Để phù hợp với tính đa dạng và phong phú của mối quan hệ thương mại và thanh toán quốc tế người ta đã đưa ra các phương thức thanh toán khác nhau như: phương thức chuyển tiền, phương thứ
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA SAU ĐẠI HỌC
- - -
-TIỂU LUẬN
PHƯƠNG THỨC CHUYỂN TIỀN TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
Thành viên nhóm 7: Nguyễn Thị Thu Hằng
Nguyễn Thị Hồng Nghĩa Đoàn Lan Phương
Dương Thu Hằng Nguyễn Ngân Sơn
Vũ Thị Yến
Lớp: CH 17H
Năm học 2015 - 2017
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Với sự phát triển của thương mại, nhu cầu trao đổi không chỉ dừng lại ở một số nước mà hoạt động mua bán đã lan rộng ra khắp các nước, các khu vực trên toàn thế giới Quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế quốc tế dẫn đến những nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau Vì vậy, một nghiệp vụ ra đời đáp ứng được đòi hỏi đó Đó là: “ Nghiệp vụ thanh toán quốc tế”
Để phù hợp với tính đa dạng và phong phú của mối quan hệ thương mại và thanh toán quốc tế người ta đã đưa ra các phương thức thanh toán khác nhau như: phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng chứng từ… Mỗi phương thức thanh toán đều có những ưu nhược điểm nhất định, tùy theo những điều kiện cụ thể cũng như khác nhau của người nhập khẩu và người xuất khẩu mà người ta sẽ lựa chọn một phương thức thanh toán phù hợp
Trong số đó,thanh toán bằng phương thức chuyển tiền được sử dụng phổ biến.Đây là một phương thức thanh toán đơn giản về thủ tục, thanh toán tương đối nhanh và chi phí doanh nghiệp bỏ ra thấp so với những phương thức khác
Trang 3I Chuyển tiền quốc tế:
1 Quy trình chung:
(5)
(3)
(1).Nhà nhập khẩu và Nhà xuất khẩu ký kết hợp đồng ngoại thương, theo phương thức
TTR trả trước hay trả sau, được quy định rõ trong hợp đồng
(2).Nhà nhập khẩu đề nghị ngân hàng của mình ( ngân hàng ra lệnh) chuyển tiền cho Nhà
xuất khẩu
(3).Ngân hàng ra lệnh lập điện MT103,chuyển tiền cho nhà xuất khẩu thông qua ngân hàng
của nhà xuất khẩu ( ngân hàng thụ hưởng)
(4).Ngân hàng thụ hưởng nhận được tiền từ ngân hàng ra lệnh qua hệ thống thanh toán bù
trừ liên ngân hàng quốc tế, thực hiện ghi có vào tài khoản của nhà xuất khẩu
(5).Trong trường hợp trả trước, Nhà xuất khẩu sau khi nhận được tiền thanh toán từ nhà
nhập sẽ tiến hành giao hàng và gửi bộ chứng từ bản gốc cho nhà nhập khẩu theo thỏa thuận
Trong phương thức thanh toán chuyển tiền ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo chỉ thị và nhận tiền thu phí chứ không bị ràng buộc gì cả
2 Chứng từ giao dịch
TTR trả trước TTR trả sau
- Lệnh chuyển tiền ( form mẫu từng
ngân hàng giao dịch)
- Phiếu đề nghị bán ngoại tệ
- Lệnh chuyển tiền ( form mẫu từng ngân hàng giao dịch)
- Phiếu đề nghị bán ngoại tệ
(1)
Trang 4- Hợp đồng ngoại thương có ghi rõ
điều khoản thanh toán
- Giấy phép nhập khẩu đối với
những mặt hàng cần có giấy phép
- Cam kết hoàn chứng ( Tờ khai hải
quan và chứng từ thương mại)
- Hợp đồng ngoại thương có ghi
rõ điều khoản thanh toán
- Giấy phép nhập khẩu đối với những mặt hàng cần có giấy phép
- Tờ khai hải quan gốc và chứng
từ thương mại
3 Đặc điểm của phương thức TTR
TTR trả trước TTR trả sau Dấu hiệu nhận
biết
TTR in advance,TTR after xxx days from contract date,TTR after receiving a copy BL…
TTR within xxx days after the B/L or AWB date or TTR within xxx days after receving goods…
Ưu điểm -Hồ sơ thanh toán đơn giản
-Chi phí thanh toán thấp so với việc sử dụng thư tín dụng -Nhà xuất khẩu nhận được tiền
từ nhà nhập khẩu trước khi giao hàng
=> Nhà XK tận dụng được nguồn vốn để phục vụ mục đích kinh doanh
-Hồ sơ thanh toán đơn giản -Chi phí thanh toán thấp
- Nhà nhập khẩu có thời gian chuẩn bị nguồn thanh toán cũng như kiểm tra được chất
lượng hàng hóa
- Trước tháng 4/2015, trên
TKHQ luôn có xác nhận của bên Hải Quan
=> Ngân hàng dễ dàng xác định được đây là tờ khai duy nhất
=> Ngân hàng có thể kiểm soát được lượng ngoại hối chuyển ra nước ngoài
=> Kiểm soát được việc rửa
Trang 5tiền ra nước ngoài của các DN
Nhược điểm * Đối với Nhà NK
- Rủi ro về hàng hóa ( kém chất lượng hoặc thiếu hàng hóa…)
- Rủi ro không nhận được tiền hoàn khi nhà XK hủy hợp đồng
* Đối với Ngân hàng
- Không xác định được chỉ thị chuyển tiền là đúng hay sai
- Khó nhận đủ bộ hồ sơ hoàn
từ nhà NK
=> NH gặp vấn đề liên quan đến quản trị rủi ro sau khi thanh toán
* Đối với Nhà XK
- Rủi ro trong việc nhận tiền thanh toán chậm từ nhà NK
* Đối với Nhà NK -Rủi ro tỷ giá biến động trong tương lai
* Đối với Ngân hàng
- Từ tháng 4/2015, HQ áp dụng chính sách kê khai TKHQ điện tử
=> TKHQ không có xác nhận của bên Hải Quan
=> NH không xác định được
tờ khai duy nhất => không kiểm soát được số lần thực hiện giao dịch chuyển tiền của khách hàng
=> Tạo điều kiện cho DN xấu
có cơ hội rửa tiền ra nước ngoài
Khắc phục rủi
ro
*Đối với Nhà NK
- Kiểm tra khả năng giao hàng
và uy tín của đối tác nước ngoài trước khi giao dịch ký kết hợp đồng
-Trong quá trình đàm phán hợp đồng ngoại thương, cần thỏa thuận rõ thời điểm giao hàng
và quy định rõ và chặt chẽ những điều khoản điều kiện
*Đối với Nhà XK
- Chỉ nên áp dụng hình thức này với đối tác lâu năm, năng lực tài chính ổn định, uy tín cao trên thị trường
* Đối với Ngân hàng:
- Yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ hồ sơ gốc để kiểm tra tính chân thực của chứng từ
- Kiểm tra xem hàng hóa trên
Trang 6nếu sử dụng phương thức thanh toán chuyển tiền, khi có tranh chấp xảy ra có thể dựa vào những điều kiển đã thỏa thuận để giải quyết
- Chỉ nên chấp nhận thanh toán
trả trước cho hợp đồng có giá trị lớn khi mà nhà nhập khẩu
có quan hệ chặt chẽ với mình,
có uy tín lâu dài trong nhiều năm
*Đối với Ngân hàng
-Kiểm tra uy tín của nhà NK
- Kiểm tra xác thực Tên người bán, địa điểm người bán, mặt hàng hóa…có nằm trong danh sách cấm của quốc tế không trước khi thực hiện giao dịch
=> Hạn chế rủi ro rửa tiền
- Luôn bám sát giao dịch của nhà NK để yêu cầu nhà NK hoàn đủ hồ sơ sau khi giao dịch thành công (TKHQ, chứng từ thương mại )
tờ khai đã thông quan chưa
- NH Nhà nước Việt Nam nên phối hợp với bên Cục Hải Quan để xây dựng một website mà mỗi khi DN chuyển tiền, Ngân hàng có thể xác định được TKHQ đã được dùng chưa/ được dùng để thanh toán mấy lần …
=> tránh rủi ro rửa tiền của DN
II.Một số tình huống rủi ro mà nhà nhập khẩu và ngân hàng Việt Nam gặp phải khi thực hiện TTR
2.1 Tình huống với TTR trả trước
Trang 7- Một công ty của Việt Nam ký hợp đồng mua thiết bị ánh sáng sân khấu với một công ty của Hồng Kông, tuy nhiên sau lần giao dịch lần đầu thành công với giá trị nhỏ, đến thương vụ giao dịch lần thứ 2 với giá trị lớn, đối tác phía Hồng Kông đề nghị chuyển trước 100% tiền hàng theo hình thức chuyển tiền bằng điện (TT) theo
số tài khoản cũ (số tài khoản giao dịch lần đầu) nhưng không chuyển được, phía Hồng Kông đề nghị chuyển tiền vào tài khoản cá nhân Sau khi phía công ty Việt Nam chuyển tiền thành công vào tài khoản cá nhân, thì phía Hồng Kông nói là không nhận được tiền và phủ nhận việc yêu cầu chuyển vào tài khoản cá nhân, phía công ty Hồng Kông cho rằng Email đã bị hacker
- Một công ty của Việt Nam ký hợp đồng mua máy ép nhựa của đối tác Trung Quốc, tuy nhiên đến giai đoạn thanh toán tiền hàng trước phía công ty bên Trung Quốc yêu cầu sửa lệnh cho người hưởng lợi mới là một công ty tại Hồng Kông, sau khi chuyển tiền vào tài khoản, phía đối tác nói không nhận được tiền hàng và không
có yêu cầu thay đổi người hưởng lợi
- Ngân hàng thực hiện chuyển tiền quốc tế trả trước cho khách hàng nhập khẩu, tuy nhiên sau khi thực hiện thanh toán, khách hàng không bổ sung được tờ khai hải quan cho ngân hàng => có dấu hiệu rửa tiền
2.2 Tình huống với TTR trả sau
Doanh nghiệp Việt Nam có ký kết hợp đồng mua bán máy móc y tế với công ty tại Ấn Đô bằng phương thức TTR trả sau Sau khi lấy chứng từ và nhận được hàng hóa, sau một khoảng thời gian nhất định được quy định trong hợp đồng, Doanh nghiệp Việt Nam đến Ngân hàng để thanh toán cho đối tác đầu ngoại Doanh nghiệp Việt Nam đã chuẩn bị đủ chứng từ theo yêu cầu từ phía Ngân hàng, tuy nhiên Ngân hàng gặp rủi ro trong việc xác nhận TKHQ do DN cung cấp là duy nhất hay không?
Nguyên nhân: Từ năm 2015, TKHQ của tất cả doanh nghiệp Việt Nam đều kê khai
tờ khai điện tử và sau khoảng một thời gian nhất định sẽ nhận được kết quả từ phía hải quan qua email Hàng hóa được thông quan thì trên TKHQ sẽ có chữ THÔNG QUAN nhưng lại không có dấu xác nhận của bên Hải Quan
Rủi ro: Do không có xác nhận bên HQ nên NH không thể kiểm soát được việc chuyển tiền thông qua tờ khai Bên cạnh đó, DN có ý định rửa tiền, lừa đảo có thể lợi dụng khe hở này mà chuyển tiền tại nhiều ngân hàng khác nhau
VD: Tờ khai hải quan không có xác nhận của phía Hải Quan