1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điều tra mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính của học sinh trường THPT Cẩm Giàng – Hải Dương (LV tốt nghiệp)

61 370 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 8,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều tra mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính của học sinh trường THPT Cẩm Giàng – Hải Dương (LV tốt nghiệp)Điều tra mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính của học sinh trường THPT Cẩm Giàng – Hải Dương (LV tốt nghiệp)Điều tra mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính của học sinh trường THPT Cẩm Giàng – Hải Dương (LV tốt nghiệp)Điều tra mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính của học sinh trường THPT Cẩm Giàng – Hải Dương (LV tốt nghiệp)Điều tra mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính của học sinh trường THPT Cẩm Giàng – Hải Dương (LV tốt nghiệp)Điều tra mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính của học sinh trường THPT Cẩm Giàng – Hải Dương (LV tốt nghiệp)Điều tra mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính của học sinh trường THPT Cẩm Giàng – Hải Dương (LV tốt nghiệp)Điều tra mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính của học sinh trường THPT Cẩm Giàng – Hải Dương (LV tốt nghiệp)Điều tra mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính của học sinh trường THPT Cẩm Giàng – Hải Dương (LV tốt nghiệp)Điều tra mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính của học sinh trường THPT Cẩm Giàng – Hải Dương (LV tốt nghiệp)Điều tra mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính của học sinh trường THPT Cẩm Giàng – Hải Dương (LV tốt nghiệp)Điều tra mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính của học sinh trường THPT Cẩm Giàng – Hải Dương (LV tốt nghiệp)

Trang 1

TRUONG DAI HOC SU PHAM HA NỘI 2

KHOA SINH-KTNN

NGUYEN THI DIEP

DIEU TRA MUC DO NHAN THUC VE SUC KHOE SINH SAN VA GIOI TINH CUA HOC SINH

TRUONG THPT CAM GIANG - HAI DUONG

KHOA LUAN TOT NGHIEP

Chuyên ngành: Sỉnh lý người và động vật

Người hướng dẫn khoa học ThS LÊ THỊ TUYẾT

Hà Nội, 2016

Trang 2

LOI CAM ON

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Lê Thị Tuyết đã giúp đỡ

tôi, hướng dẫn tôi tận tâm trong thời gian thực hiện để tài này

Xin cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các thầy cô trong tổ sinh lý động vật và các thầy cô trong khoa Sinh-KTNN trường Đại học sư phạm Hà

Nội 2, các thầy cô và các em học sinh tại trường THPT Cảm Giang — Hai

Trang 3

LOI CAM DOAN

Đề đảm bảo tính trung thực của đề tài, tôi xin cam đoan như sau:

1 Để tài này tôi không hè sao chép từ bất cứ đề tài có sẵn nào

2 Đề tài của t không trùng với đề tài nào khác

3 Kết quả nghiên cứu trong đê tài là do nghiên cứu thực tiễn, đảm bảo

tính chính xác và trung thực

Hà Nội, tháng 4 năm 2016

Sinh viên

Nguyễn Thị Điệp

Trang 4

IS) ©6 vip i00 7

1.4.1 Mục đích của việc gido duc gidi tinh —SKSS ee eeesseeceenseeeees 16

1.4.2 Những kinh nghiệm về giáo dục giới tính và SKSS trên thế giới 17

1.4.3 Thực tiễn giáo dục giới tính và SKS5S ở Việt Nam [19] 20

CHƯƠNG 2: ĐÔI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23 2.1 ĐỒI TƯỢNG NGHIÊN CỨU . 2 - 25252252 2£S2£E£Ez£z+E+zxcvxz 23 2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2-52 2252 E+sz£xzEszsezrevred 23 2.3 DIA DIEM NGHIÊN CỨU . ¿2-25 2+ S£+E2E£S2£E£EeExeErrseree 23 2.4 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU :- se Se SE SE eE£EEEEeEeEEEeEzEzereresrsrees 24

Trang 5

CHƯƠNG 3: KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25

3.1 Kết quả sự nhận thức của học sinh trường THPT Cẩm Giàng về vẫn đề

giới tính và SIKSS +2 2222232 x3 2.27102121511121 7151171 151111 cre 25 3.1.1 Khối lớp 10 - s5 +E+EEESEESEEEEEEEESEEEESEECEErECEevkrrxrkrrerkerereered 25 3.1.2 Khối lớp 1 se E9 E Cư cv Tre ve 29 3.1.3 Khối lớp 12 s5 +ESEEEESEEEEEEEEEEEEEEEEEEEECEEEECEETkrrkrkrrrrkerererred 32 3.1.4 Kết quả điều tra mức độ hiểu biết chung về giới tính và SKSS của học

S118): 15831i284)10,:1 20027272007 36

3.2 Kết quả so sánh mức độ nhận thức giữa 3 khối lớp 10, 11, 12 42

KẾT LUẬN VÀ ĐẼ NGHỊ, :- < se S£EEEEE kh EEkerxrkerrerered 46 4.1 KẾt luận +: 252 E92EEESEEEEE E2 E251 111257111 7E151 2111 Excrxcree 46 4.2 Kiến nghị -. «52s Set cv 1571 237171115115 1111115111 errkcree 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MUC BANG Bang 3.1: Kết quả sự nhận thức về vẫn đề giới tính và SKSS của HS khối 10

Bảng 3.2: Nguồn tìm kiếm thông tin về giới tính và SKSS của HS khối 10 27 Bảng 3.3: Kết quả sự nhận thức về vấn đề giới tính và SKSS của HS khối 11

Bảng 3.4: Nguồn tìm kiếm thông tin về giới tính và SKSS của HS khối 11 30 Bảng 3.5: Kết quả sự nhận thức về vấn đề giới tính và SKSS của HS khối 12

Bảng 3.6: Nguồn tìm kiếm thông tin về giới tính và SKSS của HS khối 12 34

Bang 3.7: Kết quả sự nhận thức về vấn đề giới tính và SKSS của HS trong

Bảng 3.8: So sánh kết quả sự nhận thức về vấn đề giới tính và SKSS của HS 3 khối lớp 10, 11 và 122 + << +<£++EE2 SE EE E3 32 1 15 32115111151 E1 rreee 42

Trang 7

DANH MUC BIEU DO

Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện mức độ nhận thức của học sinh lớp 10 trường

THPT Câm Giàng về giới tính và SKSS qua từng câu hỏi - 28

Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện mức độ nhận thức của học sinh lớp 11 trường

THPT Câm Giàng về giới tính và SKSS ¿2-5222 czzcrsrerrsered 31

Hình 3.3: Biểu đồ thể hiện mức độ nhận thức của học sinh lớp 12 trường

THPT Câm Giàng về giới tính và SKSS qua từng câu hỏi 35

Hình 3.4: Biểu đồ thể hiện nguồn tìm hiểu thông tin về giới tính và SKSS của học sinh trường THPT Cầm Giàng . - + - 2E ke SE €E+E£EEEEeESrEerererered 38 Hình 3.5: Biểu đồ thể hiện độ tuổi sinh sản tốt nhất theo học sinh trường THPT Câm Giàng - 2-2-2 s SE EEEESE E333 E17 kh Tư re cv 39

Hình 3.6: Biểu đồ thể hiện mức độ nhận thức chung của học sinh trong trường

trường THPT Cẩm Giàng về giới tính và SKSS qua từng câu hỏi 40

Hình 3.7: Biểu đồ so sánh kết quả sự nhận thức về vẫn đề giới tính và SKSS

của HS 3 khối lớp 10, 11 và 12 ¿22+ <2 £++EE+EE+Ezrkerxerzrerrerrerree 44

Trang 8

DANH MUC CAC CHU VIET TAT

: Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

: sự biểu hiện giai đoạn cuối cua HIV : T6 chirc y té thế giới

Trang 9

Theo Bộ y tế tình trạng nạo hút thai ở lứa tuổi VTN trong những năm

gân đây có chiều hướng gia tăng Mỗi năm có khoảng 1,2- 1,4 triệu trường

hợp nạo phá thai, trong số này có khoảng 300000 trường hợp là thanh niên chưa lập gia đình Sự phát triển lây nhiễm HIV/AIDS nhanh chóng tới mức

báo động, khoảng 50% số người nhiễm HIV là ở lứa tuôi thanh thiếu niên

Theo điều tra tình hình nhiễm HIV ở Việt Nam tính đến ngày 30/01/2004 là:

Tổng số trường hợp nhiễm đã được phát hiện là 88932; đến ngày 16/12/2004

về giới tính chưa được đặt ra đúng mức, vì vậy hiểu biết của mọi người về

mặt này rất hạn chế đặc biệt là lứa tuôi thanh thiếu niên — lứa tuổi có nhiều biến đổi về tâm sinh lý nhất, lứa tuổi cần sự chuẩn bị chu đáo nhất, để gánh

vác nghĩa vụ làm cha, làm mẹ trong tương lai

Trang 10

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, hiện nay nền giáo dục của chúng ta kế cả chính quy và không chính quy đều đã thực hiện giáo dục

giới tính, SKSS ở các bậc học, các loại hình trường khác nhau, mở rộng các

trung tâm tư vấn, các hình thức tuyên truyền báo chí, các phương tiện thông tin và đã đạt được những thành công nhất định Tuy vậy, những cô gang này vẫn còn hạn chế Các nội dung giáo dục dân số giới tính và SKSS đưa vào các

chương trình nhà trường còn ít ỏi và thiếu đồng bộ làm cho các nội dung ít

liên kết với nhau Các nội dung thường được tập trung vào các khía cạnh sinh học và kỹ thuật liên quan đến giải phẫu cơ thể người, hệ thống sinh sản cũng như những thay đổi trong thời kỳ dậy thì mà ít đề cập đến khía cạnh xã hội và hành vi liên quan đến các mối quan hệ khác giới, hôn nhân và sự tránh thai, các kỹ năng sông như: ra quyết định và giải quyết vấn đề Đây chính là những vẫn đề rất thiết yêu để chuẩn bị cho thanh thiếu niên đương đầu với những vẫn đề của cuộc sông liên quan đến SKSS của họ Vẫn để này hiện nay cũng được các phương tiện thông tin đại chúng đề cập đến rất nhiều nhưng nó chưa

trở thành hệ thống và không phải tất cả đều phù hợp với hiểu biết của các em

Hơn nữa không phải em nào cũng có điều kiện trong việc tiếp xúc với các phương tiện thông tin, có những em ngại ngần sợ bạn bè trêu khi đọc những

tài liệu đó Việc tìm hiểu nghiên cứu sự hiểu biết của thanh niên về vẫn đề

giáo dục phù hợp, giúp thanh niên tránh xa các tệ nạn xã hội tránh được những hậu quả do việc thiếu hiểu biết để có cuộc sống trong sáng lành mạnh,

có được tri thức và sức khoẻ tốt là hành trang vững bước giúp các em bước Vào đời

Đây là đề tài có nhiều ứng dụng thực tế giúp các em nhận thức được

mỗi quan hệ trong xã hội, đặc biệt mỗi quan hệ tình bạn, tình yêu, hôn nhân

và hạnh phúc gia đình.Ngoài ra còn giúp các em nhận thức sức khoẻ của người bô, người mẹ rầt quan trọng đôi với các con cái Các em chính là những

Trang 11

ông bố , bà mẹ trong tương lai không xa, các em phải biết cách tự chăm sóc bảo vệ mình để sinh ra những đứa con khoẻ mạnh, thông minh để có được gia đình hạnh phúc Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vẫn đề này nên tôi đã chọn đề tài “Điều tra mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính của học sinh trường THPT Cẩm Giàng — Hải Dương.”

2 Mục đích của đề tài

- Tìm hiểu thu thập thông tin về SKSS và điều tra để thấy được thực trạng sự

nhận thức về SKSS của thanh thiếu niên trương THPT Cẩm Giàng - Hải

Dương

- Tuyên truyện các nội dung, mục tiêu, lợi ích của việc chăm sóc SKSS

- Đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính và SKSS

cho thanh thiếu niên trong trường

3 Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Đề tài được nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ vấn đề sự nhận thức về kiến thức SKSS trong trường THPT tưởng chừng Ít được quan tâm nhưng có vai trò quan trọng trong việc chắm sóc sức khỏe cho lứa tuổi VTN Qua đó đưa ra những biện pháp thiết thực hơn để nâng cao nhận thức về SKSS cho các em trong trường THPT

Y nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các trường THPT khác nhau ở nơi

có mức sống tương đương nhau Cần có thêm nhiều hoạt động kết hợp giáo

dục SKSS lứa tuổi VTN trong trường THPT kết hợp với các giờ học trên lớp mang lại những kiến thức cơ bản cần thiết cho học sinh

Trang 12

CHUONG 1: TONG QUAN TAI LIEU

1.1 CƠ SỞ NGHIÊN CỨU

Mọi đặc trưng của cơ thể về mặt hình thái, cấu tạo, chức năng sinh lý trong quá trình phát triển của cơ thể đều là kết quả của mối quan hệ tổng hoà

của 2 nhân tô chính đó là: nhân tố di truyền và nhân tố môi trường Sự phát

triển của cơ thể ở các lứa tuổi, nhất là đôi với lứa tuổi thanh niên, học sinh là

sự đảm bảo tính thống nhất hoạt động giữa các bộ phận trong nội bộ cơ thể và giữa cơ thể với môi trường hay giữa các yếu tô nội môi và ngoại môi

- Nội môi: là môi trường bên trong cơ thể bao gồm hệ thống các dịch nước mô, máu và bạch huyết quyết định đến tình trạng của cơ quan trong cơ

+ Yếu tố xã hội: Gồm các mỗi quan hệ giữa con người với nhau và với

các cơ sở vật chất lẫn tính thần phục vụ cho cuộc song của họ Day là yếu tô

có ảnh hướng rất lớn đến con người, điều kiện xã hội tốt sẽ ảnh hưởng tốt đến

con gười và ngược lại Nhất là đối với lứa tuôi học sinh, lứa tuổi năng động,

sáng tạo, tò mò, ham học hỏi và thích khám phá, chúng chịu ảnh hưởng rất

lớn của xã hội Điều kiện xã hội cũng ảnh hưởng tới sức khoẻ sự phát triển trí

tuệ, sự thích ứng cũng như mức độ thích nghi của cơ thể đối với môi trường

Nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học ở việt nam và trên thế giới cho

thấy, sự phát triển của con người chịu sự chi phối của các yếu tố môi trường

sống rất lớn đặc biệt đối với trẻ em, nhất là sự phất triển tâm sinh lý, trí tuệ

Trang 13

của trẻ Điều kiện sông tốt được chăm sóc đầy đủ, hợp lý có thể trẻ sẽ phát

triển cân đôi khỏe mạnh, tâm sinh lý, trí tuệ phát triển bình thường Mặc dù ở

lứa tuổi này có rất nhiều sự biến động về co thé va tam sinh lý Vì vậy sức khoẻ tốt, cơ thể khoẻ mạnh là một đặc điểm quan trọng giúp các em vững vàng hơn trong mọi hoạt động

Quá trình phát triển cơ thê là một quá trình phát triển từ thấp đến cao,

để đạt được trình độ phát triển cao mỗi người sinh ra đều trải qua một giai

đoạn trung gian có những biến đổi lớn về cấu tạo cơ thể, sinh lý cũng như tâm

lý, lửa tuổi bắt đầu có khả năng sinh sản đó chính là tuổi dậy thì

Tuổi dậy thì là giai đoạn đặc biệt trong quá trình phát triển của một con người Đây chính là giai đoạn chuyến tiếp từ trẻ con thành người lớn và được đặc trưng bởi sự thay đôi mạnh mẽ về cả thể chất, chức năng, tỉnh thần , hành

vi, tình cảm, đánh dấu giai đoạn “ hình thành giới tính” của con người và có

khả năng hoả nhập cộng đồng Quá trình biến đổi nảy được gọi là dậy thì, và

giai đoạn này được gọi là vị thành niên

Tại Việt Nam, tuổi đậy thì thường kéo đài từ 3 — 5 năm, có thé chia là 2

g1aI đoạn:

- Giai đoạn trước dậy thì: Từ 11 -13 tuổi đối với nữ

Từ 13 -15 tuổi đối với nam

- Giai đoạn dậy thì : Từ 13- 15 tuổi đối với nữ

Từ 15 — 17 tuôi đôivới nam

Tuổi dậy thì ở nam và nữ có sự khác nhau Nhìn chung, nữ dậy thì sớm hơn nam khoảng 2 tuổi Tuy nhiên vẫn có những em dậy thì sớm hoặc muộn hơn

Giai đoạn dậy thì được đánh dấu bằng hành kinh đối với nữ và xuất

tinh lần đầu đỗi với nam hay còn gọi là mộng tinh Điều này thường đi cùng

với những thay đôi cảm xúc với bạn bè khác giới, thể hiện sự trưởng thành về

Trang 14

mat sinh hoc, bao hiéu kha nang co con va dugc coi 1a hién tugng sinh lý bình

thuong

Ở giai đoạn này, buồng trứng của bạn gái bắt đầu cĩ trứng rụng và tiết

ra hooc mơn sinh dục nữ, tính hồn của bạn nam cũng sản sinh ra tính trùng

và tiết ra hormon sinh dục nam, do đĩ cĩ khả năng thụ thai nếu quan hệ tình

Từ sau hội nghị Quốc tế về dân số và phát triển tại CạRo (Ai Cập) 1974

và hội nghị về phụ nữ tại Bắc Kinh (Trung Quốc) 1955, một vẫn đề mới tập trung vào quyền phụ nữ và SKSS đã được cam kết thực hiện hầu hết ở các nước trên thế giới, trong đĩ cĩ Việt Nam Việc chăm sĩc SKSS bao gồm cả chăm sĩc thể chất lần tính thần và xã hội, và hàm ý răng mọi người đều cĩ thể sinh đẻ, quyền tiếp cận và lựa chọn các dịch vụ chăm sĩc SKSS phù hợp SKSS bao gồm 10 nội dung sau:

- Các biện pháp kế hoạch hố gia đình

- Chăm sĩc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, van dé làm mẹ an tồn

- Bệnh lây truyền qua đường tình dục

- HIV/AIDS

- Tình dục an tồn/ các vấn đề thơng tin và tư vấn tình dục

- SKSS vị thành niên

+ Hoạt động tình dục lứa tuơi vị thành niên

+ Hậu quả về tình duc ở tuơi vi thành niên

Trang 15

- Bình đăng giới và các vẫn đề về giới

- Giảm tỉ lệ nạo phá thai và nạo phá thai không an toàn

- Các vấn đề vô sinh

- Mãn kinh và tuôi già

Những nội dung trên SKSS và giới tính có ý nghĩa xã hội , y học sâu sắc

nó đã nâng cao những yêu câu bảo vệ chức năng đặc thù của phụ nữ là chức năng sinh sản

1.2.2 Các vấn đề cơ bản của SKSS

1.2.2.1 SKSS của nữ giới [I2]

Do ảnh hưởng những hủ tục từ xa xưa nên dù ngày nay xã hội đã phát

triển và có nhiều thay đôi nhưng phụ nữ vẫn chịu nhiều thiệt thòi Những van

dé SKSS nữ không phải chỉ liên quan đến bệnh tật và tử vong trong thời gian

thai nghén và sinh đẻ mà còn là hậu quả của việc thiếu chăm sóc từ trước khi

ra đời, các giai đoạn sơ sinh, tuôi thơ ấu, tuôi dậy thì, tuôi sinh nở

Từ trước khi ra đời những thai nhi là bé gái có nguy cơ bị nạo thai cao hoặc nếu không thì cũng sẽ không được chăm sóc đây đủ, người mẹ có thể bị đánh đập ki mang thai do hủ tục trọng nam khinh nữ, đến giai đoạn sơ sinh, trẻ sơ sinh gái bị chết, không được ăn uống chăm sóc tử tế, bị bỏ rơi nhiều

hơn Đến tuổi âu thơ nhiều em gái bị buộc phải lẫy chồng khi còn là trẻ em, bị

lạm dụng tình dục, không được học hành tử tế tệ hại hơn còn bị đây Vào con đường mại dâm Ở giai đoạn VTN em gái có nguy cơ bị ép phải QHTD, bị cưỡng hiếp, bị quấy rối tình dục Cho đến tuổi sinh nở, có những người phụ

nữ gặp phải những người chồng bệnh hoạn, bị chồng đánh đập, hành hạ cả về

thé xác lẫn tinh than

1.2.2.2 SKSS của nam giới [7]

Mặc dù vấn dé SKSS nữ giới là rất quan trọng nhưng cũng không thể coi nhẹ SKSS nam giới Nếu không có hiểu biết và được quan tâm đây đủ thì

Trang 16

van dé SKSS của nam giới cũng sẽ gặp phải không ít khó khăn Cơ quan sinh sản của nam giới không nằm trong cơ thể như của nữ giới mà nằm ngoài cơ

thể chịu nhiều tác động của ngoại cảnh, nếu cơ thể sốt cao có thể dẫn đến

chứng vô sinh, sinh hoạt tình dục và vệ sinh không phù hợp sẽ dẫn đến những rỗi loạn chức năng sinh dục, những tôn thương của cơ quan sinh dục có thể dẫn đến hiện tượng bất lực của nam giới Nhiều khó khăn của nam giới về sinh sản và tình dục hiện nay ở nước ta không có cơ sở y tế và thầy thuốc chuyên khoa chữa trị.Vì vậy, chính các em nam giới phải tìm hiểu để phòng

tránh và bảo vệ cho cơ quan sinh dục

1.2.2.3 SKSS ở lứa tuổi VTN

Nhóm tuổi VTN chiếm một tỷ lệ khá cao trong cơ cầu dân số nước ta

Những vấn đề có liên qua đến VTN đang nỗi nên như những thách thức của

xã hội nước ta và trên thế giới

VTN ngày nay đang sống trong thời đại hậu công nghiệp, thời đại tin học, sự mở của hội nhập giao lưu văn hoá Nhiều giá trị mới được hình thành

ở những nước phát triển và đang được chấp nhận trên toàn thế giới như vấn

đề bình đắng giới, chức năng sinh sản của phụ nữ được coi trọng hơn , tình

dục được nhìn nhận như một thực thể sức khoẻ - sức khoẻ tình dục Tắt cả trở

thành một lỗi sống, một giá trị đạo đức, ý thức nâng cao chất lượng cuộc sống Bên cạnh những giá trị đạt được hiện nay cả nhân loại vẫn phải đôi mặt

với đại dịch AIDS đó là mối đe doạ cho tương lai của loài người Vì vậy tiếp

cận những vấn để của VTN không thể không tính đến bối cảnh chung đó

Những điều tra khảo sát ở nước ta trong những năm gần đây về hành vi tình đục VTN đã cung cấp nhiều thông tin đáng lo ngại:

QHTD sớm dẫn đến hậu quả mang thai ngoài ý muốn nạo phá thai, dẫn đến ảnh hưởng tôn thương co quan sinh duc, dé mac các bệnh truyền nhiễm

Trang 17

đặc biệt là HIV/ AIDS do thiếu hiểu biết về các biện pháp phòng tránh và

những biến chứng tức thì hoặc lâu dài của những động thái này

Vì vậy vẫn đề SKSS VTN cũng là một trong những nội dung của chương trình hành động của hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cairo(

AI Cập) năm 1994 mà Việt Nam đã tham dự

Theo điều tra dân số của Việt Nam (1999) VTN chiếm khoảng 23% dân

số Nếu kể cả những người từ 20 — 24 trong độ tuổi thành niên thì lớp trẻ

chiếm 32% Đây là bộ phận lớn trong dân cư có tầm quan trọng trong xã hội

cho nên bất kì thay đổi nào về cách giáo dục, hành vi, tuổi kết hôn, lối sống

của VTN đều có ảnh hưởng quan trọng tới xã hội

Hiện nay tuổi chín muôi tình dục ngày càng giảm do đó thời kì chín muồi tình dục và tuổi hôn nhân tăng lên, những phong tục truyền thống giúp

ngăn chặn QHTD trước hôn nhân bắt đầu bị sói mòn

Trong chuyên đề “ Giáo dục dân số - SKSS” của tạp chí giáo dục số 33 ( tháng 2 năm 2002) đăng bải: “ Nhận thức của học sinh THPT về SKSS, giới tính và tình dục” tác giả có nêu: “ Trong vài năm trở lại đây, hiện tượng lạm

dụng, quay rỗi tình dục ở trẻ em, đặc biệt tình trạng quan hệ tình dục, nạo phá

thai ở tuổi vị thành niên đang gia tăng nhanh chóng Vẫn để này gây ảnh

hưởng tới thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội, môi trường văn hoá và giáo dục đồng thời ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ tâm sinh lý, nhân cách của trẻ

VTN.” [15]

Nhiều nghiên cứu cho thấy không ít thanh niên Việt Nam đã có QHTD

mà phan lớn là QHTD không an toàn trước hôn nhân Điều tra trên học sinh,

sinh viên từ 17 — 24 tuổi ở 2 thành phô lớn của Việt Nam là Hà Nội và TP Hồ

Chí Minh năm 1994 cho thẫy 15% nam sinh viên và 2,5% sinh viên nữ đã có

quan hệ tình dục và tuổi quan hệ tình dục lần đầu tiên trung bình là 19,5 tuôi

cho cả 2 Còn hiện nay, con sô này đã tăng lên đáng kê Cùng với nó là sự

Trang 18

tăng cao về các trường hop nao phá thai, các bệnh truyền nhiễm đặc biệt là đại dịch HIV/AIDS Theo số liệu điều tra những năm gần đây tỉ lệ nạo phá

thai của nước ta thuộc loại cao trên thế giới Mỗi năm có xấp xỉ 15 triệu ca

phá thai, trong đó vị thành niên chiếm 20%, tại Hà Nội có 15% thanh thiếu niên tuổi 15 — 19 có quan hệ tình dục Cả nước có 5% thanh niên sinh con

trước tuôi 18, 18% sinh con trước tuôi 19

Theo báo “ Sức khỏe và đời sông” số 48 ra tháng 11/2001: theo thống kê

của phòng KHHGĐ bệnh viện phụ sản Từ Dũ năm 2000, có 22.131 trường

hợp đến xin điều trị điều hòa kinh nguyệt trong đó có 119 trường hợp dưới tuổi 18 chiếm 0,54%, 547 trường hợp xin phá thai to trong đó có 203 trường hợp dưới tuổi 18 chiếm 37% Những con số trên cho thấy đa số các em chỉ

phát hiện ra mình mang thai kh thai đã lớn, các em không có hiểu biết cơ bản

về cơ chế thụ thai, những biến đôi của cơ thể khi mang thai Vì vậy nhiều em

đã phải chọn biện pháp cô vắc để phá thai khi thai được 5-6 tháng Việc phá thai này ảnh hưởng rất nhiêm trọng đến cả thể xác và tinh thân, đến cả tương lai và hạnh phúc của các em sau này Bởi vì những nguy cơ phá thai có thể òn sót rau gây chảy máu, nhiễm trùng, thủng tử cung, có thể gây tử vong do choáng( đau, mất máu ) hay do nhiễm khuẩn Ngoài ra có thể để lại biến chứng như dính buồng tử cung do nạo quá sâu gây vô sinh hoặc vô kinh, đau khi giao hợp hoặc làm việc nặng, tắc vòi trứng gây vô sinh, hở eo tử cung gây xảy thai liên tiếp, dễ bị chửa ngoài tử cung Đặc biệt nguy cơ này tăng rất cao bời VN phải lén lút phá thai ở những cơ sở phá thai tư nhân không công khai, điều kiện vệ sinh chăm sóc và trình độ bác sĩ, dung cu y té không được

đảm bảo Theo thống kê hằng năm tới 2 triệu trẻ VTN phải phá thai trrong

điều kiện không an toàn Trong số những phụ nữ phá thai phải nhập viện vì

biến chứng thì có tới 1/3 là đưới 20 tuôi

10

Trang 19

Thai nghén và sinh nở ở VTN cũng đem lại không ít những tai biến về sức khoẻ và sinh mạng của cả bà mẹ và đứa trẻ, bởi nhiều người mẹ còn quá trẻ, cơ thể chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất và sự chuẩn bị về mặt tinh thần, không có điều kiện khám thai hay chữa trị kịp thời nên nguy cơ tử vong của bà mẹ dưới 20 tuổi cao gấp 2 — 4 lần so với bà mẹ trên 20 tuổi tuỳ theo tình trạng sức khoẻ và địa vị kinh tế xã hội của phụ nữ đó, tử vong đối với những đứa trẻ cũng cao hơn 30% Các bà mẹ trẻ con cung có tỉ lệ đẻ non cao hơn hoặc có thể xảy thai tự nhiên ngoài những ảnh hưởng xấu của thai nghén đến sức khoẻ, nữ vị thành niên có thai ngoài ý muốn còn có những hậu quả xấu về kinh tế và xã hội theo thống kê những bà mẹ có con trước 20 tuôi thường có học vấn thấp, ít có cơ may tìm việc làm, thu nhập thấp

1.2.3 Trách nhiệm của xã hội về SKSS - các giải pháp về SKSS VTN

Những vấn đề về SKSS có liên quan không nhỏ tới chính trị, thể chế

pháp luật, đời sống, kinh tế - xã hội, văn hoá Do đó để giải quyết tận gốc về

các vấn đề SKSS cần phải có 1 chiến lược kiên định và lâu dài, bao quát mọi

phương diện của sự phát triển xã hội trên cơ sở coi phụ nữ là trung tâm Bên

cạnh đó một số vẫn đề SKSS cũng cần phải tiếp cận bằng những giải pháp cụ

thể vả phát động trong từng thời điểm thích hợp: sáng kiến làm mẹ an toàn , nuôi con bằng sữa mẹ, phòng chống viêm nhiễm đường sinh dục, phát động chiến dịch tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và quyền bình dang nam

nữ, thực hiện KHHGĐ sao cho mọi người hiểu và sử dụng tốt các dịch vụ có sẵn, chú ý nâng cao chất lượng chăm sóc

Đối với phụ nữ và trẻ em gái: bảo vệ toàn diện sức khoẻ phụ nữ, phòng ngừa từ xa những nguy cơ có thể tác động xấu đến chức năng sinh sản của phụ nữ

Trước hêt, đó là sự quan tâm chắm sóc sức khoẻ trẻ em gái sao cho các

em được nuôi dữơng tôt, được bảo vệ chăm sóc, nhiêu khó khăn gặp trong lúc

I1

Trang 20

sinh dé 14 di chimg cua tuéi thơ để lại Phụ nữ và trẻ em gái xứng đáng được

hưởng sự quan tâm hàng đầu trong các chương trình chiến lược dài hạn của cộng đồng Tuy nhiên, vấn để này ở nước ta chưa được quan tâm đúng mức

Họ phải chịu nhiều những ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, chất lượng cuộc sống thấp kém, dinh dưỡng không đảm bảo, dẫn đến sức khỏe suy giảm

và bệnh tật Do đó tai biến sản khoa chiếm tỉ lệ cao, tỉ lệ tử vong ở mẹ và trẻ

sơ sinh cao đáng báo động

Một điều đáng quan tâm nữa là trình độ hiểu biết về những quyên chính đáng của phụ nữ còn rất thấp, đặc biệt là những người phụ nữ vùng sâu vùng

xa Nhiều công trình điều tra xã hội học cho thấy: nếu phụ nữ biết đọc biết

viết, đã biết tổ chức chăm sóc CUỘC sống và bảo vệ sức khoẻ tốt cho mình và

cho gia đình hơn nhiều so với những phụ nữ mù chữ Do đó hiểu biết là điều kiện cơ bản để phát triển bền vững và sẽ dẫn đến sự thay đôi về hành vi và vị thế của phụ nữ Vì vậy cần giúp đỡ những em gái được đi học và tiếp tục học cao hơn nữa như các em tra

Đối với trẻ em VTN là tuổi mà các em đã có sự chín muôi về mặt sinh dục nhưng hiểu biết của các em về vẫn đề này còn rất nông cạn Nồi cộm lên trong SKSS VTN có 2 vấn đề: Đó là thai nghén ngoài ý muốn và các bệnh lây qua con đường tình dục, 2 vấn đề này đều có nguồn gốc từ QHTD không an toàn Vì vậy lý tưởng nhất là giáo dục cho họ không nên quan hệ tình dục sớm hoặc nếu có thì phải quan hệ 1 cách an toàn và có trách nhiệm

Trên thực tế chúng ta muốn can thiệp hạn chế hoạt động tình dục ở VTN,

bảo vệ SKSS VTN thì đồng thời phải tiến hành: giáo dục VTN không QHTD

sớm Đồng thời phải khuyên can, giúp đỡ các em đã có QHTD cố gắng tránh những hậu quả, đồng thời giúp các vị thành niên khác giải quyết hậu quả đã xảy ra một cách an toản, giúp đỡ họ khong bị khủng hoảng về tính thần và

tâm lý Giải quyết những vấn đề này không hè đơn giản, nó đòi hỏi phải có sự

12

Trang 21

giáo dục và giúp đỡ toàn diện từ gia đình, nhà trường và xã hội một cách tế

nhị và khéo léo

1.3 Vấn đề giới tính

1.3.1 Quan niệm về giới tính [19]

Giới tính là chỉ những đặc điểm phân chia sinh vật thành 2 giới khác

nhau giữa nam và nữ có 1 sự khác nhau về cầu tạo bên trong cơ thê.Hai loại hormon sinh dục ở các tuyến sinh dục nam và nữ tiết ra tuần hoàn khắp CƠ

thể.Giới tính khác nhau sẽ dẫn tới việc nam và nữ có những tính cách khác nhau hoặc phản ứng khác nhau Ngoài ra, những chức năng đặc biệt của cơ

thể nữ giới chính là biểu hiện của sự khác nhau về tổ chức và những phản ứng

sinh lý liên quan đến mang thai, sinh nở và nuôi con Vậy giới tính được hình

thành thế nào?

Giới nam thì sản sinh ra 1 loại tế bào sinh sản gọi là tỉnh trùng còn nữ

giới thì sản sinh ra trứng Trong mỗi tế bào của cơ thể đều chứa 1 bộ NST là vật chất mang thông tin di truyền của loài NST có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển cơ thể con người Trong tổng số NST của con người chỉ

co 2 NST co dac tinh tinh duc do la NST giới tính

Trong tế bào mẹ tức là tế bào sinh trứng 2 NST giống nhau: XX khi

giảm phân hình thành nên trứng, tế bào trứng chỉ chứa 1⁄2 số NST của tế bào

me tao ra 1 loại trứng mang NŠT giới tính X

Trong tế bào bố tức là tế bao sinh tinh 2 NST gidi tính khác nhau:XY khi

giảm phân hình thành tính trung mỗi tính trùng chỉ mang 1 NST giới tính

hoặc X hoặc Y vậy có 2 loại tinh trùng

Khi thụ tinh néu tinh trang mang NST X được kết hợp với trứng sẽ tạo ra

cơ thể XX là con gái Còn nếu tinh trùng mang NST Y được kết hợp tạo ra cơ thể XY là con trai

13

Trang 22

Chức năng chính của cặp NST giới tính là đưa vật chất có quyết định

tính di truyền giới tính XX hoặc XY đến tất cả các tế bào đang không ngừng

phát triển, đặc biệt là nhóm tế bào do NST giới tính chi phối theo những mật

mã di truyền chúng sẽ phát triển thành tính hoàn hay buông trứng để phối hợp

VỚI các cơ quan sinh dục với giới tính của chúng

1.3.2 Sinh lý nữ giới [T]

Trong vải năm trước khi hành kinh, chiều cao cơ thể nữ tăng lên khá nhiều.Khi hành kinh rồi cơ thể bạn nữ phát triển bề ngang nhiều hơn, vú nhô lên, mông nở hơn trước Lớp mỡ đưới da dày lên làm cơ thể mềm mại và giàu

nữ tính Thường đến độ 18- 20 tuôi mới đạt đến hình dáng ôn định theo các

đặc tính di truyền cua cha me

Ở vú các tuyến sữa phát triển, lớp mỡ dày lên làm cho đôi vú nhô lên

ngày càng đều đặn Dấu hiệu phát hiện đầu tiên thường là quằng vú dày lên

sâm lại Sau đó bầu vú nhô lên, lớn dan và tròn tria dan

Trong thời kì dậy thì, cơ quan sinh dục bạn gái phát triển mạnh, không còn trong giống như em bé gái Tất cả các bộ phận môi lớn môi nhó, âm vật,

âm đạo đều lớn lên, lông mu mọc xung quanh âm hộ.Bên trong cơ thể bạn nữ,

âm đạo, tử cung lớn dần lên.Hai buồng trứng bắt đầu tiết ra hormon sinh dục

và rụng trứng Niêm mạc tử cung phát triển và tự thải theo chu kỳ

Hành kinh là dấu hiệu bắt đầu rụng trứng có khả năng thụ thai và sinh

con Hành kinh bắt đàu ở độ tuổi 11- 18 tuổi Khi mới bắt đầu hành kinh, kinh

nguyệt bạn gái có thể thất thường sau vài năm mới ổn định Số ngày hành kinh có thể nhiều hay ít, thường trong 3 — 5 ngày Lượng máu kinh nguyệt cũng vậy Bạn nữ cần hiểu biết về kinh nguyệt vì nó liên quan đến khả năng

thụ thai và sức khoẻ của đời bạn

Hệ sinh dục nữ có những hoạt động theo chu kì gọi là chu kỳ kinh

nguyệt Những hoạt động đó là do buồng trứng rụng trứng để trứng có thể kết

14

Trang 23

hợp với tinh trùng ( nếu gặp), niêm mạc tử cung dày lên chuẩn bị làm ô cho

trứng, nhưng nếu trứng ko gặp tính trùng thì Ô tự thải( hành kinh) để rồi lại xây ô mới Tất cả các biến đổi đó thể hiện ở bên trong chỉ có hành kinh là thể

hiện ở bên ngoài Do đó ngày bắt đầu hành kinh được lẫy mốc để tính chu kỳ

kinh nguyệt Để hiểu diễn biến trong chu kỳ, ta theo dõi về 1 chu kỳ 28 ngày Chu kì bắt đầu từ việc bắt đầu hành kinh, niêm mạc tử cung thải ra ngoài cùng

với máu Khoảng ngày thứ 5 tuyến yên ở não tiết ra hoocmon FSH là tín hiệu đánh thức trứng trong buông trứng Trong số trứng có trong buông trứng chi

có một trứng sẽ chín (hãn hữu lắm là hai) Trong thời gian trứng phát triển,

nang trứng phát ra hoocmon estrogen dé ra lénh cho niêm mạc tử cung dày lên chuẩn bị đón trứng Khi mức estrogen lên đến môt mức độ nào đó ( khoảng ngày thứ 14) tuyến yên tiết hoocmon LH để phát tín hiệu cho trứng,

đó là rụng trứng Trứng rụng được loa vòi hứng lấy đưa vào ông dẫn trứng Sau khi trứng rụng, các nang còn lại gọi là thể vàng tiết ra hoocmon progestron làm cho tử cung tiếp tục dày lên và tăng tiết dịch Nếu trứng không

được thụ tinh các tín hiệu hoocmon giảm dần đến ngày thứ 24 mat han, không

có trứng về làm tổ, niêm mac tử cung không còn cần thiết nữa, nó bắt đầu mỏng và bong ra Ngày tứ 28 niêm mạc tử cung bắt đầu rời khỏi thành tử cung, sau đó theo đường âm đạo ra ngoài ( tức hành kinh) và một chu kỳ mới

ra đời Thời gian hành kinh là lúc bộ phận sinh dục dễ bị lay nhiễm các loại vi

trùng, nắm nhất, vì vậy trong những ngày này bạn gái cần hết sức giữ gìn vệ sinh, thay băng thường xuyên và tránh vận động mạnh

1.3.3 Sinh lý nam giới

Con trai khi đến tuổi trưởng thành bắt đầu thấy sự xuất hiện của những sợi lông ở vùng bụng dưới đồng thời cơ qua sinh dục bên ngoài cũng lớn dẫn,

bộ phận nôi bật là dương vật Dương vật nằm ở trên bìu, trong đó chứa 2 tinh

hoàn lớn dẫn trong suốt thời kỳ dậy thì.Sự xuất hiện tinh trùng bắt đầu từ tuôi

15

Trang 24

dậy thì và thường kéo dài đến tuổi già tế bào tính trùng xuất ra khỏi cơ thể

qua niệu đạo khi đạt tới đỉnh cao của sự kích thích sinh dục Bắt đầu từ thần kinh cảm giác ở đầu dương vật đáp ứng lại kích thích tình dục, máu tích tụ trong những thể xốp của dương vật khiến đương vật cương cứng và lớn hơn bình thường Tình trạng cương cứng này tạo điều kiện cho dương vật có thể đưa vào âm đạo của người phụ nữ 1 cách dễ dàng

Những kích thích tình dục kéo dải làm cho mảo tinh đầy tính trùng vào ông dẫn tính, ống dẫn tinh chạy dài tới tỉnh hoàn đến vùng bụng dưới vòng qua bàng quang xuyên đến tuyến tiền liệt, túi tính và tuyến Cowpers sản suất

ra những chất dịch và cùng với tính trùng tạo ra 1 chất có màu trắng sữa gọi là tinh dich

Ngoài hiện tượng xuất tính vào tuôi dậy thì, bạn trai không khỏi ngạc

nhiên vì thấy gần cơ quan sinh dục của mình có những dương mao và những

bào quan đầy nước tiêu, hay khi bị những hình ảnh khêu gợi óc tưởng tượng

thi co quan sinh duc cương cứng lên vì sung máu Cha mẹ khi thấy con cái của mình tới 12 — 13 tuổi mà có những hiện tượng này nên nói thắng cho chúng biết, không nên e ngại, để con mình bỗi rối đâm ra những tâm tình không hay

1.4 Vẫn đề giáo dục giới tính và SKSS cho thanh niên — học sinh

1.4.1 Mục đích của việc giáo dục giới tính — SKSS

Xây dựng nhân cách cho VTN để nhân cách ấy phát triển phù hợp với

yêu câu, kỳ vọng của xã hội mà biểu hiện là:

+ Sự hài hoà giữa quyền lợi cá nhân và trách ghiệm xã hội

+ Xây dựng mỗi quan hệ nhân văn bình đắng giữa nam và nữ

+ Yêu đương lành mạnh

16

Trang 25

1.4.2 Những kinh nghiệm về giáo dục giới tính và SKSS trên thế giới

Nội dung giáo dục này gồm 2 mảng lớn, những thông tin cơ bản về sự phát triển sinh lý sinh sản va chắm sóc sức khoẻ bao gồm cả KHHGĐ và phòng chống AIDS, những thông tín về tình dục, đời sống tình dục, tình dục

an toàn và hạnh phúc

Vấn đề này không phải là vấn đề đơn giản nó cần có sự kết hợp giáo dục của cả gia đình, nhà trường và xã hội

Trước hết, vai trò của cha mẹ trong việc giúp đỡ con cái hiểu biết về

những vấn đề tế nhị nói trên là điều mà nhiều người cho rang thuc su can thiét

hay đúng hơn còn là trách nghiệm của cha me.Mu6n dam bảo những yêu cầu như thế cho một gia đình văn hoá đòi hỏi phải có một chương trình giáo dục

cho các bậc cha mẹ Là bậc cha mẹ phải hiệu biết nhiều về SKSS, cha me can

biết những gi nên và không nên giáo dục cho trẻ Theo nhà tâm lý học Thuy

Sỹ nổi tiếng thế giới Hanhains Raiprex: tình dục ngày nay không còn là phương thức duy trì nòi giỗng mà là một nhu cầu văn hoá, một phần quan trọng không thể thiếu được để tạo nên cuộc sống hạnh phúc của con người, là một đảm bảo chắc chăn cho hôn nhân và gia đình bên vững Con người ở mọi lứa tuôi, trước hết là tuôi trẻ đang chịu tác động mạnh mẽ của “Làn sóng tình

dục” Nhiều bậc cha mẹ đã phải chịu thất bại về sự đô vỡ về tính thần và đạo

đứccủa con cái mình chỉ vì tình dục

Giáo dục trở nên cân thiết và cấp bách.Nhưng giáo dục như thế nào và

bắt đầu từ đâu Đây là một câu hỏi nan giải Theo Hanxhains Raiprex giáo

dục vấn đề tình dục cho trẻ nhỏ cần được bắt đầu từ trong nôi, từng bước cho

trẻ tiếp cận với thế giới tình cảm tế nhị và phức tạp này Cha mẹ không nên

tránh việc này cũng càng không nên can thiệp thô bạo hoặc chửi bới, chừng

phạt khi con có biểu hiện tình dục Cần tạo điều kiện cho trẻ phát triển tự

17

Trang 26

nhiên theo bản năng Đồng thời cha mẹ phải chủ động tâm sự với con trẻ khi chúng đến tuổi trửơng thành về tình dục

Vai trò của giáo dục gia đình trong vấn đề này là rất quan trọng nó tạo cho trẻ những hiểu biết bao quát về vẫn đề này, có tâm lý vững vàng nhưng

để hiểu sâu về cơ chế từ đó có những hiểu biết cơ bản thì giáo dục từ cha mẹ

thôi chưa đủ

Trên thế giới có nhiều nước đưa giáo dục giới tính, tình dục vào nhà

trường phô thông như một môn học

Trước đây giáo dục sức khoẻ thường được thực hiện bằng phương pháp, trình bày bài giảng, nêu câu hởi thảo luận và minh hoạ bằng các phương tiện nghe nhìn.Ngày nay giáo dục SKSS chú trọng hơn nhiều tới việc giới

thiệu những tình huống thực té tạo ra sự tham gia thảo luận và suy nghĩ cho

các em từ đó rút ra những kỹ năng sống

Ngoài những chương trình giáo dục trong nhà trường họ còn có những chương trình tiếp cận thanh thiếu niên goải nhà trường tuy cũng gặp không ít

các khó khăn khi bắt đầu nhưng họ đã thành công

Để tiến hành giáo dục giới tính và SKSS cho VTN ở trong và ngoài nhà trường trên thế giới có những mô hình khác nhau, các mô hình này để đáp ứng nhu cầu của từng nước trong một giai đoạn phát triển nhất định

e Các trung tâm dành cho VTN và những người trẻ tuổi, trung tâm dành

cho VTN mang thai, VTN là bố mẹ, giúp người mang thai sau khi sinh nở có

thể trở lại trường học, dạy nghề cho các em đã quá tuôi đi học [16]

e Trung tâm đa dịch vụ cho thanh mên:

Ở châu Mỹ La tính có trung tâm dịch vụ sức khoẻ và xã hội đáp ứng nhu

cầu quan tâm của những người trẻ tuổi, có cả SKSS Đôi khi trung tâm gặp

khó khăn, khi cung cấp dịch vụ sức khỏe cho VTN, họ cho răng cung cấp dich

18

Trang 27

vụ cho VTN là khuyến khích QHTD nhiều hơn Họ chỉ mở rộng theo hướng

hoc van hoa, day nghé va tu van SKSS, chăm sóc sức khoẻ

Trung tâm hướng về VTN ( CORA) của Meexxico city thành lập năm

1983 ban đầu cung cấp thông tin tư vấn cho các nhân và theo nhóm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ( cả SKSS), các hoạt động văn hoá và giải trí khác

Hội KHHGĐ của Guatemala 1974 thành lập trung tâm VTN bao gồm các nội dung về giáo dục tình dục và KHHGĐ được lồng ghép với tư vấn Việc lồng ghép như trên tránh sự thiên lệch về KHHGĐ có khả năng gây ra phản ứng của công chúng, phản ứng chính trỊ và sự quan tâm của VTN [15]

e Tổ chức cho thanh niên và mạng lưới thanh niên:

Các tổ chức phi chính phủ nói chung thường quan tâm đến trẻ em và

thanh niên và cso kinh nghiệm tiếp cận với nhóm đó Do hạn chế về kinh tế

nên các tô chức phí chính phủ không thể tổ chức chương trình này rộng lớn để đáp ứng nhu cầu về thông tin và dịch vụ của thanh niên

Tuy nhiên các tổ chức này rất quan trọng, họ luôn có sáng kiến và luôn

đi đầu để thử nghiệm những sáng kiến đó Đến khi chương trình thử nghiệm thành công thì chính phủ mới hợp tác và mở rộng chương trình hay dựa vào đó để xây dựng chương trình mới Một mục tiêu quan trọng là nâng cáo trách nhiệm ý thức với các van dé giới tính Các hoạt động bao gồm các

lớp đào tạo , xây dựng cuốn số tay hướng dẫn và hội thảo khu vực

Cho dù không muốn hoạt động tình dục ở một bộ phan 6 VIN van diễn

ra hằng ngày với mức độ khác nhau Tuỳ nơi với xu hướng ngày một tăng với những hậu quả xấu của nó như: thai nghén, phá thai, mắc bệnh lấy truyền

đường tình dục Những hậu quả xấu đó không những tác hại trực tiếp đến

giới trẻ ngày nay mà còn trực tiếp tác hại đến thế hệ sau Để ngăn ngừa những hậu quả xấu nói trên, chúng ta cần nhìn thắng vào sự thật, sáng suốt tìm ra giải pháp hữu hiệu phù hợp với hoàn cảnh văn hoá, kinh tế xã hội của nước ta

19

Trang 28

1.4.3 Thực tiễn giáo dục giới tính và SKSS ở Việt Nam [19]

Sự tiếp cận giáo dục giới tính SKSS ở Việt Nam đã bắt đầu từ thập niên

60 khi nước ta phát động cuộc vận động sinh đẻ có khế hoạch Ở thời điểm đó

chúng ta chưa quen với khái nệm SKSS sau đó với sự ra đời của các văn bản luật như: Luật hôn nhân gia đình ( bố sung năm 1986), luật hình sự ( 1985),

luật bảo vệ sức khoẻ( 1989) và nhiều chỉ thị khác của Đảng và chính phủ, thì

việc giáo dục SKSS đã phát triển hơn rất nhiều dưới mọi hình thức và hoạt

động lồng ghép đã thu hút sự tham gia của nhiều bộ, ngành, cơ quan nhà nước

và đoàn thể

Những năm 80, Bộ giáo dục đã lồng ghép trong môn học gọi là giáo đục dân số một số vấn đề lien quan đến giới tính và sinh lí sinh sản được giảng dạy ở cấp phô thông và đại hoc

Nâng cao sự hiểu biết về SKSS cho người dân, đặc biệt là người dân nông thôn đang được nhà nước trú trọng và quan tâm, có nhiều dự án đã và đang được thực hiện và đạt được những kết quả đáng kể

Ở Việt Nam, các chương trình giáo dục giới tính và SKSS đang trên đà phát triển, các nội dung chương trình KHHGĐ trước đây dần dần được chuyển thành chương trình SKSS với những nội dung rộng hơn, đi sâu vảo chất lượng, ví dụ: Không chỉ tập trung vào các dịch vụ KHHGĐ mà gồm có

cả những van đề vô sinh , viêm nhiễm đường tình dục, ngăn ngừa các bệnh lây qua đương tình dục Đối tượng tập trung không chỉ là phụ nữ mà là cả nam, nữ VTN Các dịch vụ tư vẫn cung cấp các phương tiện tránh thai và nạo thai an toàn cho VTN, cho các đối tượng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cũng được mở rộng

Các nội dung tuyên truyền giáo dục và giải quyết các bệnh lây qua đường tình dục và AIDS hiện nay đang là vẫn để quan tâm, nó được phố biến

20

Trang 29

rộng rãi trên các phương tiện thông tin được đưa vào giáo dục phô biến trong nhà trường và đã đem lại những hiệu quả đáng kể

Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được, van dé giao duc SKSS

ở Việt Nam vẫn còn một số tồn tal

Nước ta vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng thời xa xưa cho rằng vấn đề giới tính vẫn là vấn đề tế nhị cần phải che giấu

Gia đình là cái nôi giáo dục cho trẻ chuẩn bị mọi cơ sở tâm lý vững chắc

để bước vào đời Tuy nhiên trong vẫn đề SKSS và giới tính nhiều bậc cha mẹ

vẫn còn cái nhìn lệch lạc, thiếu chủ động, không muốn để cho trẻ biết, có người còn dạy cho con cái họ răng những vấn để đó là xấu cần phải che dẫu

kín đáo, trẻ muốn hỏi thì lại lắng tránh không trả lời Đó là sai lầm lớn có thể

do các bậc cha mẹ hiện nay đã chịu nhiều ảnh hưởng của giáo dục phong kiến nên cũng áp đặt giáo dục đó cho con cái mình Do đó chúng ta cần phải có kế hoạch tuyên truyền cho các bậc phụ huynh hiểu rõ vẫn đề từ đó có cách giáo dục cho con em mình một cách đúng đắn và phù hợp

Hiện nay việc đưa giáo dục giới tính vào trong nhà trường như một bộ môn vẫn còn gây nhiễu tranh cãi Có người cho răng đó là “bậy bạ” là “vạch đường cho hươu chạy” vàn nhà trường là môi trường mô phạm không thích hợp cho việc đó Đồng thời các thây cô giáo, nhất là các cô giáo chưa lập gia đình rất hay mắc cỡ khi phải giảng dạy các nội dung về SKSS, có người

không giảng dạy mà cho học sinh về nhà đọc sách Đó là khiếm khuyết lớn

đối với giáo dục chính quy Đặc biệt với đối tượng thanh niên nghỉ học sớm chúng ta vẫn chưa có kế hoạch giáo dục đặc biệt, chính đôi tượng này cũng cần có sự hiểu biết về vấn dé nay một cách rõ rang bởi khi các em không còn

đi học nữa sẽ rất dễ có QHTD sớm

Mặc dù đã tìm hiểu ý nghĩa xã hội nhân bản của việc chăm sóc SKSS

nhưng trong thực tế việc thực hiên còn vấp phải nhiều khó khăn Nền kinh tế

21

Trang 30

kém phát triển, điều kiện kinh tế cơ bản thấp là nguyên nhân xã hội đầu tiên

ảnh hưởng tới SKSS của phụ nữ, thiếu nơi vệ sinh, nơi ở, thiếu nước sạch và

hệ thống chăm sóc y tế cơ sở

Ở lứa tuổi VTN : tình trạng nạo phá thai, QHTD sớm còn xây ra, nhiều

vấn đề khác vẫn chưa được quan tâm đúng mức Cần phải lông ghép chương

trình giáo dục giới tính vào các trường THPT

22

Ngày đăng: 28/03/2017, 09:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w