1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông

105 418 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 5,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông Xây dựng bộ công cụ để nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông

Trang 1

ĐẠI H Ọ C Q U O C GIA H A NỌI

KHOA Sư PHẠM

:«c ^ ^

DÊ TÀI:

X Â Y DỰNG BỘ CÔNG c ụ Đ E n g h iê n c ứ u ■ ■ ■THỰC TRẠNG THÓI QUEN HOẠT ĐỘNG TRÍ Ó c ■ ■ ■ ■CỦA HOC SINH TRUNG HOC PHổ THÔNG

Trang 2

HN: chỉ những người có thói quen sử dụng cả hai loại ngôn ngữ kể trên.

H ’N: Chỉ những người có thói quen sử dụng cả hai loại ngôn ngữ nhưng mạnh hưn về loại HA

HN’: Chỉ những người có thói quen sử dụng cả hai loại ngôn ngữ nhưng manh hơn về loai NA

Ket-noi.com kho tài li ệ u mi ễ n phí

Trang 3

Mục lục

1.2.2 Tác dụng của các kiểu hoạt động trí óc 35

1.3 Dạy học dựa vào kiểu hoạt động trí óc và kiểu học 391.3.1 Dạy học dựa vào các kiểu hoạt động trí óc 39

2.1.3 Dựa vào thói quen về các kiểu làm việc trí óc 54

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài.

Đổi mới phương pháp dạy và học đang là một yêu cầu cấp bách trong ngành giáo dục, từ giáo dục mầm non đến đào tạo sau đại học Phương pháp dạy và học phải được đổi mới sao cho người học chủ động trong học tập và người dạy thực sự là người chỉ đạo, hướng dẫn cho việc học tập đó, làm cho người học không chỉ chiếm lĩnh được kiến thức mà cao hơn, quan trọng hơn

là có phương pháp làm việc trí óc tốt, trở thành người năng động, sáng tạo trong cuộc sống mới, thích ứng với sự phát ưiển nhanh chóng của khoa học

và cộng nghệ, với nền kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa

Phương pháp giảng dạy cũng như phương pháp của bất kỳ hoạt động nào là cách thức tác động đến đối tượng lao động để đưa lại kết quả Muốn

có phương pháp tốt cần phải nắm được đặc điểm của đối tượng lao động và các quy luật vận động của chúng, từ đó tìm cách tác động một cách phù hợp với quy luật

Đối tượng của việc dạy là hoạt động trí óc của người học Đối tượng cùa việc học là sự phát triển phẩm chất trí tuệ, trong đó hoạt động trí óc của người học vừa là phương tiện vừa là một mục tiêu Vì vậy neười dạy và người học cần hiểu rõ quy luật hoạt động trí óc của quá trình học tập thì mới

có thể có phương pháp tốt cho việc dạy và học

Do vậy, việc tìm hiểu quy luật hoạt động trí óc của người học trờ thành vấn để quan trọng và hết sức cấp bách trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập đối với các nhà giáo dục và cho bản thân cùa mỗi người học Vấn đề này tuy là không mới mẻ đối với các nhà giáo dục ở một số nước phát triển, nhưng ở Việt Nam vấn đé này mới chỉ dừng ở việc tìm hiểu

lý thuyết mà chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc để giúp ích cho việc

Trang 5

đổi mới phưưng pháp giảng dạy trong nền giáo dục nước ta Muốn xác định được thói quen hoạt động trí óc của người học, nhiều nhà nghiên cứu trên thê' giới đã nghiên cứu bộ công cụ xác định kiểu học, kiểu ngôn ngữ bên trong Tuy nhiôn việc thích ứng các bộ công cụ với điều kiện hoàn cảnh Việt Nam cũng không phải đơn giản Nếu chúng ta đưa ra được nguyên lý xây dựng bộ công cụ thì các nhà giáo dục có thể tự thiết kế cho mình bộ cống cụ mà nội dung của nó có liên quan đến chuyên môn giảng dạy thì sẽ tiện dụng hơn nhiều Chính VI các lý do trên mà chúng tôi đã chọn đề tài:

Xảy dựng bộ công cụ đ ể nghiên cứu thực trạng thói quen hoạt động trí óc của học sinh trung học phổ thông.”

Phương pháp và phương tiện nghiên cứu con người

Đôi tượng khảo sát

Trang 6

Học sinh trung học phổ thông trường trung học phổ thông Trần Phú và Đinh Tiên Hoàng - Hà Nội.

4 Giả thuyết của đề tài:

1 Mỗi học sinh đều có thói quen hoạt động trí óc của mình và thói quen này có thể xác định được một cách khoa học

2 Dựa vào đặc điểm hoạt động nhận thức và đặc điểm của thông tin có thể xây dựng bộ công cụ xác đinh thói quen hoạt động trí óc

5 Nhiêm vu của đề tài:m

Với hai giả thuyết trên thì nhiêm vụ đặt ra cho đề tài là:

• Xây dựng bộ công cụ để xác định thói quen hoạt động trí óc của học sinh

• Thực nghiêm bộ công cụ và chỉnh sửa

• Thực nghiệm lại

• Điều tra học sinh về thói quen trong nhận thức

• Phỏng vấn học sinh để làm rõ kết quả thực nghiệm

• Xây dựng tài liệu hướng dẫn xây dựng và sử dụng bộ công cụ

• Bộ công cụ

6 Phương pháp nghiên cứu của để tài.

Để thực hiện đề tài này tôi sẽ dùng những phương pháp sau:

Trang 7

ỉ Nghiên cứu lý thuyết để xây dựng phần cư sở lý luận của đồ tài.

2 Phương pháp thực nghiệm để xác đinh thói quen hoạt động trí óc của học sinh: xây dựng bài trắc nghiệm, thử nghiệm và điều chỉnh, đo chính thức để lấy kết quả

3 Phương pháp điều tra: để điều tra thói quen sử dụng ngôn ngữ, phương pháp học tập

4 Phương pháp phỏng vấn sâu để làm rõ một số nội dung thực nghiệm:

n hư thói quen sử dụng ngôn ngữ, phương pháp học tập

5 Phương pháp quan sát hành vi bổ xung thông tin cho thực nghiệm: quan sát thái độ, cử chỉ hành vi của học sinh trong qúa trình làm trắc nghiêm

6 Phương pháp thống kê toán học để phân tích sô' liệu thu được

7 Phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Một số công cụ đặc trung: ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh kết hợp với hình ảnh

Một số lớp học sinh ở hai trường THPT Trần Phú và THPT Đinh Tiên Hoàng

8 Kết quả dự kiến của đề tài là:

- Xây dựng bộ công cụ xác đinh thói quen hoạt động trí óc cùa học sinh trung học phổ thông bao gồm bài trắc nghiệm, bộ câu hỏi phỏng vấn sâu học sinh ngay sau bài trắc nghiệm, bộ phiếu điều tra

- Tài liêu hướng dẫn xây dựng và sử dụng bộ công cụ

Trang 8

9 Kê hoạch triển khai của đề tài:

* Xây dựng công cụ (tháng 10/ 2003)

* Thử công cụ lần một; nhận xét và điều chỉnh ( II - 12/2003).

* Thử lần hai và hoàn thiện (1/2004).

* Đo trên diện rộng, thu thập kết quả (2 - 3/2004).

* Lập bảng điều tra về phương pháp học tập của học sinh (3/2004).

* Điều tra thử, thu kết quả và hoàn thiện bảng điều tra (3/2004)

* Điều tra lần hai và thu thập kết quả (4/2004).

* Thu thập kết quả học tập của học sinh (5/2004).

* Phân tích kết quả và đưa ra kết luận (6/2004)

* Thích ứng bảng hỏi về kiểu học tập (9/2004)

* Viết cơ sở lý luận của đề tài: cở sở lý luận của bộ công cụ 11/2004)

(10-* Báo cáo đề tài (2/2005)

* Hoàn thiện đề tài (3/2005)

Bảo vệ đề tài; 5/2005

10 Cấu trúc của đề tài:

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Xây dựng công cụ để xác định thói quen hoạt động trí óc Chương 3: Phân tích kết quả

Kết luận

Trang 9

CHƯONG 1: C O ÔỎ LÝ LUẬN CỦA DỀ TÀI

1.1 Một số vân để về hoạt động trí óc

1.1.1 Khái niệm hoạt động trí óc

Trong cuộc sống thường ngày khi nhắc tới hoạt động trí óc chúng ta thường nghĩ ngay tới sự suy nghĩ, động não của bộ óc Hoạt động trí óc là một loại hoạt động phổ biến và cơ bản trong cuộc sống hàng ngày của mỗi con người Hoạt động trí óc xuất hiện trong mọi hoạt động của con người: từ hoạt động học tập, nghiên cứu thậm trí ngay trong cả những hoạt động sản xuất thủ công thuần túy nhất cũng cần có Thật vậy, chúng ta không thể thực hiện một hoạt động nào đó mà không cần suv nghĩ, động não. Hoạt động trí óc bắt nguồn dựa trên những hình ảnh tâm lý sẵn có trong đẩu. Từ khi quan sát hiện tượng để thực hiện hoạt động nhận thấy, nếu muốn thực hiện hoạt động trí óc với đối tượng đó chủ thể phải lưu lại hình ảnh của đối tượng đó trong đầu Như vậy, đáp ứng với sự phát triển không ngừng của tri thức nhân loại.1.1.2 Tái hiện

I.I.2 I Khái niệm tái biện

Khi chúng ta tiếp xúc trực tiếp hoặc tri giác một đối tượng, chẳng hạn khi nhìn một bức tranh, khi đọc một quyển chuyên hay nghe một đoạn nhạc , dường như ngay lúc đó ta có thổ thấy được hình ảnh hoặc mô tả bằng lời được từng chi tiết của đối tượng đó trong đầu Nhưng sau đó, khi không được tiếp xúc trực tiếp với vật hoặc khi không nhìn thấy vật đó ta có thể còn nhớ lại được hình ảnh hoặc mô lả lại được từng chi tiết của đối tượng đó hoặc không nhớ lại được chút gì về đối tượng đó Hành động “thấy” được đối tượng ngay trong quá trình tri giác, được gọi là nhận thấy. Hành động “thấy” được vật sau khi tri giác được gọi là tái hiện Như vậy tái hiện là làm hiện lại trong đầu nhũng gì đ ã nhận thấy: nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy, ngửi thấy.

Do đó khi tri giác các đối tượng ta cần phân biệt hai giai đoạn khác nhau: nhận thấy (ui giác) và tái hiện (gợi lại) Nhận thấv là hiện lại tức khắc trong đầu những “hình ảnh” mô tả thuộc tính của đối tượng khi có đối tượng trước

Trang 10

mắt hoặc khi tiếp xúc trực tiếp với đối tượng Tái hiện là hiên lại những gì đã thấy về đối tượng khi không tiếp xúc trực tiếp hoặc khi không thấy đối tượng.

Chủ thể

Gợi lại Nhận thấy Đối chiếu (Não) (Giác quan)

Tại sao khi tri giác đối tượng có người chỉ dừng ở mức độ nhận thấy, còn

có người lại có thể tái hiện được? Sự khác nhau đó chính là do khi chủ thể tri giác đối tượng có ý định thực hiện hoạt động trí óc với đối tượng đó không Antoine de La Garandrie khẳng định: “Khỉ không có ý định người ta chỉ dừng lại ở mức độ nhận thấy, hoạt động trí óc ở vào điểm chết” [4,trl4J

Như vậy, có hai loại bản chất của tái hiện: hoặc tự phát, hoặc có chủ đích Nhung điều chắc chắn là mọi hoạt động trí óc đều liên quan tới sự tái hiện Ta không thể hiểu hoặc không thể nhớ lại nếu không tái hiện được những hình ảnh của những cái đã nhận thấy

Như vậy, hoạt động trí óc chỉ bắt đầu từ khi người ta chuyển từ những cái nhận thấy thành cái được tái hiện (gợi lại). Tức là hoạt động trí óc chỉ có thể thực hiện dựa trôn sản phẩm tạo ra của sự tái hiện (gợi lại) Sản phẩm đó là các hình ảnh về sự vật hiện tượng còn lưu lại trong đầu khi người ui giác không còn thấy đối tượng đó nữa

1.1.2JL Các ảnh tinh thần

Khi tri giác các sự vật hiên tượng, nhũng giác quan cùa con người như: thị giác, khứu giác bị tác động bởi những thuộc tính của sự vật hiện tượng

đó như: mùi vị, màu sắc, hình ảnh Đó là những sự vật có thực ờ bên ngoài,

có tính vật lý, còn “ảnh” gợi lại trong óc sau khi nhận thấy các sự vật đó gọi là những ảnh tinh thần, tức là những ảnh chỉ tồn tại trong đầu, không “ghi” lại được trên giấy hay bằng những máy thu khác nhau Gọi là “ảnh” vì nó được

Trang 11

“sao chép” lại từ “bản chính” (là những hình ảnh, âm thanh ) đã tri giác

Nguồn gốc khách quan của những ảnh này là những sự vật, hiện tượng mung tính vật lý, còn bản thân ảnh ghi trong óc chỉ là hỉnh ảnh tinh thần. Những ảnh đó có thể trung thành hoặc không trung thành với những sự vât hiện tượng

có ihật bên ngoài Có rất nhiều loại “ảnh tinh thần” nhưng trong công trình này chúng tôi chỉ xét ba loại chủ yếu:

Các loại ảnh này có thể chuyển hoá lẫn nhau: một người nhìn bức tranh

vẽ cảnh vật có thể hình dung ra âm thanh của các sự vật hiện tượng diễn ra trong đó trong đó, người khác nghe một bản nhạc êm ái có thể liên tưởng ra bức tranh về một khung cảnh thanh bình nào đó

Ví dụ: khi muốn tóm tắt lại một câu chuyện đã đọc ta phải gợi lại trong đầu những chi tiết của câu chuyên - tức là phải tạo ra trong đầu những ảnh tinh thần về câu chuyện đó

Khi quan sát cùng một đối tượng thì ảnh tinh thần về đối tượng của những chủ thể khác nhau là không giống nhau Tính chất của những ảnh tinh thần này phụ thuộc vào tâm thế của chù thể quan sát Khi quan sát với các “vị

trí' khác nhau thì các ảnh tinh thần cũng có những đặc điểm khác nhau.

dụ sau đây chỉ ra sự khác nhau đó: khi tri giác đối tượng ờ ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, do đặc trưng của hai kiểu quan sát này khác nhau nôn các ảnh tinh thần do hai người này tạo ra cũng có những đặc điểm khác nhau, cụ thể:

Đặc trưng của kiểu quan sát Đặc trưng của kiểu quan sát

Trang 12

ở ngôi thứ nhất ngôi thứ baChủ thể tự coi mình là người trong

cuộc

Quan sát tích cực: quan sái đồng thời

có xu thế tham gia cải tạo đối tưựng

theo ý mình

Tính phê phán, độc lập, năng động thể

hiện rõ nét trong quá trình quan sát

Chủ thể coi mình chí đứng ngoài cuộc

Quan sát thụ động: quan sát theo hướng nhận thức, mô tả và thích nghi với đối tượng như chính nó đang tồn tại

Tính phê phán, độc lập, năng động thể hiện mờ nhạt trong quá trình quan sát

Sự khác nhau này dẫn tới sự khác nhau của các ảnh tỉnh thần tạo ra:

Khi quan sát ờ ngôi thứ nhất với tính tích cực chủ động của người quan sát nên ảnh tỉnh thần thu được sẽ mang đậm nét đặc trưng của chủ thể, ngược lại khi tri giác đối tượng ở ngồi thứ ba thì ảnh tinh thần thu được gần như nguyên vẹn mang đậm những nét tính chất của đối tượng quan sát

Như vậy nếu chủ thể nào tri giác ở ngôi thứ nhất thì hiệu quả nhận thức sẽ cao hơn so với chủ thể khác có kiểu tri giác ở ngôi thứ ba Điều này chúng ta thấy rõ khi quan sát đứa trẻ chơi với trò chơi Những đứa có xu thế “bảo toàn”

đổ chơi thường không tích cực, ngược lại những đứa trẻ có xu hướng “khám phá” đổ chơi thường tích cực hơn Do vậy khi dạy trẻ phải cần chú ý hướng trẻ quan sát đối tượng ở ngôi thứ nhất

Một nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự khác nhau giữa các hình ảnh tinh thần của mỗi chủ thể khi tri giác cùng một đối tượng là do mỗi người có một kiểu tái hiện khác nhau

1.1.23 Các kiểu tái hiện

Chúng ta tiếp nhận thông tin của đối tượng từ ngoài vào trong đầu bằng những giác quan khác nhau Ví dụ: ta tiếp nhận thông tin hình ảnh bằng thị giác, thông tin âm thanh bằng thính giác, tiếp nhận thông tin về một sự vật bằng xúc giác Nếu với đối tượng chỉ có một nguồn thông tin (hình ảnh hoặc

âm thanh ) thì khi tiếp nhận đối tượng đó chúng ta chi có một cách duy nhất (bằng thị giác hoặc thinh giác ) Nhưng khi chúng thực hiện hành động tái hiện chúng ta có thể thực hiện trong đầu bằng cách khác nhau Trong cả ba trường hợp thu nhận thông tin từ những kênh khác nhau (ảnh nhìn thấy, âm

Trang 13

thanh hay lời nói), mỗi người trong chúng ta có thể gợi lại một trong những cách dưới đây hoặc phối hợp tất cả các cách đó Sau đây là bảng tóm tắt những thói quen tái hiện đó:

Kênh Cách gợi lại 1 Cách gợi lại 2 Cách gợi iại 3Dùng thị

sơ đồ, bức ký họa

Dùng lời nói thầm trong đầu để mô tả lại hình dáng màu sắc, độ

lớ n của đối tượng đã quan sát

Dùng cánh tay “vẽ”

ra trong không trung

để mô tả lại hình dáng, đường đi của đối tượng

Mô tả những âm thanh

đó thành lời nói để ghi lại như thể là mô tả chúng rồi kể lại cho người khác

Biến những âm thanh !

đó thành hình ảnh của cánh tay chuyển động theo cao độ và trường

Chuyển những âm thanh đó thành hình ảnh hay âm thanh do lời đó mô tả, khi cần diễn đại lại thì dựa vào hình ảnh hay âm thanh

để m ô lả bằng lời.

Vẽ lại bằng tay trong không trung để mô tả lại hình dáng theo sự

mô tả bằng lời nói đó hoăc viết lai.•

Như vậy, cùng là một thông tin nhất định được tiếp nhận ở cùng một kiểu (cùng bằng một giác quan) nhưng lại có thể có ba cách gợi lại. Vấn đề này cho chúng ta thấy rằng: Bản chất của những hình ảnh tinh thẩn được gợi lại trong đẩu mỗi người phụ thuộc vào thói quen của từng người chứ không phụ thuộc vào bản chất của đối tượng đ ã quan sát.

1.1.3 Thói quen sử dụng ngôn ngữ bên trong

1.1.3.1 Thói quen sử dụng ngôn ngữ bèn trong

Trang 14

Ngôn ngữ bên trong của mỗi người chính là những ảnh tinh thần tổn tại bên trong mỗi người đó Ngỏn ngữ bên trong là những cái mang thông tin, chứ không phải chỉ là ngôn ngữ mà con người nói ra: hình ảnh nhìn thấy, âm thanh, mùi vị Nó là một hệ thống kí hiệu, ngôn ngữ, hình ảnh, sự vật, hiện tượng tồn tại bên trong đầu một chủ thể Muốn hoạt động trí óc phong phú thì ngôn ngữ bên trong phải phong phú Có rất nhiều loại ngôn ngữ bên trong nhưng tựu chung lại có hai loại cơ bản:

•‘‘ảnh” nhìn thấy hình ảnh về vật, chữ viết

•“ảnh” nghe thấy âm thanh hoặc ngôn ngữ (có thể là lời nói thầm) Một người có thể có thế manh tư duy về một trong hai loại ảnh trên hoặc cả hai Ta gọi: người có thói quen gợi lại bằng những ảnh nhìn thấy là

HA, người có thói quen gợi lại bằng ảnh ăm thanh hoặc ngôn ngữ là NA.

Mọi người có thói quen sử dụng ngôn ngữ bên trong khác nhau là do họ

kiểu tri giác khác nhau Ví dụ khi một người có kiểu tri giác không gian sẽ

có thói quen sử dụng ngôn ngữ bên trong khác người có tri giác thời gian:

• Khi một người quan sát đối tượng mà chỉ quan tâm tới các thuộc tính về kích thước (chiều dài, chiều rộng, chiều cao ), hình dạng, màu sắc

có khả năng bao quát “toàn cảnh” của đối tượng trong tầm nhìn của chủ thể mà không cần tuân theo một trật tự nào cả Những người có khả năng như vậy là những người có loại tri giác không gian

• Ngược lại khi một người quan sát đối tượng mà chỉ quan tâm tới những thuộc tính vể thứ tự, trật tự của đối tượng, quan sát một cách từ từ, liên tục Những người như thế là những người có kiểu tri giác thời gian Trường hợp tri giác không gian có thể xem như hoạt động của mộtchiếc máy chụp ảnh, tri giác thời gian có thể coi như hoạt động của một máy quay phim Khi người có kiểu ưi giác không gian quan sát đối tượng có thuộc tính thời gian người đó sẽ chuyển đổi những thuộc tính thời gian sang không gian để dễ tiếp nhận và ngược lại khi một người có tri giác thời gian quan sát đối tượng có thuộc tính không gian người đó sẽ chuyển các thuộc tính không gian về ihuộc tính thời gian Đó chính là sự chuyển đổi các quá trình không gian và thời gian Từ sự khác nhau về kiểu tri giác cũng dẫn tới sự khác nhau

Trang 15

trong cách sứ dụng ngôn ngữ bên trong của mỗi người. Người có kiểu tri giác không gian ihường tiếp nhận đối tượng một cách tổng quát - toàn cành của đối tượng do vậy họ thường có thế mạnh HA Ngược lại một người có kiểu tri giác thời gian thường có khả năng tiếp nhận đối tượng một cách chi tiết tỉ mỉ

do vậy họ thường có thế mạnh NA Kiểu tri giác và thói quen sử dụng ngôn ngữ bên trong có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau Tri giác sẽ ảnh hường, quy định, đinh hướng cho thói quen sử dụng ngôn ngữ bên trong và ngược lại

Do vậy trong quá trình giảng dạy người giáo viên phải biết cách dạy sao cho phù hợp với thói quen sử dụng ngôn ngữ bên trong của từng học sinh, đồng thời cũng phải biết kết hợp các phương pháp cho phù hợp với tất cả các đối tượng trong một lớp học đông người Đây cũng chính là yêu cầu của phương pháp dạy học phân hoá theo từng đối tượng - một trong hai hướng đổi mới giáo dục hiện nay của nước ta cũng như của tất cả các nước trên thê giới Muốn làm được điều đó thì bản thân những nhà giáo phải biết được những mặt mạnh và mặt yếu của từng học sinh để giúp họ phát huy thế mạnh và khắc phục điểm yếu cùa bản thân Antoine de La Garandrie đã nói: ^Phát hiện ra những thói quen của bạn đ ã nhiễm phải mà bạn không biết, nhận ra những thói quen đ ã giúp bạn thành công hoặc dẫn bạn đi thẳng đến ch ỗ thất bại nhằm sủa đổi nó” [4, tr 57] Sau đây chúng ta sẽ xét một ví dụ để làm sáng tỏ

sự khác nhau của HA và NA

Ví dụ / : Một học sinh có thói quen “nhìn thấy” - HA, theo dõi một bài học về điện Thầy giáo vẽ lên bảng sơ đồ và viết câu hỏi: “Viết tất cả các hệ thức có thể có giữa I, lị, I2, Rj, R2”

Cậu học sinh này không khó khăn một chút nào khi gợi lại trong đầu sơ

đồ đó gồm một nguồn điện và hai điện trở mắc song song Cậu có thể “chụp ảnh” trực tiếp và tái hiện hình ảnh trong đầu; cậu cũng làm như vậy với đề bài được ghi trên bảng Tiếp đó cậu sẽ tìm lại trong đầu những gì đã học để trả lời câu hỏi đã đặt ra

Trang 16

Tu - 11 —

Ĩ

Bây giờ giả sử rằng thầy giáo không vẽ hoặc viết gì lên bảng cả, mà đọc miệng bài này: “Một mạnh điện gổm hai điện trờ R, và R2 song song Gọi cường độ lị đi qua R i? I2 đi qua R2 Hãy viết những hệ thức liên hệ giữa các đại lượngl, Ij, I2, Rị, R2?” Khi được hỏi theo kiểu này, cậu học sinh đó phải:

Tái hiện bằng những hình ảnh nhìn thấy được về những điều cậu đã nghe thấy được (nói cách khác, cậu phải vẽ được trong đầu sơ đổ mạch điện)

Bắt đầu từ hình ảnh nhìn thấy đó và giải bài toán

Chuyển những hình ảnh này sang hình ảnh bằng lời đổ có thể trả lời bằng miệng cho thầy giáo

Ví dụ 2: Cũng tương tự như ví dụ trên nhưng đối với một người có thói quen NA, thì hiện tượng diễn ra ngược lại

Tóm lại:

Một người có thói quen nhìn thấy HA chỉ có thể dùng những lời “hình ảnh nhìn thấy' đ ể tái hiện những hình ảnh nghe thấy hoặc bằng lời.

Trang 17

Một người có thổi quen NA chí cỏ thể dùng: “hình ả n h

nghe thấy đ ể lái hiện những hình ảnh nhìn thấy.

Chúng ta có thể hình dung tổng quát qua sơ đổ trên

Chính sự khác nhau đó đã dẫn tới NA và HA có những thuận lợi và khó khăn riêng khi thực hiện hoạt động trí óc Việc nắm được những khó khăn và thuận lựi của HA và NA rất quan trọng trong quá trình dạy- học

1.13.2 Khó khăn và thuận lợi của HA và NA

Đối với HA

+ Thuận lợi:

- Dễ tiếp thu các vấn đề bằng những hình ảnh nhìn thấy: tranh, sơ

đồ, bảng biểu

- Dễ gợi lại những yếu tố diễn ra bằng hình ảnh

- Thuận lợi trong việc trình bày các vấn đề theo cấu trúc tổng thể, những sơ đổ gọn gàng

- Nắm bắt các vấn đề không gian tốt hơn (so với thời gian)

- Khó giải thích những điều mặc dù đã biết cách áp dụng

- Sắp xếp các ý tưởng khó rời rạc, thiếu liên kết

Đối vái NA:

+ Thuận lợi:

- Dễ tiếp thu các vấn đề được trình bày bằng những ngôn từ chặt chẽ

- Dễ dàng gợi lại những yếu tố diễn ra bằng âm thanh, lời nói

- Thuận lợi trong việc trình bày các vấn đề theo những cấu trúc ngôn từ chặt chẽ

- Nắm bắt và diễn đạt về thời gian tốt hơn (so với không gian)

Trang 18

- Khó khăn trong việc áp dụng các vấn đề mặc dù đã biết giải thích.

- Khó trình bày các vấn đề về không gian

Sự phân biệt các kiểu ngôn ngữ bên trong như vừa trình bày cho thấy người dạy cần biết trình bày thông tin theo nhiều cách khác nhau để đáp ứng tính đa dạng về kiểu ngôn ngữ bên trong

Ngoài hai kiểu ngôn ngữ trên còn có rất nhiều người có thói quen sử dụng cả hai loại ngôn ngữ kể trên (tạm gọi là HN) Trong sô' đó có người tỏ ra thành thạo việc sử dụng cả hai loại ngôn ngữ nhưng cũng có người thì ngược lại tức là họ không sử dụng loại nào thành thạo cả Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này là do quá trình chuyển đổi giữa hai loại ngôn ngữ của họ không giống nhau Sự chuyển đổi giữa hai loại ngôn ngữ càng tốt thì những khó khăn mà những người NA hoặc HA gặp phải sẽ được khắc phục và do đó người đó sẽ xử dụng được cả hai loại ngôn ngữ một cách thành thạo

1.1.33 Sự chuyển đổi ngôn ngữ bên trong của hoạt động trí óc

Khi một người có thói quen sử dụng thành thạo cả hai thứ ngôn ngữ thì trong đầu họ luôn diễn ra quá trình chuyển đổi ngôn ngữ bên trong họ phù hợp với mục đích sử dụng lúc đó Sự chuyển đổi này có quy luật của nó Nếu sự chuyển đổi không thành thạo, không trở nên tự động s ẽ đòi hỏi nhiều thời gian hơn làm cho sự tiếp thu, suy nghĩ s ẽ chậm chạp hơn. Quá trình chuyển đổi ngôn ngữ bên trong của HA từ khi nhận thấy cho tới khi diễn đạt thành lời nói được mô tả như sau: khi HA nhận thấy một hình ảnh H nào đó, ngay lần đầu

đã có thể gợi lại hình ảnh đó Nhưng với nhu cầu phải sử dụng thông tin đó bằng ngôn ngữ thứ hai NA, thì ở bước gợi lại thứ hai anh ta phải gợi lại thành hình ảnh nhìn thấy H’ rồi nhờ đó mới có thể gợi ra bằng ngôn ngữ thứ hai NA

ở bước thứ ba Hình ảnh H’ là sự phán tích các hình ảnh tổng thể của đối tượng quan sát để nhờ vào đó mà mô tả thành lời nói Khi anh ta nghe (nhận

; ĨÂ y Vx \; • £(\

17

Trang 19

thấy) một âm thanh hay lời nói thì trong lần gợi lại đầu tiên anh ta không gợi lại được gì cả, sau đó ở bước thứ hai, anh ta phải tạo ra một hình ảnh nhìn thấy

H ứng với những thông tin đã ihu nhận, đến bước gợi lại thứ ba mới tạo ra được ngôn ngữ thứ hai của anh ta là lời nói NA

Bảng sau mô tả lại quá trình chuyển đổi đó:

Chủ

thể

Đối tượng nhận thấy

Hình ảnh Gợi lại lần một

Hình ảnh Gợi lại lần hai

Hình ảnh gợi lại lần ba

HA

Âm thanh + Lời nói

Trang 20

1.1.4 Các hoạt động trí óc cơ bản

Theo rấl nhiều nghiên cứu giáo dục, chúng ta biết rằng có 5 hoạt động trí

óc cơ bản: sự chú ỷ, ghi nhớ, tìm hiểu, suy nghĩ và tưởng tượng sáng tạo. Mọi hoạt động trí óc từ đơn giản đến phức tạp đều là sự phối hợp các hoạt động đó Mỗi hoạt động đều có quy luật của nó, người ta có thể mô tả được và phải biết luyện tập có phương pháp thì các hoạt động đó mới có kết quả Nhiệm vụ của thầy giáo không phải chỉ dạy cho học sinh kiến thức mà cần phải dạy cho các

em biết hoạt động trí óc trên cơ sở nắm được nguyên tắc của các hoạt động cơ bản đó Có thể nói không ngoa rằng điều này còn quan trọng hơn cả việc dạy kiến thức Bởi vì kiến thức có thể sẽ quên đi, nhưng với sự trang bị tốt phương pháp hoạt động trí óc thì người ta có thể tự tìm thấy lại kiến thức đã học hay tìm hiểu những kiến thức mới, hơn nữa còn biết cách sử dụng kiến thức trong suốt cả cuộc đời Trong chương trình giảng dạy ở nhà trường lâu nay, việc dạy phương pháp hoạt động trí óc không được đặt ra một cách tường minh, mà chỉ được thực hiện một cách tiềm ẩn đằng sau việc giảng dạy kiến thức Nhiều trường hợp giáo viên chưa có ý đầy đủ nên chưa thực hiện được yêu cầu rèn phương pháp làm việc trí óc cho học sinh

I.I.4 I Hoạt động chú ý

Theo các nhà tâm lý học thì: “Chú ý là hoạt động mà con người chỉ tập trung ý thức vào một một hoặc nhóm sự vật nhất định đ ể định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh- tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành

có hiệu q u đ’ [7, tr 68]

Chú ý được xem như một ưạng thái tâm lí đi kèm các hoạt động khác, giúp cho hoại động đó có kết quả Chú ý không có đối tượng riêng, đối tượng của nó chính là đối tượng của hoại động tâm lí mà nó đi kèm Chú ý là một hoạt động cơ bản và quan trọng có tính chất tiền đề cho mọi hoạt động khác thực hiộn thành công Không có chú ý thì không có các hoạt động tiếp theo, chú ý là một hoạt động trí óc chủ yếu, nếu bạn không chú ý, nếu bạn nghĩ đến cái khác, bạn không thể suy nghĩ, không thể hiểu, không thể nhớ cho dù đó là chủ đề đặt ra cho bạn Hoạt động chú ý trong hoạt động học tập (chú ý có chủ đích) có thể được mô tả như sau:

Trang 21

- Trước khi thực hiện hoạt động chú ý, chủ thể phải xác dịnh V định

chú ý, tức là để làm gì, để nhận ra cái gì ý định này phải là do chủ thể tự xác lập

- Thực hiện công đoạn chú ý: Đó là lúc mà chủ thổ ghi lại đưực trong đầu những cái cần chú ý, nghĩa là có thể làm hiện lại trong đầu ảnh tinh thần (theo nghĩa rộng) cần được nhận thấy khỉ sự vật đó không còn ở trước mắt nữa. Tức là chù thể phải thực hiện quá trình nhận thấy sau đó chuyển sang quá trình gợi lại

Mỗi học sinh có thói quen sử dụng ngôn ngữ bên trong khác nhau dẫn tới hoạt động chú ý diễn ra khác nhau Cụ thể là khi quan sát cùng một bài giảng HA sẽ tập trung vào những thuộc tính không gian, trong khi đó NA sẽ tập trung vào những yếu tô' thời gian HA tập trung chú ý vào việc chụp nguyên si lại ảnh của hình vẽ, chữ viết trên bảng, thì NA lại tập trung vào việc nghe những lời trình bày của giáo viên hơn Nếu giáo viên là người am hiểu về hoạt động ưí óc, có cách giảng phù hợp với thói quen ngôn ngữ bên trong của học sinh sẽ làm cho học sinh dễ tiếp thu kiến thức hơn

1.1.4.2 Hoạt động ghi nhớ

Ghi nhớ là một quá trình trí nhớ đưa tài liệu nào đó vào trong ý thức, gắn tài liệu đó với những kiến thức hiện có, làm cơ sở cho quá trình gìn giữ về sau.

Hoạt động ghi nhớ rất cần thiết để tiếp thu tri thức, tích lũy kinh nghiêm

Sự ghi nhớ của con người được quyết định bởi động cơ, mục đích và phương tiện đạt mục đích đó, qui đinh chất lượng của sự ghi nhớ Những kết quả nghiên cứu mối quan hệ của ghi nhớ với hoạt động đã khẳng đinh, sự ghi nhớ một tài liệu nào đó là kết quả của hoạt động với tài liệu đó, đồng thời nó là điều kiện, là phương tiện để thực hiện những hành động tiếp theo Hoạt ghi nhớ có chủ đích có thể mô tả lại như sau:

- Trước hết chủ thể xác định mục đích ghi nh&. xác định ghi nhớ tài liệu đó để làm gì Mục tiêu cần đạt: ghi nhớ những nội dung gì, mức

độ phạm vi, sử dụng ngôn ngữ bên trong nào

Xác đinh nội dung cần nhớ: Đó là ngay khi ta nhận được thông tin,

ta cần xác đinh có ghi nhớ thông tin đó hay không? ơ giai đoạn này

Trang 22

những người thuộc nhóm HA sẽ gặp khó khăn hơn NA bởi trí giác thời gian của họ không được tốt bằng NA Việc xác đinh thời điểm ghi nhớ là hết sức quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả ghi nhớ Thao tác của hoạt động ghi nhớ có hiệu quả thực hiện vàơ lúc người ta quyết định phải lưu trữ thông tin để sẵn sàng lấy ra sau này.

- Nhớ lại là tái hiện được những gì đã nhận thấy trong quá khứ và việc

ghi nhớ phải thực hiện trong quá khứ đó Nhưng nếu ta coi thời điểm ghi nhớhiện tại thì lúc chúng ta cần nhớ lại những thông tin này

sẽ là thời điểm tương lai so với thời điểm ghi nhớ.

Như vậy, hành động nhớ lại ở đây phải được thực hiện các thao tác sau:

Lảp đi lảp lai những hình ảnh

ý ^ kiện tinh thần đả thu được.

Hoạt động ghi nhớ là một hoạt động gợi lại những ảnh tinh thần của những thông tin cần ghi nhớ Chính vì vậy cách ghi nhớ và kết quả của việc ghi nhớ của mỗi người còn phụ thuộc vào thói quen sử dụng ngôn ngữ bên trong Do có rất nhiều cách sử dụng ngôn ngữ bên trong cho nên có rất nhiều cách ghi nhớ khác nhau, ta có thể khái quát thành hai loại:

• Loại thứ nhất có thể học thuộc lòng, đọc lại chính xác các từ, các câu đã nghe hay đã nhìn thấy chữ viết của chúng Thuộc lòng nhưng có thể chưa hiểu rõ nghĩa Trí thông minh của họ ưu tiên cho việc nắm các từ rồi từ đó có thể hiểu nghĩa sau Loại này có thể thấy ở cả hai nhóm HA

và NA Ở nhóm HA đó là những người có khả năng chụp lại nguyên vẹn hình ảnh những dòng chữ đã đọc trong đầu Ở nhóm NA đó là những người có khả năng nhớ từng câu từng chữ đã được đọc bằng cách nhẩm lại nhiều lần trong đẩu hoặc đọc to thành tiếng

• Loại thứ hai có thể hiểu nghĩa mà không đọc chính xác bài Trí thông minh của họ ưu tiên cho việc nắm ý nghĩa mà không tập trung vào việc nắm các từ Họ nhờ vào việc nắm ý nghĩa để rồi tìm cách diễn đạt Loại hiểu này ở nhóm HA là những người học thuộc lòng theo cách lập dàn ý

Trang 23

chi tiết để tóm tắt các ý chính Ớ nhỏm NA, họ học thuộc bằng cách ngẫm nghĩ từng câu, từng chữ trong bài để nắm được nội dung của bài sau đó tự trình bày lại bằng ngôn ngữ của mình.

Loại I

Loại n

1.1.43 Hoạt động hiểu

Hiểu một vấn để có nghĩa là biến vấn đ ề đó thành kiến thức của mình

Hiểu là khi người học tự giác chiếm lĩnh đối tượng chứ khổng phải tiếp nhận đối tượng một cách thụ động như cái lọ chứa được người ta rót kiến thức vào

Hoại động hiổu là một quá trình gợi lại phức tạp Bản chất cùa quá trìnhtìm hiểu là quá trình gợi lại (tái hiện): gợi lại những đối tượng cần tìm hiểu và gợi lại những kiến thức đã có để đối chiếu, hoà nhập, tạo nên kiến thức mới.Kết quả của việc hiểu có thể có hai trường hợp:

Trả lời được câu hỏi “tại sa o ? ” nghĩa là có thể gỉdi thích lại được ý nghĩa của đối tượng, chứng minh lại được

Trả lời được câu hỏi “như th ế n ào? ” nghĩa là có thể áp dụng được kiến thức đó để giải quyết một vấn đồ đặt ra

Như vậy là ta có hai định nghĩa về sự hiểu:

Hiểu có nghĩa là có th ể giải thích.

Trang 24

-Trước ticn chủ thể tri giác với đối tượng cần tìm hiểu, dùng thao tác chú V

đổ nhận thấy được từng phần hoặc toàn bộ đối tượng, rồi túi hiện (gợi lại) dần trong đầu những ảnh tinh thần từng phần hoặc toàn bộ đối tượng đó, để có một cảm nhận về nghĩa của đối tượng (có thể là chưa hoàn hảo)

Tiếp đó chủ thể gợi lại các ảnh của kiến thức cũ hay những kinh nghiệm

đã có để xem những ảnh vừa mới “thâm nhập” vào trong đầu có phù hợp với những điều mình đã có trước đó hay chưa Nừu phù hợp sẽ có hiểu về nghĩa của đối tượng Nừu chưa tìm thấy sự phù hợp đó thì chưa thể có sự hiểu Trong quá trình đối chiếu này người ta thường nhắm mắt lại, nghĩa là ngừng việc quan sát đối tượng để so sánh đối chiếu các hình ảnh tinh thần trong đầu.Sau đó chủ thể diễn đạt lại thành kiêh thức mới (có thể chưa chính xác vì hiểu sai) rồi lại đối chiếu với đối tượng cần tìm hiểu (quan sát trên hiện vật, hiện tượng thực tế hay đọc lại đoạn nói về vấn đề đó) xem đã phù hợp thực sự với nó hay chưa Nừu sự đối chiếu này được thoả mãn, tức là sự diễn tả của mình phù hợp với những cái mà ta đã nhận thấy thì có thể khẳng định trực giác của mình là đúng Diễn tả quá trình tìm hiểu qua sơ đồ sau:

Đối chiếu

Như vậy là: hoạt động tìm hiểu là một quá trình đối chiếu liên tục với đối tượng cần tìm hiểu và với những kiến thức đ ã có đ ể tạo ra một ảnh mới trong đầu phù hợp với đối tượng cũng như với những điều đ ã biết, tạo nên một sự thoả mãn. Quá trình lặp đi lặp lại nhiều lần giữa nhận thấygợi lại quyết định cho việc hiểu Có thể mô tả các thao tác của hoạt động hiểu theo sơ đồ

Trang 25

Chú ý W Gợi lại w\ Đối chiếu JfcjWL ặp lại yếu tố m ới phù hợp

Hoạt động hiểu gắn với sự gợi lại các ảnh của đối tượng cần tìm hiểu, và với sự gợi lại các ảnh của những kiến thức, kinh nghiệm Do đó thói quen ngôn ngữ bên trong ảnh hưởng đến việc hiểu: nguời HA d ễ dàng hiểu vả trình bủx các vấn đê có thể được gợi ra hằng các hình ảnh nhìn thấy, như sơ đồ, hình vẽ; người NA d ễ dàng hiểu và trình bày các vấn đê được diễn đạt bằng lời nói Một điều nữa có thể thấy là HA có thói quen hiểu áp dụng và tỏ ra khó khăn khi phải giải thích Ngược lại thì NA tỏ ra rất có ưu th ế trong việc giải thích các vấn đ ề mình đ ã hiểu nhưng lại gặp khó khăn trong việc áp dụng nhưng vấn đ ề mình đ ã hiểu.

Hoạt động hiểu liên hệ rất chặt chẽ với hoạt động ghi nhớ: Nhớ các kiến thức cũ và những kinh nghiệm đ ã có là điều kiện cho việc hiểu những cái mới Mặt khác khi người ta hiểu một vấn đ ề thì d ễ dàng nhớ được vấn đ ề đó hơn

Mối Liên hệ này cũng phụ thuộc vào thói quen sử dụng ngôn ngữ bên trong của hoạt động trí óc

Ví dụ: Để hiểu được cách chứng minh sau đây của định lý Keple3: “Tỉ

số giữa lập phương bán trục lớn và bình phương chu kì quay là giống nhau cho

~ 3 _ 3

mọi hành tinh quay quanh Mặt Trời.’

7Ỹ2Thì học sinh phải nhớ lại kiến thức

cũ về định luật hai Newton và chuyển

động tròn đều, lực hướng tâm Nhưng

nhóm HA sẽ nhớ lại các kiến thức đó

dưới dạng biểu thức một cách nhanh

chóng còn NA lại phải nhớ lại trong

đầu dưới dạng phát biểu Mặt khác

trong cách chứng minh này rất ít dẫn

giải chủ yếu là biến đổi công thức Do

đó HA sẽ thực hiôn hoạt động hiểu bài

M

.J 'W

\ F1 F2 J

Trang 26

chứng minh này nhanh hưn NA Tuy nhiên có th ể có những vẩn d ề tuy chưa hiểu nhưng người ta vẩn có thể nhớ được, nhất là những người có thói quen ghi nhớ máy móc, hụ có thể nhớ cả những điều chưa hiểu (học vẹt).

ỉ 1.4.4 Hoạt động suy nghĩ

Suy nghĩ cũng là một hoạt động trí óc cơ bản Suỵ nghĩ là một hoạt động nhằm mục đích giải quyết một vấn đê đặt ra, như đ ể trả lời một câu hỏi, giải một bài toán, tìm tòi, chứng minh, áp dụng Cần chú ý rằng không phải

để trả lời bất kỳ câu hỏi như thế nào cũng cần suy nghĩ Ví dụ người ta hỏi

“em tên gì?” hay “đinh luật II Newton phát biểu như thế nào?” thì người trả lời không cần phải suy nghĩ mà chỉ cần lục lại trí nhớ Hoạt động trí óc chỉ diễn ra trước một bối cảnh có vấn đề đòi hỏi chủ thể bắt buộc phải suy nghĩ để giải quyết Như một bài toán đô', một bài tập vật lý, một câu hỏi cần phải suy nghĩ Những vẫh đề đặt ra đòi hỏi sự suy nghĩ thường bao giờ cũng có hai yếu tố: gid thiết (những điều đã biết), kết luận (những điều cần làm rõ)

Quá trình suy nghĩ có thể mô tả như sau:

- Trước hết chủ thể phải huy động các ảnh liên quan đến vấn đề đặt ra

đã và đang tồn tại trong đầu, gợi lại ị tái hiện) để nhận ra đâu là giả thiết, đâu là kết luận, nghĩa là ta đã biết trước những gì và phải tìm

ra cái gì, hay chứng minh cái gì

- Sau đó ta gợi lại (nhớ lại) những ảnh, huy động các kinh nghiệm chúng ta đã thu nhận được và đã ghi nhớ trước đây, liên quan đến vấn đề Nếu chưa đủ, thì chủ thể phải tìm tòi những ảnh cần thiết khác mà chúng ta chưa có, khi đó la phải thực hiện một thao tác tìm hiểu bổ sung

- Tiếp theo chủ thể phải lựa chọn ưong “chuỗi” các ảnh được gợi ra

đó những cái thích hợp nhất để nhào nặn, uốn nắn, chắp ghép lại theo một logic hợp lý để có một kết quả cho phép trả lời câu hỏi, hay rút ra kết luận

Do vậy: “Suy nghĩ là quá trình gợi lại giả thiết, kết luận và các kiến thức

cũ đ ể tạo nên các mối quan hệ m ới”

Trang 27

Sư đổ m ô tả hoạt động suy nghĩ:

Suy nghĩ cũng là một quá trình gợi lại của chủ thể, để gợi lại giả thiết, kết luận và những kiến thức, kinh nghiệm có liên quan Muốn thế cần sử dụng các ngôn ngữ bên trong Cho nên thói quen sử dụng ngôn ngữ bên trong của một người có ảnh hưởng đến việc suy nghĩ của họ HA quen sử dụng các hình ảnh nhìn thấy; suy nghĩ các vẵh đề theo thuộc tính không gian, còn HA quen suy nghi các vấn đề theo thuộc tính thời gian, trình tự; sử dụng ngôn ngữ thuận lợi hơn

1.1.4.5 Quá trình tưởng tượng

Tưởng tượng là gì? Đó là một hoạt động trí óc nhằm tạo ra trong đầu những ảnh mới có thể là có thực hay không có thực, nhưng trước đó chưa từng

có, nghĩa là chưa ai biết đến, hoặc đã có nhiều người biết nhưng ít nhất là trong đầu của chủ thể chưa từng có Muốn tưởng tượng sáng tạo người ta dựa trên nền những cái đã có, nghĩa là từ những hiểu biết cũ, những ảnh đã có trong đầu và nay có thể gợi lại được Tiếp đó chủ thể bổ sung ý kiến cá nhân vào để tạo ra những ảnh mới theo ý chủ quan cùa mình Lúc đó chủ thể phải thêm hoặc bớt đi hoặc thay đổi những hình ảnh cũ để tạo ra một đối tượng mới

mà từ trước đến nay chưa tồn tại trong đầu của chủ thể Những ảnh mới tạo ra này mặc dù rất tự do nhung không trái nghĩa với những thực tế khác Nghĩa là

có thể những ảnh này không có thực trong thực tế nhưng phải hợp lý

Các nhà tâm lý học cho rằng: ‘Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa tùng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã cớ” [7, trl0 4 ]

Trang 28

Sơ đồ sau đây m ô tả hoạt động tưởng tượng:

Hoạt động tưởng tượng sáng tạo có thể mô tả như sau:

Trước hết muốn tưởng tượng, sáng tạo ta cũng cần có ỷ định tạo ra cái gì, để làm gì ý định này là có chủ định hoặc có thể bột phát khi gặp một tình huống nào đó

Tiếp đó tái hiện (gợi ra) được đầy đủ cái đang tồn tại mà chủ thể đang quan sát, hoặc đã quan sát trước đó, để trên cơ sở đó mới có thể thay đổi bổ sung

Tạo ra cái mới trên cơ sở sẵn có của các hình ảnh đã có.Hoạt động tưởng tượng sáng tạo cũng thông qua việc sử dụng ngôn ngữ bên ưong cho nên cũng chịu ảnh hưởng của thói quen ngôn ngữ bên trong

HA dỗ dàng thực hiện hoạt động tường tượng sáng tạo trên đối tượng mang đậm thuộc tính hìng ảnh nhìn thấy được và sản phẩm họ tạo ra cũng thường là các hình ảnh Ngược lại NA lại dễ dàng thực hiên hoạt động này với các đối tượng có thuộc tính âm thanh, những lời văn trau truốt

Tóm lại thói quen sử dụng ngôn ngữ bên trong của hoạt động trí óc trực tiếp ảnh hưởng sâu sắc đến từng thao tác của hoạt động hoc tập Sự khác nhau

về thói quen ngôn ngữ giữa các chủ thể (học sinh) dẫn tới hoại động học tập của từng học sinh phải diễn ra khác nhau để phù hợp với thói quen của mình Nhận biết thói quen hoạt động sử dụng ngôn ngữ bên trong của mình, đề ra phương pháp học tập cụ thể phù hợp nhằm phát huy thế manh và khắc phục điểm yếu của mình là một việc làm hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng học tập, cải thiện kết quả học tập

Trang 29

1.2 Các kiểu thói quen hoạt động trí óc

1.2.1 Các kiểu hoạt động trí óc

Chúng ta đã biết có những thói quen khác nhau của việc tái hiện, nghĩa là

sử dụng ngôn ngữ bên trong khác nhau giữa người này người khác Bây giờ ta tìm hiểu một khía canh khác của sự khác nhau quan trọng trong hoạt động trí

óc giữa các cá thể: đó là sự khác nhau trong các kiểu làm việc trí óc.

Thông thường thì có 4 kiểu hoạt động trí óc sau:

• Thói quen gợi lại những cái cụ thể đã gặp trong cuộc sống hàng ngày;

• Thói quen tái hiện những gì đã học thuộc lòng (nhớ máy móc);

• Thói quen suy luận logic;

• Thói quen tưởng tượng sáng tạo

Chúng ta cần chú ý phân biệt việc trình bày bốn kiểu hoạt động trí óc ở đây với việc trình bày các hoạt động trí óc cơ bản tương ứng đã nói đến trong phần thứ hai Trong phần đó nói về cách thức chung của từng loại hoạt động trí óc này (ghi nhớ, suy nghĩ, tưởng tượng sáng tạo), còn ở đây nói về những thói quen của mỗi người: có người quen ghi nhớ máy móc, có người quen suy luận logic, có người quen tưòng tượng sáng tạo, mà những thói quen đó có ảnh hưởng đến việc học tập khác nhau của từng cá thể

Bốn kiểu hoạt động trí óc này đuợe hình thành và phát triển theo sự phát triển khả năng làm việc trí óc của con người

1.2.1.1 Kiểu hoạt động trí óc gán vói cái cụ thể (Dj)

Khi mới sinh ra, trẻ đã có vài chục phản xạ (bú, nhìn các đồ vật di động, nghe thấy tiếng động xung quanh ) nhưng chỉ dừng lại ờ mức nhận thấy,

chưa tái hiện được trong đầu, nghĩa là trẻ chưa bắl đầu hoạt động trí óc Trẻ chưa ghi lại được trong đầu những ảnh tinh thần của những âm thanh đã nghe, hình ảnh đã thấy khi chúng không tồn tại trước mắt nữa và cũng chưa có các

từ để gán cho những gì nó quan sát được Thói quen đó được duy trì về saunày, khi ưẻ đã có khả năng tái hiện những gì đã nhận thấy, đã phát hiện Việctrẻ có thể làm tổn tại được trong đầu những hình ảnh, âm thanh cụ thể đã nghe, đã nhìn thấy đó là khả năng làm việc trí óc đầu tiên của con người Lúc

Trang 30

này chưa có sự ghi nhớ, cũng chưa có sự kết hợp các hình ảnh trong một mối liôn hệ logic, cũng như chưa có sự biến đổi các hình ảnh để tạo nên hình ảnh mới Đây là kiểu hoạt động trí óc gắn với cái cụ thể, gắn với những kinh nghiệm đã có Khi lớn lên, người ta có thể quen với kiểu hoạt động này, cũng

có thể do những thói quen khác (sẽ nói đến sau đây) phát triển mà lấn át nó đi, làm cho thiếu mất thói quen đó

Những người có thói quen hoạt động trong kiểu này luôn luôn phải dựa vào các ví dụ cụ thể để hiểu những quy luật chung, khi nói đến những gì trừu tượng thường phải có những ví dụ cụ thể để minh hoạ, khi nói đến một cái gì mới lạ phải so sánh với những cái tương tự đã quen thuộc, đã có kinh nghiệm Muốn kể lại một tình huống tai nạn giao thông, người ta phải dùng những cái

ám, cái chén có sẵn trên bàn thay thế cho các động tử để mô tả được vị trí của những chiếc xe tham gia vào vụ tai nạn; để mô tả về một đơn vị hành chính ở Pháp thường phải so sánh với một đơn vị tương ứng cùa Việt Nam, mặc dù tên gọi đó không giống nhau Chúng tôi gọi đó là kiểu hoạt động trí óc gắn với cái cụ thể, ở đây ta gọi tắt là kiểu D l Khi người ta nói “hiền như con nai rừng”, “ác như con hổ” là biểu hiện của thói quen này Kiểu hoạt động trí óc này rất cần thiết, vì chính nhờ nó mà người ta mới dễ dàng gợi lại các hình ảnh tinh thần cần thiết khác, có những hình ảnh cụ thể thì mới có thổ có sự liên kết để tạo ra các mối quan hệ Hoạt động chú ý diễn ra trong kiểu thói quen này để ghi lại những cái cụ thể đã quan sát được, tạo thuận lợi cho các hoạt động trí óc khác Dù cho người có khả năng suy nghĩ, tưởng tượng tốt đến mấy mà không có kiểu hoạt động này thì kết quả suy nghĩ hay tưởng tượng cũng không cao Nhung về sau ta sẽ thấy nếu chỉ có thói quen này thì sẽ

có những hạn chế trong làm việc trí óc

I.2.I.2 Kiểu thói quen nhớ máy móc (D2)

Phát triển thêm một bước, nhờ có sự xuất hiên của tiếng nói, trẻ có thể ghi lại trong đầu các hình ảnh đã nhận thấy cùng với các môi quan hệ của chúng: Nghe nói tiếng mẹ, trẻ có thể hình dung ra hình dáng, tiếng nói của mẹ mặc

dù người mẹ không có mặt ở đó Nói cách khác có thể nhớ được một cách lâu dài những thông tin đã ghi lại được Hoạt động trí óc theo kiểu này phù hợp

Trang 31

với kiểu thứ hai, ta gọi tắt là kiổu D2, tức là tái hiên được bằng lời nói những

gì người ta đã học thuộc lỏng, (nhớ máy móc). Kiểu này bao gồm tất cả những

sự gợi lại các từ, cách viết các từ, những bảng tính cộng, tính nhân, những hài thơ, bài hát đã thuộc lòng, những động tác cần có để thực hiện một lao động chân tay, vận hành một cái máy giặt hay máy vi tính Những tái hiện trong kiểu này khác với kiểu D l: Nhìn thấy một cây thông, trong đầu ta gợi lại hình ảnh của cây này, đó là D l Nhưng với D2 ta sẽ nhận ra tên của nó là “cây thông”, ta còn nhớ cả cách viết của nó: t-h-ô-n-g, nhớ một câu thơ “cao như thông vút buồn như liễu” Ngược lại khi không nhìn thấy cây thông thật, nhưng nghe nói đến từ cây thông thì trong đầu cũng có thể hiện lên hình ảnh cây thông hoặc có thể dùng lời mô tả được hình thù và những đặc điểm của

nó Nhờ những hình ảnh liên quan đến đối tượng này đã ghi lại được trước đó

mà mỗi lần gợi lại một hình ảnh thì có khả năng “kéo theo” các hình ảnh khác trong đầu Nhung nó cũng khác với các kiểu sau này là những hình ảnh đó chỉ hiện ra nguyên hình như khi nó được ghi lại mà không có sự liên kết, hay biến đổi Kiểu hoạt động này rất có lợi cho việc học tập, nhất là thời kỳ đầu đi học, đòi hỏi trẻ phải hoạt động nhiều nhất trong kiểu này Những trẻ có thói quen ghi nhớ máy móc sẽ rất thuận lợi cho việc học tập

Hai kiểu DI và D2 là hai kiểu hoạt động trí óc đơn gỉdn, nó tái hiên những gì đ ã có sẵn trong đầu:

- DI gợi lại những con người, sự vật, các cảnh, các hành động mà chủ thể đã nhận thấy;

- D2 gợi lại các từ, các lời nói, các ký hiệu, các hình ảnh âm thanh mà chủ thể đã ghi nhận đựợe trước đó.

Nhung hoạt động trí óc của người ta không thể chỉ dừng lại ở hai kiểu này

1 2 1 J Kiểu thói quen suy luận logic (Dj)

Càng lớn lên và đặc biệt là từ khi đến truờng, ưẻ được dẫn dắt để có các hoạt động trí óc phức hợp hơn:

• Trẻ có thể phân loại các đối tượng theo những đặc tính chung của chúng Chẳng hạn từ một đống các vật thể có hình dáng và màu sắc khác nhau, trẻ có thể nhóm lại các hình màu đỏ để phân biệt với nhóm

Trang 32

các hình màu vàng, các hình màu xanh mà trong sô' các vật có chung một màu có thể có những hình dáng khác nhau như hình tròn, tam giác, chữ nhật ; hoặc có thể nhóm các hình tròn để phân biệt với nhóm các hình chữ nhật, các hình tam giác mà mỗi nhóm có cùng hình dạng lại

có các màu sắc khác nhau Nói cách khác là biết phân loại khái niệm, hay phân chia tập hợp các đối tượng thành những nhóm có các đặc tính chung

• Trẻ có thể tìm mối quan hệ tương ứng giữa c á c đối tượng: trong một bức tranh có vẽ các dụng cụ khác nhau và những người có trang phục theo nghề nghiệp của họ, trẻ có thể chỉ ra dụng cụ nào ứng với người nào

• Trẻ cũng có thể xếp thứ tự: xếp các hình theo thứ tự từ lớn đến bé, xếp các hình trước sau theo vị trí không gian hoặc theo diễn biến thời gian;

về sau biết sắp thứ tự các số lớn hơn, bé hơn

• Trẻ nhận biết được mối quan hệ nhân quả, tìm nguyên nhân gây ra các kết quả: trời mưa làm áo ướt, nhung áo ướt chưa hẳn do trời mưa Kiổu hoạt động trí óc này ứng với kịểu thứ ba, hoạt động logic, gọi làD3, gồm tính logic, các lập luận, các mối quan hệ: từ nguyên nhân đến kết quả, thời gian, không gian, thứ tự, sự phụ thuộc Đây là sự gợi lại các mối quan hệ mà không hẳn bộc lộ ra ngoài để dỗ nhận thấy, mà đòi hỏi chủ thể phải qua những hoạt động trí óc phức hợp: phải gợi ra các hình ảnh rồi từ đó phân tích, so sánh

Những sự gợi lại kiểu này cho phép người ta hiểu, và nhận thức kiến thức mới, suy nghĩ Kiểu hoạt động D3 cho phép ta khi thấy một cây thông, ta gợi lại ưong đầu đặc tính của những cây họ thông, ta cố suy nghĩ tại sao lá của nhiều loại cây rụng trong mùa đông mà lá của loại cây này thì không rụng Cũng từ đó suy ra tại sao khi người ta trổng cây chuối con thì phải chặt bớt lá

đi Kiểu hoạt động này rất quan trọng cho việc học tập và nếu xác đinh đúng đắn yêu cầu của giáo dục thì một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục là phải rèn luyện cho trẻ kiểu hoạt động này, chứ không phải chí thuộc lòng những điều đã biết

Trang 33

1.2.1.4 Kiểu thói quen tưởng tượng sáng tạo (D4)

Trẻ cũng không tự bằng lòng với việc ghi lại trong đầu những gì nó đã nhận thấy nhờ sự chú ý, sự hiểu và sự suy nghĩ, mà nó sỗ biến hoá các hình ảnh đó để tạo ra những hình ảnh mới, khác với những hình ảnh đã có Như vậy

là trẻ có sự tưởng tượng, sáng tạo. Nó có thể diễn đạt kết quả những hoạt động này thành lời: “bây giờ cháu làm cô giáo, ông làm học sinh ” hoặc bằng hành động như sắp xếp các đổ vật linh tinh thành ngôi nhà, vẽ một bức tranh nhưng cũng thường khi các hình ảnh đó chỉ giữ lại trong đầu Toàn bộ những sự gợi lại (lái hiện) thuộc vào kiểu hoạt động trí óc thứ tư, gọi là D4, đó

là kiểu tưởng tượng sáng tạo. Hoạt động này cho phép chủ thể kéo dài, chuyển đổi các ảnh bằng sự thiết lập các mối quan hệ độc đáo giữa các yếu tố khác nhau của sự vật đã nhận thấy để tạo thành (tức là gợi ra) sự vật mới, ít nhất là mới so với trẻ vì cho đến lúc này trong đầu trẻ chưa có hình ảnh đó Nói cách khác đây là sự gợi lại bằng cách kéo dài, biến đổi những hình ảnh đã có để gợi

ra những hình ảnh tinh thần hoàn toàn mới lạ, trước đó chưa có Kiểu hoạt động này giúp cho người ta không rập khuôn máy móc, vượt ra những kinh nghiệm đã có để tạo ra cái mới

Một biểu hiện khác của thói quen D4 là khi chủ thể nghe hay đọc một câu nào đó không nói lại nguyên văn những câu đã đọc hay đã nghe, mà luôn luôn nói lại bằng những từ khác của mình, hoặc diễn đạt theo câu khác mà những từ, những câu mới này có thể giữ nguyên ý nghĩa hoặc có thổ sai lệch

đi, do chủ thổ hiểu sai ý nghĩa của nguyên bản Ví dụ khi nghe nói: “bứ/ thình lình trời tối hẳn” họ nói “đột nhiên trời tối sụp l ạ i hoặc nghe câu: "bà lão hất hoảng xách cái gậy chạy ra vườrì' đã nhắc lại “bà lão cầm cái gậy chạy ra vườn một cách hốt h o ả n gNếu có thói quen D2 thì người ta có thể nhắc lại nguyên văn, không thêm bớt hay thay đổi Trường hợp trên không phải là họ không có khả năng nhớ, mà nhũng hình ảnh họ ghi nhận đã được biến đổi đi trong đầu để khi họ nói lại thì theo hình ảnh mới đó, mặc dù họ không có chủ

ý biến đổi, mà đó là do thói quen Những từ mới, câu mới của họ dùng tự nhiên xuất hiện đầu lưỡi Những câu nhắc lại này không nguyên văn nhưng vẫn rất sát ý của những điều họ đã hiểu Người có thói quen tưởng tượng kiểu

Trang 34

này rất có lợi khi học môn văn, họ luôn luôn được đánh giá là người sáng tạo Nhưng khi học các môn khoa học chính xác thì thói quen đó cóthổ sẽ gây trử ngại cho họ.

Đây cũng là một biểu hiện nữa của D4: học sinh có thói quen D4, khi học bài nếu họ nắm được ý chính, thì với thói quen tưởng tượng họ có thể cónhững ý kiến bổ sung để diễn đạt lại Dĩ nhiên cũng có khi bổ sung những ýkiến độc đáo, nhưng cũng có khi không chính xác làm sai lệch nghĩa

Ta đã biết các hoạt động trí óc là những quá trình gợi lại Ta hãy xem những đặc điểm của việc gợi lại trong các hoạt động này như thế nào?

- Kiểu DI là gợi lại những hiện tượng, con người, sự vật, hành động cụ thể;

- Kiểu D2 là gợi lại các từ, lời nói, các ký hiệu;

- Kiểu D3 là gợi lại các mối quan hê;

- Kiểu D4 là gợi ra những hình ảnh mới (biến đổi, kéo dài )

Trang 35

- K h i thực hiện kiểu h oạt động D l, D2, trong đầu ch ủ thể ch ỉ gợi

ra những hình ảnh tinh thần đã có sẵn trước đó, còn kiểu D3 và D4 là tạo ra trong đầu chủ thể các hình ảnh tinh thần mới: Khi thực hiện kiểu D3 nhờ sự suy nghĩ mà ta tạo ra trong đầu những mối quan hệ logic, dẫn đến những kết luận, là kết quả của sự kết hợp những điều đã cho biết với những kiến thức cũ để tạo ra những ý kiến, những tư tưởng, tức

là gợi lại những chuỗi hình ảnh tinh thần mới, đó là những kết luận Khi thực hiên kiểu D4 nhờ tưởng tượng sáng tạo mà ta gợi ra được những ảnh tinh thần hoàn toàn mới, những ảnh đã thu nhận trước đó đã được biến đổi, bổ sung

- Giữa hai kiểu D3 và D4, tuy đều tạo ra hình ảnh tinh thần mói nhưng cũng có sự khác nhau: trong kiểu D3 chỉ gợi ra những mối quan

hệ vốn có của sự vật hiện tượng, còn D4 là gợi ra những mối quan hệ

theo ý chủ quan của chủ thể

Bốn kiểu hoạt động này không phân theo ‘írình độ cao thấp”, nghĩa là không phải kiểu này là điều kiên cần để có kiểu khác, cũng không thể nói rằng người có thói quen kiểu này thì giỏi hơn kiểu kia

Phân biệt các kiểu hoạt động trí óc nói trên nhằm nghiên cứu một vấn

đề quan trọng: thói quen về hoại động trí óc của mỗi người Một số người có thể có thói quen trong cả 4 kiểu hoạt động trí óc đó, nhưng có người chỉ có thói quen ở một hay vài kiểu trong bốn kiểu hoạt động trí óc đó mà thôi: có người có thể học thuộc lòng dỗ dàng, chỉ sau một vài lần lặp lại là có thể nhớ mãi, nhưng ngược lại có nguời dù lặp lại rất nhiều lần nhưng mỗi lần cần đến kiến thức đó lại phải tra cứu lại Ngược lại có người tuy không nhớ máy móc được nhưng lại có óc logic khá nhạy, họ không thể “hiểu” (theo kiểu áp dụng) được những gì không có mối quan hê rõ ràng, họ có thể hay quên một công thức nhưng mỗi lần cần nhớ đến, họ có thể suy ra từ những công ihức đã nhớ khác để nhớ lại công thức này Các thói quen khác nhau này ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập của mỗi cá thể, sẽ bàn đến dưới đây

Trang 36

1.2.2 Tác dụng của các kiểu hoạt động trí óc

Bốn kiểu hoạt động trí óc nói ở trên (D l: Gắn với cụ thề, D2: tự động, nhớ máy móc, D3: suy luận logic', D4: tưởng iượtig sáng lạo) đều rất cần thiết trong hoạt động học tập cũng như các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người Nếu người nào có đầy đủ thói quen hoạt động trí óc trong cả bốn kiểu đó thì việc học tập hết sức thuận lợi Nhưng ta thử quan sát trên thực

tế đã diễn ra như thế nào? Có những người có thói quen hoạt động tốt ở kiểu này nhưng lại ít có thói quen hoạt động ở kiểu khác, và có thể hoàn toàn không có thói quen trong một kiểu hoạt động nào đó Và người ta có thể nói rằng đứa bé này chỉ giỏi nhớ máy móc, không có khả năng suy luận, hoặc cậu

bé kia không phải là người sáng tạo, không có chút tưởng tượng nào, có người rất kém nhớ máy móc, nhưng óc logic lại tốt, mỗi lần làm toán phải xem lại công thức, nếu không xem được thì phải suy luận lại để có công thức đó, họ thường được mệnh danh là “đãng trí bác học” Thực tế đó chỉ là vẵh đề của

thói quen, không nên và coi đó như là một sự định mệnh Ta hãy phân tích những thuận lợi và những khó khăn của mỗi người nếu chỉ có thói quen trong kiểu đó mà thiếu những thói quen trong các kiểu khác

1.2.2.1 Kiểu DI

Kiểu 1 là kiểu hoạt động trí óc về những sự vật cụ thể, của đời sống thực

tế Những cái cụ thể tạo cơ sở cần thiết cho phần lớn các hoạt động trí óc Hoạt động chú ý là hoạt động thường xuyên diễn ra trong kiểu này Đừng đánh giá thấp thói quen về kiểu hoạt động này Người có khả năng suy luận giỏi đến mấy nhưng không dựa trên sự quan sát để có vốn thực tế cũng sẽ dẫn đến những kết luận sai lầm Bởi vì anh ta không có “nguyên liệu” để hoạt động trí óc, hoặc có nhưng những nguyên liệu đó không đúng đắn do đã quan sát hời hợt Ngược lại nếu chỉ có thói quen D l, trên thực tế không có khả năng trừu tượng thì sẽ hoàn toàn không thích hợp với việc học tập

1.2.2.2 Kiểu D2

Hoạt động theo kiểu D2 là rất cần thiết cho việc học cơ bản Học ngôn ngữ, các quy tắc ngữ pháp của tiếng Việt cũng như ngoại ngữ, nhận thức các con số, các còng thức, các quy tắc nếu có thói quen trong kiểu D2 sẽ rất

Trang 37

thuận lợi Nhừ nó mà tạo ra những hoạt động tự động trong tất cả các hoại động trí óc và chân tay, VI khi thực hiện những gì đã thuộc lòng được thì c ứ tự động, không cần “để tâm” đến những cái đó Chẳng hạn một ngưừi lái xc đã thành thạo thì việc xử lý các tình huống diễn ra một cách tự động, không cần suy nghĩ Thường xuyên có kiểu hoạt động này cho phép tiết kiệm thời gian, không phải mất thời gian để tra cứu những từ, những công thức đã học, cách vận hành một cái máy nên có nhiều thời gian để thực hiện các hoạt động trí

óc khác Khi làm toán gặp những trường hợp phải ứng dụng công thức nào đó,

nó tự động hiện ra mà không phải mất công sức nhớ lại, hay tìm kiếm, tra cứu

Vì vậy khi làm bài thi, em chỉ cần tập trung suy nghĩ tìm hướng giải mà không mất nhiều công sức để vật lộn với những con tính Khi diễn đạt một ý kiến bằng tiếng nước ngoài họ không cần tìm lại các từ, tìm cách đặt câu, mà các từ

và các câu tự động tuôn ra Nếu học sinh không nhớ được các công thức, quy tắc thì không những mất thời gian mà còn tốn năng lượng để tìm kiếm, gây ra mệt mỏi, chán chường Ta hình dung một người vận hành một cái máy, nếu anh ta có khả năng nhớ máy móc thì anh ta có thể thao tác nhanh chóng, làm một cách tự động, năng suất sẽ rất cao Kiểu này rất cần thiết cho hoạt động trí óc ghi nhớ, suy nghĩ (khi cần áp dụng nhừng quy tắc) và cả trong hoạt động hiểu (đối chiếu, liên kết với những kiến thức cũ) Nhưng ngược lại nếu người nào chỉ quen với kiểu hoạt động này sẽ có khuynh hướng trong mọi hoàn cảnh chỉ làm theo khuôn mẫu, sẽ gặp khó khăn trong những tình huống tìm hiểu cái mới, phải suy luận hoặc phải tưởng tượng Cần lưu ý rằng trong thực tế có những người có thói quen có thể học thuộc lòng cả những gì họ không hiểu,

và có thể là sau khi học thuộc lòng họ ngẫm nghĩ lại để hiểu Vì vậy không nên chống việc học thuộc lòng, đừng coi đó là lối học vẹt, mà phải hiểu có người có thói quen như thế và họ cần phải làm như thế Thực tế cũng chỉ ra rằng có người rất kém khả năng nhớ máy móc, nhưng không có nghĩa là họ không phải là người “thông minh”, họ có thể suy luận rất nhanh, khi làm toán

họ thường quên công thức, nhưng rồi họ có thể suy luận để tìm lại được, khi

họ học một bài học, họ hiểu nhưng khồng học thuộc lòng được, nhưng họ có thể trình bày lại được vấn đề theo lời lẽ riêng, theo cách diễn đạt của họ Vì

Trang 38

vậy những giáo viên có kiổu D2 cũng không nên bắt buộc mọi học sinh phải học thuộc lòng theo th ói qu en của mình, mà cần phải đánh giá đúng những hiểu biết của họ dù họ không nói nguyên văn, mặt khác cần khuyến khích họ

cố gắng học thuộc lòng những gì cần thiết theo những phương pháp sẽ trình bày trong phần thứ tư

1.2.23 Kiểu D3

Kiểu D3 liên quan đến hoạt động logic, lập luận, suy diễn, sự hợp lý Dĩ nhiên chúng được đặt ưu tiên trong các hoạt động học tập đòi hỏi sự nghiên cứu, tìm hiểu cái mới, giải các bài toán, áp dụng các quy tắc Không phải chỉ trong hoạt động học tập, mà ngay cả trong cuộc sống hàng ngày khi phải tìm cách khắc phục một khó khăn nào đó trong sinh hoạt, trong cuộc sống; khi cần thiết phải tìm hiểu thế giới quanh ta, về những tiến bộ kỹ thuật, những quy luật kinh tế, những tư tưởng triết học, những vẵh đề ứng xử trong trong đời sống xã hội Có như vậy mới tìm cách thích ứng khi đứng trước nhiều vấn đề mới của cuộc sống đặt ra mà không thể giải quyết theo đường mòn Việc hình thành và phát triển thói quen này là một yêu cầu hết sức quan trọng, nếu thiếu khả năng ghi nhớ thì đã có thể có cách tra cứu, nhưng nếu thiếu khả năng phán đoán suy luận thì chỉ làm theo đường mòn, không thể khắc phục những khó khăn đặt ra trong mọi mặt của cuộc sống diễn ra hàng ngày xung quanh chúng ta Việc giảng dạy ngày nay trong nhà trường có khi vô tình đã không tạo điều kiện cho học sinh phát triển kiểu làm việc này Với phương pháp giảng dạy bằng cách “truyền thụ” kiến thức, cho học sinh ghi nhớ để rồi khi kiểm ưa thi cử có thể viết lại, nói lại, làm theo các bài mẫu Người ta cho học sinh những đề văn, đề toán kèm theo bài giải mẫu (như bộ đề thi) là những cách làm thui chột khả năng hoạt động trí óc quan trọng này Cách làm này chỉ có lợi cho ngừơi quen nhớ máy móc Thực ra việc rèn luyện thói quen D3

có thể đặt ra từ lứa tuổi mẫu giáo: cho trẻ phân loại các hình; sắp xếp các đồ đạc theo một thứ tự nào đó; qua những ưò chơi phải tuân thủ các “luật chơi”, hoặc cho trẻ tự xây dựng các “luật chơi”; qua những câu chuyện kể trong đó các tình tiết liên quan với nhau mộl cách logic; qua những câu đô Khi bắt đầu đến trường phổ thông trẻ được giải những bài tập, trả lời những câu hỏi

Trang 39

đòi hỏi phải suy nghĩ Ngày nay có những chương trình truyền hình tổ chức những cuộc thi cho nhiổu đối tượng khác nhau rất bổ ích Nhưng đáng tiếc là nhiều câu hỏi đặt ra thường chỉ yêu cẩu có kiến thức và nhớ lại là có thổ trả lời được, mà ít loại câu hỏi cần suy luận Nếu điều chỉnh được theo hướng tăng các câu hỏi đòi hỏi người dự thi phải suy luận trên những kiến thức đã có thì đó là những dịp rèn luyện thói quen D3 cho khán giả.

Người nào tự bằng lòng với kiểu hoạt động D l, D2 sẽ sống ngày này qua ngày khác bằng cách tự động lặp lại những gì đã học một lần cho tất cả mọi trường hợp trong suốt cả cuộc đời Nhưng ngược lại người nào chỉ quen hoạt động trong kiểu D3, không có thói quen trong kiểu D l, D2 cũng sẽ chịu nhiều bất lợi như đã nói ở trên, dù cho óc suy luận tốt đến mấy mà không có thực tế, nghĩa là không có vốn để suy luận thì chẳng thể suy luận được, nếu không có khả năng ghi nhớ sẽ tốn nhiều công sức, thời gian như nói trên

1.2.2.4 Kiểu D4

Kiểu D4 là tưởng tượng, sáng tạo Kiểu này không phải chỉ cần thiết đối với các nhà khoa học, các nghệ sĩ, mà trong cuộc sống hàng ngày khi gặp mội vấn đề đòi hỏi phải tưởng tượng để tìm ra một giải pháp mà cho đến lúc đó còn mới lạ đối với chúng ta, mặc dù việc đó là bình thường đối với nơi khác, người khác Ngay cả những người có năng lực suy nghĩ đáng kể nhưng nếu không có thói quen thực hiện kiểu D4 sẽ rất khó khăn khi phải vượt ra ngoài khuôn kh ổ quen thuộc. Hệ thống nhà trường cũng như ngoài xã hội chưa thực

sự quan tâm đến việc phát triển kiểu làm việc D4 cho trẻ Khi một đứa trẻ giàu trí tưởng tượng thường bị người lớn cho rằng ăn nói huyên thiên, dục trẻ học bài đi, đừng chơi trò vớ vẩn mà không nghĩ rằng những trò vớ vẩn đó là cách luyện tập kiểu hoạt động D4 hoàn toàn nghiêm chỉnh Ngược lại người nào chỉ quen với kiểu hoạt động D4 sẽ chỉ sống trong thế giới bên trong, một thế giới tưởng tượng, xa rời những cái cụ thể Mặc dù họ mạnh về kiểu D4, nhưng những nhà sáng chế phát minh cũng phải thường xuyên thực hiện kiểu

DI (quan tâm đến thực tế) và kiểu D3 (để hiểu và kiểm tra các giả thuyết)

Trang 40

1.3 DẠY HỌC DỰA VÀO KlỂU HOẠT ĐỘNG TRÍ Óc VÀ KlỂU HỌC

1.3.1 Dạy học dựa vào kiểu hoạt động trí óc

Những thói quen khác nhau về các kiểu làm việc trí óc nói trên tồn tại trong các cá thể, kể cả người học và người dạy Trong phần trên ta đã thấy cái lợi và bất lợi của những người chỉ có thói quen trong kiểu hoạt động trí óc này mà không có thói quen trong kiểu khác Cũng như đối với thói quen về ngôn ngữ bên trong, không ai để ý thấy có sự khác nhau giữa người này và người khác, thường người ta nghĩ rằng mọi người đều có kiểu hoạt động như nhau, chỉ có cái khác là người này giỏi hơn, người khác kém hơn. Thầy giáo thường có khuynh hướng chê trách những học sinh không cùng thói quen với mình và có khuynh hướng áp đặt thói quen của mình cho học sinh Bản thân học sinh khi chưa có một thói quen nào đó thì mất lòng tự tin vào chính mình, không nghĩ rằng mình có thể phát huy thế mạnh những thói quen đã có và luyện tập đổ có những thói quen chưa c ó .Bây giờ ta hãy quan sát những gì sẽ diễn ra khi người dạy và người học không có cùng thói quen trong các kiểu hoạt động ưí óc và cách đối xử của họ đối với những học sinh này như thê'

Một giáo viên quen Idểu D2, thường cho rằng việc học thuộc lòng là dễ dàng, nếu không học thuộc lòng được chỉ do lười biếng Họ không nhận thấy rằng nhiều em rất mất nhiều công sức để học nhưng không thể thuộc lòng được Trong khi đó thì thầy giáo cứ đinh ninh rằng muốn học có kết quả không có gì khác là phải “mài” thật lực vào Khái niệm học của giáo viên này

đi đôi với việc học thuộc lòng. Họ yêu cầu học sinh phải học thuộc lòng tất cả các công thức, các đinh lý, các bài học lịch sử địa lý, thậm chí cả các bài khoa học tự nhiôn như lý, hoá Họ cho học sinh những bài làm ván mẩu theo một số chủ đề nào đó mà họ đoán đó là “tủ” rồi cho học thuộc lòng để chuẩn bị cho

kỳ thi Nếu học sinh được gọi lên bảng mà không đọc thuộc lòng các bài học

sẽ bị điểm kém, giáo viên này không quan tâm đến những câu trả lời có thể đúng ý và có khi còn độc đáo nữa Ngay cả những học sinh nắm được bài, làm bài chắc chắn nhưng vì không nguyên văn như bài của giáo viên đã cho, cũng

bị điểm kém

Ngày đăng: 28/03/2017, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w