Vậy việc viết các số đo độ dài, khối lượng, diện tích dưới dạng số thập phân ở chương trình Toán 5 được hình thành dựa vào đâu, dựa vào phần kiến thức nào?. Nhiệm vụ của cá nhân - Tìm hi
Trang 1I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn Toán ở Tiểu học sẽ rèn luyện cho học sinh (HS) phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề Toán sẽ bồi dưỡng cho các em tính chính xác, đức tính trung thực, cẩn thận và hăng say lao động bằng trí óc Toán góp phần phát triển trí tuệ, trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, nhanh nhẹn, sáng tạo Hình thành cho các em cách nhìn sự vật hiện tượng trong thực tiễn theo quan điểm duy vật biện chứng Từ đó giúp các
em phát triển toàn diện nhân cách con người Trong chương trình Toán 5 các mạch kiến thức: Số học, Đại lượng và đo đại lượng, các yếu tố hình học, Giải toán có lời văn được sắp xếp hết sức hợp lý, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi
HS tiểu học Các phần kiến thức thể hiện lôgíc, phần kiến thức trước hỗ trợ, làm nền tảng cho phần kiến thức sau Điển hình trong Số học 5, ngoài phần số
tự nhiên được học từ các lớp dưới còn có các phần kiến thức mới như: hỗn số
và số thập phân Trong phần số thập phân có dạng toán: "Viết các số đo đại lượng dưới dạng số thập phân" Đây là phần kiến thức không khó nhưng HS còn hay "nhầm lẫn" Việc dạy kiến thức toán học là việc truyền thụ kiến thức theo quy trình, lập luận chặt chẽ và việc dạy dạng toán viết các số đo đại lượng dưới dạng số thập phân cũng nằm trong quy trình đó
Vậy việc viết các số đo độ dài, khối lượng, diện tích dưới dạng số thập phân ở chương trình Toán 5 được hình thành dựa vào đâu, dựa vào phần kiến thức nào? Cần dạy như thế nào để HS chuyển đổi không nhầm lẫn Là giáo
viên (GV) trực tiếp dạy lớp 5, với những lý do trên tôi chọn đề tài: “Giải
pháp nâng cao kĩ năng viết các số đo độ dài, khối lượng, diện tích dưới dạng số thập phân”.
1 Nhiệm vụ của cá nhân
- Tìm hiểu những nguyên nhân mà HS còn nhầm lẫn khi học về viết các
số đo độ dài, khối lượng, diện tích dưới dạng số thập phân
- Trên cơ sở đã tìm hiểu, đưa ra một số giải pháp giúp HS nắm vững tên gọi và biết viết các số đo độ dài, khối lượng, diện tích dưới dạng số thập phân một cách thành thạo nhằm nâng cao chất lượng môn Toán lớp 5
- Giúp HS làm tốt các bài tập và có kĩ năng vận dụng những điều đã học
từ lý thuyết vào thực tế cuộc sống
2 Thực trạng (những hạn chế, yếu kém) trong phạm vi công việc
Nội dung đề tài chỉ nghiên cứu dạng toán Viết các số đo đại lượng dưới dạng số thập phân như:
- Tiết 40 - Viết các số đo độ dài dưới dạng số thập phân (SGK Toán 5 trang 44)
- Tiết 42 - Viết các số đo khối lượng dưới dạng số thập phân (SGK Toán 5 trang 45)
- Tiết 43 - Viết các số đo diện tích dưới dạng số thập phân (SGK Toán 5 trang 46)
Trang 2- Thực tế trong giảng dạy cho thấy tình trạng HS tiếp thu kiến thức còn thụ động, ít chịu khó suy nghĩ, tìm tòi cách học để nhớ lâu kiến thức
- Chưa thành thạo khi đọc tên và chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng
- Nhầm lẫn mối quan hệ giữa đơn vị này với bảng đơn vị khác
- Khả năng tính toán của HS còn hạn chế
- Khi làm các bài tập về đổi đơn vị đo đại lượng, đặc biệt là đơn vị đo diện tích HS còn lúng túng, thường thiếu chữ số ở phần thập phân hàng liền với phần nguyên hoặc chưa chuyển dấu phẩy đủ các chữ số tương ứng
II NHỮNG GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN
* Thời lượng giảng dạy về đại lượng và đo đại lượng
Thời lượng dùng để giảng dạy kiến thức về đại lượng và đo đại lượng ở lớp 5 được phân bố như sau:
- Đơn vị đo độ dài: Gồm 4 tiết (kể cả ôn tập cuối cấp), trong đó HS được củng cố bảng đơn vị đo độ dài, viết các số đo độ dài dưới dạng số thập phân
- Đơn vị đo khối lượng: Gồm 2 tiết HS được củng cố bảng đơn vị đo khối lượng và viết các số đo khối lượng dưới dạng số thập phân
- Đơn vị đo diện tích: Gồm 6 tiết (kể cả ôn tập cuối năm) HS được học tiếp các đơn vị đo diện tích như dam2, hm2 (ha) và hình thành bảng đơn vị đo diện tích, viết các số đo diện tích dưới dạng số thập phân
Tiết 40 - Viết các số đo độ dài dưới dạng số thập phân - SGK Toán 5 trang
44
Phần lí thuyết trong sách giáo khoa chỉ cung cấp:
Ví dụ: 6m 4dm = … m
Cách làm: 6m 4dm =
10
4
6 m = 6,4m Vậy: 6m 4dm = 6,4m
Vậy nếu chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức ở đơn vị trước là bài
"Khái niệm số thập phân" cộng với lượng kiến thức ở bài này thì HS sẽ khó
mà làm bài tập sau:
Ví dụ: Viết số thích hợp vào chỗ chấm: (Bài 3b - SGK Toán 5 trang 44)
5km 75m = … km Cách làm: 5km75m =
1000
75
5 km, song để đổi
1000
75
5 km = 5,075km đối với HS là khó hoặc nếu có đổi được thì không hiểu sâu sắc vấn đề
Trang 3Từ khó khăn trên, để HS làm tốt các bài tập viết các số đo độ dài, khối lượng, diện tích dưới dạng số thập phân GV cần làm tốt các yêu cầu sau:
1 Các dạng toán Viết các số đo độ dài, khối lượng, diện tích dưới dạng số thập phân và quy trình chung
Dạng 1: Đổi từ hai đơn vị đo về một đơn vị đo:
Ví dụ : 14m 7cm = m (Bài 1c - SGK Toán 5 trang 45)
Cách đổi : 14m 7cm =
100
7
14 m = 14,07m
* Quy trình
chuyển chuyển
Đơn vị ban đầu Hỗn số với đơn vị đo cần đổi Đơn vị cần đổi Bước 1 (phân số thập phân) Bước 2 (số thập phân) Dạng 2: Đổi từ một đơn vị đo về hai đơn vị đo
Ví dụ : 16,5m2 = … m2 … dm2 (Bài 4b - SGK Toán 5 trang 47)
Cách đổi: 16,5m2 =
10
5
16 m2 = 16m2 50dm2
* Quy trình
chuyển chuyển
Đơn vị ban đầu Hỗn số với đơn vị đo ban đầu Đơn vị cần đổi
(số thập phân) Bước 1 (phân số thập phân) Bước 2
Dạng 3: Đổi từ một đơn vị đo về một đơn vị đo:
- Từ đơn vị lớn về đơn vị bé (Thực hiện phép tính nhân)
Ví dụ: 34,3km = m (Bài 4d - SGK Toán 5 trang 45)
Cách đổi : 34,3km =
10
3
34 km = 34 300m
* Quy trình
chuyển chuyển
Đơn vị ban đầu Hỗn số với đơn vị đo ban đầu Đơn vị cần đổi (số thập phân) Bước 1 (phân số thập phân) Bước 2
- Từ đơn vị bé về đơn vị lớn (Thực hiện phép tính chia).
Ví dụ: 4 252m = km (Bài 1d - SGK Toán 5 trang 47)
Cách đổi: 4 252m =
1000 4252
km = 4,252km
Trang 4* Quy trình
chuyển chuyển
Đơn vị ban đầu Hỗn số với đơn vị đo Đơn vị cần đổi
Bước 1 Bước 2 (số thập phân)
* Tóm lại: Muốn chuyển đổi các số đo đại lượng ta thực hiện qua 2 bước:
- Bước 1: Đơn vị ban đầu chuyển thành hỗn số (phần phân số thập phân)
- Bước 2: Từ hỗn số chuyển thành đơn vị cần đổi
* Vậy quy trình chung các dạng toán trên là:
chuyển chuyển
Đơn vị ban đầu Hỗn số (phân số thập phân) Đơn vị cần đổi Bước 1 Bước 2
2 Kiến thức cần trang bị cho học sinh
2.1 Nắm chắc cấu tạo hỗn số (Tiết 9 - Hỗn số - SGK Toán 5 trang 12)
- Giúp HS nhớ hỗn số gồm hai phần: phần nguyên và phần phân số (phần phân số bao giờ cũng nhỏ hơn 1)
Ví dụ : 23
4 Phần nguyên Phần phân số ( 3
4< 1 )
- Tại sao phải nhớ cấu tạo của hỗn số: Vì số thập phân được hình thành qua hỗn số Vậy nhớ cấu tạo của hỗn số để nắm và nhớ được cấu tạo của số thập phân
2.2 Ôn tập kiến thức về bảng đơn vị đo độ dài, khối lượng, diện tích
(Tiết 21, 22, 25 - Ôn tập Bảng đơn vị đo độ dài, khối lượng và diện tích trang
22, 23, 27)
- Ôn tập các bảng đơn vị đo bằng hình thức: GV cần tích cực kiểm tra bài cũ để HS nắm thật chắc các bảng đơn vị đo độ dài, diện tích, khối lượng, hoặc tiết toán ôn để HS ghi nhớ về :
+ Thứ tự các đơn vị đo trong bảng đơn vị đo
+ Mối quan hệ giữa hai đơn vị đo liền kề và các đơn vị trong bảng đơn
vị đo với nhau
Ví dụ 1: 8dm 7cm = dm
HS cần nhớ đề-xi-mét là đơn vị lớn liền kề xăng-ti-mét nên 7 cm =
10
7 dm
Đổi 8dm 7cm =
10
7
8 dm
Ví dụ 2: 12tấn 6kg = tấn
Trang 5HS cần nhớ 1kg =
1000
1 tấn nên 6kg =
1000
6 tấn
Đổi 12tấn 6kg =
1000
6
12 tấn = 12,006tấn
Ví dụ 3: 23 cm2 = dm2
HS cần nhớ 1cm2 =
100
1
dm2 nên 23cm2 =
100
23
dm2
Đổi 23cm2 =
100
23
dm2 = 0,23dm2
Lưu ý:
- Hai đơn vị đo độ dài (khối lượng) liền nhau đơn vị lớn gấp 10 lần (nhân 10) đơn vị bé và đơn vị bé bằng 1
10 (chia 10) đơn vị lớn.
- Hai đơn vị đo diện tích liền nhau đơn vị lớn gấp 100 lần (nhân 100)
đơn vị bé và đơn vị bé bằng 1
100 (chia 100) đơn vị lớn
2.3 Nắm chắc khái niệm, cấu tạo số thập phân
phần phân số là phân số thập phân Vì vậy GV cần dạy tốt lí thuyết ở các tiết sau:
+ Tiết 32 - Khái niệm số thập phân - SGK Toán 5 trang 33
,
10
1
, 100
1 1000
1 được viết thành 0,1; 0,01; 0,001 + Tiết 33 - Khái niệm số thập phân (tt) - SGK Toán 5 trang 36
10
5
,
100
7
,
1000
9
được viết thành 0,5; 0,07; 0,009;
- Từ các lý thuyết trên, GV giúp HS rút ra các kết luận sau:
* Cấu tạo số thập phân: Gồm hai phần: phần nguyên và phần thập phân,
chúng được phân cách với nhau bởi dấu phẩy Những chữ số ở bên trái dấu phẩy thuộc về phần nguyên, những chữ số bên phải dấu phẩy thuộc về phần thập phân
Ví dụ: 8,56
Phần nguyên Phần thập phân
* So sánh sự giống nhau về cấu tạo của số thập phân và cấu tạo của hỗn
số để ghi nhớ cách chuyển đổi từ hỗn số về số thập phân: 2 7
10 = 2,7
- Phần nguyên của hỗn số là phần nguyên của số thập phân
- Phần phân số của hỗn số biến đổi thành phần thập phân của số thập phân
Trang 6+ Muốn chuyển từ hỗn số hoặc phân số về số thập phân thì hỗn số đó phải có phần phân số là phân số thập phân hay phân số đó phải là phân số thập phân + Với các phân số hoặc hỗn số có mẫu số là 10; 100 ; 1000 muốn viết về dạng
số thập phân thì:
- Nếu có mẫu số là 10 thì phần thập phân chỉ có một chữ số
- Nếu có mẫu số là 100 thì phần thập phân chỉ có hai chữ số
- Nếu có mẫu số là 1000 thì phần thập phân chỉ có ba chữ số
2.4 Nắm chắc hàng của số thập phân và mối quan hệ giữa các hàng của số thập phân (Tiết 34 – Hàng của số thập phân Đọc, viết số thập phân
-SGK Toán 5 trang 37
GV giúp HS nắm được vị trí các hàng của số thập phân 375,406
Hàng Trăm Chục Đơn vị Phần mười Phần trăm Phần nghìn
- Các hàng ở phần nguyên: hàng nhỏ nhất là hàng đơn vị (liền sau là dấu phẩy) - Các hàng ở phần thập phân hàng lớn nhất là hàng phần mười (liền trước là dấu phẩy)
- Mỗi hàng đơn vị của một hàng bằng 10 đơn vị của hàng thấp hơn liền sau
- Mỗi đơn vị của một hàng bằng
10
1 (hay 0,1) đơn vị của hàng liền trước
- Khi nắm được hàng của số thập phân HS dễ dàng chuyển hỗn số thành số thập phân, số thập phân thành hỗn số
Ví dụ: (Bài 3 - SGK Toán 5 trang 38) Viết các số thập phân sau thành hỗn
số có chứa phân số thập phân phân HS làm bài toán như sau:
3,5 = 3 5
10; 6,33 = 6 33
100 18,05 =
100
5
18 ; 217,908 = 217 908
1000
HS rút ra nhận xét
+ Nếu mẫu số là 10 thì phần thập phân có một chữ số đó là hàng phần mười
+ Nếu mẫu số là 100 thì phần thập phân có hai chữ số đó là hàng phần mười và hàng phần trăm
+ Nếu mẫu số là 1000 thì phần thập phân có ba chữ số đó là hàng phần mười, hàng phần trăm và hàng phần nghìn
Từ bài tập trên, HS dễ dàng làm bài tập sau: (Bài 1d - SGK Toán 5 trang 47)
Trang 7Viết số thập phân thích hợp vào chỗ chấm:
2cm2 5mm2 = … cm2
Cách đổi: 2cm2 5mm2 =
100
5
2 cm2 = 2,05cm2
Hoặc 2tạ 50kg = … tạ (Bài 2b - SGK Toán 5 trang 46)
Cách đổi: 2tạ 50kg = 2 50
100tạ = 2,5 tạ
2.5 Nhận biết và so sánh số thập phân bằng nhau (Tiết 36 - Số thập
phân bằng nhau - SGK Toán 5 trang 41)
GV giúp HS nắm được:
- Nếu viết thêm chữ số không vào bên phải phần thập phân của một số thập phân thì được một số thập phân bằng nó
Ví dụ : 0,8 = 0,80 = 0,800 = 0,8000
- Nếu một số thập phân có chữ số 0 ở tận cùng bên phải phần thập phân thì khi bỏ chữ số 0 đó đi ta được một số thập phân bằng nó
Ví dụ: 0,8000 = 0,800 = 0,80 = 0,8
Sau khi HS nắm được kiến thức về phân số bằng nhau thì sẽ làm tốt các bài tập có dạng sau:
Ví dụ: Viết số thập phân thích hợp vào chỗ chấm: (Bài 1d - SGK Toán
5 trang 45)
500kg = tấn
Cách đổi: 500kg =
1000
500 tấn = 0,500 tấn = 0,5 tấn
Ví dụ: Viết số thập phân thích hợp vào chỗ chấm: (Bài 3b - SGK Toán
5 trang 47)
300dm2 = m 2
Cách đổi : 300dm2 =
100
300
m2 = 3,00m2 = 3m2
Và cũng qua đây HS biết vận dụng sáng tạo khi giải toán có lời văn khi ra kết quả cuối cùng có nhiều chữ số 0 ở phần thập phân thì nên bỏ đi Ví dụ: Khi HS (Khá, giỏi) làm thêm bài tập 4 trang 47 Sau khi tính được diện tích sân trường là 5400 m2, HS sẽ biến đổi 5400 m2 = 0,5400 ha = 0,54ha Vậy diện tích sân trường đã được tính bằng kết quả viết gọn là 0,54 ha
3 Cần giúp HS nắm vững kiến thức ở các dạng bài
3.1 Phần cung cấp kiến thức mới
Trang 8Ở các tiết dạy phần cung cấp kiến thức mới được thiết kế dựa vào ví dụ ở SGK
Với các ví dụ trên mục đích để cung cấp kiến thức, GV cần để HS tự tìm ra kiến thức bằng cách HS vận dụng kiến thức ở các bài trước tự làm ví
dụ rồi rút ra quy trình chuyển đổi
3.2 Phần luyện tập
Nếu GV chỉ dừng lại ở việc cho HS nắm quy trình ở phần ví dụ mà đến phần luyện tập yêu cầu HS làm tất cả các bài tập của tiết học thì chưa đủ Bởi
vì ở phần luyện tập trong mỗi tiết học trên đều có ba dạng bài (như đã nêu ở trên) nên khi luyện tập GV cần giúp HS làm tốt việc sau:
- Xác định dạng toán
- Áp dụng quy trình chung
- Vận dụng những hiểu biết, kiến thức để giải dạng toán đã xác định
4 GV phải linh hoạt áp dụng và đổi mới các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của HS.
Các phương pháp thường vận dụng để dạy các bài toán về đo đại lượng là: trực quan, đàm thoại, thảo luận nhóm, trò chơi
* Phương pháp trực quan: Thường vận dụng khi giảng bài mới và hướng dẫn bài tập mẫu về các dạng đổi đơn vị cho HS, nhằm giúp HS nắm được cái cụ thể, trực tiếp, đó là bản chất của phép đổi đơn vị đo Với phương pháp trực quan này đã giúp HS hiểu sâu, nhớ lâu phương pháp đổi đơn vị đo
* Phương pháp đàm thoại: Đây là phương pháp được sử dụng kết hợp với các phương pháp trực quan, luyện tập, nêu vấn đề GV phải lựa chọn hệ thống câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề để HS suy nghĩ tìm tòi vận dụng kiến thức
đã học vào việc xác định dạng bài tập đổi đơn vị đo như thế nào?
* Phương pháp thảo luận nhóm: Đây là phương pháp phát huy trí tuệ tập thể tạo điều kiện để HS khá giúp HS yếu, HS trung bình trao đổi, hỗ trợ nhau rèn luyện thành thạo kỹ năng đổi đơn vị đo lường Có thể tổ chức thảo luận nhóm đôi, nhóm bốn Phương pháp này thường được sử dụng vào bước đầu khâu luyện tập, giúp HS cùng nhau củng cố phương pháp đổi đơn vị đo
Ví dụ: Trong phần cung cấp kiến thức mới cho HS thảo luận nhóm tự làm ví dụ rồi rút ra quy trình chuyển đổi
* Phương pháp trò chơi: Đây là một trong những hình thức luyện tập được áp dụng rất dễ dàng trong loại bài tập rèn kỹ năng đổi đơn vị đo đại lượng Với nhiều cách chơi khác nhau sẽ giúp HS “học mà chơi, chơi mà học” HS thêm hứng thú học tập và tiếp thu bài tốt hơn
Trang 9Ví dụ: Các trò chơi thường được tổ chức là: tiếp sức, chọn kết quả đúng (có thể chơi được cả lớp, chỉ cần bộ thẻ a, b, c hoặc Đ, S), thử tài toán học (hai đội có thể luân phiên đội này ra đề, đội kia giải và ngược lại), đố bạn, v.v
Như vậy phần luyện tập có đủ cả ba dạng toán như đã nêu ở mục phần nội dung Nên khi cho HS luyện tập GV cần giúp HS xác định rõ ba dạng toán rồi áp dụng quy trình chung và những phần kiến thức riêng để giải đúng các bài tập trên Với việc cung cấp cho HS các kiến thức có liên quan cộng với việc vận dụng kiến thức đã cung cấp ở các dạng toán viết số đo độ dài, khối lượng, diện tích dưới dạng số thập phân chắc chắn HS sẽ làm tốt các bài tập dạng này
III HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Năm học 2015 – 2016 tôi đã áp dụng đề tài vào giảng dạy lớp 51 Sau khi
dạy xong các bài Viết số đo độ dài, khối lượng, diện tích dưới dạng số thập phân Tôi tiến hành khảo sát chất lượng trên cả 2 lớp Lớp 51 là lớp thực nghiệm và lớp 52 là lớp đối chứng Khảo sát theo 3 tiêu chí Thời gian khảo sát
là tiết toán ôn luyện (lớp 2 buổi/ngày) (Đề khảo sát đính kèm phần phụ lục)
TS
HS
Đọc đúng tên các đơn
vị đo đại lượng
Viết đúng bảng đơn
vị đo đại lượng
Đổi thành thạo các đơn vị đo đại lượng
5 1
5 2
Từ kết quả khảo sát cho thấy HS làm đúng các bài tập đã cho HS đã được phát huy tích cực, chủ động trong lĩnh hội kiến thức cũng như luyện tập thực hành
IV BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Để HS hiểu và thực hiện tốt dạng toán: Viết số đo độ dài, khối lượng, diện tích dưới dạng số thập phân là cả quá trình nghiên cứu và làm việc hết sức nghiêm túc của thầy và trò Thực tế đòi hỏi:
- Bản thân GV phải có tinh thần trách nhiệm cao, kiên trì tìm tòi, nghiên cứu kiến thức, say mê với công việc và phải có tâm huyết với nghề
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa (đặc biệt toán 5): Cách sắp xếp chương trình, kiến thức cần truyền thụ, mối quan hệ giữa các bài, giữa các phần kiến thức
- Nghiên cứu sâu về dạng toán viết số đo độ dài, khối lượng, diện tích
dưới dạng số thập phân, các kiến thức liên quan; quy trình chung khi dạy
-học dạng toán; tìm những nét riêng của từng dạng toán để áp dụng vào quá trình giải bài tập
Trang 10- Cần cung cấp kiến thức hỗ trợ khi dạy – học dạng toán này, đó là: Các bảng đơn vị đo đại lượng, cấu tạo của hỗn số, cấu tạo số thập phân, số thập phân bằng nhau
- GV cần dạy tốt phần cung cấp lý thuyết ở đầu các bài học
- Một việc không thể thiếu được GV cần giúp HS xác định dạng toán
để áp dụng quy trình đổi khi giải các bài tập
V KẾT LUẬN
Động cơ học tập là yếu tố quan trọng thúc đẩy, kích thích người học chủ động học tập Do đó GV là người tạo động cơ học tập cho HS Một khi
HS có động cơ học tập cùng với sự tổ chức giờ học khoa học, hấp dẫn, sinh động tự khắc các em hứng thú học tập Vì vậy việc tạo nên sự hứng thú học tập cho HS là một việc làm có ý nghĩa và cần thiết mà mỗi GV phải thực hiện một cách thường xuyên trong mỗi giờ dạy Để làm được điều đó người GV cần phải đầu tư nhiều thời gian và công sức cho mỗi tiết dạy Suy nghĩ, tìm ra cách dạy mang lại hiệu quả tối ưu nhất
Để có thể dạy tốt một bài học hoặc một đơn vị kiến thức nào đó đòi hỏi người GV phải tìm hiểu rõ bản chất của nội dung kiến thức muốn truyền đạt Muốn vậy đòi hỏi người GV phải nghiên cứu kĩ để xác định được mục tiêu cơ bản, trọng tâm những nội dung mà HS cần phải đạt được qua bài học Từ đó yêu cầu người GV phải linh hoạt, sáng tạo trong giảng dạy
Đại lượng và đo đại lượng là mạch kiến thức tương đối khó đối với HS, nhất là đổi đơn vị đo đại lượng nhưng nếu với lòng yêu nghề, mến trẻ và sự kiên trì chịu khó tìm tòi suy nghĩ, tôi nghĩ mỗi thầy cô giáo sẽ giúp cho HS của mình tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn, hứng thú hơn
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã tích lũy được qua nhiều năm giảng dạy môn Toán lớp 5 Với kinh nghiệm và trình độ bản thân còn hạn chế nên đề tài còn nhiều điểm thiếu sót, mong Ban Giám hiệu, quý đồng nghiệp góp ý thêm để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nhị Bình, ngày 10 tháng 3 năm 2016 Người thực hiện
Phạm Hữu Hạnh