợi nhuận cao lại bị bóp nghẹt, phải tự tài trợ hoặc phải bỏ qua công nghệ hiệu quả Chi định tín dụng, đặc biệt là khi thông qua những ngân hàng do nhà nước sở hữu, làm giảm khuyển khích đề các định chế tài chính đang hoạt động theo nguyên tắc thị trường đi điêu tra các dự án và chọn ra nhừng dự án có nhiêu khả năng nhất đem lại lợi suất thỏa đáng đã điều chình theo rủi ro Nó cũng lảm giảm động lực thu hồi các khoản vav xấu, và khiển cho hoạt động giám sát chính thức đi chệch ra khỏi những cân nhắc phòng ngừa mà hướng vào việc xác minh sự tuân thủ chính sách phản bô tín dụns.
Các quvết định cho vav kém và sir xuống cấp trong kỷ luật hoàn trả đà dẫn tới hậu quà là tình trạng mất khả năng thanh toán của nsân hàng và nhữriíi cuộc cứu giúp lớn bang ngân sách đối với những người gửi tiền và những nsười cho vay nước nsoài
Tín dụrm chỉ định thườntỉ có một độns lực chính trị mà càng qua thời gian càng khuyến khích sự phân bố sai tăng thẻm Các ngành hay doanh nghiệp cử đu điều kiện đè hưởns tín dụng chi định thì các khoản trợ cấp lớn luôn luôn sẵn có đê đáp ứng và chính sự sẵn có đó đã tạo ra những khuyến khích cho hành vi tìm kiếm tiền tô làng phí Những áp lực như thế đối với tín dụng chi định càng mạnh lên do những khoản thâm hụt của chính phủ đâ hâp thụ một ty lệ ngày càng ỉớn trone tổng lượne quỹ có thể cho vay, do lãi suàt chính phu áp đặt đi chệch nhiêu hơn khỏi lãi suất thị trường, và do lãi suất trẽn phần còn [ại đê "cho vay tự do” (không bị chỉ định) tất yếu phải tăng lèn Khi tín dụng từ các kênh thông thường đans trở nên khan hiếm hơn
\a tương đoi đăt hon nhừns nsười vav tiêm năng nsàv càns quay san° với các kênh chính trị và nhờ đó tăng thêm áp lực chính trị đối với việc phân bổ tín dụng phi thị trườns
Ọna tnnh kiêm chẻ tài chính khôns siúp được bao nhiêu cho các mục ticu phan phòi Những người giàu và có vị thế thuận lợi (các chu sơ hữu giam đòc và nhàn viên ngân hàiì2) thường thu được phần lớn khoan tiền tô
Trang 28do các mức lãi suất trần tạo ra Và các mức trần này cũng đem lại tiềm năng cho sự lạm dụng và tham nhũng.
Những hạn chế đối với sự gia nhập của các định chế tài chính ngân hàng (và phi ngân hàng) nước ngoài và định chế phi ngân hàng nội địa
Nhừng nước kiềm chế hệ thống ngân hàng nội địa thường cũng hạn chế sự tiếp cận hệ thống tài chính đối với những định chế mà sẽ là nhừng thay thế cho các ngân hàng nội địa Có hai dạng của sự hạn chế này: dạng thứ nhất là làm khó cho các doanh nhân trong nước gia nhập mới vào lĩnh vực kinh doanh tài chính, và dạng thứ hai là hạn chế các hãng nước ngoài trong việc mở cửa các chi nhánh trong nước hoặc mua các định chế tài chính trong nước Nhừng hạn chế như thế là rất phô biển và thế hiện một dạne của chủ nghĩa bảo hộ đối với những định chế tài chính trong nước, trong đó có các ngân hàng và các hàng chửng khoán Chúng liên quan chặt chẽ với chủ nghĩa bảo hộ nói chung
Cùng với kiểu cẩm đoán thẳng thừng còn có cả những rào cản bảo hộ khác tinh vi hơn Cũng giống như việc hầu hết các chính phủ đều thấy ràng việc quản lý vốn và hành vi của các định chế tài chính là rất quan trọng, hâu như tất cả các chính phủ đều đưa ra những chuẩn mực mà những ai muốn thiết lập các định chế tài chính đều phải đáp ứng Một số rào cản gia nhập là thích hợp Tuy nhiên, cũng như đổi với những quy định hạn chế về tín dụng ngân hàng, có một ranh giới mong manh giữa các chuẩn mực quản lý thích hợp cho việc gia nhập và kiểu lạm dụng quyền lực quản lý gắn với chủ nghĩa bảo hộ ngầm hoặc tham nhũng [5]
Không đáng ngạc nhiên rang nhiêu nước cảm thây khó mà chấp nhận các công ty nước ngoài vào hệ thống tài chính của họ Tài chính là một trong nhừng ngành then chổt tronẹ bất kỳ một nền kinh tể hiện đại nào, và các chính sách của nó tác độns tới phúc lợi của hầu hết các ngành khác N h ữ n s người theo chủ nshĩa dân tộc bảo hộ có thê lo ngại răng những người láng giềns lớn hơn sẽ tiếp quản hệ thống tài chính của họ và nhờ đó phát triển quyền lực đổi với toàn bộ nền kinh tể
Trang 29Tronơ khi đẩu tư nước nsoài trực tiếp trong các lĩnh vực sản xuất vật chát & , hầu như bao ơiờ cũng được hoan nghênh và đón nhận ở tât cả các cap, thi đầu tư nước neoài trực tiếp trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ tài chính - mà điền hình là các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm - lại luôn vấp phải những trở noại thuộc về nhận thức và hành động của phía tiếp nhận Những lập luận được đưa ra phản đổi sự thâm nhập của các hãng dịch vụ tài chính nước ngoài thường là:
• Đề bảo vệ một khu vực dịch vụ non trẻ của đất nước, tránh bất bình đăng trong cạnh tranh, do những định chế tài chính trong nước ngay
từ đầu đã có bất lợi thế (kém về năng lire, vốn và tình trạng tài chính
đã có vấn đẽ)
• Đê tránh tình trạns "hớt váng” của các hãng nước ngoài: ví dụ các n<’ân hàng nước ngoài sẽ thu hút được nhừns khách hàng tôt nhât đê thực hiện các dự án cho vav (lọ'i suất cao, rủi ro thâp); các hãng bảo hiểm nước ngoài sẽ chi bán bao hiểm cho những loại rủi ro tổt nhât
• Đê loại trừ một cơ chế lâv truyền bất ổn định; vì các ngân hàng là cửa nsõ đè các dònu vốn có thề đô vào và rút ra; các hãng bảo hiểm nước imoài có thê kích hoạt nhừna đòii2 ngoại tệ đô ra mạnh hơn Các hãng nước ngoài được coi là níỉuyèn nhân quan trọng của khủng hoảng.Lập luận ủns hộ việc mở cứa cho sự cạnh tranh của các dịch vụ tài chính nước ngoài được đặt trên hai mục tiêu cơ bản là ổn định và hiệu quả
ỏ n định Khái niệm hiệu qua ở đàv có the hiểu theo hai cấp độ Thứ
nhât đó là hiệu qua cá biệt cua từns định chế tài chính, tức là hiệu quả về mặt chi phí Thứ hai là hiệu quà cua cả hệ thống, hiệu quả trons việc phân
bỏ nguòn lực tài chính, tác độns tới tôc độ và tính bền vừng tronơ tăng trương nén kinh tê nói chunu Hai khái niệm này không hoàn toàn trùngw - © khớp với nhau, bơi trong một chế độ quan lv xác định, hiệu quả cá biệt của các định chò ngàn hàng cỏ thẻ đạt tới mức cho phép, soniz hiệu qua cùa hệ thong vàn co thò toi bứi nỏ còn liên quan tới một hồn hợp nhiều dịch vụ tới
Trang 30từ các kênh khác, ngoài các ngân hàng Tuy nhiên có một điều chấc chắn là hai cấp độ hiệu quả này có liên quan cùng chiều với nhau.
Trong hệ thống tài chính của các nước đang phát triển, hậu quả lịch sử
để lại thường là tình trạng độc quyền hoặc độc quyền nhóm, thiên về phía các định chế thuộc sở hữu nhà nước (Ví dụ trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, các ngân hàng thương mại nhà nước chiếm tới 78% tài sản và 80% thị phần tín dụng của toàn hệ thống) Tính chất phi hiệu quả cá biệt bắt nguồn chính từ môi trường quản lý hạn chế cạnh tranh này Bao cấp trong đầu tư và kinh doanh còn phổ biến trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, và các NHTM NN được chính phủ bảo hộ để cho vay theo chỉ định Điều đó đã hạn chế động lực và khả năng của ngân hàng để thẩm địnJh các phương án đầu tư
và bác bỏ khoản vay khi xét thấy không có hiệu quả, hay thu hồi khoản vay khi việc giám sát phát hiện ra các vấn đề không lành mạnh, Tinh trạng bảo
hộ này đưa tới hai hậu quả Thứ nhất, chi phí của các ngân hàng là rất cao,
do tổ chức cồng kềnh hoặc do thiếu năng lực - điều mà một ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh sẽ rất coi trọng bời nó liên quan tới sự tồn tại của chính ngân hàng Thứ hai, khi nguồn tín dụng được dành cho những đối tượng trên thì những người vay tiềm năng khác, đặc biệt là khu vực tư nhân là nơi có thể sử dụng tín dụng có hiệu quả hơn, sẽ khôns tiếp cận được tới khoán vay Điều này có nghĩa là nguồn lực của nền kinh tế sẽ tiếp tục bị phản bổ sai trên toàn hệ thống [21]
Việc cho phép các ngân hàng nước nơoài (hoặc các định chế phi nsân hàng) gia nhập thị trườns nội địa sẽ giúp sửa chữa được thực trạng này Cá trên phương diện lô-gíc cũng như thực nghiệm, nhừns ngân hàns tìm kiểm hoạt động ở bên ngoài quốc gia của họ đêu là nhừns naân hàna có hiệu quả
cá biệt cao Lý do là chỉ khi nào có được các kỳ nãno tô chức cần thiết để đánh giá một cách đúng đấn những cơ hội kinh doanh và những rủi ro đi kèm theo đó, để kiểm soát hoạt động của người vay, v.v, nghĩa là có hiệu quả cá biệt đổi ứnơ - thì nhữno ngân hàng này mới có hy vọng thành công
trong ở nước khác, nơi mà họ phải cạnh tranh với những ngân hànơ nội địa
mà có thể thấy trước là có ưu thế vượt trội vê mặt thôna tin về các quan hệ
Trang 31khách hàn2 cũng như mạng lưới sằn có Do vậy, khi hiệu quà của các định chế nội địa là kém, thì việc cho phép các định chế tài chính nước ngoài có hiệu quà cá biệt cao gia nhập là điều cần thiết Trên cơ sở lợi thế so sánh, các định chế nước ngoài sẽ giúp cải thiện chất lượng, việc định giá và tính săn
có của các dịch vụ tài chính - một cách trực tiêp với tư cách là các nhà cung cẩp, và gián tiếp thôno qua cạnh tranh mà khuyên khích các định chê nội đìa
áp dụng những cải thiện tương tự Những sản phâm tài chính mới này có thê đem lại những cơ hội tốt hơn cho việc đa dạng hoá các danh mục đâu tư và giao dịch liên kỳ Chuyển giao công nghệ sẽ diên ra khi những định chê quốc tế chất lượng cao gia nhập, kéo theo đó là sự nhập cư của đội ngũ nhân viên eiàu kỳ năng Các chuyên gia trong nước được thuê làm cho các hãng nước ngoài, sau khi tiếp thu các thôns ỉệ và công nghệ của những định chế quốc tế sẽ many chúns trờ lại với các định chế trong nước Các ngân hàng nước ngoài sè cài thiện được tinh hình phân bô tín dụng, do họ có nhừng hệ thông đánh giá và định giá rủi ro tín dụng tinh vi hơn, và họ có thê đánh giá
và dịnh giá chính xác hơn rủi ro gắn với những sản phẩm phái sinh, do có kinh nghiệm sử dụns các sản phẩm này trên thị trường quốc tế
Nhưng ngay cả khi hiệu quả cá biệt cùa các định chế nước ngoàikhông cao lắm, thì việc cho phép họ gia nhập, đơn giản là để tạo ra môitrường cạnh tranh mạnh hơn, đã là điều đáng làm Tính chất đáng mongmuôn này được xác nhận qua việc kiểm nghiệm mối quan hệ giữa mức độtích tụ trong khu vực ngân hàng với tăng trường kinh tế trong bốn mươi mốtnước và ba mươi sáu ngành công nghiệp chế tạo (theo Edward M Graham).Kèt qua cho thày tích tụ trong khu vực ngân hàng càng lớn thì tăng trưởnơsàn lượng kết họp cua tất cả các ngành công nghiệp càng thấp - tức là tích tụtrong ngành ngàn hàng có hiệu ứng hàng đầu là kìm hãm tăng trưởng tổng thè
On cĩmh Các ngân hàng nước ngoài có thê cuns cấp nguồn tín dụng
on dinh hon và có thè giúp cho hệ thống nsân hàns v ữ ns vàng hơn trước những cu sòc Lọi the này là do chi nhánh hay ngân hàng con cùa những ngan hun- quòc tò lơn co thò dựa vào ngân hàng mẹ cua họ đê có được vốn
Trang 32và sự tài trợ bổ sung khi cần thiết Đến lượt mình, ngân hàng mẹ có khả năng cung cấp nguồn tài trợ đó là vì nó thường nắm giữ một danh mục đa dạng hoá ở tầm quốc tế Dòng thu nhập của nó sẽ ít bị phụ thuộc hơn vào những cú sốc thuần tuý nội địa Hơn nữa, các ngân hàng quốc tế lớn sẽ tiếp cận tốt hơn tới thị trường tài chính toàn cầu, so với các ngân hàng nội địa.
Sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài còn cải thiện được tính ổn định tổng thể của hệ thống ngân hàng nội địa, bởi nó hàm ý cho phép một đất nước nhập khẩu hoạt động giám sát thận trọng rất mạnh, ít ra là cho một phần của cả hệ thống tài chính Chi nhánh địa phương của một ngân hàng quốc tế sẽ bị ngân hàng mẹ giám sát chặt chẽ vì những lý do liên quan tới uy tín của ngân hàng mẹ Bên cạnh đó, các ngân hàng nước ngoài do tham gia vào những hoạt động mới và phức tạp hơn và cung cấp những sản phẩm mới, cũng có thể khiến cho các cơ quan giám sát nội địa phải nâng cấp chất lượng và sổ lượng đội ngũ nhân viên của mình đê giám sát tổt hơn hoạt động của tất cả các ngân hàng, nước ngoài và nội địa Các chi nhánh hav ngân hàng con của các ngân hàng quốc tế cũng thường có những đòi hỏi vê công
bố thông tin, về kế toán và báo cáo phù hợp với những thông lệ quốc tế tổt nhất Khi các ngân hàng nội địa, do muốn được nhìn nhận là lành mạnh không kém các ngân hàng nước ngoài mà cũng áp dụng những thông lệ này, thì chất lượng tổng thể của thông tin và trạng thái của hệ thống ngân hàng sẽ được nâng lên [21]
Sự hiện diện của các ngân hàng nước nsoài trong tình huống có khủng hoảng trong nước có thể làm gia tăng tính ôn định do nó cho phép cư dân
"thực hiện sự đào thoát vốn tại chỗ", tức là chuyên tiên gửi sang những nsân hàng nước ngoài đóns tại nước mình, thay vì ra nước naoài Cuối cùne, nsân hàng nước ngoài có thể cho phép quyên tiếp cận trực tiếp tới những điều kiện về người cho vay cuối cùng của nhừng thị trường đã phát triển cao thông qua các ngân hàng mẹ
Lập luận về tính hiệu quả và vai trò on định của các ngân hàng nước naoài cũnơ đúng cho các định chê phi ngân hànơ khác, mặc đù loại hình dịch
TRUNG TÂM T HO r ĩỉí ' ' r ' ,
Trang 33vụ tài chính được cung cấp là khác nhau Chẳng hạn, đối với hoạt động bảo hiểm, noười ta lo ngại ràng các hãng bảo hiểm nước ngoài sẽ chỉ bán bảo hiếm cho nhữns rủi ro tốt nhất và bỏ lại những rủi ro cao cho các hãng nội địa Các hãng bảo hiểm nước ngoài còn ỉà yếu tố tạo ra dòng vốn ra ròng đáng kể gây tác độne xấu ờ cả tầm vĩ mô và vi mô, Tuy nhiên, những nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy không có cơ sở nào đê khăng đinh những tác độns tiêu cực đổi với nền kinh tế là do sự hiện hữu của cac hãng bao hiểm nước ngoài Trái lại, một thị trường bào hiêm cạnh tranh ơ mưc khá thi sẽ đem lại ôn định cho nên kinh tê Bào hiêm giúp ôn đinh hoa tinh hình tài chính cùa các cá nhân, gia đình và tô chức Nó hoàn thành được nhiệm vụ nàv bàng cách bù đắp cho những người phải chịu mât mát hoặc thiệt hại Nếu không có bao hiêm, các cá nhân và gia đình có thê kiệt quệ tài chính và buộc phái tìm kiếm sir hồ trợ từ họ hàng, bạn bè và chính phủ Các doanh nghiệp có những khoản thua lồ đáns kê không được bảo hiêm có thê phai trải qua sự suv uiám mạnh về tài chính hoặc thậm chí có thê phá sản Sự kiện đó khônu chi làm uiàm giá trị cua những phần vốn chủ sở hữu góp vào kinh doanh, mà nó còn châm dứt sự đóng góp của cônơ ty cho nên kinh tê Nmrời lao dộnu mất việc làm các nhà cune cấp mât công việc kinh doanh, khách hàna mất cơ hội mua từ hãnií, và chính phù mất nguôn thu thuê Tính
ôn định mà bao hiẻm đem ỉại khuyên khích các cá nhân và hãng tạo ra của cái bans sự dam bảo ràns các nsuôn lực của họ có thê được bảo vệ
Nhìrne nmrời cỏ vũ tự do hóa các thị trường tài chính đang nổi, trong
đó nôi lên là IMF thườrm đặc biệt nhân mạnh việc chấp nhận các định chế tài chính nước ngoài, với hy vọng rằng dạng cạnh tranh này sẽ đem tới những cai thiện troim hoạt độnạ ngân hàng Sir sia nhập tự do của ngân hàng nưoc ngoài khỏim chi đem lại một nìỉuôn vốn quan trọns, mà nó còn aiúp đa dạng hóa CO' sơ quyên sơ hữu và da nil mục khoan vay cúa những nsười chomì o ovay a các nước dang phát triền (vi các nạân hàna, toàn cầu về bản chất là nam giù nhùiiL! danh mục đa dạn LI hơn), điêu này khiên các ngân hàn° mau choivj phục ỉiòi hon trưoc nlùrnu cú sỏc bất lọi tron” nước Cuối cùn'1, các
nr ' i:i Ill'Ll IHU'C II^'.I! lạo r;i ap lực cạnh tranh đán” kê uiúp nâng cao chất
I s
Trang 34lượng của quản trị ngân hàng nội địa Ngành tài chính đang thay đồi nhanh chóng, với các hệ thống quản trị rủi ro và công nghệ thông tin thay đổi hàng năm Không có cách nào để đưa những ý tưởng mới đó vào ngành kinh doanh nội địa nhanh hơn là đón nhận những định chế nước ngoài như là những người chơi đầy đủ tư cách.
Chắc chắn là các định chế tài chính do nước ngoài sở hữu (mà có thể lựa chọn giữa các nước khi quyết định việc mở rộng ra nước ngoài) sẽ kém sẵn lòng hơn trong việc tuân thủ những chỉ đạo phi chính thức từ các chính phủ về "các ngành chiến lược", v.v Điều đó có thể là mối quan tâm hàng đầu của những người muốn hạn chế sự gia nhập của nước ngoài Vì sự chi đạo như thế tự nó đã là một dạng của kiềm chế tài chính, một lợi ích khác nữa của việc cho phép sự gia nhập của nước ngoài là nó kéo theo việc làm yếu đi quyền lực của chính phủ trong kiểm soát các dòng tài chính
Các chính phủ cũng có thế hạn chế một cách có chủ ý sir phát triển của thị trường chứng khoán Ví dụ ở Nhật Bản, trái phiếu côna ty trong nước
và thương phiếu vẫn bị cẩm trên thực tế cho tới giữa nhừnơ năm 1980 Rõ ràng những phương án thav thế như vậy đối với cho vay của nsân hàng có thể làm xói mòn mong muốn kiêm soát các dòng vốn của chính phủ Sons điều này chỉ có hiệu lực nếu bản thân các công ty bị hạn chế trong khuôn khổ biên giới quốc gia Chính sự tiếp cận tới các thị trường chứna khoán toàn cầu của các hãng lớn của Nhật Bản cuôi cùna đã làm suy giảm quyền kiểm soát của chính phủ đối với việc phân bố vốn vào nhừng năm 1980
Kiếm soát vốn - Tính họp lý và các biện pháp
Vốn tư nhân lưu thông trên các thị trường quốc tể theo ba kênh chủ
yêu: vôn trung chuyên qua hệ thông ngân hàng, vô/7 đâu tư trực tiếp nước ngoài, và von đầu tư qua danh mục, tức là đâu tư qua các côns cụ tài chính
như cổ phiếu, trái phiếu (portfolio investments)
Kiểm soát vốn nói chung có hai hình thức chu yếu là kiểm soát trực tiếp hay hành chính, và kiểm soát gián tiếp, dựa trẽn thị trường
19
Trang 35(a) Các biện pháp kiêm soát trực tiếp hay hành chính hạn chè các
giao dịch vốn và những khoan thanh toán và chuyển nhượng quỳ kèm theo thòng qua những diều cắm dứt khoát, những giới hạn về lưọmg dược nói rỏ hoặc một quy trinh chấp thuận (co thê dựa trên quy tác haợc cùng có thê tùy
ỷ đăt ra) C’ác biện pháp kiểm soat hành chinh đ.èn hình thưởng cố găng tác dộnụ trực tiếp tới khối lượng cua các giao dịch tai chinh qua bièn giơ! co liên quan Một dặc tính chung cua những biện pháp này là chúng áp đặt các nghĩa vụ hanh chinh lên hộ thống ngân hàng đô kiêm soát các dòng quỳ
(b) Cúc biện pháp kiếm soát gián tiếp, dựa trên thị trường kiêm
chế sụ vận đô nu của vốn và các giao dịch găn với chúng bằng cách làm cho việc thực hiện chúnu có chi phi cao hơn Những kiòtn soát nay co nhieu dạne khác nhau, bao uồm: các hộ thỏnu tý uiá hai càp hoặc du cap; danh thue côn*’ kỈKii hoãc ngàm dôi với các dỏnu tủi chính iỊUíi bicn ÍẠIƠ1 (thuc tobin);
và các biện pháp chù yêu dựa trên '-liá khac I ùy theo từng loại cụ thè, cac hiện pháp kiêm soát dựa trên thị trưừnu có the tác động tới hoặc là gia hoặc
ca ưiá lần khôi lượim cua một liiao dịch nhât dịnh
• I rony các hệ thong ty giá hai cap hoặc d a cáp, các mức tý giákhác nhau dưực áp tlụnu cho các loại giao dịch khác nhau Ihị trường ngoại hổi hai cấp điển hình dược thiết lập tro nu nhữnu tình huỏng trong đó các nhà chức trách dã coi lãi suất IIlian hạn cao là áp đặt một gánh nặng không thê chấp nhận lên cư dàn nội địa, và cố liấníi tách đôi thị trường đồng nội tệ, bằn ụ cách vèu cần hoặc hướnu dẫn các định chế tài chính trong nước không cho vuv tứi nhữnu nmròi va\ tham uia hoạt dộnii dâu cơ Các giao dịch imoại hòi Lũm với các dònu thưưnu mại, l: DI, và thườnsi là đâu tư vòn chù sơ hữu dirọc miên khoi nhữniỊ hạn chè \'è thực chât, thị trườn ạ hai câp cô uẩrm nàng mức chi phi cua Ún vlụnu nội địa dôi vói các nhá dầu cư cằn thiết dỏ tạo lạp một \ ị ihc n ã 11 (short position) roim dôiiii nội tộ tronụ khi vẫn cho phép các can tin ilụnu Iron ụ m ư c phi dà LI c<ĩ dược tluKi màn tại mức lãi suất thị
• hĩnh t! u r t' n ’' ( 'ac liỌ thônu hai càp cùn UI có thò điều chinh các đòn"'"'11 \.ti* qua múc \ .1 li'' d<i !V\m chặn đưọc một mức tv uiá qua 111 lie đirưc
<-■ ■■ I c i!i'i \ I>i uiv- 'IKIO ilịch tài khoan \ ànụ lai Nhữtiu ỉ lõ tlinno
Trang 36như thế cố gắng ảnh hưởng tới cả khối lượng và giá cùa các siao dịch vốn Cùng giống như các kiểm soát hành chính, chúng cần được hiệu lực hóa bẳng các quy tắc tuân thủ và do đó chúng hàm nghĩa sự quăn lý hành chính các giao dịch ngoại hổi cùa đối tượnu lưu trú vả các eiao dịch nội tệ cua đối tượng không lưu trú để tách rời các giao dịch vãng lai và giao dịch vốn.
• Đánh thuế rõ ràng các dòng qua biên giới liên quan tới việc áp
đặt thuế hay phí lên các giao dịch tài chính đối ngoại, do đó hạn chá tính hấp dần của chúng, hoặc !ên thu nhập đem lại từ việc nắm íỉiĩr các tài san tài chính nước ngoài của các đối tượng lưu trú hoặc nấm uiừ các tài san tài chính trong nước cùa các đối tượng không lưu trú bang cách dó khỏnu khuyên khích những khoản đầu tư như thẻ, thôim qua việc giam lợi suất hoặc tăng chi phí của chúnụ Thuế suất có thể được phàn biệt dế khuyến khích nhừng loại giao dịch hay những thời hạn nào dó Việc đánh thuế như thể có thể được coi như là một sự hạn chế đối với các hoạt dộnu qua biên giới nếu nó phân biệt đối xứ liiìra các tài sán nội địa và bèn ntioãi hoặc giữa các đối tượng lưu trú và không lưu trú
• Đánh thuế gián tiếp đối với các dòng vốn qua biên giói, dirói
hình thức dự trữ/tiền gửi bắt buộc không có lãi (từ dây nọi tảt ỉà URR) là
một trong những biện pháp kiêm soát dựa trên thị trườn lĩ, dược sứ dụng thườne; xuvên nhất Trona, hệ thổna này, các nuàn hùrm và tò chức phi nsàn hàn tỉ giao dịch cho chính họ được đòi hoi phai íiưi khònu có lài tại rmân hàne trung ương một lượng nsoại tệ hay nội tệ tươim đươrm với một tỳ lệ cùa các dòna tiền vào hay vị the ròna của níĩoại tệ URR có thè tim cách hạn chế các dòng vôn ra bằnc cách làm cho chúrm nhạy cam hưn với lãi suất trong nước Ví dụ, khi có áp lực làm done nội tệ íỉiam uiá, một URR 100% được áp đặt lên các neân hàn2 sè tăna nấp đôi khoan thu nhập tiền lãi bị mất
đi do chuyền từ nội tệ sanu nuoại tệ URR cììnu cỏ thê dược sư dụim dê hạn che các dònu vốn vào băn” cách uiatn lợi nhuận thực thu cua chúns: và
ch Ún 2 có thê đirợc phân biệt dê khuyên khích nhữnu loại uiao dịch nào dỏ
21
Trang 37• Các biện pháp kicm soát quán lý khác có những đặc trưng cua
cả các biện pháp dựa trên giá và dựa trên iượng và liên quan tới sự phân biệt
đối \ ư giữa các loại uiao dịch hay các nhà dâu tư khác nhau Mặc dù chúng
có thè anh hươnu tới khối lượn ụ và bàn chất cua các đòna vốn các quy định
quăn lý như thế đỏi khi có thê được thúc đây bởi nhừnu càn nhác kiêm soái
tiền tệ trona rurớc hav những mỏi quan tâm mans: tinh phòng imừa Các biện
pháp này bao íiom: các khoán dự phò nu cho vị thè ngoại tệ ròng cúa các
nííân harm thươns, mại nhirniz uiới hạn vị thố mớ bất đối xứng có phàn biệt
iiiừa các vị the hán và mua (short position và loniz position) đông tièn hoặc
uiữa các dối tượnu lưu trú và không lưu trú; và nhữntỉ dõi hoi nhất dịnh về
xêp hạn Li tín dụrm dè di vav o nước nuoài Mặc dù khỏ nu phai là một biện
pháp kiém soát quan K theo nụhĩa chặt cho \c u câu vè báo cáo đối với các
giao dịch cụ thò cũng dược su dụnu dè uiám sát và kiêm soát các dònií vụn
dộng cua vòn (nhu các giao dịch phái sinh, eac Líiao dịch có liên quan phi
thưưnỉi mại \'ới các dôi tirợrm khònu lưu trú)
H ộp 1.1 M i ừ i i ” rui ro troiiị* jjiao liịch q u a hiên íiiói CIÌU c á c n » â n hùiiíí
M ơ cưa tài khoan vòn \ à c á c g i a o dị c h qua hiòn tỉiúi c u a c á c n g â n h à n u c ỏ t hế d e m
t heo n hữn g rui ro hũ s u n ” nùi c ỏ the làm gi a t ăng q i ụ m ỏ h a y tinh c h ắt p h ứ c tạp cùa
VICC quan UỊ cua nhũng loại rui ro cụ thè mà tác ngân iúing thường phai dối mặt
t rong hoạt J ộ n u nội đị a cua ho N h ữ n g rủi ro c h í n h tron ti bối c a n h m ộ t tài khoăn
will m ơ cư.i \ à c a c h dõi p h o \ ớ i n l u mu rui ro nà> đ ư ợ c t ó m tắt cluứi d ã v
1 Rui ro (ill (lụiiỊi; thãi bại cua một hen dối Uic tron li v i ệ c t hực h i ệ n mộ t dãn
\ ẽ p lu*p N o k h ô n ỵ chi d ũ n g c h o c á c k h o a n \ a > m à c á c h o n h ữ n g vị thế
irony \ à nuoai baiiỊỊ cân dối kế toan, như n h ữ n g h ợ p J ồ n u h á o lành, nhirniz
UUI> chàp nhận \ à c á c khoan đầu t ư c h u n y k h o á n N h ữ n g k h í a c ạ n h b ố SUIV-
c.ia ru ị ro tín Juni! Irony hôi canh n h ữ n g g i a o d ị c h Mi v ê n b i è n g i ớ i b a o g ồ m :
• rui rn c h u y ê n g i a o : khi d o n g tiòn n g h ĩ a MI t r a t hánh k h ô n '4 sần c ỏ
Jc sir June cho nnưoi \as
• n n ru t h a n h t o á n rui rt> iroriLỉ \ j ệ c t hanh l o à n c á c II■_’})icp vụ
I’Hjt MUM tJ<* Illume khác hiệt vồ mũi ỊỊÌir
Trang 38• rủ i r o q u ố c gia: rủi ro eẳn với môi trườrm kinh tồ xà hội va chinh
ưj c ủ a q u ố c gia của ngườ i vay.
R ủ i r o thị tr ư ờ n g : rủi ro thua lồ trên các vị ihế nội b án e ho ặc nuoại bánu cua
c ác ngân h àn g phát sinh từ nhữnỵ biến độntĩ trong g iá cã thị irưừns, làm tha> đối giá trị thị trường cùa một tài sân hay một cam kct [.oại rủi ro nàv là cố hữu trong khoản nắm uiữ các c hứ ng khoán khá mại cua các nụãn hànti các
c ô n g cụ phái sinh tài chín h, các vị the m ơ nuoại hối và tronu dộ nhạ> cam với lãi suất của c á c tải sán và rmhĩa vụ cua ntỉãn hàníỉ.
• R ủ i r o n g o ạ i hối : h à m > rủi ro mill mát trên c á c vị thỏ nội hoặc
ngoại bàng cân đoi kc toán phát sinh lừ nhừniỉ thay dõi bất lợi cua ty u ĩ a Loại
rủi ro n à y t hi r ừng d ư ợ c đ ồ n g nhất với c á c d ò i m v ố n q u a b i ê n liiứi C á c nuàn
h à n g h ứ n g c h ị u rủi ro n à y khi hành d ọ n u với tu c á c h là n h ũ n ” nhà tạo thị
t r ườ n g tronií lĩ nh v ự c n g o ạ i hối, b ằ n g c á c h yế t c ú c m ứ c ly ui ú c h o c á c khách
h à n g cùa h ọ v à thi ết lặp c á c vị thế m ơ khòi i u ráo c h á n ru ĩ ro dôi \ ứ i imoại tộ.
• R u i r o lãi s u ấ t : là rùi ro phát si n h đ ổ i với tình trạnt: tài c h í n h c ù a
m ộ i n g â n h à n g khi c ó nhữnsỉ c l u i y è n d ộ n ụ bãt lợi c u a lãi suat nlur là kct quá
c ủ a m ộ t s ự v ê n h u h é p g i ữ a c á c tái sán n h ạ \ c a m va c á c n g h ĩ a vụ n h ạ y c a m với lãi suất c ù a m ộ t n g â n hànụ, v à n ó lác đ ộ n u lẽn c a thu n hập c u a i màn hán li
c ũ n g n h ư g i á trị k i nh tê c u a tài san c u a n ợ và c u a nliữnti ã t i i ự cụ nưuại hanii
N h ữ n g hỉ nh thái c h ú veil c ù a rủi IO lãi suất là:
R ủ i r o đ á n h g i á lại: phát si nh từ n h ừ n u kháu biệt vỏ thời d i ê m
t r o n g t hời g i a n đ á o hạn v à t rong v i ệ c đ ánh Liiá lại c á c tái sán c á c khoan n ạ và
n h ữ n g vị t he n u o ạ i bántỉ c u a niíân hàng;
R ủ i r o c ỉ i rờng c o n g l ợi s u â t : phát si n h từ n h ữ n ụ t hay đ ò i t rong độ
d ố c v à h ì n h d ạ n e c u a d ư ờ n i ỉ c o n g lựi suât:
R i i i r o CO' b à n ( b a s i s r i s k ) : phát sin h tử tươntỉ q u an khôn ti hoàn
h à o i r o n a s ự đ i ề u c h i n h c á c m ứ c lãi suàt thu d ư ợ c v à phai trà tròn n h ữ n u c ô n u
c ụ k h á c n h a u m à c ó nhữn i ỉ dặc tinh đị nh iiia lại t ư ơ n u tự nlur n hau
• R ủ i ro t r o n g g ia o d ịc h c á c c ò n g cụ p h á i sin h : nhữtm c ỏ n u cụ
phái s i n h là m ộ t p l u i o n e p háp i mi ụ c a n g p hò bi òn dò e h â p nhặn h o ặ c ráo chăn rùi ro Ch i plií t hựv sụ' t u a vi ệ c t ha) thô mộ t h ợ p d o n e phái sinh lại nhừnL!
m ứ c e i á thị t r ư ờ n ” hi ện hành !a mộ t t h ư ớ c d o \ e rui ro c u a một \ ị thố phái
s i n h t r ước rui ro thị t rường Vì n hi è u troni: s ò n h ữ n g l ỉi ao d ị c h n à \ đirợc thô
h i ệ n b c n n u o á i barm c à n dôi kẽ t oán, nên 11 luìn li c ơ q u a n i i i ám sát c à n phai hát>
Trang 39răne có đu thóns tin hơn Kiêu ứn° xử đó sê đưa tới những chuyển động thị trườnơ đỘT ngột và tính biến động Hành động theo đám đông có thè là hợp
lý tronơ sự hiện hữu cua những thác thông tin khi mà các đại diện suy ra thône tin một cách tối ưu từ hành động của các đại diện khác và do đó hành đônư ơịốnơ như thêi và tronă sư hiên hữu của các vân đê chủ sở hữu - đại diện, theo đó các nhà đầu tư quản trị tiền cho nhũng người khác có thế có một khuyến khích đế "trốn vào đám đông" để không bị đánh giá một cách dễ dans, ứng xử bầy đàn có thể phát sinh khi các nhà đầu tư có thông tin không đầv đu suy ra ràns một chứ nu khoán có chất lưcmg thấp hon (hay cao hơn) mức trước dó mà nmrời ta nghĩ, dựa trên quyết định bán (hoặc mua) chứng khoán đó bời nhữnti nhà ncười khác được coi là có đủ thông tin hơn Kiểu ứng; xử như thế có thè có tác dụng khuyếch đại những chuyên động của giá
và đày tới nhừntỊ cuộc khung hoánư đột nơột ứ n íĩ xử bầy đản cũng có thể phát sinh khi các nhà đầu tư khôna, có đủ thông tin về chất lượng của những nuười quán trị các quỹ tiền của họ Khi đó nhừnu người quản trị tiền có chất lượng thàp có thè thày sẽ là hợp lý nêu họ cũng đưa ra các quyêt định đầu tư giống như cua những nhà quan trị khác, với mục đích để khỏi bị phát hiện Một làn nữa, điêu này có thê khuyèch đại tính biên động của giá tài sản
c nôi cùng, ứng xư bây đàn có thê là hợp lý trong sự hiện hữu của những ngoại ứng vè tiền thưởng, khi khoản tiền thưởng cho một đại diện chấp nhận một hành động tăng lên theo sổ lượng cua những chủ thể khác c ù n ơ chấp nhận hành dộng đó Chăng hạn, một nhà giao dịch tiền thì quá nhỏ bé để có the lam cạn dự trữ của ngân hàng trung ương và buộc phải phá giá đồng tiền song \ lệc đỏng thời bán đông tiền đó bời nhiều nhà giao dịch lại có thể gây
ra hiệu ứng đó Ngoại ứng tiền thưởng này có thể dẫn tới kiểu ứng xử bầy
Mu lụa chọn nghịch hoặc rủi ro đạo đức can trỏ’ nhữne ạiao dịch đánơ mong muôn mà lẽ ra đã diễn ra nếu thône tin bất đối xứntí ít nghiêm trọng lion, thi kèt qua sẽ không tòi ưu về mặt kinh tế nhưng ít kha năng (rắn với nhung mi ro hệ thống quan trọng Tuy nhiên, trong những hoàn canh khác till lựa chọn nghịch ha_\ dặc biệt là mi ro đạo đức về tiềm nãnụ la có thê ỵắn
2(1
Trang 40với những vấn đề mang tính hệ thống, v ẩ n đề quan trọng nhất trong lĩnh vực
này chắc chắn là rủi ro đạo đức tạo ra bởi sự bảo lãnh rộng rãi, ngầm hoặc công khai, của chính phủ đối với các định chế tài chính (và đôi khi với cá những loại doanh nghiệp khác), mà không có những biện pháp bảo vệ thích đáng trước việc chấp nhận rủi ro thiếu thận trọng của nhữns định chế đó, hoặc không có những khuyến khích thỏa đáng để cho kỷ luật thị trường xử
lý một cách hữu hiệu việc chấp nhận rủi ro quá mức
Như vậy, ở những nơi nào mà các vấn đề về thông tin và rủi ro đạo đức là đặc biệt nghiêm trọng - như khi các chủ ngân hàns có phần hùn von quá ít và không có sự giám sát hữu hiệu, thì cán cân sẽ nghiêng về phía kiềm chế tài chính ở mức độ đáng kế Trong những hoàn cảnh nhất định, nhữns chính sách của chính phủ nểu được thiết kế tốt đê tác động tới phân bổ tín dụng và chấp nhận rủi ro, có thê rất hữu ích trong sự bù đắp những khiếm khuyết của thị trường
Lý do thứ hai, liên quan tới thực thi chính sách, là các biện pháp kiêm
soát vốn có thê giúp làm cho những mục tiêu chính sách xung đột có thế trỏ' nên phù hợp với nhau, khi tỷ giá ỉà cố định hoặc bị kiêm soát chặt Những
lập luận được đưa ra là các biện pháp kiêm soát vôn sẽ báo toàn được sự tự chủ trong điều hành chính sách tiền tệ, đê hướng chính sách tiền tệ vào các mục tiêu trong nước, và giảm các áp lực lên tỳ giá Một động lực nữa có liên quan của các biện pháp kiếm soát vốn là đê bao vệ sự ôn định tiên tệ và tài chính trong bối cảnh có những dòng vốn dai dănơ đặc biệt là khi có nhừns
moi lo ngại liên quan tới; (i) hậu quả lạm phát của các dòng vốn vào lớn, hoặc (ii) sự đánh giá không thỏa đánơ các rủi ro bời các ngân hàng hoặc khu vực côna ty trong bối canh một tỷ ơiá được kiêm soát chặt chẽ, mà bans cách cung cấp những bao đảm ngầm cho tỷ 2Ìá, đã khuyến khích một sự tích đọng các vị thế ngoại tệ không được rào chăn rủi ro Và cuôi cùns, các biện pháp kiếm soát vốn còn cỏ thê được sử dụng đê hô trợ các chính sách kiềm
chế tài chính đê cung cấp MỊiiồn tài trợ rẻ cho ntíân sách chính phu và các
khu vực được ưu tiên [3]
27