1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt

171 1,1K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 8,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRỪÒNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA

ĐỐI CHIẾU ĐẶC TRƯNG NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM TỪ CHỈ QUAN HỆ THÂN TỘC TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

M ã số: Q N 01 05

C huyên ngành: Lí iuận ngôn n gữ

Chủ nhiệm đề tài: Dương Thị Nụ

KHOA: NGOẠI NGỬ CHUYÊN NGÀNH

O A I HOC Q Ư Í G i < " rl/-‘ ■ ' V 1

1 f ’ l j i ' - T À M ' 1 ' í G T i l i T ‘ - | I J V ì t N

D ĩ / 4 i ' ĩ

HÀ NÔI - 2003

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đ ể tài n g h iên cứu của ch ú n g tôi được thực h iện với sự ủng h ộ vô cùng

to lớn củ a Đ ại H ọc Q uốc gia H à N ội, trường Đ ại học N goại ngữ và V iện N gôn ngữ học

C h ú n g tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đ ỡ của Ban K h o a học công

n g h ệ Đ ại H ọ c Q uốc g ia H à N ội, P hòng khoa học và Bổi dư ỡng trường Đ ại học

N g o ại n g ữ - Đ ại học Q uốc gia H à N ội, các đổn g nghiệp và sinh viên đã tạo điéu kiện giúp đỗ để ch úng tôi hoàn thành đề tài này

C h ú n g tôi xin trân trọng cảm ơn các giáo sư và đ ổ n g n g h iệp tại khoa

N gôn ngữ trường Đ ại học K hoa học X ã hội và N hân văn, khoa N gôn ngữ và

V ăn h o á A nh M ỹ, bộ m ôn N gôn ngữ và V ăn hóa V iệt N am trường Đ ại học

N goại n gữ - Đ ại học Q uốc gia H à N ội về sự giúp đ ỡ lấ t q u í báu về ch u y ên

m ô n trong suốt q u á trình thực h iện đề tài này

Trang 3

Chương 1

C ơ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VIỆC NGHIÊN c ứ u NGỮ NGHĨA TỪ THÂN TỘC 4

1.3 Nghiên cứu từ thdn tộc trong mối quan hệ với các ngành khoa học khác 231.3.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy 231.3.2 Ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội, ngôn Iigữ học tâm lý 24

1.4 Sơ lược một số công trình nghiên cứu trước đây về từ thân tộc 29

Chương 2

ĐỐI CHIẾU NGHĨA c ơ BẢN

2.1 Từ thân tộc trong tiếng Anh và tiếng Việt 33

2.2 Phân tích nghĩa cơ bản của từ thân tộc tiếng Anh và tiếng Việt 372.2.1 Phân tích nghĩa cơ bản của từ thân tộc tiếng Anh 38

Trang 4

2.2.2 Phân tích nghĩa cơ bản của từ thân tộc tiếng Việt 47

Chương 3

ĐỐI CHIẾU NGHĨA MỞ RỘNG

3.1 Phân tích nghĩa mở rộng của từ thân tộc tiếng Anh và tiếng Việt 65

Trang 5

G A u g reat/g ran d au n t (bà cô / bà dì)

G D a g ra n d d a u g h te r (cháu gái của ông bà)

G F a g ran d fa th e r (ông)

G G A u g reat g ra n d au n t (ch ị/ em gái của cụ)

G G D a g reat g ran d d a u g h te r (chắt gái)

G G F a g reat g ran d fa th e r (cụ ông)

G G M o g reat g ra n d m o th e r (cụ bà)

G G ne g reat grand nephew (chắt trai họ)

G G N i g reat g ran d n iece (chắt gái họ)

G G So g reat g ran d so n (chắt trai)

G G Ư n g reat g ran d u n cle (an h / em trai củ a cụ)

G M o g ra n d m o th e r (bà)

Trang 6

G ne g ran d nep h ew (cháu trai họ)

G N i g ran d n iece (cháu gái họ)

GSo g ran d so n (cháu trai của ồng bà)

G U n g re at/ grand u n cle (ông bác/ông chú)

H u h u sb an d (chồng)

L N last n am e (tên họ)

M o m o th er (m ẹ)

N e n ep h ew (cháu trai của cô bác )

Ni n iece (cháu gái của cô bác )

Si sister (chị/ em gái)

Sib sibling (anh/ ch ị/ em m ộ t)

U n uncle (b ác/ ch ú / cậu)

Trang 7

Gia đình hạt nhân (nuclear family)

Giả thân tộc (pseudo-kinship)

Tương tự huyết thống

(quasi- blood relationship)

Gia đình một mẹ/cha và các COII

Gia đình gồm từ ba thế hệ trở lên hay gồm nhiều người họ hàng cùng sống trong một hộ

Quan hệ giữa những người họ hàng được tạo nên qua các nghi thức nhận nuồi, đỡ đầu hay kết nghĩa

Gia đình gồm cha mẹ và các COI1 (chưa lập gia đình) của họ

(như thản tộc giả/ nhân tạo)(như thân tộc giả/ nhân tạo)

Gia đình chỉ gồm có một mẹ/cha và các con

Quan hộ họ hàng theo dòng bên, trong

đó không ai sinh ra ai, gồm: anh, chị

em, chú bác

Quan hệ họ hàng theo đòng trực hệ và bàng hệ

Bậc, xếp theo tuổi tác giữa những người cùng cha mẹ sinh ra, ai sinh ra trước thì

thuộc hàng trên (anh, chị), ai sinh ra sau thì thuộc hàng dưới (e/n)

Quan hệ họ hàng theo dòng thẳng, trong

đó người Iiày sinh ra người kia kế tiếp

nhau, g ồm : ô n g , c h a , COI1, c h á u

Quan hệ họ hàng tính theo dòng họ cúa cha, hoặc có khi của chồng (bên nội), hoặc có khi của vợ (bên Iigoại)

Trang 8

D A N H S Á C H B Ả N G , s ơ Đ ổ , B lỂ ư Đ ổ V À H ÌN H V Ẽ

B ảng 1 T ừ thân tộc tiến g A nh đối chiếu với tiếng V iệt và k iểu q u an hệ

B ảng 2 T ừ th ân tộc trong tiếng A nh - theo q u an hệ h u y ết thống

B ảng 3 Từ thân tộc trong tiếng V iệt - theo q u an hệ h u y ết thống

B ảng 4 B ảng n é t ng h ĩa cơ bản của từ thân tộc tiếng Anh

B ảng 5 B ảng n ét n g h ĩa cơ bản của từ thân tộc tiếng V iệt

B ảng 6 B ảng tổng kết các nét nghĩa của từ thân tộc trong tiến g A nh và

tiến g V iệt

B ảng 7 T ỷ lệ người học có lời dịch sát với nội dun g văn bản

H ình ] Đ ư ờng tròn đồng tâm về quan hệ thân tộc của người A nh

H ình 2 H ìn h h ộ p quan h ệ gia đình

H ìn h 3 H ìn h vẽ ô trống ngữ nghĩa của từ thân tộc tiếng A nh và tiến g V iệt

Sơ đồ 1 Sơ đồ q u an hệ gia đình người Anh

Sơ đổ 2 Sơ đồ quan hệ gia đình hạt nhãn

Sơ đổ 3 Sơ đồ q u an hệ gia đình m ẹ và các con

Biểu đồ về k ết quả các b ài tạp khảo sát bộ phận và toàn hệ th ố n g (% )

Trang 9

Mỏ ĐẨU

1 Lý do chọn đề tài

Nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc là một trong những nhóm từ được nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới quan tâm Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu nhóm từ này trong tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Bun-ga-ri, tiếng Trung Quốc, tiếng Thái Lan, tiếng Việt, tiếng Nhật song cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện và đầy đủ về đối chiếu ngữ nghĩa của nhóm từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt Vì vậy việc chọn đề tài này là nhằm mục đích nêu trên

Các đặc trưng ngữ nghĩa của Iihóm từ thân tộc trong tiếng Anh và tiếng Việt chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hoá Anh - Mỹ và Việt Thiếu hiếu biết về điều này có thể dẫn đến hiểu lầm và ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp Do đó việc nghiên cứu các tương đồng và khác biệt về đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Anh và tiếng Việt giúp cho giao tiếp liên văn hoá giữa người Việt và người Anh, Mỹ có hiệu quả hơn

Hơn nữa, trong bối cảnh của sự phát triển về kinh tế, khoa học kỹ thuật, nhu cầu giao tiếp, trao đổi giữa Việt Nam và các nước khác trên thế giới ngày càng lớn, tiếng Anh được sử dụng rộng rãi gần như một ngôn ngữ quốc tế trong giao tiếp nên kết quả của đề tài sẽ có giá trị thực tiễn trong việc học tập và giảng dạy tiếng Anh cho người Việt Nam và tiếng Việt cho người nước ngoài

2 Mục đích của đề tài

Mục đích của đề tài nghiên cứu là:

- Tìm hiểu Iihững đặc trưng ngữ nghĩa hay CÒI1gọi là nét nghĩa của nhóm từ thân tộc trong tiếng Anh và tiếng Việt

- Tìm hiểu những nét giống nhau và khác nhau cơ bán về ngữ nghĩa của nhóm từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Căn cứ trên quan điểm cho rằng nghĩa của từ là một tập hợp những nét

nghĩa [46], đề tài chọn đối tượng nghiên cứu của mình là những tương đổng và khác biệt vé đặc trưng ngữ ng/iiã của nhóm từ thán tộc trong tiếng Anh và

Trang 10

tiếng Việt Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài lấy đơn vị khảo sát là những từ chỉ

người họ hàng có quan hệ huyết thống ở 3 thế hệ trên Ego (BẢN THÂN) (thế hệ cha mẹ G -l, thế hệ ông bà G-2 và thế hệ cụ G-3), 3 thế hệ dưới BẢN THÂN (thế

hệ coil G + l, thế hệ cháu G+2 và thế hệ chắt G+3), và những người cùng thế hệ với BẢN THÂN Những từ tiếng Anh được nghiên cứu là những từ phổ thông, được cộng đổng người bản ngữ nói tiếng Anh, Mỹ hiện đại sử dụng (trong giới Anh ngữ vẫn gọi là tiếng Anh - Anh và tiếng Anh - Mỷ: British English và American English) Những từ trong tiếng Việt được khảo sát chỉ là những từ tương ứng về nghĩa với các từ thân tộc tiếng Anh chứ không phải toàn bộ hệ thống từ thùn tộc tiếng Việt Đảy là những từ phổ thông được sử dụng ở các vùng phía bắc Việt Nam, không phải là những từ được dùng trong các địa phương như

bủ, bầm, tía, má.

Đề tài tập trung nghiên cứu và đối chiếu đạc trưng ngữ nghĩa của từ thân

tộc tiếng Anh và tiếng Việt trên hai cấp độ: nghĩa co bẩn và nghĩa m ở rộng Khi

đối chiếu nghĩa cơ bản của từ, tiểu trường từ vựng được hạn chế ở 34 từ chỉ quan

hệ huyết thống trong tiếng Anh (18 từ thuộc dòng trực hệ và 16 từ thuộc dòng bàng hệ) Tương ứng với chúng là 50 từ chỉ quan hệ huyết thống trong tiếng Việt (28 từ thuộc dòng trực hệ và 33 từ thuộc dòng bàng hệ, trong đó có 11 từ xuất hiện cả ở hai dòng trực hệ và bàng hệ) Khi đối chiếu nghĩa mở rộng của từ, đề tài hạn chế số lượng từ để phân tích gồm 14 từ tiếng Anh (6 từ thuộc trực hệ và 8 từ thuộc bàng hệ) Đây là những từ chỉ người có quan hệ huyết thống, gần gũi với BẢN THÂN, về dạng thức là những từ gốc cơ bản, có tính cố định, sẵn có và bắt

buộc cao, kiểu nhu father, mother, không phải là từ phái sinh hay từ ghép Tương

ứng với 14 từ thân tộc tiếng Anh là 24 từ thân tộc tiếng Việt

4 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài

Kết quả của đề tài góp phần làm sáng tỏ vấn đề lý thuyết của ngôn ngữ học đại cương: tính tương đối của ngôn ngữ, tính có ý nghĩa của ký hiệu ngôn ngữ, chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, những yếu tố trong ngôn ngữ như các đậc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ này trong các ngôn ngữ thuộc loại hình khác nhau Kết quả của để tài còn nhấn mạnh tầm quan trọng cúa việc nghiên cứu ngôn ngữ

Trang 11

trong mối quan hệ giữa các liên ngành nghiên cứu khác như ngôn ngữ học xã hội, ngốn ngữ học tâm lý, văn hoá học và nhân học.

Những kết quả của công trình nghiên cứu này trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần vào việc học tập và giảng dạy ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng cũng như công tác phiên dịch hai ngôn ngữ: Anh-Việt và Việt-Anh ở khu vực các danh từ thân tộc - một khu vực khá quan trọng của hoạt động ngôn ngữ

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng cách trình bày kết quả nghiên cứu dưới hai hình thức: quy nạp và diễn dịch: Để tóm tắt các luận điểm về ngữ nghĩa học và lý thuyết trường nghĩa chúng tôi sử dụng phương pháp quy nạp Để miêu tả cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt chúng tôi sử dụng phương pháp diễn dịch Như vậy trong trường hợp này khái niệm quy nạp và diễn dịch không phải là các phương pháp nghiên cứu bản thân đối tượng

mà chỉ là các thao tác tư duy tiếp cận trình bày kết quả nghiên cứu Bao trùm lên toàn bộ đề tài là các phương pháp đặc thù của ngôn ngữ học: Phương pháp phân tích thành tố nghĩa để phân tích cấu trúc ngữ Iighĩa của từ và phương pháp đối chiếu tương phản Anh - Việt để kiểm chứng sự có mật của các thành tố nghĩa (không đối chiếu Việt - Anh) Do đó tiếng Anh được chọn làm ngôn ngữ gốc- ngôn ngữ đối chiếu và tiếng Việt làm ngôn Iigữ công cụ đê đối chiếu Ngoài ra

ch ú n g tôi CÒI1 sử d ụ n g phương pháp phân tích lỗi thông qua v iệc tiến hành m ộ t số

thủ pháp điều tra xã hội học để phát hiện những thuận lợi và khó khăn mà người học Việt Nam thường gặp phải trong quá trình học từ thân tộc tiếng Anh Các thủ pháp áp dụng bao gồm: thống kê, lập sơ đồ, bảng biểu, hình vẽ Nhìn chung các phương pháp nghiên cứu bao gồm cả các yếu tố định tính và định lượng

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, đề tài nghiên cứu gồm 4 chương:

Chương 7: Cơ sở lý thuyết của việc nghiên cứu ngữ nghĩa từ thân tộc.

Chương 2: Đối chiếu nghĩa cơ bản của từ thân tộc tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 3: Đối chiếu nghĩa mở rộng của từ thân tộc tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 4: ứng dụng các kết quả nghiên cứu trong giáng dạy và phiên dịch.

Trang 12

Chương 1

C ơ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VIỆC NGHIÊN c ứ u NGỮ NGHĨA TỪ THÂN TỘC

1.1 Khía cạnh nhân học ngôn ngữ

1.1.1 Quan hệ thân tộc

Quan hệ thân tộc là đối tượng nghiên cứu cụ thể của các nhà nhân học và thuộc vào lĩnh vực nhân học (anthropology) Nghiên cứu quan hệ thân tộc thường gắn rất chặt với việc nghiên cứu các danh từ thân tộc Các dạng thức ngôn ngữ (từ thân tộc) luôn là cơ sở giúp cho nghiên cứu về lịch sử các quan hệ thân tộc, Trong thực tế, lịch sử nghiên cứu quan hệ thân tộc đã có bề dày hơn một thế kỷ Vào thế

kỷ 19 nhà triết học xã hội học người Đức Friedrich Engels đã tìm hiểu nguồn gốc

và sự phát triển của hệ thống thân tộc Vào thế kỷ 20, những người như Sigmund Freud đã tìm hiểu nguồn gốc lịch sử gia đình Vào khoảng 1860-1920 các nhà nhân học tiên phong đã cố gắng lập nên các bảng vể quan hệ thân tộc và gia đình

Từ khoảng 1920 đến 1970 các nhà nghiên cứu tập trung vào việc phân loại các kiểu hệ thống thân tộc Từ giữa những năm 1970 đến nay người ta nghiên cứu các quan hệ thân tộc trong quan hệ với vấn đề vãn hoá và quan hệ thân tộc được coi là

cơ sở chung của một tiểu hệ thống xã hội

Như được đề cập đến trong Foley [94,145], các nhà ngôn ngữ nhân học quan tâm đến việc nghiên cứu từ chỉ quan hệ thân tộc và quan hệ thân tộc theo hai trường phái: trường phái thứ nhất gồm những người theo thuyết phổ quát (universalist) (đại diện là Goodenough, Lounsbury, Murdock) và trường phái thứ hai gổm những người theo thuyết tương đối (relativist) (đại diện là Leech, Needham và Schneider) Những người theo thuyết phổ quát đi theo truyền thống của các nhà nhân học M organ, M alinowski, Murdock Họ đã xem xét tính phổ quát trong quan hệ gia đình hạt nhân Họ cho rằng cơ sở của mọi quan hệ thân tộc

là gia đình hạt nhân và mọi quan hệ rộng hơn trong xã hội là sự mở rộng từ quan

hệ này Trong khi đó các nhà nghiên cứu theo thuyết tương đối cho rằng các từ thân tộc không mang tính chất vể quan hệ sinh học, đặc biệt là máu mủ, mà đây

là những từ mang tính chất xã hội Mỗi cá nhăn được xếp vào những nhóm người

Trang 13

cụ thể, dựa trên căn cứ về cách tổ chức xã hội.

1.1.1.1 Các loại quan hệ trong gia đình

Trong một gia đình ở bất kỳ một nền văn hoá nào cũng có thể bao gồm các loại quan hộ chung huyết thống và quan hệ không chung huyết thống, trong đó các quan hệ không chung huyết thống bao gồm quan hệ thông qua COI1 đường hôn nhân, ví dụ: bố vợ, mẹ chồng, anh rể và quan hệ mà được các nhà nhân học gọi

là quan hệ "tương tự huyết thống" (quasi-blood relationship), có người gọi là quan hệ "giả thân tộc" (pseudo - kinship) hay "quail hệ thân tộc nhâu tạo" (artificial kinship) Những người có quan hệ "tương tự huyết thống” là những người không có quan hệ huyết thống với nhau Iihưng coi nhau như là người họ hàng ruột thịt và gọi nhau bàng các từ thân tộc Có các loại quan hệ "tương tự huyết thống" như sau:

a) Quan hệ nhận nuôi: Khi một người nào đó được chấp nhận và mãi mãi giữ một vị trí của người họ hàng nào đó, và vì thế mà được coi là một người họ hàng trong gia tộc, có quyền lợi và nghĩa vụ tương đương như con đẻ, có quan hệ ruột thịt với các thành viên khác trong gia tộc và được gọi bằng những từ thân tộc

b) Quan hệ nghi thức (fictive kinship): Là mối quan hệ giữa những cá nhân được xã hội công nhộn, đựơc tạo ra như một động cơ để giải quyết những hoàn cảnh đạc biệt Quan hệ nghi thức dựa trên tình bạn và những quan hệ cá nhân khác chứ không phải ỉà do hôn nhân hay huyết thống Đó là những trường hợp:

blood brothers (anh em kết nghĩa), godparent (cha mẹ đỡ đầu), thuật ngữ co­ parent (cùng là cha mẹ của ai, tức một người là cha / mẹ đẻ và một người là cha /

mẹ nuôi hay cha / mẹ đỡ đầu) Kiểu quan hệ do theo nghi thức đỡ đầu này xuất phát từ những nền văn hoá có đạo Cơ đốc giáo và trong lễ rửa tội để chấp nhận một người nào đó vào đạo Cơ đốc giáo thì người cha hay mẹ đỡ đầu là người đứng ra hứa khi đứa trẻ được rửa tội là sẽ nuôi nấng cho nó trở thành con chiên ngoan đạo

1.1.1.2 Quan hệ thân tộc trong tri nhận của ngưòi Anh và người Việt

Người ta quan niệm rằng bố mẹ (parents) là những Iigười đầu tiên, những đơn vị đầu tiên hình thành nên gia đình hạt nhân, là khởi nguồn của mọi mối quan hệ trong gia đình Do đó, khi nghiên cứu về quan hệ thân tộc, người ta

Trang 14

thường lấy điểm xuất phát là những thành viên trong gia đình hạt nhân, trung tâm

là BẢ N TH ÂN - người mà từ đó các mối quan hệ được thiết lập, và cũng từ những người trong gia đình hạt nhân mà lan toả ra các quan hệ xa hơn Finch [92]

và tài liệu nguồn [146] đã xếp mức độ gần gũi về quan hệ giữa những người họ hàng trong ba đưòmg tròn đồng tâm, có tâm là Ego (BẢN THÂN) (hình ])

Đường tròn thứ nhất gồm những người họ hàng có quan hệ mdu mủ gần nhất với

BẢN THÂN, đó là father, mother, brother, sister, son, daughter (nghĩa tiếng

Việt của những từ này là cha mẹ, anh chị em ruột và C0 I1 cái) Đây là những người

thường xuyên liên hệ với nhau Đường tròn thứ hai bao gồm những người họ hàng

có quan hệ máu mủ kém gần gũi hơn với BẢN THÂN so với những người trong

đường tròn thứ nhất, đó ỉà grandfather, grandmother, uncle, aunt, cousin, nephew, niece, grandson, granddaughter (nghĩa tiếng Việt của những từ này là

ông bà, chú/ bác/ cổ/ dì , anh chị em họ, cháu đối với ông/ bà và cháu đối với

cô, bác )- Đây là những người ít liên hệ với nhau hơn Thuộc về đường tròn thứ

ba là great grandfather, great grandmother, granduncle, grandaunt, cousin, grandnephew, grandniece, great grandson, great granddaughter (nghĩa tiếng

Việt của những từ này là cụ, anh chị em của ông bà, anh chị em họ, cháu đối với ông bác/ ông chú, bà cô/ bà dì và cháu đối với ông bà) Những Iigưòi này nhận thức được mối quan hệ họ hàng của mình nhưng họ rất ít liên hệ với nhau [92], Quan hệ thân sơ giữa những người thân thuộc trong gia đình cũng được Hudson [102] miêu tả theo quan hệ về bậc hay mắt xích liên kết (link), ví dụ quan hệ

father-son là quan hệ một bậc, quan hệ son-uncỉe là quan hệ hai bậc Người Anh

có cách đối xử với nhau theo quan hệ bậc: chung sống cùng nhà với những người

có quan hệ một bậc (thường là các thành viên trong gia đình hạt nhân), có thể nghỉ lễ Nô-en với những người có quau hệ hai bậc, và (nếu có thể) thì giữ liên lạc với những người có quan hệ ba bậc, còn những người có quan hệ ở những bậc xa hơn thì kém thân thiết hơn Hiện nay ở nước Anh cũng như các xã hội phương tây khác, khái niệm về gia đình đã có những điếm khác với trước đày: những người

họ hàng xa trong tộc họ hầu như hoàn toàn không được để ý đến, không có liên

hệ gì với nhau, thậm chí không biết gì về nhau (kể cả tên), nếu có thì cũng rất hãn

Trang 15

hữu Nguyên nhân cơ bản có lẽ là do họ ít có ràng buộc về kinh tế với nhau nên không còn duy trì được mối quan hệ chặt chẽ như xưa.

Nhìn bao quát ta thấy cộng đồng người họ hàng nằm trong phạm vi 3 đường tròn đồng tâm được phân định rõ về khoảng cách gần gũi về huyết thống, thế hệ, giới tính và dòng thân tộc (trực hệ, bàng hệ) Những người được xếp trong đường tròn thứ nhất có quan hệ máu mủ gần gũi với BẢN THÂN hcm so với những người được xếp trong các đường tròn 2 và 3

Hình 1 Đường tròn đồng tâm về quan hệ thán tộc người Anh

Đặc điểm về thế hệ được thể hiện trên trục dọc (3 thế hệ trên BẢN TIIÂN

và 3 thế hệ dưới BẢN THÂN) Xét theo chiều từ trên xuống dưới ta thấy: thế hệ

cụ (G-3) —* thế hệ ông bà (G-2) —►th ế hệ bố mẹ (G -l) —► thế hệ con (G + l) —*• thế

hệ cháu (G+2) -*■ thế hệ chắt (G+3) Đặc điểm về giới tính (nam và nữ) cũng được

thể hiện trong đường tròn này: nửa bên phải của đường tròn bao gồm những người thuộc giới Iiam và nửa bên trái của đường tròn bao gồm Iihững người thuộc giới nữ Đặc điểm về dòng thân tộc: những người có quan hệ theo dòng thẳng (trực hệ, trong đó người này sinh ra người kia) được xếp theo khu vực gần sát với BẢN TH Â N và tính theo cột dọc từ trên xuống dưới, còn những người có quan

hệ theo dòng bên (bàng hệ, trong đó không ai sinh ra ai) được xếp theo khu vực cách xa BẢN TIIÂ N hơn và tính theo cột dọc từ trên xuống dưới Các quan hệ

Trang 16

trong một gia đình người Anh gồm thế hệ của bố mẹ và thế hệ của con được thấy trong sơ đồ 1.

= quan hệ theo hôn nhân

thím), mother's brother's wife (mợ)

5 ego's brother (anil, em trai)

6 ego's sister (chị, em gái)

7 ego's cousin (father's bi other's son, father's brother's daughter, father's sister's son, father's sister's daughter, mother's brother's son, mother's brother's daughter, mother's sister's son, mother's sister's daughter) (anh, chi,

em họ).

Là một đơn vị của quan hệ thân tộc, gia đình hạt nhân được nhà nhân học Levis - Strauss nhìn nhận như một cấu trúc cơ bản mà từ đó hệ thống các mối quan hệ khác trong tộc họ được hình thành Khái Iiiệm gia đình hạt nhân được định nghĩa

là m ột gia đình bao gồm bố mẹ và các con Nó được hình thành nên do hôn nhân,

lớn lên khi COI1 cá i được sinh ra, nhó lại khi COI1 cái đã lập gia đình riêng và m ất

đi khi cả hai vợ chồng qua đời Như được dẫn trong Foley [94], Malinowski và

M urdock đã coi mối quan hệ họ hàng trong gia đình hạt nhân là cơ sở cho mọi

Trang 17

mối quan hệ họ hàng trong gia đình và xã hội, là điểm xuất phát của việc phân tích mối quan hệ họ hàng Nhìn tổng quát mà nói, chính ở cái "xã hội" này mà đứa trẻ học cách đối đáp nhất định vói bố, mẹ, anh chị em và mong được đáp lại bằng những hành vi cụ thể Nhìn từ góc độ này thì các thành tố hay đơn vị của việc phân tích các hệ thống quan hệ họ hàng dựa trên các thành viên trong một gia đình hạt nhân sẽ bao gồm: bố, mẹ, con cái và anh chị em Quan hệ trong gia đình hạt nhân được thể hiện trong sơ đồ 2.

Sơ đồ 2 Sơ đồ quan hệ gia đình hạt nhân

Trong trường hợp gia đình hạt nhân chỉ bao gồm mẹ và các con (single - parent family) thì quan hệ thân tộc ở đây sẽ là quan hệ giữa mẹ và các COI1 vì

phần tử cơ bản của các quan hệ thân tộc là mối quan hệ giữa mẹ và COI1, và mối liên hệ giữa mẹ và con là cơ sở của quan hộ huyết thống, là một trục cơ bản trong

cấu trúc của tất cả các mối quan hệ thân tộc [94] {Xem sơ đồ 3).

Sơ đồ 3 Sơ đồ quan hệ gia dinh mẹ và các con

Trong văn hoá Việt Nam các quan niệm về mức độ quan hệ thân sơ giữa những người họ hàng không giống như trong văn hoá Anh - Mỹ Các đặc điếm về môi trường sống, phong tục tập quán của dân tộc đã ảnh hưởng đến các quan Iiiệm về tôn ti, thứ bậc, về cách ứng xử, vể trách nhiệm chăm sóc người họ hàng

Trang 18

trong tộc họ Thực vậy, ở Việt Nam mức độ gần gũi hay xa cách giữa những người họ hàng phụ thuộc vào việc người đó có quan hệ máu mủ gần hay xa đối vói BẢN THÂN, người đó thuộc về thế hệ trên hay thế hệ dưới, trực hệ hay bàng

hệ, bên nội (bên bố) hay bên ngoại (bên mẹ), người đó sinh ra trước hay sinh ra

sau, người đó là nam hay nữ Với quan niệm Một giọt máu đào hơn ao nước lã,

trước đây (ngày nay chủ yếu ở nông thôn) các gia đình Việt Nam có thể bao gồm

Iihiểu thế hệ cùng sống chung trong một hộ và làm thành gia đình tam đại dồng đường, tứ đại đồng đường, có khi ngũ đại đồng dường Trong xã hội Việt Nam

hiện nay gia đình tổn tại dưới hai dạng: gia đình hiện đại (gia đình hạt nhân) chủ yếu ở thành thị và gia đình truyền thống (gia đình mở rộng hay gia đình đa thế hệ) chủ yếu ở nông thôn Nguyên nhàn của sự thay đối về cơ cấu gia đình hiện đại có khác với cơ cấu gia đình truyền thống đa thế hệ một phần là do sự thay đổi của xã hội Cơ hội kiếm việc làm tập trung chủ yếu ở thành phố dẫn đến việc di chuyển chỗ ở cho phù hợp với công việc lao động và học tập đă làm cho các thành viên gia đình phải sống xa nhau trong các gia đình hạt nhân chứ không còn được sống cùng đại gia đình trên mảnh đất của cha ông nữa Trong sự chuyển biến từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại “các yếu tố của gia đình truyền thống không mất đi nhanh chóng, cùng một lúc, Ngay cả trong các xã hội hiện đại, những tàn dư của gia đình truyền thống vẫn còn tổn tại ở những mức độ nào đó, chủ yếu ở dân cư nông thôn” [64, 110] Quan hệ huyết thống này thường được tìm thấy trong các gia phả của dòng họ dưới dạng một sơ đồ hình cây, trong

đó các thế hệ được nối tiếp nhau lấy quan hệ "nội tộc” làm trọng Việc lấy tên họ theo cha và để lưu truyền giữa các thế hệ là dấu hiệu của dòng dõi họ tộc Sự phán biệt về giới tính làm cho “vai trò của người COI1 trai nổi bật nên có thể kéo theo cả những Iigười ngoài quan hệ huyết tộc trở thành quan hệ thân thuộc trong gia đình Người con gái có vị trí thứ yếu nên khi sinh ra, tuy có quan hệ máu mủ vói những người trong nhà nhưng đến lúc trưởng thành quan hệ ấy lại trở nên mờ nhạt vì bị chuyên vai sang một quan hệ khác” [20, 97-98] Quan hệ huyết thống của người Việt Nam đã được đúc rút và thể hiện trong cấc thành ngữ, tục ngữ, ca dao , ví

dụ: Dâu là con, r ể là khách Ngoài ra, ở xã hội Việt Nam người ta tôn trọng hàng

Trang 19

hay bậc (trật tự tuổi tác) giữa những người cùng thế hệ: ai sinh ra trước thì được đối xử như người bậc trên và được gọi là anh, chị; ai sinh ra sau thì được đối xử như người bậc dưới và được gọi là em Đặc điểm về văn hoá này được thể hiện trong cách dùng từ thân tộc để định danh và xưng gọi Trong tiếng Việt không

thấy có từ dùng chung cho cả anh và em như trong tiếng Anh (brother) và từ dùng chung cho chị và em (sister) Không giống như trong tiếng Anh chỉ có một

từ uncle dùng để chỉ người anh hay em trai của cả bố và mẹ, người Việt có các từ khác nhau để chỉ các quan hệ này: Anh của bố được gọi là bác, em trai của bố được gọi là chú, anh và em trai của mẹ lại được gọi là cậu Người Việt Nam phàn

biệt dòng trực hệ và bàng hệ rất rõ Họ coi trọng bên nội và coi nhẹ bên ngoại nên

cho rằng Con cô con cậu thì xa, COIÌ chú con bác thật lủ anh em Sự khác biệt

này dẫn đến các qui định trong hôn nhân là anh em trong nội tộc năm đời không được lấy nhau, nếu ai vi phạm sẽ bị khép vào tội loạn luân, nhưng trong quan hệ

bàng hệ thì vẫn có Cháu bá cháu dì thủ thì lấy nhan Mối quan hê giữa những người sinh ra trong cùng một thế hệ là rất khăng khít: Anh em hạt máu sẻ đỏi, như môi với răng Môi hở răng lạnh và như thể chân tay Aiìlì em như chán với tay Vì vậy mà họ thương yêu, đùm bọc nhau Chị ngã em nâng, có trách nhiệm lớn đối với nhau và con cái của nhau: Chẳng may bố mẹ bị lâm nạn thì Chú Iihư cha, già (chị mẹ) như mẹ, Sảy cha còn chứ, sây mẹ bú dì Lúc này mối quan hệ cùng huyết

thống có giá trị nổi bật Mối quan hệ theo dòng trực hệ đã gắn kết các thế hệ trong gia đình với nhau Mối quan hệ theo thế hộ này có khi còn được đánh dấu bằng những tên đệm của người COI1 trai để giúp cho các thế hệ COI1 cháu sau này tìm về tổ tiên, cội nguồn một cách dễ dàng Chẳng hạn trong một thế hệ của gia đình Iigười COI1 trai trưởng có tên đệm là Quang thì toàn bộ những người thuộc dòng trưởng này (ở các thế hệ khác nhau) đều mang tên đệm là Quang [20], Cũng

có gia đình lại chọn một tên đệm cho tất cả những người COI1 trai cùng một thế hệ

và một tên đệm khác cho những người COI1 trai thuộc thế hệ khác

Như vậy, do ảnh hưởng của các đặc điểm của các nền văn hoá khác nhau, người Anh, Mỹ và người Việt có các cách gọi tên người họ hàng khác nhau

Đường tròn đồng tâm {hình I) thê hiện một số đặc điểm cơ bản về quan hệ thân

Trang 20

tộc của người Anh, bao gồm các yếu tố về quan hệ huyết thống, thế hệ, giới tính

và dòng (trực hệ và bàng hệ) Đối với người Việt Nam các đặc điểm cơ bản về quan hệ thân tộc được thổ hiện trong các yếu tố mang tính đặc thu văn hoá Việt Nam thông qua các quan niệm về quan hệ huyết thống và không huyết thống, thế

hệ, trực hệ và bàng hệ, giới tính, bên nội và bên ngoại và hàng (hàng trên và hàng dưới) Những đặc điểm nổi bật về quan niệm của người Việt Nam về tuyến thân tộc nội ngoại và hàng đã dẫn đến sự khác nhau cơ bản về hệ thống thân tộc và từ thân tộc trong tiếng Anh và tiếng Việt Mức độ gần gũi hay không gần gũi của người họ hàng được thể hiện qua những lối ứng xử văn hoá, ở những hoạt động mang tính sinh hoạt gia đình và nghi lễ mang đặc thù dân tộc như các qui định về

lễ tết, sinh nhật, cưới, tang v.v Mức độ thân thuộc trong quan hệ giữa những người họ hàng còn được thể hiện trong các qui định về chế độ sở hữu, chế độ thừa

k ế tài sản và chế độ hương hoả Hơn nữa, mức độ thân thuộc trong quan hệ còn được coi là cơ sở để luận tội và xác định hình phạt đối với tội phạm là người họ hàng (trong phạm vi đề tài chúng tôi xin không đi sâu về vấn đề này)

1.1.2 Từ thán tộc

1.1.2.1 Lịch sử nghiên cứu

Kết quả các nghiên cứu về quan hệ thân tộc từ thế kỷ 19 với triết học của Freidrich Angels và của Sigmund Freud ở thế kỷ 20 về nguồn gốc lịch sử gia đình, cũng như các giai đoạn lịch sử nghiên cứu của các nhà nhân học cho thấy khi nghiên cứu từ chỉ quan hệ thân tộc chúng ta cẩn quan tâm đến toàn bộ kiến thức của các trường phái ngôn Iigữ nhân học nêu trên, tức là tính đến cả các quan

hệ của các thành viên trong gia đình và và các quan hệ của các thành viên trong các cộng đồng xã hội Tuy cách gọi những người họ hàng trong gia đình ở mỗi cộng đồng người không giống nhau nhưng “đây là những biểu hiện của những quan niệm đã thực sự lưu hành về quan hệ dòng máu gần hay xa, ngang nhau hay không ngang nhau Những quan niệm đó được đùng làm cơ sở cho một hệ thống

họ hàng đã hoàn toàn được xác định, có thể biểu hiện hàng trăm mối quan hệ họ hàng khác nhau của mỗi cá nhân” [40, 57]) Xuất phát từ quan điểm của các nhà nhân học và ngôn ngữ nhân học, các từ thân tộc được xem như một hệ thống tên gọi áp dụng cho những người họ hàng trong mối quan hệ với nhau và có thế được

Trang 21

sử dụng khác nhau trong sự khác nhau về nền văn hoá, điều kiện vật chất và tinh thần của từng cộng đồng xã hội [40, 57], Đứng trên góc độ nghiên cứu của mình các nhà nhân học cấu trúc đã xem xét từ thân tộc như những từ ngữ cụ thể dùng

để chỉ các quan hệ thân tộc Các nhà nhân học tri nhận thì nghiên cứu từ thân tộc gắn liền với vãn hoá và tư duy của COI1 người Trong mỗi nền văn hoá, các sự

kiện, đời sống vật chất và các tư tưởng cũng tuân theo những chuẩn mực khác nhau Do đó chắc chắn sẽ có những điểm tương đồng và khác biệt trong việc tri nhận các quan hệ thân tộc cũng như trong sử dụng từ thăn tộc để biểu thị chúng

Thực vậy, việc nghiên cứu các từ chỉ quan hệ thân tộc đã có lịch sử hơn

m ột thế kỷ nay m à người khởi xướng là nhà nhân học người Mỹ Lewis Henry Morgan Ông cho rằng có những ngôn ngữ có từ ngữ riêng chỉ người họ hàng

theo trực hệ (trong đó người này sinh ra người kia kế tiếp nhau (ông bà, b ố mẹ, con, cháu, chắt ,) và người họ hàng theo bàng hệ (trong đó không ai sinh ra ai: anh, chị, em, chú, bác, cô, dì) và cũng có những ngôn ngữ không có từ ngữ dùng

để chỉ sự đối lập về các dòng thân tộc nêu trên (ví dụ Iihư ngôn ngữ của người Iroquois Mỹ) Tiếp sau Morgan là một loạt các nhà nhân học khác nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau của ngành khoa học này Các nhà nghiên cứu đă phân biệt các ngôn ngữ theo 6 nhóm và đặt tên các nhóm ngôn ngữ này theo các dấu hiệu về

tộc người và địa lý: Hawaiian, Eskimo, Sudanese, Iroquois, Crow và Om aha (xem phụ lục 2) Theo cách phân loại của Murdock, tiếng Anh có thể được xếp trong hệ

thống Eskimo, trong đó gia đình hạt nhân được đề cao, họ hàng nội ngoại được coi trọng như nhau, có các từ cụ thể dùng để chỉ người trong gia đình hạt nhân Những từ này không được dùng để chỉ những người họ hàng khác Trong khi đó các từ thân tộc tiếng Việt không Iihững được dùng để gọi tên người họ hàng mà chúng còn thể hiện những quan hệ giữa những người họ hàng với nhau, ví dụ

quan hê giữa những người thuộc hàng trên hay hàng dưới (anh / chị - em), trực hệ hay bàng hệ (bỏ - bác), nội hay ngoại (cô - dì) Hơn nữa, từ thân tộc tiếng Việt

đùng trong gia đình còn được đem áp dụng rộng rãi trong các mối quan hệ ngoài

xã hội Như vậy các cộng đồng người khấc nhau sử dụng các hệ thống từ thân tộc khác nhau để biểu thị những khái niệm và quan hệ thân tộc gia đình và có những

Trang 22

quy luật nhất định về việc dùng từ thân tộc cho từng mối quan hệ nhất định, ví dụ

như trong tiếng Việt có cặp những tương liên: ông / bà - cháu, b ố I mẹ - con, anh / chị - em Những luật lệ hay quy ước này có thể là những khế ước xã hội, cũng có

thể là sự vận dụng linh hoạt được hiểu như những quy định ngầm nhưng cần thiết

1.1.2.2 Từ thân tộc và kiểu quan hệ

“ Danh từ thân tộc là những từ biểu thị những khái niệm và quail hệ thân tộc gia đình” [15] Ngoài ra, những từ thân tộc không phải chỉ đơn thuần là Iihững danh hiệu tôn kính mà còn bao hàm những nghĩa vụ hoàn toàn rõ rệt và rất nghiêm túc của người ta đối với nhau Toàn bộ những nghĩa vụ đó hợp thành một

bộ phận chủ yếu trong tổ chức xã hội của người dân thuộc một chủng tộc Nhìn chung, các dân tộc trên thế giới có các nền văn hoá khác nhau có các hệ thống thân tộc khác nhau, do đó có các quy định riêng về các loại tên gọi dành cho các quan hê khác nhau trong tộc họ Sự khác nhau này được thể hiện qua các dấu hiệu ngôn ngữ Dựa vào đặc điểm này mà các nhà nhân học đã tìm ra 6 hệ thống thân

tộc (kinship naming systems) thuộc 6 nhóm ngôn ngữ nêu trên (xem phu lục 2)

Trong hệ thống Hawaiian các từ thân tộc chỉ người họ hàng được phân biệt với nhau dựa trên sự đối lập về thế hệ và giới tính, các từ thân tộc trong hệ thống Omaha và Crow có sự đối lập với nhau về tuyến thân tộc và giới tính, cấc từ thân tộc trong hệ thống Iroquois có sự đối lập với nhau về thế hệ, giới tính và tuyến thân tộc, trong hệ thống Sudanese mỗi thành viên trong gia đình được gọi bằng một từ khác nhau, trong hệ thống Eskimo thì có sự đối lập về thế hệ, dòng thân tộc và giới tính Tiếng Anh thuộc hệ thống Eskimo - hệ thống phổ biến ở Bắc Mỹ

và châu Âu Trong các xã hội có hệ thống Eskimo, gia đình hạt nhân được đề cao

và họ hàng bên nội và bên ngoại đểu được coi trọng như nhau, nhưng có sự phàn biệt về dòng thân tộc và phàn biệt giữa họ hàng gần và xa Các từ dùng trong gia đình hạt nhân sẽ không được sử dụng trong các quan hệ họ hàng khác, ngược lại

có các từ dùng chung cho người họ hàng xa (ví dụ cousin có nghĩa là anh, chị, em

họ nói chung) Các từ thân tộc chỉ các thành viên trong gia đình hạt nhân được phân b iệt dựa trên căn cứ về giới tính và thế hệ, không phân biệt tuổi tác hay bên nội, bên ngoại Chính vì thế những từ thân tộc chỉ người thuộc thế hệ trên BẢN

Trang 23

TH Â N một thế hệ (G -l) có: father, mother, uncle và aunt, trong khi đó từ aunt được dùng để chỉ cả chị và em gái của bố hoặc mẹ, từ uncle được dùng để chỉ anh

và em trai của cả bố và mẹ, chồng của cô hay của dì, không có sự phân biệt về nội ngoại, huyết thống hay không huyết thống, hàng trên hay hàng dưới Tương tự

như vậy, cùng thế hệ với BẢN THÂN có: brother- không được phân biệt là anh hay em trai của BẢN THÂN, và sister- không được phân biệt là chị hay em gái

của BẢN TIIÂN Khi đối chiếu với tiếng Việt chúng ta thấy trong hệ thống từ thân tộc tiếng Việt có sự đối lập với nhau về thế hệ, giới tính, tuyến thân tộc, dòng thân tộc và hàng Trong tiếng Việt để chỉ những người cùng thế hệ với bố

mẹ người ta dùng các từ khác nhau như: bác, cô, dì, mợ, thím Tương ứng với từ brother trong tiếng Anh - từ được dùng để chỉ bất kỳ người đàn ông nào do cùng

bố mẹ sinh ra - là từ anh nếu người đó được sinh ra trước, và là từ em (trai) nếu người đó được sinh ra sau Như vậy yếu tố làm cho anh khác em là sự đối lập vể

hàng (hàng trên và hàng dưới) Để miêu tả các từ thân tộc người ta xem xét các từ này trong hệ thống từ thân tộc biểu thị gia đình hạt nhân và hệ thống từ thân tộc biểu thị gia đình mở rộng hay gia đình đa thế hệ, và đặt chúng trong các loại quan

hệ khác nhau, ví dụ uncle (nghĩa tiếng Việt là bác, chủ, cậu) thuộc loại quan hệ

giữa father's brother (anh hay em trai của bố) và mother's brother (anh hay em trai của mẹ) Một gia đình đa thế hệ có thể được hiểu là một gia đình hạt nhân được

m ở rộng về các thế hê cùng sống chung trong một hộ gia đình và có quan hệ thân tộc với nhau Loại gia đình này bao gồm các thế hệ cụ, ông bà, bố mẹ, có khi gồm cả những người họ hàng như cô, bác và các cháu

Sự đa dạng về dạng thức cũng như sự phong phú về Iiét nghĩa của các từ thân tộc là sự thể hiện mối quan hệ phức tạp giữa những người ruột thịt Trong

tiếng Việt có sự phân biệt bên nội và bên ngoại nên có bác, chú, cô (bên nội) và

có dì, cậu (bên ngoại) Ngoài ra, yếu tố tuổi tác cũng rất quan trọng trong xã hội Việt Nam, những người cùng cha mẹ nhưng sinh ra trước thì được gọi là anh, chị, sinh ra sau được gọi là em.

Từ thân tộc theo quan hệ huyết thống trong tiếng Anh, tương ứng của

chúng trong tiếng Việt và các kiểu quan hệ được thể hiện trong bang 1 (xem phụ

Trang 24

lục ỉ) Kết quả thống kê cho thấy một từ thân tộc có thể biểu hiện một hay một số

mối quan hệ giữa BẢN THÂN và người họ hàng Khi khoảng cách giữa BẢN

TH ÂN và người họ hàng càng xa thì số lượng các mối quan hệ càng tăng và tâng theo cấp số nhân Sự tăng lên về số lượng các quan hệ là do các từ thân tộc thuộc thế hệ ông bà (G-2) được mang thêm nét nghĩa về tuyến thân tộc nội và ngoại (về phía bố hay phía mẹ), do đó mà mỗi từ được dùng để chỉ 2 mối quan hệ, ví dụ

grandfather chỉ 2 mối quan hộ: ông nội (FaFa) và ông ngoại (MoFa) (FaFa là

dạng viết tắt của father’s father và MoFa là dạng viết tắt của Mother's father) Chúng tôi sẽ áp dụng cách viết tắt này khi nêu ví dụ) Đến lượt mình các từ thân tộc ở thế hệ G-3 lại được mang thêm nét nghĩa về nội ngoại, do đó mà mỗi từ lại

chỉ 2 mối quan hệ Iiữa, và làm thành 4 mối quan hệ Ví dụ great grandfather chỉ

4 mối quan hệ: cụ ông đẻ ra ông nội (FaFaFa), cụ ông đẻ ra ông ngoại (MoFaFa),

cụ ông đẻ ra bà nội (FaMoFa), cụ ông đẻ ra bà ngoại (MoMoFa)

Các từ thân tộc dòng bàng hệ thì lại phức tạp hơn VÌ các mối quan hệ không những chỉ tăng lên gấp đôi theo tuyến thân tộc nội / ngoại mà còn gấp đôi lên theo thứ bậc trên / dưới của những người họ hàng sinh ra trước và sau BÁN

THÂN Do đó mà nephew chỉ 4 mối quan hệ: OBrSo, YBrSo, OSiSo, YSiSo; đến grandnephew đã có 8 mối quan hệ: OBrSoSo, YBrSoSo, OSiSoSo, YSiSoSo, OBrDaSo, YBrDaSo, OSiDaSo, YSiDaSo; và đến great grand nephew thì đã lên

tới 16 mối quan hệ: OBrSoSoSo, YBrSoSoSo, OSiSoSoSo, SiSoSoSo, OBrSoDaSo, YBrSoDaSo, OSiSoDaSo, YSiSoDaSo, OBrDaSoSo, BrDaSoSo, OSiDaSoSo, YSiDaSoSo, OBrDaDaSo, YBrDaDaSo, SiDaDaSo, YSiDaDaSo

Những phân tích ở trên đã làm rõ thêm ý nghĩa của đường tròn đổng tâm

về khoảng cách ruột thịt giữa các người họ hàng Những mối quan hệ họ hàng được liệt kê trong đường tròn nhỏ hơn sẽ có quan hệ gần gũi hơn với BÁN TI IÂN

so với những mối quan hệ họ hàng được liệt kê trong đường tròn lớn hơn

1.2 Khía cạnh ngôn ngữ học thuần tuý

1.2.1 Lý thuyết trường nghĩa

Khái niệm và những nhận biết ban đầu về ‘trường’ đã được Lyons [115] cũng như Đỏ Hữu Châu để cập đến trong các công trình của mình với những tóm

Trang 25

!i ■ ' H ư VlfcN

T í í UN G TÂM T( - i ÕNG

" DT / 4/1 if

íăt sơ lược lịch sử về những “hiểu biết nguyên % 0 -Gố-títth c h á t lý IhuỵếỊ về trường

được trình bày trong các công trình của J Trier và G Ipsen” [67, 322] “Mỗi tiểu

hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là những tập hợp từ đổng

nhất vói nhau về ngữ nghĩa” [11, 171) Đỗ Hữu Châu đẵ phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa và quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường Lấy cơ sở là hai

dạng quan hệ m à F de Saussure đưa ra trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương”, ông giới thiệu hai trường nghĩa dọc (tức là trường nghĩa trực tuyến gồm:

trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm), trường nghĩa ngang (tức ỉà trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa liên tưởng Trên cơ sở này nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc được xếp trong một trường nghĩa biểu vật vì đây là một tập hợp những danh từ phản ánh một phần thực tế khách quan vào ngôn Iigữ, căn cứ vào

sự đổng nhất và đối lập giữa ý nghĩa của các đơn vị từ vựng theo nét nghĩa chỉ quan hệ thân tộc Do vậy việc nghiên cứu ngữ nghĩa từ thân tộc cần được đặt trên

cơ sở về lý thuyết về trường nghĩa và những từ chỉ quan hê thân tộc trong tiếng Anh và tiếng Việt mà để tài chọn làm đối tượng nghiên cứu chỉ thuộc về một tiểu trường trong trường từ vựng ngữ nghĩa nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc

Khi nghiên cứu về đặc tính quan hệ của từ thân tộc so với các từ khác trong từ vựng, chúng ta thấy từ thân tộc có chức năng định danh chỉ các khái niệm và quan hệ thân tộc nhưng là định danh linh hoạt, không phải là định danh “cứng”và

có thể khác nhau về chức Iiãng mà mỗi từ đảm nhận trong giao tiếp Tính linh hoạt trong định danh của từ thân tộc thể hiện ở các nghĩa chuyển của từ Ngoài nghĩa cơ bản chỉ người họ hàng trong gia đình ra từ thân tộc còn được sử dụng để định danh những khái niệm quan hệ không phải thân tộc

1.2.2 Nghĩa của từ

Nghiên cứu ngữ nghĩa của từ thân tộc thực chất ỉà nhiệm vụ của ngành ngữ nghĩa học vì ngữ nghĩa học là ngành khoa học nghiên cứu về nghĩa [123, 2]; là bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu ngữ nghĩa từ vựng (tức là nghiên cứu các ý nghĩa của từ cụm từ được dùng để gọi tên, định danh các đối tương và hiện tượng riêng

lẻ của thực tế khách quan) [67, 183 - 184]; là ngành ngốn ngữ học bàn đến nghĩa của từ và câu [61, 1573]; là ngành khoa học nghiên cứu về nghĩa của từ và các bộ

Trang 26

phận khác của ngôn ngữ (The study of the meaning of words and other parts of language) [87, 1222) Chúng ta có thể xem xét nghĩa của từ như là một bản thể nào đó (ví dụ như đối tượng, khái niệm, sự phản ánh .) và như là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với đối tượng hay khái niệm Trên thực tế các nhà ngôn ngữ cho rằng từ có thể có các nghĩa khác nhau Như được nêu trong các công trình của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, từ có các loại nghĩa sau: nghĩa biếu vật (denotation), còn gọi là nghĩa sở chỉ, nghĩa biểu niệm (connotation), còn gọi là nghĩa biểu ý, nghĩa sở biểu và nghĩa biểu thái (emotional connotation) hay nghĩa biểu cảm, nghĩa sở dụng hay nghĩa ngữ dụng (pragmatical meaning), và nghĩa kết cấu (structural meaning) [101], [26], [67], Trong thực tế có nhiều trường hợp một từ có nhiều

hơn m ột nghĩa sở chỉ, ví dụ trong tiếng Anh từ uncle được sử dụng đê chỉ 8 người

họ hang, mà không có những từ riêng rẽ để chỉ các khái niệm như: anh của mẹ, anh của bố, em trai của mẹ và em trai của bố Để phân biệt những khái niệm này

người ta thường phải dùng cách giải thích hay dùng một tổ hợp từ để định danh,

ví dụ my father’s older brother (anh của bố) hay my m other’s younger sister (em

trai của mẹ) Từ bô' (trong tiếng Việt) trong các ngữ cảnh giao tiếp khác nhau, với

các đối tượng khác nhau, với những mục đích giao tiếp khấc nhau, có thể chỉ những người cụ thể hoàn toàn khác nhau Nghĩa của từ /?õ'khác nhau trong các ví

dụ sau:

(1) Bô chồng là lông con phượng

(2) Hữ, mấy "bô" cờ dỏ cũng rắc rối gớm! Mặc quẩn loe hay không thì

kệ người ta chứ (Tiê /1 phong, 1975) (3) Đua đòi với các bỏ'mây rồi chết mất xúc.

(4) Tỏi cáu sườn, bẹp b ố dôi thùng cùa nó ra, hò anh em chần cho một

m ẻ nên thân, rồi còn bị tóm lên đồn, nằm một đém cho rép đốt (Nam c a o , 254).

Trong (1) b ố chồng là người sinh ra chổng; trong (2) bỗ' cờ đỏ chính là người

thanh niên phụ trách an ninh của một trường hoc hay một tổ chức tập thể; trong

(3) cúc b ố mày là bạn bè (nam) hay những người cùng lứa, cùng lớp với con ;

Trang 27

trong (4) bô được dùng như một từ đệm, thêm vào lời nói trong cách nói thông

tục, để biểu hiện sự bực bội của người nói Nói đến nghĩa sở dụng hay nghĩa tigữ dụng của từ là nói đến ý nghĩa biểu thị mối quan hê của từ với người sử dụng (người nói, người nghe, người viết, người đọc) Nghĩa sở dụng bộc lộ thái độ chủ quan của người sử dụng đối với từ ngữ và qua đó tới cái sở biểu và sở chỉ của từ

ngữ, ví dụ như: bố, ông bô Nó không liên quan đến nghĩa của từ mà được qui

định bởi hoàn cảnh giao tiếp, ngữ điệu của người nói khi sử dụng ngôn ngữ Đại

bộ phận từ không có tính chất gợi cảm mà giá trị biểu cảm của từ chỉ có được khi

nó được đặt trong mối quan hệ của từ với một phong cách cụ thể, ví dụ trong

tiếng Anh b ố có lúc được diễn đạt bằng father, có lúc bằng dad, daddy Giá trị

biểu cảm của từ thân tộc tiếng Việt được thể hiện trong việc sử dụng từ, do đó mà cùng là một người đàn ông nhưng trong những ngữ cảnh giao tiếp khác nhau thì

có thể được gọi là: bố, bác, anh, chú, cậu, đồng chí, mày Lúc này nghĩa sở chỉ

thể hiện ra khi sử dụng từ trong lời nói Nó không có tính ổn định, bởi vì bản thân mối quan hệ của từ với cái sở chỉ có thể thay đổi tuỳ theo hoàn cảnh nói năng cụ thể Như vậy, một cái sở chỉ có thể thuộc vào những cái sở biểu khác nhau, bởi cùng một sự vật, theo đặc trưng của mình, có thể tham gia vào một lớp hạng khác nhau, đan chéo lẫn nhau Ngoài nghĩa từ vựng, từ còn có nghĩa kết cấu hay nghĩa ngữ pháp (ứng với chức nâng ngữ pháp) Đó là mối quan hệ giữa từ và những từ khác trong hệ thống (vị trí trong câu, chức năng của danh từ hay động từ ) Nói đến Iighĩa ngữ pháp là nói đến khả năng kết hợp về từ vựng và khả năng kết hợp

cú pháp của các từ đó Khả năng kết hợp về từ vựng là khả năng kết hợp các nghĩa Khá năng kết hợp cú pháp là khả nàng dùng từ trong cấu trúc nào đó Nghĩa kết cấu có thể là:

1) Do qui định về quan hệ , ví dụ: anh trai, chị gái

2) Do phạm trù từ loại qui định bằng kết hợp cú pháp Ví dụ:

(a) Chaucer is the father o f English poetry (Chaucer là ông tổ của thơ ca Anh) (b) It's not my scheme, try fathering it on s o m e b o d y else (Đây không phải là kế

hoạch của tòi Hãy tìm người khác đứng tên)

Trong (a) father là một danh từ (N), kết hợp với một danh từ khác English

Trang 28

bằng giới từ of Trong (b), father là một động từ, được kết hợp với các từ khác

trong mệnh đẻ theo cấu trúc: to father sb/stlì OIỈ sb (nghĩa: ià tác giả của cái gì).

3) Do quan hệ lô~gic giữa các sự vật, hiện tượng qui định bằng khả năng kết hợp từ vựng Các đơn vị ngôn ngữ khác nhau kết hợp vói nhau bằng Iihững con đường khác nhau: quan hệ từ ghép (chính phụ, đẳng lập, chủ vị), quan hệ cú pháp

của các hình vị tạo thành từ, ví dụ: từ phái sinh step-mother (mẹ kế/ mẹ gliẻ) (là sự kết hợp giữa một hình vị có nghĩa mother và một hình vị khác step-).

1.2.3 Phương pháp phản tích thành tỏ nghĩa

Việc nghiên cứu đặc trưng ngữ nghĩa của từ thân tộc được tiến hành thông

qua phương pháp phân tích thành tổ nghĩa Là một trong những học giả trong giai

đoạn đầu tiên của ngành nhân học tri nhận, Ward Goodenough đã nghiên cứu các

hệ thống văn hóa với đóng góp lớn lao trong việc hình thành nên phương pháp phân tích thành tố (componential analysis), v ề cơ bản mà nói, phân tích thành tố được vay mượn từ nhân học ngôn ngữ (linguistic anthropology) Nó bao gồm việc thành lập một ma trận để đối chiếu sự có mặt hay không có mặt của các thành tố nghĩa nhỏ nhất tạo nên cấu trúc ngữ nghĩa của từ Nhờ phương pháp này mà các

từ vị được phân tích ra thành một chuỗi các đặc trưng ngữ nghĩa, hay các thành tố nghĩa ” (semantic features or components) [83, 107] Đây chính là m ột quá trình chia tách nghĩa của từ thành ra các nét khu biệt tối thiểu (minimal distinctive features), tức là, chia thành những thành tố đối lập với những thành tố khác (components which contrast with other components) [114, 96], “Phương pháp phân tích thành tố nghĩa đặt cơ sở trên việc giả định rằng ý nghĩa của mỗi đơn vị ngôn ngữ gồm các thành tố nghĩa (nghĩa vị) và vốn từ của ngôn ngữ có thể được

mô tả nhờ một số lượng hữu hạn tương đối lớn các tiêu chí ngữ nghĩa Phương pháp phân tích thành tố có liên quan chặt chẽ với lý thuyết trường Trên cơ sở phương pháp phân tích thành tố, trường ngữ nghĩa được xác định như là một loạt các từ có liên quan với nhau và các nghĩa riêng biệt của chúng có chung một tiêu chí (dấu hiệu) ngữ nghĩa và phân biệt với nhau bởi một tiêu chí khu biệt” [67, 204] Đứng trên quan điểm này, nghĩa của các từ thân tộc trong tiêng Anh và tiếng Việt được phân tích ra các đơn vị nghĩa tối giản và được gọi là những thành

tố nghĩa hay nét nghĩa dựa trên những tiêu chí khu biệt nghĩa khác nhau như tiêu

Trang 29

chí về thê hệ, vể hàng v.v Đồng thời, việc phân tích nghĩa còn dựa trên các căn

cứ vể các đặc điểm vãn hoá xã hội của dân tộc nói thứ tiếng đó cũng như căn cứ vào mục đích nghiên cứu cụ thể Giữa các nét nghĩa của từ có quan hệ cấp loại với nhau chứ không đồng cấp với nhau Có quan hệ bao gồm và nằm trong giữa các nét nghĩa Theo quan hệ này thì các nét nghĩa cơ bản của từ thân tộc (huyết thống, tương tự huyết thống, thế hệ, giới tính, dòng thân tộc, tuyến thân tộc và hàng) không đồng cấp với nhau Ví dụ nét nghĩa huyết thống là nét nghĩa khái quát, bao gồm các nét nghĩa dưới cấp như cùng huyết thống, không cùng huyết thống Nét nghĩa cùng huyết thống lại bao gồm các nét nghĩa như tuyến huyết thống và dòng huyết thống v.v Hơn nữa, các nét nghĩa của mỗi từ thân tộc cũng được sấp xếp theo trật tự nhất định Qua thống kê chúng ta thấy nghĩa cơ bản của

từ father - là người đàn ông đ ã có con nói trong quan hệ với coil do ông ta trực tiếp sinh ra bao gồm các thành tố nghĩa: (1) giới tính, (2) về thế hệ, (3) dòng thân

tộc: trực hệ, và (4) huyết thống Thành tố nghĩa thứ 3 và 4 là nổi trội và có giá trị

khu biệt hơn cả, và vì thế mà nó có thể làm cho father (cha đẻ) khác với adoptive father (cha nuôi) Việc phân tích Iighĩa của từ thành ra các thành tố nghĩa có thể

được thấy trong sơ đổ của James (1980):

Thành t ố nghĩa nghĩa vị từ vị

I: lexeme {từ vị); s: sense (nglũa vị)

Như vậy, một từ có thể có một hay nhiều nghĩa, mỗi nghĩa của từ lại có thể được

phân tích ra thành các thành tố nghĩa nhỏ nhất Chảng hạn từ father trong tiếng

Anh có thể có 13 nghĩa danh từ, trong đó nghĩa cơ bản của từ này lại có thể được phân tích ra thành các thành tố nghĩa dựa trên các tiêu chí khu biệt nghĩa về:

• Huyết thống

• Giới tính (người đàn ông)

Trang 30

• Thế hệ (thuộc thế hệ trước của con)

• Dòng quan hệ ( trực hệ: trực tiếp sinh ra con)

Trong nghiên cứu về cấu trúc ngữ nghĩa của từ, Hoàng Phê [44] cho rằng: a- Nghĩa của từ là một tập hợp những nét nghĩa có quan hộ qui định lẫn nhau, thể hiện ở chỗ nét nghĩa đứng trước là tiền đề cho nét nghĩa đứng sau và nét nghĩa đứng sau thuyết minh cho nét nghĩa đứng trước Đây là quan hệ tĩnh trong nội bộ

nghĩa của từ, xét một cách cô lập Ví dụ: từ mẹ có thể được phân tích thành ba Iiét

nghĩa: 1: “ phụ I1Ữ”, 2: “đã có con”, 3: “nói trong mối quan hệ với con” Giữa các

nét nghĩa này có mối quan hệ về trật tự : 1, 2, 3

b- Giá trị của các nét nghĩa không như nhau vì chúng có quan hệ cấp bậc, biểu hiện khả năng khác nhau vào việc thực hiện chức nâng thông báo Nói cách khác, nghĩa của từ có quan hệ động trong tổ hợp xét về cả mật giá trị thông báo lẫn mặt chức năng và hoạt động của các nét nghĩa khi từ tham gia một ngữ

Ví dụ: Người me bao giờ cũng thương coil (1)

Chị ấy là một người me hiền (2)

Từ mẹ trong câu (1) có chức Iiãng định danh còn từ mẹ trong câu (2) có chức

năng thông báo

c- Các nét nghĩa có tính độc lập tương đối, biểu hiện khả năng độc lập, tổ hợp và tác động qua lại vói những nét nghĩa của từ khác khi tổ hợp với nhau

Thực sự, đã từ lâu các nhà Iighiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa để phân tích các đặc trưng ngữ nghĩa hay nét nghĩa của từ thân tộc Khi phân tích thành tố nghĩa của từ thân tộc ngôn ngữ Iroquois, Kroeber cho rằng nội dung nghĩa từ chỉ quan hệ thân tộc ở mọi ngôn ngữ có thể mô tả bằng sự liên hợp ít nhất là 8 nhóm nét nghĩa, mặc dầu ở mỗi ngôn ngữ có cái riêng và không hẳn phải sử dụng tất cả Đó là: 1) Nhóm nét nghĩa thế hệ 2) Nhóm nét nghĩa giới tính 3) Nhóm nét nghĩa thân tộc 4) Nhóm nét nghĩa của người mà lần theo quan

hệ đó có thể xác định thân tộc 5) Quan hệ máu mủ 6) Nhóm nét nghĩa tuyến nội

- ngoại 7) Già trẻ trong một thế hệ 8) Sống hay chết [58, 135] Phương pháp này được dùng để phân tích không những các nét nghĩa cơ bản của từ mà cả các nét nghĩa m ở rộng của từ trong mối quan hệ giữa ngành ngữ nghĩa học với ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội và ngốn ngữ học tâm lý

Trang 31

1.3 Nghiên cứu từ thân tộc trong mối quan hệ với các ngành khoa học khác 1.3.1, Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy

Như đã nêu ở trên, nhân học tri nhận có phạm vi nghiên cứu tập trung vào quan hệ giữa văn hoá và tư duy của con người Một nền văn hoá được hình thành bởi các quy luật lô gích dựa trên các ý tưởng, các qui tắc của các hành vi chứ không chỉ là bản thân các hành vi Mỗi nền văn hoá tiềm ẩn một hệ thống tổ chức riêng để nhận thức sự vật, sự kiện và hành vi Là một phương tiện, ngôn ngữ - về mặt hình thức - là một hệ thống ký hiệu ghi nhận các sự kiện và đặc điểm của một nền văn hoá thông qua các cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa, ví dụ việc sử dụng các từ thân tộc tiếng Việt trong xưng hô hay việc đùng động từ “to father” trong tiếng Anh để diễn đạt vai trò làm cha của một người nào đó Nhờ có ngôn ngữ người ta truyền được tri thức từ đời này đến đời sau Trong quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá thì ngôn ngữ là phương tiện thể hiện và ghi nhận đặc điểm của một nền văn hoá, đồng thời bản thân nó là một hiện tượng vãn hoá v ề môi trường sống, Việt Nam là một nước thuộc nền văn minh nông nghiệp Nền vãn minh này là kết quả và chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên nắng lắm mưa nhiều, phát triển nghề lúa nước nên phụ thuộc thời tiết, quan sát tự nhiên để cấy

trồng Do đó người Việt Nam sùng bái thiên nhiên, và gọi tròi đất là ông Trời, bà Đất Trong nhận thức về vũ trụ, trước đây người ta cho là trời tròn, đất vuồng nên

có mẹ tròn con vuông; có bình quân âm dương nên có tổ hợp song tiết mẹ cha; có

tổ chức đời sống cộng đồng tập thể nên có tổ chức gia đình theo huyết thống, tộc danh lấy theo họ bố; có tổ chức làng xã theo địa bàn cư trú nên không những người đứng đầu được trọng vọng mà cả vợ ông ta cũng được trọng vọng, ví dụ vợ của ông quan huyện được gọi là b à h u y ệ n ; có phong tục về hôn nhân nên có con dâu, con rể, me chồng; có tôn giáo, tín ngưỡng nên có Chơ đạo (Father), Đức mẹ (Mother)] có tư tưởng uống nước nhớ nguồn nên họ thờ cúng tổ tiên “Ngôn ngữ

mang đặc điểm văn hoá (culture) mà nghĩa của từ là sự phản ánh nhận thức của con người về hiện thực khách quan thể hiện ra bàng vỏ vật chất âm thanh ngôn ngữ, nêu cùng một thực tế khách quan ở những ngôn ngữ khác nhau sẽ được phản ánh m ột cách khác nhau bằng những từ và nhóm từ khác nhau” [53, 11]

Trang 32

Trong quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy thì ngôn ngữ là phương tiện biểu hiện tư duy Trong thực tế, các phạm trù ngôn ngữ mang tính tương đối, nhưng các phạm trù tư duy mang tính gần như tuyệt đối Nhờ có tính tuyệt đối của phạm trù tư duy mà người ta xác định được nội dung tương đương trong các ngôn ngữ khác nhau Ngược lại, nhờ tính tương đối của phạm trù ngôn ngữ mà người ta có thé diễn đạt một phán đoán bằng nhiều câu khác nhau và biểu thị một ý niệm bằng những từ ngữ khác nhau Thực vậy, trên thực tế không có một khái niệm nào, về mặt lô gích và triết học, thoát ra khỏi cái vỏ ngôn ngữ, ví dụ khái niệm chỉ

người sinh ra ta trong tiếng Việt là mẹ còn trong tiếng Anh là mother Một khái

niệm có thể được biểu đạt bằng những phương thức khác nhau, ví dụ người sinh

ra ta được gọi là mẹ, má, li , bầm Như vậy khái niệm là phạm trù của tư duy và

ngôn ngữ là công cụ của tư duy Tư duy của con người phản ánh thực tại thông qua vai trò cá nhân nhằm khám phá bản chất hay cách thức phản ánh thực tại khác nhau trong từng cá nhân, trong từng cộng đồng người, trong đó cá nhân chỉ

là cá tính còn cộng đồng thì là nguồn gốc của văn hoá

1.3.2 Ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học tâm lý

Trong hành chức, đa số các từ trong nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc mang sắc thái biểu cảm rất lớn và đặc sắc Chúng được dùng để định danh (hay gọi tên người, sự vật và hiện tượng), để xưng gọi, đặc biệt là trong tiếng Việt, và để thể hiện những hàm ý của người sử dụng ngôn ngữ trong lối nói so sánh ẩn dụ Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng một số từ thân tộc trong tiếng Anh và đa số các

từ thân tộc trong tiếng Việt, ở một chừng mực nào đó, đã thể hiện lực ngôn trung (illocutionary force) thông qua các hành vi nói năng của COI1 người Để có được lực ngôn trung người nói, người viết phải tiến hành một hành động tạo ngôn (locutionary act) nhằm lựa chọn được những từ có cấu trúc ngữ âm, ngữ nghĩa phù hợp đế thuyết phục người nghe, người đọc, chẳng hạn khi xưng hồ với người

có địa vị xã hội cao hơn và ở bậc trên, người Anh dùng những từ chỉ sự tôn trọng (Sir, M adam), chức danh (Mr., Ms.) cùng với tên họ, tên đầy đủ hay tên riêng Trong trường hợp này người Việt dùng những từ thân tộc chỉ người thuộc thế hệ

trên, tỏ thái độ kính trọng như: ông, bà, bổ, mẹ, chú, cô, bác, anh, chị Lực ngôn

trung được thể hiện trong việc dùng từ để thực hiện một mục đích giao tiếp nào

Trang 33

đó như ra lênh, khuyên bảo, đe doạ, thuyết phục Để tỏ thái độ cộng tác và đoàn

kết người Viột sử dụng cặp xưng hô chú - anh, nhưng để đe doạ người ta lại sử dụng cặp ông/ bà - mày Kết quả của các hành vi nói nàng trên có thể là sự đồng

tình hay có thé là sự rút lui của đối phương trong tranh luận (ngôn tác - perlocutionary act) Nó là sự tác động của người nói đến người nghe về mặt tình cảm, ý nghĩ, niềm tin và nhận được phản ứng của người nghe Như vậy, “khi con người nói năng đều muốn sử dụng ngôn ngữ để làm việc gì đó, hoàn thành một hành vi nhất định nào đó” [36]

Trong từng hoàn cảnh cụ thể, lời nói truyền đạt thông tin mang tính đặc thù, biểu thị đặc trưng xã hội của người nói Nó cũng phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp như: chủ thể giao tiếp (phát Iigôn là của ai), hoàn cảnh giao tiếp (phát ngôn nói trong hoàn cảnh nào về thời gian và không gian), và khách thê giao tiếp (phát ngôn nói với ai hay cho ai nghe) Lời nói mang tính xã hội là lời nói mang tính chuẩn mực hay phi chuẩn mực trong cộng đồng

xã hội về quy tắc nói năng và mô thức lời nói, ví dụ như việc sử dụng các hình thức xưng hô trong tiếng Anh hay việc sử dụng từ chỉ quan hệ thân tộc trong các cặp từ xưng hô chính xác trong quan hê gia đình và việc sử dụng các cặp xưng hô không chính xác ngoài xã hội ở Việt Nam Tuỳ từng hoàn cảnh giao tiếp mà người nói sử dụng mã “không đánh dấu” tức là dùng từ ngữ một cách linh hoạt, hay sử dụng mã “đánh dấu” khi người Iìói có ý muốn làm thay đổi quan hệ, quyền lợi và nghĩa vụ đã định trước và đang có như việc nâng cao hay hạ thấp địa

vị của người nói Ngoài ra người ta còn thăm dò, lựa chọn mã để hai bên nói và nghe đểu có thể tiếp nhận và đi đến thống nhất, phù hợp với trạng thái tâm lý của người sử dụng ngôn ngữ Từ đó họ có thể điều chỉnh ngôn ngữ hoặc phong cách

để thu nhỏ lại khoảng cách về ngôn ngữ và phong cách của những người giao tiếp (nguyên tắc “cận kề”) Điều này có thể thấy rõ trong việc chuyển quy tắc “gọi” người đối thoại từ mô thức của người Anh: chức danh + tên họ/ tên đấy đủ sang

mô thức của người Việt Nam: từ thân tộc + tên riêng Trong nguyên tắc “ xa rời” người nói làm cho ngôn ngữ hay phong cách của người nói khác đi so với ngôn ngữ hoặc phong cách của người đối thoại Việc áp dụng các nguyên tắc trên còn

Trang 34

luỳ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp và đặc trưng văn hoá xã hội của người giao tiếp.

Những yếu tố trong giao tiếp ngôn ngữ được chú ý rất nhiều trong thực tế

sử dụng từ chỉ quan hệ thân tộc, ví dụ như để xưng hổ trong tiếng Anh và tiếng Việt Trong tương tác hội thoại nói chung, các từ chỉ quan hệ thân tộc được sử dụng một cách rất linh hoạt và tinh tế tuỳ theo quan hệ cá nhân Theo quan điểm của Kerbrat - Orecchioni, những quan hệ cá nhân bao gồm quan hộ ngang, quan

hệ dọc và quan hệ vòng [18] Quan hệ ngang là quan hệ lấy cơ sở là mức độ thân

- sơ giữa những người tham gia vào quá trình giao tiếp Thông qua những dấu hiệu bàng lời họ diễn tả những thái độ, tình cảm mang sắc thái cá nhân rõ ràng

Ví dụ tuỳ mức độ thân sơ mà một người phụ nữ có thể được gọi là cô, chị, hay bà, một người đàn ông có thể được gọi là anh, chú, bác hay ông Trong xưng hô

người Việt thường sử dụng từ thân tộc CÒI1 người Anh thường dùng chức danh và tên đầy đủ hay tên thường gọi Người Anh dùng từ thâu tộc để gọi những người thuộc thế hệ trên trong gia đình Quan hệ dọc có liên quan đến vị thế của người giao tiếp “Đây là quan hệ tôn ti xã hội, tạo thành các vị thế trên dưới xếp thành tầng bộc trên một trục dọc Vì vậy quan hệ này được tượng trưng bằng yếu tố quyền lực” [18, 124] Vì quan hệ vị thế có tính chất tương đối nên trong các hoàn cảnh giao tiếp xă hội khác nhau, về những phương diện khác nhau, người tham

gia hội thoại có thế ở những vị thế khác nhau, ví dụ như một người có thể được

gọi bằng những từ xưng gọi khác nhau Như vậy, “chỉ sau khi xuất hiện những yếu tố khách quan và yếu tố nội tại mới hình thành vị thế” [18, 125] Quan hệ vòng là loại quan hệ thường được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp gia đình và xã hội ở Việt Nam “nhằm diễn tả tính bất bình đẳng (inequality), tôn trọng (dưới đối với trên), thân mật (trên đối với dưới), và tình bằng hữu (solidarity)” [50],

Ngôn ngữ có mối quan hệ rất chặt chẽ với ý thức và tư duy Mối quan hệ Iiày đặc biệt được ngành Ngôn ngữ học tâm lý quan tâm, Ngoài những chức năng của ngôn ngữ thường được nói đến như ngôn ngữ là hình thức tồn tại của tư duy,

là phương tiện biểu đạt tư duy, là điều kiện để con người thực hiện tư duy, ngôn ngữ còn có chức năng làm công cụ của hoạt động trí tuệ của COI1người: Ngôn ngữ

Trang 35

chính là cái phương tiện chủ yếu tàng trữ tri thức và nhờ ngôn ngữ mà con người

có thể truyền thụ tri thức từ đời này qua đời khác, từ nơi này sang nơi khác, đến tận từng cá thể [54, 17] Ngoài ra, ngôn ngữ học tâm lý đã quan tâm đến sự sản sinh lời nói trong các giai đoạn và việc tiếp thu lời nói Theo Kasêvich, quá trình sản sinh lời nói bao gồm đầu tiên là giai đoạn lý do hoá, trong đó lời Iiói bắt đầu

từ việc xuất hiện lý do từ nhu cầu phải truyền đạt cho người khác một thông tin, mệnh lệnh nào đấy Sau đó là giai đoạn hình thành nghĩa Giai đoạn thứ ba giai đoạn “cú pháp sâu” Đây là bước chuyển từ cấp độ Iigữ nghĩa sang cấp độ cú pháp sâu, tức là việc “ lời nói hoá” bước đầu các cấu trúc nghĩa thuần tuý Những cấp

độ tiếp theo Iihư cấp độ cú pháp bề mặt, cấp độ hình thái học bề sâu, cấp độ hình thái học bề mặt giúp cho việc hình thành câu với tất cả những từ hình, trật tự từ

cđn thiết Cuối cùng là cấp độ âm vị học và cấp độ ngữ âm học sẽ bảo đảm làm

đầy phát ngôn về mặt âm thanh [33],

Như vộy, dưới góc độ ngôn ngữ học tâm lý việc sản sinh phát ngôn là sự hình thành và chính xác hoá từng bước một tư tưởng bàng những phương tiện của ngôn Iigữ Lý thuyết này được thể hiện rất rõ trong quá trình lựa chọn từ ngữ và

sử dụng chúng trong các mô thức xưng hô có sử dụng từ thân tộc Trong tiếng Anh, để xưng hô lịch sự, trang trọng, người nói lựa chọn mô thức xưng hô gồm từ thân tộc đi kèm với tên đầy đủ, để tỏ thái độ thân mật người ta sử dụng từ thân tộc

đi kèm với tên riêng và trong lời nói thông tục người ta chỉ dùng tên riêng, ví dụ trong tác phẩm “The Thorn Birds" (Tiếng chim hót trong bụi mận gai) Iihân vật

Cha cố đạo được gọi là Ralph de Bricasart Ảhi lời nói mang tính trang trọng, là Father Ralph để tỏ thái độ thân mật và là Ralph khi lời Iiói mang sắc thái thông

tục (M cCullough, 82)

Trong hành chức, các từ thân tộc còn được sử dụng trong các lời nói hàm ngôn như ca dao, tục ngữ, thành ngữ trên cơ sở hiểu biết và áp dụng các lập luận

lô gích và lập luận đời thường Theo lập luận lô gích về “mô hình chuyển đổi đặc

tính” (property transfer model), có tục ngữ Like father, like son (cha nào con ấy hay nòi nào giống nấy) Chúng ta còn thấy tính lô gích hay lý lẽ chung trong lập luận sau: Con hư tại mẹ, cháu hư tại bù Ý nghĩa của câu này có thể được hiểu là:

đứa trẻ hư là do người lớn nuông chiều quá Chúng ta hãy xem xét một lý lẽ về

Trang 36

thuyết nhân quả: “Đời' cha ăn mặn, đời con khát nước Người ta có thể bình luận

câu tục ngữ này như sau: Một gia đình trước kia giàu có, quyền cao chức trọng nhưng ăn ở với mọi người không ra gì, hống hách, kiêu bạc sau đó đời COI1 cháu

bị sa sút, trở nên nghèo hèn” [18, 207],

1.3.3 Loại hình ngôn ngữ và hình thái học

Sapir cho rằng tiếng Anh thuộc loại hình ngôn ngữ có quan hệ pha trộn, phức hợp, có các khái niệm: cụ thể - diễn đạt bằng căn tố; phái sinh - diễn đạt bằng phụ tố cấu tạo từ; nửa cụ thể, nửa mối quan hệ kiểu như khái niêm về số của danh từ, thời gian của động từ; khái niệm về quan hệ - tức là khái niệm về mối ràng buộc giữa các từ với nhau trong một mệnh đề (dẫn theo Xtankêvich [63]) Như vậy tiếng Anh là ngôn ngữ hoà kết, phân tích tính, có quan hệ cú pháp được diễn đạt bằng dạng pha trộn nhưng có khả năng biến đổi ý nghĩa của căn tố bàng cách thêm phụ tố hay biến đổi bên trong Trong khi đó tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lủp, phân tích tính (nói về mặt phương thức biểu đạt quan hộ, nhưng phương thức này liên quan đến từ chứ không liên quan đến các yếu tố nằm trong cấu trúc từ) và thuộc loại hình ngôn ngữ có khái niệm cụ thể, diễn đạt bằng từ đơn, và khái niệm quan hệ - tức là khái niệm về mối ràng buộc từ này với từ khác trong mệnh

đề Như vậy tiếng Việt thuộc loại hình Iigôn ngữ có quan hệ cú pháp được diễn đạt tự nhiên, dạng thức của từ không biến đổi, không thêm phụ tố, mà các từ độc lập dể dàng kết hợp với nhau theo lối ghép

Bàn đến hình thái học là bàn đến việc phân loại từ, cấu tạo từ, dạng thức của từ và những phạm trù ngữ pháp tương ứng Kasêvich đã nêu những tiêu chí để xác định ranh giói từ căn cứ vào “tiêu chuẩn thuần tuý ngữ pháp” như “tính toàn vẹn dạng thức của từ”, “khả năng dùng tổ hợp hình vị này với tư cách một câu” và

“khả năng chêm xen” vào từ Ông đã đi đến kết luận rằng từ có độ độc lập nhất định, từ có tính toàn vẹn bên trong và có các quan hệ cú pháp độc lập [33] Hình thái học là bộ môn nghiên cứu cấu trúc đa dạng của từ trên quan điểm ý nghĩa của từ lệ thuộc vào các hình vị cấu tạo nên I1Ó Trên bình diện ngữ pháp, hình thái học là học thuyết ngữ pháp về từ [67], Tìm hiểu và đối chiếu phương thức cấu tạo

từ thân tộc trong tiếng Anh và tiếng Việt thực chất là tìm hiếu và đối chiếu các phương thức biểu hiện hay cách cấu tạo dạng thức cua từ Ví dụ từ được cấu tạo

Trang 37

bằng phương thức phụ gia: co-parent (cùng là cha hay mẹ), phương thức ghép: mother-in-law (mẹ chồng hay mẹ vợ) hay chuyển loại: đanh từ -*■ động từ: to father a child (là cha của m ột đứa trẻj,

1.4 Sơ lược một sô công trình nghiên cứu trước đây về từ thân tộc

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về vấn đề có liên quan đến đề tài về cả lý luận và thực tiễn Những vấn đề lý luận về ngữ nghĩa học như các ý nghĩa của từ đã được các nhà ngôn ngữ học, các nhà ngữ nghĩa học quan tâm như Lyons, Leech, Palmer, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiên Giáp Phương pháp phân tích thành tố nghĩa đã được các nhà nhân học và ngôn ngữ học sử dụng từ hơn một thế kỷ nay như một phương pháp chủ yếu để phân tích (đậc biệt là đối với nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc) các thành tố nghĩa nhỏ nhất hay đạc trưng ngữ nghĩa của từ Những lý luận về trường nghĩa đã được coi là cơ sở trong việc áp dụng phương pháp phân tích nghĩa của từ nói chung và

từ chỉ quan hệ thân tộc nói riêng Lý thuyết về trường nghĩa được bàn đến trong các công trình của các tác giả Crystal, Lyons, Đỗ Hữu Châu , các cơ sở lý thuyết về loại hình học về hình thái học ngôn ngữ đại cương và tiếng Việt trong các công trình của Crystal, Kasêvich, Xtankêvich , Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Văn Hành , các yếu tố về văn hoá trong phân tích nghĩa của từ

và đặc biệt trong các hoạt động giao tiếp của từ, kiến thức về vãn hoá và ngôn ngữ học văn hoá trong các công trình của Lado, Trần Ngọc Thêm, Trần Quốc Vượng Các công trình được coi là kim chỉ nam và không thể thiếu được trong nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ là các lý luận đối chiếu ngôn ngữ và các nguyên tắc đối chiếu ngôn ngữ của James, Lado, Lê Quang Thiêm, Nguyễn Văn Chiến,

lý luận về ngữ dụng học trong các công trình của Yule, Nguyễn Đức Dân , về ngôn ngữ học xã hội của Richard, Hudson, Trudgill, Fishman, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Khang , về ngôn ngữ học tâm lý từ những công trình vĩ đại của Graham, Sol Saporta, và các bài giảng chuyên đề của các nhà ngôn ngữ học Viột Nam: Lý Toàn Thắng, Đổ Hữu Châu, Nguyễn Đức Tồn, Vũ T hế Thạch, Hà Quang Năng, Lê Đông v.v

Đề tài nghiên cứu được tiến hành với những tham khảo có phán tích các công trình nghiên cứu về nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc của các tác giả trong và

Trang 38

ngoài nước Trong công trình đối chiếu giữa tiếng Bun-gá-ri với tiếng Việt, Lê Quang Thiêm đã nêu rõ những tương đồng và khác biệt giữa hệ thống từ thân tộc trong tiếng Bun-ga-ri và tiếng Việt ở các bình diện từ và ở bình diện nghĩa Trên

cơ sở các đối lập trong nhóm từ vựng - nghĩa, ông đã nghiên cứu các nhóm nét nghĩa: 1- Giới; 2- T hế hệ; 3- Già trẻ; 4- Quan hộ; 5- Đặc điểm quan hệ; 6- Tuyến quan hệ; 7- Nguồn gốc; 8- Trách nhiệm Ngoài ra, ông cho rằng sự giống nhau và khác nhau của hai nhóm từ vựng - nghĩa còn bộc lộ qua bình diện của tuyến dẫn xuất, phái sinh nghĩa Ông nhận định:

mỗi nét nghĩa phản ánh trong nhận thức của người mang ngôn ngữ những nét, những dấu hiệu của các biểu vật (denotat) và cái biểu niệm (significat) Chúng được thực hiện qua một hình thức ngôn ngữ nhất định của từ (biến hình hay kết hợp) Nó được người nói sáng tạo sử dụng Tất cả các nghĩa của từ, nội dung từ đa nghĩa đều cấu thành từ các nét nghĩa Một nghĩa cụ thể của từ là một sự tuyển chọn, sắp xếp các nét nghĩa theo một tôn ty nhất định Nó cho thông tin về cái biểu vật và biểu niệm, thực hiện qua những phương tiện Iigôn ngữ nhất định Người nói cũng nhân thức nó thông qua các phương tiện ngôn ngữ đó” [58, 126]

Ngoài những nghiên cứu về lối xưng hô của người Việt Nam và việc dùng từ thân tộc trong xưng hô gia đình và xã hội thông qua các tương ứng chính xác (18 trường hợp trong tiếng Việt) và không chính xác (45 trường hợp trong tiếng Việt), Nguyễn Vãn Chiến đã phân tích đối chiếu danh từ thân tộc tiếng Việt với tiếng Khơme, Lào, Nga, Tiệp và Anh dựa trên các thế đối lập thông qua 8 phạm trù thân tộc cơ bản: máu m ủ/ không máu mủ, thế hệ, giới tính, trình tự nối tiếp giữa các thành viên gia đình, bậc trên/ dưới, đằng cha/ đằng mẹ, bên vợ/ bên chồng [15] Đề tài đã k ế thừa những kết quả nghiên cứu của Lý Toàn Thắng về “ Hệ thống từ xưng gọi trong tiếng Việt hiện đại” với trọng tâm về xưng hô gia đình và ngoài xã hội trên nguyên lý về lứa tuổi [55] Công trình về đối chiếu từ thân tộc giữa tiếng Nga với tiếng Việt của Nguyễn Thị Phương đã đề cập đến các đặc trưng ngữ nghĩa và hình thái của các từ chi quan hệ họ hàng và hôn nhân trong tiếng Nga và tiếng Việt, Tác giả dùng lý thuyết trường nghĩa để miêu tả đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ và đối chiếu hai hệ thống Nga - Việt Công trình cũng đã

Trang 39

phân tích đặc trưng về cấu tạo từ và hoạt động giao tiếp của nhóm từ trong hai ngôn ngữ Ngoài ra, các công trình của các tác giả Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Thị Hương và Trần Thuý Anh đã bàn đến một số nét nghĩa cơ bản của từ thăn tộc

trong lời nói hàm ngôn, chủ yếu thấy trong các ca dao, tục ngữ Việt nam [37],

[32], [2] Trong các công trình về đối chiếu hình thức xưng hô Anh / Mỹ - Việt, Lương Văn Hy và Nguyễn Vãn Quang đã, trong một chừng mực nào đó, bàn đến các thuật ngữ cũng như các hình thức xưng hô của người Anh, Mỹ và người Việt Nam [105], [50],

1.5 Tiểu kết

Việc nghiên cứu các đặc trưng ngữ nghĩa của các từ thân tộc trong tiếng Anh và tiếng Việt được tiến hành trên cơ sở phương pháp phân tích thành tố nghĩa, đặt trên quan điểm nghiên cứu của liên ngành các khoa học: loại hình học, hình thái học, ngôn ngữ học xã hội, ngữ dụng học, ngôn ngữ học tâm lý, ngôn ngữ nhân học, văn hoá học, lấy xuất phát điểm là ngành ngữ nghĩa học Mối liên

hệ mang tính biện chứng chứng tỏ tính cần thiết phải xem xét bình diện nghĩa của

từ trong các tương quan về nguồn gốc gia đình trong các nền vãn hoá khác nhau, cách nhìn nhận về chuẩn tắc trong từng xã hội và các đặc điểm tâm lý của từng cộng đồng người, qua đó mà con người có thể giao tiếp thành công và có hiệu quả Có thể nói rằng hệ thống từ thân tộc trong cả tiếng Anh và tiếng Việt, tuy là một hệ thống đóng, nhưng luồn luôn có thay đổi về cả chất và lượng (xu hướng nhiều nghĩa mở rộng) Nhóm từ này có khả năng hoạt động trên phạm vi giao tiếp chủ yếu trong đời thường và mang tính chất động (dùng trong giao tiếp xã hội- giao tiếp đời thường)

Đề tài luôn lấy những cơ sở lý luận trên làm tiền đề cho việc miêu tả, phân tích và đối chiếu các đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ thân tộc trong hai ngôn ngữ Cụ thể, nghĩa của từ được nghiên cứu trong quan hệ hệ thống và quan hệ tổ hợp với những Iighĩa khác trong ngữ, trong câu và trong lời nói Nội dung ngữ nghĩa của câu và lời được nghiên cứu trong quan hệ với nhận thức và với những yếu tố của chu cảnh ngôn ngữ (ngữ cảnh) và chu cảnh tình huống (ngôn cánh) [45] Như vậy trong những chương sau của đề tài sẽ bao gồm việc nghiên cứu mối liên hệ giữa từ với người trong họ hàng và giữa từ với khái niệm về người trong họ

Trang 40

hàng, tức là với những đặc trưng bản chất nhất của người trong họ hàng, tập hợp một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một trật tự nhất định và

có tổ chức Ngoài ra đề tài còn đề cập đến cả việc sử dụng từ, tức là phân tích nghĩa của từ trong một trích đoạn vãn bản có chứa từ đó

Thực tế từ trước đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu vể từ chỉ quan hệ thân tộc nhưng chủ yếu ở những lĩnh vực các đặc trưng cấu tạo, các đặc trưng Iigữ nghĩa cơ bản và các hình thức xưng hô có sử dụng từ thân tộc Tri nhận của người bản ngữ, yếu tố vãn hoá và cách tổ chức xã hội đã thực sự là những nhân tố làm cho cách sử dụng từ thân tộc khác nhau trong các xã hội khác nhau Giá trị khoa học, tư tưởng trong cấc công trình của các nhà nghiên cứu tiền bối trên thế giới và ở Việt Nam đẫ là chỗ dựa vững chắc cho ý tưởng tìm tòi nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện những tương đồng và khác biệt về đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ trong tiếng Anh và tiếng Việt, một vấn đề còn mới

mẻ đặc biệt cần thiết cho đối chiếu ngôn ngữ Anh - Việt và ứng dụng của nó trong công tác giảng dạy ngoại ngữ và phiên dịch ở Việt Nam

Ngày đăng: 28/03/2017, 09:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  1.  Đường tròn  đồng tâm  về quan  hệ  thán  tộc  người Anh - Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt
nh 1. Đường tròn đồng tâm về quan hệ thán tộc người Anh (Trang 15)
Sơ đồ  1.  Sơ đồ quan hệ gia đình  người Anh - Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt
1. Sơ đồ quan hệ gia đình người Anh (Trang 16)
Hình 2.  Hình  hộp quan hệ gia đình - Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt
Hình 2. Hình hộp quan hệ gia đình (Trang 54)
Hình  3.  H ình  vẽ ô  trông  ngữ  nghĩa  của  từ thân  tộc  tiếng Anh  và  tiếng  Việt:  cTiếng Anh: Mật phẳng P; Tiếng Việt: Mật phang P') - Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt
nh 3. H ình vẽ ô trông ngữ nghĩa của từ thân tộc tiếng Anh và tiếng Việt: cTiếng Anh: Mật phẳng P; Tiếng Việt: Mật phang P') (Trang 136)
Bảng 1.  Từ thân tộc tiếng Anh đôi chiếu vói tiêng Việt và kiểu quan hệ - Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt
Bảng 1. Từ thân tộc tiếng Anh đôi chiếu vói tiêng Việt và kiểu quan hệ (Trang 153)
Bảng 3.  Từ thân tộc trong tiếng Việt - theo quan hệ huyết thống - Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt
Bảng 3. Từ thân tộc trong tiếng Việt - theo quan hệ huyết thống (Trang 155)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w