Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3.1 Mục đích Mục đích của khóa luận là trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, đisâu vào phân tích mối quan hệ thực tế giữa pháp luật v
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy, cô
Khoa Luật, trường Đại Học Vinh đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để em hoànthành tốt khóa học, cảm ơn thầy cô đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt
4 năm học tập
Với vốn kiến thức tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảngcho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em bướcvào đời một cách vững chắc và tự tin
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc sở Văn hóa truyền thôngthông tin các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai và các phòng ban đã tạo điềukiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá trình thu thập tài liệu
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo, ThsNguyễn Văn Đại, đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong suốt quá trình viếtkhóa luận tốt nghiệp.Với thời gian nghiên cứu còn ngắn, trình độ và nhậnthức còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm chưa nhiều sẽ còn nhiều thiếu sót Kínhmong nhận được sự nhận xét góp ý, phê bình, của quý thầy cô, để em có điềukiện học hỏi, tiếp thu kiến thức, tìm hiểu, nghiên cứu, hoàn thiện khóa luậnhơn nữa
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành côngtrong sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc các Cô, Chú, Anh, Chị trong sở vănhóa thông tin các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai luôn dồi dào sức khỏe, đạtđược nhiều thành công tốt đẹp trong công việc
Trân trọng cảm ơn!
Sinh viên : Đỗ Thị Huế
Trang 2
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
3.1 Mục đích 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 Đóng góp khoa học của đề tài 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Kết cấu của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ LUẬT TỤC TÂY BẮC 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của pháp luật và luật tục 6
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của Pháp luật 6
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của Luật tục Tây Bắc 8
1.2 Những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật và Luật tục Tây Bắc 19
1.2.1 Điểm tương đồng giữa pháp luật và luật tục 19
1.2.2 Sự khác biệt giữa pháp luật và luật tục 20
1.3 Sự tác động qua lại giữa pháp luật và luật tục 21
1.4 Vận dụng kinh nghiệm trong việc tiếp thu, kế thừa và phát huy các giá trị của luật tục trong điều kiện hiện nay ở nước ta 26
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ LUẬT TỤC TRÊN ĐỊA BÀN TÂY BẮC 29
2.1 Thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục trong hoạt động thực hiện pháp luật của các tỉnh Tây Bắc 30
2.1.1 Những ưu điểm 30
2.1.2 Những hạn chế 32
2.2 Thực trạng mối quan hệ pháp luật và luật tục trong hoạt động áp dụng luật tục 34
2.2.1 Những ưu điểm 34
2.2.2 Những hạn chế 36
2.3.1 Ưu điểm của mối quan hệ 39
2.3.2 Những hạn chế của mối quan hệ 41
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ VIỆC KẾT HỢP PHÁP LUẬT VÀ LUẬT TỤC HIỆN NAY TRÊN ĐỊA BÀN TÂY BẮC 44
3.1 Giải quyết tốt mối quan hệ pháp luật và luật tục là yêu cầu cần thiết hiện nay 44
3.1.2 Yêu cầu của công cuộc hội nhập kinh tế, quốc tế 48
3.2 Những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả việc kết hợp pháp luật và luật tục ở Tây Bắc hiện nay 51
3.2.1 Giải pháp mang tính tổng thể 51
3.2.2 Một số giải pháp cụ thể 52
KẾT LUẬN 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 4MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, hệ thống pháp luật của nước ta không ngừngđược tăng cường và hoàn thiện, thực hiện ngày càng tốt hơn vai trò điều chỉnhcác quan hệ xã hội Bên cạnh hệ thống pháp luật đang tồn tại, ở các buôn, bản,làng dân tộc ít người, luật tục vẫn tồn tại và là công cụ phổ biến để điều chỉnhcác quan hệ trong cộng đồng Thực tế cho thấy, đồng bào các dân tộc thiểu sốvẫn sống và điều chỉnh hành vi bằng luật tục của dân tộc mình và ít quan tâmđến pháp luật của Nhà nước Do vậy đã có không ít những phong tục, tậpquán lạc hậu cản trở sự phát triển lành mạnh về mọi mặt của đồng bào các dântộc thiểu số Mặt khác có những phong tục, tập quán tiến bộ là kết tinh từ lâuđời của đồng bào các dân tộc thiểu số lại chưa được pháp luật của Nhà nước
ta ghi nhận Vì vậy pháp luật đi vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu
số còn chưa hiệu quả, phần nào tạo nên sự cách biệt không đáng có giữa phápluật và luật tục của đồng bào các dân tộc thiểu số
Trong đó có khu vực Tây Bắc là địa bàn rộng lớn, là nơi sinh sống lâu đờicủa nhiều dân tộc thiểu số Sự phát triển của từng dân tộc ở khu vực Tây Bắcluôn gắn chặt với sự phát triển chung của đất nước, tạo nên sức mạnh của toàndân tộc trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đang được đẩy mạnh, đòi hỏi vùng dân tộc vàmiền núi phát triển nhanh về kinh tế, văn hoá, xã hội, vững mạnh về an ninh,quốc phòng Đây là một trong những nhân tố quyết định cho sự phát triểnbền vững của nước ta
Các tỉnh khu vực Tây Bắc có trên 20 dân tộc anh em chung sống Trong đódân tộc Tày, dân tộc Thái, dân tộc Mường, dân tộc Mông, dân tộc Nùng lànhững dân tộc có dân số đông hơn các dân tộc thiểu số khác Một số dân tộcrất ít người như dân tộc PuPéo, SiLa, La Hủ,
Các dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Bắc đều có những phong tục, tập quánriêng của dân tộc mình Đa số các phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu
số ở miền núi phía Bắc là những thuần phong, mỹ tục, thể hiện những nét văn
Trang 5hoá đẹp, có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên bên cạnh
đó còn tồn tại những phong tục, tập quán lạc hậu, đặc biệt, một số hủ tục đãkìm hãm trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc ở khu vực TâyBắc không đều nhau Một số dân tộc thiểu số như Thái, Tày, Nùng,… có trình
độ phát triển kinh tế - xã hội khá cao, trong khi nhiều dân tộc thiểu số kháctrình độ phát triển còn thấp.Thực tiễn cho thấy nhìn chung do nhiều dân tộcvẫn tồn tại những phong tục, tập quán lạc hậu, hủ tục đã làm cho đời sốngkinh tế - xã hội của cộng đồng các dân tộc thiểu số còn thấp, lạc hậu, khoảngcách về sự phát triển, khoảng cách về giàu nghèo đang có xu hướng gia tăng Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII của Đảng về:“ Xây dựng và phát triểnnền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” chính là đường lốichỉ đạo của Đảng ta nhằm bảo tồn và phát huy những thuần phong, mỹ tục,những phong tục, tập quán tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, dần dầnxóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu, những hủ tục có ảnh hưởng lớn tớiđời sống kinh tế - xã hội, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội
Đồng thời, Văn kiện Đại hội XI Đảng ta đã yêu cầu các cấp, các ngành cần:
“Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trongphát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vùng dân tộc thiểu số’ Có thể thấy quanđiểm, chủ trương của Đảng về công tác dân tộc ngày càng sáng tỏ toàn diệnhơn, đầy đủ hơn
Trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vìdân của Nhà nước ta hiện nay, pháp luật được xác định là công cụ quan trọngnhất để Nhà nước quản lý xã hội Nhà nước ta đã sử dụng nhiều phương pháp
để đưa pháp luật vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số; bên cạnh
đó, vai trò của luật tục cũng được nâng lên Pháp luật nước ta đã quy định cáctiền đề cho việc áp dụng và phát huy những mặt tích cực của tập quán, phongtục truyền thống mà trong đó có luật tục Tuy nhiên, về mặt lý luận, mối quan
hệ giữa pháp luật với luật tục vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để Việctồn tại song song trong thực tế hai hệ thống pháp luật Nhà nước và luật tụccủa đồng bào dân tộc thiểu số đặt ra vấn đề là: xác định vị trí của các hệ thống
Trang 6này, đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa chúng trong việc điều chỉnh các quan
hệ xã hội Từ đó cho thấy cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện và sâusắc mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục nhằm chỉ rõ những điểm tươngđồng, điểm khác biệt đồng thời nêu những mặt tích cực cũng như những hạnchế của từng yếu tố trong quản lý xã hội, chỉ rõ sự tác động qua lại, hỗ trợ, bổsung cho nhau giữa chúng; đánh giá một cách khách quan, toàn diện thựctrạng mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục trong điều kiện xây dựng nhànước pháp quyền ở nước ta hiện nay Từ đó có cơ sở đưa ra một số giải phápnâng cao chất lượng, hiệu quả việc kết hợp mối quan hệ giữa pháp luật vớiluật tục sao cho cả pháp luật và luật tục được sử dụng một cách có hiệu quảnhất trong việc quản lý cộng đồng người dân tộc thiểu số trong thời gian tới
Là một người con của quê hương Tây Bắc,với những lý do trên,em mạnh
dạn lựa chọn đề tài: "Mối quan hệ giữa Pháp luật và luật tục những vấn đề
lý luận và thực tiễn trên địa bàn khu vực Tây Bắc nước ta hiện nay" để
nghiên cứu và viết khóa luận tốt nghiệp Hi vọng sẽ góp một cái nhìn kháchquan về vấn đề này
- Nguyễn Việt Hương: "Giá trị của luật tục từ góc nhìn pháp lý”, Tạp chíNhà nước và pháp luật, số 4 năm 2000
Ngoài ra còn một số bài đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành khác Mỗicông trình có cách tiếp cận vấn đề pháp luật và luật tục riêng, phần nào làm rõmối quan hệ pháp luật và luật tục trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xãhội phát sinh ở đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta
Trang 7Do vậy, có thể thấy việc nghiên cứu làm rõ mối quan hệ pháp luật và luật tục
về cả mặt lý luận và thực tiễn là yêu cầu cần thiết trong quá trình xây dựngNhà nước pháp quyền hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích
Mục đích của khóa luận là trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, đisâu vào phân tích mối quan hệ thực tế giữa pháp luật và luật tục hiện nay ởđồng bào khu vực Tây Bắc, từ đó đưa ra một số giải pháp vận dụng tốt mốiquan hệ này trong quá trình quản lý xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu sốtrên địa bàn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Với mục đích nghiên cứu trên, khóa luận đặt ra nhiệm vụ cụ thể là:
- Xác định được vị trí, vai trò của pháp luật và luật tục đối với đồng bào dântộc thiểu số Tây Bắc hiện nay
- Phân tích những nét tương đồng và khác biệt giữa pháp luật và luật tục ,mốiquan hệ giữa chúng đối với đồng bào dân tộc
- Nêu được thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục trong thực tế đờisống của đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc nước ta Trên cơ sở phântích lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục hiện nay rút ramặt ưu điểm và hạn chế của mối quan hệ, nêu được nguyên nhân những hạnchế
- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc kếthợp mối quan hệ pháp luật và luật tục trong việc điều chỉnh xã hội hiện naycủa đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Tây Bắc
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Pháp luật và luật tục là một vấn đề tương đối rộng và khó nghiên cứu hết vìvậy trong phạm vi khóa luận tốt nghiệp em tập trung nghiên cứu những vấn
đề lý luận và thực tiễn cơ bản trong mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục.Tập trung phạm vi nghiên cứu chính là nhóm luật tục của một số đồng bào
Trang 8dân tộc trên địa bàn khu vực Tây Bắc, tiêu biểu như: dân tộc Thái, Mường,H’mông…
5 Đóng góp khoa học của đề tài
Khóa luận là công trình nghiên cứu một cách khái quát và hệ thống về mốiquan hệ giữa pháp luật và luật tục, do đó có những đóng góp mới sau đây:
- Phân tích rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật và luật tục
- Nêu được thực trạng về mối quan hệ pháp luật và luật tục hiện nay ở vùngTây Bắc
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệuquả của việc kết hợp mối quan hệ pháp luật và luật tục trong việc điều chỉnh
xã hội hiện nay của đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc
6 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu dựa trên tư tưởng của triết học Mác - Lênin về chủnghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng vàNhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền và chính sách dân tộc.Khóa luận được thực hiện bởi những phương pháp: phân tích ,tổng hợp,lịch
sử cụ thể; kết hợp phương pháp điều tra xã hội học…
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củakhóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật và luật tục
Chương 2: Thực tiễn mối quan hệ pháp luật và luật tục ở địa bàn Tây Bắc
hiện nay.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả việc kết hợp pháp luật và luật tục hiện nay ở địa bàn Tây Bắc.
Trang 9NỘI DUNG CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP
LUẬT VÀ LUẬT TỤC TÂY BẮC
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của pháp luật và luật tục
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của Pháp luật
1.1.1.2 Đặc điểm
Từ khái niệm trên, chúng ta có thể nhận biết pháp luật qua những dấuhiệu, đặc điểm riêng có của pháp luật, là tiêu chí để phân biệt pháp luật vớicác hiện tượng xã hội khác
- Thứ nhất, pháp luật có tính quy phạm phổ biến, bắt buộc chung Phápluật trước hết được thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật điều chỉnhquan hệ xã hội trong các lĩnh vực đời sống xã hội Quy phạm pháp luật là quytắc hành vi, có giá trị như những khuôn mẫu xử sự, hướng dẫn, kiểm tra, đánhgiá hành vi của các cá nhân, các hành vi của tổ chức sống trong xã hội Tínhquy phạm của pháp luật có đặc trưng riêng là tính phổ biến, bắt buộc chungđối với mọi cá nhân, mọi tổ chức trong xã hội Các quy phạm pháp luật được
áp dụng nhiều trong không gian và thời gian Việc áp dụng những quy phạm
Trang 10này chỉ bị đình chỉ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền hủy bỏ, sửa đổi, bổsung hoặc thời hạn đã hết
- Thứ hai, pháp luật có tính xác định chặt chẽ về hình thức: Các quy phạmpháp luật được thể hiện trong văn bản pháp luật với những tên gọi, cách thứcban hành và giá trị pháp lý khác nhau nhất định Ngôn ngữ của pháp luậttrong các quy phạm pháp luật phải ngắn gọn, rõ ràng, trực tiếp, mang tính phổthông và dễ hiểu
- Thứ ba, pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước Pháp luật xuấtphát từ nhà nước, do nhà nước trực tiếp xây dựng, ban hành hoặc thừa nhậnnên pháp luật được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các công cụ, biện phápcủa nhà nước Các biện pháp mà nhà nước sử dụng để đảm bảo thực hiện cácquy phạm pháp luật rất đa dạng, bao gồm các biện pháp tổ chức cưỡng chế,thuyết phục, giáo dục…
1.1.1.3 Vị trí, vai trò của pháp luật
Pháp luật ra đời như một tất yếu khách quan, là công cụ bảo vệ giai cấpthống trị, củng cố, xác lập trật tự xã hội Trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế hiệnnay, pháp luật ngày càng thể hiện vai trò to lớn, là công cụ điều chỉnh hàngđầu các quan hệ xã hội Pháp luật là công cụ hữu hiệu của nhà nước để quản
lý xã hội, công cụ hướng dẫn và bảo đảm, bảo vệ các quyền và lợi ích chínhđáng của cá nhân Như vậy, pháp luật có vị trí, vai trò to lớn trong đời sống xãhội Nhưng cần nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của pháp luật để phát huyhiệu quả điều chỉnh quan hệ xã hội của pháp luật là điều không đơn giản Mộttrong những biểu hiện sai lệch là quá cường điệu hóa, tuyệt đối hóa vai tròcủa pháp luật, hoặc hạ thấp vai trò của pháp luật Trong điều kiện xây dựngnhà nước pháp quyền, tuy có vai trò là công cụ điều chỉnh hàng đầu các quan
hệ xã hội, song pháp luật chỉ có thể phát huy được sức mạnh của mình khi kếthợp với các công cụ điều chỉnh khác như: Luật tục, đạo đức…Nhận thức, vậndụng đúng đắn, khách quan về vai trò của pháp luật đặc biệt là tầm quan trọngtrong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay
Trang 111.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của Luật tục Tây Bắc
1.1.2.1 Khái niệm
Luật tục là một hình thức của tri thức bản địa, được hình thành tronglịch sử lâu dài qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và xã hội, được thểhiện dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này sang đời khác bằngtrí nhớ qua thực hành sản xuất và thực hành xã hội Nó hướng đến việc hướngdẫn quan hệ xã hội, quan hệ con người với thiên nhiên Những chuẩn mực ấyđược cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện, nhờ đó đã tạo ra sự thống nhất vàcân bằng trong mỗi cộng đồng
Về bản chất, luật tục Tây Bắc là toàn bộ những nguyên tắc ứng xửkhông thành văn được hình thành trong cộng đồng mỗi dân tộc, sau thời giandài áp dụng đã trở thành truyền thống và được mọi người trong cộng đồngtuân thủ Như thế, luật tục Tây Bắc được xem là một chuẩn mực xã hội, làmột cách ứng xử mang tính phong tục, chi phối mạnh mẽ, được lưu truyềntrong cộng đồng các dân tộc Tây Bắc, là những quy phạm điều chỉnh các quan
hệ xã hội cộng đồng, thiết lập nên toàn bộ giá trị, nền tảng cho các phán xét cả
về đạo đức, pháp luật
Suy cho cùng , Luật tục Tây Bắc là đại diện cho kiểu mẫu lý tưởng về quy tắc ứng xử chứa đựng những tiêu chí về đạo đức, luân lý, cách ứng xử, phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng, tôn giáo được nhiều thế hệ trong cộng đồng người có quan hệ huyết thống xây dựng và lưu truyền cho tới ngày nay, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong cộng đồng, được mọi thành viên trong cộng đồng đó thực hiện một cách tự giác.
1.1.2.2 Đặc điểm
- Thứ nhất, Luật tục Tây Bắc là một công trình lập tục tập thể của cả cộng
đồng các dân tộc Tây Bắc và được chọn lọc, lưu truyền qua nhiều thế hệ Luậttục phản ánh ý chí chung của cộng đồng, là hệ thống các quy phạm trên cơ sởquan niệm đạo đức xã hội Tinh thần của luật tục là đưa ra quy phạm để giảiquyết có lý, có tình những mâu thuẫn, để răn đe, giáo dục Luật tục hướng
Trang 12thiện cho con người, đã làm người phải làm người thật thà, không gian dối,không làm điều ác, mang tính khuyên răn
- Thứ hai, luật tục Tây Bắc có phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát toàn bộ
các lĩnh vực quan hệ xã hội trong cộng đồng người Căn cứ vào tính chất, đặcđiểm của những quan hệ xã hội được điều chỉnh, có thể phân thành nhữngnhóm lĩnh vực được luật tục điều chỉnh như: lĩnh vực tổ chức và quản lý cộngđồng, lĩnh vực ổn định trật tự an ninh và đảm bảo lợi ích cộng đồng, lĩnh vựctôn trọng tuân thủ, bảo vệ phong tục, tập quán; lĩnh vực quan hệ dân sự, hônnhân và gia đình; lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai; bảo vệ sản xuất, môitrường; lĩnh vực duy trì và giáo dục nếp sống văn hóa, tín ngưỡng
- Thứ ba, luật tục Tây Bắc được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của dư
luận cộng đồng, bằng chính sự tự giác của mỗi cá nhân, có khi như một thóiquen Dư luận cộng đồng là lực lượng hướng dẫn và cưỡng chế các thành viênứng xử theo đúng chuẩn mực của quy ước và luật tục Dư luận cộng đồng gópphần cổ vũ, khích lệ các thành viên chấp hành các quy định của luật tục, làmtốt các điều phải làm, có tác dụng răn đe, ngăn ngừa những người có hànhđộng vi phạm luật tục Mặt khác, tín ngưỡng, thần linh cũng chi phối ý thứctuân thủ luật tục của cả cộng đồng
1.1.2.3 Nội dung cơ bản của luật tục Tây Bắc
Có thể thấy được nội dung cơ bản của luật tục Tây Bắc thông qua việckhái quát những nhóm quy định trong từng lĩnh vực sau: Các quy định tronglĩnh vực tổ chức, quản lý và duy trì trật tự cộng đồng; Các quy định về yêucầu của hoạt động sản xuất; Các quy định về ngăn chặn hành vi được coi làphạm tội; Các quy định về quyền sở hữu đất, bảo vệ tài nguyên, môi trường
a , Luật tục với yêu cầu duy trì trật tự xã hội
Bản Mường là xã hội tộc người truyền thống điển hình cho vùng núi phíaBắc, và yêu cầu về ổn định xã hội luôn luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu
Sự gắn kết các thành viên trong cộng đồng có thể là sự gắn kết các mối quan
hệ huyết thống hoặc là sự liên kết tầng lớp thống trị chủ yếu là thuộc về dòng
họ quý tộc với đại bộ phận nhân dân lao động thuộc dòng họ bình dân (như
Trang 13trường hợp người Thái, người Mường) Dù là ai trong thiết chế này cũng đềuphải tuân thủ các quy ước, quy định từ đời này sang đời khác, mà thườngphần lớn các điều khoản chủ yếu là để cho đại bộ phận nhân dân thực hiện đểduy trì trật tự xã hội, chống lại sự can thiệp, đồng hoá từ bên ngoài Trong đóđặc biệt đề cao vai trò của Già làng, Trưởng bản, Tộc trưởng,…
• Luật tục trong quan hệ gia đình
Với thiết chế phụ hệ, quan hệ ông bà cha mẹ, vợ chồng con cái bình đẳng,tôn trọng, thương yêu nhau Người Mông, người Dao có mâu thuẫn thì giađình tự thu xếp Khi đã không ổn thỏa thì luật quy định và cho phép đưa raphân xử trước làng bản
Trong gia đình có quy định: sử dụng, mua bán tài sản giá trị phải được bànbạc, thỏa thuận giữa các thành viên Luật tục nói rõ: trách nhiệm chăm sóc,giáo dục con cái thuộc về ông bà, cha mẹ Vì thế, người Mông có tục "chí nhảkhúa", tức là tìm bố mẹ nuôi để thêm sự thăm nuôi của người lớn, giúp contrẻ phát triển Người Dao lại có tục "chẩu đàng" nghĩa là lễ thả tranh, thụ đèn
"cấp sắc", công nhận người bước vào tuổi trưởng thành Về quan hệ hônnhân, giá trị của luật tục quy định một vợ một chồng Trường hợp bỏ nhaunếu không chính đáng sẽ phạt cả hai
Cũng như các dân tộc khác, luật tục có hình thức phạt rất nặng trường hợpngoại tình Ví như ở người Mông, nặng bị đánh đòn bằng da trâu Còn ởngười Khơ Mú, kẻ ngoại tình bị ăn chung trong máng cám lợn, thậm chí bịđuổi khỏi làng Ngược lại, luật tục của họ lại khuyến khích việc những quảphụ còn trẻ nên tái giá Trong hôn nhân, luật tục đa số không cho phép kếthôn cùng huyết thống; muốn thành vợ chồng khi cùng dòng họ thì ít nhất phảiqua 4 đến 5 đời ai vi phạm sẽ bị phạt lợn, rượu để cả làng ăn uống
• Luật tục về quan hệ cộng đồng
Tại làng bản, mọi thành viên đều chịu sự chỉ đạo chung của già làng(Mông) và tuân theo luật tục Sự tôn trọng cao mang tính tự nguyện và giámsát lẫn nhau Người Dao, người Thái có những hình phạt về gây rối trật tựhoặc đánh lộn Nhẹ thì đôi gà, lít rượu, cân gạo; nặng thì lợn, rượu để làng
Trang 14phạt, ăn uống Vấn đề tang ma đều có điểm chung: khi bản có người chết, mọingười đến chia buồn, giúp gạo, tiền, thực phẩm không lấy lại Các thành viêncho dù không ai bảo ai, tất thảy đều nghỉ việc nương rẫy
b , Luật tục đảm bảo các yêu cầu của hoạt động sản xuất
Các điều quy định của luật tục, liên quan đến hoạt động lao động có quan
hệ trước hết tới "vùng nuôi dưỡng" Các vùng nuôi dưỡng là các khu vực tựnhiên thuộc về một nhóm địa phương nào đó Các thành viên của mỗi nhómchỉ được săn bắn, hái lượm, bắt cá trong phạm vi "vùng nuôi dưỡng" củamình Nếu vùng nuôi dưỡng bị xâm phạm có thể dẫn tới việc xô xát nhưng rồisau đó được giải quyết bằng thương lượng hoà bình Quyền khai khẩn đất đaiđược luật tục thừa nhận, bảo vệ và đất đai thuộc quyền công hữu của cộngđồng, chỉ có các thành viên của cộng đồng mới có quyền khai phá Người tabiến đất rừng thành các cánh đồng nương trồng lúa, thành các mảnh nươngcanh tác cây lương thực, cây thực phẩm, thành các mảnh vườn trồng cây ănquả, cây đặc sản Ở nhiều cư dân như người Thái trước đây khi mảnh đấthoang đã có người đánh dấu "ta-leo" (mắt cáo- ký hiệu bằng các tấm lưới đantre, nứa) thì kể từ đó mảnh đất đã được coi như có chủ, đã thuộc về ngườinắm giữ cây ta-leo Cả khi người ta tìm thấy sản vật quý như: quế rừng, mậtong, gỗ lim thì việc đánh dấu quyền "sở hữu" bằng các dấu hiệu kiểu "ta-leo"đều được mọi người thừa nhận và tuân thủ tự giác, nghiêm ngặt
Các thành quả lao động của các gia đình, các cá nhân được bảo vệ khôngchỉ bằng sự nỗ lực của họ, mà bằng cả cơ sở "luật pháp" vững chắc là luật tục.Luật tục đặc biệt lên án những thói hư, tật xấu như lười biếng, bê tha, trộmcắp Thành quả quan trọng của quá trình lao động là các sản phẩm của câytrồng đến ngày thu hoạch, từ cây lương thực đến cây ăn quả, kể các loại măngrau, nếu ai tìm cách chiếm đoạt sẽ bị cộng đồng lên án hoặc khinh rẻ Phảichăng đó là một trong số các nguyên nhân giải thích tại sao ở vùng miền núitrước đây hầu như không có hiện tượng trộm cắp, ăn mày, cơ nhỡ,…
c , Luật tục về sở hữu tài nguyên - môi trường
Trang 15Qua khảo sát, nhiều luật tục giống nhau giữa các tộc người Khơ Mú,Mông, Dao Ví dụ: Luật tục sở hữu tài nguyên môi trường “đa số cho rằng,rừng suối đầu nguồn là "rừng thiêng", rừng "ma" do thần linh cai quản, tất cảmọi người phải có trách nhiệm bảo vệ Đây chính là rừng dự trữ và là nơicung cấp nước để phục vụ lâu dài cho sinh hoạt tại cộng đồng (cho dù ở đó cóyếu tố tâm linh)” Trường hợp vi phạm, tùy hoàn cảnh giàu nghèo mà bị phạttrâu, bò, dê, lợn, rượu, gạo để cúng thần xin tha tội Cá biệt có người bị đuổi
ra khỏi làng Vấn đề khai thác, hái lượm tài nguyên thiên nhiên nhằm thỏamãn nhu cầu ăn uống, chữa bệnh không bị ngăn cấm
Trước đây, săn bắn thú rừng là việc bình thường vừa đáp ứng nhu cầu thựcphẩm vừa bảo vệ mùa màng Bây giờ theo pháp luật của Nhà nước, việc này
bị ngăn cấm với mục đích bảo đảm sinh thái, môi trường Vì vậyluật tục cũngbiến đổi và hưởng ứng bằng cách hạn chế tiến tới không tổ chức săn bắt nhưxưa
Cùng với những hoạt động trên, tuy hình thức phát, đốt, chọc, trỉa còn ởnhiều nơi khi làm nương rẫy, đất đai nghèo kiệt như trước làm phát sinh hiệntượng du canh, du cư Nay luật tục không khuyến khích, thậm chí yêu cầu bàcon cải tạo đất rừng, nương rẫy, giữ vững định canh định cư theo tiêu chílàng, bản văn hóa
Còn nữa, đó là xác lập quyền sở hữu Theo luật tục thì vẫn còn duy trì hìnhthức đánh dấu như cắm cành cây hoặc buộc dây, vít hai cọc chéo trên mảnhđất đồi rừng là nhằm thông báo cây, đất đã có chủ Có dấu đó không ai đượcxâm phạm Để có được luật tục này, người Mông đã phải xây dựng từ xa xưa
lệ "ăn thề" Tiếng địa phương là "Nox shôngx" Sau khi đã thống nhất nộidung hình thức, họ uống rượu thề (thay cho ký cam kết)
d , Luật tục ngăn chặn hành vi phạm tội
Các hành vi phạm tội ở đây không nhìn nhận thuần tuý dưới con mắt hình
sự, vì tội theo luật tục bao hàm trong đó rất nhiều "lỗi" Chẳng hạn, trong luậttục Thái, Tày, nói về "tội" xúc phạm cha mẹ, vợ chồng, con cháu; tội giết
Trang 16người, tội trộm cắp… Những tội này phải xử rất nghiêm khắc cao nhất là tộichết; nhẹ hơn thì cũng bị đuổi ra khỏi làng
Nhìn chung, các luật tục nhằm ngăn chặn những hành vi phạm tội, mộtmặt là để trừng trị kẻ phạm tội, nhưng mặt khác cũng là để ngăn ngừa, răn đehành vi phạm tội có thể xảy ra Nói theo ngôn từ hiện đại thì nhằm mục đíchmang tính giáo dục, ngăn chặn Cộng đồng dân cư nào cũng vậy, dù nguyênthuỷ hay hiện đại cũng cần có một môi trường xã hội lành mạnh, có kỷ cương
để con người yên ổn làm ăn, sống cuộc sống hoà bình Muốn vây, cộng đồngphải hướng con người cá nhân hướng tới cái thiện, ngăn chặn và lên án cái ác.Luật tục bao giờ cũng theo một khuynh hướng như vậy
Ví dụ luật tục của một số dân tộc tiêu biểu
• Luật Mường
Trong các sách xuất bản có ba bản Luật Mường với các tên gọi khácnhau: Luật Mường (Mai Châu); Luật lệ Thái đen ở Thuận Châu; Luật lệ bảnMường (Mường Mụa-Mai Sơn) Các văn bản luật Mường này có độ dài ngắnkhác nhau, cùng đề cập đến vấn đề chung của cộng đồng Mường
Qua các Luật Mường đều có ranh giới Mường, tức là xác lập quyền sởhữu công cộng về lãnh thổ Mường mà chúa đất là người đại diện Bộ LuậtMường Mụa ghi rõ ranh giới của Mường qua các thời kỳ, các đời của chúađất
Luật tục Thái là một luật lệ bản Mường thời phong kiến sơ kỳ với uy quyềnrất lớn của chúa đất mà cao nhất là An Nha (1 châu)
Luật tục Thái phân biệt rạch ròi với 47 loại người và 17 loại tội phạm trong xãhội
Luật tục quan tâm cả các đấng thần linh, môi trường thiên nhiên, nó có ảnhhưởng rất lớn đến thái độ của con người đối với thiên nhiên, trời đất, núisông, rừng rú Đây là cơ sở để thi hành công lý, ngăn ngừa tội ác, là đạo lýlàm người Mỗi Mường (Châu) có luật tục riêng
- Phần đạo làm người: là những quy ước ứng xử cá nhân
- Phần tục lệ cưới xin,Tang ma
Trang 17- Hai bộ luật Mường: Thuận Châu và Mai Sơn dành khá nhiều trang và Điềunói về tạo dựng quan lại, chức dịch và bổng lộc mà họ được hưởng Ở bộ luật
"Luật lệ bản mường" (Mường Mụa Mai Sơn) các điều từ Điều 8-30 quy định
"lệ dựng tạo quan" và từ Điều 31-45 quy định về bổng lộc cho tạo quan Luật tục Mường Mụa và Mường Muổi còn có các Điều khoản về xin làmchức dịch hàng mường và các khoản tiện nhậm chức
Luật Mường Mai Châu trình bày các điều luật về các lĩnh vực sau: Luậttranh chấp ruộng và nguồn nước; Luật về dựng vợ và gả chồng; Luật để tangchồng; Luật về bỏ vợ bỏ chồng; Luật vợ chồng bỏ nhau; Luật về người chết(tự tuyệt); Luật đánh nhau chết; Luật di dân ở làng khác; Luật giết ngườikhông có lệnh của Tạo chu; Luật về ăn cắp; Luật đánh người; Luật với ngườichửi cay nghiệt; Luật trộm yêu; Luật chăm sóc vợ chồng khi đau ốm; Luậtnuôi con; Luật tạo lấy vợ; Luật về tạo phạt vạ
Trong lĩnh vực kể trên, đặc biệt có hai lĩnh vực mà bộ luật này quy địnhmột cách kỹ lưỡng và chi tiết nhất đó là tội ăn cắp và tội trộm yêu Về tội ăncắp có 169 Điều riêng rẽ, quy định về từng trường hợp ăn cắp và hình phạtđối với tội đó, thí dụ:
"Ai ăn cắp mạ đã ngâm phải phạt 3 lạng bạc, kèm theo rượu, lợn, phảicúng vía cho chủ mạ 5 đồng cân bạc và trả lại mạ đã lấy"
"Ai ăn cắp cá chua, phải phạt 5 lạng bạc, kèm theo rượu, trâu, phảicúng vía cho chủ cá một lạng bạc và trả số cá đã lấy"
Với tội yêu bất chính (trộm yêu-Lặc mặc) có tới 108 Điều cụ thể về cáctrường hợp trộm yêu khác nhau và kèm theo đó là hình thức xử phạt, thí dụ:
"Trộm yêu với bác ruột còn con gái nếu bắt được phạt trai 25 lạng bạc, gái 25lạng, cả trai lẫn gái mỗi bên mất ba lạng, kèm theo rượu, lợn để cúng vía cho
cả họ" hay "Trộm yêu chị vợ còn con gái, nếu bị bắt được, phạt trai 25 lạngbạc, gái 25 lạng, phạt trai cúng vía cho Lung ta (bên nhà vợ)"
Về tội chửi cay nghiệt người khác cũng được phân thành nhiều trườnghợp cụ thể để cho dễ xét xử, như: chửi cậu, chửi dì, (25 trường hợp) Từ cácvấn đề trên, các nhà nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu tại sao và trong hoàn
Trang 18cảnh xã hội nào mà trong bộ luật Thái đen Mai Châu này lại quy định hết sứcchi tiết về các tội trộm yêu, ăn cắp, chửi cay nghiệt, mà các bộ luật Mườngkhác không chú ý tới Đây cũng là kinh nghiệm của cha ông xưa khi soạn thảoLuật tục và Hương ước đây là các quy định hết sức cụ thể, rõ ràng, tạo điềukiện ngăn ngừa và xử lý người phạm tội
Trong Luật Mường, các vấn đề quan hệ nam nữ, quan hệ hôn nhân giađình, li dị, bên cạnh những mặt lỗi thời, lạc hậu vẫn có những điểm chúng tacần học hỏi, tiếp thu để xây dựng quan hệ xã hội mới hiện nay Chỉ riêngtrong bộ Luật Mường người Mai Châu định ra 47 loại người với những tínhcách và hành vi của họ là những chuẩn mực mang tính trường tồn
• Luật tục người H’mông
Người H’mông không có chữ viết nên luật tục của họ lưu giữ bằng hìnhthức truyền khẩu Các nhà nghiên cứu tìm hiểu nghi lễ nổi tiếng của ngườiH’mông-lễ "Nào xồng" (lễ ăn ước) đã cho rằng những điều được phán quyếttrong buổi lễ này là phản ánh những nội dung rất cơ bản của luật tục H’mông
Từ các điều kiện phán quyết trong lễ"Nào xồng" chúng ta có thể thấynội dung của nó tập trung vào các vấn đề sau đây:
+ Đảm bảo an ninh trật tự cho cộng đồng
Tất cả các thành viên giữ gìn sự bình yên của Giao Trường hợp có aivào cướp làng mọi người phải đồng sức, đồng lòng giữ lấy tài sản Tất cả đànông khoẻ mạnh đều phải tham gia bắt cướp Hình thức báo cướp là hô hoánhoặc bắn súng
Các thành viên phải luôn có ý thức trong việc phát hiện những người cóhành động khả nghi, và báo cho chủ làng biết Nếu có khách lạ ngủ lại, chủnhà phải có trách nhiệm đối với người khách đó, cả mặt an toàn cho khách và
an ninh cho bản, những ai tìm cách trốn tránh việc giữ gìn an ninh thì đượccoi là bội ước lời thề trước Thủ ty trong lễ ăn ước Họ phải chịu phạt vạ củagiao bằng việc sửa soạn một bữa rượu khao làng
+ Bảo vệ mùa màng và việc chăn thả gia súc
Trang 19Vấn đề này được đem ra bàn rất kỹ trong ngày lễ "Nào xồng" và cácnội dung được đề cập rất cụ thể Vào thời gian gieo trồng, cấy hái các gia đìnhphải chăn dắt súc vật cho cẩn thận; chỉ được thả rông trong khu vực có quyđịnh chung và phải có người trông nom Nghiêm cấm việc chặt phá bãi chănnuôi chung làm nương Các gia đình gần nương không được thả rông lợn màphải nhốt lại Khi hạt giống mới được gieo hoặc khi lúa đã trổ bông thì gà vịtphải được nhốt trong chuồng Nếu nhà nào vi phạm thì sẽ bị phạt theo lệ lànggồm các hình thức: phải đền bù thiệt hại bằng cách trả lại giống, trồng đềnhay trả bằng tiền căn cứ vào mức thu hoạch được của vụ trước
Các gia đình đều được khai phá tự do đất đai nương rẫy, nhưng phảituân theo các quy định chung của "giao" Nếu có ai đánh dấu một vùng đấtnào đó, thì người đến sau không được tự ý phát nương làm rẫy nữa Gặp cây
gỗ to nếu có người đánh dấu khai thác trước thì người đến sau không đượcphép chặt, đốn Người đó vô tình mà không biết cứ phát nương, cứ chặt câythì thành quả lao động phải đem chia đôi Nếu cố tình thì phải trả lại toàn bộ
• Luật tục Thái
Cũng giống như ở người Việt, Luật tục của người Thái phần lớn đãđược văn bản hoá và thường mang một cái tên chung là "Hịt hoỏng" (Hịthoỏng bản mường), mà khi dịch ra tiếng Việt có lúc là "Phong tục tập quán",
"Lệ tục", "Lệ", thậm chí là "Luật" nữa
Luật tục Thái là công cụ để điều hành xã hội bản mường cổ truyền, nó đềcập đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội và chính ở đó có cácnét đặc thù cơ bản, bản sắc văn hoá được thể hiên một cách tập trung và rõnét
Luật tục Thái chứa đựng nguồn tư liệu phong phú về tín ngưỡng, nghi
lễ, phong tục của tộc người Đây là phong tục, lệ tục được hình thành từ lâuđời, được định hình và cố định lại dưới dạng lệ tục Đó là những tập quánmang nặng tính dân tộc Thái, tính hệ thống rất cao và tính nhân đạo rất lớn
Đó cũng là tư liệu quý giúp chúng ta hiểu và khai thác những nét đẹp của
Trang 20phong tục cổ truyền để xây dựng một phong tục mới hiện nay, nhất là cướixin và ma chay Tổ chức xã hội theo Bản Mường là mô hình xã hội rất đặc thùcủa người Thái Cơ cấu xã hội này phù hợp với môi trường sống là thunglũng, với trình độ phát triển xã hội tiền nhà nước, để lại dấu ấn sâu đậm trongcách suy nghĩ, ứng xử và quan hệ xã hội của tộc người này Cơ cấu xã hộinày, cũng có tác động nhiều tới đời sống xã hội người Thái hiện nay Có thểcoi đó là một nét nổi bật của bản sắc văn hoá Thái mà luật tục bản mường đãghi lại một cách hoàn chỉnh Luật tục Thái quan tâm đặc biệt tới quyền sởhữu, quyền sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên Mà về phương diệnnào đó việc xác định quyền sở hữu công cộng của Bản Mường và quyềnquyết định cá nhân là một trong những nhân tố quan trọng góp phần quản lýtốt sử dụng hợp lý tài nguyên đất, rừng Các quy định về luật tục bảo vềnguồn nước, rừng cấm, rừng đầu nguồn, theo hướng khai thác hợp lý hơncác nguồn tài nguyên này một cách bền vững
+ Phần "Tục lệ cưới xin người Thái Đen ở Tây Bắc"
Văn bản tục lệ Thái đen ở Mường La gồm hai phần:
1) Tạo lấy nàng (vợ);
2) Trai gái họ dân lấy vợ chồng
Tạo lấy nàng (vợ) được coi là việc hệ trọng của Bản Mường, bởi vì đó
là việc xây cái "gốc" cho Bản Mường Nàng sẽ sinh ra dòng họ quý tộc tiếptục làm Phìa, An nha là chủ bản mường Nàng là nàng dâu nuôi dưỡng cha mẹchồng, tục lệ cưới xin của Tạo và nàng trải qua nhiều nghi thức:
-Tục "mở gói ăn hỏi"
-Lệ "hỏi dứt lời, dạm dứt giá"
-Lệ "dẫn trai lên làm rể ở quản"
+ Tục lệ tang ma của người Thái Đen
Bản tục lệ này có độ dài 145 trang, song ngữ Thái -Việt Văn bản dướidạng đan xen văn xuôi và văn vần và thường đó là những bài khấn , bài hát kể
Bản tục lệ tang ma Thái Đen trình bày các nghi thức tang lễ theo thứ tựtừng ngày, từ ngày thứ nhất đến ngày thứ năm , sáu kết thúc tang lễ
Trang 21+ Tục lệ tang ma Thái Trắng
Văn bản "Tục lệ tang ma Thái Trắng" không trình bày các bước tang
ma như của người Thái Đen, mà chỉ là hai bài hát kể: Khóc điếu có nội dungtương tự như bài hát tiễn hồn của người Thái Đen Bài"Phần chia các hồn" nói
về việc sau khi người chết, các hồn ma trong thân xác thoát ra đi về các nơikhác nhau Có thể coi đây như là tài liệu tham khảo để tìm hiểu
Qua luật tục Thái chúng ta có thể tìm hiểu về ngôn ngữ, vốn và hìnhthức tư duy của người Thái Đó là hình thức lời nói vần, các hình thức hát kể,hát khóc, một kiểu tư duy cụ thể đầy hình tượng Văn tự được dùng trong luậttục là văn tự cổ, ngày nay còn có ít người đọc được và thông hiểu Tuy nhiên,
so với tập tục truyền miệng của các tộc người chưa có chữ viết (Êđê,Mnông, ) thì dù sao luật tục Thái cũng đã có văn bản hoá và được lưu truyềndưới dạng văn bản, do vậy hình thức ngôn ngữ của nó khá chặt chẽ, ngắn gọn
và chi tiết hơn
1.1.2.4 Vị trí, vai trò của Luật tục trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc
Trong xã hội hiện đại ngày nay, luật tục vẫn phát huy vai trò điều chỉnhmọi mối quan hệ xã hội ở các làng, bản của đồng bào các dân tộc thiểu sốvùng Tây Bắc Đối với họ, luật tục của cộng đồng mình vẫn được coi là chuẩnmực trong hành vi ứng xử hàng ngày Trong mọi hoạt động giao tiếp với cánhân, cộng đồng Khi gặp phải tình huống cần lựa chọn hành vi ứng xử đồngbào các dân tộc thiểu số thường nghĩ ngay đến những câu trong luật tục mangđậm chất dân gian, thơ ca để tìm định hướng cho hành vi ứng xử của mìnhkhông vượt ra ngoài những quy định của luật tục Chính điều này cho thấysức sống mãnh liệt của luật tục và chứng minh cho sự hợp lý, sự cần thiết của
nó trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội ở các bản làng của đồng bàodân tộc thiểu số hiện nay
Trang 22Luật tục Tây Bắc trước hết là một kho tàng trí thức dân gian được tích lũy
từ thực tế đời sống của nhiều thế hệ đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc Nó đềcập đến hầu hết các lĩnh vực khác nhau trong đời sống của đồng bào dân tộcthiểu số Tây Bắc, từ sản xuất, tổ chức xã hội và quan hệ cộng đồng, quan hệnam nữ, lễ nghi tôn giáo, phong tục… Ở từng lĩnh vực, các tri thức dân giannày đều được định hình và trở thành các nguyên tắc nhằm giáo dục răn đe mọingười, ngăn chặn những hành vi làm thương tổn lợi ích của cá nhân và củacộng đồng, phù hợp với nhận thức và trình độ xã hội của đồng bào dân tộcthiểu số Tây Bắc
Trong xã hội cổ truyền cũng như trong xã hội hiện đại, luật tục Tây Bắcvẫn phát huy vai trò điều chỉnh mọi mối quan hệ xã hội ở các bản làng đồngbào dân tộc thiểu số Tây Bắc Đối với đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay luậttục vẫn là chuẩn mực trong mọi hành vi ứng xử hàng ngày Điều đó thể hiệnsức sống mãnh liệt của luật tục Tây Bắc và chứng minh cho sự hợp lý, sự cầnthiết của nó trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội ở các bản làng củađồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứuluật tục Tây Bắc ta có thể thấy đây là một hình thái pháp luật sơ khai đã đượcđồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc sáng tạo nên và hoàn thiện nó qua nhiềuthế hệ Nội dung của luật tục Tây Bắc xác lập vị trí của mỗi cá nhân trongcộng đồng, hình thành nên mối quan hệ giữa từng thành viên trong cộng đồngvới nhau, giữa cá nhân và cộng đồng, góp phần quản lý cộng đồng một cáchchặt chẽ, hiệu quả trong quá khứ và vẫn tiếp tục giữ vai trò đáng kể trongcuộc sống hiện đại nhất là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyềnViệt Nam hiện nay
1.2 Những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật và Luật tục Tây Bắc
1.2.1 Điểm tương đồng giữa pháp luật và luật tục
- Pháp luật và luật tục đều là những phương tiện để điều chỉnh các quan hệ
xã hội Để điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp luật và luật tục đều tác độngvào nhận thức của chủ thể nhằm hình thành ở chủ thể ý thức lựa chọn cách
Trang 23thức xử sự phù hợp, kiềm chế không thực hiện những hành vi bị ngăn cấm,đồng thời khuyến khích họ thực hiện những hành vi tích cực, phù hợp với yêucầu, đòi hỏi của nhà nước hay của cộng đồng dân tộc mình
- Pháp luật và luật tục đều thuộc kiến trúc thượng tầng, chỉ có thể tồn tạitrên những cơ sở hạ tầng, những nền tảng kinh tế xã hội phù hợp nhưng có sựtác động trở lại cơ sở hạ tầng Pháp luật và luật tục đều là hiện tượng xã hộithuộc kiến trúc thượng tầng do cơ sở hạ tầng quyết định Pháp luật và luật tụcvừa mang tính giai cấp vừa mang tính xã hội Tính giai cấp của pháp luậtđược thể hiện ở sự phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị xã hội Luậttục được hình thành vào thời kỳ tiền giai cấp nhưng ít nhiều mang tính giaicấp Pháp luật và luật tục còn mang tính xã hội Tính xã hội của pháp luật vàluật tục thể hiện ở việc chúng đều là công cụ ghi nhận, bảo vệ lợi ích chungcủa toàn xã hội
1.2.2 Sự khác biệt giữa pháp luật và luật tục
- Khác biệt về con đường hình thành: Pháp luật được hình thành từ ba conđường:
+ Thứ nhất, nhà nước thừa nhận những quy tắc xử sự đang tồn tại trong xã
hội còn phù hợp với xã hội, không mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp thống trị
và dùng quyền lực để đảm bảo cho nó được thực hiện trên thực tế
+ Thứ hai, nhà nước thừa nhận những cách giải quyết vụ việc trên thực tế
của các cơ quan nhà nước, dùng nó làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc
có nội dung tương tự về sau
+ Thứ ba, nhà nước ban hành những văn bản chứa đựng những quy phạm
pháp luật, là những văn bản quy phạm pháp luật
Luật tục xuất hiện do nhu cầu điều chỉnh của đời sống cộng đồng ngườidân tộc thiểu số Nó được hình thành qua con đường tự phát và không quamột thiết chế xã hội nào và được cả cộng đồng người thừa nhận, tuân thủ thựchiện một cách tự giác
Trang 24- Hình thức thể hiện: Luật tục chủ yếu tồn tại dưới dạng không thành văn,được truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác trong cộng đồng người dântộc thiểu số Hình thức chủ yếu của pháp luật là văn bản quy phạm pháp luật.
- Phạm vi điều chỉnh: Trong phạm vi điều chỉnh các quan hệ xã hội, phápluật chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội đã tồn tại một cách khách quan trongđời sống xã hội, mang những đặc tính phổ biến, điển hình nhất trong đời sống
xã hội
- Luật tục điều chỉnh các mối quan hệ xã hội đặc trưng, cụ thể trong đờisống cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta Đối với không gian điều chỉnhpháp luật có hiệu lực rộng lớn trên lãnh thổ quốc gia Luật tục chỉ điều chỉnhcác quan hệ xã hội được phát sinh giữa các thành viên trong cộng đồng ngườinhất định
- Về mặt cơ chế điều chỉnh: Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội bằngcác quy phạm pháp luật cụ thể, thể hiện ý chí nhà nước Trong đó, khi chủ thểkhông thực hiện có thể chịu hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần, sự tự do và
cả tính mạng Luật tục điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong cộngđồng người dân tộc thiểu số dựa trên một niềm tin được duy trì lâu đời trong ýchí tín ngưỡng của mỗi dân tộc mình, nếu chủ thể không thực hiện phải chịuhậu quả bất lợi về niềm tin, tinh thần, vật chất
- Biện pháp đảm bảo thực hiện: Pháp luật được đảm bảo thực hiện chủ yếubằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước Bên cạnh đó còn là những biện phápđảm bảo thực hiện pháp luật như sự giáo dục xã hội, ý thức tự giác của mỗichủ thể Luật tục được đảm bảo thực hiện bằng những biện pháp phi nhànước.và chủ yếu là sức mạnh của cộng đồng(dư luận xã hội)
1.3 Sự tác động qua lại giữa pháp luật và luật tục
Luật tục và pháp luật cùng tồn tại trong xã hội với cùng một mục đích
là điều chỉnh các quan hệ xã hội, điều hoà các quan hệ nảy sinh nên giữa luậttục và pháp luật có mối quan hệ mật thiết với nhau Mối quan hệ giữa luật tục
và pháp luật được thể hiện trên một số nét lớn sau:
Trang 25- Về cơ sở tồn tại và mục đích điều chỉnh: Luật tục và pháp luật lànhững yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, đều bị quy định bởi cơ sở kinh tếnhất định trên nền tảng kinh tế xã hội phù hợp Quan hệ giữa luật tục với phápluật là quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong quá trình điều chỉnh hành vicon người để cùng thực hiện vai trò là điều chỉnh, điều hoà các quan hệ xãhội, duy trì và ổn định một trật tự cần thiết cho sự phát triển của xã hội Vìvậy giữa luật tục và pháp luật có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau.
- Trong điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp luật có vị trí cao hơn luậttục: Pháp luật ra đời nhằm duy trì trật tự trong xã hội khi trong xã hội đã có sựphân chia thành giai cấp đối kháng, có lợi ích khác nhau nên pháp luật có tínhgiai cấp Pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội,đàn áp sự phản kháng của các giai cấp và tầng lớp khác Pháp luật được bảođảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
Bên cạnh đó, là luật thành văn do các cơ quan nhà nước có thẩm quyềnban hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ có tính quy phạm rõ ràng cả vềnội dung và hình thức, pháp luật có hiệu lực, hiệu quả cao Pháp luật có tínhthống nhất về nội dung và tính phổ biến rộng rãi đối với mọi đối tượng ápdụng trong một quốc gia
Còn Luật tục Tây Bắc điều chỉnh các quan hệ cộng đồng của các dântộc bản địa, nhằm duy trì trật tự cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội Hìnhthức thể hiện phong phú,có thể là thành văn hoặc bất thành văn Có lịch sửhình thành lâu đời, ăn sâu vào tiềm thức cộng đồng các dân tộc nơi đây
Vì thế trong mối quan hệ với luật tục, pháp luật có hiệu lực cao hơn,với cơ chế điều chỉnh chặt chẽ và phạm vi áp dụng rộng hơn Nếu có sự khácbiệt trong quá trình điều chỉnh thì luật tục phải tôn trọng, phải điều chỉnh theo
sự điều chỉnh của pháp luật Trong mọi trường hợp hiệu lực áp dụng của phápluật là tuyệt đối và sự điều chỉnh của luật tục buộc phải tuân theo Mặt khác,pháp luật có vai trò hướng dẫn cải tiến luật tục làm cho luật tục ngày càng tiến
bộ hơn, phù hợp hơn với xã hội hiện đại
Trang 26- Vị trí độc lập tương đối của luật tục so với pháp luật trong điều chỉnhcác quan hệ xã hội: Tuy pháp luật có vị trí ưu trội hơn, song trong mối quan
hệ với pháp luật, luật tục vẫn thể hiện được tính độc lập tương đối của mìnhtrong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội Điều đó được thể hiện ở một sốđiểm sau đây:
+ Luật tục trong một phạm vi điều kiện nhất định có khả năng điều
chỉnh những quan hệ mà pháp luật chưa quy định Pháp luật có tính thốngnhất trong phạm vi cả một quốc gia và phản ánh được trình độ phát triểnchung của xã hội Song trình độ phát triển ở từng vùng, từng địa phương làkhác nhau thậm chí còn chênh lệch cả về đời sống vật chất, văn hoá tinh thần
do đó không phải lúc nào, ở đâu pháp luật cũng thâm nhập được vào cuộcsống và phát huy hết tác dụng điều chỉnh Đối với các vùng đồng bào dân tộc
ít người, những quy định của pháp luật trong nhiều khía cạnh trở nên xa lạ đốivới cộng đồng dân cư đó Trong điều kiện đó, luật tục với giá trị tích cực của
nó sẽ đóng vai trò quan trọng và chủ yếu trong quá trình điều chỉnh các quan
hệ xã hội cụ thể Thực tiễn trong giai đoạn hiện nay ở nhiều nơi, trên nhiềulĩnh vực khi mà pháp luật chưa thực sự thâm nhập sâu vào trong thực tế haychưa thực sự cần thiết phải tác động thì vai trò của luật tục là rất cần thiết trongquản lý nhà nước
+ Luật tục trong nhiều trường hợp còn có khả năng bổ sung cho pháp luật Trong điều kiện một quốc gia có nhiều dân tộc cùng sinh sống với trình
độ khá chênh lệch nhau, với khả năng và trình độ làm luật có hạn thì việcpháp luật không thể dự liệu hết các tình huống trong thực tiễn, không thể điềuchỉnh tỉ mỉ, cụ thể từng chi tiết trong từng mối quan hệ của từng cộng đồngmỗi dân tộc là một thực tế Trong khi đó, mỗi dân tộc đã tồn tại trong cộngđồng mình một hệ thống luật tục đã được đúc kết sàng lọc qua nhiều thế hệ,
đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn điều chỉnh các quan hệ trong nội bộ dântộc đó từ lâu đời và đã khẳng định được vai trò điều hoà xã hội thì rõ ràng lúcnày luật tục sẽ bổ sung các quy định còn thiếu của pháp luật tạo điều kiện cho
Trang 27pháp luật có thể áp dụng trong cuộc sống, đáp ứng được nhu cầu khách quantrong việc điều chỉnh các quan hệ nảy sinh.
+ Luật tục có khả năng hỗ trợ cho pháp luật Trong nhiều trường hợp
mặc dù đã có các quy định cụ thể của pháp luật, đã có quyết định của các cơquan nhà nước có thẩm quyền song chưa hẳn các quy định của pháp luật, cácquyết định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó (Thậm chí trongnhiều trường hợp đã có chế tài cụ thể) đã có thể áp dụng và thi hành trong mộtcộng đồng dân tộc ít người Song nếu có sự hỗ trợ của luật tục với khả năng
cố kết cộng đồng, khả năng truyền cảm, khả năng cụ thể hoá, chi tiết hoá cácquy định của pháp luật trở thành các chuẩn mực đạo đức với các giá trị truyềnthống của cộng đồng thì các quy định, quyết định trên có thể dễ dàng đượcthực hiện với hiệu lực hiệu quả cao Khả năng hỗ trợ của luật tục đối với việc
áp dụng pháp luật còn được thể hiện ở chỗ luật tục có khả năng chi tiết hoá,
cụ thể hoá các điều luật cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế nơicộng đồng sinh sống
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong mối quan hệ với pháp luật, những khảnăng bổ sung và hỗ trợ của luật tục đối với pháp luật là không thể tách rời màluôn có sự đan xen trong một mối liên hệ khăng khít và có giá trị to lớn, có ýnghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật ở nước ta hiệnnay
+ Những giá trị tích cực trong hệ thống luật tục của các dân tộc ít người
ra đời, phát triển đã được đúc kết sàng lọc qua nhiều thế hệ.Trở thành tinh hoavăn hoá của các dân tộc với những giá trị không thể phủ nhận Do đó trongquá trình nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay, bêncạnh khả năng thay thế, bổ sung và hỗ trợ cho pháp luật thì luật tục với nhữnggiá trị tích cực còn có thể trở thành nguồn trong hoạt động xây dựng hoànthiện hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay
Tóm lại, trong suốt quá trình hình thành và phát triển, hệ thống luật tụccủa các dân tộc đã được chắt lọc trở thành tinh hoa, bản sắc văn hoá riêng của
Trang 28từng dân tộc Góp phần tạo nên bản sắc văn hoá độc đáo của cả dân tộc ViệtNam Với những đặc điểm riêng hệ thống luật tục của các dân tộc luôn có mốiquan hệ chặt chẽ với pháp luật, tạo nên một cơ chế điều chỉnh hoàn chỉnh,đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội gópphần điều hoà và cân bằng xã hội giúp cho xã hội luôn ổn định và phát triển.
Mặc dù không phổ biến nhưng luật tục Tây Bắc đã có tác động dẫn đếnviệc hình thành các quy định trong pháp luật Trong thời gian gần đây, một sốphong tục, tập quán tốt đẹp lâu đời của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc đãđược pháp luật Nhà nước ta ghi nhận và thể chế hóa thành những quy phạmpháp luật, chẳng hạn như các quy định về bảo vệ rừng, bảo vệ cây trồng, vậtnuôi trong gia đình; Đặc biệt là các quy định về bảo vệ tính mạng, sức khỏecon người như tội giết người, tội hiếp dâm, tội cố ý gây thương tích, tội ngượcđãi ông bà cha mẹ, người trực tiếp nuôi dưỡng mình
Các nhà làm luật thừa nhận một số phong tục, tập quán tiến bộ của ngườiTây Bắc cụ thể hóa thành các quy định của pháp luật, hoặc thừa nhận cáchgiải quyết các vụ việc cụ thể trên thực tế của người trưởng buôn, tạo thành cáctiền lệ khác để áp dụng giải quyết các vụ việc tương tự về sau phát sinh trongbản làng người dân tộc thiểu số Tây Bắc Luật tục Tây Bắc mang đậm bản sắcvăn hóa của dân tộc bản địa Nó trở thành phong tục tập quán lâu đời, điềuchỉnh mọi hành vi của người Tây Bắc và trở thành thói quen trong hành viứng xử của các thành viên trong tộc người này không dễ gì thay đổi được Khipháp luật phù hợp với truyền thống của các dân tộc nói chung và truyền thốngcủa người Tây Bắc nói riêng, chẳng những nó được thực hiện nghiêm chỉnhtrong cuộc sống mà nó còn góp phần to lớn trong việc giữ gìn, phát huy bảnsắc dân tộc Vì vậy mà hiệu quả điều chỉnh bằng pháp luật đạt được sẽ lớnhơn
Trang 291.4 Vận dụng kinh nghiệm trong việc tiếp thu, kế thừa và phát huy các giá
trị của luật tục trong điều kiện hiện nay ở nước ta.
Kinh nghiệm sử dụng tập quán pháp của các nước trong khu vực và trên thếgiới cho thấy luật tục có thể được sử dụng theo hai cách:
- Cách thứ nhất, Nhà nước trao cho chính quyền địa phương thẩm quyền xâydựng và ban hành hương ước quy định về một số vấn đề nhất định có hiệu lựctrong phạm vi một đơn vị dân cư phù hợp với các quy định của pháp luật.Hương ước ở đây chỉ là công cụ tự quản ở địa phương chứ không phải là phápluật (ví dụ ở Trung Quốc)
- Cách thứ hai, Nhà nước thừa nhận sự tồn tại của luật tục và coi luật tục nhưmột bộ phận của pháp luật Luật tục trong trường hợp này điều chỉnh các quan
hệ xã hội với tính cách là pháp luật nhưng chỉ có hiệu lực trong phạm vi địaphương Giữa luật tục và pháp luật Nhà nước có mối quan hệ tương hỗ chặtchẽ: pháp luật chỉ giải quyết những vấn đề phát sinh ở địa phương khi luật tụckhông giải quyết được và ngay cả trong trường hợp này, pháp luật cũng phảitính đến các quy định của luật tục (ví dụ ở Indonexia)
Ở các nước mà phong tục, tập quán là một nguồn quan trọng của pháp luật(như Anh), Nhà nước xem xét các phong tục, tập quán nếu thấy phù hợp vớilợi ích chung của giai cấp thống trị và với tiến trình phát triển của xã hội thìNhà nước thừa nhận và ghi nhận nó như là một bộ phận cấu thành của hệthống pháp luật chung
Ở nước ta luật tục xuất hiện từ rất sớm và tồn tại cho đến ngày nay Suốtchặng đường lịch sử đó chắc chắn là luật tục đã có nhiều thay đổi Rất tiếc làđến nay có ít tài liệu nói về luật tục cũng như cách thức cai trị của chínhquyền phong kiến đối với các dân tộc ít người Trong thời kỳ cai trị của thựcdân Pháp, nhiều người Pháp đã nghiên cứu luật tục của các dân tộc thiểu số ởTây Nguyên Trong đầu thập kỷ XX, chính quyền thực dân Pháp đã tổ chứcthu thập, hiệu chỉnh các luật tục của đồng bào Tây Nguyên biên dịch thànhsách phát hành trong các buôn làng Trong các bản luật tục này, người Pháp
đã lồng ghép những nội dung và điều luật phục vụ cho mục đích cai trị của
Trang 30họ Cũng trong thời kỳ này người Pháp đã thành lập Tòa án phong tục ở TâyNguyên để xét xử những vụ việc vi phạm luật tục và luật pháp nếu người viphạm là người dân tộc thiểu số, hoặc vụ việc liên quan đến dân tộc thiểu sốTây Nguyên Đến trước năm 1975, chính quyền Ngụy Sài Gòn tiếp tục duy trìTòa án phong tục ở cấp tỉnh và quận Luật tục thời kỳ này được chính quyềncai trị thừa nhận cùng với một số quy định bổ sung nhằm phục vụ cho sựthống trị của họ
Hiện nay, ở một số địa phương, Tòa án phong tục thực chất vẫn tồn tại bêncạnh tòa án của chính quyền Ở một số nơi khác, Tòa án phong tục tuy khôngcòn nhưng thay vào đó là các tổ hòa giải hoạt động trên cơ sở luật tục
Như đã nói ở trên, trong điều kiện thực tế ở nước ta hiện nay, việc tiếp tục
sử dụng luật tục để điều chỉnh các quan hệ xã hội ở cộng đồng dân tộc là cầnthiết nhưng phải có chọn lọc và cách thức sử dụng phù hợp Trước hết cần xácđịnh phạm vi các quy định của luật tục có thể tiếp thu Theo em những quyđịnh này phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Một là, không trái với tinh thần của pháp luật;
- Hai là, quy định tương ứng của pháp luật (nếu có), chưa thể thâm nhậpvào đời sống thực tế của cộng đồng dân tộc;
- Ba là, quy định này có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cộng đồngtrên những phương diện nào đó
Bên cạnh các quy định đáp ứng yêu cầu nói trên (các quy định phù hợp)trong luật tục còn nhiều các quy định mà ở mức độ này hoặc mức độ kháckhông đáp ứng yêu cầu (các quy định không phù hợp) Đối với các quy địnhnày có thể xem xét, giải quyết theo các hướng sau:
- Các quy định mâu thuẫn sâu sắc với tinh thần của pháp luật cần nhanhchóng khắc phục và loại bỏ;
- Các quy định chưa thật sự phù hợp với pháp luật.Nhưng nếu các quan hệ xãhội mà chúng điều chỉnh có thể còn tồn tại tương đối lâu dài mà pháp luậtchưa có quy định cụ thể hoặc chưa thâm nhập được thì có thể dung hòa, duytrì tạm thời và khắc phục dần;
Trang 31- Các quy định tuy không mâu thuẫn với pháp luật nhưng không thúc đẩy tiến
bộ xã hội, có thể duy trì khắc phục dần về nội dung
Quá trình tiếp thu, kế thừa và phát huy giá trị của luật tục là một quá trìnhlâu dài và phức tạp, vì vậy cần xây dựng một cơ chế sử dụng và cải biến luậttục linh hoạt, có khả năng thích ứng cao trong những điều kiện và hoàn cảnhkhác nhau Với tinh thần đó, quan điểm xây dựng một Luật dân tộc tỏ rõ làhợp lý Trong luật này thiết nghĩ nên dành một phần để quy định nhữngnguyên tắc chung nhất về luật tục, những nguyên tắc sử dụng luật tục baogồm việc thừa nhận các quy định phù hợp và cách thức, mức độ sử dụng cácquy định không phù hợp
Trang 32CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ LUẬT TỤC TRÊN ĐỊA BÀN TÂY BẮC
Tây Bắc một vùng văn hoá, xứ sở hoa ban quê hương của điệu múaxoè hoa Miền đất dịu ngọt của những thiên tình sử Tiễn dặn người yêu nhưngcũng đầy tiếng than thở của những thân phận người tiếng hát làm dâu
Xã hội hiện đại với xu thế hội nhập toàn cầu đang diễn ra ở khắp mọinơi trên thế giới nói chung và ở Việt nam nói riêng Đây là xu hướng phù hợpvới sự phát triển của quy luật tự nhiên Như vậy đồng bào dân tộc thiểu sốTây Bắc không phải là những thực thể xã hội biệt lập và không thể mãi mãithu hẹp hành vi của mình trong phạm vi luật tục của bản làng Trong xã hộimới đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc phải cùng 54 dân tộc anh em trong cảnước vận hành trong một hành lang pháp lý chung đó là pháp luật của nhànước Tuy nhiên, luật tục Tây Bắc với những quy định mang tính chất tiến bộ
sẽ làm nhiệm vụ hậu thuẫn đắc lực cho pháp luật, làm mềm các quy định vốncứng nhắc của pháp luật bổ sung, bù đắp những quy định có tính khái quátcao của pháp luật trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội ở các buônlàng đồng bào dân tộc thiểu số và đặc biệt luật tục Tây Bắc chuyển đổi cácngôn ngữ hiện đại của pháp luật thành các ngôn ngữ dân gian, gần gũi vớithiên nhiên đưa pháp luật đi vào đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số TâyBắc một cách tự nhiên và hiệu quả
Mặt khác, sự tiếp cận pháp luật tuy mới chỉ là ít ỏi của đồng bào dântộc thiểu số Tây Bắc trong thời gian qua đã làm cho luật tục Tây Bắc cónhững thay đổi về chất Trong xã hội mới sự tiếp cận pháp luật của đồng bàodân tộc thiểu số Tây Bắc trên diện rộng sẽ làm cho luật tục Tây Bắc ngàycàng được sàng lọc và hoàn thiện trở thành những quy tắc ứng xử tiến bộ.Hướng hành vi của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc vừa đi vào quỹ đạochung của pháp luật nhà nước vừa không làm trái những tập quán lâu đời củabản làng
Trang 332.1 Thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục trong hoạt động thực hiện pháp luật của các tỉnh Tây Bắc
2.1.1 Những ưu điểm
- Một là, đồng bào các dân tộc thiểu số đã nhận thức được khá rõ ràng và
đầy đủ những hành vi bị pháp luật ngăn cấm Trong một số lĩnh vực quy địnhcủa luật tục như những hành vi bị coi là có tội, dân sự, hôn nhân gia đình, bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên Có nhiều nét tương đồng như những quy định củapháp luật hiện hành nên việc thực hiện pháp luật về những lĩnh vực này được
họ nhận thức một cách nhanh chóng và tuân thủ thực hiện khá cao
Trong số 1324 vụ án hình sự sơ thẩm với 1936 bị cáo mà tòa án nhân dân
3 tỉnh Lai Châu, Sơn La và Lào Cai đã xét xử trong năm 2013 chỉ có 93 vụ ánhình sự với 118 bị cáo là người dân tộc thiểu số Trong 93 vụ án hình sự nóitrên có 12 vụ án với 20 bị cáo phạm tội phá hoại chính sách đoàn kết; 41 vụ
án với 48 bị cáo vi phạm các quy định về điều khiển các phương tiện giaothông đường bộ (những tội không có quy định trong luật tục Tây Bắc), chiếmgần một phần hai số bị cáo đã xử Số bị cáo còn lại nằm rải rác trong các tội
có quy định trong luật tục Tây Bắc Số liệu này chứng minh được hầu hếtnhững quy định của pháp luật phù hợp với luật tục Tây Bắc đều được ngườiTây Bắc tuân thủ một cách khá nghiêm túc và tự giác
Khi có mâu thuẫn của các cá nhân trong bản làng gây gổ người này gâythương tích cho người kia, hoặc có vụ việc trộm cắp xảy ra người Tây Bắcthường chọn luật tục để xử lý, ít tố cáo người vi phạm với các cơ quan cóthẩm quyền của nhà nước trừ những vụ việc có tính chất quá phức tạp vànghiêm trọng Vì vậy các vụ vi phạm pháp luật đồng thời vi phạm luật tục củangười Tây Bắc rất ít được đưa ra xét xử tại tòa án Đây là một trong những ưuđiểm của mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục Tây Bắc cần được Nhà nước
ta quan tâm phát huy trong thời gian tới
Đối với lĩnh vực dân sự và hôn nhân gia đình, mối quan hệ giữa phápluật và luật tục Tây Bắc trong hoạt động tuân thủ pháp luật của người TâyBắc càng thể hiện rõ nét Luật tục Tây Bắc bảo vệ sự bền vững của hôn nhân
Trang 34bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; bảo vệ chế độ trách nhiệm giữacha mẹ, con cái và ngược lại Đồng thời luật tục Tây Bắc cấm các thành viêntrong cộng đồng lấn chiếm đất đai của nhau, cấm mua bán tài sản, vay mượntài sản của nhau mà có hành vi chiếm đoạt Kèm theo các điều cấm là cáchình thức phạt đền bằng hiện vật khá nghiêm khắc Vì vậy trong năm 2013Tòa án nhân dân 3 tỉnh trên chỉ xét xử 26 vụ án dân sự và hôn nhân gia đình
có nguyên đơn và bị đơn là người dân tộc Trong 26 vụ án dân sự và hôn nhângia đình nói trên các nguyên đơn và bị đơn đều sống xen kẽ với người Kinhxung quanh khu vực thị trấn, thị xã, thành phố
Như vậy có thể nói, các quy định của pháp luật gần gũi với luật tục TâyBắc đều được người dân lựa chọn hình thức xử lý bằng luật tục khi có viphạm Điều này cho thấy sự hỗ trợ của luật tục Tây Bắc đối với việc thực hiệnpháp luật của người Tây Bắc là khá đắc lực và khá hiệu quả
- Hai là, Trong hoạt động thi hành pháp luật đồng bào các dân tộc thiểu
số đã thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng những hành động tích cựcnhư: tham gia nghĩa vụ quân sự, đóng thuế cho nhà nước Mặc dù chưa đồngđều trong dân cư nhưng hiện nay một số đông người Tây Bắc thực hiện nghĩa
vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Theo số liệu của sở Văn hóaThể thao và Du lịch 3 tỉnh Sơn La, Lào Cai và Lai Châu cung cấp trong năm
2013 có trên 85% hộ kinh doanh nhỏ có chủ hộ là người dân tộc tự giác đóngthuế cho nhà nước số còn lại không có hành vi trốn thuế mà do kinh doanh đạthiệu quả thấp nên ghi nợ thuế và được nhà nước xóa nợ thuế theo chính sáchdân tộc của các tỉnh
Trong hoạt động chấp hành pháp luật, người dân bước đầu nhận thứcđược vai trò của pháp luật đối với đời sống của họ Một số thói quen chấphành pháp luật cũng từ đó được hình thành ở các bản làng như thói quen đóngthuế khi kinh doanh, thói quen đến tuổi trưởng thành tham gia lao động côngích, tham gia nghĩa vụ quân sự