Việt Nam hiện nay, tuy kế toán quản trị không còn là một thuật ngữ mới mẻ nhưng do còn tồn tại nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên đại đa số các doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng
Trang 1MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
6 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP CUNG CẤP DỊCH VỤ 4
1.1 Khái niệm chung về kế toán quản trị 4
1.1.1 Bản chất kế toán quản trị trong doanh nghiệp 4
1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị trong doanh nghiệp 6
1.1.3 Nội dung và phạm vi kế toán quản trị trong doanh nghiệp 8
1.1.4 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong doanh nghiệp 8
1.2 Tổng quan về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 10
1.2.1 Chi phí sản xuất và nhận diện chi phí sản xuất trong doanh nghiệp 10
1.2.1.1 Chi phí sản xuất 10
1.2.1.2 Nhận diện chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch 11
1.2.2 Giá thành sản phẩm và các loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp 15
1.2.2.1 Bản chất của giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp 15
1.2.2.2 Các loại giá thành sản phẩm sản 16
1.3 Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch 18
1.3.1 Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch 18
1.3.1.1 Hệ thống định mức chi phí 18
1.3.1.2 Tổ chức lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 19
Trang 21.3.3 Đối tượng tính giá thành sản phẩm sản xuất nước sạch 23
1.3.4 Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp 25
1.3.4.1 Chứng từ và tài khoản sử dụng 25
1.3.4.2 Tổ chức ghi nhận và hệ thống hóa thông tin 25
1.3.4.3 Tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 26
1.3.4.4 Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN CẤP NƯỚC ĐỒNG NAI 30
2.1 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm tại công ty TNHH một thành viên Cấp nước Đồng Nai 30
2.1.1 Khái quát đặc điểm tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên Cấp nước Đồng Nai trong thời gian qua 30
2.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH một thành viên Cấp nước Đồng Nai 36
2.2 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại Công ty TNHH một thành viên Cấp nước Đồng Nai 38
2.3 Nội dung kế toán quản trị chi phí trong Công ty TNHH MTV cấp nước Đồng Nai 42
2.3.1 Thực trạng phân loại chi phí tại Công ty TNHH một thành viên Cấp nước Đồng Nai 43
2.3.2 Lập dự toán, kế hoạch sản xuất kinh doanh 45
2.3.3 Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất 46
2.3.4 Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm 47
2.3.5 Tổ chức ghi nhận ban đầu chi phí và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH một thành viên Cấp nước Đồng Nai 48
Trang 3nước Đồng Nai 52
2.3.7 Thực trạng lập báo cáo kế toán quản trị chi phí và giá thành tại Công ty TNHH MTV Cấp Nước Đồng Nai 54
2.4 Đánh giá thực trạng hệ thống kế toán quản trị tại Công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai 55
2.4.1 Một vài ưu điểm trong công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty 55
2.4.2 Những tồn tại trong tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm tại Công ty 56
2.4.3 Những nguyên nhân của thực trạng trên 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3 : HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH MTV CẤP NƯỚC ĐỒNG NAI 62
3.1 Nguyên tắc và yêu cầu hoàn thiện kế toán quản trị chi phí cho công ty 62
3.1.1 Các nguyên tắc cơ bản 62
3.1.2 Yêu cầu cơ bản 63
3.2 Nội dung hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành tại công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai 63
3.2.1 Hoàn hiện nội dung chi phí tại công ty 63
3.2.1.1 Hoàn thiện việc phân loại chi phí sản xuất phục vụ cho kế toán quản trị chi phí 63
3.2.1.2 Hoàn thiện định mức, dự toán chi phí sản xuất theo yêu cầu tổ chức kế toán quản trị 67
3.2.2 Hoàn thiện nội dung tổ chức kế toán quản trị chi phí 68
3.2.2.1 Hoàn thiện vận dụng chứng từ và TK trong kế toán quản trị chí phí và giá thành sản phẩm 68
3.2.2.2 Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm 68
3.3 Một số kiến nghị 70
3.3.1 Đối với Công ty 70
Trang 4KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 73 KẾT LUẬN 74
Trang 5Bảng 3.1: Bảng phân loại chi phí 65
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Các vai trò cơ bản của quản lý 6
Sơ đồ 1.2: Giá thành sản xuất theo biến phí 17
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức quản lý Công ty TNHH MTV Cấp Nước Đồng Nai 33
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình sản xuất 37
Sơ đồ 2.3: Tổ chức bộ máy kế toán của Công ty 39
Sơ đồ 2.4: Xử lý và cung cấp thông tin kế toán 42
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Kế toán ra đời và không ngừng hoàn thiện cùng với quá trình ra đời và phát triển của các hình thái kinh tế xã hội Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội, sự phát triển của các hình thái kinh tế sản xuất hàng hóa, kế toán đã không chỉ là một công cụ quan trọng phục vụ cho việc quản lý, điều hành, kiểm soát và phân tích các hoạt động kinh tế tại các đơn vị Trong một nền kinh tế, khi các mối quan hệ kinh tế đan xen và tính ảnh hưởng lẫn nhau thì thông tin kế toán cung cấp sẽ được nhiều đối tượng sử dụng với các mục đích đa dạng khác nhau Do đó việc
kế toán phát triển và được phân chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị là một tất yếu khách quan
Kế toán quản trị sử dụng các phương pháp thích hợp để lượng hóa các hoạt động của đơn vị một cách cụ thể, qua đó cung cấp thông tin làm cơ sở cho các nhà quản lý
ra quyết định cũng như thực hiện kiểm soát quản lý trong đơn vị Về cơ bản, trọng tâm của kế toán quản trị là chi phí; mặt khác chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai vấn đề luôn được nhà quản trị quan tâm Trong thời buổi luôn tồn tại sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, yêu cầu đặt ra đối với các nhà quản trị là phải tổ chức công tác kế toán chi phí và giá thành sản phẩm hợp lý để không những có thể tối đa hóa lợi nhuận mà còn đem lại sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp của mình Như vậy, kế toán quản trị có vai trò cung cấp các thông tin về chi phí và giá thành sản phẩm giúp cho nhà quản trị quản lý, kiểm soát chặt chẽ hiệu quả chi phí sản xuất góp phần thực hiện tốt chức năng quản trị trong doanh nghiệp
Việt Nam hiện nay, tuy kế toán quản trị không còn là một thuật ngữ mới mẻ nhưng do còn tồn tại nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên đại đa số các doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng đầu tư xây dựng mô hình kế toán quản trị, đặc biệt là
kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm để kế toán quản trị có thể phát huy được vai trò của mình trong các công tác điều hành hoạt động và quản lý doanh nghiệp
Không nằm ngoài thực trạng nêu trên, Công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai hiện tại vẫn đang trong giai đoạn áp dụng và hoàn thiện mô hình kế toán quản trị tại doanh nghiệp Là một doanh nghiệp chuyên sản xuất và cung cấp nước sạch Công ty phải thực hiện kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó việc đầu tư nghiên cứu kế
Trang 7toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là một biện pháp quan trọng và cần thiết
Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nói riêng; đồng thời xuất phát từ thực trạng và những vấn đề lý luận nêu trên, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai
- Qua đó đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu công tác kế toán quản trị về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nước sạch, lắp đặt và mở rộng hệ thống cấp nước, quản lý dự án… tại Công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai, thông qua các số liệu và tài liệu thu thập tại Công ty
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2015 đến tháng 12/2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu đề tài là theo phương pháp định tính để giải quyết các vấn đề nghiên cứu, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu để giải quyết các vấn đề cụ thể trong luận văn:
- Phương pháp khảo sát: Khảo sát tại doanh nghiệp thông qua phiếu các câu hỏi
- Phương pháp hệ thống: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kế toán quản trị
- Phương pháp thống kê: Thu thập, phân tích, đánh giá dữ liệu khảo sát
- Phương pháp tiếp cận: Đối tượng, chủ đề nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Tìm hiểu, đánh giá và phân tích thực trạng việc vận dụng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công để chỉ ra mặt đạt được, những mặt hạn
Trang 8chế và nguyên nhân từ đó đáp ứng được yêu cầu quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty
Đưa ra các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH MTV nước Đồng Nai
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, các doanh mục phụ lục và kết luận, nội dung của luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai
Chương 3: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
CUNG CẤP DỊCH VỤ 1.1 Khái niệm về kế toán quản trị
Một số khái niệm về kế toán quản trị
- Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế công bố trong tài liệu tổng kết các khái niệm
kế toán quản trị trên thế giới năm 1998, IFAC (1998), Management Accouting
Concepts, page 84, 99 “Kế toán quản trị được xem như một quy trình định dang kiểm
soát, đo lường, tổng hợp, phân tích trình bày, giải thích và truyền đạt thong tin phi tài chính lien quan đến hoạt động của doanh nghiệp những nhà quản trị thực hiện hoạch định đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp”
Theo nhóm tác giả Anthony A.Atkinson, Raiiv D.Banker (2001, Management
accounting: “Kế toán quản trị là một quy trình cải tiến không ngừng việc hoạch định,
thiết kế đo lường hệ thống thông tin tài chính hoạt động của doanh nghiệp để hướng dẫn, thúc đẩy hành động, hành vi của quản trị của doanh nghiệp cần thiết nhằm đạt chiến lược, chiến thuật và mục tiêu doanh nghiệp”
- Theo nhóm tác giả Jan R.Williams, Susan F.Haka, Mark S.Bettner (2005), “Kế toán quản trị là trình bày, giải thích những thông tin kế toán với định hướng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu thông tin của những nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh”
Tóm lại các khái niệm trên ta có thể hiểu kế toán quản trị là quá trình thu thập, xử
lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết
định kinh tế, tài chính trong nội bộ daonh nghiệp
1.2 Khái quát chung về kế toán quản trị
1.2.1 Bản chất kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Chức năng của kế toán nói chung là tiến hành thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về các hoạt động kinh tế tài chính của một đơn vị cho các đối tượng sử dụng thông tin Sự phát triển của nền kinh tế thị trường làm nảy sinh nhu cầu sử dụng thông tin kế toán ngày càng tăng với các mục đích cụ thể khác nhau cho từng đối tượng sử dụng
Trang 10thông tin Như vậy, xuất phát từ tính đa dạng trong các mục đích sử dụng thông tin, cũng như để đảm bảo tính hữu ích trong nguồn thông tin thì kế toán đã chia tách ra thành kế toán tài chính và kế toán quản trị
Kế toán tài chính cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp thông qua hệ thống báo cáo tài chính Từ nguồn thông tin này, các đối tượng như cơ quan quản lý nhà nước, đối tác làm ăn, các nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp… sử dụng để đưa ra các quyết định kinh tế gắn liền với lợi ích của họ Còn đối với kế toán quản trị, thông tin kế toán chỉ cung cấp cho đối tượng là các cấp quản trị trong nội bộ doanh nghiệp, phục vụ cho việc ra quyết định kinh tế gắn với quá trình hoạt động, điều hành và quản lý doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kế toán góp phần quan trọng vào công tác quản trị doanh nghiệp Ngoài nhiệm vụ theo dõi tình hình biến động của tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí và kết quả của doanh nghiệp như kế toán tài chính, kế toán quản trị qua đó tiến hành phân tích, sử dụng nhiều phương pháp khoa học khác nhau để hình thành nên hệ thống thông tin cung cấp cho các cấp quản trị theo yêu cầu cụ thể Thông tin kế toán quản trị có thể kể đến như các chỉ tiêu đánh giá tình hình hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp, khả năng thanh toán, chi phí phát sinh tại các bộ phận, kết cấu sản phẩm, chi phí, thu nhập và kết quả của từng loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ…Nói cách khác, kế toán tài chính phản ánh tổng quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ còn kế toán quản trị cung cấp thông tin một cách chi tiết, cụ thể đối với từng hoạt động, gắn với từng bước từ khâu lập kế hoạch, khâu tổ chức thực hiện tới công tác kiểm tra đánh giá Như vậy thông tin của kế toán quản trị gắn liền với các chức năng quản lý trong doanh nghiệp
Từ các nội dung được đề cập ở trên, có thể thấy bản chất của kế toán quản trị được thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành nên hệ thống kế toán nói chung, được hình thành từ quá trình nghiên cứu các công cụ kiểm soát và lập kế hoạch, thu thập và
sử lý thông tin phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý Các quyết định quản lý sẽ
có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó
kế toán quản trị phải được tổ chức phù hợp, khoa học, hiệu quả nhằm cung cấp một hệ thống thông tin kịp thời hữu ích phục vụ cho công tác quản trị trong doanh nghiệp
Trang 11- Kế toán quản trị cung cấp thông tin được sử trong nội bộ doanh nghiệp do những thông tin này có ý nghĩa đối với người điều hành, quản trị doanh nghiệp nhiều hơn là các đối tượng bên ngoài Mặt khác, do thông tin mang tính chất cụ thể, chi tiết
về tình hình hoạt động của doanh nghiệp nên được hạn chế sự tiếp cận của các đối tượng bên ngoài, tránh ảnh hưởng đến tính cạnh tranh trong kinh doanh
- Thông tin kế toán quản trị là các thông tin định lượng, được cụ thể hóa thành các chức năng cơ bản của các nhà quản trị như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, phân tích đánh giá và ra quyết định
1.2.2 Vai trò của kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Trách nhiệm của các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp là điều hành và quản lý các mặt hoạt động của doanh nghiệp Hoạt động quản lý là một tiến trình liên tục từ khâu lập kế hoạch đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó lại quay lại khâu lập kế hoạch cho kỳ sau, tất cả đều xoay quanh khâu ra quyết định Ra quyết định là chức năng đồng thời là nhiệm vụ cơ bản của các nhà quản trị doanh nghiệp
Để quản lý và ra quyết định đúng đắn đòi hỏi các nhà quản trị phải có thông tin cần thiết Kế toán quản trị là nguồn chủ yếu cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu đó Vai trò của kế toán quản trị thể hiện trong các khâu của quá trình quản lý được khái quát bằng sơ đồ sau:
(Nguồn: nghiên cứu của tác giả)
Sơ đồ 1.2: Các vai trò cơ bản của quản lý
Lập kế hoạch
Đánh giá thực
hiện kế hoạch
Tổ chức thực hiện
Kiểm tra - đánh giá hoạt động (Kết quả công việc)
Ra quyết định
Trang 12Qua sơ đồ này, có thể thấy sự liên tục của hoạt động quản lý từ khâu lập kế hoạch đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó quay lại khâu lập kế hoạch cho kỳ sau, tất
cả đều xoay quanh trục ra quyết định
Như vậy, để làm tốt công tác quản lý, nhà quản trị có các thông tin cần thiết để có thể ra các quyết định đúng đắn Kế toán quản trị là nguồn chủ yếu cung cấp nhu cầu thông tin đó Vai trò của kế toán quản trị thể hiện trong các khâu trên của quá trình quản lý, cụ thể như sau:
* Trong giai đoạn lập kế hoạch và dự toán
Lập kế hoạch và xây dựng các mục tiêu phải đạt và vạch ra các bước thực hiện để đạt được mục tiêu đó Các kế hoạch này có thể là kế hoạch ngắn hạn, dài hạn
Dự toán cũng là một loại kế hoạch nhằm liên kết các mục tiêu và chỉ rõ cách huy động, sử dụng các nguồn lực để đạt các mục tiêu đề ra
Kế toán quản trị thu thập thông tin thực hiện (quá khứ) và những thông tin liên quan đến tương lai (thông tin dự toán, dự tính) để phục vụ cho việc lập kế hoạch, dự toán
* Trong giai đoạn tổ chức thực hiện
Để tổ chức thực hiện, các nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt nhất giữa các yếu
tố tổ chức, con người và các nguồn lực sao cho kế hoạch được thực hiện ở mức cao nhất và hiệu quả nhất
Kế toán quản trị có vai trò thu thập và cung cấp các thông tin đã và đang thực hiện để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh của nhà quản trị và chỉ đạo thực hiện các quyết định
* Trong giai đoạn kiểm tra và đánh giá
Nhà quản trị sau khi đã lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện kế hoạch, đòi hỏi phải kiểm tra, đánh giá hoạt động (kết quả công việc) và đánh giá thực hiện kế hoạch Phương pháp thường dùng là so sánh số liệu thực hiện với số liệu của
kế hoạch và dự toán, xác định những sai biệt giữa kết quả đạt được với các mục tiêu đã
đề ra Do đó kế toán quản trị có vai trò cung cấp thông tin thực hiện từng bộ phận; giúp nhà quản lý nhận diện và đánh giá kết quả thực hiện, những vấn đề còn tồn tại và cần có tác động của quản lý
Trang 13* Trong khâu ra quyết định
Phần lớn thông tin do kế toán quản trị cung cấp nhằm giúp các nhà quản trị ra quyết định Để có quyết định đúng đắn và kịp thời, các nhà quản trị phải có thông tin đầy đủ, đáng tin cậy và thích hợp Kế toán quản trị có vai trò cung cấp thông tin, soạn thảo các báo cáo phân tích số liệu, thông tin; thực hiện việc phân tích số liệu, thông tin thích hợp giữa các phương án đưa ra để lựa chọn, tư vấn cho nhà quản trị lựa chọn phương án, quyết định phù hợp và tối ưu nhất
1.1.3 Nội dung và phạm vi kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Nội dung cụ thể của kế toán quản trị đối với từng hoạt động sản xuất kinh doanh được các doanh nghiệp xác định thành các chỉ tiêu căn cứ vào yêu cầu quản trị của mỗi doanh nghiệp Kế toán quản trị thực hiện việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin chi tiết, cụ thể theo từng chỉ tiêu phù hợp với mục đích sử dụng thông tin của các nhà quản trị doanh nghiệp Do vậy, nội dung cụ thể và phạm vi của kế toán quản trị ở các doanh nghiệp không hoàn toàn giống nhau
Tuy nhiên, nếu xét một cách tổng thể thị nội dung của kế toán quản trị bao gồm các vấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống dự toán ngân sách;
- Hệ thống kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm;
- Hệ thống kế toán trách nhiệm;
- Thiết lập thông tin phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn và dài hạn
Ngoài những nội dung chủ yếu nêu trên, doanh nghiệp có thể thực hiện các nội dung kế toán quản trị khác theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Về phạm vi kế toán quản trị: không bị giới hạn và được quyết định bởi nhu cầu thông tin về kế toán quản trị của doanh nghiệp trong tất cả các khâu của qúa trình tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh, lập kế hoạch, kiểm tra, tổ chức, điều hành, ra quyết định và trình độ, khả năng tổ chức công tác kế toán quản trị của mỗi doanh nghiệp
1.1.4 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Việc tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong doanh nghiệp theo mô hình tách biệt hoặc kết hợp giữa kế toán quản trị với kế toán tài chính phải phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh, yêu cầu quản lý và quy mô đầu tư, trình độ của cán bộ kế toán
Trang 14Để đáp ứng nhu cầu thông tin kịp thời và hữu ích cho nhà quản trị đòi hỏi bộ máy kế toán quản trị phải được xây dựng khoa học hợp lý
- Mô hình tách biệt: Theo mô hình này, tổ chức kế toán tài chính và kế toán quản
trị độc lập với nhau, có nghĩa là các nhân viên đảm nhiệm về kế toán tài chính sẽ độc lập với các nhân viên chuyên về kế toán quản trị
Công việc của kế toán quản trị cụ thể như sau:
+ Lập dự toán, định mức chi phí cho từng bộ phận cũng như toàn doanh nghiệp + Căn cứ vào hệ thống ghi chép ban đầu là chứng từ để ghi vào các sổ kế toán quản trị
+ Lập các báo cáo kế toán quản trị theo yêu cầu của nhà quản trị
+ Phân tích, đánh giá kết quả thu được so với dự toán, định mức đã xây dựng để đưa ra các thông tin thích hợp làm cơ sở cho việc ra quyết định
Mô hình tách biệt thường được áp dụng tại các doanh nghiệp có quy mô lớn, kinh doanh đa ngành nghề với số lượng các nghiệp vụ phát sinh lớn Tuy nhiên mô hình còn tồn tại hạn chế là chưa khái quát được thông tin của hai loại hình kế toán trong khi chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
- Mô hình kết hợp: Mô hình này cho phép tổ chức kế toán tài chính và kế toán
quản trị được xây dựng kết hợp với nhau, nghĩa là các nhân viên kế toán thực hiện thu nhận, xử lý và cung cấp cả thông tin kế toán tài chính lẫn thông tin kế toán quản trị Với đặc thù trên, công việc của nhân viên kế toán được cụ thể hóa như sau: + Căn cứ vào chứng từ ban đầu phát sinh để ghi vào sổ kế toán tài chính và kế toán quản trị
+ Tiến hành lập báo cáo tài chính tại thời điểm cuối kỳ hoặc các loại báo cáo cho các cơ quan quản lý theo quy chế hiện hành và lập báo cáo quản trị theo yêu cầu của nhà quản lý
+ Phân tích, đánh giá kết quả thu được với các dự toán hay định mức đã xây dựng, đồng thời xử lý thông tin để cung cấp cho nhu cầu của nhà quản trị
Mô hình này thường được vận dụng tại các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ,
số lượng các nghiệp vụ phát sinh không nhiều Mô hình cho phép thông tin kế toán tài chính và kế toán quản trị có sự kết hợp chặt chẽ, thông tin được thu thập nhanh và chi phí cho việc tổ chức công tác kế toán cũng được giảm nhẹ hơn so với mô hình tách biệt Bên cạnh đó, mô hình kết hợp tồn tại hạn chế là tính chuyên môn hóa của hai
Trang 15loại kế toán không cao, do đó, kế toán quản trị sẽ khó phát huy được hết vai trò quan trọng trong công tác quản lý và điều hành doanh nghiệp
- Ngoài ra, còn tồn tại mô hình hỗn hợp được hình thành từ việc kết hợp hai loại
mô hình trên Trong đó, tổ chức kế toán quản trị do các chuyên gia hay nhân viên của doanh nghiệp đảm nhiệm còn kế toán tài chính doanh nghiệp có thể đi thuê các công
ty kinh doanh nghành nghề kế toán
1.2 Tổng quan về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.2.1 Chi phí sản xuất và nhận diện chi phí sản xuất trong doanh nghiệp 1.2.1.1 Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là chỉ tiêu kinh tế, tài chính đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý, điều hành doanh nghiệp Việc hiểu một cách đúng đắn về chi phí luôn là một nội dung quan trọng hàng đầu của kế toán, nó có quyết định đến quá trình tập hợp, xử
lý và cung cấp thông tin kế toán về chi phí cho các đối tượng sử dụng Do vậy, về phương diện nghiên cứu, đã có nhiều nhà kinh tế đưa ra những cách tiếp cận khác nhau về chi phí Các quan điểm khác nhau về chi phí là hệ quả của sự khác nhau trong
hệ thống kinh tế xã hội ở giai đoạn lịch sử của từng quốc gia Vì vậy, để nhận thức đầy
đủ về chi phí cần nghiên cứu chúng trong điều kiện kinh tế xã hội cụ thể Dưới đây, vấn đề chi phí, giá thành được tác giả xem xét trong điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Theo các nhà khoa học Việt Nam, bản chất của chi phí được hiểu là sự chuyển dịch các yếu tố của quá trình sản xuất trong kỳ vào giá trị của sản phẩm, kết quả sản xuất Ngoài ra, do sự chi phối của cơ chế tài chính của nhà nước trong từng thời kỳ mà chi phí còn bao gồm một số khoản mà thực chất là một phần giá trị mới sáng tạo ra như: Các khoản trích theo lương bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chi phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp, một số khoản thuế không được hoàn lại …
Kế toán cho rằng chi phí cho những công trình, hạng mục công trình là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ
ra để tiến hành sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định Như vậy, theo quan điểm này chi phí và thu nhập chỉ được xác định trên bình diện chung của toàn doanh nghiệp và gắn với kỳ hạch toán
Vì vậy, ở góc độ kế toán quản trị, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cần được nhận diện trên nhiều tiêu thức khác nhau giúp cho việc tổ chức ghi nhận, xử lý,
Trang 16hệ thống hoá và cung cấp thông tin phục vụ cho việc điều hành, sản xuất và ra quyết định cho các cấp quản trị trong doanh nghiệp
Kế toán quản trị cần căn cứ vào mục đích sử dụng thông tin về chi phí trong công tác quản trị doanh nghiệp, để tổ chức phân loại, nhận diện chi phí cho phù hợp
1.2.1.2 Nhận diện chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch
Trong kế toán tài chính, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh biểu hiện bằng thước đo tiền tệ, được tính cho một thời kỳ nhất định
Trên góc độ của kế toán quản trị, chi phí không đơn thuần được nhận diện là những chi phí đã phát sinh mà còn có thể là chi phí ước tính khi thực hiện một dự án hay giá trị lợi ích mất đi khi lựa chọn phương án này mà bỏ qua những cơ hội kinh doanh khác
Chi phí là nhân tố chủ yếu tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh Nhiệm vụ kiểm soát chi phí, dự toán biến động của chi phí đối với nhà quản trị là rất quan trọng Việc nhận diện chi phí của doanh nghiệp là nhằm mục đích phục vụ cho quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó tuỳ thuộc vào mục đích yêu cầu quản trị của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, từng hoàn cảnh để lựa chọn tiêu thức nhận diện phù hợp Kế toán quản trị có một số cách nhận diện chi phí như sau:
* Nhận diện CPSX theo nội dung, tính chất kinh tế
Theo cách nhận diện này, căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế của chi phí để tập hợp sắp xếp những chi phí có cùng tính chất, nội dung vào một yếu tố chi phí mà không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu và nơi nào chịu chi phí
Theo cách nhận diện này toàn bộ CPSX của doanh nghiệp được chia thành các yếu tố chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu: là toàn bộ chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị mà doanh nghiệp đã sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm
- Chi phí nhân công: là toàn bộ tiền lương (tiền công) và các khoản trích BHXH,
BHYT, KPCĐ, BHTN tính trên tiền lương của cán bộ trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện dự án
Trang 17- Chi phí khấu hao TSCĐ: Là số tiền trích khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động
sản xuất trong doanh nghiệp, bao gồm khấu hao máy móc thiết bị sử dụng cho các dự
án, công trình, hạng mục công trình
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp phải trả về các
loại dịch vụ mua ngoài sử dụng vào quá trình xây dựng, lắp đặt ở các dự án, công trình, hạng mục công trình
- Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ các khoản chi phí khác phát sinh trong quá
trình sản xuất ngoài các chi phí nói trên và được thanh toán bằng tiền
Nhận diện chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế có tác dụng cho biết những chi phí nào đã dùng vào quá trình sản xuất sản phẩm và tỷ trọng của từng loại
đó chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong tổng số chi phí sản xuất Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xây dựng định mức vốn lưu động, nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp, trong việc lập các dự toán chi phí sản xuất và kiểm tra các dự toán trong quá trình sản xuất Ngoài ra còn là căn cứ để lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố
* Nhận diện CPSX theo mục đích, công dụng, kinh tế
Theo cách nhận diện này, căn cứ vào công dụng kinh tế của chi phí, mục đích sử dụng của chi phí, nơi phát sinh và nơi chịu chi phí để sắp xếp những chi phí có cùng công dụng vào một khoản mục Trong doanh nghiệp sản xuất và cung cấp dịch nước sạch, CPSX được chia thành các khoản mục sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Là chi phí về các loại vật liệu chính, vật
liệu phụ, vật kết cấu, vật liệu luân chuyển cần thiết sử dụng trực tiếp vào việc tạo sản phẩm
- Chi phí nhân công trực tiếp: Là chi phí tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp
có tính chất thường xuyên (Phụ cấp lưu động, phụ cấp trách nhiệm) của cán bộ trực tiếp quản lý
- Chi phí sử dụng máy móc thiết bị: Là toàn bộ chi phí sử dụng máy móc thiết bị
trực tiếp cho hoạt động lắp đặt và sản xuất bao gồm: chi phí khấu hao máy móc thiết
bị, chi phí sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên máy móc thiết bị và các chi phí khác như chi phí vận chuyển, tháo lắp máy móc thiết bị …
- Chi phí sản xuất chung: là chi phí trực tiếp khác ngoài các khoản chi phí trên
phát sinh ở các dự án công trình, hạng mục công trình bao gồm: lương nhân viên quản
Trang 18lý, các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN của cán bộ trực tiếp quản lý, khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động sản xuất ở các dự án, chi phí khác liên quan…
Nhận diện CPSX theo tiêu thức này chỉ rõ chi phí doanh nghiệp bỏ ra cho từng lĩnh vực hoạt động, từng địa điểm phát sinh chi phí, làm cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm tư vấn theo khoản mục, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành…
* Nhận diện chi phí theo khả năng quy nạp của chi phí cho các đối tượng kế toán chi phí
Theo cách nhận diện này toàn bộ CPSX của doanh nghiệp được chia thành: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng
chịu chi phí như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí máy móc thiết bị và một bộ phận của sản xuất chung gắn liền với đối tượng chịu chi phí
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi
phí Để xác định chi phí cho từng đối tượng cần phải dùng phương pháp phân bổ phù hợp Trong doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ có một bộ phận chi phí máy móc thiết bị, chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí, kế toán doanh nghiệp sẽ dùng các tiêu thức phân bổ phù hợp như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp… để phân bổ các chi phí trên cho các đối tượng chịu chi phí cụ thể
Cách nhận diện này có tác dụng trong việc xử lý các nghiệp vụ, kỹ thuật hạch toán để xác định các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất vào các đối tượng cần tính giá, phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm
* Nhận diện CPSX theo mối quan hệ chi phí với khối lượng hoạt động
Cách nhận diện này còn được gọi là nhận diện theo cách ứng xử của chi phí Theo cách phân loại này, tổng chi phí được chia thành: biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp
- Biến phí (chi phí biến đổi): là những chi phí thay đổi tỷ lệ với mức độ hoạt động
của doanh nghiệp, Mức độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất; số lượng sản phẩm tiêu thụ; doanh thu bán hàng thực hiện….Cần lưu ý, nếu xét về tổng số, biến phí này thường thay đổi tỷ lệ thuận với khối lượng hoạt động, nhưng xét trên một đơn
vị khối lượng hoạt động thì biến phí thường có thể là hằng số với mọi mức hoạt động
Trang 19- Định phí (chi phí cố định hay chi phí bất biến): là những chi phí tổng số
không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi, còn chi phí tính cho một khối lượng hoạt động thì thay đổi Như vậy, dù doanh nghiệp có hoạt động hay không thì vẫn tồn tại định phí; ngược lại, khi doanh nghiệp gia tăng mức độ hoạt động thì định phí trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm dần
- Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu tố của định phí
và biến phí (như chi phí điện thoại, fax, chi phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định) Nhằm phục vụ cho việc lập kế hoạch kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải phân tích chi phí hỗn hợp là phương pháp cực đại, cực tiểu và phương pháp bình phương bé nhất
Đây là cách nhận diện đặc biệt quan trọng trong việc phục vụ cho các nhà quản trị doanh nghiệp hoạch định, kiểm tra và ra quyết định Cách nhận diện này quan tâm tới cách ứng xử của chi phí mà dựa vào nó để nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận, điều này có ý nghĩa trong việc khai thác khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp là cơ sở để ra quyết định ngắn hạn nhằm tối đa hoá lợi nhuận Việc phân biệt định phí và biến phí giúp cho nhà quản trị xác định đúng phương hướng để nâng cao hiệu quả
* Nhận diện CPSX theo thẩm quyền ra quyết định của nhà quản trị
Theo cách nhận diện này, nếu gắn quyền kiểm soát chi phí với một cấp quản lý nào đó thì nhận diện chi phí thành hai loại, đó là Chi phí kiểm soát được và Chi phí không kiểm soát được
- Chi phí kiểm soát được là những chi phí mà các nhà quản trị ở một cấp quản lý
nào đó xác định được lượng phát sinh của nó, có thẩm quyền quyết định về sự phát sinh chi phí đó, cấp quản lý đó kiểm soát được những chi phí này
- Chi phí không kiểm soát được là những chi phí nằm ngoài khả năng thẩm quyền
quyết định của cấp đó
Việc nhận diện chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được chủ yếu
có tác dụng khi sử dụng thông tin chi phí, doanh thu và kết quả của từng bộ phận đến đánh giá hiệu quả hoạt động và trách nhiệm của mỗi nhà quản trị
* Nhận diện chi phí theo yêu cầu của việc lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh
Theo cách nhận diện này, chi phí được phân ra thành:
Trang 20- Chi phí chênh lệch: là những khoản chi phí có ở phương án sản xuất kinh doanh
này nhưng không có hoặc chỉ có một phần ở phương án kinh doanh khác Chi phí chênh lệch là một trong những căn cứ quan trọng để lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu
- Chi phí cơ hội: là lợi ích bị mất đi do chọn phương án kinh doanh này thay vì
chọn phương án kinh doanh khác Trong kinh doanh, mọi khoản chi phí phát sinh đều được phản ánh và theo dõi trên sổ kế toán cũng như báo cáo kế toán, tuy nhiên có một loại chi phí hoàn toàn không được phản ánh trên sổ kế toán nhưng lại rất quan trọng, phải được xem xét, cân nhắc mỗi khi doanh nghiệp cần lựa chọn phương án kinh doanh, đó là chi phí cơ hội
- Chi phí chìm: là chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu bất kể đã lựa chọn
phương án hay hành động nào Chi phí chìm có trong tất cả các phương án sản xuất kinh doanh được đưa ra xem xét lựa chọn…
Việc nhận diện chi phí cơ hội, chi phí chìm và chi phí chênh lệch cung cấp thông tin để nhà quản trị doanh nghiệp ra quyết định kinh doanh, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh thích hợp
1.2.2 Giá thành sản phẩm và các loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
1.2.2.1 Bản chất của giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
Giá thành sản phẩm là toàn bộ những chi phí về lao động sống, lao động vật hoá và chi phí khác thể hiện bằng tiền mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tạo ra sản phẩm Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm
Để thấy rõ bản chất kinh tế của giá thành sản phẩm, cần phân biệt giữa giá thành sản phẩm với chi phí sản xuất CPSX là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, CPSX biểu hiện sự hao phí còn giá thành sản phẩm biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất và quá trình chi phí Giá thành và CPSX là hai mặt thống nhất của một quá trình vì chúng giống nhau về chất CPSX đều bao gồm các loại chi phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất sản phẩm trong một kỳ (tháng, quý, năm) không tính đến chi phí đó có liên quan đến sản phẩm đã hoàn thành
Trang 21hay chưa Còn giá thành sản phẩm là chi phí tính cho một công trình, hạng mục công trình hay khối lượng công việc sản phẩm hoàn thành theo qui định Giá thành sản phẩm còn có thể bao gồm cả chi phí sản xuất của khối lượng dở dang đầu kỳ và không bao gồm chi phí của khối lượng dở dang cuối kỳ được chuyển sang kỳ sau
1.2.2.2 Các loại giá thành sản phẩm sản
* Theo thời điểm và cơ sở số liệu tính giá thành, kế toán quản trị cần nhận diện các loại giá thành sản phẩm
- Giá thành dự toán: là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng sản phẩm
Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở định mức theo dự toán được duyệt hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước và đơn giá nhân công áp dụng cho từng khu vực
do Nhà nước ban hành
Giá thành dự toán là cơ sở để xây dựng kế hoạch và thanh toán các dự án hoàn thành, là căn cứ để tính kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và để kiểm tra chỉ tiêu giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
- Giá thành kế hoạch: là giá thành được xác định từ những điều kiện cụ thể của
mỗi doanh nghiệp trên cơ sở áp dụng định mức, đơn giá nhân công áp dụng trong doanh nghiệp dựa vào năng lực thực tế của doanh nghiệp
Giá thành kế hoạch được xác định nhằm định ra mục tiêu tiết kiệm chi phí so với giá thành dự toán
Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán -
Mức hạ giá thành dự toán theo kế hoạch
- Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở phương pháp
tổ chức sản xuất sản phẩm theo các định mức chi phí đã đạt được của doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch ở thời điểm bắt đầu sản xuất Vì vậy, giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của định mức và chi phí đạt được trong quá trình sản xuất Giá thành định mức được tính toán trước khi tiến hành công việc sản xuất, là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch,
là thước đo chuẩn để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp, giúp cho việc đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật
mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 22- Giá thành thực tế: là giá thành sản phẩm đƣợc tính trên cơ sở số liệu chi phí sản
xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp trong kỳ Giá thành sản phẩm sản xuất thực tế có thể tính đƣợc khi kết thúc quá trình sản xuất Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc sử dụng giải pháp tổ chức kinh tế, kỹ thuật thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm Giá thành sản xuất thực tế là căn cứ để xác định kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Trong các loại giá thành thì giá thành định mức đƣợc sử dụng rất rộng rãi trong
kế toán quản trị Nhà quản trị doanh nghiệp có thể so sánh với giá thành thực tế nhằm tính ra sự chênh lệch, xác định bản chất và những nguyên nhân của chênh lệch để từ
đó có biện pháp xử lý
* Theo phạm vi chi phí trong giá thành, kế toán quản trị cần nhận diện các loại giá thành sản phẩm:
- Giá thành sản xuất toàn bộ: là giá thành bao gồm toàn bộ biến phí và định phí
thuộc chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC tính cho sản phẩm hoàn thành
- Giá thành sản xuất theo biến phí: Là giá thành bao gồm biến phí thuộc chi phí
NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC tính cho sản phẩm hoàn thành
(Nguồn: Giáo trình KTQT, 2008)
Sơ đồ 1.2: Giá thành sản xuất theo biến phí
- Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất: Là giá thành bao
gồm biến phí sản xuất tính cho sản phẩm sản xuất hoàn thành và một phần định phí sản xuất đƣợc phân bổ trên cơ sở mức hoạt động thực tế so với mức hoạt động theo công suất thiết kế (mức hoạt động chuẩn)
Chi phí biến đổi
Sản phẩm tồn kho
Tài sản trên bảng cân đối
kế toán
Chi phí biến đổi của sản phẩm Doanh thu
đã bán Chi phí sản xuất
cố định Chi phí thời kỳ Kết quả
Lãi gộp trên biến phí
Trang 23Phần định phí sản xuất còn lại chính là chi phí hoạt động dưới công suất được ứng xử như chi phí thời kỳ, tức là được tham gia khi xác định kết quả kinh doanh trong
kỳ
- Giá thành toàn bộ theo biến phí: Là giá thành sản phẩm trong đó bao gồm toàn
bộ biến phí (biến phí sản xuất, biến phí bán hàng, biến phí quản lý doanh nghiệp) tính cho sản phẩm tiêu thụ
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: bao gồm giá thành sản xuất và chi phí
ngoài giá thành sản xuất tính cho sản phẩm tiêu thụ
1.3 Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch
Do đặc điểm tình hình sản xuất của Công ty có quy trình sản xuất giản đơn chỉ sản xuất ra một sản phẩm duy nhất đó là nước sạch, sản xuất ra bao nhiêu tiêu thụ hết bấy nhiêu, không có sản phẩm nhập kho nên việc tiêu thụ cũng rất giản đơn
Giá bán do UBND tỉnh quy định, phương thức tiêu thụ trực tiếp
1.3.1 Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch
Khi xây dựng định mức chi phí sản xuất phải tuân theo nguyên tắc chung là phải tìm hiểu, xem xét khách quan toàn bộ tình hình thực tế thực hiện chi phí sản xuất kinh doanh đối với mỗi đơn vị sản phẩm về mặt hiện vật của kỳ trước, đánh giá chất lượng sản phẩm và các vấn đề liên quan đến năng suất và hiệu quả lao động của doanh nghiệp Sau đó kết hợp với những thay đổi về thị trường như quan hệ cung cầu, nhu cầu đòi hỏi của thị trường… thay đổi về điều kiện kinh tế kỹ thuật bổ sung định mức chi phí cho phù hợp với điều kiện và yêu cầu mới
Trang 24Như vậy, những gì đã xảy ra và những kết quả đã đạt được kỳ trước chỉ làm căn
cứ để dự đoán tương lai phục vụ cho việc xây dựng định mức sát với điều kiện thực tế hơn Vì vậy, định mức chi phí là chỉ tiêu phản ánh mức hoạt động hiệu quả cho kỳ dự toán sắp thực hiện Ở nước ta, từ trước tới nay thông thường các doanh nghiệp chủ yếu dựa vào định mức kinh tế kỹ thuật của ngành đã được xây dựng và nhà nước phê duyệt làm định mức chi phí cho doanh nghiệp Trong điều kiện kinh tế thị trường, đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm đến chất lượng và giá cả sản phẩm Muốn sản xuất có hiệu quả các nhà quản trị phải nghiên cứu và xây dựng định mức thực tế cho phù hợp hơn với điều kiện của doanh nghiệp trên cơ sở định mức chung của ngành Hơn nữa định mức kinh tế kỹ thuật của ngành được xây dựng có thể bao quát được những điều kiện, đặc điểm, kỹ thuật cụ thể của doanh nghiệp Do vậy, để doanh nghiệp có dự toán sản xuất kinh doanh hợp lý, sát với điều kiện cụ thể cần xây dựng định mức chi phí riêng
1.3.1.2 Tổ chức lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là một bộ phận của công tác lập dự toán sản xuất kinh doanh (như các yếu tố chi phí phát sinh, giá thành sản phẩm) một cách chi tiết, phù hợp với yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp
* Cơ sở lập dự toán:
Việc lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp dịch vụ phải dựa trên nhiều nguồn thông tin có tính căn cứ được sử dụng một cách đồng bộ như: thông tin kinh tế tài chính trong nước và trên thế giới, quan hệ cung cấp hàng hoá, quan hệ tài chính và các bên hữu quan, sự đồng bộ trong điều hành hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức và chất lượng thông tin kế toán của niên độ kế toán đã qua cùng với khả năng phân tích, dự toán của người quản lý… cụ thể căn cứ vào các yếu tố sau:
- Bối cảnh kinh tế tổng quát của thị trường mà doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch đang hoạt động được các cơ quan chuyên môn về dự báo kinh tế công bố
- Chính sách giá cả (đơn giá xây dựng, giá chuẩn,…)
- Mức độ cạnh tranh trên thị trường
- Định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà nước quy định, các định mức nội bộ do tổng Công ty, Công ty sản xuất và cung cấp nước sạch dựa trên các định mức mà Nhà nước ban hành phù hợp với tình hình thực tế thi công cho từng công trình
Trang 25- Mối quan hệ giữa chi phí – lợi nhuận (định mức lợi nhuận)…
* Trình tự lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
- Lập từ cấp cơ sở lên
Số liệu của cấp cơ sở được trình lên quản trị cấp trung gian, cấp trung gian xem xét, tổng hợp và tiến hành điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu chung tại cấp trung gian và chuyển số liệu lên bộ phận quản trị cấp cao nhất Bộ phận quản trị cấp cao nhất tổng hợp các dự toán và điều chỉnh theo mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp Dự toán sau khi được hoàn thiện được phân bổ xuống các cấp quản trị cấp thấp hơn để tiến hành thực hiện dự toán,
Việc lập dự toán từ cấp cơ sở lên nắm bắt được tình hình thực tế phát sinh tại các
cơ sở thực hiện nên có tính khả thi cao và công tác triển khai dự toán có tính chủ động hơn
- Lập từ cấp trên xuống:
Theo hình thức này, các số liệu dự toán được cấp trên căn cứ vào mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp, cộng với tình hình sản xuất của doanh nghiệp qua các kỳ và kế hoạch sản xuất cho kỳ tới để lập, sau đó thực hiện phân bổ phù hợp cho các cấp trung gian vào cấp cơ sở Việc áp dụng hình thức lập dự toán từ cấp trên xuống làm tăng khối lượng công việc, tăng chi phí và thời gian thực hiện, do đó có thể làm giảm tính hữu ích của dự toán
* Phương pháp lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
Dự toán cho hạng mục công trình được xác định trên cơ sở sản lượng nước tiêu thụ, đơn giá xây dựng cơ bản (định mức đơn giá sản xuất nước sạch chi tiết) do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố ban hành hoặc đơn giá công trình (định mức công trình) đối với những công trình được lập đơn giá riêng, định mức các chi phí theo tỉ lệ
Trang 26% do Bộ xây dựng ban hành và các chế độ chính sách của Nhà nước có liên quan bao gồm:
+ Lập dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được lập trên cơ sở sản lượng sản xuất, định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp: Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được lập căn cứ vào định mức chi phí nhân công và hệ số lương nhân công
+ Lập dự toán chi phí máy móc thiết bị: Dự toán chi phí máy móc thiết bị được lập dựa trên cơ sở dự toán sản lượng sản xuất, định mức chi phí máy móc thiết
+ Lập dự toán chi phí sản xuất chung: Đây là một khoản mục chi phí gián tiếp đối với từng công trình, hạng mục công trình nên thông thường dự toán chi phí sản xuất chung tính cho các công trình, hạng mục công trình được căn cứ vào định mức sản xuất chung (đối với trường hợp dự án chỉ có một hạng mục sản xuất) Còn đối với
dự án có nhiều hạng mục sản xuất thì sau khi xác định chi phí chung cho toàn bộ dự án
sẽ phân bổ chi phí chung cho từng hạng mục theo tỷ trọng chi phí trực tiếp của từng hạng mục công trình
Như vậy lập dự toán giá thành sản phẩm lắp đặt, sửa chữa hệ thống nước và sản xuất nước sạch được căn cứ vào dự toán các khoản mục chi phí như: dự toán chi phí vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí máy móc thiết bị,
dự toán chi phí sản xuất chung
1.3.2 Đối tượng và phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất
* Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
CPSX phát sinh luôn gắn liền với nơi diễn ra hoạt động sản xuất và sản phẩm được sản xuất (công trình, hạng mục công trình) nên để tập hợp được chi phí sản xuất
kế toán cần xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất của doanh nghiệp Đối tượng kế toán tập hợp CPSX được xác định là phạm vi (giới hạn) để tập hợp các CPSX phát sinh phục vụ cho yêu cầu kiểm soát chi phí và yêu cầu tính giá thành sản phẩm
Xác định đối tượng tập hợp chi phí là khâu đầu tiên, đặc biệt quan trọng đối với
kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Đó chính là việc xác định giới hạn để tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí, nhằm phục vụ cho việc kiểm tra, giám sát, tổng hợp chi phí và tính giá thành sản
Trang 27phẩm Việc tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng giúp cho công tác kế toán được kịp thời chính xác
Công ty TNHH một thành viên Cấp nước Đồng Nai có 10 nhà máy, xí nghiệp nước thực hiện sản xuất nước cũng phát sinh một phần nhỏ ở các trạm nước nhỏ Đặc điểm sản xuất nước sạch đó là cả một quy trình công nghệ khép kín, chu kì sản xuất ngắn Do đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm tổ chức và cũng để đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí sản xuất, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất của Công ty là từng xí nghiệp, nhà máy nước sản xuất và từng hoạt động cụ thể được chia thành hai loại:
+ Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất của sản phẩm nước sạch: Là toàn bộ
những chi phí phát sinh tại phân xưởng sản xuất nước
+ Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất của sản phẩm lắp đặt: Là từng hạng mục
xây lắp bao gồm các hợp đồng xây dựng và lắp đặt hệ thống đường ống cung cấp nước Do đó phương pháp tập hợp chi phí của công ty cũng tập hợp theo từng hoạt động và theo từng xí nghiệp, nhà máy sản xuất
* Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp CPSX là cách thức mà kế toán sử dụng để tập hợp, phân loại các loại chi phí sản xuất phát sinh trong một kỳ theo các đối tượng tập hợp chi phí xác định
Tuỳ thuộc vào khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng tập hợp chi phí, kế toán sẽ áp dụng các phương pháp tập hợp chi phí một cách thích hợp Thông thường tại các doanh nghiệp hiện nay có hai phương pháp tập hợp chi phí:
- Phương pháp tập hợp trực tiếp: được áp dụng đối với các khoản chi phí liên
quan tới một đối tượng kế toán tập hợp CPSX Theo phương pháp này kế toán căn cứ vào các chứng từ gốc phản ánh chi phí thực tế phát sinh ghi trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí liên quan
- Phương pháp phân bổ gián tiếp: được áp dụng đối với những CPSX có liên
quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí Theo phương pháp này kế toán căn cứ vào các chứng từ gốc ghi chép theo từng địa điểm phát sinh chi phí trong một thời kỳ nhất định Cuối kỳ, căn cứ vào CPSX đã tập hợp được, thực hiện phân bổ cho các đối tượng
có liên quan theo tiêu thức phân bổ phù hợp sau:
Ci = C
Ti x Ti
Trang 28Trong đó: Ci: là CPSX phân bổ cho đối tượng thứ i
C: là tổng CPSX đã tập hợp cần phân bổ
T: là tổng đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ
Ti: là đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ của đối tượng i
Đại lượng tiêu chuẩn dùng để phân bổ được lựa chọn tuỳ từng trường hợp cụ thể
Độ tin cậy của thông tin về chi phí phụ thuộc vào tính hợp lý của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn
1.3.3 Đối tượng tính giá thành sản phẩm sản xuất nước sạch
Đối tượng tính giá thành sản phẩm: là các loại sản phẩm, công việc, lao động dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất chế tạo hay thực hiện trong kỳ cần phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Giá thành cao hay thấp, tăng hay giảm đồng nghĩa với việc lãng phí hay tiết kiệm lao động xã hội trong quá trình sản xuất sản phẩm Xác định đối tượng tính giá thành thực chất là việc xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí Với quy trình công nghệ khép kín, liên tục công ty lựa chọn phương pháp tính giá thành sản xuất sản phẩm nước sạch cho phù hợp
* Phương pháp tính giá thành sản phẩm
- Phương pháp tính giá thành trực tiếp
Đây là phương pháp tính giá thành phổ biến trong các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch Kế toán tiến hành tập hợp tất cả các CPSX phát sinh trực tiếp cho quá trình sản xuất sản phẩm từ khi bắt đầu sản xuất đến khi hoàn thành là giá thành thực tế sản xuất sản phẩm
+ Trường hợp quá trình sản xuất sản phẩm đã hoàn thành toàn bộ hoặc sản phẩm
dở dang không có, có ít không đáng kể và ổn định thì CPSX phát sinh trực tiếp cho sản xuất sản phẩm từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành cũng là tổng giá thành thực tế của quá trình sản xuất sản phẩm
+ Trường hợp quá trình sản xuất sản phẩm chưa hoàn thành toàn bộ mà có sản lượng nước sạch giai đoạn cần tính giá thành sản xuất thực tế thì kế toán phải tiến hành đánh giá sản phẩm làm dở dang và giá thành thực tế của sản phẩm hoàn thành được xác định như sau:
Trang 29+
Chi phí thực tế của sản phẩm phát sinh trong
kỳ
-
Chi phí thực
tế của sản phẩm dở dang cuối kỳ
Giá thành đơn vị sản phẩm = Giá thành thực tế
Số lượng sản phẩm hoàn thành
- Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp nhận tư vấn theo đơn đặt hàng (đấu thầu) Mỗi đơn đặt hàng là một công trình, hạng mục công trình hay từng loại hình tư vấn (như tư vấn giám sát, tư vấn QLDA, tư vấn kiểm tra chứng nhận an toàn chịu lực và sự phù hợp về chất lượng công trình, tư vấn thẩm tra…) khác nhau Khi đó đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành cũng không là kỳ báo cáo mà là đơn đặt hàng hoàn thành
Theo phương pháp này, các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch mở riêng cho mỗi đơn đặt hàng một bảng tính giá thành Hàng tháng, căn cứ vào CPSX thực tế phát sinh được tập hợp theo từng đơn đặt hàng, kế toán tổng cộng chi phí đã tập hợp được trong bảng tính giá thành Khi hoàn thành đơn hàng, kế toán tổng cộng chi phí đã tập hợp được trong bảng tình giá thành để tính ra giá thành cho từng đơn đặt hàng
- Phương pháp tính giá thành theo định mức: Theo phương pháp này, giá thành
±
Chênh lệch do thoát ly định mức Trong đó:
+ Chênh lệch do thay đổi định mức là chênh lệch giữa giá thành theo định mức với giá thành theo định mức cũ Trong thực tế, do việc thay đổi định mức thường vào đầu tháng nên việc tính toán số chênh lệch do thay đổi định mức chỉ cần thực hiện đối với sản phẩm dở dang đầu kỳ
+ Chênh lệch do thoát ly định mức được xác định như sau:
Chênh lệch do = Chi phí thực tế theo - Chi phí định mức theo
Trang 30thoát ly định mức từng khoản mục từng khoản mục
Phương pháp này có tác dụng hữu hiệu trong việc kiểm tra tình hình thực hiện định mức, dự toán CPSX (thông qua các chênh lệch định mức, chênh lệch thoát ly định mức) và còn giảm bớt các khối lượng ghi chép, tính toán của kế toán
1.3.4 Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp
1.3.4.1 Chứng từ và tài khoản sử dụng
Hạch toán ban đầu là công việc khởi đầu của quy trình hạch toán đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch nói riêng Các mẫu chứng từ ban đầu sử dụng phải thích hợp với từng loại nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh ở doanh nghiệp để có thể ghi nhận được đầy đủ thông tin về các nghiệp vụ kinh tế Bên cạnh việc sử dụng hệ thống chứng từ bắt buộc để phục vụ kế toán tài chính, xử lý cung cấp thông tin cho việc lập báo cáo tài chính, để phục vụ cho mục đích kế toán quản trị, các doanh nghiệp có thể thiết kế thêm các chứng từ riêng (chứng từ hướng dẫn) Các chứng từ hướng dẫn phản ánh đầy đủ, chi tiết các yếu tố, nội dung để phục vụ cho việc thu nhận, xử lý và hệ thống hoá thông tin thực hiện (quá khứ) và cả những thông tin liên quan đến tương lai, phục vụ cho việc lập báo cáo quản trị theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Dựa vào hệ thống tài khoản kế toán tài chính (tài khoản tổng hợp, tài khoản chi tiết) để tập hợp số liệu thông tin thực hiện (quá khứ) chi tiết theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp Tuỳ thuộc vào trình độ quản lý, thông tin chi tiết đến mức độ nào mà doanh nghiệp mở các tài khoản chi tiết cấp 2,3,4… cho phù hợp Việc thiết kế tài khoản trong kế toán quản trị phải đảm bảo đơn giản, tiện lợi cho công tác kế toán
1.3.4.2 Tổ chức ghi nhận và hệ thống hóa thông tin
Việc tổ chức hệ thống sổ kế toán của kế toán tài chính và kế toán quản trị còn phụ thuộc vào mô hình tổ chức kế toán ở doanh nghiệp theo mô hình “kết hợp” hay “độc lập” Với mô hình “Kết hợp” giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính trong cùng bộ máy, hệ thống sổ kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch được sử dụng để thu nhận, hệ thống hoá toàn bộ thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp nhằm lập được các báo cáo kế toán cung cấp thông tin phục vụ cho quản
lý kinh tế tài chính Hệ thống sổ kế toán trong doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch gồm hai loại sổ:
Trang 31- Sổ kế toán tổng hợp để nghi chép phản ánh các chỉ tiêu kinh tế tài chính ở dạng tổng quát
- Sổ kế toán chi tiết ghi chép chi tiết, cụ thể số liệu được ghi ở sổ kế toán tổng hợp nhằm hệ thống hoá thông tin cụ thể theo từng khoản mục phục vụ cho quản trị doanh nghiệp
1.3.4.3 Tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được phản ánh vào các chứng từ kế toán, từ số liệu trên chứng từ kế toán vào sổ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng hợp theo đối tượng tập hợp chi phí
Chi phí sản xuất sau khi được tập hợp kế toán tiến hành tổng hợp số liệu xác định giá trị sản phẩm dở dang và tính giá thành sản phẩm hoàn thành
Muốn xác định trị giá sản phẩm dở dang một cách chính xác cần phải tiến hành kiểm tra khối lượng công việc hoàn thành tại các dự án Bộ phận kế toán cần kết hợp chặt chẽ với bộ phận kỹ thuật để xác định mức độ hoàn thành khối lượng sản phẩm dở dang
Việc xác định khối lượng sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch phụ thuộc vào đặc điểm từng công trình, hạng mục công trình Sau đó vận dụng các phương pháp xác định giá trị sản phẩm dở dang như sau:
+ Đánh giá theo chi phí thực tế phát sinh: Áp dụng đối với các công trình bàn
giao thanh toán hoàn thành toàn bộ, tổng chi phí sản xuất từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giá thành sản phẩm hoàn thành Thực chất, đến khi công trình hoàn thành toàn bộ thì không có đánh giá sản phẩm dở dang
+ Đánh giá theo giá dự toán và mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang: Áp
dụng đối với các trường hợp công trình, hạng mục công trình bàn giao thanh toán theo từng giai đoạn hoàn thành, sản phẩm dở dang là các giai đoạn tư vấn chưa hoàn thành Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ theo phương pháp phân bổ chi phí thực tế căn cứ vào giá thành dự toán và mức độ hoàn thành theo các bước sau:
Giá thành dự toán khối
lượng dở dang cuối kỳ của
từng giai đoạn
=
Giá thành dự toán của từng giai đoạn x
Tỷ lệ giá thành của từng giai đoạn
Trang 32kỳ
Giá thành dự toán khối lượng
dở dang cuối kỳ của từng giai đoạn
Giá thành dự toán của khối lượng hoàn thành trong kỳ
+
Tổng giá thành
dự toán khối lượng dở dang cuối kỳ của các giai đoạn Trên cơ sở chi phí sản xuất đã tập hợp được, chi phí sản xuất dở dang đã xác định được, kế toán vận dụng phương pháp tính giá thành phù hợp để tính giá thành sản phẩm và ghi vào sổ kế toán phù hợp
1.3.4.4 Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Thông tin kế toán quản trị sau khi được ghi nhận, xử lý hệ thống hoá, kế toán trình bày thông tin trên hệ thống báo cáo kế toán quản trị nhằm mục tiêu:
- Xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị phải đảm bảo cung cấp thông tin hữu ích nhất về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cho nhà quản lý Muốn vậy báo cáo phải được thiết kế đơn giản, dể hiểu và phù hợp với nhu cầu thông tin của nhà quản trị doanh nghiệp
- Báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được xây dựng phải thích hợp với mục tiêu hoạt động cụ thể của từng doanh nghiệp Mỗi hoạt động khác nhau thì mục tiêu và cách thức đạt đến mục tiêu cũng không giống nhau Điều này cho thấy báo cáo kế toán quản trị được thiết kế phải phù hợp với từng loại hình hoạt động của doanh nghiệp và do đó không thể có một hệ thống báo cáo kế toán quản trị bắt buộc, thống nhất cho các doanh nghiệp
- Báo cáo kế toán quản trị được xây dựng phải phù hợp với phạm vi cung cấp thông tin của kế toán quản trị, đồng thời đảm bảo phục vụ các chức năng quản lý của nhà quản trị
Trang 33- Báo cáo kế toán quản trị là sản phẩm cuối cùng của quá trình kế toán quản trị nên việc tổ chức báo cáo kế toán quản trị quyết định đến chất lượng, hiệu quả thông tin
kế toán do kế toán quản trị cung cấp
Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm bao gồm:
- Báo cáo tình hình thực hiện: Báo cáo doanh thu, chi phí, lợi nhuận của từng công trình, hạng mục công trình, quá trình sản xuất sản phẩm; báo cáo chi tiết các khoản nợ phải trả; năng suất lao động; báo cáo tiến độ sản xuất
- Báo cáo chi phí sản xuất thiết lập cho từng công trình, hạng mục công trình
- Báo cáo giá thành, phiếu tình giá thành công việc…
- Báo cáo kế hoạch hoạt động kinh doanh theo quý
- Báo cáo chỉ tiêu sản xuất kinh doanh quý
- Báo cáo các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh ước thực hiện quý cuối năm và ước thực hiện năm tiếp theo
- Báo cáo chi phí sản xuất, giá thành công trình, hạng mục công trình
- Báo cáo tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính và phương án phân phối lợi nhuận năm nay
- Báo cáo phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch phân phối lợi nhuận năm tiếp theo
- Báo cáo phân tích: phân tích mối quan hệ chi phí, khối lượng, lợi nhuận
Ngoài ra, căn cứ vào yêu cầu quản lý, điều hành của từng giai đoạn cụ thể, doanh nghiệp có thể thiết lập báo cáo kế toán quản trị khác
Trang 34KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Như vậy, qua quá trình nghiên cứu những lý luận chung về kế toán quản trị như khái niệm, đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ, vai trò, nội dung và phạm vi của kế toán quản trị, mối quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính, tổ chức hệ thống kế toán quản trị trong doanh nghiệp nhằm hiểu rõ bản chất của kế toán quản trị và vai trò của kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm, khẳng định việc xây dựng hệ thống kế toán quản trị ở các doanh nghiệp là thực sự cần thiết trong tiến trình hội nhập kinh tế hiện nay
Những nội dung trong Chương 1 sẽ là nền tảng cho việc nghiên cứu, tìm hiểu thực tế về tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm trong Công ty TNHH một thành viên Cấp nước Đồng Nai hiện nay, đề ra phương hướng và giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm tại Công ty
Trang 35CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH MTV CẤP
NƯỚC ĐỒNG NAI 2.1 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm tại công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai
2.1.1 Khái quát đặc điểm tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai trong thời gian qua
Công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai là một doanh nghiệp Nhà nước, được thành lập theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 3600259296 (số cũ: 4704000005) chứng nhận lần đầu ngày 07 tháng 04 năm 2004, thay đổi lần 3 ngày 23 tháng 05 năm 2011 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai cấp
Trụ sở chính đặt tại số 48, CMT8, phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Vốn điều lệ của Công ty là 445.000.000.000 đồng
- Chủ sở hữu: Tổng Công ty phát triển Khu Công nghiệp
- Địa chỉ của chủ sở hữu: Số 1, Khu công nghiệp Biên Hòa 1, đường số 1, phường An Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Lĩnh vực kinh doanh là: Xây lắp, thương mại và dịch vụ
- Ngành nghề kinh doanh: Khai thác, xử lý và cung cấp nước; Gia công cơ khí, xử lý
và tráng phủ kim loại; Dịch vụ lưu trú ngắn ngày; bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng; hoạt động kiến trúc và tư vấn kỹ thuật có liên quan; Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê; Sản xuất
đồ uống không cồn, nước khoáng; Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng khác; Lắp đặt hệ thống cấp, thoát nước, lò sưởi và điều hòa không khí; Dịch vụ hỗ trợ liên quan đến quảng bá và tổ chức tu du lịch; Xây dựng công trình công ích; Xây dựng nhà các loại
Sau ngày miền nam giải phóng, năm 1987 Nhà máy nước Biên Hòa được nâng công suất lên 22.000 m3/ ngày Để tăng nguồn nước, năm 1993 Nhà máy nước Biên
Trang 36Hòa được nâng công suất từ 22.000 m3
/ ngày lê 36.000 m3/ ngày cung cấp cho nhân dân thành phố Biên Hòa
Để đáp ứng cung cấp nước cho các khu dân cư và các khu công nghiệp của Tỉnh như Biên hòa 2, AMATA, Lotecco và Hố Nai 3, Nhà máy nước Long Bình được xây dựng, hoàn thành tháng 4/1998 với công suất giai đoạn 1 là 15.000 m3/ ngày và năm
2002 đầu tư giai đoạn 2 tăng lên với tổng công suất 30.000 m3
/ ngày
Dân số đo thị Biên Hòa và các khu công nghiệp phát triển nhanh, nhu cầu sử dụng nước sạch ngày càng tăng, Công ty đã đầu tư dự án Nhà máy nước Thiện Tân giai đoạn 1 công suất 100.000 m3/ ngày, sử dụng nguồn vốn ODA của chỉnh phủ Hàn Quốc và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam, ngày 18/5/2004 nhà máy đã chính thức
đi vào hoạt động
Nhà máy nước Nhơn Trạch giai đoạn 1 công suất 100.000 m3/ ngày sử dụng nguồn vốn vay ODA của Chính phủ Nhật Bản và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam, ngày 28/3/2014 nhà máy đã chính thức đi vào hoạt động
Ngoài ra còn có các dự án cấp nước được đầu tư tại các trung tâm đô thị huyện như: + Nhà máy nước Vĩnh An giai đoạn 1 công suất là 2.000 m3/ ngày hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2002
+ Nhà máy nước Gia Ray công suất 2.400 m3/ ngày
+ Nhà máy nước Tâm – Hưng – Hòa với công suất 3.000 m3/ ngày
+ Nhà máy nước Long Khánh: Năm 1987 Công ty đã cải tạo mở rộng nâng công suất từ 2.700m3/ngày lên 3.300m3/ngày, đến năm 2000 tăng lên 7.500m3/ ngày
+ Nhà máy nước ngầm Nhơn Trạch được đầu tư và xây dựng năm 1998 với công suất giai đoạn 1 là 5.000m3/ ngày, đến năm 2000 công suất là 10.000m3/ ngày Hiện nay đang hoạt động với công suất 20.000 m3/ ngày
+ Nhà máy nước Định Quán công suất 4.200 m3
/ ngày
+ Nhà máy nước Tân Phú công suất 2.500 m3/ ngày
Công ty đang triển khai đấu thầu xây dựng và cung cấp thiết bị Nhà máy nước Thiện Tân (giai đoạn 2) công suất 100.000 m3/ ngày bằng nguồn vốn ODA Hàn Quốc
và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam
Mục tiêu cấp nước đến năm 2020 Đáp ứng nhu cầu nước cho các khu dân cư và khu công nghiệp trên toàn tỉnh đạt 1.000.000 m3
/ ngày
Trang 37Với kết quả thực hiện được trong nhiều năm qua Công ty đang đứng thứ 3 toàn quốc về công suất cấp nước
Công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai là một tập thể vững mạnh bằng sự nỗ lực lao động sáng tạo kết hợp với khoa học, kỹ thuật công nghệ làm hài lòng khách hàng Cung cấp những sản phẩm dịch vụ tốt nhất, mang lại sự hợp tác thành công bền vững, đóng góp phát triển vì cộng đồng và xã hội
Công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai xây dựng văn hóa doanh nghiệp, tạo lập môi trường làm việc chuyên nghiệp, hiện đại, cùng với sức mạnh của tổng hợp đoàn kết, sáng tạo, trí tuệ không ngừng gia tăng lợi nhuận, phấn đấu đưa tên tuổi của Công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai thành công, thịnh vượng, bền vững
Công ty đã được Chủ tịch nước tặng thưởng cho CB-CNV đã có thành tích xuất sắc trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc Đồng thời cũng nhận được nhiều bằng khen, giấy khen các loại của các cấp trung ương và địa phương
Bảng 2.1: Một số tài liệu tài chính chủ yếu của Công ty TNHH một thành viên
Trang 38* Sơ đồ tổ chức quản lý
(Nguồn: Công ty TNHH MTV Cấp Nước Đồng Nai)
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức quản lý Công ty TNHH MTV Cấp Nước Đồng Nai
CTY CP DV & XDCN Đ.NAI
HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN
CTY CP CN NHƠN TRẠCH
CTY CP CN LONG KHÁNH
CTY CP CN HỒ CẦU MỚI
BAN KIỂM TOÁN NỘI BỘ BAN KIỂM SOÁT
CHÍNH – KẾ TOÁN
BAN BẢO
VỆ
ĐỘI QL BẢO TRÌ &
SC
LÝ GHI THU
CN CẤP NƯỚC VĨNH
AN
CN CẤP NƯỚC XUÂN LỘC
CN CẤP NƯỚC LONG THÀNH
CN CẤP NƯỚC TÂN ĐỊNH
KS CÔNG ĐOÀN
CN CẤP NƯỚC NHƠN TRẠCH
CN CẤP NƯỚC THIỆN TÂN
CN CẤP NƯỚC LONG BÌNH
Trang 39Nhiệm vụ của các phòng ban:
Hội đồng thành viên: Quyết định chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất kinh
doanh hàng năm của Công ty
Ban giám đốc:
Giám đốc: Là người đại diện pháp nhân của công ty, người có quyền hành cao
nhất trong tổ chức và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo chế độ thủ trưởng là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước và pháp luật về hoạt động, tồn tại
và phát triển của Công ty
Phó giám đốc: Là người tham mưu trực tiếp cho Giám đốc, điều hành một số
lĩnh vực được Giám đốc phân công, ủy quyền và thay mặt cho Giám đốc khi giám đốc
đi vắng
Ban kiểm soát: Kiểm tra tính hợp pháp, trung thực, cẩn trọng của Hội đồng
thành viên, Ban Giám đốc (giám đốc) trong tổ chức thực hiện quyền sở hữu, quản lý điều hành công việc kinh doanh; thẩm định báo cáo tài chính, tình hình thực hiện kinh doanh; kiến nghị chủ sở hữu công ty các giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý
và điều hành
Phòng tổ chức hành chính: Tham miêu cho lãnh đạo công ty về công tác tổ
chức cán bộ, đào tạo, tuyển chọn và bố trí lao động trong sản xuất kinh doanh có hiệu quả Tổ chức quản lý nhân sự, tổ chức lao động tiền lương, giải quyết các chế độ chính sách liên quan đến người lao động Duy trì chế độ nội vụ và công tác hành chính văn thư lưu trữ
Phòng tài chính kế toán: Thu thập, phản ánh xử lý các thông tin kinh tế phục vụ
cho công tác quản lý Ghi chép, phản ánh một cách chính xác, kịp thời, liên tục và hệ thống tình hình sử dụng các nguồn vốn, lập kế hoạch tài chính, chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, lỗ, lãi theo đúng chế độ kế toán Ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đơn vị, tính toán xác định kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị, theo dõi và thực hiện chế độ chính sách tiền lương, tiền thưởng đối với cán bộ công nhân viên trong đơn vị
Phòng kế hoạch kỹ thuật: Lập kế hoạch sản xuất và thực hiện công tác tổ chức
hoạt động sản xuất có hiệu quả, kiểm tra và giám sát về kỹ thuật toàn bộ quy trình công nghệ thiết bị máy móc trong quá trình sản xuất kinh doanh