Nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do, Các Mác và Ăng ghen dự báo rằng: cạnh tranh tự do sinh ra tích tụ và tập trung sản xuất, tích tụ và tập trung sản xuất phát triển đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến độc quyền. Vận dụng sáng tạo những nguyên lý đó vào thực tế lịch sử mới của thế giới vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin đã chứng minh: Chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh, gắn với cơ chế “bàn tay vô hình”, sang giai đoạn phát triển cao hơn là chủ nghĩa tư bản độc quyền với sự xuất hiện của cơ chế mới – cơ chế độc quyền. Lênin khẳng định: “Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản”. Các tổ chức độc quyền ban đầu xuất hiện vào những thập kỷ cuối thế kỷ XIX. Xuất phát từ đó, giai đoạn này có thể gọi là chủ nghĩa tư bản độc quyền. Theo nghiên cứu của Lênin, chủ nghĩa tư bản độc quyền, xét về bản chất kinh tế, được đặc trưng bởi 5 đặc điểm cơ bản. Các đặc điểm này có quan hệ mật thiết với nhau, gắn liền với nấc thang phát triển cao hơn của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Một trong số các đặc điểm đó là sự tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền.
Trang 1Nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do, Các Mác và Ăng ghen dự báo rằng: cạnh tranh tự do sinh ra tích tụ và tập trung sản xuất, tích tụ và tập trung sản xuất phát triển đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến độc quyền Vận dụng sáng tạo những nguyên lý đó vào thực tế lịch sử mới của thế giới vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin đã chứng minh: Chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh, gắn với cơ chế “bàn tay vô hình”, sang
giai đoạn phát triển cao hơn là chủ nghĩa tư bản độc quyền với sự xuất hiện của
cơ chế mới – cơ chế độc quyền Lênin khẳng định: “Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản” Các tổ chức độc quyền ban đầu xuất
hiện vào những thập kỷ cuối thế kỷ XIX Xuất phát từ đó, giai đoạn này có thể gọi là chủ nghĩa tư bản độc quyền Theo nghiên cứu của Lênin, chủ nghĩa tư bản độc quyền, xét về bản chất kinh tế, được đặc trưng bởi 5 đặc điểm cơ bản Các đặc điểm này có quan hệ mật thiết với nhau, gắn liền với nấc thang phát triển cao hơn của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Một
trong số các đặc điểm đó là sự tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền.
1.Sự tập trung sản xuất:
Tập trung sản xuất là sự phát triển rất lớn của công nghiệp và quá trình
tập trung cực kỳ nhanh chóng của sản xuất vào trong các xí nghiệp ngày càng
to lớn Đây là một trong những đặc điểm tiêu biểu nhất của chủ nghĩa tư bản.
Áp lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường tất yếu dẫn tới khả năng tập trung nguồn lực vào tay nhóm nhỏ người thắng cuộc Cơ hội thôn tính hay thỏa hiệp cho phép các chủ thể mạnh cạnh tranh có lợi thế trên thị trường so với những chủ thể yếu thua cuộc, Nguồn lực tập trung đến lượt nó tạo thuận lợi hơn cho việc bành trướng, khẳng định ưu thế trong sân chơi Cụ thể:
Trang 2• Quy mô to lớn của các xí nghiệp làm cho cạnh tranh trở nên gay gắt hơn, từ đó sinh ra khuynh hướng thỏa hiệp, liên minh với nhau làm cho số lượng xí nghiệp trong một ngành giảm đi
• Khi một ngành chỉ còn một số ít xí nghiệp lớn thì chúng có thể dễ dàng thỏa thuận với nhau để độc quyền về giá mua, giá bán và thị trường
Đó là logic dẫn tới hình thành độc quyền trên thị trường
2.Khái niệm độc quyền:
Theo Ăng-ghen, tư bản độc quyền là “một thứ hội liên hiệp có mục đích điều tiết việc sản xuất, họ quyết định tổng số phải sản xuất, phân phối tổng số ấy với nhau, và do đó, nắm được các giá bán đã quy định trước” Nói cách
khác, tổ chức độc quyền là sự liên minh giữa những nhà tư bản nắm phần lớn
việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hóa, dịch vụ nào đó nhằm mục đích thu lợi nhuận độc quyền cao.
Xuất phát từ căn nguyên hình thành độc quyền như đã nêu ở mục 1, tổ chức độc quyền thể hiện cơ cấu liên minh của nhiều chủ thể kinh tế thông qua thôn tính, liên kết hay sáp nhập vì động cơ lợi nhuận cao hơn
Độc quyền về kinh tê là sự tập trung lực lượng kinh tế vào trong tay một số
chủ thể kinh tế làm cho họ có quyền lực khống chế đối với quá trình tái sản xuất xã hội Các tổ chức độc quyền nắm đa số các nguồn lực kinh tế như đầu
vào (nguồn nguyên liệu, năng lực sản xuất,…) và đầu ra (thị trường) Quyền lực này có thể chi phối được thị trường và buộc đối thủ cạnh tranh yếu thế và người tiêu dùng chấp nhận mức giá do họ đặt ra Do đó, họ chiếm được lợi nhuận cao hơn lợi nhuận bình quân
Trang 3Sức mạnh độc quyền thể hiện thông qua thị phần của liên minh tư bản này trong việc chiếm lĩnh các loại thị trường Liên minh có thể hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông, đầu tư, v.v Mục tiêu của liên minh tư bản chi phối thị phần là lợi nhuận độc quyền cao Ngay từ 1890, Mỹ đã đưa ra luật Sherman để điều tiết thị phần của doanh nghiệp trên thị trường nhằm hạn chế tác động xấu của độc quyền
3.Nguyên nhân hình thành độc quyền vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX:
Theo Lênin, các tổ chức độc quyền hình thành do những căn nguyên chính sau đây:
a Sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất và năng lực kinh tế của các tổ chức kinh tế tư bản
Xu hướng hình thành độc quyền diễn ra vào những năm cuối thế kỷ XIX Cách mạng công nghiệp Tây Âu thực sự tạo ra hiệu suất cao cho phát triển các ngành nghề trong xã hội, tăng trưởng kinh tế và tích lũy tư bản trên quy mô lớn Hệ quả là sự phát triển mạnh của lực lượng sản xuất, cơ sở vật chất – kỹ thuật dựa trên nền tảng đại cơ khí được khẳng định vững chắc, khả năng tích lũy của nội tại các nền kinh tế tư bản càng trở nên dồi dào
Kế tiếp phát minh ra đầu máy hơi nước là phát kiến ra điện, vận dụng điện năng vào các lĩnh vực cơ bản là một đột biến vĩ đại của nhân loại Điện năng được vận dụng vào vật lý cho ra đời nhiều ngành công nghiệp ứng dụng, chẳng hạn ngành luyện kim, vô tuyến điện Ngành luyện kim cho phép sáng tạo nhiều nguyên vật liệu, hợp kim nhằm thúc đẩy mạnh ngành chế tạo máy, động lực Điện năng được vận dụng vào hóa học cho ra đời nhiều ngành ứng dụng, như hóa dầu, chế tạo chất hữu cơ nhân tạo, từ đó tạo tiền đề cho các ngành công nghiệp khác phục vụ đời sống nhân dân Điện năng được ứng dụng để sáng tạo
Trang 4ra các loại động cơ điện, nền tảng cơ bản để cơ khí từng bộ phận, dần dần tới toàn bộ nền kinh tế tự bản trong những năm cuối thế kỷ XIX
Như vậy, những thành tựu của cách mạng công nghiệp đã tạo ra tiền đề quyết định cho sự phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất trong các ngành kinh tế tư bản Cơ cấu kinh tế có nhiều chuyển biến về số lượng và chất lượng, từ đó chúng làm cho năng lực nền kinh tế tư bản có khả năng tích lũy to lớn Phân công lao động xã hội trong các nước tư bản trở nên tinh vi hơn, nhiều ngành nghề mới được hình thành với sự chuyên môn hóa sâu sắc, từ đó nó góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội trong các nước tư bản
Trên cơ sở đó, các tổ chức kinh tế lớn trong nền kinh tế tư bản xuất hiện, thâu tóm những nguồn lực lớn vào quá trình sản xuất, lưu thông và đầu tư trong nhiều ngành nghề Đó là một xu hướng tất yếu dẫn tới hình thành các liên minh độc quyền
b Tác động của các quy luật kinh tế trong nấc thang phát triển cao hơn của chủ nghĩa tư bản
Trong nền kinh tế thị tường TBCN, các hiện tượng, quá trình kinh tế bị chi
phối mạnh mẽ của hệ thống các quy luật kinh tế, như là Quy luật cạnh tranh, Quy luật giá trị, Quy luật sản xuất giá trị thặng dư, v.v… Trong giai đoạn này,
• Quy luật giá trị đã biểu hiện thành Quy luật giá cả độc quyền:
o Giá cả Độc quyền cao: dùng khi bán
o Giá cả Độc quyền thấp: dùng khi mua
• Quy luật sản xuất giá trị thặng dư biểu hiện thành Quy luật lợi nhuận độc quyền:
Lợi nhuận ĐQ = Lợi nhuận BQ + các nguồn lợi nhuận khác
Trang 5Quy luật này phản ánh mối quan hệ thống trị và bóc lột của tư bản độc quyền trong tất cả các ngành kinh tế của xã hội tư bản và trên toàn thế giới
Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa như Mác đã chứng minh Nó quy định động lực thúc đấy sản xuất – kinh doanh của các chủ thế kinh tế trên cơ sở tối ưu hóa lợi nhuận, nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm chi phí cá biệt Đây chính là lợi nhuận
siêu ngạch mà Lenin đã từng nhắc tới: “…độc quyền đem lại lợi nhuận siêu ngạch, nghĩa là món lợi dư ra ngoài số lợi nhuân TBCN bình thường và thông thường trên toàn thế giới” Tối ưu hóa lợi nhuận là động lực tuyệt đối của các
nhà tư bản Để có lợi nhuận tối đa nhà tư bản nào cũng ra sức tích lũy tư bản nhằm tới tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và chiều sâu
c Yêu cầu duy trì ổn định và đối phó với những biến động lớn của nền kinh tế
Dưới áp lực cạnh tranh tàn khốc, nhiều biến động kinh tế có thể diễn ra và khó dự đoán nên, hậu quả để lại cho các chủ thể kinh tế càng trầm trọng Thực tiễn kinh tế vào những thập kỉ cuối thế kỉ XIX cho thấy rằng nền kinh tế tư bản luôn nằm trong tình trạng bất ổn, khủng hoảng, chẳng hạn khủng hoảng 1873,
1900 - 1903 Tuy nhiên, hậu quả của khủng hoảng lại không gây tác động như nhau tới các chủ thể kinh tế Phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản còn nhiều doanh nghiệp quy mô lớn thì đối phó tốt hơn nên tồn tại Từ đó xuất hiện một tâm ly kinh doanh là phát triển doanh nghiệp quy mô lớn trong chừng mực có thể để bảo đảm ổn định lợi nhuận trong các tình huống biến động
Mặt khác, các cuộc khủng hoảng dẫn tới phá sản, bán chạy, hợp nhất, chuyển đổi sở hữu của hàng loạt doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ Quá trình
Trang 6này dẫn tới tái cấu trúc doanh nghiệp Sự thôn tính của các doanh nghiệp này diễn ra dẫn tới hình thành chủ thể kinh tế mới với quy mô tái cấu trúc lớn hơn
Đó là dấu hiệu dẫn tới xu hướng hình thành các tổ chức độc quyền “Sau cuộc khủng hoảng là giai đoạn phát triển rộng rãi của những Cartel, nhưng những Cartel đó vẫn còn là những ngoại lệ, còn sau cuộc khủng hoảng, Cartel trở thành một trong những cơ sở của toàn bộ đời sống kinh tế”.
4.Các hình thức cơ bản của độc quyền:
Có rất nhiều hình thức độc quyền khác nhau Ban đầu, các tổ chức này hình thành theo liên kêt ngang, nghĩa là liên kêt giữa các xí nghiệp, công ty trong cùng một ngành, lĩnh vực dưới dạng Cartel, Syndicate, Trust, Consortium.
a Cartel:
Cartel là hình thức tổ chức độc quyền giữa các nhà tư bản ký thỏa thuận với nhau về giá cả, kỳ hạn trả tiền, phân chia thị trường tiêu thụ, sản lượng hàng hóa,… Các nhà tư bản tham gia Cartel vẫn độc lập với nhau về sản xuất và lưu thông
Chính vì thế, Cartel là liên minh không vững chắc vì không gắn chặt lợi ích của các thành viên trong các khâu cơ bản của quá trình tái sản xuất Trong nhiều trường hợp, những thành viên thấy không có lợi đã rút ra khỏi Cartel, làm cho Cartel đổ vỡ trước kỳ hạn
Cartel phát triển nhất ở Đức Một số dạng Cartel tiêu biểu:
• Cartel có mục đích ngăn cản thị trường:
Trang 7o Các quy chế, nội quy của các hiệp hội đặt ra các điều kiện mang tính ràng buộc phản cạnh tranh đối với bên mới gia nhập hiệp hội
o Điều khoản cấm cạnh tranh, ví dụ cấm việc rút khỏi liên minh để gia nhập một liên minh mới đang ở vị thế cạnh tranh với liên minh cũ
o Điều khoản phân chia thị trường phân phối
o Điều khoản hạn chế sản xuất hoặc ấn định quota sản xuất
o Điều khoản tẩy chay sản phẩm của doanh nghiệp khác
• Cartel giá (phổ biến nhất):
o Cùng nhau ấn định giá tối thiểu, giá tối đa
o Trao đổi thông tin về công thức tính giá, biên độ tăng/giảm giá nhằm đạt sự đồng bộ về giá
b Syndicate:
Syndicate có liên minh cao hơn và ổn định hơn Cartel Các thành viên của Syndicate vẫn duy trì tính độc lập về sản xuất, nhưng hợp nhất về lưu thông Ban quản lý chung của Syndicate thực hiện mọi việc mua bán hàng hóa, dịch vụ Ban quản lý chung của Syndicate thống nhất đầu mối mua và bán để độc quyền về giá bán hàng đặt và mua nguyên vật liệu giá rẻ nhằm thu lợi nhuận cao
Syndicate phát triển nhất ở Nga, Pháp
c Trust:
Trust là hình thức tổ chức độc quyền cao hơn Cartel và Syndicate, theo đó các thành viên Trust thống nhất việc sản xuất và lưu thông dưới sự quản lý của
ban quản trị Trust Các thành viên tham gia Trust trở thành những cổ đông,
Trang 8đóng cổ phần và hưởng lợi tức cổ phần hay chấp nhận thua lỗ theo mức đóng góp
Về căn bản, Trust là những công ty cổ phần khổng lồ, thống trị trong một ngành sản xuất nào đó Điều khác biệt lớn của Trust là sự cải biến sâu sắc về quan hệ sở hữu: từ sở hữu tư bản cá thể chuyển thành sở hữu tư bản độc quyền, đánh dấu bước ngoặt về hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa Lênin đã viết: “Sự khác nhau giữa hai khái niệm (Cartel và Trust) chính là ở những quan hệ sở hữu, trong Cartel có các chủ sở hữu khác nhau, trong khi đó thì trong Trust chỉ có một chủ”.
Quê hương của Trust là nước Mỹ và vị “cha đẻ” của hình thức này chính là
“Vua dầu lửa” John Davison Rockefeller.
Trang 9Năm 1870, Rockefeller thành lập tập đoàn dầu mỏ Stanrd Oil cùng với anh trai William và các cộng sự Samuel Andrews, Henrry Flager, Stephen Harkness, O.B Jennings Khi đó, Standard chiếm lĩnh 10% ngành công nghiệp dầu mỏ Mĩ Ban đầu, Rockerfeller nhận thấy giá cả đầu vào thấp và thị trường dầu đang thừa cung Để tồn tại, ông đưa ra giải pháp là hợp thành một công ty lớn, kiểm soát việc lọc dầu, đưa dầu vào các kho chứa cũng như sản xuất các phụ phẩm lọc hóa dầu Standard Oil bắt đầu trở thành công ty lớn
Vào thời điểm năm 1873, Cleveland đã trở thành một trong năm trung tâm lọc dầu lớn nhất nước Mỹ Bằng cách thu tiền hoa hồng bí mật từ các công ty đường sắt, Rockefeller đã tạo ra một lợi nhuận thế trong cạnh tranh Ông âm thầm mua lại các nhà máy lọc dầu của đối thủ cạnh tranh Trong vòng không
Trang 10đầy 4 tháng của năm 1872, Standard Oil đã thâu tóm đến 22 trong 26 đối thủ tại Cleveland Đến trước năm 1873, gần như tất cả các công ty lọc dầu ở Ohio đểu bị Standard mua đứt Khi “cuộc tàn sát Cleveland” (Cleveland Massacre) kết thúc vào tháng 4/1872, Standard Oil của Rockefeller đã kiểm soát 25% ngành công nghiệp dầu lửa Hoa Kỳ
Sau khi “chiếm được” Cleveland, Standard tiếp tục bành trướng sang Vùng Dầu Pennsylvania Nhiều nhà lọc dầu đối thủ hoàn toàn không hay biết chuyện gì đang xảy ra Standard giành quyền kiểm soát Imperial Refinery gần Oil City và đặt J.J Vandergrift dưới quyền điều hành của mình Hai hãng dầu lớn ở Titusville cũng gia nhập Standard Năm 1875, Standard Oil tiếp tục mua thêm các công ty đường ống và năm 1877 sáp nhập tất cả vào United Pipe Lines Các công ty dầu ở Philadelphia, New York, New Jersey, New England, Pennsylvania cũng như West Virginia cũng lần lượt trở thành công ty con của Standard Oil Tới năm 1879, Standard Oil đã kiểm soát khoảng 90% ngành lọc dầu Hoa Kỳ, trong đó 70% được xuất khẩu ra nước ngoài
Năm 1882, năm 43 tuổi, tất cả các công ty dầu mỏ mà Rockefeller nắm giữ được ông hợp nhất thành một tổ hợp công nghiệp dầu mỏ khổng lồ nhất trong lịch sử Đó là Tập đoàn Standard Oil Trust với số vốn điều lệ 70 triệu USD Rockefeller trở thành người giàu nhất nước Mỹ Ở tiểu bang nào cũng có mặt
"Standard Oil Trust" - tập đoàn dầu mỏ gần như duy nhất! Người ta nói mỗi
sáng thức dậy, tài sản của Rockefeller lại phình to hơn Ông tạo ra một hình thái doanh nghiệp mới mà sức mạnh và ảnh hưởng của nó lên nền kinh tế Mỹ còn ghê gớm hơn cả ngân hàng lớn nhất nước Mỹ
Standard Oil Trust đánh dấu sự khởi đầu một kỷ nguyên độc quyền công nghiệp thời hiện đại, khi họ không chỉ nắm các nhà máy lọc dầu mà còn cai