1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN mầm non: MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

20 785 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 624 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục dinh dưỡng giúp trẻ nhận thức bốn nhóm thực phẩm cơ bản, nguồn gốc thực phẩm, có khả năng phân loại thực phẩm theo nhóm và theo đặc điểm giống, khác nhau. Trẻ nhận biết được các chất dinh dưỡng cơ bản và tác dụng của các chất đối với sự phát triển của cơ thể, biết thành phần những món ăn quen thuộc, làm quen với cách chế biến các món ăn đơn giản.

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Cuốn những điều cần biết về trẻ thơ đã viết “Trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của mỗi dân tộc, trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của nhà nước, của toàn

xã hội và mỗi gia đình”

Để xây dựng đất nước phồn vinh đòi hỏi phải có nguồn nhân lực khoẻ mạnh

và được đào tạo tốt Chất lượng của nguồn nhân lực này chịu ảnh hưởng đáng kể bởi quá trình hình thành và phát triển ngay từ lứa tuổi mầm non Xác định được điều đó, trong những năm gần đây Đảng và nhà nước ta đã quan tâm, chăm lo đến việc giáo dục trẻ đặc biệt là giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ mầm non

Bởi dinh dưỡng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của trẻ ở lứa tuổi mầm non Trẻ ở độ tuổi này phát triển nhanh cả về thể lực và trí tuệ Nếu được chăm sóc, được nuôi dưỡng đầy đủ sẽ phát triển tốt, ít ốm đau bệnh tật, khoẻ mạnh Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mầm non góp phần phát triển toàn diện cho trẻ về các mặt:

- Thể lực sức khoẻ:

Giáo dục dinh dưỡng giúp trẻ biết ăn uống hợp lý, đúng cách để có lợi cho sức khoẻ, biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường để phòng tránh bệnh tật đặc biệt là trẻ có một số kỹ năng tự phục vụ trong ăn uống, để có sức khỏe tốt

- Về nhận thức:

Giáo dục dinh dưỡng giúp trẻ nhận thức bốn nhóm thực phẩm cơ bản, nguồn gốc thực phẩm, có khả năng phân loại thực phẩm theo nhóm và theo đặc điểm giống, khác nhau Trẻ nhận biết được các chất dinh dưỡng cơ bản và tác dụng của các chất đối với sự phát triển của cơ thể, biết thành phần những món ăn quen thuộc, làm quen với cách chế biến các món ăn đơn giản

- Về ngôn ngữ:

Giáo dục dinh dưỡng giúp trẻ gọi tên các loại thực phẩm các món ăn thông thường, biết kể tên các món ăn mình thích, có khả năng kể truyện theo tranh, làm sách tranh, đọc thơ Về thực phẩm và dinh dưỡng Từ đó phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ

- Về tình cảm – Xã hội:

Trang 2

Giáo dục dinh dưỡng giúp trẻ hình thành thói quen tốt, chia sẻ, giúp đỡ bạn bè, biết yêu quý và tôn trọng người lao động, có ý thức tiết kiệm trong ăn uống, yêu quý các con vật nuôi cây trồng, có ý thức bảo vệ chăm sóc môi trường sống

Như vậy giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường mầm non

là việc làm cần thiết, đối với trẻ mẫu giáo nói chung, trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi nói riêng Trẻ lứa tuổi này rất dễ nhạy cảm và mau chóng tiếp thu những điều học được

ở trường, hình thành dấu ấn lâu dài, giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo sẽ góp phần quan trọng tạo ra lớp người mới có sự hiểu biết đầy đủ về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, biết lựa chọn ăn, uống hợp lý, đúng cách, đảm bảo sức khoẻ tốt Xây dựng những con người mới xã hội chủ nghĩa đảm bảo vừa đủ đức, đủ

tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên” Để “Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”, những

chủ nhân tương lai của đất nước xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và làm xã hội ngày càng phát triển

Với tầm quan trọng của việc giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn cho trẻ mầm non, bản thân tôi luôn suy nghĩ, tìm tòi những biện pháp, thủ thuật trong quá trình giáo dục trẻ, lôi cuốn trẻ tham gia vào các hoạt động dinh dưỡng, sức khoẻ và

vệ sinh an toàn thực phẩm một cách tích cực, đạt hiệu quả cao nhất Vì vậy năm

học này tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ 5 – 6 tuổi”.

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

Dinh dưỡng là nhu cầu sống của mỗi con người Trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển về thể lực và trí lực, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự sống và để làm việc Tất cả chúng ta đều thấy rõ tầm quan trọng của việc ăn uống Đây là nhu cầu hàng ngày, một nhu cầu cấp bách, bức thiết không thể không có, chứ không chỉ

là để giải quyết chống lại cảm giác đói Ăn uống để cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động, ngoài ra thức ăn còn cung cấp các axit- amin, vitamin, khoáng chất

là những chất cần thiết cho sự phát triển cơ thể; duy trì các tế bào Nếu thiếu hoặc thừa các chất dinh dưỡng nói trên đều có thể gây bệnh hoặc ảnh hưởng bất lợi cho sức khoẻ

Chúng ta biết rằng tình trạng dinh dưỡng tốt của mọi người phụ thuộc vào khẩu phần dinh dưỡng thích hợp, việc được chăm sóc sức khoẻ đầy đủ, có môi trường sống hợp vệ sinh Ngoài ra, tình trạng dinh dưỡng còn phụ thuộc vào các

Trang 3

kiến thức về ăn uống khoa học của mỗi người, các thói quen và tập quán ăn uống của địa phương Muốn khoẻ mạnh cần ăn uống hợp lý và chăm sóc sức khoẻ đầy

đủ Ở trẻ em đang tuổi cơ thể phát triển mạnh, nhu cầu về dinh dưỡng rất lớn Nếu thiếu ăn, trẻ em sẽ là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả về các bệnh dinh dưỡng như: Suy dinh dưỡng, các bệnh do thiếu vi chất dinh dưỡng Ở nước ta hiện nay vấn đề thiếu dinh dưỡng vẫn còn là vấn đề nghiêm trọng ở các vùng nghèo Bên cạnh đó căn bệnh béo phì ở trẻ em có xu hướng gia tăng ở một số thành phố lớn

Các nhà khoa học nghiên cứu và cho biết trẻ em ở lứa tuổi mầm non nhu cầu về dinh dưỡng và nhu cầu về hoạt động là rất cao Hơn thế nữa, theo cuốn dinh dưỡng

trẻ em của Nhà xuất bản giáo dục viết: “cơ thể trẻ là cơ thể đang phát triển tính theo cân nặng ở trẻ nhỏ cần từ 100-120kcal cân nặng/ ngày, nhưng ở người lớn chỉ cần 100kcal cân nặng/ ngày” Theo Thông tư 17/2009/TT - BGD&Đ T ngày

25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định: “đối với trẻ mẫu giáo nhu cầu về năng lượng của một trẻ trong một ngày là: 1470 Kcalo Nhu cầu khuyến nghị về năng lượng tại trường của một trẻ trong một ngày (chiếm 50 - 60% nhu cầu cả ngày): 735 - 882 Kcalo Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục mầm non tối thiểu một bữa chính và một bữa phụ” Vì thế huyện Nga Sơn quy

định đối với các trường đạt chuẩn Quốc gia về năng lượng tại trường của một trẻ trong một ngày (chiếm 70% nhu cầu cả ngày), đạt 1029 Kcalo Điều đó cho thấy nhu cầu dinh dưỡng ở trẻ ngày càng tăng, tình trạng trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi chiếm tỷ lệ còn cao, bên cạnh đó tình trạng trẻ béo phì hiện nay cũng khá phổ biến Theo kết quả điều tra gần đây, trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng chiếm tỷ lệ 30% Nguyên nhân chính của vấn đề này là do thiếu ăn thiếu kiến thức về dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm, thiếu các dịch vụ về y tế, vệ sinh môi trường kém Vì vậy là giáo viên thì việc phòng chống suy dinh dưỡng, béo phì, giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng và phải được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục Với những băn khoăn trăn trở và qua các dẫn chứng

cụ thể nêu trên luôn thôi thúc tôi phải nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và

vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ 5 – 6 tuổi

II THỰC TRẠNG CỦA VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Những thuận lợi

Năm học 2011 – 2012 tôi được phân công đứng lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi thực hiện theo chương trình mầm non mới trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ tôi đã phát hiện ra những điểm nổi bật sau:

Trang 4

* Đối với trẻ: Đa số các cháu đều nhận biết và gọi tên các loại thực phẩm sẵn có ở

địa phương Các cháu có một số kỹ năng tự phục vụ trong ăn uống và vệ sinh cá nhân

* Đối với bản thân: Tôi có vốn kiến thức cơ bản về vấn đề về dinh dưỡng và vệ

sinh an toàn thực phẩm để thực hiện tốt việc chăm sóc và giáo dục trẻ

* Đối với nhà trường: Là trường chuẩn Quốc gia, tổ chức nuôi bán trú 100% tại

trường nên có đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ và thực hiện chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm đạt hiệu quả

Trường có khuôn viên thoáng mát, sạch sẽ có hệ thống cống rãnh hợp vệ sinh,

có nguồn nước sạch phục cho quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ

Lớp tôi có đủ đồ dùng đồ chơi phục vụ quá trình chăm sóc , nuôi dưỡng và giáo dục trẻ

* Đối với phụ huynh: luôn sát cánh cùng nhà trường cho nên công tác phối kết hợp

giữa gia đình trẻ, giữa nhà trường và cô giáo đạt hiệu quả cao

2 Những khó khăn:

* Đối với trẻ: Trẻ lớp tôi đa số là con em nông thôn nên sự hiểu biết về dinh dưỡng

và vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế Những món ăn trẻ được tiếp xúc còn ít, nhiều trẻ còn chưa biết mình thích ăn món gì nhất

Trẻ đã có khả năng phân loại thực phẩm theo nhóm, đã nhận biết được thành phần những món ăn, đã nhận biết được loại thực phẩm đang chế biến có chứa chất

gì, đã biết cách chế biến những món ăn đơn giản nhưng kết quả chưa cao

Sự hiểu biết về ăn uống đúng cách để có lợi cho sức khoẻ và phòng tránh bệnh tật còn nhiều hạn chế

* Đối với bản thân: Là một giáo viên trẻ mới vào nghề nên bề dày kinh nghiệm

chưa có nhiều Khả năng gây hứng thú cho trẻ vào các hoạt động, nhất là hoạt động

giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế.

* Đối với nhà trường: Trường còn thiếu một số trang thiết bị hiện đại phục vụ cho

công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ

Giá cả thị trường không ổn định, tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm tăng Do

đó nguồn thực phẩm tươi ngon phục vụ cho trẻ trở nên khan hiếm và đắt đỏ hơn, gây nhiều khó khăn cho công tác nuôi dưỡng trẻ

* Đối với phụ huynh: Một số bậc phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến sức khoẻ

của trẻ để trẻ ăn, ngủ, vệ sinh tuỳ thích, mất vệ sinh Từ đó dẫn đến tình trạng trẻ

Trang 5

suy dinh dưỡng vẫn còn và trẻ bị mắc một số bệnh tật như: ngoài da, đau mắt, tiêu chảy, hô hấp

3 Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên

* Kết quả cân đo, chấm biểu đồ:

Cụ thể đầu năm tôi đã cân đo chấm biểu đồ với số trẻ là 27 trẻ

- Cân nặng

Số trẻ ở kênh BT: 21 trẻ = 77,8 %;

Số trẻ ở kênh SDD-2: 6 trẻ = 22,2 %

- Chiều cao

Số trẻ ở kênh BT: 26 trẻ = 96,3 %;

Số trẻ ở kênh thấp còi: 1 trẻ = 3,7 %

* Xuất phát từ thực tế đó tôi đã tiến hành khảo sát tổng số trẻ 27 trong đó 10 trẻ gái

và 17 trẻ trai Qua bảng khảo sát chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm như sau:

T

T

Nội dung khảo sát Tổng

số

Kết quả đạt trên trẻ

đạt

B

trẻ

%

1 Trẻ biết gọi tên các loại

2

Phân loại nhận biết phân

biệt được 4 nhóm thực

3

Trẻ biết ăn nhiều loại thực

4

Trẻ biết sử dụng dụng cụ ăn

uống đơn giản, có thói quen

vệ sinh

27 7 26 8 29.6 7 26 5 18.4

5

Có thói quen vệ sinh văn

minh trong ăn uống, có thói

quen vệ sinh cá nhân

27 5 18.4 7 26 7 26 8 29,6

6 Biết hoạt động chế biến các

món ăn đơn giản 27 3 11.1 6 22.2 8 29.6 10 37.1 Qua bảng khảo sát cho thấy kết quả chung trên trẻ còn thấp:

Trang 6

- Tốt, khá: đạt chưa cao; Tỷ lệ trung bình, Yếu: còn nhiều

Từ thực trạng trên để nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ tôi đã nghiên cứu tìm tòi sáng tạo và áp dụng các hình thức giáo dục phù hợp giúp trẻ tiếp thu một cách nhẹ nhàng, thoải mái Từ đó giúp trẻ phát triển một cách toàn diện hơn

III GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1 Tạo môi trường giáo dục phong phú phù hợp với chủ đề, giúp trẻ biết thêm về các loại thực phẩm, cả những thực phẩm mà địa phương không có.

Ngay từ đầu năm học tôi đã vận động phụ huynh cùng tham gia làm đồ dùng,

đồ chơi trang trí lớp, nhằm giúp trẻ tích cực khám phá tìm tòi phục vụ trong quá trình học tập của trẻ

Trong lớp tôi đã trang trí làm nổi bật góc “Bé khám phá khoa học” với nhiều

nội dung phong phú gắn liền với từng chủ đề thực hiện

Ví dụ: Ở chủ đề “Thế giới thực vật” tôi cho trẻ quan sát sự nảy mầm của hạt Để

sau khi trẻ được ăn những loại quả, biết được tên gọi, đặc điểm cấu tạo, chất dinh dưỡng mà quả cung cấp Đồng thời giáo dục trẻ biết gieo hạt, hạt nảy mầm thành cây và cây được lớn lên như thế nào?

Ở chủ đề “Những con vật đáng yêu” tôi dùng lá xoài khô, bẹ ngô, đĩa CD, làm

những con cá sống ngoài biển, như cá thu, cá chim, làm những con vật, ở địa phương không có để cho trẻ được làm quen

2 Tổ chức cho trẻ được thăm quan, quan sát thực tế để trẻ tiếp thu tri thức mới và có dịp củng cố kiến thức đã học

Đặc điểm của trẻ là dễ nhớ mau quên Vì vậy việc cho trẻ quan sát thực tế là rất cần thiết giúp trẻ ghi nhớ có chủ định Trong giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ thăm quan vườn rau sạch của bé và sắp xếp cho trẻ đi thăm quan mô hình vườn, ao, chuồng của gia đình ông Lành gần trường để trẻ được quan sát trực tiếp các loại rau, quả Khi được thăm quan tâm trạng của trẻ thích thú, phấn khởi Trong quá trình thăm quan trẻ được trải nghiệm, được nói, được trao đổi trò chuyện theo sự hiểu biết của cá nhân như: Khi cho trẻ quan sát luống cà chua, trẻ sôi nổi thảo luận với cô và bạn Cây cà chua có nhiều quả xếp thành từng chùm, quả chín đỏ, quả lại

có màu xanh, vỏ nhẵn, cà chua nấu với trứng làm canh, cá sốt cà chua….Nhờ đó

mà trẻ nhớ tên gọi đặc điểm của từng lạoi rau, củ

Trẻ mầm non thường thích bắt chước các thao tác, cách làm của người lớn để thu lượm kiến thức và cùng trải nghiệm thoả mãn nhu cầu tò mò, ham hiểu biết Vì thế tôi đã tổ chức cho trẻ thăm quan công việc của cô bác cấp dưỡng để trẻ quan sát các

Trang 7

thao tác chế biến món ăn đơn giản như: cách làm rau muống luộc, làm rau mồng tơi

để nấu canh, làm bí để hầm xương; cách rửa sạch rau, quả để nấu ăn; cách cầm dao

để thái, cắt; cách vo gạo và nấu cơm …? Trong quá trình quan sát trẻ luôn thắc mắc

về cách chế biến từng món ăn đó như thế nào? Tôi và các cô bác cấp dưỡng lần lượt giải đáp những thắc mắc đó của trẻ bằng cách vừa làm, vừa hướng dẫn trẻ: Để nấu canh rau mồng tơi, trước hết phải làm rau sạch, ngắt bỏ lá già, lá bị sâu; sau đó rửa sạch rau, bỏ vào rổ để ráo nước; lấy thớt, dao để thái rau Tay phải cầm dao, tay trái cầm rau… Làm xong các cô bác vệ sinh cá nhân như: rửa tay sạch sẽ đúng quy trình và lau khô tay Ngoài ra các bác còn vệ sinh chung khu vực nhà bếp như: quét dọn sạch sẽ nơi chế biến, rửa dao thớt, giặt khăn lau…Qua việc thăm quan hàng ngày, trẻ được quan sát và rất thích thú với những công việc mà cô bác cấp dường thường làm, hiểu được nỗi vất vả của cô bác khi nấu ăn cho trẻ, để trẻ thi đua nhau

ăn hết xuất Đồng thời, đây còn là điều kiện, phương tiện hữu hiệu nhất để trẻ được củng cố và càng khắc sâu nhiều kiến thức về dinh dưỡng

3 Tạo điều kiện để trẻ được trải nghiệm thực tế giúp trẻ có cơ hội thực hành rèn luyện kỹ năng chế biến món ăn, kỹ năng vệ sinh cá nhân và vệ sinh chung Thường xuyên tổ chức cho trẻ “Tập làm nội trợ”.

3.1 Tạo điều kiện để trẻ được trải nghiệm thực tế giúp trẻ có cơ hội thực hành rèn luyện kỹ năng chế biến món ăn, kỹ năng vệ sinh cá nhân và vệ sinh chung.

Để trẻ thực hành trên sản phẩm thực tế được tốt trước hết phải hướng dẫn trẻ

cụ thể, cách đong đếm, cách sử dụng một số đồ dùng, dụng cụ nấu ăn và pha chế thức uống như dao, thìa, cốc, chén…Sau đó, hướng dẫn trẻ thực hành từng bước trên sản phẩm Dạy trẻ biết sử dụng đồ dùng phục vụ việc ăn uống, tạo ra một số món ăn, nước uống đơn giản như: pha nước chanh, pha nước cam… Tôi đã hướng dẫn trẻ thực theo quy trình pha nước cam sau: rót 2/3 cốc nước sôi để nguội -> thêm 2 thìa đường -> cắt đôi quả cam -> vắt nước cam -> rót nước cam vừa vắt -> khuấy đều -> uống Làm như vậy trẻ được thực hành chế biến trực tiếp nước uống đơn giản, gần gũi, được sử dụng một số đồ dùng ăn uống quen thuộc như: ca, cốc, thìa, dao, thớt Sau đó tôi chia trẻ thành các tổ và thi đua thực hành trải nghiệm xem tổ nào có thao tác nhanh và đúng quy trình nhất Pha xong các ly nước cam trẻ được uống sản phẩm mình tự làm, trẻ rất hứng thú và mong muốn được thực hành trải nghiệm thường xuyên hơn

Trang 8

Hình ảnh minh hoạ trẻ thực hành quy trình vắt nước cam

Từ đó giúp hình thành ở trẻ thói quen ăn uống tốt, thích thú với các món ăn do mình tạo ra và giúp trẻ có thói quen vệ sinh, hành vi văn minh, lao động tự phục vụ

ở trẻ, hình thành kĩ năng sống cơ bản cho trẻ

3.2 Thường xuyên tổ chức cho trẻ “Tập làm nội trợ”.

- Mục đích thường xuyên tổ chức cho trẻ “Tập làm nội trợ” là giúp trẻ có nhiều

cơ hội được trải nghiệm để:

+ Trẻ biết tên gọi các loại thực phẩm:

Ví dụ: Với các loại rau (rau cải, rau muống ) tôi hướng dẫn trẻ thực hành các thao tác chế biến đơn giản để chế biến thành rau xào, luộc Trong quá trình hướng dẫn trẻ tôi hỏi trẻ tên các loại rau, trẻ đang chế biến món ăn từ rau gì? nhằm cung cấp về tên gọi một cách chính xác để trẻ ghi nhớ

Với các loại quả:( quả na, quả táo ) tôi hướng dẫn trẻ thực hành thao tác rửa quả, bóc vỏ, gọt vỏ trong quá trình trẻ thực hành trải nghiệm, tôi hỏi trẻ về tên gọi các loại quả, trẻ đang ăn quả gì? làm như vậy trẻ sẽ được cung cấp, ghi nhớ về tên gọi của các loại quả trên

+ Trẻ biết phân loại và phân biệt 4 nhóm thực phẩm thông thường.

Ví dụ: nhóm chất đạm (cua, tôm ), nhóm chất bột đường (cơm, gạo, khoai, ngô ), nhóm chất vitamin và muối khoáng( các loại rau, củ quả), nhóm chất béo (dầu mỡ, lạc, vừng ) Tôi sử dụng các tranh lô tô đủ 4 nhóm chất; các loại rau, củ quả, tôm, cá, cua, trứng, thịt gà được làm bằng nhựa; các loại quả, con vật, cây rau được làm bằng các đồ phế liệu, phế thải (đồ chơi tự tạo), sau đó chia nhóm cho

Trang 9

trẻ tự thảo luận, phân loại, trải nghiệm và phân biệt đúng 4 nhóm thực phẩm thông thường Qua đó nâng cao kỹ năng phân loại, phân biệt cho trẻ và giúp trẻ ghi nhớ nhanh từng nhóm thực phẩm

+ Trẻ biết ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau:

Để giúp trẻ biết ăn đầy đủ các loại thực phẩm khác nhau có trong 4 nhóm chất Tôi phải sử dụng rất nhiều thời gian để quan sát, theo giõi từng trẻ biết trẻ thích ăn

gì, không thích ăn thực phẩm gì, để có biện pháp động viên khích lệ trẻ và cho trẻ tập ăn những món ăn mà trẻ không thích trong các giờ ăn hàng ngày tại lớp Tôi phát hiện có một số cháu không ăn các loại rau thơm ( hành, mùi) Tôi còn cho trẻ thi đua nhau cùng ăn hết xuất Do đó trong suốt quá trình thử nghiệm và trẻ thực hiện thi đua đã kích thích trẻ ăn hết xuất và trẻ có hứng thú khi được ăn đầy đủ nhiều loại thực phẩm khác nhau

+ Biết sử dụng dụng cụ ăn uống đơn giản, có thói quen vệ sinh.

Ví dụ: Trước giờ ăn hàng ngày tôi cho trẻ chơi trò chơi “ Tay phải, tay trái” tay phải cầm thìa, tay trái giữ bát Ngoài ra tôi còn cho trẻ thực hành sử dụng các dụng

cụ ăn uống đơn giản qua trò chơi nấu ăn hàng ngày Làm như vậy trẻ sẽ hứng thú thực hành và đến giờ ăn 100% trẻ sử dụng đúng

+ Có thói quen vệ sinh văn minh trong ăn uống, có thói quen vệ sinh cá nhân.

Ví dụ: Tôi cho trẻ chơi trò chơi đôi bàn tay đẹp, miệng ai xinh hơn, ai sạch sẽ hơn,

Để trẻ biết gĩư gìn vệ sinh trong ăn uống và có thói quen vệ sinh cá nhân như: rửa tay sạch trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, không nói chuyện, cười đùa trong giờ

ăn, không làm cơm rơi vãi

+ Trẻ biết hoạt động chế biến các món ăn đơn giản.

Tôi đã tổ chức cho trẻ được thực hành chế biến một số món ăn đơn giản như: Cho trẻ làm quen với quy trình làm muối lạc, pha sữa, trứng rán, làm bánh mỳ kẹp bơ Thông qua tổ chức hội thi “Bé tập làm nội trợ” lồng ghép với hội thi “Bé khoẻ bé ngoan”, tại lớp Nhờ đó tôi thu được kết quả rất khả quan, có gần 90 % trẻ thực hiện đúng các quy trình và hoạt động chế biến các món ăn đơn giản như trên

Qua hoạt động “Tập làm nội trợ” trẻ được thực hành, trải nghiệm và học tập

một cách tích cực các bài học về dinh dưỡng như cách ăn, cách chọn thức ăn giàu dinh dưỡng

- Động viên khuyến khích, huy động sự tham gia của các bậc cha mẹ trong việc tổ

chức cho trẻ thực hiện các nội dung “Tập làm nội trợ” Qua đó trẻ gọi tên, phân

biệt được các loại quả, các món ăn cách trang trí sắp sếp và vệ sinh sau khi tiến

hành hoạt động “Tập làm nội trợ” như: Đóng góp các thực phẩm để trẻ thực hành

Trang 10

(đóng góp rau, củ, quả, tiền….) thu thập các tài liệu, tranh ảnh có liên quan; tham

gia “Triển lãm” tranh “ Bé tập làm nội trợ”; tham gia tổ chức hội thi “bé tập làm nội trợ” liên hoan sinh nhật, lễ, tết với trẻ; phụ huynh trò chuyện hướng dẫn trẻ thực hành “Tập làm nội trợ” qua các trò chơi: Tập làm bánh trôi, bánh chay

Hình ảnh minh hoạ phụ huynh tham gia hướng dẫn trẻ quy trình làm bánh trôi,

bánh chay tại lớp để chuẩn bị tổ chức hội thi “ Bé khoẻ, bé ngoan”

4 Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ thông qua các hoạt động.

4.1 Hoạt động đón - trả trẻ:

- Tôi trò chuyện với trẻ về các loại thực phẩm mà trẻ biết tác dụng của thực phẩm

đó đối với sức khoẻ con người phù hợp với chủ đề, giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh chung

Ví dụ: Ở chủ đề “thế giới thực vật” tôi trò chuyện với trẻ về các loại rau, quả như

tên gọi, đặc điểm, là thực phẩm chứa nhiều chất vitamin, chất khoáng, ăn các loại rau quả giúp cho cơ thể tăng sức đề kháng, phòng chống bệnh tật Trước khi ăn phải làm sạch, gọt rửa các loại thực phẩm, rửa tay, rửa các dụng cụ chế biến

- Tôi cho trẻ làm quen với đồ dùng, đồ chơi mới, từ đó giới thiệu thêm một số thực phẩm mới cho trẻ biết về tên gọi các chất có trong các loại thực phẩm đó giúp trẻ

có thêm kiến thức về các loại thực phẩm mà địa phương không có

Ví dụ: chủ đề “thế giới động vật” tôi cho trẻ làm quen với đồ chơi mới do bản thân tôi tự làm về các loại cá nước lợ, nước mặn mà ở địa phương tôi không có Như cá chim, cá thu, cá hồi Sau đó tôi giới thiệu về tên gọi của từng loại cá và cho trẻ

Ngày đăng: 28/03/2017, 15:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh minh hoạ trẻ thực hành quy trình vắt nước cam - SKKN mầm non: MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG  GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN  THỰC PHẨM CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
nh ảnh minh hoạ trẻ thực hành quy trình vắt nước cam (Trang 8)
Hình ảnh minh hoạ phụ huynh tham gia hướng dẫn trẻ quy trình làm bánh trôi, - SKKN mầm non: MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG  GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN  THỰC PHẨM CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
nh ảnh minh hoạ phụ huynh tham gia hướng dẫn trẻ quy trình làm bánh trôi, (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w