ở Việt Nam đã có những cuộc hội thảo về mối quan hệ giữa văn hoá và kinhdoanh, về đạo đức kinh doanh, sau đó đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề nàydới dạng sách tham khảo, các
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng việc phát huy một cách đúng đắn
và có hiệu quả các giá trị văn hoá luôn là nguồn lực nội sinh đối với sự phát triểncủa xã hội Xã hội lớn có nền văn hoá lớn (văn hoá xã hội), xã hội nhỏ cũng có
nền văn hoá riêng biệt của nó Kinh doanh là một “xã hội nhỏ”, nó chịu ảnh
h-ởng của văn hoá xã hội và đồng thời là một bộ phận cấu thành nên văn hoá xãhội
Thực tiễn sản xuất kinh doanh ngày càng chứng minh văn hoá là mộtnguồn lực nội sinh của sự phát triển kinh tế, kinh doanh Việc đa các nhân tố vănhoá vào hoạt động kinh doanh và kinh doanh có văn hoá là một nhân tố quantrọng đảm bảo sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp Mặt khác, sự pháttriển của hoạt động kinh doanh ngày càng khẳng định rằng việc kinh doanhkhông chỉ đơn thuần vì lợi nhuận mà còn nhằm nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần cho con ngời, tức là hớng tới yếu tố văn hoá Đây chính là những cơ sở
thực tiễn để hình thành nên một lĩnh vực nghiên cứu mới: văn hoá kinh doanh.
Sau hơn một thập kỷ đổi mới, kinh tế Hà Nội đã đạt đợc những thành tựuquan trọng Bớc sang thiên niên kỷ mới, trong bối cảnh có nhiều cơ hội đan xenvới những thách thức lớn, một vấn đề có ý nghĩa quan trọng và cấp bách là HàNội cần phát huy thế mạnh, khai thác tiềm năng, vị thế của Thủ đô Các doanhnghiệp trên địa bàn Hà Nội là một nguồn lực to lớn đóng góp vào sự phát triểncủa Thủ đô Chúng không thể đứng ngoài mà phải đi đầu cùng các doanh nghiệpkhác trong cả nớc xây dựng và phát huy vai trò của văn hoá kinh doanh để đảmbảo sự phát triển bền vững của mình và từ đó tăng cờng đóng góp vào sự pháttriển của Thủ đô
Trớc yêu cầu cấp bách của lý luận và thực tiễn kinh doanh hiện đại cũng
nh thực tế giảng dạy về kinh doanh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài Văn
hoá kinh doanh trong các doanh nghiệp ở Hà Nội
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề
Sự tác động của nhân tố văn hoá tới kinh tế đã đợc Max Weber, nhà xã hộihọc nổi tiếng ngời Đức đặt vấn đề vào cuối thế kỷ XIX Đầu thế kỷ XX, vấn đềnày đợc tiếp tục phát triển bởi E.Mayo trong khi ông phân tích các vấn đè xã hộicủa văn minh công nghiệp và đến cuối thế kỷ XX, W.Ouchi, nhà nghiên cứu về
lý luận quản lý ngời Nhật đã khái quát vấn đề này thành “nền văn hoá kiểu Z”
Từ thực tiễn thành công của các doanh nghiệp lớn trên thế giới, đến cuối thế kỷ
XX, trong giáo trình giảng dạy về kinh doanh của Mỹ và các nớc phơng Tây đã
đề cập đến văn hoá nh là một nhân tố của hoạt động kinh doanh
Trang 2ở Việt Nam đã có những cuộc hội thảo về mối quan hệ giữa văn hoá và kinhdoanh, về đạo đức kinh doanh, sau đó đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề nàydới dạng sách tham khảo, các bài báo… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất cácbiện pháp nhằm khai thác các nhân tố văn hoá trong hoạt động kinh tế, kinh doanh.
Tuy nhiên, đa số các công trình mới chủ yếu đề cập đến mối quan hệ giữa văn hoá
và kinh doanh nói chung mà cha đi sâu nghiên cứu văn hoá kinh doanh nh là một dạngvăn hoá đặc thù với các biểu hiện cụ thể và vai trò cụ thể của nó trong hoạt động kinhdoanh, đồng thời cha có công trình nào tổng kết thực tiễn xây dựng văn hoá kinh doanh ởmột địa phơng cụ thể và đề xuất giải pháp xây dựng và phát huy văn hoá kinh doanh cho
GS.TS Ngô Đình Giao (chủ biên): Môi trờng kinh doanh và đạo đức kinh doanh,
NXB Giáo dục, Hà Nội – 1997
Ban t tởng văn hoá trung ơng, Bộ văn hoá - Thông tin, Viện Quản trị kinh doanh:
Văn hoá và kinh doanh, NXB Lao động, Hà nội – 2001
Bùi Tiến Quý (chủ biên): Giao tiếp ứng xử trong hoạt động kinh doanh, NXB KH
và Kỹ thuật, Hà nội – 2000
Trần Ngọc Thêm: Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục – 1997
Joe Wallach & Gale Metcalff: Làm việc với ngời Mỹ, NXB Thống Kê, Hà nội –
2002
Ronan Gibson biên tập: T duy lại tơng lai, NXB trẻ, Thời báo Kinh tế Sài gòn,
Trung tâm kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng – 2002
Nguyễn Hoàng ánh (chủ nhiệm): Giải pháp để xây dựng văn hoá doanh nghiệp“
tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập khu vực và thế giới” Đề tài cấp Bộ, mã số
2002 – 40 - 17
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài:
Trên cơ sở khái quát các vấn đề lý luận và thực tiễn của văn hoá kinhdoanh, đề tài làm sáng tỏ thực trạng văn hoá kinh doanh trong các doanh nghiệp
ở Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp xây dựng và phát huy văn hoá kinhdoanh trong các doanh nghiệp ở Hà Nội
Đề thực hiện mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ những nội dung cơ bản về văn hoá kinh doanh nh đặc điểm, cấutrúc, các nhân tố tác động, vai trò v.v
+ Phân tích, đánh giá thực trạng văn hoá kinh doanh trong các doanhnghiệp ở Hà Nội, từ đó rút ra những điểm mạnh, điểm yếu, những vấn đề đặt racho việc xây dựng và phát triển văn hoá kinh doanh
Trang 3+ Tìm ra những giải pháp có tính khả thi nhằm xây dựng và phát huy vănhoá kinh doanh trong các doanh nghiệp ở Hà Nội hiện nay.
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là văn hoá kinh doanh Hà Nội
Đối tơng khảo sát là các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu: văn hoá kinh doanh đợc triển khai nghiên cứu ở HàNội là dới góc độ nghĩa rộng, tức là toàn bộ các nhân tố văn hoá trong hoạt độngkinh doanh ở Hà Nội
5 Phơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã áp dụng các phơng pháp sau:
- Phơng pháp luận của CNDVBC và CNDVLS
- Phơng pháp lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp
- Phơng pháp điều tra xã hội học, thông qua việc thiết kế mẫu điều tra(xem phụ lục) và phát phiếu, tập hợp để rút ra các kết luận làm cơ sở lập luậncho những giải pháp của mình
6 Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài đợc cấu trúc thành 3 chơng:
Chơng 1: Mấy vấn đề ly luận cơ bản về văn hoá kinh doanh
Chơng 2: Thực trạng văn hoá kinh doanh trong các doanh nghiệp ở Hà Nội
- Một số vấn đề đặt ra
Chơng 3: Phơng hớng và giải pháp xây dựng và phát triển văn hoá kinhdoanh trong các doanh nghiệp ở Hà Nội
6 Đề tài này đợc thực hiện bởi nhóm nghiên cứu
PGS.TS Dơng Thị Liễu - Chủ nhiệm đề tài
Ths Nguyễn Thị Ngọc Anh - Tham gia
Ths Nguyễn Vân Hà - Tham gia
Ths Hoàng Thuý Ngọc - Tham gia
NCS Nguyễn Kim Lai - Tham gia
CN Nguyễn Quỳnh Giang - Tham gia
CN Tống Hải Ninh - Tham gia
Trang 4Chơng 1
Mấy vấn đề lý luận cơ bản về văn hoá
1.1 Khái quát chung về văn hoá
1 1.1 Khái niệm văn hoá
Văn hoá ra đời gắn liền với sự ra đời của nhân loại Văn hoá là vấn đề rấtquan trọng trong bất kỳ một xã hội nào Bản thân vấn đề văn hoá rất phức tạp, đadạng, do vậy có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hoá Năm 1952, Koroeber
và Kluchohn đã thống kê đợc 164 định nghĩa về văn hoá, cho đến nay con số nàychắc chắn đã tăng lên rất nhiều Cũng nh bất cứ lĩnh vực nào khác, một vấn đề cóthể đợc nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau Vì vậy việc có quá nhiều kháiniệm văn hoá khác nhau không có gì đáng ngạc nhiên, trái lại càng làm chochúng ta hiểu biết vấn đề phong phú và toàn diện hơn Trong khuôn khổ đề tài,chúng tôi sẽ tiếp cận văn hoá theo logic sau:
Theo nghĩa gốc của từ, văn hoá - Culture“ ” (tiếng Anh và tiếng Pháp)
-đều xuất phát từ chữ latinh Cultus“ ” có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông
nom cây lơng thực, nói ngắn gọn là vun trồng Sau đó đợc mở rộng nghĩa, dùng
trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo hoá nhân cách con ngời (cá nhân,cộng đồng, xã hội loài ngời), cũng có nghĩa là làm cho con ngời và cuộc sống trởnên tốt đẹp
Theo nghĩa rộng nhất, văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật
chất và tinh thần do con ngời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử
Theo UNESCO, văn hoá là một phức thể, tổng thể các đặc trng, diện mạo
về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm khắc hoạ nên bản sắc của một cộng
đồng gia đình, xóm làng quốc gia, xã hội Văn hoá không chỉ bao gồm nghệthuật, văn chơng mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con ngời, những
hệ giá trị, những truyền thống, tín ngỡng
Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng nh vì mục đích cuộc sống, loài ngời
mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phơng tiện, phơng thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó
mà loài ngời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống, và đòi hỏi của sự sinh tồn.”1
Theo nghĩa hẹp, văn hoá là những hoạt động và giá trị tinh thần của
con ngời
Theo nghĩa hẹp hơn nữa, văn hoá đợc coi nh một ngành - ngành văn hoá
nghệ thuật để phân biệt với các ngành kinh tế - kỹ thuật khác Cách hiểu này ờng kèm theo cách đối xử sai lệch về văn hoá: Coi văn hoá là lĩnh vực hoạt động
th-đứng ngoài kinh tế, sống đợc là nhờ trợ cấp của nhà nớc và ăn theo“ ” nền kinhtế
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.3, tr.431
Trang 5Nh vậy, về hình thức, văn hoá có hai phạm trù chính là văn hoá vật chất vàvăn hoá tinh thần; về bản chất, văn hoá là toàn bộ hoạt động của con ngời, củacộng đồng ngời, bao hàm cả hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động tinh thần;
về xu hớng, văn hoá có tính kế thừa, giao lu và mở rộng Trong quá trình giaotiếp, những giá trị mới của văn hoá lại đợc nâng lên
Khái niệm văn hoá rất rộng, trong đó nhân tố hàng đầu là sự hiểu biết,kiến thức Chúng đợc sử dụng làm nền tảng định hớng cho lối sống, đạo lý, tâmhồn và hành động của mỗi dân tộc và các thành viên vơn tới cái chân, cái thiện,cái mỹ trong mối quan hệ giữa ngời và ngời, giữa con ngời với môi trờng xã hội
và tự nhiên Từ ý nghĩa đó, chúng ta thấy “văn hoá là cái tổng thể bao gồm kiến thức, lòng tin, nghệ thuật, pháp luật, tập quán và bất cứ khả năng và thói quen khác, đợc con ngời với t cách là thành viên của xã hội thâu nhận”2
“Văn hoá là tập hợp những giá trị, những ý niệm, niềm tin truyền thống đ
-ợc truyền lại và chia sẻ trong suốt quốc gia Văn hoá cũng là cách sống, những nếp suy nghĩ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Văn hoá có ý nghĩa khác nhau đối với các dân tộc khác nhau bởi vì khái niệm văn hoá bao gồm những chuẩn mực, giá trị, tập quán v.v ”3
Sự lựa chọn những nội dung trên về khái niệm văn hoá là cơ sở để chúngtôi nghiên cứu và phân tích văn hoá kinh doanh ở các vấn đề tiếp theo của đề tài
1 1.2 Những nét đặc trng của văn hoá
Văn hoá có một số đặc trng tiêu biểu sau:
Văn hoá mang tính quy ớc: Văn hoá quy định những hành vi đợc chấp
nhận hay không đợc chấp nhận trong một xã hội cụ thể Có những tập quán đẹp,tồn tại lâu đời nh một sự khẳng định những nét độc đáo của một nền văn hoá này
so với nền văn hoá kia, nh tập quán “mời trầu” của ngời Việt Nam, tập quán các
thiếu nữ Nga mời khách bánh mỳ và muối Song cũng có những tập quán không
dễ gì cảm thông ngay nh tập quán “cà răng căng tai” của một số dân tộc thiểu số
của Việt Nam
Văn hoá mang tính cộng đồng: Văn hoá không thể tồn tại do chính bản
thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại và củng cố của mọi thànhviên trong xã hội Văn hoá nh là một sự quy ớc chung cho các thành viên trongcộng đồng Đó là những lề thói, những tập tục mà một cộng đồng ngời cùng tuântheo một cách rất tự nhiên, không cần phải ép buộc Một ngời nào đó làm khác
đi sẽ bị cộng đồng lên án hoặc xa lánh tuy rằng xét về mặt pháp lý những việclàm của anh ta chẳng có gì là phi pháp cả
Văn hoá mang tính dân tộc: Văn hoá tạo nên nếp suy nghĩ và cảm nhận
chung của từng dân tộc mà ngời dân tộc khác không dễ gì hiểu đợc Vì thế màmột câu chuyện cời có thể làm cho ngời dân các nớc Phơng Tây cời chảy nớc
2 Xem Hawkins Best Coney: Consumer Bchavior, NXB IRWIN 1992, trang 34
3 Xem A.L Korocber và Clyde Kluchohn: “Cuture: a Critical review of Concepts and Definition NXB New York: Random House 1993, tr 17”
Trang 6mắt mà ngời dân châu á chẳng thấy có gì hài hớc ở đó cả Vì vậy, cùng mộtthông điệp mà ở nhiều nớc lại có thể mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau.
Văn hoá có tính chủ quan: Con ngời ở các nền văn hoá khác nhau có suy
nghĩ, đánh giá khác nhau về cùng một sự việc Cùng một sự việc có thể đợc hiểumột cách khác nhau ở các nền văn hoá khác nhau Một cử chỉ thọc tay vào túiquần và ngồi ghếch chân lên bàn để giảng bài của một thầy giáo có thể đợc coi
là rất bình thờng ở nớc Mỹ, trái lại là không thể chấp nhận đợc ở nhiều nớc khác
Văn hoá có tính khách quan: Văn hoá thể hiện quan điểm chủ quan của
từng dân tộc, nhng lại có cả một quá trình hình thành mang tính lịch sử, xã hội
đợc chia sẻ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không phụ thuộc vào ýmuốn chủ quan của mỗi ngời Văn hoá tồn tại khách quan ngay cả với các thànhviên trong cộng đồng Chúng ta chỉ có thể học hỏi các nền văn hoá, chấp nhận
nó, chứ không thể biến đổi chúng theo ý muốn chủ quan của mình Chẳng hạn,
quan niệm “trọng nam khinh nữ” đã ăn rất sâu trong lịch sử Việt Nam, không dễ
gì xoá bỏ đợc
Văn hoá có tính kế thừa: Văn hoá là sự tích tụ hàng trăm, hàng ngàn năm
của tất cả các hoàn cảnh Mỗi thế hệ đều cộng thêm đặc trng riêng biệt của mìnhvào nền văn hoá dân tộc trớc khi truyền lại cho thế hệ sau ở mỗi thế hệ, thờigian qua đi, những cái cũ có thể bị loại trừ và tạo nên một nền văn hoá quảng
đại Sự sàng lọc và tích tụ qua thời gian đã làm cho vốn văn hoá của một dân tộctrở nên giàu có, phong phú và tinh khiết hơn
Văn hoá có thể học hỏi đợc: Văn hoá không chỉ đợc truyền lại từ đời này
qua đời khác, mà nó còn phải do học mới có Đa số những kiến thức (một biểuhiện của văn hoá) mà một ngời có đợc là do học mà có hơn là bẩm sinh đã có
Do vậy, con ngời ngoài vốn văn hoá có đợc từ nơi mình sinh ra và lớn lên, có thểcòn học đợc từ những nơi khác, những nền văn hóa khác
Văn hoá luôn tiến hoá: Một nền văn hoá không bao giờ tĩnh tại và bất
biến Ngợc lại văn hoá luôn luôn thay đổi và rất năng động Nó luôn tự điềuchỉnh cho phù hợp với trình độ và tình hình mới Trong quá trình hội nhập vàgiao thoa với các nền văn hoá khác, nó có thể tiếp thu các giá trị tiến bộ, hoặctích cực của các nền văn hoá khác Ngợc lại, nó cũng tác động ảnh hởng tới cácnền văn hoá khác
Việc nắm bắt đợc những nét đặc trng của văn hoá cho chúng ta có mộttầm nhìn bao quát, rộng mở và một thái độ hết sức quan trọng và thận trọng vớinhững vấn đề văn hoá Mọi sự kết luận vội vàng hoặc một sự thiếu trách nhiệm
đều có thể làm thui chột khả năng sáng tạo văn hoá Nhận biết đầy đủ và sâu sắcnhững đặc trng này sẽ giúp chúng ta xác định đợc biểu hiện và vai trò của vănhoá trong đời sống xã hội nói chung và trong hoạt động kinh doanh nói riêng
1 1.3 Các yếu tố cấu thành văn hoá
Văn hoá là một đối tợng phức tạp và đa dạng Để hiểu bản chất của vănhoá, cần xem xét các yếu tố cấu thành văn hoá
Trang 7Có nhiều cách phân loại các yếu tố cấu thành văn hoá Trên cơ sở các cáchphân loại của các nhà khoa học khác nhau, trong khuôn khổ đề tài - tiếp cận vănhoá theo nghĩa rộng nhất - chúng tôi sử dụng cách phân văn hoá thành hai lĩnhvực cơ bản là văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần
Văn hoá vật chất là toàn bộ những giá trị sáng tạo của ngời đợc thể hiện
trong các của cải vật chất do con ngời tạo ra Đó là hàng hoá, công cụ lao động
t liệu tiêu dùng, cơ sở hạ tầng kinh tế nh giao thông, thông tin, nguồn năng lợng;cơ sở hạ tầng xã hội nh chăm sóc sức khoẻ, nhà ở, hệ thống giáo dục và cơ sở hạtầng tài chính nh ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tài chính trong xã hội Văn hoávật chất thể hiện qua đời sống vật chất của quốc gia đó Chính vì vậy nó cũng
ảnh hởng to lớn đến trình độ dân trí, lối sống của các thành viên trong nền kinh
tế đó
Khi xem xét văn hoá vật chất, chúng ta xem xét cách con ngời làm ranhững sản phẩm vật chất (thể hiện rõ ở tiến bộ kỹ thuật và công nghệ), ai làm rachúng và tại sao Tiến bộ kỹ thuật và công nghệ ảnh hởng đến mức sống và giúpgiải thích những giá trị và niềm tin của xã hội đó Nếu là một quốc gia tiến bộ về
kỹ thuật, con ngời ít tin vào số mệnh và họ tin tởng rằng có thể kiểm soát những
điều xảy ra đối với họ Những giá trị của họ cũng thiên về vật chất bởi vì họ cómức sống cao hơn Nh vậy, một nền văn hoá vật chất thờng đợc coi là kết quảcủa công nghệ và liên hệ trực tiếp với việc xã hội đó tổ chức hoạt động kinh tếcủa mình nh thế nào
Khi thực hiện kinh doanh ở những nớc có kỹ thuật phát triển, các doanhnghiệp phải cập nhật sản phẩm hoặc tốt hơn, hoặc nhiều tiện ích hơn ở nhữngquốc gia có kỹ thuật kém phát triển, những sản phẩm này sẽ vợt quá yêu cầu vìcơ sở hạ tầng không đủ để sử dụng chúng hoặc vì nơi nào đó cha có nhu cầu Ví
dụ nh một trong những sản phẩm chủ yếu trong những năm tới là máy vi tínhxách tay Tuy nhiên nhu cầu của sản phẩm này ở thế giới thứ ba còn giới hạn vì
họ không sử dụng hết đợc những lợi ích của sản phẩm này
Văn hoá tinh thần là toàn bộ những hoạt động tinh thần của xã hội bao
gồm kiến thức, các phong tục, tập quán; thói quen và cách ứng xử, ngôn ngữ (bao gồm cả ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời); các giá trị và thái độ; các hoạt động văn học nghệ thuật; tôn giáo; giáo dục; các phơng thức giao tiếp, cách thức tổ chức xã hội.
Kiến thức là nhân tố hàng đầu của văn hoá, thờng đợc đo một cách hình
thức bằng trình độ học vấn, trình độ tiếp thu và vận dụng các kiến thức khoa học
Hệ thống kiến thức đợc con ngời phát minh, nhận thức và đợc tích luỹ lại, bổsung nâng cao và không ngừng đổi mới qua các thế hệ
Các phong tục tập quán là những quy ớc thông thờng của cuộc sống hàng
ngày nh nên mặc nh thế nào, cách sử dụng các đồ dùng ăn uống trong bữa ăn,cách xử sự với những ngời xung quanh, cách sử dụng thời gian… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các Phong tục, tậpquán là những hành động ít mang tính đạo đức, sự vi phạm phong tục tập quán
Trang 8không phải là vấn đề nghiêm trọng, ngời vi phạm chỉ bị coi là không biết cách c
xử chứ ít khi bị coi là h hỏng hay xấu xa Vì thế, ngời nớc ngoài có thể đợc thathứ cho việc vi phạm phong tục tập quán lần đầu tiên Tập tục có ý nghĩa lớn hơnnhiều so với tập quán, nó là những quy tắc đợc coi là trọng tâm trong đời sống xãhội, việc làm trái tập tục có thể gây nên hậu quả nghiêm trọng Chẳng hạn nh tậptục bao gồm các yếu tố nh sự lên án các hành động trộm cắp, ngoại tình, loạnluân và giết ngời ở nhiều xã hội, một số tập tục đã đợc cụ thể hoá trong luậtpháp
Thói quen là những cách thực hành phổ biến hoặc đã hình thành từ trớc Cách c xử là những hành vi đợc xem là đúng đắn trong một xã hội riêng biệt.
Thói quen thể hiện cách sự vật đợc làm, cách c xử đợc dùng khi thực hiện chúng
Ví dụ thói quen ở Mỹ là ăn món chính trớc món tráng miệng Khi thực hiện thóiquen này, họ dùng dao và nĩa ăn hết thức ăn trên đĩa (dĩa) và không nói khi cóthức ăn trong miệng ở nhiều nớc trên thế giới, thói quen và cách c xử hoàn toànkhác nhau ở các nớc Latin có thể chấp nhận việc đến trễ, nhng ở Anh và Pháp,
sự đúng giờ là giá trị Ngời Mỹ thờng sử dụng phấn bột sau khi tắm nhng ngờiNhật cảm thấy nh thế là làm bẩn lại
Giá trị là những niềm tin và chuẩn mực chung cho một tập thể ngời đợc
các thành viên chấp nhận, còn thái độ là sự đánh giá, sự cảm nhận, sự phản ứngtrớc một sự vật dựa trên các giá trị Ví dụ thái độ của nhiều quan chức tuổi trungniên của Chính phủ Nhật Bản với ngời nớc ngoài không thiện chí lắm, họ chorằng dùng hàng nớc ngoài là không yêu nớc Thái độ có nguồn gốc từ những giátrị, ví dụ ngời Nga tin tởng rằng cách nấu ăn của Mc Donald là tốt nhất đối với
họ (giá trị) và do đó vui lòng đứng xếp hàng dài để ăn (thái độ)
Ngôn ngữ là một yếu tố hết sức quan trọng của văn hoá vì nó là phơng tiện
đợc sử dụng để truyền thông tin và ý tởng, giúp con ngời hình thành nên cáchnhận thức về thế giới và có tác dụng định hình đặc điểm văn hoá của con ngời ởnhững nớc có nhiều ngôn ngữ ngời ta cũng thấy có nhiều nền văn hoá Ví dụ, ởCanada có 2 nền văn hoá: nền văn hoá tiếng Anh và nền văn hoá tiếng Pháp Tuynhiên, không phải lúc nào sự khác biệt về ngôn ngữ cũng dẫn đến sự khác biệt vềxã hội Trong hoạt động kinh doanh, nhất là kinh doanh quốc tế, sự biết về ngônngữ địa phơng, sự hiểu biết về những thành ngữ và cách nói xã giao hàng ngày,
sự hiểu biết về dịch thuật là rất quan trọng Một công ty đã không thành công khiquảng cáo bột giặt của mình đã đặt hình ảnh quần áo bẩn ở bên trái hộp xàphòng và hình ảnh quần áo sạch sẽ ở bên phải vì ở nớc này ngời ta đọc từ phảiqua trái, và điều đó đợc hiểu là xà phòng làm bẩn quần áo!
Bản thân ngôn ngữ rất đa dạng, nó bao gồm ngôn ngữ có lời (verbal language) vàngôn ngữ không lời (non – verbal language) Thông điệp đợc chuyển giao bằngnội dung của từ ngữ, bằng cách diễn tả các thông tin đó (âm điệu, ngữ điệu… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các) vàbằng các phơng tiện không lời nh cử chỉ, t thế, ánh mắt, nét mặt… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các Ví dụ một cáigật đầu là dấu hiệu của sự đồng ý, một cái nhăn mặt là dấu hiệu của sự khó chịu
Trang 9Tuy nhiên, một số dấu hiệu của ngôn ngữ cử chỉ lại bị giới hạn về mặt văn hoá.Chẳng hạn trong khi phần lớn ngời Mỹ và Châu Âu khi giơ ngón cái lên hàm ý
“mọi thứ đều ổn” thì ở Hy Lạp, dấu hiệu đó là ngụ ý khiêu dâm
Thẩm mỹ liên quan đến thị hiếu nghệ thuật của văn hoá, các giá trị thẩm
mỹ đợc phản ánh qua các hoạt động nghệ thuật nh hội hoạ, điêu khắc, điện ảnh,văn chơng, âm nhạc, kiến trúc… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các
Tôn giáo ảnh hởng lớn đến cách sống, niềm tin, giá trị và thái độ, thói
quen làm việc và cách c xử của con ngời trong xã hội đối với nhau và với xã hộikhác Chẳng hạn, ở những nớc theo đạo Hồi, vai trò của ngời phụ nữ bị giới hạntrong gia đình, Giáo hội Thiên chúa giáo đến tận bây giờ vẫn tiếp tục cấm sửdụng các biện pháp tránh thai Thói quen làm việc chăm chỉ của ngời Mỹ là đợc
ảnh hởng từ lời khuyên của đạo tin lành Các nớc châu á chịu ảnh hởng mạnh
mẽ của đạo Khổng nên coi trọng đạo đức làm việc Thói quen ăn kiêng của một
số tôn giáo ảnh hởng từ thói quen làm việc Ngay cả những ngày lễ trọng yếucũng bị ràng buộc bởi tôn giáo, ví dụ nhiều ngời Mỹ trao đổi quà cho nhau vàongày 25 tháng 12 (lễ Giáng Sinh)
Giáo dục là yếu tố quan trọng để hiểu văn hoá Trình độ cao của giáo dục
thờng dẫn đến năng suất cao và tiến bộ kỹ thuật Giáo dục cũng giúp cung cấpnhững cơ sở hạ tầng cần thiết để phát triển khả năng quản trị
Sự kết hợp giáo dục chính quy (nhà trờng) và giáo dục không chính quy(gia đình và xã hội) giáo dục cho ngời những giá trị và chuẩn mực xã hội nh tôntrọng ngời khác, tuân thủ luật pháp, trung thực, gọn gàng, ngăn nắp, đúng giờ… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các,những nghĩa vụ cơ bản của công dân, những kỹ năng cần thiết Việc đánh giá kếtquả học tập theo điểm của giáo dục Chính quy cũng giáo dục cho học sinh thấygiá trị thành công của mỗi cá nhân và khuyến khích tinh thần cạnh tranh ở họcsinh Trình độ giáo dục, của một cộng đồng có thể đánh giá qua tỷ lệ ngời biết
đọc, biết viết, tỷ lệ ngời tốt nghiệp phổ thông, trung học hay đại học… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các Đâychính là yếu tố quyết định sự phát triển của văn hoá vì nó sẽ giúp các thành viêntrong một nền văn hoá kế thừa đợc những giá trị văn hoá cổ truyền và học hỏinhững giá trị mới từ các nền văn hoá khác Mô hình giáo dục ở các nớc là khácnhau Ví dụ, ở Nhật và Hàn Quốc nhấn mạnh đến kỹ thuật và khoa học ở trình
độ đại học Nhng ở Châu Âu, số lợng MBA lại gia tăng nhanh trong những nămgần đây Điều này có ý nghĩa lớn khi thiết lập các quan hệ trong giáo dục giữacác nớc
Cách thức tổ chức của một xã hội thể hiện qua cấu trúc xã hội của xã hội
đó ở đây nổi lên hai đặc điểm quan trọng giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa
các nền văn hoá
Thứ nhất là sự đối lập giữa chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa tập thể Các
xã hội phơng Tây có xu hớng nhấn mạnh u thế của cá nhân, trong khi nhiều xãhội khác lại coi trọng tập thể hơn Sự coi trọng u thế cá nhân, thành tựu cá nhân,một mặt khuyến khích tinh thần sáng tạo của mỗi cá nhân và làm xã hội trở nên
Trang 10năng động hơn; mặt khác, chủ nghĩa cá nhân cũng làm suy yếu mối liên hệ giữacác cá nhân, có thể gây ảnh hởng xấu đến ý thức trách nhiệm của từng cá nhânvới tập thể nói riêng và xã hội nói chung Xã hội Mỹ là ví dụ điển hình về vấn đềnày Sự coi trọng tập thể, hoà nhập với tập thể sẽ tạo ra sự tơng trợ lẫn nhau, tạo
ra động lực mạnh mẽ để các thành viên trong tập thể làm việc vì lợi ích chung,làm tăng cờng tinh thần hợp tác giữa các thành viên, nâng cao ý thức trách nhiệmcủa từng cá nhân với xã hội Tuy nhiên, những xã hội coi trọng tập thể có thể bịcoi là thiếu tính năng động và tinh thần kinh doanh cao Xã hội Nhật Bản là ví dụ
điển hình về vấn đề này Vì những lý do văn hoá, nớc Mỹ sẽ tiếp tục thành cônghơn Nhật và đi đầu trong việc tạo ra những sản phẩm và phơng thức kinh doanhmới
Thứ hai là sự phân cấp trong xã hội Có một số xã hội có khoảng cách
phân cấp cao và mức độ linh hoạt chuyển đổi giữa các giai cấp thấp (ví dụ nh ấn
Độ và trong chừng mực thấp hơn là Anh quốc) Trong khi đó, ở một số xã hộikhác, khoảng cách phân cấp ít hơn, nhng lại linh hoạt hơn trong việc chuyển đổigiai cấp (ví dụ nh Mỹ) Những cá nhân thuộc về phân cấp cao trong xã hội cónhiều cơ hội có một cuộc sống tốt hơn là những cá nhân thuộc về phân cấp thấp.Những ngời thuộc tầng lớp cao đợc giáo dục tốt hơn và cơ hội việc làm càng tốthơn Các cá nhân trong xã hội mà mức độ linh hoạt chuyển đổi giữa các giai cấpthấp thì khó có cơ hội vơn lên những tầng lớp cao hơn Thành kiến xã hội vànhững quy định nghiêm ngặt về cách c xử, thậm chí giọng nói ngăn cản họ làmviệc ấy Trong khi đó, những cá nhân trong xã hội mà mức độ linh hoạt chuyển
đổi giữa các giai cấp cao có cơ hội vơn lên những tầng lớp cao hơn Địa vị củamột cá nhân đợc xác định chủ yếu bằng thành công của bản thân chứ không phảibằng một cá nhân có thể dễ dàng di chuyển từ giai cấp lao động lên giai cấp th-ợng lu Thực tế là tại Mỹ ngời ta rất tôn trọng những ngời thành đạt có nguồngốc thấp kém, trong khi ở Anh những ngời nh thế chỉ đợc coi là “trởng giả họclàm sang” chứ không bao giờ đợc xã hội thợng lu thực sự chấp nhận cả
1.2 khái niệm văn hoá kinh doanh
1.2.1 Khái niệm văn hoá kinh doanh
Càng ngày ngời ta càng nhận ra rằng văn hoá tham gia vào mọi quá trìnhhoạt động của con ngời và đã đi sâu tìm hiểu những sắc thái văn hoá của cáchoạt động của con ngời nh văn hoá chính trị, văn hoá pháp luật, văn hoá giáodục, văn hoá gia đình Kinh doanh là một hoạt động đặc thù của con ngời, vậykinh doanh cũng là một phạm trù của văn hoá
Để đi đến một định nghĩa về văn hoá kinh doanh, chúng ta cần khảo sátcác định nghĩa văn hoá kinh doanh
Các nhà nghiên cứu trong Viện kinh doanh Nhật Bản – Hoa Kỳ (JABA)trong cuộc hội thảo mang tên “Mở khoá vào t duy kinh doanh ngời Nhật” tổ
chức vào tháng 4 năm 1997 đã đa ra định nghĩa: “Văn hoá kinh doanh có thể
Trang 11đ-ợc định nghĩa nh ảnh hởng của những mô hình văn hoá của một xã hội đến những thiết chế và thông lệ kinh doanh của xã hội đó”4
Theo Vern Terspstra và Kenneth David, hai giáo s trờng đại học
Michigan, Hoa Kỳ “Văn hoá kinh doanh bao gồm những nguyên tắc điều chỉnh việc kinh doanh, việc ấn định ranh giới giữa hành vi cạnh tranh và các ứng xử vô đạo đức, những quy tắc phải tuân theo trong các thoả thuận kinh doanh”5.Cũng theo hai nhà nghiên cứu này, văn hoá kinh doanh của từng quốc gia sẽ bịgiới hạn bởi văn hoá dân tộc, vì những ứng xử trong kinh doanh sẽ bắt nguồn từnhững quy tắc ứng xử trong đời sống và vì những xã hội khác nhau sẽ đa ranhững rào cản khác nhau với hoạt động kinh doanh Ví dụ: các giấy chứng nhậncủa các tổ chức quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn khi thâm nhập vào thịtrờng Mỹ, trong khi ở các nớc châu á thì việc gây quan hệ với những nhân vậtquan trọng của quốc gia sẽ mở cửa cho công ty thâm nhập vào thị trờng nội địa
Còn ở Việt Nam, đa số các tác giả sử dụng khái niệm “văn hoá trong kinh doanh”, “kinh doanh có văn hoá” mà ít đề cập đến khái niệm văn hoá kinh
doanh Tuy nhiên, một số tác giả đã có cố gắng tiếp cận với khái niệm này.Chẳng hạn, tác giả Hà Trọng Dũng đã quan niệm “Bản thân hoạt động kinhdoanh, dới mọi hình thức, cũng là một hoạt động văn hoá”6 Theo GS.TS Đỗ Huy
“Văn hoá kinh doanh là một bộ phận cấu thành nền văn hoá chung, phản ánhtrình độ của con ngời trong lĩnh vực kinh doanh”7
Hai cách tiếp cận trên đã bớc đầu nhìn nhận văn hoá kinh doanh nh mộtloại hình văn hoá đặc thù: văn hoá của hoạt động kinh doanh, nằm trong văn hoá
dân tộc Tuy nhiên còn chung chung, cha chỉ rõ nội hàm của khái niệm “văn hoá kinh doanh” Các nhà nghiên cứu khác đã đa ra quan niệm cụ thể hơn về văn hoá kinh doanh Chẳng hạn theo GS.TS Nguyễn Duy Quý: “Trong kinh doanh đã có một nền văn hoá kinh doanh thể hiện ở sự vận dụng khoa học và kỹ thuật, tổ chức và quản lý kinh doanh, ở những cách thức giao tiếp và ứng xử trong kinh doanh thơng mại”8 Hay theo GS Hoàng Trinh: “Văn hoá kinh doanh (hay kinh doanh có văn hoá) có nghĩa là hoạt động kinh tế có hiệu quả, đạt năng suất, sản lợng, giá trị cao, giá thành thấp, sản phẩm đạt chất lợng cao, tiêu thụ đợc sản phẩm trên thị trờng trong nớc và ngoài nớc, làm đầy đủ nghĩa vụ với nhà nớc”9
Còn theo GS Phạm Xuân Nam: “Văn hoá kinh doanh là phơng pháp kinh doanh bằng nắm bắt thông tin, ra sức cải tiến kỹ thuật, công nghệ, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, quan tâm thích đáng đến đời sống vật chất và tinh thần của ngời lao động, bồi dỡng và phát huy tiềm năng sáng tạo của họ trong việc tạo ra
4 Vern Terstra; Kemneth David (1991), Cutural environment of international, South – Western Publishing Co Cicinnati, Ohio, USA Trang 50
5 Vern Terstra; Kemneth David (1991), Cutural environment of international, South – Western Publishing Co Cicinnati, Ohio, USA Trang 12-13
6 Phạm Xuân Nam (chủ biên): Văn hoá và kinh doanh, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội – 1996, trang 133
7 Phạm Xuân Nam (chủ biên): Văn hoá và kinh doanh, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội – 1996, trang 197
8 Phạm Xuân Nam (chủ biên): Văn hoá và kinh doanh, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội – 1996, trang 16
9 Ban T tởng Văn hoá Trung ơng – Bộ Văn hoá Thông tin – Viện Quản trị Doanh nghiệp: Văn hoá và Kinh doanh, NXB Lao động – 2001, trang 99
Trang 12những hàng hoá và dịch vụ có chất lợng tốt, hình thức đẹp, giá cả hợp lý, đáp ứng đợc nhu cầu của thị trờng, giữ đợc chữ tín với ngời tiêu dùng trong nớc và n-
ớc ngoài”10
Ba nhà khoa học trên đã tiến dần đến cách hiểu văn hoá kinh doanh là sự
vận dụng các nhân tố văn hoá vào hoạt động kinh doanh, đó là các nhân tố khoa
học và kỹ thuật và công nghệ, phơng thức tổ chức và quản lý giao tiếp và ứng xử
Đồng thời đã bớc đầu nêu lên biểu hiện của văn hoá kinh doanh nh tính hiệuquả, sản phẩm chất lợng cao, giữ đợc chữ tín, quan tâm đến ngời lao động Tuynhiên, tính khái quát của các định nghĩa này cha cao
Đáng chú ý nhất là định nghĩa của TS Đỗ Minh Cơng: “Văn hoá kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hoá vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hoá mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ”11 Kháiniệm này có u điểm là tiếp cận văn hoá kinh doanh từ hai phơng diện: một là
những nhân tố văn hoá đợc lựa chọn từ văn hoá dân tộc đa vào hoạt động kinh doanh; hai là những nhân tố văn hoá đợc chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá
trình kinh doanh Tuy nhiên, trên thực tế, văn hoá kinh doanh không tồn tại táchbạch nh vậy mà hai loại nhân tố này nó hoà quyện, thẩm thấu vào nhau để tạothành các yếu tố cấu thành văn hoá kinh doanh Đáng tiếc, tác giả Đỗ Minh C-
ơng cha đẩy sâu hơn vấn đề này
Qua xem xét nghiên cứu các quan niệm về văn hoá kinh doanh của cácnhà nghiên cứu trong nớc và nớc ngoài, chúng tôi mạnh dạn đa ra một địnhnghĩa khái quát về văn hoá kinh doanh:
Văn hoá kinh doanh là toàn bộ các nhân tố văn hoá đ
doanh chọn lọc, tạo ra và sử dụng trong hoạt động kinh doanh”.
Chúng tôi sử dụng đồng thời 3 khái niệm “chọn lọc”, “tạo ra”, “sử dụng”
hàm ý: chọn lọc các nhân tố văn hoá dân tộc, văn hoá xã hội (đó là phong tục,tập quán, thói quen, giá trị, ngôn ngữ, thẩm mỹ, tôn giáo, các giá trị văn hoátruyền thống… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các) để đa vào hoạt động kinh doanh; trong hoạt động kinh doanh,chủ thể tạo ra nhân tố văn hoá đặc thù của mình (phong cách, phong thái kinhdoanh của một dân tộc hay một doanh nghiệp, hệ giá trị chung của doanhnghiệp, hình thức mẫu mã của sản phẩm, kiến trúc nội ngoại thất của công ty… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các);
sử dụng các nhân tố văn hoá dân tộc đã đợc chọn lọc và các nhân tố văn hoá đợctạo ra trong quá trình kinh doanh vào nâng cao hiệu quả của hoạt động kinhdoanh
Tiếp cận văn hoá theo nghĩa rộng vào phân tích khái niệm “văn hoá kinh
doanh” thì toàn bộ các nhân tố văn hoá“ ” ở đây đợc hiểu là toàn bộ các giá trịvật chất và các giá trị tinh thần mà chủ thể kinh doanh lựa chọn, tạo ra và sử
10 Phạm Xuân Nam (chủ biên): Văn hoá và kinh doanh, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội – 1996
11 Đỗ Minh Cơng: Văn hoá kinh doanh và Triết lý kinh doanh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2001, trang 70
Trang 13dụng trong quá trình kinh doanh của mình Văn hoá nh là toàn bộ quá trình tổchức và hoạt động của hoạt động kinh doanh từ cách chọn và bố trí máy móc,dây chuyền công nghệ, cách tổ chức bộ máy về nhân sự và hình thành quan hệgiao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong doanh nghiệp cho đến phơng thứcquản lý kinh doanh của doanh nghiệp sao cho có hiệu quả Hoạt động kinhdoanh cố nhiên không lấy giá trị văn hoá làm mục đích trực tiếp, song nghệ thuậtkinh doanh, từ việc tạo vốn ban đầu, tìm địa bàn kinh doanh, mặt hàng kinhdoanh cách thức tổ chức thực hiện chiến lợc kinh doanh, tiếp thị sản phẩm, dịch
vụ và bảo hành sau bán với t cách “thăng hoa” thì kinh doanh cũng là biểu
hiện sinh động văn hoá của con ngời
Bản chất của văn hoá kinh doanh là làm cho cái lợi gắn chặt chẽ với cáichân, cái thiện và cái mỹ Vì thế ngời ta thờng nói nhà kinh doanh có văn hoábao chứa cả trí tuệ của nhà triết học, lòng dũng cảm của ngời lính và tài năng củanghệ sĩ
1.2.2 Các nhân tố cấu thành văn hoá kinh doanh
Các nhân tố văn hoá dân tộc, văn hoá xã hội đã đợc chọn lọc và nhân tốvăn hoá đợc tạo ra trong quá trình kinh doanh không thể tách bạch sử dụng độclập mà chúng hoà quyện vào nhau thành một hệ thống với các nhân tố cơ bảncấu thành văn hoá kinh doanh là:
Triết lý kinh doanh
Đạo đức kinh doanh
Văn hoá doanh nghiệp
Văn hoá doanh nhân
Quan hệ và ứng xử trong kinh doanh
Việc xác định các nhân tố cấu thành văn hoá kinh doanh giúp chúng ta dễdàng hơn trong việc nghiên cứu thực trạng văn hoá kinh doanh Hà Nội ở chơng2
Văn hoá kinh doanh - nói một cách tổng quan hơn nữa – là những nhân tố văn hoá của hoạt động kinh doanh, điều đó có nghĩa là văn hoá kinh
doanh là một phơng diện của văn hoá trong xã hội, là văn hoá trong lĩnh vực hoạt
động kinh doanh Do vậy, văn hoá kinh doanh là một “ tiểu văn hoá” (sub culture), là một bộ phận trong nền văn hoá dân tộc Vì thế nó cũng mang những
-đặc điểm chung của văn hoá nh tính quy ớc, tính cộng đồng, tính dân tộc, tính
khách quan, tính chủ quan, tính kế thừa Đồng thời văn hoá kinh doanh cũng
có những nét đặc trng riêng phân biệt với văn hoá các lĩnh vực khác nh văn hoáchính trị, văn hoá pháp luật, văn hoá gia đình Có thể khái quát mấy nét đặc trngcủa văn hoá kinh doanh:
Thứ nhất, văn hoá kinh doanh xuất hiện cùng với sự xuất hiện của thị ờng Nếu nh văn hoá nói chung (văn hoá xã hội) ra đời ngay từ thủa bình minh
tr-của xã hội loài ngời thì văn hoá kinh doanh xuất hiện muộn hơn nhiều Nó chỉ ra
Trang 14đời khi nền sản xuất hàng hoá đã phát triển đến mức đủ để hình thành hoạt độngkinh doanh ổn định trong xã hội Khi kinh doanh chính thức trở thành một nghề,trong xã hội sẽ ra đời một tầng lớp mới, đó là các doanh nhân Từ đó, văn hoákinh doanh sẽ hình thành nh một hệ thống những cách c xử đặc trng cho cácthành viên trong hoạt động kinh doanh Chính vì vậy, ở bất kỳ một xã hội nào,khi có hoạt động kinh doanh thì đều có văn hoá kinh doanh, dù các thành viêncủa xã hội ấy có ý thức đợc hay không Cho nên văn hoá kinh doanh thực ra đã
có từ lâu đời, chỉ có điều gần đây nó mới trở thành vấn đề đợc xã hội quan tâm
Thứ hai, văn hoá kinh doanhphải phù hợp với trình độ kinh tế, cơ cấu kinh tế và thông lệ quốc tế Văn hoá kinh doanh thể hiện những phong cách, thói
quen của các nhà kinh doanh, vì vậy nó cũng phải phù hợp với trình độ kinh tếtại quốc gia đó Quan điểm, thái độ, phong cách làm việc của doanh nhân ViệtNam thời kinh tế nông nghiệp, tự cung, tự cấp chắc chắn sẽ khác biệt với phongcách của các nhà kinh doanh thời kinh tế thị trờng Chúng ta không thể phê phánnền văn hoá của một quốc gia khác là tốt hay xấu, cũng nh không thể nhận xétvăn hoá kinh doanh nớc này là hay hoặc dở, vấn đề là nó phù hợp với trình độphát triển của quốc gia đó Cần học cách chấp nhận và học hỏi văn hoá kinhdoanh của các nớc để có thể hội nhập và phát triển trong môi trờng toàn cầu hoáhiện nay
Về cơ bản trình độ phát triển của văn hoá kinh doanh, do sự phát triển củakinh tế hàng hoá quy định Trong một nền kinh tế hàng hoá đã phát triển - ở đócác quan hệ kinh doanh đã đi vào chiều sâu - chủ thể kinh doanh đã biết thể hiện
và thực hiện mục đích tìm kiếm lợi nhuận một cách có văn hoá Điều đó đợc thểhiện từ trong ý thức của ngời sản xuất hàng hoá, để đa ra thị trờng tiêu thụ, đếntri thức về sự lựa chọn mặt hàng, phơng thức kinh doanh của nhà doanh nghiệp,
từ hình thức, nội dung của quảng cáo đến phong cách giao tiếp ứng xử trongquan hệ mua bán
1 2.3 Các nhân tố tác động đến văn hoá kinh doanh
- Nền văn hoá xã hội:
Văn hoá kinh doanh là một bộ phận của văn hoá dân tộc Vì vậy sự phảnchiếu của văn hoá dân tộc lên nền văn hoá kinh doanh là một điều tất yếu Mỗicá nhân trong một nền văn hoá kinh doanh đều phụ thuộc vào một nền văn hoádân tộc cụ thể, với một phần nhân cách tuân theo các giá trị văn hoá dân tộc.Mức độ coi trọng tính cá nhân hay tính tập thể, khoảng cách phân cấp của xãhội, tính linh hoạt chuyển đổi giữa các tầng lớp xã hội, tính đối lập giữa namquyền và nữ quyền, tính thận trọng, các giá trị văn hoá truyền thống, d luận vàtập quán xã hội… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các là những thành tố của văn hoá xã hội tác động rất mạnh mẽ
đến văn hoá kinh doanh Ví dụ: Trong nền văn hoá mà chủ nghĩa cá nhân đợc coitrọng, quan niệm cá nhân hành động vì lợi ích của bản thân hoặc những ngờithân trong gia đình rất phổ biến Ngợc lại, trong nền văn hoá coi trọng chủ nghĩa
Trang 15tập thể quan niệm con ngời thuộc về một tổ chức có liên kết chặt chẽ với nhau,trong đó tổ chức chăm lo cho lợi ích cá nhân còn các cá nhân phải hành động vàứng xử theo lợi ích của tổ chức Văn hoá kinh doanh Mỹ là điển hình của vănhoá kinh doanh đề cao chủ nghĩa cá nhân ở các công ty Mỹ, cá nhân là ngời raquyết định và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình, thành tích cá nhân rất
đợc coi trọng Ngời Mỹ sẵn sàng bỏ việc nếu tìm đợc chỗ làm tốt hơn cũng nhmột công ty Mỹ sẵn sàng sa thải nhân viên nếu thấy họ không cần thiết nữa Vănhoá kinh doanh Nhật, ngợc lại, là điển hình của văn hoá kinh doanh đề cao chủnghĩa tập thể, phơng châm của ngời Nhật là “tập thể nghĩ, cá nhân tôi hành
động” Các công ty Nhật quân tâm đến thành viên trên tinh thần “xí nghiệp lànhất”: tổ chức sinh nhật cho từng thành viên, chỗ ăn chỗ ở cho cả gia đình nhânviên Đổi lại các thành viên của công ty hết sức trung thành với công ty
Hoạt động kinh doanh luôn tồn tại trong một môi trờng xã hội nhất địnhnên nhất thiết nó phải chịu ảnh hởng của văn hoá xã hội Mỗi nền văn hoá xã hội
có những giá trị đặc trng riêng và có hệ quả đặc thù đối với hoạt động kinhdoanh Chẳng hạn nh tính kỷ luật và trung thành trong các doanh nghiệp củaNhật Bản, sự chính xác trong các ngân hàng Thuỵ Sĩ, sự năng động, sáng tạo vàhiện đại trong các doanh nghiệp Mỹ, sự hào hoa đến lãng mạn của các doanhnghiệp Pháp và ý, sự thân thiện trong các doanh nghiệp của Nga hay sự lạnhlùng trong các doanh nghiệp Đức và Anh
- Thể chế xã hội:
Đó là thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế hành chính, thể chế vănhoá, các chính sách của chính phủ, hệ thống pháp chế… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các Đây là những yếu tố
ảnh hởng trực tiếp tới môi trờng kinh doanh và qua đó ảnh hởng sâu sắc tới việchình thành và phát triển văn hoá kinh doanh Đặc biệt các chính sách của chínhphủ ảnh hởng rất mạnh đến chiến lợc kinh doanh và tác động mạnh tới các mốiquan hệ bên trong của doanh nghiệp
Chính nền kinh tế thị trờng đã đặt ra những yêu cầu cho sự phát triển vănhoá kinh doanh:
- Có tri thức văn hoá để khai thác, sử dụng mọi nguồn tài nguyên, mọi lựclợng lao động, cả chất xám, cả lao động kỹ thuật và lao động giản đơn nghĩa là
sử dụng và phát huy nhân tố con ngời - một nguồn lực vô giá của đất nớc
- Khai thác các thành tựu khoa học – kỹ thuật – công nghệ – văn hoá
để phát triển kinh tế, thông qua đó thúc đẩy khoa học – kỹ thuật - văn hoá pháttriển
-Thông qua quan hệ giao tiếp với khách hàng, bạn hàng và thị trờng hìnhthành các bản sắc văn hoá riêng
- Kế thừa và tiếp thu những giá trị văn hoá tốt đẹp của nhân loại nhngkhông làm những bản sắc truyền thống, giá trị quý báu của dân tộc Điều đó đợc
Trang 16thể hiện cả trong các sản phẩm đợc sản xuất ra, cả trong cách ứng xử, giao tiếptrong kinh doanh.
- Các nhà doanh nghiệp phải có đạo đức, tôn trọng con ngời, có cuộc sốngtrong sạch, có tác phong tự chủ, năng động sáng tạo, có tinh thần dám nghĩ, dámlàm, dám chấp nhận rủi ro, dám chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của
mình- đó là thể hiện bản lĩnh văn hoá của nhà doanh nghiệp.
Tuy nhiên, kinh tế thị trờng cũng tác động tiêu cực đến văn hoá kinhdoanh: Chính kinh tế thị trờng là mảnh đất của chủ nghĩa cá nhân chủ nghĩathực dụng vô đạo đức, đặc biệt kích thích các hoạt động giao tiếp với các hành viứng xử nhằm đạt đợc lợi ích cá nhân Lối sống “vì lợi bỏ nghĩa”, “lợi mình hạingời” tồn tại khá phổ biến trong các doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trờngmối quan hệ giữa ngời và ngời thờng đợc đánh giá qua những phơng tiện nh củacải, quyền lực, vì thế nó làm cho tình ngời, đạo lý làm ngời có những xáo trộnnhất định
- Sự khác biệt và sự giao lu, học hỏi văn hoá:
Giữa các quốc gia, các doanh nghiệp và các cá nhân trong doanh nghiệpkhông bao giờ có cùng một kiểu văn hoá thuần nhất Trong khi nền văn hoá Mỹ
đánh giá cao lối sống cá nhân và tính thẳng thắn thì nền văn hoá châu á lại coitrọng việc tuân thủ luật lệ xã hội Đối với một số nền văn hoá, việc thởng tiềnhay hối lộ để đạt đợc một quyết định có lợi hơn là một thông lệ đợc chấp nhận.Tuy nhiên, ở Mỹ nhà quản trị làm việc thởng tiền kiểu đó có thể phải vào tù Sựkhác biệt về văn hoá có thể là nguyên nhân gây căng thẳng hoặc dẫn tới xung
đột văn hoá (nhất là trong các doanh nghiệp liên doanh) Sự xung đột này tác
động khá mạnh đến việc hình thành một bản sắc văn hoá kinh doanh phù hợp Sựgiao lu, học hỏi văn hoá tạo điều kiện cho các thành viên của từng doanh nghiệphọc tập kinh nghiệm của nhau tạo thành kinh nghiệm chung của toàn thể doanhnghiệp, tiếp nhận các giá trị văn hoá của nhau, doanh nghiệp học tập, lựa chọnnhững khía cạnh tốt về văn hoá của các doanh nghiệp khác, của các quốc giakhác nhằm phát triển mạnh nền văn hoá của doanh nghiệp mình Mặt khác, quátrình tìm hiểu và giao lu văn hoá càng làm cho các chủ thể kinh doanh hiểu thêm
về nền văn hoá của mình từ đó tác động trở lại hoạt động kinh doanh Trong môitrờng kinh doanh quốc tế ngày nay, các doanh nghiệp không thể duy trì văn hoácủa mình nh một lãnh địa đóng kín mà phải mở cửa và phát triển giao lu về vănhoá
- Quá trình toàn cầu hoá:
Tiến trình toàn cầu hoá, quốc tế hoá nền kinh tế đã góp phần làm cho hoạt
động kinh doanh phát triển mạnh mẽ Quá trình này mở cửa cho các nền kinh tếhoà nhập cùng nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho các doanh nhân có cơ hộiphát huy hết khả năng của mình, nâng cao trình độ kinh doanh cho phù hợp vớiyêu cầu của thị trờng Trong quá trình toàn cầu hoá diễn ra sự giao lu giữa cácnền văn hoá kinh doanh, do đó đã bổ sung thêm giá trị mới cho văn hoá kinh
Trang 17doanh mỗi nớc: làm phong phú thêm kho tàng kiến thức về kinh doanh, biết cáchchấp nhận những luật chơi chung, những giá trị chung để cùng hợp tác phát triển.
Đồng thời trong quá trình này, các giá trị văn hoá truyền thống của các quốc gia
đợc khơi dậy, l m tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tràm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr ờng thế giới
Hoạt động kinh doanh ngày càng mang tính toàn cầu, khả năng cạnh
tranh quốc tế ngày càng gay gắt nên đòi hỏi các doanh nghiệp phải khai thác cácthế mạnh trong đó văn hoá là một điển hình Nền kinh tế toàn cầu làm cho môitrờng kinh doanh biến đổi nhanh hơn và nâng các chuẩn mực văn hoá lên cao,
điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng đợc nền văn hoá có tính thíchnghi, có sự tin cậy cao độ để các công ty cạnh tranh thành công Nếu không cácdoanh nghiệp không thể tồn tại
- Khách hàng:
Doanh nghiệp tồn tại và phát triển không vì lợi nhuận trớc mắt mà phải vìmột lợi nhuận lâu dài và bền vững Với vai trò là ngời góp phần tạo ra doanh thucho doanh nghiệp, khách hàng cũng góp phần vào việc tạo ra lợi nhuận lâu dài
và bền vững cho doanh nghiệp Nhu cầu, thẩm mỹ, trình độ dân trí về kinh tế củakhách hàng tác động trực tiếp tới văn hoá kinh doanh Nhất là trong xã hội hiện
đại, khách hàng không mua sản phẩm thuần tuý, họ muốn mua những giá trị, họ
đa ra các quyết định dựa trên bối cảnh văn hoá chứ không đơn thuần là nhữngquyết định có tính chất thiệt hơn Khách hàng ngày càng đòi hỏi nhiều hơn, họ
có tính cách, suy nghĩ, lập trờng riêng, có nghĩa là họ có văn hoá riêng của họ.Cuộc sống càng hiện đại, cung cách buôn bán càng phát triển thì họ càng đợc tự
do hơn trong lựa chọn
- Văn hoá của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp
Nhà lãnh đạo không chỉ là ngời quyết định cơ cấu tổ chức và công nghệcủa doanh nghiệp, mà còn là ngời sáng tạo ra các biểu tợng, các ý thức hệ, ngônngữ, niềm tin, nghi lễ và huyền thoại của doanh nghiệp Qua quá trình xây dựng
và quản lý doanh nghiệp, hệ t tởng và tính cách của nhà lãnh đạo sẽ đợc phảnchiếu lên văn hoá doanh nghiệp Nhà lãnh đạo là ngời góp phần chính tạo nênvăn hoá doanh nghịêp, quyết định việc hình thành hệ thống giá trị văn hoá cănbản của doanh nghiệp Nhà lãnh đạo là ngời tạo dựng, truyền thông, thẩm thấucác giá trị văn hoá của doanh nghiệp làm cho nhân viên hiểu, thấm nhuần vàthực hiện một cách gần nh bản năng Nhà lãnh đạo là ngời quyết định sự thànhhay bại việc xây dựng và phát triển văn hoá: về tầm nhìn, bản lĩnh, phong cách,
sự dấn thân Văn hoá của nhà lãnh đạo thể hiện ở Tầm, Tâm, Tài:
Tầm: Tầm trí tuệ, tầm năng lực, tầm nhìn, ngang tầm Định hớng tổ chức
bằng tầm nhìn, nhìn xa, trông rộng, nhìn toàn diện cân nhắc mọi mặt của vấn đề
để quyết định đúng, vạch ra đợc các kế hoạch và mục tiêu ngắn hạn và dài hạn
để công ty hớng đến
Tâm: Tuân thủ các nguyên tắc đạo đức, quy tụ lòng ngời, gần gũi, thấu
hiểu đợc tâm t, nguyện vọng của ngời chịu sự lãnh đạo, dám thừa nhận khuyết
Trang 18điểm, tạo môi trờng tin cậy và hiệp tác, trao gửi niềm tin với nhân viên, thức tỉnhnhững điều tốt đẹp của nhân viên.
Tài: Dẫn dắt mọi ngời hành trình đến đích một cách thông minh và lơng
thiện Khai thác năng lực tiềm ẩn của nhân viên, nhạy bén trong kinh doanh,lãnh đạo công ty thích ứng với mọi thay đổi của môi trờng và dành đợc cơ hội tốtcho doanh nghiệp, điều hành, phối hợp hoạt động các bộ phận trong công ty hiệuquả, mà hoá giải đợc mâu thuẫn trong chính nội bộ, tạo ra đợc động lực tinhthần, niềm tin của mọi ngời
Ngoài các nhân tố cơ bản trên, còn rất nhiều các nhân tố khác tác động
đến văn hoá kinh doanh nh trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ,kinh nghiệm kinh doanh, gen di truyền về cá tính của cá nhân chủ thể kinhdoanh, văn hoá của đối tác kinh doanh v.v
1.3 Vai trò của văn hoá kinh doanh
Mỗi con ngời, mỗi doanh nghiệp, tổ chức đều thuộc về một nền văn hoá
cụ thể Dới ảnh hởng của mỗi nền văn hoá, nhân cách, đạo đức, niềm tin, thái độ,
hệ thống các giá trị ở mỗi ngời đợc hình thành và phát triển Nh vậy văn hoáquản trị nói chung và phong cách cùng phơng pháp quản trị ở mỗi doanh nghiệpnói riêng sẽ bị ảnh hởng trực tiếp bởi những nền văn hoá mà những nhà quản trịcủa họ thuộc về các nền văn hoá đó Qua nghiên cứu ngời ta cũng thấy rằng, vănhoá là một trong những yếu tố chủ yếu tác động, chi phối hành vi ứng xử của ng-
ời tiêu dùng, chi phối hành vi mua hàng của khách hàng Thêm vào đó, tình cảmgia đình, sự hiểu biết xã hội, trình độ học vấn vẫn là điều xuất phát khi muasắm hàng hoá - dịch vụ, nghĩa là chi phối việc soạn thảo chiến lợc và sách lợckinh doanh ở mỗi doanh nghiệp cụ thể
1 3.1 Văn hoá kinh doanh là một nguồn lực phát triển kinh doanh bền vững 1.3.1.1 Văn hoá trong tổ chức kinh doanh – kinh doanh có văn hoá
Trong tổ chức, quản lý kinh doanh, vai trò của văn hoá thể hiện ở sự lựa
chọn phơng hớng kinh doanh, sự hiểu biết về sản phẩm, dịch vụ, về những mốiquan hệ giữa ngời và ngời trong cộng đồng doanh nghiệp; ở việc biết tuân theocác quy tắc và quy luật của thị trờng; ở việc phát triển và bảo hộ những hàng hoá
có bản sắc văn hoá dân tộc; ở việc hớng dẫn và định hớng tiêu dùng; ở việc chỉ
đạo, tổ chức, hớng dẫn một phong cách có văn hoá trong doanh nghiệp… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các Khi văn hoá kết tinh vào hoạt động kinh doanh tạo thành phơng thức kinh doanh có văn hoá, đó là kinh doanh trung thực và ngay thẳng, đáp ứng các nhu cầu của
cuộc sống, không phải vì lợi ích riêng của một cá nhân hay một nhóm kinhdoanh nào mà hy sinh cộng đồng quốc gia và xã hội; là tạo ra mối quan hệ mật
Trang 19thiết giữa nhà sản xuất, nhà kinh doanh và ngời tiêu dùng theo nguyên tắc cácbên cùng có lợi, là kích thích sự cạnh tranh làn mạnh nhằm phát triển hơn chứkhông phải nhằm diệt trừ nhau; là không làm tổn hại đến các truyền thống và tập
quán tốt đẹp của ngời dân bằng những hành vi và hàng kém phẩm chất Kinh doanh có văn hoá là lối kinh doanh có mục đích và theo phơng thức cùng đạt tới
cái lợi, cái thiện, cái đẹp Chỉ có kiểu kinh doanh có văn hoá mới kết hợp đợc
giữa hiệu quả cao và sự phát triển bền vững của chủ thể kinh doanh Nếu
không có môi trờng văn hoá trong sản xuất – kinh doanh thì không thể sử dụng
đợc các trí thức, kiến thức và đơng nhiên không thể tạo ra hiệu quả sản xuất,
không thể phát triển sản xuất – kinh doanh hoạt động đó
1.3.1.2 Văn hoá trong giao lu, giao tiếp kinh doanh
Văn hoá trong giao lu, giao tiếp kinh doanh: Văn hoá hớng dẫn toàn bộhoạt động giao lu, giao tiếp trong kinh doanh Đó là mối quan hệ giữa ngời bán
và ngời mua, là văn hoá trong giao tiếp với khách hàng, là “lời chào cao hơnmâm cỗ”, là làm thế nào để tạo ra sự thích thú cho khách hàng qua tiếp xúc tếnhị với khách hàng, qua hậu mãi Đó là thái độ với đối tác làm ăn, với đối thủcạnh tranh (cạnh tranh để cùng tồn tại và phát triển) Đó là văn hoá trong đàmphán, ký kết các hợp đồng thơng mại, là văn hoá trong soạn thảo các thông điệpquảng cáo… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các Đó còn là sự giao lu văn hoá giữa các vùng, miền của mỗi quốc gia,giữa các quốc gia
Đó là sử dụng có hiệu quả công cụ ngôn ngữ (cả ngôn ngữ lời nói và philời nói – ngôn ngữ cơ thể) trong kinh doanh Đó là việc tặng quà sao cho phùhợp văn hoá nơi mình đến Đó là cách thức mở đầu cuộc đàm phán, cách thức sửdụng các hình thức đàm phán, nghi thức trong đàm phán Đó là nghiệp vụ trongsoạn thảo hợp đồng, là việc ra quyết định nhanh hay chậm
1.3.1.3 Văn hóa trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự gánh vác tự nguyện những nghĩa vụ, trách nhiệm vợt lên trên những trách nhiệm về kinh tế và pháp lý và thoả mãn đợc những mong muốn của xã hội Kinh doanh không chỉ chú trọng
đến lợi nhuận đơn thuần mà còn phải quan tâm thích đáng đến trách nhiệm xãhội của doanh nghiệp Các phúc lợi xã hội mà doanh nghiệp đợc hởng đã quy
định họ phải có nghĩa vụ đóng góp thoả đáng cho xã hội Việc đóng góp chongân sách nhà nớc, tham gia hoạt động xã hội từ thiện, tôn trọng những quyphạm đạo đức trong quan hệ xã hội, quan hệ kinh doanh, tôn trọng các giá trịtruyền thống là thái độ văn hoá tối thiểu của các doanh nghiệp Mặt khác tráchnhiệm xã hội của doanh nghiệp còn chi phối từ khâu xây dựng kế hoạch, hìnhthành chiến lợc kinh doanh, chiến lợc phát triển đến việc tổ chức kinh doanh vàphân phối lợi nhuận Đó chính là tính nhân văn của hoạt động kinh doanh
Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một trong những biểu hiện của vai trò văn hoá kinh doanh Việc đóng góp đầy đủ cho ngân sách nhà n-
Trang 20ớc, tham gia các hoạt động xã hội từ thiện, bảo vệ môi trờng sinh thái, tôn trọngnhững quy phạm đạo đức trong quan hệ xã hội, quan hệ kinh doanh, tôn trọngcác giá trị truyền thống là thái độ văn hoá tối thiểu của các doanh nghiệp
1.3.1.4 Văn hoá nh là một nhân tố của kinh doanh quốc tế.
Trao đổi thơng mại buôn bán quốc tế đơng nhiên tạo ra cơ hội tiếp xúcgiữa các nớc có nền văn hoá khác nhau Các nớc khác nhau có các nền văn hoá
khác nhau Hiểu văn hoá của nớc đến kinh doanh là một điều kiện quan trọng của thành công trong kinh doanh quốc tế Nớc bán hàng và dịch vụ, trên chừng
mực nào đó đa văn hoá của mình đến nớc đó, mặt khác phải có sự hiểu biết nhất
định về văn hoá nớc sở tại, phong tục, tập quán của họ Các phơng tiện để tiếp
xúc khi giao dịch, đàm phán trong thơng mại cũng cần phù hợp với nền văn hoámỗi nớc Giao lu văn hoá, tiếp cận văn hoá trong kinh doanh, thông qua đókhông chỉ tìm kiếm thị trờng cho các hàng hoá, mà còn để giới thiệu về những
tinh hoa của văn hoá dân tộc Giao lu văn hoá còn làm biến đổi một cách tế nhị
và dần đần thành thói quen, thị hiếu và sở thích của ngời bản địa, những thay
đổi thẩm mỹ này đã mở ra thị trờng mới cho các nhà sản xuất của các nớc ấy.
Ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trờng ngày càng rộng mở, trong nhiều ờng hợp giao lu văn hoá lại đi trớc và thúc đẩy sự giao lu kinh tế
tr-Ban nhạc rock Beatles của Anh đã đợc trên thế giới a chuộng những năm
60 của thế kỷ trớc Nớc giải khát Coca-Cola đã tràn ngập thế giới Hãng McDonald đã thiết lập hàng nghìn cửa hàng ăn nhanh trên nhiều nớc, điện ảnhHollywood đợc hoan nghênh ở các nớc châu Âu cũng nh ở các châu lục khác
Dù muốn hay không những sản phẩm đó cũng ảnh hởng đến văn hoá nớc sở tại.Ngời Nhật có 16 cách để nói chữ “không” với đối phơng khi giao dịch thơngmại ở ả Rập Xêut, không đợc bảo hiểm nhân thọ, trừ trờng hợp đặc biệt đối vớingành dầu khí có nhiều rủi ro Ngời Pháp thích bắt tay nhng ngời Anh lại khôngchuộng cách này lắm
1.3.2 Văn hoá kinh doanh trong quản trị doanh nghiệp
1.3.2.1 Quản trị bằng văn hoá doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các nhân tố văn hoá đợc doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra và sử dụng trong hoạt động kinh doanh, đợc các thế hệ thành viên chia sẻ, chấp nhận, tôn trọng và theo đó ứng xử với công việc và ứng xử với nhau.
Văn hoá doanh nghiệp (văn hoá công ty) là một nội dung của văn hoá tổchức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hoá mà doanh nghiệp làm ratrong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác
động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó Văn hoádoanh nghiệp là các giá trị, ý nghĩa, niềm tin, hiểu biết và các tiêu chuẩn chung
về văn hoá của mọi thành viên trong doanh nghiệp
Trang 21Văn hoá doanh nghiệp thể hiện ở 2 hình thức:
Hình thức vật thể:
Đó là những cái dễ nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận đợc khi tiếp xúc với doanh nghiệp, đây là những biểu hiện bên ngoài của hệ thống văn hoá doanh nghiệp Đó là h ng hóa v dàm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr àm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr ịch vụ của doanh nghiệp (từ mẫu mã, kiểu dáng
đến nội dung và chất lợng), đặc điểm kiến trúc, cách bài trí, trang trí doanhnghiệp, các văn bản quy định nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp, bộ đồngphục, thẻ nhân viên, bài hát, khẩu hiệu, biểu tợng, lôgo, tài liệu quảng cáo, ấnphẩm của doanh nghiệp, những câu chuyện, truyền thuyết, giai thoại về các nămtháng gian khổ và vinh quang của doanh nghiệp, về nhân vật anh hùng của doanhnghiệp (nhất là hình tợng ngời thủ lĩnh khởi nghiệp), các nếp sinh hoạt, các hành
vi giao tiếp và ứng xử, các lễ hội Tất cả những hình thức vật thể này đều mang,
đều chuyển tải một giá trị tinh thần nào đó của doanh nghiệp
Hình thức phi vật thể:
Đó là những không nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận đợc khi tiếp xúc với doanh nghiệp, đây là những biểu hiện bên trong của hệ thống văn hoá doanh nghiệp Trải qua quá trình hoạt động, chúng đợc các thành viên trong doanh
nghiệp chấp nhận, phổ biến và áp dụng Đó là cách ăn mặc, cách sử dụng ngônngữ, cách biểu lộ cảm xúc, các tập quán, nghi thức, các tín ngỡng đợc thành viêntin theo và tôn thờ (điều này thờng thấy ở các doanh nghiệp ngời Hoa), chiến lợc,mục tiêu, triết lý (sứ mệnh, phơng châm) kinh doanh, các quan niệm chung/ cácgiá trị nền tảng/ cốt lõi (hình thành sau một thời gian hoạt động, va chạm, xử lýnhiều tình huống thực tiễn, ăn sâu vào tâm lý hầu hết các thành viên gần nhkhông thể bị phản bác, không thể thay đổi, không đợc làm khác đi, định hớngcho suy nghĩ, cảm nhận v h nh vi của các th nh viên trong cả mối quan hệ bênàm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr àm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr àm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị trtrong v bên ngo i doanh nghiàm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr àm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr ệp) Chẳng hạn nh sự cống hiến đối với công ty”,
“ra quyết định tập thể” l giá trị văn hoá cốt lõi trong các công ty truyền thốngàm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị trcủa Nhật
Văn hoá doanh nghiệp có vai trò to lớn trong quản trị doanh nghiệp:
Thứ nhất, văn hoá doanh nghiệp tạo nên bản sắc của doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp là tài sản tinh thần của doanh nghiệp và phân biệtdoanh nghiệp với các doanh nghiệp khác tạo nên bản sắc (phong thái, sắc thái,nền nếp, tập tục) của doanh nghiệp văn hoá doanh nghiệp di truyền, bảo tồn cáibản sắc của doanh nghiệp qua nhiều thế hệ thành viên, tạo ra khả năng phát triểnbền vững của doanh nghiệp Văn hoá doanh nghiệp nh là “bộ gen” của doanhnghiệp Những doanh nghiệp thành công thờng là những doanh nghiệp chú trọngxây dựng, tạo ra môi trờng văn hoá riêng biệt khác với các doanh nghiệp khác Bản sắc văn hoá không chỉ là tấm căn cớc để nhận diện doanh nghiệp mà còn là
Trang 22phơng thức sinh hoạt và hoạt động chung của doanh nghiệp Nó tạo ra lối hoạt
động, kinh doanh của doanh nghiệp Đó là bầu không khí, là tình cảm, sự giao
l-u, mối quan hệ và ý thức trách nhiệm, tinh thần hiệp tác phối hợp trong thực hiệncông việc Ví dụ nh trong ngành điện dân dụng, từ xa ngời ta đã đặt tên cho từng
xí nghiệp theo một phong cách riêng nh : Hitachi : Võ sĩ hoang dã (Nobushi),Matsushita: Thơng nhân (Shonin), Mitsubisi: Quý nhân (Donosama), Toshiba :
Võ sĩ đạo (Samurai)
Thứ hai, văn hoá doanh nghiệp nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
Tính hiệu quả của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào yếu tố văn hoá(VHDN) Nó ảnh hởng trực tiếp to lớn đến việc hình thành mục tiêu, chiến lợc vàchính sách, nó tạo ra tính định hớng có tính chất chiến lợc cho bản thân doanhnghiệp, đồng thời cũng tạo thuận lợi cho việc thực hiện thành công chiến lợc đãlựa chọn của doanh nghiệp Môi trờng văn hoá của doanh nghiệp còn có ý nghĩatác động quyết định đến tinh thần, thái độ, động cơ lao động của các thành viên
và việc sử dụng đội ngũ lao động và các yếu tố khác Môi trờng văn hoá càng trởnên quan trọng hơn trong các doanh nghiệp liên doanh, bởi vì ở đó có sự kết hợpgiữa văn hoá của các dân tộc, các nớc khác nhau
Thứ ba, văn hoá doanh nghiệp là một nguồn lực của doanh nghiệp:
Mục tiêu của văn hoá doanh nghiệp là nhằm xây dựng một phong cáchquản trị hiệu quả đa hoạt động của doanh nghiệp vào nề nếp và xây dựng mốiquan hệ hợp tác thân thiện giữa các thành viên của doanh nghiệp , làm cho doanhnghiệp trở thành một cộng đồng làm việc trên tinh thần hợp tác, tin cậy, gắn bó,thân thiện và tiến thủ Trên cơ sở đó hình thành tâm lý chung và lòng tin vào sựthành công của doanh nghiệp Do đó nó xây dựng một nề nếp văn hoá lành mạnhtiến bộ trong tổ chức, đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp.Văn hoá càng mạnh bao nhiêu, nó càng định hớng tới thị trờng, văn hoá và sự
định hớng tới thị trờng càng mạnh bao nhiêu thì công ty càng cần ít chỉ thị, mệnhlệnh, sơ đồ tổ chức, chỉ dẫn cụ thể hay điều lệ bấy nhiêu Các công ty xuất sắc
đều có một hệ thống giá trị, một bản sắc riêng không ai bắt chớc đợc Đó là “Cốgắng cung cấp cơ hội cho một sự phát triển nhanh chóng” của hãng Intel; “Quản
lý theo tinh thần chữ ái” của công ty Trung Cơng; “Phục vụ Tổ quốc thông quabuôn bán” của hãng Samsung; “Cái đẹp trong bánh Hamburger” của McDonald Những giá trị văn hoá nh vậy là cội nguồn của những cải tạo trong cáccông ty
Takahiro Sekimoto, tổng giám đốc NEC (công ty đứng đầu thế giới về bán
dẫn, th t thế giới về bán máy tính và thứ năm về thiết bị thông tin) nói: “Trên thực tế, trong thời đại toàn cầu hoá, tầm quan trọng của nền văn hóa công ty có thể đợc coi nh ngời quản lý thứ V, đứng sau những nhân tố nh con ngời, sở hữu,
Trang 23tiền tệ và thông tin” Một số nhà nghiên cứu cho rằng văn hoá phải trở thành một
thớc đo, bên cạnh thớc đo về kỹ năng chuyên môn để đánh giá cán bộ xí nghiệp,nhất là cán bộ chỉ huy, quản lý
1.3.2.2 Văn hoá kinh doanh định hớng cho hoạt động kinh doanh
Vai trò định hớng cho hoạt động kinh doanh thể hiện rõ nét ở triết lý kinh doanh - một bộ phận cấu thành văn hoá kinh doanh Đó là lý tởng, là phơng châm hành động, là hệ giá trị và mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Triết lý kinh doanh là điều kiện để thực hiện các mục tiêu và soạn thảo cácchiến lợc, đảm bảo nhất trí về mục đích trong doanh nghiệp; thiết lập một tiếngnói chung hoặc môi trờng của doanh nghiệp; đảm bảo nhất trí về mục đích trongdoanh nghiệp; định rõ mục đích của doanh nghiệp và chuyển dịch các mục đích
này thành các mục tiêu cụ thể; cung cấp cơ sở hoặc tiêu chuẩn để phân phối
nguồn lực của tổ chức
Triết lý kinh doanh là công cụ quản lý và định hớng chiến lợc của các nhàlãnh đạo, quản lý doanh nghiệp Tính định tính, sự trừu tợng của triết lý kinh
doanh cho phép doanh nghiệp có sự linh hoạt nhiều hơn trong việc thích nghi với
môi trờng đang thay đổi và các hoạt động bên trong Nó tạo ra sự linh động trongviệc thực hiện, sự mềm dẻo trong kinh doanh Đối với tầng lớp cán bộ quản lý,lãnh đạo triết lý của doanh nghiệp – một bộ phận của văn hoá kinh doanh làcông cụ định hớng và quản lý chiến lợc mà ở trong những tình huống phức tạp,
sự phân tích lỗ - lãi đơn thuần không thể lờng hết đợc những hậu quả của sự việc,cha thể đi đến một quyết định quản lý đúng
1.3.2.3 Văn hoá kinh doanh điều tiết hoạt động kinh doanh theo các chuẩn mực
đạo đức
Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hớng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trờng nảy sinh nhiều vấn đề xã hội nh: Chạy theo
lợi nhuận làm ăn bất chính bị xã hội lên án, cạnh tranh làm thiệt hại đến cáccông ty đối thủ và ngời tiêu dùng, khai thác cạn kiệt tài nguyên và làm ô nhiễm
môi trờng, những vấn đề đạo đức kinh doanh toàn cầu, vì thế cần thiết phải có
đạo đức kinh doanh.
Trong hoạt động của doanh nghiệp: Đạo đức kinh doanh bổ sung và kết
hợp với pháp luật điều chỉnh các hành vi kinh doanh theo khuôn khổ pháp luật vàquỹ đạo của các chuẩn mực đạo đức xã hội Một pháp luật nào dù hoàn thiện đến
đâu chăng nữa cũng không thể là chuẩn mực cho mọi hành vi của đạo đức kinhdoanh Nó không thể thay thế vai trò của đạo đức kinh doanh trong việc khuyếnkhích mọi ngời làm việc thiện, tác động vào lơng tâm của doanh nhân Bởi vì
Trang 24phạm vi ảnh hởng của đạo đức rộng hơn pháp luật, nó bao quát mọi làm việc củathế giới tinh thần trong khi pháp luật chỉ điều chỉnh những hành vi liên quan đếnchế độ nhà nớc, chế độ xã hội Mặt khác, pháp luật càng đầy đủ, chặt chẽ và đ-
ợc thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đức càng đợc đề cao, càng hạn chế đợc sự kiếmlời phi pháp đồng thời cũng là hành vi đạo đức: tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế,gian lận thơng mại “hiện tợng kiện tụng buộc ngời ta phải c xử có đạo đức”
1.3.3 Văn hoá trong tài năng, đạo đức, phong cách và phơng pháp của nhà kinh doanh
Muốn có văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp thì bản thân nhữngngời sáng lập, lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp phải có nhân cách văn hoá vàcoi trọng các nhân tố văn hoá trong việc quản trị và kinh doanh Văn hoá của ng-
ời sáng lập, lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp thể hiện ở đạo đức, tài năng,phong cách của nhà kinh doanh
Văn hoá kinh doanh thể hiện ở hành vi của các chủ thể kinh doanh, ở
chính phẩm chất đạo đức (nh tính trung thực, sự tôn trọng con ngời, vơn tới sự
hoàn hảo, đơng đầu với thử thách, coi trọng hiệu quả gắn liền với trách nhiệm xã
hội), ở tài năng/ năng lực (sự hiểu biết về thị trờng, về nghề kinh doanh, hiểu
biết về con ngời và có khả năng xử lý tốt các mối quan hệ, nhanh nhạy, quyết
đoán và khôn ngoan) và phong cách của nhà kinh doanh (phong cách làm việc,
phong cách ứng xử và sinh hoạt, phong cách diễn đạt… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các )
Nh vậy, khi yếu tố văn hoá thực hiện và thể hiện sự thăng hoa của mình trong hoạt động sản xuất - kinh doanh nó sẽ tác động trở lại làm cho sản xuất - kinh doanh phát triển Đến lợt mình, văn hoá kinh doanh lại thúc đẩy kinh doanh nói riêng, sản xuất xã hội nói chung theo hớng phát triển bền vững Lúc
đó văn hoá không còn là yếu tố bên ngoài kinh doanh mà trở thành mục tiêu, thành nội lực của sự phát triển kinh doanh.“ ”
Trang 25Chơng 2
Thực trạng Văn hoá kinh doanh trong các doanh
nghiệp ở Hà Nội - Một số vấn đề đặt ra
2.1 ảnh hởng của điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế, văn hoá - xã hộicủa Hà Nội đến văn hoá kinh doanh
Với t cách là một bộ phận hay một phơng diện của văn hoá nói chung, vănhoá kinh doanh đợc hình thành và phát triển song song với sự đi lên của xã hội.Các giá trị văn hoá này tồn tại lâu đời, đợc tích luỹ theo thời gian, trong mộtkhông gian cụ thể Nó đợc các chủ thể tinh lọc trong quá trình kinh doanh màhình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù Nh vậy, về kháchquan mà nói văn hoá kinh doanh là một phạm trù rất cụ thể, có nguồn gốc, cóchủ thể, có điều kiện phát triển Do vậy, nó vừa là hình ảnh biểu hiện của nôisinh thành, vừa phát triển trong sự tác động qua lại một cách trực tiếp của môi tr-ờng tự nhiên và xã hội, đó là điều kiện về tự nhiên, kinh tế – xã hội, quá trìnhlịch sử và nền văn hoá
Đã gần 1000 năm tuổi, Hà Nội - đất Thăng Long xa vốn là trung tâm kinh
tế, chính trị của Đại Việt, nay là quốc đô - trái tim của cả nớc đã hội tụ, kết tinh
và thanh lọc những tinh hoa văn hoá bốn phơng để tạo nên một nét rất riêng –một tính cách rất Hà Nội
Từ xa, tục ngữ đã có câu: “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến” đã chothấy sự phát triển mạnh mẽ trong hoạt động buôn bán ở Thăng Long xa và sangthế kỷ XIX Hà Nội ba sáu phố phờng chính là nơi hội tụ của các làng nghề,những ngời thợ tài hoa, những Kẻ chợ mà hình thành nên bản sắc văn hoá kinhdoanh Hà Nội
Nhân tố đầu tiên tác động hình thành nên nét đặc thù văn hoá trong kinh doanh của Hà Nội phải kể tới là điều kiện về tự nhiên.
Trong lịch sử, vua Lý Thái Tổ đã nhận định đất Thăng Long có nghĩa là
địa thế hình con rồng bay lên, “đất ấy bằng phẳng, cao ráo mà sáng sủa… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các
muôn vật cực kỳ giàu thịnh, đông vui, thật là trọng yếu để bốn phơng sum họp”
Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, là dải đất nằm trong (nội) hai consông (hà) là sông Hồng và sông Đáy có diện tích là 921km2 Hà Nội nằm ởtrung tâm đồng bằng Bắc Bộ, ở vị trí trong khoảng từ 20 25’ đến 21 23’ vĩ độ°25’ đến 21°23’ vĩ độ °25’ đến 21°23’ vĩ độBắc, 105 15’ đến 106 03’ kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên,°25’ đến 21°23’ vĩ độ °25’ đến 21°23’ vĩ độBắc Ninh, Hng Yên, Hà Tây và Vĩnh Phúc Hà Nội có khoảng cách dài nhất từphía Bắc xuống phía Nam là trên 50km và chỗ rộng nhất từ Đông sang Tây là30km Điểm cao nhất là núi Chân Chim (462m), nơi thấp nhất là quận Long Biên12m so với mặt nớc biển Vì thế, Hà Nội, một mảnh đất trù phú, nổi tiếng từ lâu
đời, có vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi để là một trung tâm chính trị, kinh tế, vănhoá, khoa học và là đầu mối giao thông quan trọng của cả nớc
Về khí hậu, Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc Bộ với đặc điểm làkhí hậu nhiệt đới gió mùa ấm, mùa hè nóng, ma nhiều và mùa đông lạnh, ma ít
Trang 26Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh năm tiếp nhận đợc lợng bức xạ mặt trờirất dồi dào và có nhệt độ cao Do chịu ảnh hởng của biển, Hà Nội có độ ẩm và l-ợng ma khá lớn Đặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệtcủa hai mùa nóng và lạnh Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và ma, từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau là mùa đông thời tiết khô ráo Giữa hai mùa đó lại có haithời kỳ chuyển tiếp là tháng 4 và tháng 10, do vậy mà Hà Nội có đủ 4 mùa Xuân,Hạ, Thu, Đông Khí hậu nh vậy nên Hà Nội lúc nào cũng rất đẹp và thanh bình
Về địa hình, Hà Nội bao gồm hai loại địa hình đồng bằng và trung du Bắc
Bộ Phần đồng bằng theo hai bờ sông Hồng và sông Đuống, sông Đáy là chủyếu Phần trung du gồm huyện Sóc Sơn và một phần huyện Đông Anh, kéo dài
về phía đồng bằng của núi Tam Đảo, vì vậy mà Hà Nội có độ nghiêng theo hớngBắc Nam ở trung tâm Hà Nội, thuộc vùng Bách Thảo có núi Nùng, còn gọi làLong Đỗ hay núi Khán tạo dáng vẻ thế đất cho Thăng Long xa
Về sông ngòi, Hà Nội nằm ở trung tâm của tam giác chảy sông Hồng.Sông Hồng dài 1183km từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống Đoạn sông Hồng qua
Hà Nội dài 40km từ huyện Đông Anh đến Thanh Trì Sông Đuống là con sônglớn thứ hai của Hà Nội, tách ra khỏi sông Hồng từ ngã ba Xuân Canh Ngoài haicon sông lớn này, Hà Nội có nhiều dòng chảy khác, tuy nhỏ và ngắn nhng gắnchặt với lịch sử lâu đời của Hà Nội nh sông Tô Lịch Đầm hồ Hà Nội cũng rấtnhiều, lớn là hồ Tây, nhỏ là hồ Hoàn Kiếm, hồ Thủ Lệ, hồ Bảy Mẫu, hồ Ba Mẫu,
hồ Thuyền Quang, hồ Kim Liên… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các
Về hệ thống giao thông, từ Hà Nội có thể đi khắp mọi miền đất nớc và rathế giới một cách dễ dàng bằng một hệ thông giao thông thuận tiện, có đủ cácphơng tiện và đờng giao thông: đờng hàng không, đờng bộ, đờng sắt, đờng thuỷ
Chính những lợi thế về d địa chí này đã tạo nên một Hà Nội rất sầm uất, lànơi hội tụ để giao lu buôn bán trong nớc và khắp bốn phơng quốc tế, xứng tầm làquốc đô của đất Việt
Lợi thế về điều kiện tự nhiên của Hà Nội đã tạo ra một phong cách sống
và làm ăn khác với Miền Trung và miền Nam Ngời Hà Nội đợc thiên nhiên u
đãi, khí hậu không khắc nghiệt cho nên không có tính cứng rắn, bền bỉ nh ngờimiền Trung Song Hà Nội cũng không có lối khoáng đạt đến mức nh ngời dânmiền Nam rất thuận lợi về điều kiện tự nhiên Cả bức tranh sống về Hà Nội toátlên một nét đặc sắc ở vẻ đẹp hết sức “nền nã, điềm đạm song rất năng động vàmạnh mẽ” Bởi những nếp sống văn hoá và kinh doanh của ngời Hà Nội là sự kếttinh của nhiều không gian văn hoá, nhiều phong cách làm ăn qua nhiều thời kỳlịch sử Nó tiếp thu một cách sáng tạo đến mức nhuần nhuyễn những tính cáchcủa nhiều nền văn hoá đến từ các vùng khác nhau trong cả nớc và là nơi hội tụgiao lu văn hoá quốc tế thông qua giao thơng với nớc ngoài Với điều kiện pháttriển kinh tế xã hội khác nhau, những nét văn hoá đợc sử dụng trong kinh doanhlại đợc đặc trng bởi tính cách nổi trội khác nhau vào mỗi thời kỳ lịch sử
Trang 27Hà Nội còn là nơi quy tụ những tráng lệ, những hào hoa của cả nớc, một
địa danh đã đợc tôn sùng từ lâu Với thế giới, Hà Nội còn là gơng mặt của dântộc có địa thế là mối giao lu thuận tiện, quy tụ cả những dòng sông và dòng ngời
đổ về Do đó, lẽ tất nhiên, mảnh đất “rồng bay” này trở thành nơi giao thoa, kết
tụ của các nền văn hoá ở nhiều vùng Tuy nhiên, trong sự đan xen lẫn lộn này,các tinh hoa không bị hoà lẫn, không bị phai nhạt mà nó ngày càng đợc chắt lọc,kết tinh làm cho cách suy nghĩ trong kinh doanh mang một tính cách văn hoá rấtriêng của Hà Nội “tính trung thực, có trớc có sau, coi trọng chữ tín”
Cũng chính từ địa thế nằm “nội giữa hai con sông”, Hà Nội đợc tô điểm vàbồi đắp với đầy đủ các làng nghề, đặc biệt là các nghề thủ công có tính điêuluyện và tinh xảo Đến nay, Hà Nội có khoảng 40 làng nghề nh: gốm sứ BátTràng, gỗ mỹ nghệ, dệt, may da, thêu thùa, kim hoàn… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các
Tóm lại, nếu xét trên phơng diện phong thuỷ thì Hà Nội có địa thế cao, vịtrí đẹp, nằm trong vùng có không gian lu chuyển tốt, sinh khí dồi dào, nằm nộigiữa hai con sông nhiều phù sa bồi đắp, trù phú Khí hậu điều hoà có bốn mùaxuân, hạ, thu, đông, không nóng quá, không lạnh quá Đây là một cửa ngõ củagiao thơng trong nớc và quốc tế đã tạo nên một truyền thống kinh doanh buônbán lâu đời mang đậm nét đặc thù “Hà Nội” khu biệt với các vùng địa phơngkhác
Văn hoá là sự tích tụ, tồn tại lâu đời, do đó, những giá trị văn hoá mà con ngời tạo ra luôn gắn với hoàn cảnh lịch sử nhất định
Từ thời kỳ này đến thời kỳ khác, những nét văn hoá ngời Hà Nội mangvào trong kinh doanh đợc bồi đắp qua thời gian hội tụ, giao thoa, kết tinh và pháttriển Cái tên gọi Hà Nội bắt đầu có từ năm 1831 thay vì tên gọi Thăng Long.Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô ra thành Đại La, đổi gọi thành này là ThăngLong Kinh đô ngày ấy ứng với quận Hoàn Kiếm và một phần của hai quận
Đống Đa, Hai Bà Trng ngày nay Sau đó địa giới Thăng Long dần mở rộng và tớicuối thế kỷ 18 thì tơng ứng với các quận nội thành bây giờ Năm 1802, nhàNguyễn lên ngôi, dời đô về Huế, Thăng Long không còn là kinh đô nữa và ít lâusau bị đổi gọi là phủ Hoài Đức Năm 1831, có một cuộc cải cách hành chính lớn,xoá bỏ các trấn, thành lập tỉnh Từ đó Tỉnh Hà Nội ra đời Năm 1883, Phápchiếm đóng Hà Nội, sang năm 1886 họ thành lập “thành phố Hà Nội”, ban đầuchỉ có 3km2
Sang đầu thế kỷ thứ 19, nhà Nguyễn đóng đô ở Huế (từ năm 1802 –1945) Thăng Long trở thành thành lỵ sở của tỉnh Hà Nội Nhng Hà Nội vẫn lànơi văn vật nhất đất nớc, là thành phố đứng đầu cả nớc về nghệ thuật, về côngnghiệp, về thơng nghiệp, về sự phong phú, về dân số và về văn hoá… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất cácKhi thựcdân Pháp đánh chiếm Việt Nam, chính ở thành Hà Nội, giặc Pháp đã vấp phảisức phản kháng mạnh mẽ của ngời dân Hà Nội Đỉnh cao của phong trào chính
là ngày 19/8/1945, Hà Nội khởi nghĩa lập chính quyền cách mạng, mở đầu choTổng khởi nghĩa trên phạm vi toàn quốc Ngày 2/9/1945, tại quảng trờng Ba
Trang 28Đình, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập, chính thức khai sinh
ra nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hà Nội là Thủ đô của đất nớc
Sau đó Hà Nội phải trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ Tháng 7/1976 tại kỳ họp đầu tiên Quốc hội khoá VI, Quốc hội thống nhấtquyết định lấy Hà Nội là thủ đô nớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trải qua bề dày lịch sử nh vậy, Hà Nội gần 1000 năm tuổi đã sống cùng
đất nớc, một thủ đô đang vơn mình bớc lên vũ đài lịch sử để gánh vác sứ mệnh làtrái tim của một quốc gia đã có truyền thống mấy ngàn năm dựng và giữ nớc.Những bàn tay, khối óc con ngời nơi đây đã cất công tạo dựng, tích luỹ và pháttriển những giá trị văn hoá, mang vào sự nghiệp làm giàu cho đất nớc từ đời nàyqua đời khác Chính điều đó đã tạo ra nét đẹp riêng có của Hà Nội , ngang tầmvới “sứ mệnh” của mình, “đi đầu trong mọi lĩnh vực”, từ xa tới nay mà khôngmột vùng nào giống đợc
Đợc sinh ra và sống cùng với dòng chảy văn hoá dân tộc, hoạt động kinh doanh ở Hà Nội chịu sự chi phối cũng nh có tác động trở lại với nền văn hoá dân tộc và cộng đồng dân c.
Nói đến văn hoá kinh doanh ở Hà Nội cũng có nghĩa là nói đến những
ph-ơng thức, cách thức kinh doanh của ngời Hà Nội đợc hình thành và phát triểncùng với lịch sử của dân tộc, bản sắc văn hoá riêng của Hà Nội Đất nớc đã 4000năm, nhng Hà Nội mới gần 1000 năm tuổi, vì thế, văn hoá kinh doanh ở Hà Nộingoài nét đặc trng riêng còn tồn tại sự kế thừa tinh hoa văn hoá dân tộc là lẽ đ-
ơng nhiên Điều đó có nghĩa là nền tảng văn hoá dân tộc, địa phơng và con ngời
có tác động to lớn tới hoạt động kinh doanh, hình thành nên văn hoá kinh doanhkiểu đặc thù của Hà Nội Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan thì đây là
sự tác động qua lại, tơng hỗ lẫn nhau Những giá trị văn hoá thì đợc đem vào vàchi phối hoạt động kinh doanh tạo nên lối làm ăn theo kiểu đặc trng vùng Songvăn hoá là những giá trị do con ngời sáng tạo ra, do vậy văn hoá là biểu hiện củatính cách, phẩm chất cũng nh nét đẹp của ngời tạo ra nó Bởi vậy mà sắc thái củacon ngời Hà Nội có tác động trực tiếp tới đặc điểm văn hoá kinh doanh ở đây.Trong quá trình kinh doanh, con ngời sáng tạo ra giá trị mới, quay lại bổ sung,chắt lọc và tích luỹ để lại những gì tinh hoa nhất
Không nằm ngoài khuôn khổ của văn hoá dân tộc, những nét văn hoá tiêu biểu trong kinh doanh ở Hà Nội đợc thể hiện ở đức tính cần cù, chịu khó, dễ tiếp thu cái mới, linh hoạt, thích ứng nhanh với sự biến đổi của tự nhiên và xã hội, có tính sáng tạo cao Bên cạnh đó, ngời dân có truyền thống sản xuất kinh doanh
theo quy mô kiểu gia đình, coi trọng tình nghĩa, tôn trọng tuổi tác Các tiêu chí
để đánh giá doanh nhân là đức và tài, trong đó đức là cơ sở quan trọng hàng đầu(Vì thế mà VTV3 đã có những chơng trình ca ngợi và tôn vinh “tâm và tài” củadoanh nhân) Lối ứng xử có đặc tính mềm dẻo, dễ hội nhập, trọng hiếu hoà dễkhoan dung; mến khách, rộng lòng đón bạn bốn phơng mong muốn hợp tác kinhdoanh cùng có lợi Những nét đẹp trong văn hoá kinh doanh còn biểu hiện ở việc
Trang 29xử lý các mối quan hệ rất nhạy cảm, tế nhị trong giao tiếp với tác phong giản dị,chân thật.
Tuy Hà Nội ngày nay có sự pha trộn nhuần nhuyễn của văn hoá tứ xứ
nh-ng nh-ngời ta có thể nhận thấy sự khác biệt tronh-ng bản sắc văn hoá Hà Nội Trớc đâycũng nh bây giờ, khi nhắc tới Hà Nội, sự cảm nhận đầu tiên vẫn là một thủ đôcủa tinh hoa, của văn minh, thanh lịch và của hoà bình Đất Thăng Long-Hà Nội
đã thu hút nhân tài bách nghệ bốn phơng, giao lu quốc tế thời sau thờng xuyên,phong phú đa dạng hơn thời trớc Cho nên Hà Nội vẫn là chốn kinh thành củanền văn hoá dân tộc, thịnh vợng hơn các vùng khác, tạo ra nền tảng vật chất cũngcao hơn cho sự phát triển của văn minh cũng nh lối sống Vì thế mà Hà Nội đẹp
và phồn vinh khong chỉ vì điều kiện tự nhiên, về bề dày lịch sử mà Hà Nội đẹp vìnhững nhân tài, nhân vật tài hoa, anh hùng, nữ kiệt, văn nhân đã đợc sinh ra ởvùng đất tứ linh này Chốn Kinh kỳ, Kẻ Chợ xa nay vẫn là nơi cạnh tranh, đọsức, đua tài, phải nghề tinh hoa, nghề cao mới trụ đợc Các danh nhân thì phần
đông là tứ xứ đổ về nhng họ đã hấp thụ đợc văn hoá kinh kỳ và làm nên chính sựnghiệp ở Thăng Long - Hà Nội Vì vậy, những giá trị nào còn đọng lại và pháttriển đợc thì đó chính là tinh hoa của văn hoá
Mặt khác, những ngời dân tứ xứ hội tụ về Hà Nội cũng đem theo nhữngphong tục, lề thói, nề nếp địa phơng rồi cũng đợc chắt lọc, nâng cao, trau chuốttrong khung cảnh văn hoá kinh kỳ mà thành ra nếp sống “thanh lịch Hà Nội”,những lề lối dở thì rơi rụng, bị mất dần đi theo thời gian
Từ ngàn xa, ngời Thăng Long đã có nếp sống có lịch có lề, có truyềnthống văn hoá đặc sắc tiêu biểu nhất và đại diện nhất cho ngòi Việt Nam từ tiếngnói, cách ăn mặc, ăn uống, rồi trong giao tiếp ứng xử đều mang một t chất thanhlịch hào hoa Nét thanh lịch ấy đã đợc hình thành trải qua bao đời, nó ăn sâu vàomáu thịt của ngời Hà Nội và cả những ngời từng sống và gắn bó với Hà Nội
Ngời Hà Nội thanh lịch trớc hết thể hiện ra ở tiếng nói của mình Đó là sựchuẩn xác rất cao, sự phát âm mẫu mực, trong đó câu từ ngữ nghĩa đợc sử dụngrất hoạt bát, lu loát, nhã nhặn, tế nhị mà ông cha gọi đó là cái duyên Với vốn từvựng phong phú, biết sử dụng đúng nơi, đúng chỗ, hợp cảnh hợp tình, ngời HàNội tạo nên một phong cách riêng vừa hào hoa vừa lịch lãm
“ăn Bắc, mặc Kinh” là câu ngạn ngữ nói về cách ăn mặc của ngời Hà Nội
Đó là cách ăn mặc thanh lịch, tao nhã, gọn gàng, chỉnh tề và nhất là không phôtrơng Điều đó cũng có nghĩa là nghề may mặc ở Hà Nội phát triển rất văn minh
Hà Nội là cái nôi sinh thành của các trung tâm thời trang dân tộc, các doanhnghiệp may mặc xuất khẩu với hiện đại ngày nay Đợc giao lu và hấp thụ vănhoá hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp thời trang Hà Nội có đợc nhiều cơ hội đểquảng bá hình ảnh dân tộc tới bạn bè quốc tế Một cuộc trình diễn “duyên dángViệt Nam” tháng 10 vừa qua đợc tổ chức thành công tại Sydney, Ôtxtrâylia,trong đó có sự góp mặt đa phần của các doanh nghiệp thời trang Hà Nội Các th-
Trang 30ơng hiệu thời trang dân tộc của cả nớc cũng tập trung chủ yếu tại Hà Nội, ví dụ
nh áo dài La Hằng, may Cao Minh… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các đã rất thành công
Trong ăn uống, ngời Hà Nội đặc biệt kỹ tính và sành sỏi, có những nét rất
khác biệt trong chế biến Cuốn “Hà Nội 36 phố phờng” của Thạch Lam viết về
cốm Hà Nội cũng thể hiện cái tinh tế trong phong cách ẩm thực của ngời HàNội Hay nói đến các gia vị và cách bầy biện các món ăn, ngời Hà Nội lựa chọnhết sức bài bản Vì vậy mà Hà Nội có riêng một khu phố ẩm thực rất độc đáo với
đày đủ các món đặc trng Ngoài ra, các khu phố cổ cũng đợc biết đến với rấtnhiều món ăn truyền thống, gắn liền với tên gọi của khu phố, chẳng hạn nh: Phởxào Bát Đàn, phở bò Lý Quốc S, Bún ốc Phù Đổng Thiên Vơng, chả cá Lã Vọng,bún thang Hàng Hành, bún riêu Bát Sứ, bánh cuốn Thanh Trì… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất cácKhách du lịch n-
ớc ngoài đến với Hà Nội không thể không biết đến những đặc thù ẩm thực đó, ítnhất là qua sổ tay du lịch Bên cạnh đó, một phong cách ẩm thực hiện đại, có sựchắt lọc của Hà Nội còn đợc thể hiện ở rất nhiều nhà hàng sang trọng nhng mang
đậm bản sắc dân tộc
Trong quan hệ với bạn bè, khách khứa, ngời Hà Nội bao giờ cũng rất nồngnhệt và niềm nở Với gia đình, nếp nhà đặc biệt đợc coi trọng, gia đình kỷ cơng,
có tôn ti trật tự mang đậm t chất con ngời Tràng An
Đúng nh Tiến sĩ Nguyễn Quốc Triệu, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành
phố Hà Nội đã nói “Ngời Hà Nội thanh lịch từ lời nói, cách giao tiếp và ứng xử,
đến cách ăn mặc, cách đi đứng ngoài đờng, cách sắp đặt trong nhà Ngời Hà Nội trọng danh dự và biết tôn trọng ngời khác, không làm những điều khuất tất, xấu hổ đến cha mẹ dòng họ Ngời Hà Nội trung thực, giàu nghĩa khí, coi trọng trí tuệ hơn tiền bạc và danh lợi Ngời Hà Nội có óc sáng tạo, nhạy bén với cái mới, tiếp nhận cái mới rồi biến nó thành cái của Hà Nội Ngời Hà Nội tài hoa
mà không khoe khoang, hiểu biết mà không kiêu, mềm mỏng mà kiên quyết, giản
dị mà không thô, thẳng thắn nhng không mất lòng nhau, ở nhà kính trên nhờng dới, ra đờng trọng già quý trẻ, với hàng xóm vui mừng cùng hởng, hoạn nạn cùng chia” Đây là một kết luận hết sức khách quan, sinh ra và lớn lên ở tỉnh Bắc
Ninh, khi sống và làm việc ở Hà Nội, ông Quốc Triệu đã có những đánh giá hếtsức bao quát và chính xác về con ngời Hà Nội Con ngời Hà Nội là vậy nên cungcách làm ăn cũng nh thế Bản sắc ấy lặn vào trong các hoạt động kinh doanh, tônlên vẻ đẹp và tăng thêm sự phồn vinh cho các doanh nghiệp Hà Nội ngày nay:
một phong cách hào hoa, lịch lãm nh“ ng trung thực, thẳng thắn, sáng tạo mà khiêm nhờng ”
Và trong con mắt của ngời nớc ngoài, Hà Nội thực sự khác biệt với các địaphơng khác Một ví dụ nh Tiến sĩ Tha-vi-pon Va-xa-va-cun, Thái Lan, Đại diệnkhu vực Đông Nam á, Hội đồng trao đổi giáo dục quốc tế đã nói: ” Thành phốcủa các bạn quả một lịch sử đáng tự hào Biết đến Hà Nội từ những năm đầu củathập kỷ 80, tôi đã bất ngờ xiết bao khi trở lại trong lúc nơi đây đang chuẩn bị chosinh nhật lần thứ 1000 Nếu nh thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm thơng
Trang 31mại đầy sức trẻ, thành phố Huế đặc sắc bởi từng là cố đô cổ kính, mảnh đất củathơ nhạc, thì Hà Nội trong mắt tôi hội tụ đủ cả những yếu tố trên, đúng nh cácbạn vẫn thờng nói là trái tim thơng mại của cả nớc”.
Bên cạnh khí chất, tác phong đó, ngời Hà Nội ngày nay rất hiện đại trongcách hởng thụ thành tựu của nền văn minh và sự phát triển của nền kinh tế, hamhọc hỏi, tích luỹ kiến thức Bởi thế nên các ngành công nghiệp phần mềm, cácdịch vụ cung cấp kiến thức, các khoá đào tạo chuyên môn, các ngành dịch vụ vuichơi giải trí ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao chất lợng phục vụ Càngkinh doanh lớn, càng đòi hỏi các doanh nghiệp trong các lĩnh vực ấy phải cótrình độ văn hoá cao mà không ồ ạt, không lộn xộn
Ngoài ra, Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá lớn của đất nớc,
là địa danh đợc nhiều ngời nớc ngoài đến làm việc, thăm quan, và du lịch Vì thế
mà ngòi Hà Nội luôn có ý thức dân tộc, niềm tự hào và kiêu hãnh về thủ đô, làngời đại diện cho dân tộc Điều đó là một nhân tố quan trọng tác động tới cácnhân tố văn hoá nói chung và văn hoá trong kinh doanh nói riêng Chữ “tín”cũng có nguồn gốc từ đây Các doanh nghiệp Hà Nội luôn tự hào là doanhnghiệp của thủ đô, họ cũng nhã nhặn, thanh lịch và điềm đạm nh cái hồn của HàNội vậy
Thực tế đó đã tạo nên những nét riêng trong tập tục cũng nh nề nếp làm
ăn, sinh sống Sản phẩm tinh hoa ấy đợc kết tinh từ những tính cách, phẩm chất
đa dạng từ khắp nơi trên mọi miền đất nớc rồi lại đợc nhào nặn, thanh lọc đi, đavào quá trình kinh doanh từ thời kỳ này sang thời kỳ khác, mỗi thời một vẻ Thếnên, Thăng Long Hà Nội không hổ danh là quốc đô của cả nớc
Nhìn chung, sự phân định các điều kiện tác động đến kinh doanh ở Hà Nộichỉ là tơng đối, vì các nhân tố đó luôn luôn tồn tại song song, tác đọng tuỳ thuộc
vào nhau và cùng nhau phát triển Trong đó không thể không nói tới điều kiện kinh tế - xã hội, nhân tố tác động tơng đối lớn tới hoạt động kinh doanh ở Hà Nội.
Ngày hôm nay, Hà Nội cũng nh cả nớc đang mở rộng cửa đón bạn bètrong, ngoài nớc đến thăm và làm ăn Hà Nội đổi mới từng ngày Nhiều dự án
đầu t, nhiều công trình mới dựng Hà Nội cùng cả nớc bớc vào công nghiệp hoá,hiện đại hoá nhng vẫn lu giữ bản sắc từ ngàn xa Ngời Hà Nội đang tìm về điểm
xuất phát của mình từ chính cái tên “Hà Nội ba mơi sáu phố phờng” Buôn có
bạn, bán có phờng Ba sáu phố phờng xa chính là nơi hội tụ của ngời Kẻ Chợ cócùng một nghề nghiệp, một năng khiếu làm ăn
Vào thế kỷ thứ 17-18, các phờng nghề phát triển khá nhanh, nhất là cácnghề thủ công mỹ nghệ Triều đình Lê - Trịnh muốn tu bổ hoàng thành đã tuyển
mộ những ngời thợ tài hoa khắp đất nớc về Thăng Long, họ ở lại sinh sống vàhành nghề trên các phờng phố: thợ kim hoàn phố Hàng Bạc, thợ Khảm phố HàngKhay, thợ thêu phố Hàng Trống… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất cácVà cùng với những phờng thợ là sự ra đời củacác sản phẩm, Hàng Đào bán tơ lụa, Bát Sứ bán đồ sành sứ,… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất cácMột số nghề có tên
Trang 32tuổi nổi tiếng vẫn tồn tại cho đên bây giờ Nghề gốm Bát Tràng có từ thời Lý,nghề làm giấy đỏ vùng Bởi là sản phẩm riêng của đất Kinh kỳ, cung cấp giấycho cả nớc, nay vẫn là đặc sản có tính nghệ thuật của Hà Nội dùng để in tranhTết Thế kỷ 17 ở Hà Nội đã định hình những trung tâm dệt lớn nh Nghi Tàm,Vạn Phúc, Thuỵ Chơng… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các Nghề thêu phát triển từ thời Lý đến nay còn là mặthàng xuất khẩu quan trọng, đợc bạn bè thế giới a chuộng.
Nghề ở Hà Nội có nét đẹp riêng, tài hoa, tinh xảo Điêu luyện trong taynghề, giữ gìn tín nhiệm về chất lợng hàng hoá là đặc điểm nổi bật Đó là vì HàNội trải qua gần nghìn năm, đã hội tụ nhiều nhân tài vật lực khắp mọi miền đấtnớc Hà Nội tiếp thu mọi tài hoa và chắt lọc, phát triển Ngạn ngữ đã có câu:
“Khéo tay hay nghề, đất lề kẻ chợ” là ngợi ca cung cách làm ăn của Hà Nội.
Ngày nay, Hà Nội đợc đánh giá là một trong hai đầu tàu kinh tế của cả
n-ớc Tháng 10/2004, Hà Nội thành phố hoà bình đợc vinh dự là địa điểm tiếnhành Hội nghị Thợng đỉnh á - Âu lần thứ năm (ASEM5), một sự kiện mang tầmvóc quốc tế lớn càng tôn vinh vị thế của thủ đô Những năm gần đây, nền kinh tế
Hà Nội có nhiều khởi sắc Với nhiều chính sách, cơ chế thông thoáng, Hà Nội đãtạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc đủ các thành phần kinh tế hoạt động.Trong vòng năm năm trở lại đây, tỷ lệ tăng trởng GDP liên tục tăng ở mức 10%/năm, công nghiệp tăng 15%, tỷ lệ huy động các nguồn lực phát triển kinh tế –xã hội hàng năm tăng 16-17%, trong đó thu hút vốn đầu t nớc ngoài tăng 20-25%/năm Hà Nội đã xây dựng đợc 5 khu công nghiệp tập trung và hàng chụccác khu công nghiệp vừa và nhỏ, với đầy đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xây dựngnhiều nhà máy lớn hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy,
điện tử, viễn thông, chế tạo thép xây dựng
Điều đáng nói là nền kinh tế Hà Nội phát triển rất lành mạnh, ổn định,không có những vụ việc phức tạp xảy ra, góp phần thay đổi diện mạo thủ đô
Điều đó góp phần tạo tâm lý kinh doanh ổn định cho các doanh nghiệp và thuhút họ đầu t thêm mới vào các lĩnh vực kinh doanh mới mẻ, yên tâm tha hồ thảsức mà sáng tạo Cụ thể là trong những năm qua, khu vực kinh tế t nhân của HàNội phát triển rất nhanh Hơn 10 năm trở lại đây có 24.500 doanh nghiệp đợcthành lập với vốn đăng ký là 39.000 tỷ đồng, nếu kể cả vốn bổ sung tổng đầu tcủa khu vực dân doanh thì sẽ là 62.000 tỷ đồng Khu vực dân doanh đầu t trải dàitrên các lĩnh vực kinh doanh kể cả ngành đòi hỏi vốn lớn và đòi hỏi kỹ thuậtcông nghệ cao nh cán thép, chế tạo tàu xuồng, xe máy, máy tính điện tử… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các Hiệnnay, chính quyền đang tìm cách đổi mới doanh nghiệp thuộc khu vực của mình,dồng thời kiến nghị Trung ơng đổi mới sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà n-
ớc ở địa phơng và sau khi có đợc điều đó thì sẽ tạo nên một cơ chế phát triển mớicho cả khu vực t nhân, đầu t nớc ngoài và khu vực nhà nớc
Hà Nội hội tụ hầu hết thiên thời - địa lợi – nhân hoà, tạo điều kiện lớncho phát triển kinh tế Hà Nội là nơi tập trung trí tuệ, thông tin, tầm nhìn Hà Nội
có số viện và trờng lớn nhất cả nớc với trên 300 vụ, viện nghiên cứu từ cấp bộ trở
Trang 33lên, khoảng trên 40 trờng đại học, số ngời làm khoa học chiếm trên 50% cả nớc.Thêm vào đó, Hà Nội có hai lớp doanh nhân, một lớp doanh nhân đã sản xuất từthời bao cấp, lớp này đã lớn tuổi, có chiến lợc phát triển kinh tế thận trọng hơn,chín chắn hơn; một lớp doanh nhân trẻ nhiều ngời đợc đào tạo ở nơc ngoài, kiếnthức vững vàng, mạnh dạn trong xây dựng chiến lợc phát triển Đây sẽ là các lựclợng đa nền kinh tế đi lên, tạo ra một sân chơi trong kinh doanh công bằng, bàibản.
Hơn nữa, Hà Nội hiện nay nằm trong vùng trung tâm tam giác để pháttriển quan hệ kinh tế, kinh doanh quốc tế Hà Nội có vị trí trọng yếu, nằm phíaNam Trung Quốc, là địa bàn mà các nớc Mỹ, Nhật đều muốn thông qua để làmbàn đạp để thâm nhập vào thị trờng Trung Quốc Vì thế, hiện tại và tơng lai gần
Hà Nội sẽ trở thành trung tâm kinh tế năng động trong khu vực, là cơ hội chokinh doanh phát triển
Với sức sống dẻo dai, với lòng yêu cái đẹp đã đợc hun đúc từ nhiều đời,
Hà Nội hôm nay đang phát huy khả năng sáng tạo để hội nhập và luôn giữ gìn
Hà Nội mãi mãi là ngàn năm thanh lịch
Sự phát triển kinh tế đem lại sự phát triển toàn diện của mọi mặt đời sốngxã hội thủ đô đến năm 2020 Ngời dân Hà Nội sẽ đợc hởng phúc lợi xã hội đầy
đủ với chất lợng sống cao Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản đợc xây dựng
đồng bộ, hiện đại Cùng với quá trình phát triển kinh tế là quá trình xây dựngcon ngời Hà Nội thanh lịch, văn minh, hiện đại và giữ gìn phát huy bản sắc vănhiến nghìn năm Thăng Long Những giá trị văn hoá ấy sẽ không chỉ thể hiện quacốt cách, trong ứng xử của mỗi ngời mà sẽ đợc nâng tầm thành văn hoá lãnh đạo,văn hoá quản lý, văn hoá kinh doanh, văn hoá giao tiếp… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các Bản sắc văn hoáThăng Long - Hà Nội sẽ thấm sâu, lan toả để trở thành cội nguồn, động lực cho
sự phát triển của cả nớc
2.2 Văn hoá kinh doanh ở Hà Nội trớc đổi mới
Văn hoá kinh doanh Hà Nội trớc đổi mới có thể phân chia tơng đối ra làmhai giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất - văn hoá kinh doanh Hà Nội từ năm 1945 trở về trớc
Vào năm 1010, vua Lý Công Uẩn dời đô ra Đại La, đổi gọi thành này làkinh đô Thăng Long Từ đó, Thăng Long trở thành trung tâm chính trị của nớc
Đại Việt – đồng thời cũng là trung tâm kinh tế và thơng mại của đất nớc Sangthế kỷ 17, Thăng Long còn đợc gọi là Kẻ Chợ, điều này chứng tỏ nơi đây đã trởthành một trung tâm buôn bán rất sầm uất, câu tục ngữ: “Thứ nhất Kinh kỳ, thứnhì Phố Hiến” phần nào cũng cho chúng ta thấy sự phát triển của thơng nghiệp ởThăng Long thời bấy giờ Đến thế kỷ thứ 19, những tên phố Hàng Đào, HàngGai, Hàng Buồm, Hàng Bạc… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các xuất hiện trong ba mơi sáu phố phờng lại càngkhẳng định sự phát triển mạnh mẽ trong hoạt động thơng nghiệp trên đất Hà
Trang 34thành Đi liền với đó là bản sắc kinh doanh độc đáo, rất riêng của Hà nội cũng
đ-ợc hình thành và phát triển
Ba mơi sáu phố phờng - nơi hội tụ của “ngời Kẻ Chợ” - những ngời thợ tàihoa trên khắp đất nớc, họ có nghề nghiệp, có năng khiếu, có những phong cáchkinh doanh đặc trng cho các vùng miền cùng về hội tụ, gặp gỡ, đọ sức, đua tài,
và phải tài cao, nghệ tinh mới trụ lại, mới phát triển đợc ở Thăng Long – HàNội Do đó, một điều đặc biệt, rất đáng chú ý của Hà Nội là Hà Nội không tiếpnhận và bao chứa tất cả mọi thứ đợc mang đến, mà Hà Nội thanh lọc đi, đểnhững gì tinh tuý nhất, đặc sắc nhất, lắng đọng lại, hình thành nên văn hoá kinhdoanh Thăng Long – Hà Nội Hay nói cách khác, những danh nhân, những th-
ơng nhân từ khắp nơi trên đất nớc cùng hội tụ về Thăng Long, đợc hấp thụ vănhoá Kinh kỳ, đợc nâng cao, trau chuốt trong khung cảnh văn hoá Kinh kỳ mà
hình thành ra nếp sống “thanh lịch”, tạo sự nghiệp với phong cách kinh doanh
độc đáo ở Thăng Long – Hà Nội
Vào thời điểm này, triết lý lớn nhất trong văn hoá kinh doanh của ngời HàNội là “Khôn ngoan chẳng lọ thật thà” Ngời Hà Nội xa luôn luôn nhắc nhautrong buôn bán phải giữ gìn chữ tín, không lừa đảo, không giả dối, không bánhàng kém phẩm chất, không bán hàng giả Đó là chữ tín trong kinh doanh đốivới xã hội và đối với khách hàng Chỉ cần một sơ sót nhỏ, chữ tín của cửa hàng
sẽ bị giảm sút, khách hàng sẽ nghi ngờ và tẩy chay không mua hàng đó nữa Nhvậy, chữ tín trong kinh doanh có nhiều khía cạnh, song chủ yếu vẫn là tôn trọngmình và tôn trọng khách hàng – bảo đảm tính nhân văn trong kinh doanh Mộtcửa hàng buôn bán vải vóc tơ lụa ở Hàng Đào mấy chục năm vẫn giữ đợc tín
nhiệm với nhiều thế hệ khách hàng, h ng tơ lụa, hay h ng àm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr àm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr nhuộm thỡ mười năm,thậm chớ cả trăm năm sau vẫn giữ đợc m u sắc Nhuộm m u điều vẫn l m uàm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr àm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr àm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr àm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr
điều, nhuộm m u lam vẫn l m u lamàm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr àm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr àm tôn vinh tên tuổi của quốc gia đó trên thị tr … Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các Nghề làm giấy ở vùng Bởi xa, là sản phẩm riêng có của đất Kinh kỳ, cung cấp giấy cho cả nớc, đã tồn tại ngót nghétgần một ngàn năm mà vẫn giữ nguyên đợc chất lợng Có thể nói, chữ tín trongvăn hoá kinh doanh – hay tính bảo đảm chất lợng đến cùng về chất lợng sảnphẩm của ngời Hà Nội xa là nội dung xuyên suốt quá trình sản xuất và buônbán, tạo ra nét đặc trng trong kinh doanh của “ngời Kẻ Chợ”
Một nét đặc sắc nữa trong văn hoá kinh doanh của ngời Hà Nội là các sảnphẩm của Hà Nội dờng nh đợc thổi vào trong đó cái hồn của nghệ thuật, cái độc
đáo của văn hoá Kinh kỳ, cái mong muốn vơn đến sự hoàn thiện và hoàn mỹtrong “chất” của ngời Tràng An nên các sản phẩm Hà Nội có những đặc trng,không giống bất kỳ một sản phẩm cùng loại nào của các vùng miền khác Ví dụ,khi ta thởng thức phở “Cồ Cử”, vị giác mà ta có đợc rất khác lạ so với mùi vị củaphở “Nam Định”, phải chăng trong quá trình chế biến, ngời thợ Hà Nội đã thổivào đó nét độc đáo và thanh lịch của ngời Hà Nội? Để rồi ngời ăn khi thởng thức
Trang 35cảm nhận đợc trong đó một cảm giác ngọt ngào, đậm đà, sâu lắng rất Hà Nội.Hay nh đôi tay khéo léo, điêu luyện, tinh xảo và tao nhã của ngời thợ tranh HàngTrống đã tạo nên những bức tranh với đờng nét, cách phối màu rất đẹp, rất riêng
so với tranh Đông Hồ Với những điều khác biệt đó, những sản phẩm của Hà Nộitrải qua không gian và thời gian vẫn trờng tồn những giá trị bất diệt, rất đặc biệt
Trong kinh doanh của ngời Hà Nội xa, việc tuân thủ “lệ làng”, các quy
định pháp luật của nhà nớc là rất chặt chẽ, mọi vấn đề liên quan đến cá nhân hayxã hội đều có lệ làng và pháp luật điều hoà, giải quyết Với câu châm ngôn
“buôn có bạn, bán có phờng”, cạnh tranh lành mạnh đợc đặt lên hàng đầu, bất cứ
ai vi phạm đều bị cả cộng đồng lên án Đây là việc làm rất hợp quy luật vì chúng
ta thấy rằng, quy mô của các phờng, các phố nghề hay các làng nghề Hà Nội xa
là bé nhỏ và manh mún, đây chủ yếu là những xởng sản xuất ra các sản phẩmphục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của nhân dân – từ Kẻ Chợ phần nàocũng toát lên ý nghĩa này, nên nếu các thơng nhân không quây quần, không hội
tụ, không đoàn kết với nhau, không có môi trờng cạnh tranh lành mạnh thìnhững khó khăn gặp phải sẽ không có đợc biện pháp vẹn toàn để giải quyết Vàmặc dầu Kẻ Chợ là một thơng trờng lớn nhng con ngời vẫn giữ đợc lòng nhânhậu – “thơng ngời nh thể thơng thân”, dân tứ chiếng quần c mà hoà đồng, nơngtựa vào nhau để cùng sinh tồn, cùng phát triển Việc tham gia các hoạt động xãhội, việc làm từ thiện không phải lúc nào cũng nhằm mục đích quảng cáo,khuyếch trơng mà thực sự xuất phát từ tấm lòng nhân hậu của ngời Hà Nội.Ngoài ra, trong ứng xử, ngời Hà Nội luôn nhẹ nhàng, nho nhã từ việc sử dụngngôn từ đến lời nói, chính cách giao tiếp này đã tạo nên ấn tợng không thể nàoquên đối với khách hàng, để họ chỉ cần mua một lần mà nhớ mãi – phải chăng
đây chính là nghệ thuật kinh doanh để lôi cuốn và giữ khách hàng ?!
Nh vậy, mặc dù quy mô sản xuất và buôn bán của ngời Hà Nội trớc đâychủ yếu là nhỏ lẻ, chủ nhiều khi cũng đồng nghĩa là những ngời thợ nhng nhữngbản sắc trong văn hoá của ngời kinh doanh Hà Nội đã góp phần không nhỏ vàoviệc tạo nên những phẩm chất của tinh hoa Hà Nội Trớc hết, đó là chất thôngminh và điệu nghệ, rồi đến là chất thanh cao, lịch lãm mà ý nghĩa bên trong làlòng tôn trọng các giá trị tinh thần, các đạo lý văn hoá trong làm ăn, ứng xử cũng
nh sinh hoạt hàng ngày, dù lúc đói hay lúc no cũng không pha tạp, không xô bồ,
“Khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ Chợ” là để ngợi ca cung cách làm ăn này của ngời
Trang 36Thậm chí trong thời kỳ 1945 – 1954, ngời dân còn thực hiện những biện
pháp phá hoại kinh tế để làm suy yếu lực lợng của kẻ thù, nh các phong trào
“v-ờn không nhà trống”, “tiêu thổ kháng chiến”… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các Đồng thời, giới công thơng HàNội đã đóng góp rất nhiều cho sự chi tiêu của Chính phủ mới và xây dựng nền tàichính non trẻ của quốc gia vào thời kỳ đầu nớc nhà độc lập Những tấm gơng nh
cụ Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện, Lợi Quyền, Ngô Từ Hạ… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các đã ủng hộ hàngtrăm lạng vàng để hởng ứng lời kêu “Tuần lễ vàng” cho ngân sách quốc gia, haythậm chí cụ Bô còn hiến cả ngôi nhà số 48 Hàng Ngang của mình để làm cơ sởcho cách mạng Do vậy, văn hoá trong kinh doanh Hà Nội thời kỳ này thể hiệnchủ yếu thông qua đạo đức của giới thơng nhân trong việc thể hiện trách nhiệmxã hội, trong cách ứng xử khi tổ quốc gặp khó khăn, trong tinh thần yêu nớc, sẵnsàng hy sinh tất cả những tài sản có đợc qua nhiều thế hệ vì mục tiêu chung, caocả của đất nớc
Sang đến thời kỳ 1954 – 1986, khi miền Bắc bớc vào xây dựng Xã hộichủ nghĩa, cả nớc đấu tranh chống Mỹ xâm lợc và giải phóng miền Nam, khi ấytiêu chuẩn của văn hoá kinh doanh là chấp hành tốt chính sách thơng nghiệp củaNhà nớc phục vụ cho giải phóng miền Nam Từ góc độ kinh tế vĩ mô, nền kinh tếnớc ta đợc quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Trong cơ chế này,mệnh lệnh của nhà nớc là tối cao, tập trung, khép kín, do vậy, bản chất của kinhdoanh và cơ chế thị trờng không đợc thực thi Nền kinh tế chỉ tồn tại hai thànhphần: Kinh tế nhà nớc và kinh tế tập thể Trong thời điểm này, các ngành nghề,các phơng thức kinh doanh truyền thống của Hà Nội cũng phải quy theo mệnhlệnh của nhà nớc, các nguyên liệu đầu vào và các sản phẩm đầu ra đợc nhà nớccung cấp và bao tiêu, do đó mà các phờng sản xuất hay các làng nghề đều đợc tổchức theo mô hình hợp tác xã - không có những cơ hội kinh doanh, không cần
có mục tiêu và triết lý kinh doanh định hớng Việc này dẫn đến, xuất hiện các thịtrờng không chính thức, hay còn đợc gọi là “chợ đen” hay “khu vực kinh tếngầm” Những hoạt động kinh doanh tại các chợ đen này cũng có “tôn chỉ” làm
ăn riêng nh: “Tiền là tiên là phật, là sức bật cuộc đời, là tiếng cời tuổi trẻ… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các”, đó
là thứ triết lý kinh doanh thực dụng cực đoan và tiêu cực Tuy nhiên, bên cạnh đóvẫn tồn tại những tầng lớp thơng nhân Hà Nội cố gắng giữ gìn những truyềnthống tốt đẹp của Hà Nội nhng cũng rất khó khăn và vất vả, vì công việc trớc mắthàng ngày của họ là phải toan tính, mu sinh cho cuộc sống bản thân và gia đình.2.3 Thực trạng văn hoá kinh doanh ở Hà Nội từ khi đổi mới đến nay
2.3.1 Nhận thức về văn hoá kinh doanh của các doanh nhân Hà Nội
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, nền kinh tế nớc tachuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thịtrờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa với các mục
tiêu cơ bản là “dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Sự
kiện này không chỉ tạo ra những bình diện mới, những sắc màu mới cho đất nớc
Trang 37mà nó còn giúp cho kinh doanh nói chung của Hà Nội hay những giá trị truyềnthống tốt đẹp cùng với những yếu tố hiện đại, học hỏi đợc từ bên ngoài của Vănhoá kinh doanh Hà Nội nói riêng bớc sang một trang mới.
Nếu ta coi văn hoá kinh doanh là tất cả các giá trị vật chất và tinh thần màchủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh của mình thì giới doanhnhân Hà Nội trong thời kỳ đổi mới đã tạo nên đợc những giá trị chất và lợng rất
Về mặt chất – hay những biểu hiện của văn hoá kinh doanh của Hà Nộithì xuất hiện song song cả những mặt tích cực và tiêu cực Sở dĩ có điều này là
do trong quá trình hội nhập và mở cửa, Hà Nội nói riêng và cả nớc nói chung đãtiếp thu đợc không ít những thành tựu của nhân loại về công nghệ, kinh tế, vănnghệ… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các song đi liền với nó là những giá trị quan, phong cách sống thực dụng,chủ nghĩa cá nhân… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các cũng đợc du nhập và phát triển vào Việt Nam Trong bốicảnh chung đó, văn hoá trong kinh doanh của ngời Hà Nội cũng đang tồn tạinhững nét đẹp và những điều không mong muốn là tất yếu
Để phục vụ cho nhu cầu của nền kinh tế, ngời ta quay cuồng với kinhdoanh, với buôn bán Điều này đã làm cho các phố cổ Hà Nội ngày nay đã thay
đổi rất nhiều Đây đó mọc lên những ngôi nhà cao tầng, nhà hàng, khách sạn, vũtrờng với những biển hiệu nhấp nháy đèn màu, tiếng Việt xen lẫn tiếng nớcngoài Nhiều phố ngời ta không còn làm nghề nh tên gọi vốn có của nó nữa màchạy theo các thị hiếu, yêu cầu của nền kinh tế thị trờng Các phố còn giữ đợcnghề là rất ít Và mặc dù các phố nghề còn giữ đợc là không nhiều nhng dù sao
điều này cũng chứng minh cho một sức sống trờng tồn của những nghề truyềnthống của ông cha để lại, góp phần giữ gìn nét văn hoá cổ của Hà Nội, làm nênmột nét riêng của phố cổ Hà Nội, làm nên chất riêng của đất Thăng Long ngànnăm văn hiến
Ngời Hà Nội vẫn luôn tự hào là ngời Tràng An thanh lịch với tiếng nói vàphong cách ăn mặc tao nhã, gọn gàng, chỉnh tề, không phô trơng Trong giaotiếp ứng xử nét thanh lịch thể hiện ở thái độ hoà nhã, tôn trọng ngời khác và tôntrọng mình Nhng với tác động của kinh tế thị trờng Nét đẹp xa đang bị phá vỡnhiều mảng Tới chợ, ngời kinh doanh thi nhau bắt chẹt khách, nói thách, bán
Trang 38hàng kém chất lợng Tới các doanh nghiệp nhà nớc là bắt gặp ngay sự cửa quyềnhoặc thiếu trách nhiệm của các nhân viên, các cán bộ Đến tận cuối những năm
1990, vấn đề ô nhiễm môi trờng trong sản xuất vẫn cha đợc quan tâm thích đáng
Trớc những điều rất đáng lo ngại đó, các doanh nghiệp Hà Nội trong thờigian qua đã nhìn nhận lại vấn đề Họ bắt đầu đi tìm hiểu thế nào là văn hoá kinhdoanh và tiến hành xây dựng những bản sắc riêng cho mình trong kinh doanh, từ
đó là cơ sở hớng tới sự phát triển hài hoà lợi ích của bản thân doanh nghiệp và xãhội, hớng tới sự phát triển bền vững Trong tháng 9 năm 2005, các thành viêncủa đề tài đã tiến hành cuộc khảo sát về văn hoá kinh doanh trong các doanhnghiệp của Hà Nội dới hình thức phát phiếu điều tra cho 60 doanh nghiệp đanghoạt động trên địa bàn Hà Nội Trong đó có 35 doanh nghiệp nhà nớc và công ty
cổ phần, 12 doanh nghiệp t nhân và 13 doanh nghiệp liên doanh với nớc ngoài.Kết quả thu đợc từ điều tra trực tiếp cộng với việc nghiên cứu từ sách, báo, tàiliệu, bớc đầu cho thấy nhận thức của các doanh nghiệp Hà Nội về văn hoá kinhdoanh thể hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, nhận thức về các hình thức biểu hiện của văn hoá kinh doanh.
Qua sự điều tra thực tế của chúng tôi khi thực hiện đề tài thì trong 62doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội đợc hỏi, đã có tới 66% số doanhnghiệp cho rằng: Văn hoá kinh doanh là một nội dung tổng hợp của triết lý kinhdoanh, đạo đức kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp, văn hoá doanh nhân, nhữngchuẩn mực giao tiếp ứng xử và việc thực hiện các trách nhiệm xã hội Điều nàycho thấy các doanh nghiệp Hà Nội đã có nhận thức khá đầy đủ và sâu sắc về nộidung khái niệm văn hoá kinh doanh, về các nhân tố cấu thành văn hoá kinhdoanh Đây là một thuận lợi của các doanh nghiệp: từ nhận thức đúng đi đếnhành động đúng: xác định đầy đủ các yếu tố để xây dựng văn hoá kinh doanhcủa doanh nghiệp mình ở đây cũng thể hiện một bớc tiến lớn trong nhận thức vềvăn hoá kinh doanh so với thời kỳ đầu mới chuyển sang kinh tế thị trờng Thời
kỳ đó, các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng do
ảnh hởng nặng nề của văn hoá xã hội Việt Nam từ ngàn đời nay kỳ thị với kinh
doanh, với cách nhìn “vi nhân bất phú, vi phú bất nhân” nên đồng nhất kinh
doanh với gian trá, phi đạo đức do đó không thừa nhận nhân tố văn hoá trongkinh doanh Về sau, nhận thức có tiến triển lên một bớc, thừa nhận kinh doanhphải có văn hoá, tuy nhiên hiểu văn hoá kinh doanh theo nghĩa rất hẹp: đó chỉ làvấn đề giao tiếp, ứng xử trong kinh doanh
Tuy nhiên trong 5 nhân tố cấu thành văn hoá kinh doanh thì đa số cácdoanh nghiệp vẫn dành u tiên cho đạo đức kinh doanh chiếm 31%, trong khi triết
lý kinh doanh – hạt nhân của văn hoá kinh doanh – thì đợc đánh giá rất khiêmtốn (chỉ chiếm 18%) Phải chăng việc truyền bá nội dung về triết lý kinh doanh ởcác doanh nghiệp cha đợc quan tâm thích đáng? Từ đây đặt ra vấn đề cần tích
Trang 39cực tuyên truyền, giảng dạy sâu rộng hơn nữa về triết lý kinh doanh cho cácdoanh nghiệp Hà Nội.
Thứ hai, nhận thức về vai trò của văn hoá kinh doanh.
67% doanh nghiệp đợc hỏi cho rằng hình ảnh của họ đợc công chúng biếttới nh là một doanh nghiệp hớng tới sự phát triển bền vững, và gần 60% doanhnghiệp cho rằng văn hoá kinh doanh có vai trò to lớn trong việc hớng doanhnghiệp đến sự phát triển bền vững Đồng thời 56% doanh nghiệp cho rằng vănhoá kinh doanh có vai trò to lớn trong việc cạnh tranh của doanh nghiệp trên th-
ơng trờng, 46% doanh nghiệp cho rằng văn hoá kinh doanh có vai trò to lớntrong việc mở rộng… Các công trình này ít nhiều cũng đã đề xuất các 36% doanh nghiệp cho rằng văn hoá kinh doanh là mộtnhân tố quan trọng để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Có thể nói trên đây là những đánh giá rất khả quan về vai trò của văn hoákinh doanh trong hoạt động doanh nghiệp Vấn đề không phải ở chỗ nó có vaitrò hay không (nh tranh luận ở thời kỳ đầu chuyển sang cơ chế thị trờng) mà vấn
đề là ở chỗ vai trò đó đợc thể hiện và phát huy vai trò đó nh thế nào? Đáng tiếc
là sự thể hiện vai trò văn hoá kinh doanh trong thực tế các doanh nghiệp cha cao:chỉ có 28% doanh nghiệp đợc hỏi cho rằng hình ảnh của họ đợc công chúng biếttới “nh là một doanh nghiệp có nền văn hoá mạnh”, tới 80% doanh nghiệp chorằng “do sản phẩm dịch vụ tốt”, quan niệm này chứng tỏ doanh nghiệp chú ý đếnchất lợng, mẫu mã sản phẩm, đến vấn đề cạnh tranh trong kinh doanh Để đạt lợinhuận cao, ngời ta cố ép giá thành, nâng giá bán bằng cách chèn ép, khai thác tối
đa nhân công và tìm cách dụ khách hàng Rõ ràng yếu tố văn hoá cha đợc đềcao
Thứ ba, nhận thức về nét đặc trng văn hoá kinh doanh Hà Nội.
Mang dấu ấn văn hoá dân tộc, nhng lại khúc xạ“ ” bởi các yếu tố đặc thù
về lịch sử, văn hoá, truyền thống, điều kiện kinh tế – xã hội; chắc chắn văn hoákinh doanh Hà Nội sẽ có những sắc thái riêng Nhận thức đợc những nét đặc trngcủa văn hoá kinh doanh Hà nội sẽ giúp tìm đợc các giải pháp khả thi, thiết thựccho xây dựng văn hoá kinh doanh Hà Nội Vì thế nhóm nghiên cứu muốn tìmhiểu nhận thức của các doanh nghiệp Hà Nội về vấn đề này để tham khảo Kếtquả xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp là:
Hiệp tác, liên kết chặt chẽ
Thanh lịch, hào hoa
Tinh xảo điêu luyện
Thận trọng nề nếp và cứng rắn bền bỉ
Năng động mạnh mẽ
Giàu thẩm mỹ, yêu cái đẹp