1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Nghiên cứu chế độ vận hành tích nước trong thời kỳ mùa lũ cho hệ thống hồ chứa bậc thang hòa bình và sơn la (tt)

27 280 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI VŨ THỊ MINH HUỆ NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ VẬN HÀNH TÍCH NƯỚC TRONG THỜI KỲ MÙA LŨ CHO HỆ THỐNG HỒ CHỨA BẬC THANG HOÀ BÌNH V

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

VŨ THỊ MINH HUỆ

NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ VẬN HÀNH TÍCH NƯỚC TRONG THỜI KỲ MÙA LŨ CHO HỆ THỐNG HỒ CHỨA BẬC THANG HOÀ BÌNH VÀ SƠN LA

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT Chuyên ngành: Phát triển nguồn nước

Mã số: 62 44 92 01

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Thủy lợi

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS Phạm Thị Hương Lan

Người hướng dẫn khoa học 2: GS.TS Hà Văn Khối

Phản biện 01: PGS.TS Nguyễn Tiền Giang

Phản biện 02: PGS.TS Dương Văn Tiển

Phản biện 03: PGS.TS Vũ Minh Cát

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tại

……… Vào lúc … giờ …ngày … tháng … năm 2017

Có thể tìm hiểu luận án tại các thư viện:

- Thư viện Quốc gia

- Thư viện Trường Đại học Thủy lợi

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trên thượng nguồn sông Đà hiện nay có nhiều công trình hồ chứa đa mục tiêu đóng góp tỷ trọng lớn về sản lượng điện, cấp nước phục vụ phát triển kinh tế cho đồng bằng sông Hồng và tham gia điều tiết chống lũ hạ du với hiệu quả hết sức to lớn Hồ chứa Sơn La và Hòa Bình là hai hồ có dung tích dành chống lũ cho hạ du lớn nhất (7 tỉ m3), phần dung tích này được thiết kế nằm dưới mực nước dâng bình thường Do vậy, nẩy sinh mâu thuẫn giữa nhiệm vụ chống lũ và phát điện, cấp nước rất gay gắt

Mặt dù quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng được ban thành theo quyết định số 1622/QĐ-TTg ngày 17 tháng 09 năm 2015 đã tạo khung vận hành cứng, vận hành cụ thể còn phải căn cứ vào dự báo quá trình nước đến hồ Nhưng vẫn còn có hai câu hỏi mà yêu cầu thực tiễn đặt ra cho các nhà nghiên cứu, đó là:

- Có cho phép các hồ chứa trên được tích nước từ đầu mùa lũ không, và nếu cho phép thì quy định tích nước phải như thế nào mới đảm bảo an toàn chống lũ hạ du?

- Theo quy định, thời kỳ lũ muộn các hồ chứa phải tích nước dần đến mực nước dâng bình thường, nhưng nếu xẩy ra lũ lớn bất thường thì các hồ chứa sẽ ứng phó như thế nào để giảm lũ cho hạ du mà vẫn đảm bảo an toàn cho công trình?

Do vậy, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu chế độ vận hành tích

nước trong thời kỳ mùa lũ cho hệ thống hồ chứa bậc thang Hòa Bình và Sơn La” với mong muốn nghiên cứu cơ sở khoa học về chế độ vận hành tích nước

Trang 4

các hồ chứa Hòa Bình và Sơn La nhằm nâng cao hiệu quả tích nước cho phát điện và cấp nước, đảm bảo an toàn công trình và chống lũ hạ du

2 Nhiệm vụ của luận án

- Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định chế độ vận hành tích nước trong kỳ mùa lũ, đảm bảo an toàn tích nước đầy hồ, nâng cao hiệu quả cấp nước và phát điện mà vẫn đảm bảo an toàn chống lũ hạ du và chống lũ cho công trình cho hai hồ chứa Hòa Bình và Sơn La

- Nghiên cứu chế độ vận hành điều tiết cắt lũ cho hạ du trong thời kỳ lũ muộn, khi mà các hồ chứa Sơn La và Hòa Bình được phép tích nước đầy hồ, đảm bảo giảm thiểu tác động tiêu cực cho hạ du khi xảy ra lũ lớn bất thường

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Vận hành điều tiết tích nước và chống lũ cho hệ thống hồ chứa bậc thang Hoà Bình và Sơn La trong thời kỳ mùa lũ

Đối tượng nghiên cứu: Chế độ điều tiết chống lũ hạ du được xem xét trong hệ thống liên hồ chứa bao gồm 4 hồ Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang và Thác Bà, nhưng nghiên cứu chế độ vận hành tích nước theo mục tiêu của đề tài được giới hạn nghiên cứu với hệ thống hồ chứa Sơn La và Hoà Bình trên sông Đà

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp (i) Phương pháp kế thừa; (ii) Phương pháp phân tích tổng hợp; (iii) Phương pháp mô hình toán

5 Những đóng góp mới của luận án

- Đề xuất được chế độ tích nước sớm có điều kiện cho 2 hồ chứa Sơn La

và Hòa Bình Trên cơ sở đó, đề xuất cơ sở khoa học xác định mực nước giới hạn trên của quá trình tích nước hồ chứa Sơn La trong thời kỳ tích nước hạn chế, đảm bảo tích nước hiệu quả mà vẫn an toàn chống lũ hạ du và công trình

Trang 5

- Đề xuất được chế độ vận hành điều tiết chống lũ cho hạ du và phương thức ứng phó khi xảy ra lũ bất thường trong thời kỳ tích nước đầy hồ ở cuối thời kỳ mùa lũ

6 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm 118 trang, 30 bảng, 40 hình vẽ và 67 tài liệu tham khảo Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu vận hành vận hành hồ chứa đa mục tiêu Chương 2: Cơ sở khoa học và thực tiễn xác định chế độ vận hành tích nước trong thời kỳ mùa lũ đối với hệ thống hồ chứa Hòa Bình và Sơn La

Chương 3: Kết quả nghiên cứu chế độ vận hành trong thời kỳ tích nước hệ thống hồ chứa bậc thang Hòa Bình và Sơn La

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VẬN HÀNH CHƯƠNG 1

HỒ CHỨA ĐA MỤC TIÊU

Hồ chứa và vấn đề vận hành hồ chứa

1.1

Để khai thác sử dụng các hồ chứa lợi dụng tổng hợp đem lại lợi ích cao nhất, các nhà khoa học trên thế giới tập trung tìm ra quy tắc vận hành hợp lý, giải quyết các mẫu thuẫn giữa các mục tiêu khác nhau nâng cao hiệu quả vận hành

hồ chứa, từ các nghiên cứu đơn giản lượng trữ cấp nước của Rippl (1883) đến

các nghiên cứu phức tạp gần đây vận hành tối ưu hệ thống hồ chứa theo thời

gian thực phục vụ đa mục tiêu của Mehdipour và nnk (2012) Mặc dù đã được

đầu tư nghiên cứu rất bài bản và chi tiết từ các cơ quan quản lý khai thác sử dụng, nhiều nhà khoa học cũng đã sử dụng các phương pháp khác nhau để thiết lập quy tắc vận hành cho hệ thống hồ chứa nhưng các ứng dụng thành công chủ yếu gắn liền với đặc thù từng hệ thống, không có phương pháp luận, công cụ nào có thể dùng chung cho mọi hệ thống

Trang 6

Phương pháp quản lý và nguyên tắc vận hành hệ thống hồ chứa đa 1.2

mục tiêu

Mỗi hệ thống hồ chứa khi hoạt động đều tuân thủ theo một quy trình vận hành

đã được thiết lập sẵn, trong đó có các quy tắc vận hành cho từng thời kỳ mà người quản lý vận hành phải tuân thủ theo Quy trình vận hành của các hồ được thiết lập trong giai đoạn thiết kế kỹ thuật thông qua mô hình mô phỏng hoặc tối

ưu Các quy tắc vận hành được biểu diễn dưới dạng đồ thị hay bảng hướng dẫn theo mực nước (dung tích) hồ theo thời gian trong năm (Yeh, 1985) (Long, N

L, Madsen, H., and Rosbjerg, D., 2007) được thể hiện trong biểu đồ điều phối

là căn cứ chính cho việc ra quyết định khi vận hành hồ chứa Các đường cong quy tắc điều hành là một trong những cách quản lý đơn giản và phổ biến nhất, nhằm hỗ trợ việc ra quyết định điều hành hồ chứa của người quản lý (Liu P; Guo S.L; Xu X.W; Chen J.H, 2011) Đối với hệ thống hồ chứa đa mục tiêu có hai hướng quản lý: (i) Quản lý theo biểu đồ điều phối và (ii) Quản lý vận hành theo thời gian thực

Quy tắc điều hành hệ thống hồ chứa bậc thang đa mục tiêu: (i) với mục tiêu chống lũ là khi cần cắt lũ, tích đầy hồ thượng lưu trước, khi cần dung tích trống chuẩn bị điều tiết trận lũ sau thì xả trống hồ hạ lưu trước, (ii) với mục tiêu cung cấp nước chỉ đơn giản là trữ vào các hồ chứa cao hơn trước, và thấp nhất cuối cùng

Tổng quan các phương pháp xây dựng quy trình vận hành hệ thống 1.3

hồ chứa đa mục tiêu

Bài toán vận hành hệ thống hồ chứa là bài toán đa dạng và phức tạp, cho đến nay các nghiên cứu về lĩnh vực này trên thế giới, đặc biệt các nghiên cứu này ở Việt Nam đã được nhiều cơ quan chức năng và nhà khoa học quan tâm Nghiên cứu xây dựng quy trình vận hành hệ thống hồ chứa thường tập trung sử dụng công cụ mô hình toán như áp dụng lý thuyết tối ưu hoặc mô phỏng Kỹ thuật tối

ưu thường được sử dụng để thiết lập ra quy tắc vận hành khung, xây dựng biểu

đồ điều phối cho từng hồ chứa trong hệ thống Phương pháp mô phỏng giúp chi tiết hoá vận hành hệ thống hồ chứa với những các kịch bản khác nhau để lựa

Trang 7

chọn phương án vận hành hợp lý giải quyết các mâu thuẫn nhằm tối đa hoá các mục tiêu của hệ thống hồ chứa Chính vì vậy, mặc dù phương pháp sử dụng mô hình tối ưu ngày càng phát triển mạnh mẽ nhưng tìm ra quy tắc vận hành tối ưu vẫn gặp nhiều khó khăn (Labadie, 1997), nên phương pháp mô phỏng vẫn được ứng dụng rộng rãi nhằm xác định các quy tắc vận hành hợp lý và linh hoạt

Tổng quan về lưu vực sông Hồng

1.4

Hệ thống hồ chứa

Lưu vực sông Hồng là lưu vực sông lớn nhất miền Bắc Việt Nam Hệ thống sông Hồng bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc với 05 phụ lưu lớn khi chảy vào địa phận Việt Nam hợp thành 03 nhánh sông chính là Đà, Thao, Lô

Hình 1-6: Bản đồ lưu vực sông Đà

Do điều kiện địa hình thuận lợi, lưu vực sông Hồng ngày càng khai thác mạnh

mẽ nguồn nước thượng nguồn Trên thượng lưu sông Đà (sông Lý Tiên) thuộc Trung Quốc, hiện có 11 hồ chứa được quy hoạch, trong đó có 9 hồ đã đi vào vận hành

Phía Việt Nam, ngoài nhiệm vụ cấp nước và phát điện trong thời kỳ mùa lũ, hồ chứa Sơn La và Hòa Bình (trên sông Đà) dành 7 tỷ m3 cùng với 1,0 tỉ m3 của

Trang 8

Tuyên Quang (trên sông Gâm) và 0,45 tỉ m3 của Thác Bà (trên sông Chảy) bảo

vệ an toàn cho Hà Nội không vượt mực nước 13,4 m với trận lũ có chu kỳ lặp lại 500 năm

Quy trình vận hành hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Hồng

Nhận thấy tầm quan trọng của các hồ chứa này, ngay khi hồ chứa Hòa Bình đi vào hoạt động đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu để hỗ trợ cơ quan quản lý

ra văn bản pháp lý quy định quy trình vận hành phù hợp với sự phát triển của hệ thống Các quy trình đã ban hành quy định vận hành hệ thống hồ chứa trong thời kỳ tích nước khá linh hoạt với việc được duy trì mực nước hồ lên trên mực nước trước lũ Tuy nhiên chưa có quy định rõ ràng về thời điểm được tích và khi hồ chứa đã được tích lên mực nước cao mà gặp lũ lớn thì xử lý như thế nào? Vấn đề vận hành hệ thống hồ chứa trong thời kỳ tích nước còn một số hạn chế gây khó khăn cho người ra quyết định vận hành (vấn đề này sẽ được phân tích

kỹ trong chương 2) cần được nghiên cứu để nâng cao hiệu quả vận hành

Vấn đề dự báo lũ

Dự báo dòng chảy đến hồ là một trong những nhiệm vụ quan trọng cần thiết trong công tác vận hành hệ thống hồ chứa, chất lượng dự báo trong các bản tin

tư vấn ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả vận hành liên hồ chứa, mà đặc biệt là

dự báo dòng chảy trong thời kỳ tích nước Dự báo lũ trên hệ thống sông Hồng

là bài toán phức tạp, còn nhiều khó khăn khi ngày càng nhiều hồ chứa thượng nguồn được xây dựng và tình trạng thiếu thông tin từ các trạm đo trên địa phận Trung Quốc, vấn đề về chất lượng dự báo mưa số trị Tuy nhiên, báo lũ trên hệ thống đã được nhiều nhà khoa học (Trịnh Quang Hòa và nnk, 1994) (Nguyễn Văn Điệp, 2013) (Bùi Đình Lập, 2016) quan tâm ứng dụng những công nghệ hiện đại, tiên tiến trên thế giới nâng cao lượng dự báo phục vụ hiệu quả vận hành hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Hồng, đảm bảo yêu cầu vận hành theo thời gian thực Dự báo dòng chảy lũ với thời gian dự kiến 72h đạt mức dự báo

“Tốt” là một trong những điều kiện cho việc giải quyết mâu thuẫn giữa tích nước và phòng lũ hệ thống hồ chứa trên hệ thống sông Hồng

Trang 9

Định hướng nghiên cứu

1.5

Hệ thống hồ chứa Sơn La, Hoà Bình đã có nhiều nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình vận hành hệ thống hồ chứa trên sông Hồng cùng rất nhiều báo cáo phân tích thực tiễn vận hành với nhiều công nghệ hiện đại tuy nhiên người ra quyết định vận hành còn gặp rất nhiều khó khăn ở những thời điểm mà quy trình không có quy định cụ thể Vì vậy, luận án lựa chọn nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc vận hành hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Hồng trong thời kỳ tích nước, sơ đồ nghiên cứu được thể hiện trong Hình 1-7 dưới đây

Hình 1-7: Sơ đồ khối nghiên cứu chế độ vận hành tích nước cho hệ thống

hồ chứa Hòa Bình và Sơn La Quy trình vận hành hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Hồng hiện nay (QT1622), đã đề ra một khung vận hành cứng cho việc quản lý vận hành hồ chứa Do vậy, luận án lựa chọn phương pháp mô phỏng với ưu điểm giúp chi tiết hoá vận hành hệ thống hồ chứa khi vận hành theo các kịch bản khác nhau

Trang 10

để lựa chọn phương án vận hành hợp lý, giải quyết các mâu thuẫn nhằm tối đa hoá các mục tiêu của hệ thống

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH CHƯƠNG 2

CHẾ ĐỘ VẬN HÀNH TÍCH NƯỚC TRONG THỜI KỲ MÙA LŨ ĐỐI VỚI HỆ THỐNG HỒ CHỨA HÒA BÌNH VÀ SƠN LA

Nhận xét về các quy trình đã ban hành và đề xuất hướng nghiên cứu 2.1

chế độ vận hành tích nước

Nhiệm vụ chống lũ hạ du

QT 1622 quy định hồ chứa Sơn La và Hòa Bình dành phần dung tích đủ lớn để

để đảm bảo khi xảy ra lũ thiết kế có thể khống chế được mực nước lớn nhất tại

Hà Nội theo mức 13,1 m với lũ 300 năm và 13,4 m với lũ 500 năm tại Sơn Tây (xem Bảng 2-1)

Bảng 2-1: Quy định về phân bổ dung tích phòng lũ dành cho cắt lũ hạ du theo mực nước khống chế tại Hà Nội của các hồ Sơn La và Hòa Bình trong QT1622

1,13 (mực nước hồ từ 101÷107m)

2,13

ZHN > 13,1 m

Đến 13,4 m

3,00 (mực nước hồ từ 203

÷217,2 m)

1,87 (mực nước hồ từ

tần suất 0,33% và 0,2% với mực nước chân lũ tại Hà Nội ở ngưỡng 10,5 đến

Trang 11

11,5 m mà không tính cho trường hợp không xảy ra lũ lớn Do vậy, quy trình QT198 và QT1622 chỉ quy định chung chung là trường hợp không có lũ, tùy theo diễn biến của thời tiết và mực nước tại Hà Nội, cho phép dâng mực nước các hồ chứa cao hơn MNTL và khi dự báo có lũ xảy ra, xả nước để đưa mực nước các hồ về MNTL Như vậy, cần xác định mực nước cao hơn có giới hạn là bao nhiêu và dự báo thế nào thì cho phép dâng mực nước cao hơn ? Mặt khác,

theo tài liệu thống kê 56 năm (từ năm 1959-2015) chỉ có 9 năm ( 16%) mực

nước Hà Nội trong điều kiện tự nhiên có khả năng vượt 11,5 m, các hồ chứa phải tham gia cắt lũ cho hạ du Do vậy, việc quy định cụ thể chế độ vận hành hồ chứa trong mùa lũ khi không có lũ (mực nước Hà Nội <11,5 m) là rất cần thiết

Chưa có quy định cụ thể về chế độ vận hành cắt lũ hạ du trong thời kỳ tích nước (lũ muộn) khi xảy ra lũ bất thường Khi dự báo mùa lũ kết thúc sớm các

hồ chứa được phép tích nước từ ngày 10/8 nghĩa là Hoà Bình ở ngưỡng 110 m

và Sơn La là 209 m (theo QT1622), dung tích chống lũ hạ du chỉ còn khoảng 2,65 tỷ m3, không đủ khả năng chống lũ hạ du với mức lũ 300 năm tại Sơn Tây Trong các hồ sơ kỹ thuật phục vụ lập quy trình vận hành chưa thấy có nội dung tính toán kiểm tra khả năng cắt lũ và phương án ứng xử trong vận hành điều tiết các hồ chứa trong trường hợp xảy ra lũ bất thường vào thời kỳ tích nước này

Quy định chế độ vận hành cắt lũ hạ du khi xảy ra lũ lớn hợp lý nhưng chưa đầy đủ Các hồ chứa được quy định vận hành cắt lũ hạ du khi mực nước tại Hà

Nội có khả năng vượt 11,5 m, tuy nhiên không có sự phân bổ dung tích của hồ chứa giữa hai mức khống chế 13,1 m và 13,4 m Điều này gây khó khăn cho người vận hành hệ thống hồ chứa chống lũ hạ du trong thực tế

Chia mùa lũ thành 3 thời kỳ với mốc thời gian cố định để xây dựng chế độ điều tiết vận hành cho từng thời kỳ đó Trong các quy trình đã được ban hành,

đều quy định chế độ vận hành hệ thống hồ chứa mùa lũ theo 3 thời kỳ: lũ sớm,

Trang 12

lũ chính vụ và lũ muộn Thời điểm bắt đầu tích nước vào hồ chứa được quy định vào đầu thời kỳ lũ muộn (sau ngày 21 tháng 08 hàng năm) và chỉ cho phép tích nước sớm từ ngày 10 tháng 8 hàng năm với điều kiện dự báo mùa lũ kết thúc sớm

Phân tích thực trạng và những bất cập của các quy trình vận hành theo các quy trình đã ban hành Mặc dù các quy trình đã quy định mực nước lớn

nhất trong thời kỳ mùa lũ, nhưng trong quá trình vận hành thực tế đã vận hành theo hướng tích nước trước thời điểm cho phép Cụ thể, 04 năm (2012-2015) sau khi có hồ chứa Sơn La, vận hành hệ thống hồ chứa tuân theo QT 198, quy định MNTL của Sơn La là 194 m và Hòa Bình là 101 m, thời điểm tích nước không sớm hơn ngày 10/08 nhưng các hồ đều giữ mực nước cao hơn quy định mặc dù không có lũ (Hình 2-1) Đặc biệt năm 2012, mực nước hồ chứa Sơn La lớn nhất đạt 201,84 m cao hơn 5,84 m, mực nước lớn nhất hồ Hòa Bình là 106,76 m cao hơn 5,76 m Các hồ chứa đã tích sớm nhưng cuối mùa lũ, dòng chảy trong sông giảm nhanh, các hồ chứa này có những thời gian giảm công suất phát điện để đảm bảo tích nước được đầy hồ chứa an toàn cấp nước cho hạ

du mùa kiệt

Hình 2-1: Biểu đồ quá trình mực nước hồ Sơn La thời kỳ mùa lũ từ

năm 2012-2015

Trang 13

Định hướng nghiên cứu chế độ vận hành tích nước hồ chứa Hòa Bình và Sơn La Từ những phân tích về quy trình và thực tiễn vận hành, luận án định

hướng nghiên cứu với hai nội dung chính như sau:

- Nghiên cứu chế độ vận hành tích nước thời kỳ mùa lũ nhằm nâng cao hiệu quả phát điện, cấp nước, đảm bảo an toàn tích nước đầy hồ và vẫn an toàn chống lũ cho hạ du và cho công trình

- Nghiên cứu xây dựng chế độ vận hành điều tiết cắt lũ, giảm thiểu tác động tiêu cực cho hạ du trong trường hợp xảy ra lũ lớn bất thường vào thời kỳ tích nước sau ngày 21/8 hàng năm hoặc sau ngày 10/8 khi cho phép tích nước

sớm

2.2 Cơ sở khoa học nghiên cứu xây dựng chế độ vận hành tích nước

Quan điểm nghiên cứu Luận án đề nghị nghiên cứu áp dụng chế độ tích nước

sớm có điều kiện (phương án trung gian) đối với hồ chứa Sơn La và Hòa Bình Tuy nhiên, dù hồ chứa được tích nước sớm nhưng không có nghĩa là nên tích nước ngay đến mực nước dâng bình thường trước thời điểm kết thúc mùa lũ mà chỉ nên tích nước đến một giới hạn nào đó để khi dự báo có lũ lớn xảy ra, thì phải kịp đưa mực nước hồ về mực nước trước lũ, sẵn sàng làm nhiệm vụ chống

lũ theo thiết kế Chế độ tích nước được gọi là có điều kiện vì tại mỗi thời điểm

tích nước, mực nước được tích trong hồ phụ thuộc vào 3 yếu tố: (1) Mực nước

hồ chứa và mực nước hạ du (tại Hà Nội) tại thời điểm tích nước; (2) Mức độ dự báo lũ và diễn biến dòng chảy đến hồ và mực nước hạ du trong thời gian dự kiến; (3) Ràng buộc về chế độ điều tiết xả lũ qua công trình xả lũ Theo đó, mùa

lũ được phân thành 02 thời kỳ vận hành:

Thời kỳ tích nước hạn chế (trước ngày 21/08 hàng năm): là thời kỳ vận hành

tích nước hạn chế gồm thời kỳ lũ sớm và lũ chính vụ Đây là thời kỳ mà nhiệm

vụ cắt lũ cho hạ du là chính, bởi vậy các hồ chứa chỉ cho phép tích nước đến

mực nước nhất định gọi là mực nước giới hạn H gh H gh được xác định sao cho khi dự báo hoặc cảnh báo có lũ lớn kịp đưa mực nước hồ về mực nước trước lũ

để kịp sẵn sàng cắt lũ an toàn cho hạ du

Ngày đăng: 28/03/2017, 10:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1-6: Bản đồ lưu vực sông Đà - Nghiên cứu chế độ vận hành tích nước trong thời kỳ mùa lũ cho hệ thống hồ chứa bậc thang hòa bình và sơn la (tt)
Hình 1 6: Bản đồ lưu vực sông Đà (Trang 7)
Hình 1-7: Sơ đồ khối nghiên cứu chế độ vận hành tích nước cho hệ thống - Nghiên cứu chế độ vận hành tích nước trong thời kỳ mùa lũ cho hệ thống hồ chứa bậc thang hòa bình và sơn la (tt)
Hình 1 7: Sơ đồ khối nghiên cứu chế độ vận hành tích nước cho hệ thống (Trang 9)
Bảng 2-1: Quy định về phân bổ dung tích phòng lũ dành cho cắt lũ hạ du theo  mực nước khống chế tại Hà Nội của các hồ Sơn La và Hòa Bình trong QT1622 - Nghiên cứu chế độ vận hành tích nước trong thời kỳ mùa lũ cho hệ thống hồ chứa bậc thang hòa bình và sơn la (tt)
Bảng 2 1: Quy định về phân bổ dung tích phòng lũ dành cho cắt lũ hạ du theo mực nước khống chế tại Hà Nội của các hồ Sơn La và Hòa Bình trong QT1622 (Trang 10)
Hình 2-1: Biểu đồ quá trình mực nước hồ Sơn La thời kỳ mùa lũ từ - Nghiên cứu chế độ vận hành tích nước trong thời kỳ mùa lũ cho hệ thống hồ chứa bậc thang hòa bình và sơn la (tt)
Hình 2 1: Biểu đồ quá trình mực nước hồ Sơn La thời kỳ mùa lũ từ (Trang 12)
Hình 2-7: Sơ đồ tiếp cận nghiên cứu đề xuất giải pháp vận hành ứng phó trong - Nghiên cứu chế độ vận hành tích nước trong thời kỳ mùa lũ cho hệ thống hồ chứa bậc thang hòa bình và sơn la (tt)
Hình 2 7: Sơ đồ tiếp cận nghiên cứu đề xuất giải pháp vận hành ứng phó trong (Trang 15)
Hình 3-1:  Sơ đồ tính toán thiết lập bảng nguyên tắc vận hành - Nghiên cứu chế độ vận hành tích nước trong thời kỳ mùa lũ cho hệ thống hồ chứa bậc thang hòa bình và sơn la (tt)
Hình 3 1: Sơ đồ tính toán thiết lập bảng nguyên tắc vận hành (Trang 19)
Bảng 3-1: Kết quả tính toán Hgh của hồ chứa Sơn La - Nghiên cứu chế độ vận hành tích nước trong thời kỳ mùa lũ cho hệ thống hồ chứa bậc thang hòa bình và sơn la (tt)
Bảng 3 1: Kết quả tính toán Hgh của hồ chứa Sơn La (Trang 19)
Bảng 3-3: Tổng hợp các phương án điều chỉnh Hgh - Nghiên cứu chế độ vận hành tích nước trong thời kỳ mùa lũ cho hệ thống hồ chứa bậc thang hòa bình và sơn la (tt)
Bảng 3 3: Tổng hợp các phương án điều chỉnh Hgh (Trang 20)
Bảng 3-6: Bảng tổng hợp mực nước hồ chứa Sơn La, Hòa Bình và Hà Nội vận hành theo phương án 1 và 3 - Nghiên cứu chế độ vận hành tích nước trong thời kỳ mùa lũ cho hệ thống hồ chứa bậc thang hòa bình và sơn la (tt)
Bảng 3 6: Bảng tổng hợp mực nước hồ chứa Sơn La, Hòa Bình và Hà Nội vận hành theo phương án 1 và 3 (Trang 21)
Bảng 3-7: Quy định mực nước thấp nhất các hồ chứa được phép hạ xuống để - Nghiên cứu chế độ vận hành tích nước trong thời kỳ mùa lũ cho hệ thống hồ chứa bậc thang hòa bình và sơn la (tt)
Bảng 3 7: Quy định mực nước thấp nhất các hồ chứa được phép hạ xuống để (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w