Bên cạnh đó cùng với sự phát triển của thực tiễn về quản lý, khái niệm kiểm soát nội bộ đã hình thành và phát triển để trở thành một hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức, k
Trang 1Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS Huỳnh Đức Lộng đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quý báu và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình làm luận văn
Tác giả bày tỏ sự cám ơn đến quý thầy cô khoa sau đại học và quý thầy cô tham gia giảng dạy tại trường Đại học Lạc Hồng đã truyền đạt kiến thức quý báu trong thời gian tham gia học tập tại trường
Tác giả chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo công ty cùng toàn thể nhân viên các phòng ban đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình khảo sát, thu thập dữ liệu và tham gia trả lời bảng khảo sát để tác giả có thể hoàn thành luận văn này
Trân trọng cảm ơn!
Đồng Nai, ngày …… tháng …… năm 2015
Tác giả
Trần Thị Kim Ngân
Trang 2Tôi cam đoan luận văn “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường tỉnh Bình Dương” là do tác giả nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy TS Huỳnh Đức Lộng
Các thông tin trong luận văn là những thông tin được thu thập trung thực qua thực tế tại công ty Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Đồng Nai, ngày …… tháng …… năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Thị Kim Ngân
Trang 3Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng biểu
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do thực hiện đề tài: 1
2 Các nghiên cứu có liên quan: 1
3 Mục tiêu nghiên cứu: 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
5 Phương pháp thực hiện: 2
6 Kết cấu luận văn: 3
7 Dự kiến kết quả đạt được: 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 4
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ 4
1.1.1 Giai đoạn sơ khai 4
1.1.2 Giai đoạn hình thành 5
1.1.3 Giai đoạn phát triển 6
1.1.4 Giai đoạn hiện đại 7
1.2 Khái niệm về kiểm soát nội bộ 9
1.2.1 Theo COSO 1992 9
1.2.2 Theo COSO 2004 11
1.2.3 Theo COSO 2013 12
1.2.4 So sánh kiểm soát nội bộ theo COSO 1992, COSO 2004, COSO 2013 14
1.2.5 Hạn chế của hệ thống kiểm soát 15
1.2.5.1 Hạn chế xuất phát từ con người 15
1.2.5.2 Hạn chế xuất phát từ những nguyên nhân khác 15
1.3 Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ 16
1.3.1 Môi trường kiểm soát 16
1.3.2 Đánh giá rủi ro 17
1.3.3 Hoạt động kiểm soát 18
1.3.4 Thông tin truyền thông 19
Trang 4KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG TY TNHH MTV CẤP THOÁT NƯỚC-MÔI TRƯỜNG TỈNH BÌNH DƯƠNG 23
2.1 Tình hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và tổ chức công tác kế toán tại công ty 23
2.1.1 Tình hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh 23
2.1.1.1 Giới thiệu khái quát về công ty 23
2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty 23
2.1.1.3 Mục tiêu phát triển 26
2.1.1.4 Lĩnh vực hoạt động 27
2.1.1.5 Tổ chức bộ máy quản lý 28
2.1.2 Tình hình tổ chức công tác kế toán 31
2.1.2.1 Chế độ chính sách kế toán áp dụng 31
2.1.2.2 Hình thức tổ chức hệ thống sổ sách kế toán 31
2.1.2.3 Tổ chức bộ máy kế toán 32
2.2 Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước - Môi trường tỉnh Bình Dương 33
2.2.1 Giới thiệu về quá trình khảo sát và thu thập dữ liệu 33
2.2.1.1 Mục đích khảo sát và thu thập dữ liệu 33
2.2.1.2 Đối tượng khảo sát 34
2.2.1.3 Phương pháp khảo sát 34
2.2.1.4 Kết quả khảo sát 34
2.2.2 Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty 35
2.2.2.1 Thực trạng về môi trường kiểm soát 35
2.2.2.2 Thực trạng về đánh giá rủi ro 41
2.2.2.3 Thực trạng về hoạt động kiểm soát 44
2.2.2.3.1 Hoạt động kiểm soát chung 44
2.2.2.3.2 Hoạt động kiểm soát trong các chu trình chính 47
2.2.2.4 Thực trạng về thông tin truyền thông 56
2.2.2.5 Thực trạng về giám sát 57
2.2.3 Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước môi trường tỉnh Bình Dương 58
2.2.3.1 Đánh giá về môi trường kiểm soát 58
Trang 52.2.3.3 Đánh giá về hoạt động kiểm soát 61
2.2.3.3.1 Hoạt động kiểm soát chung 61
2.2.3.3.2 Hoạt động kiểm soát trong các chu trình chính 62
2.2.3.4 Đánh giá về thông tin và truyền thông 64
2.2.3.5 Đánh giá về giám sát 65
2.2.4 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty TNHH MTV Cấp thoát nước - Môi trường Bình Dương 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG TY TNHH MTV CẤP THOÁT NƯỚC-MÔI TRƯỜNG TỈNH BÌNH DƯƠNG 68
3.1 Quan điểm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ 68
3.2 Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường tỉnh Bình Dương 69
3.2.1 Hoàn thiện về môi trường kiểm soát 69
3.2.2 Hoàn thiện về đánh giá rủi ro 72
3.2.3 Hoàn thiện về hoạt động kiểm soát 73
3.2.3.1 Hoàn thiện về hoạt động kiểm soát chung 73
3.2.3.2 Hoàn thiện về hoạt động kiểm soát trong các chu trình chính 75
3.2.4 Hoàn thiện về thông tin và truyền thông 77
3.2.5 Hoàn thiện về giám sát 78
3.3 Một số kiến nghị để hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường Bình Dương 78
3.3.1 Đối với cơ quan chức năng của nhà nước 78
3.3.1 Đối với ban lãnh đạo của Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường tỉnh Bình Dương 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 81
KẾT LUẬN CHUNG 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
COSO Committee of Sponsoring
Organization
Ủy ban thuộc hội đồng quốc gia Hoa
Kỳ AICPA American Institute of
Certified Public Accountants
Hiệp Hội Kế toán viên công chứng
Hoa Kỳ
SEC Securities and exchange
Commission Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ CAP Committee on Auditing
SAP Statement on Auditing
SAS Statement on Auditing
SEC Securities and Exchange
AAA American Accounting
Association Hiệp Hội kế toán Hoa Kỳ
CoBit
Control Objectives for Information and Related Technology
Mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực có liên quan
ISA International Standard on
Trang 7Bảng 1.1: 17 nguyên tắc cần thiết trong xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ theo
báo cáo COSO 2013 13
(Bảng 2.1: Các ngành nghề kinh doanh của Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường Bình Dương) 27
Bảng 2.2: Tính trung thực và các giá trị đạo đức 35
Bảng 2.3: Cam kết về năng lực và chính sách nhân sự 36
Bảng 2.4: Triết lý quản lý và phong cách điều hành 38
Bảng 2.5: Cơ cấu tổ chức 39
Bảng 2.6: Phân định quyền hạn và trách nhiệm 40
Bảng 2.7: Xác định mục tiêu 41
Bảng 2.8: Nhận dạng rủi ro 42
Bảng 2.9: Phân tích và đánh giá rủi ro 43
Bảng 2.10: Soát xét của nhà quản lý 44
Bảng 2.11: Kiểm soát quá trình xử lý thông tin 45
Bảng 2.12: Kiểm soát vật chất và phân tích rà soát 46
Bảng 2.13: Sự ủy quyền và phân chia trách nhiệm 47
Bảng 2.14: Kiểm soát quá trình mua vật tư 47
Bảng 2.15: Kiểm soát quá trình bảo quản vật tư 49
Bảng 2.16: Kiểm soát quá trình xuất kho vật tư 50
Bảng 2.17: Kiểm soát tài sản cố định và chi phí khấu hao 51
Bảng 2.18: Kiểm soát chi phí tiền lương 52
Bảng 2.19: Kiểm soát chi phí dịch dụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác 54
Bảng 2.20: Kiểm soát tiền 55
Bảng 2.21: Thông tin và truyền thông 56
Bảng 2.22: Giám sát 57
Trang 8Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường Bình Dương 28
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán 32
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do thực hiện đề tài:
Từ khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), mở
ra cho đất nước cơ hội để phát triển kinh tế Và với những chính sách thuận lợi của nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư có cơ hội đầu tư phát triển vào Việt Nam
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đã tạo ra những thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Và Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường tỉnh Bình Dương cũng không nằm ngoài xu thế đó Là một doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập với các ngành nghề kinh doanh chủ yếu như: cung cấp nước sạch, xử lý nước thải, rác thải… với mong muốn nâng cao cuộc sống cho nhân viên, cho người dân, bảo vệ và cải thiện môi trường xanh, sạch góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế cho công ty nói riêng và cho tỉnh nhà nói chung
Vì lẽ đó, kiểm soát nội bộ là giải pháp rất quan trọng giúp cho nhà quản lý kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của đơn vị Và theo khái niệm (IAS 400) thì hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ những chính sách và thủ tục kiểm soát do ban giám đốc của đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo việc quản lý chặt chẽ và hiệu quả của các hoạt động
Tuy nhiên, nhìn chung vấn đề quản lý ở công ty còn một số hạn chế, bất cập về môi trường kiểm soát, tổ chức thông tin phục vụ kiểm soát và các thủ tục kiểm soát chưa đảm bảo cung cấp cho nhà quản lý Từ những lý do trên vấn đề “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường tỉnh Bình Dương” là một yêu cầu thiết yếu để giúp cho nhà quản lý
2 Các nghiên cứu có liên quan:
Tác giả Võ Thị Mỹ Hạnh (2011), “Tăng cường kiểm soát chi phí sản xuất tại công ty Môi trường Đô thị Đà Nẵng” Trong đề tài này, tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu công tác kiểm soát chi phí sản xuất dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử
lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và trong luận văn này tác giả chưa đề cập theo năm thành tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ
Tác giả Lê Thị Khánh Như (2012), “Hoàn thiện các thủ tục kiểm soát nội
bộ chi phí và doanh thu tại công ty TNHH MTV cấp thoát nước Phú Yên”
Trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu thủ tục kiểm soát nội bộ về chi
Trang 10phí, doanh thu tại công ty Mà chuyên sâu là vấn đề về chi phí trong đó gồm: chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC và bên cạnh đó năm yếu tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ chưa được tác giả đề cập đến vấn đề này
Tác giả Phạm Thị Hồng (2012), “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ chi phí tại công ty TNHH môi trường đô thị Quy Nhơn” Trong luận văn này, tác giả
chỉ khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ chi phí tại công ty, rút ra những mặt tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ về chi phí mà tác giả chưa đề cập đến vấn đề năm yếu tố cấu thành của
hệ thống kiểm soát nội bộ
Nhìn chung, các đề tài liên quan đến ngành cấp thoát nước và môi trường trong ba luận văn trên đều chưa đề cập đến vấn đề kiểm soát nội bộ theo năm thành
tố cấu thành của báo cáo COSO 1992, COSO 2004 hay COSO 2013 Chính vì vậy, tác giả tiến hành nghiên cứu theo hướng tiếp cận lần lượt đến các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Làm rõ thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường tỉnh Bình Dương
Từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường tỉnh Bình Dương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường tỉnh Bình Dương
Phạm vi nghiên cứu tại Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường tỉnh Bình Dương trong năm 2015
5 Phương pháp thực hiện:
Sử dụng phương pháp định tính nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu sau: Tác giả tập hợp, phân loại tài liệu về kiểm soát nội bộ tại công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường tỉnh Bình Dương Trên cơ sở đó, sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp hệ thống hóa, khái quát hóa để nêu lên tổng quan về kiểm soát nội bộ Tác giả sử dụng phương pháp quan sát, thống kê, phỏng vấn, tổng hợp để đánh giá thực trạng, đánh giá những ưu nhược điểm về kiểm soát nội bộ tại công ty
Trên cơ sở những ưu điểm và nhược điểm về kiểm soát nội bộ tại công ty với
Trang 11những lý luận cơ bản của kiểm soát nội bộ, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, suy luận để đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường tỉnh Bình Dương
6 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương
Thông qua quá trình kiểm soát nội bộ của công ty đã hệ thống hóa được những
lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ, những ưu điểm và nhược điểm, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường tỉnh Bình Dương
Trang 12CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ
Kiểm soát luôn là một khâu quan trọng trong quy trình quản trị, do đó các nhà quản lý rất chú tâm đến việc hình thành và duy trì các hoạt động kiểm soát để đạt được các mục tiêu của tổ chức Bên cạnh đó cùng với sự phát triển của thực tiễn về quản lý, khái niệm kiểm soát nội bộ đã hình thành và phát triển để trở thành một hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức, không chỉ phục vụ cho công việc của kiểm toán viên mà còn liên quan mật thiết đến vấn đề quản trị doanh nhiệp
1.1.1 Giai đoạn sơ khai
Tất cả mọi hoạt động kinh tế đều cần đến nguồn vốn Vào những năm cuối thế
kỷ 19 các kênh cung cấp vốn đã hình thành và phát triển mạnh mẽ, trong đó ngân hàng là kênh cung cấp vốn chủ yếu Để có thể cung cấp vốn, ngân hàng cần sự tin cậy của báo cáo tài chính về tình hình của công ty, quan trọng là bảng cân đối kế toán Do vậy đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có năng lực, độc lập đảm nhiệm chức năng xác nhận tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên báo cáo tài chính, từ
đó dẫn đến sự ra đời của các công ty kiểm toán độc lập
Khi thực hiện chức năng nhận xét báo cáo tài chính, các kiểm toán viên đã sớm nhận thức cần chọn mẫu để kiểm tra, tập hợp các thông tin để lập báo cáo tài chính Vì vậy các kiểm toán viên quan tâm đến kiểm soát nội bộ Hình thức ban đầu của kiểm soát nội bộ là kiểm soát tiền và bắt đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp
Do yêu cầu phát triển, các công ty cần có vốn và từ đó đưa đến nhu cầu tăng cường quản lý vốn và kiểm tra thông tin về sử dụng vốn Và thuật ngữ kiểm soát nội bộ bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này
Đến năm 1905, Robert Montgomery đã đưa ra ý kiến về một số vấn đề liên quan đến kiểm soát nội bộ trong tác phẩm “Lý thuyết và thực hành kiểm toán”, tác phẩm này là cơ sở về các thủ tục mà kiểm toán viên thực hiện
Đến năm 1929, thuật ngữ kiểm soát nội bộ được đề cập chính thức trong một công bố của Cục Dự Trữ Liên bang Hoa Kỳ, theo đó, kiểm soát nội bộ được định nghĩa là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động
Đến năm 1936, trong một công bố, Hiệp Hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA-American Institute of Certified Public Accountants) đã định nghĩa kiểm
Trang 13soát nội bộ “… là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”
Trong những năm kế tiếp sau đó, việc nghiên cứu và đánh giá về kiểm soát nội
bộ ngày càng được chú trọng trong cuộc kiểm toán Tuy nhiên, sau vụ phá sản của công ty Mc Kesson & Robbins là một công ty dược phẩm nổi tiếng với tổng tài sản vào năm 1937 lên đến 100 triệu USD do Công ty kiểm toán Price Waterhouse thực hiện Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC-Securities and exchange Commission) điều tra và phát hiện 20 triệu USD hàng tồn kho và nợ phải thu đã bị khai khống và 20% tài sản không hiện hữu trong thực tế Điều này SEC đi đến việc nhận xét Công
ty kiểm toán Price Waterhouse đã bất cẩn dẫn đến sai phạm trong quá trình kiểm toán và một trong những nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống kiểm tra kiểm soát nội
bộ không được quan tâm đúng mức
Vì vậy, SEC cho rằng kiểm soát nội bộ cần được chú trọng hơn, không chỉ hạn chế ở lĩnh vực kế koán mà kiểm toán viên cần có kiến thức đầy đủ hơn về cách thức
mà các nghiệp vụ trên được thực hiện
1.1.2 Giai đoạn hình thành
Vào năm 1949, AICPA công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB là:
“Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nhiệp và đối với kiểm toán viên độc lập” Trong báo cáo này, AICPA đã định nghĩa kiểm soát nội bộ là: “… cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và tính đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý”
Sau đó, AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của kiểm soát nội bộ
Vào năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP-Committee on Auditing Procedure) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán 29 (SAP-Statement on Auditing Procedure) về: “Phạm vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên độc lập”, trong đó SAP đã phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán
- KSNB về kế toán bao gồm kế hoạch về tổ chức, các phương pháp và thủ tục liên hệ trực tiếp đến việc bảo vệ tài sản và tính đáng tin cậy của số liệu kế toán
Trang 14- KSNB về quản lý bao gồm kế hoạch tổ chức, các phương pháp và thủ tục liên quan chủ yếu đến tính hữu hiệu trong hoạt động và sự tuân thủ chính sách quản trị Đến năm 1962, CAP tiếp tục ban hành SAP 33 và đã làm rõ hơn về vấn đề này Dựa trên khái niệm về kiểm soát kế toán và kiểm soát quản lý, CAP đã xây dựng chuẩn mực kiểm toán yêu cầu công ty kiểm toán nên giới hạn nghiên cứu KSNB về kế toán
Đến năm 1972, CAP tiếp tục ban hành SAP 54 “Tìm hiểu và đánh giá kiểm soát nội bộ” trong đó đưa ra bốn thủ tục về kiểm soát kế toán: đảm bảo nghiệp vụ chỉ được thực hiện khi đã được phê chuẩn, ghi nhận đúng đắn mọi nghiệp vụ để lập báo cáo, hạn chế sự tiếp cận tài sản và kiểm kê
Sau đó, AICPA ban hành chuẩn mực kiểm toán (SAS-Statement on Auditing Standard) để thay thế cho các thủ tục kiểm toán (SAP), trong đó:
SAS 1 (1973), duyệt xét lại SAP 54 và đưa ra định nghĩa về kiểm soát quản lý
và kiểm soát kế toán như sau:
Kiểm soát quản lý, không chỉ hạn chế ở kế hoạch tổ chức và các thủ tục, mà còn bao gồm quá trình ra quyết định cho phép thực hiện nghiệp vụ của nhà quản lý Kiểm soát kế toán bao gồm các thủ tục và cách thức tổ chức ghi nhận vào sổ sách để bảo vệ tài sản, tính đáng tin cậy của số liệu
Các định nghĩa trên đã khẳng định sự quan tâm của nghề nghiệp kiểm toán đối với các bộ phận cấu thành kiểm soát nội bộ và đó chính là đối tượng nghiên cứu của các chuẩn mực kiểm toán
Như vậy, trong suốt thời kỳ trên, khái niệm KSNB đã không ngừng được mở rộng ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán Tuy nhiên, trước khi báo cáo COSO (1992) ra đời, kiểm soát nội bộ vẫn mới dừng lại như là một phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.1.3 Giai đoạn phát triển
Vào thập niên 1970-1980, nền kinh tế Hoa Kỳ cũng như nhiều quốc gia khác
đã phát triển mạnh mẽ Số lượng các công ty tăng nhanh, kể cả các công ty thuộc quyền sở hữu của nhà nước và kinh doanh quốc tế Trong thời gian này, cùng với sự phát triển về kinh tế, các vụ gian lận cũng ngày càng tăng với quy mô ngày càng lớn, gây tổn thất đáng kể cho nền kinh tế
Năm 1977, sau vụ bê bối Watergate với các khoản thanh toán bất hợp pháp
Trang 15cho chính phủ nước ngoài, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua luật về chống hối lộ nước ngoài (Foreign Corrupt pratices act)
Sau đó, năm 1979 Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC-Securities and Exchange Commission) đưa ra bắt buộc các công ty phải báo cáo về kiểm soát nội
bộ đối với công tác kế toán ở đơn vị mình
Yêu cầu về báo cáo kiểm soát nội bộ của công ty cho công chúng là một chủ
đề gây nhiều tranh luận Các tranh luận trên cuối cùng đã đưa đến việc thành lập Ủy ban COSO (Committed of Sponsoring Organization) vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp là:
Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA)
Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA - American Accounting Association)
Hiệp hội Quản trị viên Tài chính (FEI - Financial Executives Institute)
Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA - Institute of Management Accountants) Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA - Institute of Internal Auditors)
Trước tiên COSO đã sử dụng chính thức từ kiểm soát nội bộ thay vì kiểm soát nội bộ về kế toán Sau đó, AICPA cũng đã quyết địnhh không sử dụng thuật ngữ kiểm soát kế toán và kiểm soát quản lý
Đến năm 1988, nhiều chuẩn mực kiểm toán mới ra đời, trong đó có SAS 55
“Xem xét kiểm soát nội bộ trong kiểm toán báo cáo tài chính” đưa ra ba bộ phận của kiểm soát nội bộ là môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát Sau một thời gian dài làm việc, đến năm 1992, COSO đã phát hành báo cáo Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đưa ra khuôn mẫu lý thuyết
về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống Đặc điểm nổi bật của báo cáo này là cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó kiểm soát nội bộ không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho cả các phương diện hoạt động và tuân thủ các chính sách
1.1.4 Giai đoạn hiện đại
Báo cáo COSO 1992 ra đời tuy chưa thực sự hoàn chỉnh nhưng đã tạo lập được cơ sở lý thuyết rất cơ bản về kiểm soát nội bộ Nhờ đó mà đã có hàng loạt nghiên cứu phát triển về KSNB trên nhiều lĩnh vực khác nhau ra đời như: phát triển
về Quản trị (ERM 2004), về doanh nghiệp nhỏ (2006), về công nghệ thông tin (COBIT), kiểm toán độc lập, chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể và giám sát (2008), cụ thể như sau:
Trang 16Phát triển theo hướng công nghệ thông tin:
Năm 1996, Bản tiêu chuẩn có tên “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực có liên quan” (CoBit - Control Objectives for Information and Related Technology) do Hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA - Information System Audit and Control Association) ban hành CoBit nhấn mạnh đến kiểm soát trong môi trường tin học (CIS - Computer Information System), bao gồm những lĩnh vực hoạch định và tổ chức, mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát
Phát triển theo hướng kiểm toán độc lập:
Các chuẩn mực kiểm toán của Hoa Kỳ cũng chuyển sang sử dụng Báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm:
SAS 78 (1995): Xem xét kiểm soát nội bộ trong kiểm toán báo cáo tài chính Các định nghĩa, nhân tố của kiểm soát nội bộ trong báo cáo COSO (1992) đã được đưa vào chuẩn mực này
SAS 94 (2001): Ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét kiểm soát nội bộ trong kiểm toán báo cáo tài chính
Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA – International Standard on Auditing) cũng sử dụng báo cáo COSO khi yêu cầu xem xét hệ thống KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính, cụ thể là:
ISA 315 “Hiểu biết về tình hình kinh doanh, môi trường hoạt động đơn vị và đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu” đã yêu cầu kiểm toán viên cần có hiểu biết đầy
đủ về kiểm soát nội bộ
ISA 216 “Thông báo về những khiếm khuyết của kiểm soát nội bộ” yêu cầu kiểm toán viên độc lập thông báo về các khiếm khuyết của kiểm soát nội bộ do kiểm toán viên phát hiện được cho những người có trách nhiệm trong đơn vị
Phát triển về phía quản trị:
Năm 2001 COSO triển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM - Enterprise Risk Managemento Framework) trên cơ sở báo cáo COSO 1992 Bản dự thảo đã hình thành và công bố vào tháng 7.2003 Trong bảng dự thảo theo
đó, ERM được định nghĩa gồm 8 bộ phận: Môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát Đến năm 2004, ERM đã được chính thức ban hành, theo
Trang 17đó ERM không nhằm thay thế cho báo cáo COSO 1992 mà chỉ được xem là cánh tay nối dài của báo cáo này
Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ:
Năm 2006, COSO nghiên cứu và ban hành hướng dẫn “Kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính - Hướng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ”
Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ:
Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ định nghĩa các mục tiêu của kiểm soát nội bộ bao gồm:
Độ tin cậy và tính trung thực của thông tin
Tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định
Bảo vệ tài sản
Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn lực
Hoàn thành các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động hoặc chương trình
Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể:
Lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực đã có những nghiên cứu khá đầy đủ và chi tiết
về kiểm soát nội bộ trong ngành nghề của mình Báo cáo Basel (1998) của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã đưa ra công bố về khuôn khổ kiểm soát nội bộ trong ngân hàng Báo cáo trên đã định nghĩa về kiểm soát nội bộ: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý cao cấp và nhân viên” Các mục tiêu chính của kiểm soát nội bộ được phân loại như sau:
Sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động
Sự tin cậy, đầy đủ và kịp thời của thông tin tài chính và quản trị
Sự tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan
Hướng dẫn về giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ:
COSO cũng đã đưa ra dự thảo Hướng dẫn về giám sát hệ thống kiểm soát nội
bộ (Exposure Draft, COSO 2008) nhằm giúp các tổ chức tự giám sát chất lượng của
hệ thống kiểm soát nội bộ
1.2 Khái niệm về kiểm soát nội bộ
1.2.1 Theo COSO 1992
Dưới góc độ về mặt quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu kiểm soát nội
bộ đã dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau Hiện nay, định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của COSO 1992: “Kiểm soát nội bộ là một quá
Trang 18trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị,
nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau:
- Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động;
- Sự tin cậy của báo cáo tài chính;
- Sự tuân thủ pháp luật và các quy định”
Trong định nghĩa trên, có bốn khái niệm quan trọng cần lưu ý, đó là: quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu
Kiểm soát nội bộ là một quá trình:
Kiểm soát nội bộ không phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện trong mọi bộ phận, quyện chặt vào hoạt động của tổ chức
và là một nội dung cơ bản trong các hoạt động của tổ chức Kiểm soát nội bộ sẽ hữu hiệu khi nó là một bộ phận không tách rời chứ không phải chức năng bổ sung cho các hoạt động của tổ chức
Nhân tố con người:
Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người, đó là Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị Kiểm soát nội bộ
là một công cụ được nhà quản lý sử dụng chứ không thay thế được cho nhà quản lý Tuy nhiên không phải lúc nào con người cũng hiểu rõ, trao đổi và hành động một cách nhất quán
Mỗi thành viên tham gia vào tổ chức với khả năng, kiến thức, kinh nghiệm và nhu cầu khác nhau Một hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ có thể hữu hiệu khi từng thành viên trong tổ chức hiểu rõ về trách nhiệm và quyền hạn của mình
Do vậy, để kiểm soát nội bộ hữu hiệu cần phải xác định mối liên hệ, nhiệm vụ và cách thức thực hiện chúng của từng thành viên để đạt được các mục tiêu của tổ chức
Đảm bảo hợp lý:
Kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức chứ không thể đảm bảo tuyệt đối Điều này xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ như: sai lầm của con người khi đưa ra các quyết định, sự thông đồng của các cá nhân hay sự lạm quyền của nhà quản lý và do mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí của việc thiết lập nên hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 19Các mục tiêu:
Mỗi đơn vị thường có các mục tiêu kiểm soát cần đạt được để từ đó xác định các chiến lược cần thực hiện Đó có thể là mục tiêu chung cho toàn đơn vị, hay mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị Có thể chia các mục tiêu kiểm soát đơn vị cần thiết lập thành ba nhóm:
Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc
sử dụng các nguồn lực
Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng
tin cậy của báo cáo tài chính mà tổ chức cung cấp
Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các
quy định Một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu có thể cung cấp sự đảm bảo hợp
lý đạt được các mục tiêu trên Kết quả đạt được phụ thuộc vào môi trường kiểm soát, cách thức đán giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát của đơn vị, hệ thống thông tin và truyền thông, vấn đề giám sát
Theo báo cáo COSO (2004) thì Quản trị rủi ro doanh nghiệp được định nghĩa như sau:
“Quản trị rủi ro doanh nghiệp là một quá trình do hội đồng quản trị, các cấp quản lý và các nhân viên của đơn vị chi phối, được áp dụng trong việc thiết lập các chiến lược liên quan đến toàn đơn vị và áp dụng cho tất cả các cấp độ trong đơn vị, được thiết kế để nhận dạng các sự kiện tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến đơn vị và quản trị rủi ro trong phạm vi chấp nhận được rủi ro nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu của đơn vị
Trang 201.2.3 Theo COSO 2013
Báo cáo COSO 1992 đã được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới COSO được công nhận là khuôn khổ hàng đầu cho việc thiết kế, thực hiện, kiểm soát và đánh giá hiệu quả của kiểm soát nội bộ Tuy nhiên, sau một thời gian hơn hai mươi năm kể từ khi ban hành khuôn khổ ban đầu, môi trường kinh doanh đã có những thay đổi đáng kể, như sự toàn cầu hóa nền kinh tế, sự thay đổi trong cách thức kinh doanh, các kỳ vọng về ngăn ngừa và phát hiện gian lận ngày càng cao và đặc biệt là sự phát triển công nghệ thông tin trên quy mô toàn cầu Việc toàn cầu hóa kinh tế thế giới, đã đưa đến yêu cầu cao về tính minh bạch thông tin và trách nhiệm của nhà quản lý cho sự toàn vẹn của hệ thống KSNB trong việc hỗ trợ các quyết định kinh doanh và quản trị của tổ chức Vì vậy, vào năm 2013, Ủy ban COSO đã cập nhật và cải tiến báo cáo ban hành năm 1992 nhằm gia tăng sự dễ hiểu,
rõ ràng và dễ áp dụng vào thực tế Mục tiêu của Ủy ban COSO 2013 là thiết lập các khuôn mẫu và đưa ra các hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp để giảm thiểu gian lận
COSO 2013 được xây dựng và đã được chứng minh là hữu ích trong phiên bản góc Định nghĩa kiểm soát nội bộ và năm bộ phận cấu thành của kiểm soát nội bộ vẫn được giữ nguyên không thay đổi về cơ bản
COSO 2013 nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc thiết kế, thực hiện, vận hành và đánh giá hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, đồng thời nó chuẩn hóa thành 17 nguyên tắc nhằm mục đích dễ dàng ứng dụng và sử dụng
Trang 21Bảng 1.1: 17 nguyên tắc cần thiết trong xây dựng hệ thống kiểm soát nội
bộ theo báo cáo COSO 2013
Môi trường kiểm soát
1 Đơn vị phải chứng tỏ sự cam kết về tính trung thực
4 Cam kết việc sử dụng nhân viên có năng lực, duy trì
và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với mục tiêu
5 Yêu cầu các cá nhân chịu trách nhiệm báo cáo của
họ trong việc đáp ứng các mục tiêu
Đánh giá rủi ro
6 Thiết lập mục tiêu rõ ràng và đầy đủ bao gồm: mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo tài chính và phi tài chính cho nguời bên ngoài và bên trong, mục tiêu tuân thủ
7 Nhận diện rủi ro, tiến hành phân tích rủi ro để xác định các rủi ro cần được quản trị
8 Cần xem xét các loại gian lận tiềm tàng khi đánh giá rủi ro
9 Cần xác định và đánh giá những thay đổi của môi trường ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ
Hoạt động kiểm soát
10 Lựa chọn, thiết lập các hoạt động kiểm soát nhằm giảm thiểu các rủi ro
11 Lựa chọn và phát triển công nghệ thông tin
12 Triển khai các hoạt động kiểm soát dựa trên các chính sách đã được thiết lập và triển khai thành các thủ tục
Thông tin và truyền
thông
13 Thu thập và sử dụng các thông tin thích hợp, có chất lượng nhằm hỗ trợ cho các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ
14 Cần truyền thông tin trong nội bộ doanh nghiệp để
hỗ trợ cho các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội
17 Đánh giá và thông báo những khiếm khuyết của kiểm soát nội bộ cho các đối tượng có trách nhiệm
để có những biện pháp khắc phục
(Nguồn: Sách kiểm toán tập 1, nhà xuất bản kinh tế TP HCM)
Trang 221.2.4 So sánh kiểm soát nội bộ theo COSO 1992, COSO 2004, COSO 2013
Giống nhau:
Kiểm soát nội bộ theo báo cáo COSO 1992, COSO 2004, COSO 2013 giống nhau đều được xem là một quá trình được triển khai ở tất cả các bộ phận liên quan đến nhiều người trong một tổ chức và đều bị chi phối bởi: người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu hiệu quả của hoạt động, sự tin cậy của báo cáo tài chính, nhưng phải tuân thủ pháp luật và các quy định đã ban hành
Khác nhau:
- Các yếu tố cấu thành: COSO 1992 bao gồm năm yếu tố cấu thành: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát COSO 2004 bao gồm tám yếu tố cấu thành: môi trường quản lý, thiết lập mục tiêu, nhận dạng các sự kiện tiềm tàng, đánh giá rủi ro, phản ứng với rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát COSO 2013 dựa trên năm yếu
tố cấu thành của COSO 1992 được chuẩn hóa thành 17 nguyên tắc
- Về môi trường kiểm soát: COSO 1992 xem triết lý quản lý và phong cách điều hành là yếu tố hợp thành môi trường quản lý COSO 2004 xem quản trị rủi ro nhìn nhận quan điểm của nhà quản lý về rủi ro là yếu tố hợp thành của môi trường quản lý COSO 2013 xem quản trị rủi ro là yếu tố hợp thành môi trường quản lý
- Về đánh giá rủi ro: COSO 2004 coi thiết lập mục tiêu là điều kiện đầu tiên để nhận dạng, đánh giá và phản ứng với rủi ro COSO 2013 chỉ ra mục tiêu thích hợp
và cụ thể hơn để đánh giá rủi ro gian lận
- Về hoạt động kiểm soát: Báo cáo COSO 2013 đề cập đến nội dung chọn lựa
và phát triển các hoạt động kiểm soát trong khi các báo cáo trước chưa đề cập đến
- Về thông tin và truyền thông: COSO 1992 quan tâm đến việc rà soát và phát triển hệ thống thông tin trên cơ sở chiến lược dài hạn COSO 2004 thông tin phục
vụ cho quá trình rủi ro phải gắn với quản trị rủi ro và có thể so sánh với mức rủi ro
có thể chấp nhận COSO 2013 nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thông tin trong điều kiện phát triển của khoa học công nghệ thông tin hiện nay và nội dung thông tin phải gắn liền với rủi ro doanh nghiệp
- Giám sát: COSO 1992 phải thường xuyên và định kỳ giám sát các hoạt động của kiểm soát nội bộ COSO 2013 nhấn mạnh hơn đến việc thực hiện đánh giá liên
Trang 23tục và định kỳ đồng thời phải đánh giá và truyền thông về kết quả của quá trình giám sát đó
1.2.5 Hạn chế của hệ thống kiểm soát
1.2.5.1 Hạn chế xuất phát từ con người
Hệ thống KSNB trãi qua những giai đoạn và từng bước đã được hình thành, bổ sung để hoàn thiện trong quá trình phát triển Tuy nhiên, dù hệ thống KSNB có phát triển và hữu hiệu đến đâu thì cũng vẫn còn tồn tại những hạn chế tiềm tàng vốn có của nó Bỡi lẽ, tính hữu hiệu còn tùy thuộc vào nhân tố chủ yếu là con người, tức là phụ thuộc vào năng lực làm việc và tính đáng tin cậy của lực lượng nhân sự…
Bất kỳ một hoạt động kiểm soát nào của KSNB cũng phụ thuộc vào yếu tố con người Con người là nhân tố gây ra các sai sót từ những hạn chế xuất phát từ bản thân như: vô ý, bất cẩn, sao lãng, đánh giá hay ước lượng sai, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc báo cáo của cấp dưới
Sự gian lận của nhân viên thông qua sự thông đồng với nhau hay với các bộ phận bên ngoài tổ chức
Thông tin truyền đạt, hướng dẫn từ cấp trên xuống các đơn vị bị hiểu sai lệch hoặc do việc báo cáo của cấp dưới không đúng
Nhà quản lý lạm quyền bỏ qua các quy định kiểm soát trong quá trình thực hiện nghiệp vụ có thể dẫn đến việc không kiểm soát được các rủi ro và làm cho môi trường kiểm soát trở nên yếu kém
KSNB khó ngăn chặn được gian lận và sai sót của người quản lý cấp cao Các thủ tục kiểm soát là do người quản lý đặt ra, nó chỉ kiểm tra việc gian lận và sai sót của nhân viên Khi người quản lý cấp cao cố tình gian lận, họ có thể tìm cách bỏ qua các thủ tục kiểm soát cần thiết
Luôn có khả năng làm các cá nhân có trách nhiệm kiểm soát đã lạm dụng quyền hạn của mình nhằm phục vụ cho mưu đồ riêng
1.2.5.2 Hạn chế xuất phát từ những nguyên nhân khác
Thiếu sự quan tâm của các nhà quản lý khi có sự thay đổi của tổ chức hay các nhà quản lý không quan tâm đến việc xây dựng, thiết kế, vận hành các chính sách
và thủ tục kiểm soát cho phù hợp với môi trường kinh doanh hoặc những người chịu trách nhiệm thực hiện kiểm soát nội bộ lạm dụng quyền hạn của mình, thì không thể
có hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu
Trang 24Lý thuyết KSNB chỉ giới hạn trách nhiệm của người quản lý trong các hoạt động của đơn vị, chưa thể hiện trách nhiệm liên quan đến việc kiểm soát các rủi ro tiềm ẩn
Điều kiện hoạt động của đơn vị thay đổi nên dẫn tới những thủ tục kiểm soát không còn phù hợp…
Hoạt động kiểm soát chỉ tập trung vào các sai phạm dự đoán sẽ xảy ra hoặc đã xảy ra do đó các thủ tục kiểm soát trở nên kém hiệu quả
Chưa mở rộng được tầm nhìn chiến lược trong việc xác định các mục tiêu, đặt biệt là các mục tiêu chiến lược không nằm trong chu trình kiểm soát cũng làm cho
hệ thống kiểm soát nội bộ bị hạn chế về tính dự báo đối với các loại rủi ro và vì vậy không xây dựng được các chiến lược dài hạn để đối phó
1.3 Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ theo COSO 2013
1.3.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một tổ chức, nó tác động đến ý thức, thái độ, hành động của nhà quản lý, của toàn thể nhân viên trong đơn vị đối với kiểm soát và tầm quan trọng của kiểm soát, và là nền tảng cho các bộ phận khác trong hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm xây dựng những nguyên tắc và cơ cấu hoạt động cho phù hợp Môi trường kiểm soát còn chịu ảnh hưởng bởi văn hóa và lịch sử của tổ chức đó Các nhân tố của môi trường kiểm soát bao gồm tính trung thực và các giá trị đạo đức của doanh nghiệp, các cam kết về năng lực và chính sách nhân sự, cơ cấu tổ chức và cách thức phân định quyền hạn trách nhiệm, sự quan tâm chỉ đạo của Hội đồng Quản trị và ban kiểm soát của công ty Ngoài ra môi trường kiểm soát cũng ảnh hưởng đến cách thức kinh doanh của một doanh nghiệp, đến các mục tiêu được thiết lập, đến các bộ phận còn lại của hệ thống kiểm soát nội bộ Theo COSO 2013 môi trường kiểm soát gồm có các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Đơn vị phải chứng tỏ sự cam kết về tính trung thực và giá trị đạo đức
Nguyên tắc 2: Hội đồng Quản trị phải chứng tỏ sự độc lập với người quản lý
và đảm nhiệm chức năng giám sát việc thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội
bộ
Trang 25Nguyên tắc 3: Nhà quản lý dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị cần thiết lập cơ cấu tổ chức, các loại báo cáo, phân định trách nhiệm và quyền hạn nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị
Nguyên tắc 4: Đơn vị phải chứng tỏ sự cam kết về việc sử dụng nhân viên có năng lực, thông qua tuyển dụng, duy trì và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với mục tiêu của đơn vị
Nguyên tắc 5: Đơn vị cần yêu cầu các cá nhân chịu trách nhiệm báo cáo về trách nhiệm của họ trong việc đáp ứng các mục tiêu của tổ chức
1.3.2 Đánh giá rủi ro
Mỗi đơn vị luôn phải đối phó với rất nhiều rủi ro, rủi ro xuất phát từ bên trong
và bên ngoài doanh nghiệp Điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi ro là thiết lập mục tiêu Mục tiêu phải được thiết lập ở các mức độ khác nhau và phải nhất quán Đánh giá rủi ro là việc nhận dạng, phân tích và quản lý các rủi ro có thể là nguy cơ đe dọa đến việc làm cho các mục tiêu của doanh nghiệp không đạt được như: mục tiêu sản xuất, bán hàng, tài chính và các hoạt động khác để từ đó có thể quản trị được rủi ro
Do điều kiện kinh tế, đặc điểm và hoạt động kinh doanh, những quy định luôn thay đổi, nên cơ chế nhận dạng và đối phó rủi ro phải liên kết với sự thay đổi này
Để đánh gía rủi ro trước tiên cần xác định mục tiêu Xác định mục tiêu không phải là một nhân tố của KSNB, nhưng nó là một điều kiện để KSNB có thể thực hiện được
Theo COSO 2013 đánh giá rủi ro gồm có các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 6: Đuơn vị phải thiết lập mục tiêu rõ ràng và đầy đủ để giúp nhận diện và đánh giá rủi ro phát sinh trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị Các mục tiêu đơn vị thường thiết lập bao gồm: mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo tài chính và phi tài chính cho nguời bên ngoài và bên trong, mục tiêu tuân thủ
Nguyên tắc 7: Đơn vị phải nhận diện rủi ro trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị, tiến hành phân tích rủi ro để xác định các rủi ro cần được quản trị
Nguyên tắc 8: Đơn vị cần xem xét các loại gian lận tiềm tàng khi đánh giá rủi
ro không đạt mục tiêu của đơn vị
Nguyên tắc 9: Đơn vị cần xác định và đánh giá những thay đổi của môi trường ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ Các thay đổi bao gồm thay đổi từ môi trường bên ngoài (kinh tế, chính trị…), thay đổi từ cách thức kinh doanh (loại kinh
Trang 26doanh mới, kỹ thuật mới…), thay đổi từ cách thức quản lý, từ thái độ và triết lý của người quản lý về hệ thống kiểm soát nội bộ
1.3.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là tập hợp các chính sách và thủ tục đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện, là các hành động cần thiết thực hiện để đối phó với rủi ro đe dọa đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức
Hoạt động kiểm soát tồn tại ở mọi bộ phận và mọi cấp độ tổ chức trong một doanh nghiệp Tuy nhiên, cần lưu ý rằng có hoạt động kiểm soát có thể giúp đạt được cả ba nhóm: mục tiêu hoạt động, tài chính và tuân thủ Chính sách kiểm soát
là những nguyên tắc chung làm cơ sở cho việc thực hiện các thủ tục kiểm soát Còn thủ tục kiểm soát là những quy định cụ thể để thực thi chính sách kiểm soát Chính sách kiểm soát có thể được tài liệu hóa một cách đầy đủ và có hệ thống hoặc lưu hành theo kiểu truyền miệng Điều quan trọng là các chính sách kiểm soát này cần được áp dụng một cách nhất quán với sự nhận thức đầy đủ của những cá nhân thực hiện chính sách Vì vậy, cần theo dõi kết quả của việc áp dụng hoạt động kiểm soát
và có các biện pháp điều chỉnh cho thích hợp
Xét về mục đích có thể chia hoạt động kiểm soát thành ba loại:
- Kiểm soát phòng ngừa: là hoạt động kiểm soát nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu
khả năng xảy ra sai sót và gian lận ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu của đơn vị
- Kiểm soát phát hiện: là hoạt động kiểm soát nhằm phát hiện kịp thời ra hành
vi sai sót hoặc gian lận nào đó đã được thực hiện
- Kiểm soát bù đắp: là việc tăng cường thêm thủ tục kiểm soát nhằm bổ sung
cho một thủ tục kiểm soát khác
Xét về chức năng các hoạt động kiểm soát nội bộ phổ biến trong đơn vị bao gồm:
Phân tích soát xét: là việc soát xét của nhà lãnh đạo cấp cao trong doanh
nghiệp như so sánh kết quả thực tế với dự toán, với kỳ trước hay với các đối thủ khác
Quản trị hoạt động: người quản lý ở các cấp trung gian sẽ soát xét các báo cáo
về hiệu quả của từng bộ phận mà mình phụ trách so với kế hoạch đã đề ra
Phân chia trách nhiệm: Việc phân chia trách nhiệm hợp lý giữa các chức năng
trong đơn vị cần phải được xem xét một cách nghiêm túc và được coi như là một
Trang 27loại kiểm soát phòng ngừa và kiểm soát phát hiện một cách hữu hiệu để tránh những hành vi nhầm lẫn hay gian lận có thể xảy ra khi có những cơ hội hay điều kiện thuận lợi
Kiểm soát quá trình xử lý thông tin: là hoạt động kiểm soát cần được thực hiện
nhằm đảm bảo tính chính xác, tính đầy đủ và phê chuẩn đúng đắn cho các nghiệp vụ diễn ra trong doanh nghiệp Các hệ thống thông tin ngày nay được xử lý phần lớn bằng các chương trình trên máy tính kết hợp với một số thủ tục được xử lý thủ công bởi con người Vì vậy, kiểm soát quá trình xử lý thông tin có thể chia làm hai loại chính đó là kiểm soát chung và kiểm soát ứng dụng Hai loại kiểm soát này có sự liên hệ mật thiết và hỗ trợ với nhau Kiểm soát chung rất cần để đảm bảo cho sự vận hành của kiểm soát ứng dụng Ngược lại, kiểm soát ứng dụng giúp phát hiện vấn đề, đưa ra các đề xuất để sửa đổi và hoàn thiện hệ thống, từ đó làm cho kiểm soát chung hữu hiệu hơn và đầy đủ hơn
Theo COSO 2013 hoạt động kiểm soát gồm có các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 10: Đơn vị phải lựa chọn, thiết lập các hoạt động kiểm soát để góp phần giảm thiểu các rủi ro giúp đơn vị đạt mục tiêu ở mức độ có thể chấp nhận được
Nguyên tắc 11: Đơn vị lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát chung
về công nghệ thông tin nhằm hỗ trợ cho việc đạt được các mục tiêu
Nguyên tắc 12: Đơn vị phải triển khai các hoạt động kiểm soát dựa trên các chính sách đã được thiết lập và triển khai thành các thủ tục
1.3.4 Thông tin truyền thông
Mọi bộ phận và cá nhân trong doanh nghiệp đều phải có những thông tin cần thiết giúp thực hiện trách nhiệm của mình (trong đó có trách nhiệm kiểm soát) Vì vậy, những thông tin cần thiết cần phải được xác định, thu thập và truyền đạt đến những cá nhân, bộ phận có liên quan một cách kịp thời và thích hợp Hệ thống thông tin của doanh nghiệp tạo ra các báo cáo, trong đó chứa đựng những thông tin
về tài chính, hoạt động hay tuân thủ, giúp cho nhà quản lý điều hành và kiểm soát doanh nghiệp Một thông tin có thể dùng cho nhiều mục tiêu khác nhau, như để lập báo cáo tài chính, để xem xét việc tuân thủ pháp luật và các quy định hay được dùng để điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Đơn vị cần xác định các thông tin cần thiết phải thu thập, xử lý và báo cáo
Trang 28Vấn đề quan trọng nhất là thông tin phải phù hợp với nhu cầu, đặc biệt trong giai đoạn doanh nghiệp đối mặt với sự thay đổi trong kinh doanh, với sự cạnh tranh gay gắt và sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng Do vậy, hệ thống thông tin cũng phải thay đổi phù hợp nhằm đáp ứng mục tiêu mới của doanh nghiệp
Truyền thông là việc trao đổi và truyền đạt các thông tin cần thiết tới các bên
có liên quan cả trong lẫn ngoài doanh nghiệp Bản thân mỗi hệ thống thông tin đều
có chức năng truyền thông, bởi có như vậy thì những thông tin đã được thu thập và
xử lý mới có thể đến được với các đối tượng có nhu cầu để giúp họ thực hiện được trách nhiệm của mình
Thông tin và truyền thông có mối quan hệ mật thiết và không thể tách rời nên hai khái niệm này được trình bày chung cấu thành một bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ Thông tin và truyền thông có vai trò quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình để tồn tại và ngày càng phát triển
Theo COSO 2013 thông tin và truyền thông gồm có các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 13: Đơn vị phải thu thập hay tạo ra và sử dụng các thông tin thích hợp, có chất lượng nhằm hỗ trợ cho các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ Nguyên tắc 14: Việc thông tin truyền thông trong nội bộ doanh nghiệp, bao gồm cả mục tiêu và trách nhiệm kiểm soát nội bộ, là cần thiết để hỗ trợ cho các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ
Nguyên tắc 15: Đơn vị phải truyền thông cho các bên liên quan về những vấn
đề ảnh hưởng hoạt động KSNB
1.3.5 Giám sát
Giám sát là quá trình đánh giá chất lượng việc thực hiện của hệ thống KSNB theo thời gian Mục tiêu chính của giám sát là để đảm bảo hệ thống KSNB được triển khai, được điều chỉnh khi môi trường thay đổi, được phát hiện kịp thời để có biện pháp cải thiện, khắc phục khi có khiếm khuyết xảy ra Giám sát là hoạt động quan trọng trong KSNB, được thực hiện ở mọi hoạt động trong doanh nghiệp, đôi khi còn áp dụng cho các đối tượng bên ngoài Và để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh, nhà quản lý cần phải thực hiện hoạt động giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ
Giám sát thường xuyên được thực hiện trong các hoạt động hàng ngày và thường lặp đi lặp lại do các nhà quản lý và nhân viên tiến hành trong quá trình thực
Trang 29hiện nhiệm vụ của mình
Giám sát định kỳ thường được thực hiện thông qua các cuộc kiểm toán nội bộ hoặc các hoạt động định kỳ của ban kiểm soát, qua đó phát hiện kịp thời những yếu kém trong hệ thống để đưa ra các biện pháp cải thiện Giám sát định kỳ còn giúp doanh nghiệp đánh giá tính hữu hiệu của việc giám sát thường xuyên
Theo COSO 2013 giám sát gồm có các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 16: Đơn vị phải lựa chọn, triển khai và thực hiện việc đánh giá liên tục hoặc định kỳ nhằm bảo đảm rằng các bộ phận cấu thành của KSNB là hữu hiệu
và đang vận hành đúng
Nguyên tắc 17: Đơn vị phải đánh giá và thông báo những khiếm khuyết của KSNB kịp thời cho các đối tượng có trách nhiệm để có những hoạt động khắc phục, bao gồm cả những người quản lý cấp cao và hội đồng quản trị
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1 tác giả đã trình bày những lý luận cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ, lịch sữ hình thành và phát triển kiểm soát nội bộ, định nghĩa về kiểm soát nội bộ, khuôn mẫu hệ thống kiểm soát nội bộ theo báo cáo COSO 2013, so sánh những điểm khác nhau và những điểm mới trong COSO 2013 nhằm mục đích làm cơ sở cho việc tìm hiểu, đánh giá và phân tích thực trạng hệ thống KSNB tại công ty Theo COSO 2013 hệ thống kiểm soát nội bộ được cấu thành bởi năm thành phần chính được thể hiện bằng 17 nguyên tắc gắn kết liên hoàn nhằm làm giảm nguy cơ xảy ra sai sót để đạt được các mục tiêu mà nhà quản lý đã đề ra
Dựa trên hệ thống lý luận về KSNB ở chương 1, chương tiếp theo sẽ đi sâu vào khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước - Môi trường tỉnh Bình Dương để từ đó đưa ra các nhận xét những ưu điểm và hạn chế trong việc thiết kế và vận hành tại công ty
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG
TY TNHH MTV CẤP THOÁT NƯỚC-MÔI TRƯỜNG TỈNH BÌNH DƯƠNG 2.1 Tình hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và tổ chức công tác kế toán tại công ty
2.1.1 Tình hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh
2.1.1.1 Giới thiệu khái quát về công ty
Trụ sở công ty: Số 11, đường Ngô Văn Trị, phường Phú Lợi, TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Tên tiếng việt: CÔNG TY TNHH MTV CẤP THOÁT NƯỚC-MÔI TRƯỜNG TỈNH BÌNH DƯƠNG
Tên giao dịch quốc tế: BINH DUONG WATER SUPPLY SEWERAGE AND ENVIRONMENT CO, LTD
Tên viết tắt: BIWSE
Điện thoại: 06503 838 333 - 3 89 77 66
Fax: 0650 3 827 738
Email: binhduong@biwase.com.vn ; ctyctnbd@hcm.vnn.vn
Website: http://www.biwase.com.vn
Vốn điều lệ: 1.051.357.387.981đồng (trong đó vốn nhà nước chiếm trên 50%)
2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường tỉnh Bình Dương có tiền thân từ hệ thống cấp nước Thủ Dầu Một do pháp xây dựng từ năm 1901 được phát triển qua nhiều thời kỳ, nguồn nước khai thác chủ yếu là nguồn nước ngầm khai thác từ độ sâu 50m-70m Trước năm 1975 có tên là “Trung tâm cấp thủy Bình Dương” với năm trạm bơm nước ngầm: Ty Công An, Ngô Quyền, Cầu Ông Đành, Yersin và Gò Đậu, công suất 2.000 m3/ngày đêm
Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, tháng 5/1975 Trung tâm Cấp thủy được chính quyền giải phóng Và ngày 22/3/1979, chủ tịch UBND tỉnh Sông Bé ký Quyết định số 43/QĐ-TC thành lập "Xí nghiệp Điện, Nước, Nhà ở và Công trình công cộng" trực thuộc Ty Xây dựng Sông Bé Xí nghiệp là đơn vị kinh doanh hạch toán kinh tế độc lập có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng được mở tài khoản tại ngân hàng và được quan hệ với các ngành địa phương
Trong giai đoạn từ năm 1976 - 1990, xây dựng thêm 13 trạm bơm mới: Bến
Trang 32Bắc, Nam Sanh, Kiểm Lâm, Phú Thuận, Phú Hòa, Mũi Tàu, Ngô Chí Quốc, Tỉnh Đội, Hoàng Hoa Thám, Trưng Vương, Yersin II, Cầu ông Đành II, Gò Đậu II với tổng công suất 5.000m³/ngày đêm
Sau khi thành lập, trãi qua một thời gian ổn định bộ máy, ổn định sản xuất, kể
từ năm 1996 Xí nghiệp bắt đầu một giai đoạn phát triển mạnh mẽ sau khi được UBND tỉnh Sông Bé đầu tư cho một nhà máy tập trung với công suất giai đoạn I 7.500m3/ngày đêm thay thế cho nguồn nước ngầm Đây cũng là thời điểm các nhà đầu tư chuẩn bị vào Bình Dương đầu tư phát triển công nghiệp và các lĩnh vực khác Cùng với sự phát triển của tỉnh nhà, quy mô và công suất sản xuất của công ty cũng phát triển theo Ngày 26/4/1997, khánh thành đưa vào hoạt động nhà máy nước thị xã Thủ Dầu Một công suất 21.600m3/ngày đêm
Tháng 01/1998, Công ty Cấp nước tỉnh Bình Dương đổi tên thành Công ty Cấp Thoát Nước Bình Dương Công ty là doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích, chịu
sự chỉ đạo và quản lý mọi mặt của UBND tỉnh Bình Dương Sở Xây dựng giúp UBND tỉnh quản lý Nhà nước theo ngành nghề kinh tế kỹ thuật đối với công ty
Công suất cấp nước: 20.000 m3/ngày đêm
Tỷ lệ thất thoát cao nhất trong giai đoạn này là 60% (năm 1997) Đến năm
2000 tỷ lệ thất thoát giảm còn 51,22%
Thời gian này bắt đầu quá trình đổi mới của tỉnh, thực hiện phương châm trải thảm đỏ mời gọi đầu tư, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu khách hàng, cộng với niềm tin từ những thành quả đạt được của những nhà đầu tư đi trước, Bình Dương
đã dần thu hút lượng đầu tư vào tỉnh tăng lên nhanh chóng Các khu công nghiệp nhanh chóng được thành lập kéo theo tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên và cơ học khá cao, dân từ nơi khác di cư sang tỉnh Bình Dương sinh sống và lập nghiệp ngày càng nhiều Công ty cũng có định hướng tầm nhìn chiến lược cho việc phát triển chung công ty trong tương lai, tuy nhiên công ty cũng còn gặp phải nhiều khó khăn trong việc sản xuất, tiêu thụ và nguồn vốn đầu tư cho khách hàng sử dụng nước chưa phát triển nhiều và chưa ổn định, nhưng đây cũng là giai đoạn khởi đầu cơ hội cấp nước, phát triển khách hàng của công ty Các dự án cấp nước hình thành và được khởi công xây dựng
Triển khai thi công Dự án cấp nước Dĩ An, Công ty thành lập 04 Xí nghiệp trực thuộc:
Trang 33Xí nghiệp Cấp nước Dĩ An, Xí nghiệp Cấp nước Thủ Dầu Một, Xí nghiệp Xử
lý và chế biến rác thải Nam Bình Dương, Xí nghiệp QLKT Thủy Lợi và các Ban quản lý dự án
Công suất cấp nước sạch đến 2004: 60.000 m3/ngày đêm, cung cấp cho trên 10.000 đấu nối khách hàng
Tỷ lệ thất thoát nước đến năm 2004: 28,88% (mỗi năm giảm 10%)
Ngày 21/12/2005, thực hiện chuyển đổi doanh nghiệp, UBND tỉnh Bình Dương ký Quyết định số 6547/QĐ-UBND phê duyệt phương án chuyển đổi, điều lệ
tổ chức hoạt động và chuyển tên Công ty Cấp Thoát Nước Bình Dương thành Công
ty TNHH Một thành viên Cấp Thoát Nước - Môi Trường Bình Dương với tên viết tắt là Công ty TNHH Cấp thoát nước - Môi trường Bình Dương, tên giao dịch quốc
tế là Binh Duong Water Supply-Sewerage-Environment Co, Ltd (viết tắt là BIWASE)
Ngày 10/9/2007, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng ký Quyết định số 1175/QĐ-TTg về việc phê duyệt phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghệp 100% vốn nhà nước thuộc UBND tỉnh Bình Dương giai đoạn 2007 - 2010
Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ và đa dạng ngành nghề, trong giai đoạn này Công ty triển khai các dự án:
Cấp nước Nam Thủ Dầu Một, Khu xử lý chất thải rắn Nam Bình Dương, nhà máy nước Tân Hiệp - Bình Dương, Dự án Cải thiện môi trường nước Nam Bình Dương Công ty quyết định thành lập thêm 04 xí nghiệp trực thuộc:
XN Tư vấn Cấp thoát nước, XNCN Khu liên hợp, XN Xây Lắp, XN Công trình Đô thị và thành lập 03 Ban quản lý Dự án đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển các loại hình dịch vụ của công ty nói riêng và tỉnh Bình Dương nói chung (tính đến thời điểm này là 08 xí nghiệp trực thuộc)
Công suất cấp nước sạch: 150.000 m3/ngày đêm
Trang 34đưa tổng số đơn vị trực thuộc lên 10 xí nghiệp, 03 nhà máy nước huyện, 12 Phòng, Ban và Trung tâm
Năm 2013: khánh thành Khu liên hợp Xử lý chất thải Nam Bình Dương và đưa vào hoạt động Nhà máy phân compost 420 tấn/ngày;
Năm 2014: góp vốn và là cổ đông sáng lập Công ty Cổ phần Nước Thủ Dầu Một, khánh thành đưa vào hoạt động NMN Nam Thủ Dầu Một mở rộng Dĩ An 2, công suất 50.000 m3/ngày đêm và NMN Khu đô thị công nghiệp Mỹ Phước (30.000 m3/ ngày đêm)
Công suất cấp nước sạch: 300.000 m3/ngày đêm
Năm 2015 đến nay khởi công xây dựng Nhà máy xử lý nước thải giai đoạn 2 tại thị xã Thuận An với công suất 15.000 m3/ngày đêm Bên cạnh đó công ty triển khai giai đoạn 3 nhà máy xử lý nước thải khu vực Dĩ An
2.1.1.3 Mục tiêu phát triển
Sau gần 10 năm từ khi tiến hành thực hiện chủ trương đổi mới gần như toàn diện
kể cả trong suy nghĩ và hành động, với những nổ lực không ngừng của tập thể cán bộ nhân viên công ty, công ty bước đầu đã đạt được một số thành tựu khá phấn khởi Chất lượng dịch vụ công ty phục vụ luôn đảm bảo, khách hàng được phục vụ 24/24 với chất lượng nước đáp ứng nhu cầu sức khỏe, phạm vi cung cấp ngày càng
mở rộng, hiện đã có 20.000 khách hàng sử dụng nguồn nước sạch, công ty hiện đang quản lý
Và xa hơn nữa ý nghĩa của việc phát triển đơn thuần, công ty đã hướng tới phát triển bền vững, ngoài nhiệm vụ chính về cấp thoát nước được tỉnh giao, bằng một số hoạt động khác như: quản lý khai thác, hệ thống thủy lợi, tham gia đầu tư một số dự án làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, thu gom xử lý chất thải, nước thải, tái chế nilon,… nhằm làm trong sạch và lành mạnh hóa môi trường sống đang
bị đe dọa ô nhiễm như hiện nay
Trang 35Công ty luôn thực hiện câu phương châm trong nội bộ công ty là “tất cả những
gì đạt được hôm nay sẽ là niềm tin, là động lực để công ty càng phấn đấu phát triển hơn nữa trong tương lai”
2.1.1.4 Lĩnh vực hoạt động
(Bảng 2.1: Các ngành nghề kinh doanh của Công ty TNHH MTV Cấp
thoát nước-Môi trường Bình Dương)
1
- Đầu tư khai thác xử lý, cung cấp nước sạch phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất, đầu tư quản lý hệ thống thoát nước, quản lý khai thác các công trình thủy lợi, xử lý thu gom chất thải sinh hoạt, công nghiệp, độc hại;
- Sản xuất phân Compost, cho thuê nhà, xưởng, sản xuất nước tinh khiết đóng chai, nước đá tinh khiết;
- Kinh doanh dịch vụ ăn uống
- Thiết kế các công trình cấp và thoát nước đô thị, nông thôn;
- Thiết kế kết cấu các công trình dân dụng và công nghiệp;
- Thiết kế các công trình thủy lợi vừa và nhỏ;
- Thi công xây dựng các công trình xử lý chất thải, môi trường
(Nguồn: Phòng Kế toán Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường Bình Dương)
Trang 362.1.1.5 Tổ chức bộ máy quản lý
a Sơ đồ tổ chức
(Nguồn: Phòng Kế toán Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường Bình Dương)
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường Bình Dương
CT HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ KIÊM TỔNG GIÁM ĐỐC
ỦY BAN KIỂM SOÁT
P TỔNG GIÁM ĐỐC 1
P TỔNG GIÁM ĐỐC 2
P TỔNG GIÁM ĐỐC 6
P.TC
KT
P TỔNG GIÁM ĐỐC 5
P TỔNG GIÁM ĐỐC 4
P TỔNG GIÁM ĐỐC 3
ĐỘI BẢO TRÌ SỬA CHỮA
B.QLDA ĐTXD
P QL SX-TB
P.TC
HC
P.KD
P QL CẤP THOÁT NUÓC
P.KHVT
ĐỘI THI CÔNG P.KHKT
BAN
QL GHI THU
XN CẤP NƯỚC TDM
NHÀ MÁY NƯỚC PHƯỚC VĨNH
XN NƯỚC
DĨ
AN
XN QL KHAI THÁC THỦY LỢI
XN
TƯ VẤN CẤP THOÁT NƯỚC
XN
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TDM
XN
XỬ
LÝ CHẤT THẢI
NHÀ MÁY NƯỚC DẦU TIẾNG
XN NƯỚC KHU LIÊN HỢP
XN NƯỚC TÂN UYÊN
XN XÂY LẮP
XN CÔNG TRÌNH
ĐÔ THỊ
Trang 37b Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận
Chủ tịch hội đồng thành viên kiêm tổng giám đốc công ty
Giám sát hoặc tổ chức giám sát việc thực hiện các quyết định của hội đồng thành viên, triệu tập và chủ trì cuộc họp hội đồng thành viên hoặc tổ chức việc lấy ý kiến của các thành viên, thay mặt hội đồng thành viên ký các quyết định của hội đồng thành viên Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty, ban hành quy chế quản lý nội bộ công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh thuộc thẩm quyền của hội đồng thành viên Chịu trách nhiệm trước hội đồng thành viên, trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao theo quy định của luật doanh nghiệp và pháp luật có liên quan
Phó tổng giám đốc
Quản lý và điều hành mọi mặt hoạt động của công ty theo phân cấp phân quyền của tổng giám đốc và thực hiện các nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn theo quy chế hoạt động của công ty đã được hội đồng thành viên phê duyệt
Phó tổng giám đốc điều hành hoạt động của công ty theo phân công và ủy quyền của giám đốc và chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc về nhiệm vụ được phân công hoặc ủy quyền
Tham mưu cho tổng giám đốc trong lĩnh vực đầu tư, hợp tác kinh doanh, công tác
xử lý kỹ luật, khen thưởng, đánh giá cán bộ công nhân viên trong công ty, chính sách học tập, huấn luyện đào tạo nhân sự đáp ứng theo nhu cầu phát triển của công ty
Kiểm soát viên
Các kiểm soát viên do Ủy Ban Nhân dân tỉnh bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Ủy Ban Nhân dân tỉnh về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình Kiểm soát viên có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp, trung thực, cẩn trọng
và có quyền kiểm tra Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc trong tổ chức quản lý điều hành công việc kinh doanh, thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo đánh giá công tác quản lý và các báo cáo khác trước khi trình Ủy Ban Nhân dân tỉnh hoặc các cơ quan có liên quan, có trách nhiệm kiến nghị biện pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty và thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu, theo quyết định của Ủy Ban Nhân dân tỉnh
Các phòng chuyên môn nghiệp vụ có chức năng tham mưu, giúp việc cho
Trang 38Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc công ty trong quản lý, điều hành công việc cụ thể như sau:
Phòng kế toán-tài chính: Tổ chức hạch toán công tác kế toán tại công ty, ghi
chép, xử lý, lưu trữ và lập báo cáo tài chính vào cuối mỗi kỳ
Phòng tổ chức hành chính: Thực hiện chức năng giúp việc cho tổng giám đốc
về các lĩnh vực: tổ chức nhân sự, lao động tiền lương, thi đua khen thưởng, kỷ luật, chế độ chính sách và công tác nghiệp vụ hành chính văn phòng
Phòng kinh doanh: có nhiệm vụ tham mưu cho phó tổng giám đốc công ty
trong việc tổ chức thực hiện mọi hoạt động có liên quan đến quản lý và kinh doanh của công ty
Phòng kế hoạch kỹ thuật: Thực hiện chức năng tham mưu, giúp việc cho phó
tổng giám đốc công ty về các lĩnh vực: Quy hoạch, kế hoạch kinh doanh,thi công xây lắp đường ống mới theo kế hoạch hoặc hợp đồng, an toàn lao động, giám sát kỹ thuật thi công, quyết toán công trình
Phòng kế hoạch vật tư: hoạt động dưới sự chỉ đạo của phó tổng giám đốc xây
dựng kế hoạch sản xuất và cung ứng vật tư phục vụ kịp thời cho việc sản xuất Phối hợp với phòng kỹ thuật, phòng kế toán trong việc tham mưu và soạn thảo hợp đồng kinh doanh của công ty
Phòng quản lý cấp thoát nước: Thực hiện chức năng tham mưu, giúp việc cho
phó tổng giám đốc công ty về các lĩnh vực: cấp thoát nước, môi trường nước
Phòng quản lý sản xuất - thiết bị: Thực hiện tham mưu cho tổng giám đốc,
Phó Tổng Giám đốc trong việc định hướng và kiểm soát chất lượng nói chung bao gồm lập chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng, hoạch định chất lượng, đảm bảo và cải tiến chất lượng
Ban quản lý các dự án đầu tư và xây dựng: Thực hiện chức năng thay mặt chủ
đầu tư quản lý các dự án đầu tư do công ty làm chủ đầu tư
Ban quản lý ghi thu: Có nhiệm vụ tổ chức, bố trí nhân viên ghi thu theo từng
khu vực, tổng hợp số liệu chuyển về phòng kế toán
Đội thi công: Thực hiện hoạt động thi công các công trình cấp thoát nước dưới
sự chỉ đạo của trưởng phòng kế hoạch kỹ thuật
Đội quản lý bảo trì và sửa chữa: Thực hiện chức năng kiểm tra bảo trì, sửa
chữa máy móc, đường ống thoát nước
Trang 39Các đơn vị trực thuộc như: Xí nghiệp cấp nước Dĩ An, Xí nghiệp cấp nước
Khu Liên hợp, Xí nghiệp cấp nước Thủ Dầu Một, Xí nghiệp cấp nước Tân Uyên, Nhà máy nước Dầu Tiếng, Nhà máy nước Phước Vĩnh, Xí nghiệp xử lý chất thải,
Xí nghiệp xử lý nước thải Thủ Dầu Một, Xí nghiệp quản lý khai thác thủy lợi, Xí nghiệp Tư vấn cấp thoát nước, Xí nghiệp Xây lắp, Xí nghiệp Công trình Đô thị thực hiện các hoạt động tư vấn thiết kế, thi công xây dựng theo sự chỉ đạo của Phó tổng giám đốc các bộ phận
2.1.2 Tình hình tổ chức công tác kế toán
2.1.2.1 Chế độ chính sách kế toán áp dụng
Kỳ kế toán năm của công ty bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm
Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán là đồng Việt Nam (VND)
Công ty áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài Chính và Thông tư số 244/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài Chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán doanh nghiệp Và bắt đầu từ ngày 01/01/2015 thực hiện theo thông tư 200/2014/TT-BTC về chế độ kế toán doanh nghiệp mới nhất ban hành vào ngày 22/12/2014 thay thế cho quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài Chính
2.1.2.2 Hình thức tổ chức hệ thống sổ sách kế toán
Công ty áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung Hàng ngày khi có nghiệp
vụ kinh tế phát sinh, kế toán tiến hành ghi nhận, xử lý các nghiệp vụ xảy ra và căn
cứ vào các chứng từ đã được kiểm tra để làm căn cứ ghi sổ kế toán, kế toán định khoản các tài khoản và nhập liệu vào máy vi tính theo các bảng biểu đã được thiết
kế sẵn trên phần mềm kế toán, phần mềm sẽ thực hiện chức năng tự động nhập vào các sổ sách Sau đó, đến cuối tháng, cuối quý, cuối năm kế toán sẽ kiểm tra đối chiếu các số liệu trên sổ cái và bảng tổng hợp chi tiết để lập báo cáo tài chính
Trang 402.1.2.3 Tổ chức bộ máy kế toán
(Nguồn: Phòng Kế toán Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước-Môi trường Bình
Dương)
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
Kế toán trưởng (trưởng phòng): Tổ chức thực hiện công tác kế toán trong đơn
vị, giúp tổng Giám đốc giám sát tình hình tài chính và tham mưu các vấn đề tình hình tài chính tại đơn vị Thực hiện các quy định về pháp luật của kế toán, tài chính trong đơn vị Kiểm tra giám sát công việc của các kế toán phần hành, phê duyệt các chứng từ
Kế toán tổng hợp (phó phòng): Hướng dẫn chỉ đạo các nhân viên kế toán theo
nội quy và quy trình hạch toán từ việc lập, luân chuyển chứng từ đến báo cáo kế toán, tham mưu, hỗ trợ cho kế toán trưởng trong công tác tài chính và thực hiện công việc điều hành khi kế toán trưởng vắng mặt Thực hiện công việc tổng hợp số liệu từ các kế toán phần hành, cân đối số liệu, kiểm tra số liệu thực hiện các bút toán tổng hợp, các bút toán cuối kỳ để lên báo cáo tài chính, xác định kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ Theo dõi các nghiệp vụ thu, chi tiền mặt
KẾ TOÁN TRƯỞNG (TRƯỞNG PHÒNG)
nợ
Kế toán thuế, TSCĐ
Kế toán thanh toán
Kế toán lương và các khoản trích theo lương
Thủ Quỹ
Kế toán các đơn vị phụ thuộc