Giao tiếp có vai trò rất quan trọng đối với quá trình xã hội hoá của mỗi cá nhân và cả với sự phát triển, tiến bộ của xã hội nói chung Trong diễn tiến của xã hội, các cá nhân có sự tác đ
Trang 1NHẬP MÔN KHOA HỌC GIAO TIẾP
NHẬP MÔN KHOA HỌC GIAO TIẾP
Nguyễn Sinh Huy – Trần Trọng Thuỷ
Chương 1: KHOA HỌC GIAO TIẾP VÀ HÀNH VI GIAO TIẾP
I GIAO TIẾP VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ GIAO TIẾP
A VAI TRÒ CỦA GIAO TIẾP TRONG XÃ HỘ
1 Giao tiếp có vai trò rất quan trọng đối với quá trình xã hội hoá của mỗi cá nhân và cả với sự phát triển, tiến bộ của xã hội nói chung
Trong diễn tiến của xã hội, các cá nhân có sự tác động qua lại vớinhau, mỗi cá nhân qua giao tiếp sẽ học hỏi được những hành vi xã hội thíchhợp và hiểu được tác dụng, ý nghĩa của những hành vi đó trong điều kiện xãhội mà họ đang sống
Nói theo quan điểm xã hội học thì đó chính là văn hoá xã hội, là các yếu
tố đảm bảo cho sự hợp tác, sự chung sống của các cá nhân trong xã hội
– Giao tiếp có tính quần chúng (Mass Commumcation) hay còn gọi làtruyền thông đại chúng (Mass Media) lại càng có vai trò và tác dụng quantrọng trong xã hội hiện đại Thuộc phạm vi này có báo chí, điện ảnh, phátthanh, truyền hình, sách báo, áp phích…; thông qua các phương tiện ấy mộtlượng thông tin văn hóa khổng lồ được chuyển tải tới mọi người Siberinan(1981) gọi chúng là những truyền bá tập thể, tức là Media Theo ông, trướckhi tính đến giai đoạn Media, xã hội loài người đã trải qua giai đoạn văn hoánói (truyền miệng) và sau đó là giai đoạn văn hóa viết mà đỉnh cao là kỹ thuật
Trang 2in Kĩ thuật in vẫn giữ vai trò quan trọng giai đoạn Media, nhưng dần dần các
Kỹ thuật truyền thanh và truyền hình ngày càng có vai trò nổi bật
Xã hội càng phát triển và càng tiến bộ thì con người càng chuyểnsang trạng thái mới của xã hội hoá và cá nhân hoá: một mặt người ta cảmthấy mình ngày càng hội nhập, gắn với cộng đồng, nhân loại: Mọi việc xảy ratrên toàn cầu như chiến tranh, xung đột sắc tộc, ô nhiễm môi trường, thiên tai,nạn khủng bố… hầu như được tất cả mọi người chứng kiến và qua cácphương tiện truyền thông cảm nhận được sự liên quan…
Nhưng mặt khác, cũng lại do các phương tiện kỹ thuật truyền thông(truyền thanh, truyền hình, điện thoại di động…) mà chúng ta cảm thấy cuộcsống mỗi cá nhân ngày càng biệt lập chia tách hơn trước với xã hội, với cộngđồng Theo Mom (1986) với kỹ thuật hiện đại, con người qua “giao tiếp côngnghệ” gắn mình với các nguồn văn hoá theo sự lựa chọn riêng và hầu nhưsống ngoài xã hội sinh động
Nhưng đôi khi toàn thế giới có thể đạt tới từng độ cao, các Media cótính quần chúng như (báo chí, phát thanh, truyền hình…) đã gây sức ép xãhội rất lớn đến mỗi cá nhân, thậm chí có thể xuyên tạc nhào nặn lại cả cácthông tin trước khi cung cấp cho mọi người Khi còn có bất công trong xã hội,các tổ chức độc quyền, lũng đoạn trong xã hội nắm các phương tiện này thìcác cá nhân sẽ mất tính độc lập, tự chủ trong suy nghĩ và hành động do chịuảnh hưởng ấy Ngày nay nhân loại rất chú ý đến ảnh hưởng của truyền hình,nhất là đối với sự phát triển trí tuệ và nhân cách của trẻ em
Như vậy là các Media có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống cá nhân, với
sự phát triển của văn hoá giáo dục nói chung Trong xã hội hiện đại, chínhcác Media chuyển tải các nội dung văn hoá và tạo ra cái gọi là “văn hoá quầnchúng”, ảnh hưởng tới sự phát triển chung
Giao tiếp không lời (Nonverbal Communication) cũng có tác dụngquan trọng Đó là sự giao tiếp bằng các cử chỉ, các biểu hiện của cơ thể củacon người Trong quá trình giao tiếp, sự vận động của cơ thể có chức năngtruyền đạt các nội dung thông tin, đồng thời biểu lộ các sắc thái xúc cảm, tìnhcảm của con người từ các phía giao tiếp với nhau Các dân tộc bán khai thiên
Trang 3về lối giao tiếp không lời Trong các công trình nghiên cứu gần đây người tacũng thấy ở các dân tộc với các nền vần hóa khác nhau cũng đều có nhữngbiểu lộ xúc cảm (yêu thương, giận dữ, buồn bã, sợ hãi…), tuy mức độ vàcách biểu hiện có khác nhau (người châu Âu, châu Phi biểu lộ tình cảm sôinổi: trái lại người châu Á kín đáo, ít biểu lộ tình cảm ở nơi công cộng).
Trong công trình nghiên cứu giao tiếp của Birdwhistell, tác giả này đãgiả định là những tư thế, cử chỉ trong giao tiếp không lời là kết quả của sự lựachọn tự nhiên – nhưng các cử chỉ này tự nó không có ý nghĩa gì, mà chúngchỉ trở nên có ý nghĩa khi đặt trong mối tương tác giữa các cá nhân Trongtrường hợp này, văn hoá có vai trò rất quan trọng – bởi vì thông qua văn hóa,người ta lựa chọn từ hàng ngàn cử động của thân thể để tạo thành hệ thốnggiao tiếp (văn hoá) đúng với ý nghĩa của nó
2 Tầm quan trọng của các kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống con người
Trong cuộc sống, xây dựng được mối quan hệ với người khác là mộtnhu cầu có tính bắt buộc của con người
Một người bình thường bao giờ cũng mong muốn có quan hệ với ngườikhác, nhất là khi có những nhu cầu riêng tư muốn được đáp ứng, thoả mãnqua việc tương giao, ảnh hưởng lẫn nhau Sự thành công trong sự nghiệp,hạnh phúc gia đình, tình cảm bạn bè – tất cả đều tuỳ thuộc vào việc xây dựng
và duy trì các mối quan hệ giao tiếp với mọi người
Giao tiếp chính là khía cạnh đặc biệt nhất, là tiềm năng thể hiện niềmhân hoan, sự vui thích, hứng thú trong sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau tạocho nhau sự ấm cúng, thúc đẩy mỗi người tự hoàn thiện mình trong mốitương giao với người khác
Tình bạn sâu sắc, đằm thắm trong cuộc sống đời thường, tuổi trẻ, quan
hệ tình yêu… tạo ra sự hoà nhập với người khác giới – tất cả chính là cácnhân tố thúc đẩy con người sống hoà hợp, gắn bó với nhau, cùng phấn đấucho mục đích chung, làm cho cuộc sống có ý nghĩa và ngày càng đậm đà,phong phú hơn
Trang 4Nói cụ thể hơn, cuộc sống của mỗi chúng ta có ngày càng hoàn chỉnh,phong phú, có ý nghĩa và ta cảm thấy thoả mãn hay không là tuỳ thuộc vàotính chất của các mối quan hệ giữa ta và người khác; điều đó nói lên rằngtrong cuộc sống của mỗi người, nếu chúng ta muốn có hạnh phúc cá nhânđích thực thì phải tự khẳng định mình và thông qua các mối quan hệ vớinhững người khác mà góp phần xây dựng hạnh phúc chung của toàn xã hội.
Mối quan hệ giao tiếp giữa người và người, như trên đã nêu là rất thiếtyếu đối với hạnh phúc cá nhân ở nhiều khía cạnh khác nhau: tương giao,quan hệ giúp chúng ta tích luỹ tri thức, hiểu thấu đáo về “thế thái nhân tình”;giao tiếp, hội nhập giúp ta hiểu rõ mình hơn, hình thành được phẩm chấtnhân cách theo hướng tích cực và thuần phác, tạo ra sự hài hoà cân đối trongcuộc sống vật chất và tinh thần
Không thể hình dung sự phát triển nhân cách của mỗi người mà không
có sự phát triển đồng thời các phẩm chất, năng lực của cá nhân với sự pháttriển của người khác, bởi vì sự phát triển các mối tương quan này luôn luôndiễn ra song song, phụ thuộc lẫn nhau
Đặc biệt là đối với trẻ em; chúng cần được lớn lên, được nuôi dưỡng,săn sóc và giáo dục trong mối quan hệ với gia đình; nhà trường và xã hội –nhất là khi bắt đầu rời gia đình, vào học ở nhà trường Ở đây, các mối quan
hệ giao tiếp với bạn bè, với mọi người đột ngột được mở rộng Sau này lớnlên khi đi làm, mối giao tiếp với xã hội, với những đống nghiệp của chúng tacàng ngày càng mở rộng và phức tạp hơn Nhìn chung từ gia đình, các bạn
bè cùng trang lứa, đồng nghiệp, thầy cô giáo mà con người lần lượt thu nhận,thể nghiệm được các hiểu biết, các kỹ năng, hình thành được khả năng mới,
có thái độ rõ ràng, sâu sắc Những điều này rất có ý nghĩa đối với sự pháttriển nhân cách của bản thân Cùng với thời gian, và sự trưởng thành, sốlượng các quan hệ với những người mà chúng ta cần có quan hệ, giao tiếpngày càng đông càng phức tạp thêm mãi Điều này cũng có nghĩa là nhờ giaotiếp, và thông qua giao tiếp mà chúng ta xây dựng quan hệ lành mạnh với mọingười xung quanh Sự tăng trưởng và phát triển của chúng ta về tri thức, về ýthức xã hội ở các mức độ nhất định được quyết định bởi tính chết của các
Trang 5mối quan hệ giao tiếp với mọi người xung quanh và trên thực tế, bản sắc cánhân của mỗi người được hình thành trong quá trình quan hệ giao tiếp vớimọi người Mỗi khi giao tiếp, tương tác với người khác, chúng ta có dịp quansát, ghi nhận các phản ứng, các thái độ phản hồi của họ, nhờ đó mà biết cách
tự tìm hiểu, nhìn nhận, đánh giá mình qua thái độ và cách nhìn nhận của họđối với bản thân ta một cách sinh động, chân thực và khách quan: khi đượcđánh giá cao, ta thiên về sự phấn đấu để xứng đáng như vậy Chúng ta sẽ códịp học hỏi những điều hay rút ra từ quan hệ giao tiếp với người khác, từ đó
tự tin hơn, tự khẳng định được mình Hơn thế nữa khi chúng ta tìm hiểu thếgiới xung quanh – để có thể tin tưởng, phê phán cái gì là ảo tưởng cái gì làchân lý, một phần chúng ta cũng học hỏi, rút ra được từ trong các quan hệgiao tiếp mà củng cố nhận thức và cảm nghĩ của chính mình Thậm chí cả khichiêm ngưỡng một cảnh đẹp, ngâm một bài thơ, thưởng thức một áng văn,một tác phẩm nghệ thuật, để có thể kiểm chứng cảm nghĩ và kiến thức củamình, chúng ta đều cần phải trao đổi “thông tin” với người khác và tốt hơn cả
là chia sẻ cách hiểu, cách cảm ấy thông qua quan hệ giao tiếp với mọi người
Ngay cả sức khoẻ và tâm lý của một người cũng cần được xây dựngtrên mối quan hệ tương tác với những người khác Theo Johnson (1980), khảnăng xây dựng và duy trì các mối quan hệ hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau vớinhững người khác thường được xem như là sự biểu lộ sơ khởi của sức khoẻtâm lý Một số người vì một vài lý do nào đó không thể xác định nổi mối quan
hệ giao tiếp với mọi người, thường có thái độ lo âu, suy nghĩ, bất lực và côđơn Hầu như kỹ năng giao tiếp vụng về cũng là sự biểu lộ nguyên nhân củatâm bệnh ở người
Chúng ta, những người bình thường cần phải tham gia vào đời sốngcộng đồng, và thông qua các quan hệ giao tiếp giao lưu trong đời sống ấy màgiữ lấy tâm hồn lành mạnh, tạo ra sự bình an trong cuộc sống Các công trìnhnghiên cứu về xã hội học y học cho thấy nhiều bệnh trầm trọng như bệnh timmạch, bệnh tâm thần… thường xảy ra nhiều hơn ở những người luôn luôn bị
cô lập, bị ức chế về tâm lý và có cuộc sống cô đơn không bình thường Chính
“cuộc sống bình thường” mà chúng ta thường quan niệm đã được tạo ra nhờ
Trang 6mối giao tiếp với người khác và tạo cho chúng ta cơ hội để đáp ứng lẫn nhau,khẳng định nhau, trở thành con người có văn hoá, có sức khoẻ, có giá trị và
“bình thường”
Với quan điểm hoà nhập, cởi mở hơn để xem xét mối quan hệ giaotiếp và tác dụng của nó, chúng ta khẳng định rằng: sự tiến hoá và sự tồn tại –phát triển có ý nghĩa của loài người luôn luôn gắn chặt với khả năng conngười đề xuất tạo lập và phát triển được mối quan hệ giao tiếp ổn định vớimọi người
Theo con đường phát triển và tiến hoá, chúng ta được sinh ra, đượcnuôi dưỡng và phát triển trong quan hệ gắn bó với mọi người thước hết ở giađình), được giáo dục bởi người khác về văn hoá – đạo đức, khoa học, ngônngữ…, được học và rèn luyện một cách sáng tạo theo khuôn mẫu các giá trịcủa xã hội, trong một nền văn hoá đích thực
Nền tảng của mọi nền văn minh và của mọi xã hội được sáng tạo, lưutruyền, phát triển thông qua khả năng loài người hợp tác với nhau, cùng phốihợp hành động để đạt tới mục tiêu chung Xã hội càng phát triển càng trở nênphức tạp; ảnh hưởng tới đời sống xã hội của khoa học kỹ thuật càng mạnh
mẽ thì vai trò của giao tiếp giữa người và người càng có ý nghĩa sâu sắc vàmang tính nhân văn Cho dù kinh tế phát triển, khoa học và công nghệ đem lạimức sống và lối sống cao đến đâu thì con người vẫn phải hợp tác, liên kết vớinhau vì lợi ích, hạnh phúc chung, chia sẻ ngọt bùi, trao đổi với nhau về tàinguyên, về sản vật, hàng hoá và cùng nhau làm lụng mưu cầu hạnh phúc chonhau vì một xã hội văn minh, hiện đại
Cái khó nhất ở đây là chúng ta phụ thuộc vào nhau khá chặt chẽ, chonên lại cần trang bị cho nhau kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết trong giaotiếp hàng ngày Trong một xã hội tốt đẹp thì phần đông con người và hoạtđộng của họ dường như dựa trên tình thương yêu đùm bọc, mến mộ nhaugiữa người và người
Con người có bản chất là con người xã hội Niềm hạnh phúc và sựhoàn thiện của mỗi chúng ta phụ thuộc khá nhiều vào khả năng xây dựngquan hệ tốt đẹp và biết giao tiếp với người khác một cách có định hướng, có
Trang 7hiệu quả Nếu thật sự có tính nhân loại, có tính hướng thiện ở con người thìcác tính đó trước hết phải thể hiện thông qua sự hội nhập vào các nền vănhoá của những con người, nhờ đó thể hiện được bản sắc, bản lĩnh người củamình, trước hết xuất phát từ việc giao tiếp và thông qua giao tiếp Rất nhiều
từ ngữ, thể hiện mối tương quan này, phản ánh tính chất của các quan hệtrong giao tiếp như lòng tử tế, lòng nhân từ, đức khoan dung, sự suy xét, tínhdịu dàng, tình yêu sự thông cảm, sự quan tâm, sự đáp ứng, sự tế nhị trongquan hệ – tất cả vừa là đạo đức, vừa mang tính nhân đạo cao
Hướng vào việc xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng văn minh”, trước hết chúng ta phải xây dựng được quan hệ đoànkết, gắn bó và hợp tác với nhau coi trọng vai trò của giao tiếp
B CÁC QUAN NIỆM TRIẾT HỌC VỀ GIAO TIẾP
Trước đây, trong một thời gian dài, giao tiếp chỉ được xem như là mộtphạm trù của triết học duy tâm nghiên cứu về hoạt động giao tiếp giữa ngườivới người, qua đó cái “tôi” được biểu lộ ở người khác
Giao tiếp được nghiên cứu đầy đủ trong Chủ nghĩa hiện sinh củaIaxpecxơ Cáclơ (1883 – 1969) đại diện cho những người theo chủ nghĩa hiệnsinh Đức Ông là bác sĩ tâm thần, sau chuyển sang nghiên cứu triết học) vàtheo chủ nghĩa nhân cách Pháp hiện nay
Về lịch sử, thuyết giao tiếp được hình thành để đối lập lại thuyết “khếước xã hội” bắt nguồn từ phong trào khai sáng (trào lưu chính trị xã hội chủtrương thay đổi xã hội hiện tại)
Những người theo thuyết giao tiếp như Iaxpecxơ, O Bonnốp, E.Muniê… nhấn mạnh rằng khế ước xã hội về cơ bản chỉ “là một sự thoả thuận,một sự hợp đồng trong đó những người tham gia bị hạn chế bởi những lờicam kết từ hai phía; họ chỉ tự giác và hiểu nhau dưới ánh sáng của các lờicam kết này, tức là một cách trừu tượng, không có cá tính” (Từ điển Triếthọc)
Trang 8Khế ước – theo họ đó là một liên hệ dựa trên sự chia tách thực tế củanhững con người Còn giao tiếp thì được xem là một sự lệ thuộc lẫn nhauđược thiết lập một cách tự giác và đối lập lại khế ước.
Biện pháp để xác lập sự giao tiếp là tranh luận và trong quá trình này,người ta thấy rõ ràng các tiêu chuẩn tư duy được mọi người thừa nhận lạichia tách họ ra, còn những điều làm họ gắn bó nhau lại là ở chỗ họ khác nhaumỗi người mỗi vẻ “Mỗi người mỗi vẻ” thật ra là những điều sợ hãi, lo lắng vàbăn khoăn chủ quan được che đậy công phu, trong đó con người theo cáchriêng của mình, rút cuộc lại chỉ thấy mình trên thực tế bị lệ thuộc vào một tậpđoàn xã hội nhất định trong xã hội hiện tại
Do đó tranh luận chẳng qua là để làm rõ tính chất lệ thuộc ấy và họcthuyết về giao tiếp phải tìm ra mối liên hệ có tính biện chứng giữa những “conngười xã hội” với nhau
Hoạt động giao tiếp thật ra vốn tồn tại trong đời sống xã hội từ khi xãhội loài người xuất hiện Trong các lễ hội, hoạt động giao lưu kinh tế, văn hoácác miền cổ đại (La Mã, Hy Lạp, Trung Hoa, Ấn Độ, Đông Nam Á…), các dântộc đã có những giao lưu văn hoá còn được ghi nhận trong các văn vật, trongcác truyền thuyết, trường ca cổ đại (trường ca Iliát Ôđixê; Kinh thi, Trường caĐam San…)
Những hình thức giao lưu, giao tiếp về văn hoá, kinh tế gắn liền vớitrình độ văn minh và quá trình phát triển tiến bộ của xã hội loài người
Ngày nay, vận dụng triết học duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vậtlịch sử, chúng ta đi đầu nghiên cứu về giao tiếp tìm ra những yếu tố hợp lý đểphát triển, tiếp cận với nhu cầu phát triển và tiến bộ của xã hội hiện nay
Tất nhiên chúng ta vừa gạt bỏ các định kiến hẹp hòi đối với việc nghiêncứu về giao tiếp trước đây nhưng mặt khác, vừa thừa nhận rằng nhiều tác giả
ở thế kỉ 18 chủ trương làm thay đổi phong tục, tập quán, chính trị… bằngcách phổ biến cái thiện, chính nghĩa và khoa học Đại diện cho họ là Vônte,Rútxô, Môngtextkiơ, Hécde, Letinh, Silơ, Gớt… Đây là phong trào có ảnhhưởng lớn đến các quan điểm xã hội ở Tây Âu hồi đó cho rằng giao tiếp giữa
Trang 9người và người là nhu cầu nảy sinh gắn liền với những điều kiện lịch sử pháttriển của xã hội trong từng giai đoạn nhất định.
Những yếu tố như thời gian, không gian, các thể chế xã hội, phong tụctập quán trong một xã hội… luôn luôn quy định phạm vi mức độ của các hoạtđộng giao tiếp
Như vậy, cũng như hoạt động văn hoá, sự giao tiếp của con người luônluôn mang tính chất lựa chọn, kế thừa và phát triển những thành tựu, tinh hoacủa các thế hệ đi trước truyền lại và góp phần xây dựng nên nền văn hoácũng như trình độ văn minh của một dân tộc, một quốc gia
Nghiên cứu về giao tiếp để lĩnh hội hết ý nghĩa, nội dung sâu xa của nóphải gắn liền với việc nghiên cứu về lịch sử văn hoá, về văn hoá học nóichung
II KHÁI NIỆM GIAO TIẾP VÀ CÁC CÁCH TIẾP CẬN
A KHÁI NIỆM GIAO TIẾP
Trong những lúc thức tỉnh, con người thường xuyên đang giao tiếp theonhững cách khác nhau và trong những môi trường khác nhau, vừa gửi và vừanhận các thông điệp Người lớn sử dụng 42,1% tổng số thời gian giao tiếpbằng ngôn ngữ của mình cho việc lắng nghe, trong khi đó sử dụng 31,9% thờigian giao tiếp của mình cho việc nói Chỉ có 15% thời gian giao tiếp của chúng
ta dành cho việc đọc và 11% cho việc viết (Paul Tory Rankin, 1930)
Hằng ngày, bạn có thể nói chuyện vôi các bạn bè của mình, lắng nghecác thành viên trong gia đình, nhận được các thư từ, quan sát và phản ứngvới các cử chỉ, điệu bộ và nét mặt của những người khác, thậm chí tiếp tụccác cuộc “trò chuyện” với bản thân mình Bạn – giống như mọi người – là mộtcon người giao tiếp Mỗi ngày, tuỳ theo những khả năng của mình chúng tanói, lắng nghe, viết, đọc suy nghĩ và giải thích các thông điệp Không cónhững khả năng này thì chúng ta sẽ mất đi nhiều thứ mà loài người đã tạo racho chúng ta
Giao tiếp của con người là một quá trình có chủ định hay không chủđịnh, có ý thức hay không ý thức mà trong đó các cảm xúc và tư tưởng đượcbiểu đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ Giao tiếp
Trang 10của con người được diễn ra ở các mức độ: trong con người (intrapersonal),giữa con người với con người (interpersonal) và công cộng (public) Giao tiếpcủa con người là một quá trình năng động, liên tục, bất thuận nghịch tác độngqua lại và có tính chất ngữ cảnh (David K Berlo, 1960).
Giao tiếp trong con người xảy ra trong bản thân con người Nó gồm cáchoạt động như quá trình suy nghĩ (tư duy), ra quyết định cá nhân và xác địnhkhái niệm về bản thân Giao tiếp giữa con người với con người là sự giao tiếp
mà từ đó những người tham gia trao đổi các cảm xúc và tư tưởng với nhau.Các hình thức của giao tiếp giữa con người với con người là nói chuyện,phỏng vấn và thảo luận theo nhóm nhỏ Giao tiếp công cộng có đặc điểm làmột người nói gửi một thông điệp cho một đám đông thính giả Giao tiếp côngcộng có thể là trực tiếp như: một thông điệp mặt đối mặt mà người nói chuyểntới một đám đông thính giả, hoặc là gián tiếp như: một thông điệp nhận đượcthông qua một phương tiện truyền thông đại chúng như radio hay tivi
Giao tiếp của con người là một quá trình năng động bởi vì nó thưởngxuyên ở trong trạng thái thay đổi Vì thái độ, kì vọng, cảm xúc và tình cảm củacác cá nhân đang giao tiếp thay đổi, nên bản chất của sự giao tiếp của họcũng thay đổi
Giao tiếp là một quá trình liên tục bởi vì nó không dừng lại Dù là đangngủ hay thức dậy, mỗi chúng ta đều đang chế biến các tư tưởng và thông tinqua các giấc mơ, sự suy nghĩ và biểu cảm của chúng ta Bộ não của chúng tacòn hoạt động thì chúng ta còn đang giao tiếp
Giao tiếp là một quá trình bất thuận nghịch (không đảo ngược được).Một thông điệp vừa mới được gửi đi là nó không thể bị huỷ bỏ Điều vừa mớiđược hé miệng ra, một cái nhìn thoáng qua đầy ý nghĩa vừa mới được ghinhận, hay một lời nói đầy tức giận vừa trót thốt ra… đều không thể xóa bỏđược Chúng ta có thể xin lỗi hay phủ nhận, nhưng điều đó không trừ khửđược những gì đã xảy ra
Giao tiếp là một quá trình tác động qua lại Chúng ta thường xuyên tiếpxúc với người khác và với bản thân mình Người khác phản ứng lại những lờinói và hành động của ta, và mỗi chúng ta cũng phản ứng lại lời nói và hành
Trang 11động của chính mình Lần lượt, chúng ta phản ứng với những phản ứng đó.Như vậy là, một chu kì các hành động và phản ứng trở thành cơ sở cho sựgiao tiếp của chúng ta.
Quá trình giao tiếp đầy phức tạp này có tính chất ngữ cảnh, bởi vì mộtphần kinh nghiệm của cả nhân loại là rất lớn Sự phức tạp của giao tiếp nóilên rằng, với tư cách là những người giao tiếp, chúng ta phát triển sự nhậnthức và các kỹ xảo để hoạt động một cách có hiệu quả theo kinh nghiệm đó.Với tư cách là những người giao tiếp, chúng ta tham gia vào quá trình nàycủa loài người cả trong lĩnh vực nghề nghiệp, lẫn cả trong lĩnh vực cuộc sống
cá nhân của mình
Nội dung giao tiếp: Con người trao đổi những gì với nhau trong quátrình giao tiếp? Giao tiếp có mặt trao đổi thông tin, thông điệp Nội dung củacác thông tin, thông điệp đó tạo thành nội dung giao tiếp Giao tiếp của conngười có những nội dung sau:
Các trí thức khoa học và đời sống Chẳng hạn, giáo viên truyền thụ chosinh viên những kiến thức chuyên môn; Cha mẹ bồi dưỡng cho trẻ thơ nhữnghiểu biết về đời sống xã hội, tự nhiên…
Các kỹ năng, kỹ xảo Ví dụ, giáo viên dạy nghề truyền thụ cho học viênnhững kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cụ thể trong quá trình đào tạo họ
Nội dung giao tiếp cũng có thể là con người: bề ngoài, các đặc điểmtính cách của họ, cung cách hành vi của họ v.v… Chúng ta gặp bạn bè, ngườithân, chúng ta phấn khởi, vui mừng được trông thấy nhau, được ở bên nhau,
“được thở hít chung một bầu không khí”
Công việc, nhiệm vụ, sự thực hiện và giải quyết các nhiệm vụ đó của cánhân, nhóm hay tập thể cũng là một nội đung giao tiếp hàng ngày Các cán bộgiảng dạy thảo luận về kế hoạch giảng dạy của năm học chẳng hạn, là một ví
dụ về loại nội dung giao tiếp này
Quan hệ và quan hệ qua lại được thực hiện trong giao tiếp cũng là nộidung đặc biệt của giao tiếp, đem lại cho nó một bản sắc độc đáo, quyết địnhcác phương tiện và cung cách giao tiếp Toàn bộ hệ thống giao tiếp của cá
Trang 12nhân phụ thuộc vào chỗ các mối quan hệ qua lại đã được hình thành như thếnào.
Tất cả những điều kể trên chỉ là những dấu hiệu đặc trưng riêng lẻ củanội dung giao tiếp Các đề tài giao tiếp cụ thể ở mỗi người thì có nhiều và đềtài giao tiếp càng phong phú, đa dạng thì phạm vi giao tiếp của con ngườicàng lớn, nhân cách của họ càng phong phú, súc tích
Các chức năng của giao tiếp Trong cuộc sống con người, giao tiếpthực hiện các chức năng quan trọng Đó là:
Tổ chức hoạt động phối hợp cùng nhau của con người Con ngườiluôn luôn cần có sự giúp đỡ của người khác Họ luôn luôn sống, hoạt độngbên cạnh những người khác và cùng với những người khác Ngay từ đầu đãbộc lộ mối liên hệ duy vật giữa con người với nhau Mối liên hệ này là donhững nhu cầu và phương thức sản xuất quyết định “Từ lúc đầu loài người
đã phải đấu tranh với tự nhiên để sống còn, như chống thú dữ, chống mưanắng… Muốn thắng lợi thì mỗi người phải dựa vào lực lượng của số đôngngười, tức là của tập thể, của xã hội Riêng lẻ từng cá nhân thì nhất địnhkhông thể thắng nổi tự nhiên, không sống được” (Hồ Chí Minh) Không cógiao tiếp thì con người không thể trao đổi kinh nghiệm, thống nhất mục đích,phương pháp hành động được, do đó hoạt động phối hợp cùng nhau cũngkhông thể có được
Làm cho con người nhận thức được lẫn nhau (Xem mục “Tri giác xãhội” ở Chương III)
Hình thành và phát triển các mối quan hệ liên nhân cách Đây là chứcnăng quan trọng và phức tạp nhất Sự phân tích chức năng này đòi hỏi phải
có sự nghiên cứu phức hợp không phải chỉ của Tâm lý học, Xã hội học, Đạođức học, mà cả Kinh tế học nữa Các quan hệ đồng chí bạn bè, hay ngượclại, thù địch, căm thù v.v… được hình thành như thế nào? Cơ chế tâm lý củacác hiện tượng đó ra sao Vai trò của chúng trong sự phát triển của cá nhânnhư thế nào?
Trang 13– Hai chức năng trên được thực hiện như thế nào phụ thuộc Vàonhững mối quan hệ được hình thành giữa những người giao tiếp với nhau.(Xem mục “Quan hệ liên nhân cách” ở Chương III).
– Trong hành động giao tiếp trực tiếp thực tế thì tất cả chức năng kểtrên được thể hiện một cách thống nhất Đồng thời chúng được thể hiện thếnày hay thế kia đối với mỗi người tham gia giao tiếp theo những cách khácnhau Ví dụ, đối với người này thì hành động giao tiếp được bộc lộ như là sựtruyền tin, đối với người khác lại bộc lộ trong chức năng giải toả xúc cảmcăng thẳng Các chức năng tổ chức hoạt động phối hợp, tri giác lẫn nhau vàquan hệ liên nhân cách cũng không giống nhau đối với những người tham giagiao tiếp
Đến đây chúng ta thấy rõ giao tiếp là một phương thức thể hiện củabản chất người, chính trong giao tiếp và chỉ thông qua giao tiếp bản chấtngười của chúng ta mới được thể hiện Được hình thành trong quá trình laođộng; giao tiếp là tiền đề tất yếu, quyết định sự nảy sinh –và phát triển củahình thái hoạt động tâm lý đặc trưng của con người – ý thức Chức năng khởiđầu của ý thức con người là chức năng định hướng trong môi trường xungquanh con người, thiết lập mối liên hệ với các sự vật được lôi kéo và phạm vihoạt động của họ, với những người khác
Cùng với ý thức, ngôn ngữ cũng là sản phẩm của giao tiếp, nó nảy sinh
để đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin của con người nhằm mục đích thốngnhất các nỗ lực của mình và tác động qua lại có hiệu quả nhất
Giao tiếp là điều kiện tồn tại và là nhu cầu hữu cơ của con người Khimới ra đời, trẻ sơ sinh là một thực thể bất lực Nếu không được giao tiếp vớingười lớn, những người nuôi dưỡng, thì đứa trẻ không tồn tại được, càngkhông thể phát triển được Nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu xãhội cơ bản và xuất hiện sớm nhất ở con người Sự không thoả mãn nhủ cầunày sẽ gây nên ở con người – thuộc bất kì lứa tuổi nào “những trải nghiệmtiêu cực, những sự lo âu, chờ đợi một cái gì không hay xảy ra mặc dù không
có gì đe doạ họ cả” Con người là nhu cầu quan trọng nhất của con người.Con người sẽ mất mát nhiều, nếu họ không thể so sánh mình với người
Trang 14khác, không thể trao đổi những ý nghĩ của mình với ai, không thể hướng tớimột ai được Căm thù một ai đó còn tốt hơn sống cô độc… Sự thờ ơ, lãnhđạm, cũng như thái độ dửng dưng có khác nào như chết vậy” (R Noibert).
B CÁC CÁCH TIẾP CẬN HIỆN TƯỢNG GIAO TIẾP
Phần trình bày ở trên đã cho thấy giao tiếp là một quá trình phức tạp,nhiều mặt, nhiều mức độ của sự tác động qua lại về mặt tâm lý – xã hội giữacon người với con người Trong giao tiếp có các mặt: trao đổi thông tin, tácđộng lẫn nhau, nhận thức, hiểu biết lẫn nhau Do đó có nhiều cách tiếp cậnđối với hiện tượng giao tiếp
Trước hết giao tiếp là một vấn đề của Tâm tý học (tâm lý học đạicương, tâm lý học xã hội) Trong quá trình giao tiếp, con người có sự tiếp xúctâm lý thực sự với nhau, hình thành các mối quan hệ và quan hệ liên nhâncách với nhau Giao tiếp là một nhu cầu xã hội cơ bản của con người, là điềukiện của sự tồn tại và phát triển con người như là một nhân cách Mặt cơ bảnnhất của giao tiếp chính là nhu cầu về sự quan tâm, sự thiện chí, sự hiểu biết,cảm thông, tán đồng… nghĩa là nhu cầu về sự tiếp xúc tình cảm với ngườikhác Tất cả những vấn đề đó là đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học
Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp quan trọng đặc trưng của conngười Trong giao tiếp con người sử dụng cả ngôn ngữ nói lẫn ngôn ngữ viết
và cả phương tiện tiếp cận ngôn ngữ (giọng nói – paralanguage) Do vậy giaotiếp cũng được Ngôn ngữ học nghiên cứu, với các khía cạnh ngôn ngữ trongquá trình giao tiếp của con người
Trao đổi thông tin là một mặt không thể thiếu được của giao tiếp Trongquá trình giao tiếp, con người gửi và nhận các thông điệp – thông tin vớinhau Các thông tin này được người gửi mã hoá và người nhận giải mã theomột hệ thống ký hiệu nhất định Vì vậy, hiện tượng giao tiếp cũng được xemxét, khảo cứu từ góc độ của lý thuyết thông tin
Giao tiếp của con người diễn ra trong những môi trường văn hoá, trongnhững nền văn hoá nhất định Trong mỗi nền văn hoá đó, con người sử dụngmột thứ tiếng nhất định, một hệ thống các phương tiện phi ngôn ngữ nhất
Trang 15định để giao tiếp Giữa các nền văn hoá khác nhau cũng có sự giao tiếp vớinhau Mặt khác, để phát triển những mối quan hệ giữa con người với conngười một cách tốt đẹp, để sự giao tiếp của mỗi người có hiệu quả, cộngđồng cũng như mỗi cá nhân cũng cần phải có một văn hoá giao tiếp nhấtđịnh Như thế, giao tiếp còn được tiếp cận từ góc độ Văn hoá học.
Xã hội học cũng nghiên cứu hiện tượng giao tiếp ở góc độ đây là mộthiện tượng mang bản chất xã hội và chức năng xã hội
Cuối cùng, giao tiếp cũng còn là đối tượng nghiên cứu của triết học, vìtriết học là một khoa học bao trùm lên các khoa học, nó nghiên cứu cácnguyên tắc tư tưởng, nguyên tắc phương pháp luận trong việc nghiên cữugiao tiếp như là một nhân tố của hoạt động sống của con người và mộtphương thức thể hiện của bản chất người
Tóm lại, giao tiếp không phải là đối tượng nghiên cứu của riêng mộtngành khoa học nào cả Với tính chất nhiều mặt, nhiều mức độ và phức tạpcủa mình, giao tiếp là một đối tượng khoa học liên ngành: tâm lý học đạicương và tâm lý học xã hội, tâm lý học và xã hội học, tâm lý học và ngôn ngữhọc, tâm lý học và lý thuyết thông tin v.v…
III CẤU TRÚC CỦA HÀNH VI GIAO TIẾP
A MÔ HÌNH GIAO TIẾP
Trong quá trình giao tiếp phức tạp của con người, để có thể nhận dạngđược các bộ phận cấu thành của nó là vấn đề không đơn giản Ngoài ra:chúng ta còn phải hiểu cả sự ăn khớp những thành tố đó Có một cách thôngdụng để làm việc đó là xem xét quá trình giao tiếp thông qua một mô hình mà
nó có thể minh hoạ được các nhân tố khác nhau có liên quan nhau như thếnào
Bất cứ một mô hình nào cũng phải đơn giản, hơn nữa, giao tiếp không
có sự bắt đầu và kết thúc một cách rõ ràng mà một mô hình có thể gợi nên.Tuy vậy, mặc dù có những giới hạn này, các mô hình vẫn có thể giúp chúng
ta thấy được các thành tố của giao tiếp một cách tổng quan, để có thể phântích và hiểu được chúng
Trang 16Mặc dầu có nhiều cách mô tả hành vi giao tiếp, chúng tôi chọn 3 cách
để minh hoạ cho quá trình giao tiếp: mô hình tuyến tính, mô hình tác độngqua lại và mô hình giao dịch
1 Mô hình tuyến tính về giao tiếp
Công trình lý thuyết ban đầu về giao tiếp bằng ngôn ngữ đã được thở
ra từ các nhà tu từ học La Mã và Hi Lạp cổ đại những người quan tâm đếnviệc đào tạo các nhà hùng biện một cách đúng đắn Vì lý do này, các họcthuyết ban đầu về giao tiếp đã nhấn mạnh đến vai trò của diễn giả trước quầnchúng, chúng phản ánh cái có thể được gọi là quan điểm một chiều về giaotiếp, cho rằng một người có thể thực hiện những hành động nhất định theomột trình tự nhất định trong khi phát biểu và gợi ra những câu trả lời nhất địnhtheo mong muốn từ phía thính giả Điều này cớ thể được biểu đạt là mô hìnhtuyến tính (một chiều) về giao tiếp (xem H.1)
Theo mô hình này thì diễn giả mã hoá một thông điệp và gửi nó tớingười nghe thông qua một hay nhiều kênh giác quan Người nghe, sau đó,tiếp nhận và giải mã thông điệp này Ví dụ, sau khi bạn mua một cái máy tính,bạn nghe thông điệp ghi ở trong băng của nhà sản xuất Đĩa này giải thíchcách nhét đĩa điều hành hệ thống và bật máy tính như thế nào Khi bạn làmtheo hướng dẫn đó và máy tính hoạt động thì quá trình giao tiếp đã thànhcông
Tuy nhiên, cần phải thấy rằng mặc dù thường là cần thiết, nhưng việcgiao tiếp một chiều có hiệu quả hạn chế Để minh hoạ điều này, ta hãy xétmột ví dụ khác Hùng (người nói) nói rằng “Xin hãy đặt quyển sách lên bàn”
Sau đó anh ta quay lại và ra khỏi phòng Hoa (người nghe) có một giásách trước mặt, nhưng không đoán chắc được là cuốn sách nào cần phải đặtlên bàn
Trong ví dụ này, Hùng đang tạo ra một sự thừa nhận khá thôngthường Rất nhiều người cho rằng nếu họ nói (hoặc viết) cái gì đó thì việc gửithông điệp này là toàn bộ sự giao tiếp Nhưng sự ngộ nhận theo một nguồnnày đã “bỏ qua vai trò quan trọng của người nghe trong việc phúc đáp (và do
đó tác động) đến người gửi và thông điệp để cung cấp sự phản hồi Sự phản
Trang 17hồi này có thể cho phép người gửi kiểm tra để biết liệu cái mệnh lệnh cóđược hiểu không, cách giải quyết có được chấp nhận không, thông điệp có rõràng không, kênh có được mở không” (Roy Berco, Andrew Wolvin and RayCurtis, 1986).
Bất cứ khi nào có thể thì những người giao tiếp cũng nên cố gắng giaotác với nhau để có thể phát hiện ra sự giao tiếp của họ thực sự có hiệu quảnhư thế nào Ví dụ sự phân tích của Hùng về số hiệu của những cuốn sáchsẵn có để chọn có lẽ đã dẫn đến kết luận rằng nó cần phải cụ thể hơn Hơnnữa, nó có lẽ đã một câu hỏi như “Bạn có biết tôi muốn cuốn sách nàokhông?” Hoặc anh ta có thể đợi cho đến khi Hoa đặt cuốn sách xuống đểthấy rõ liệu cô ấy đã hiểu anh thưa? Nếu cô ấy không hiểu thì sau đó anh ta
có thể sửa lỗi của mình bằng cách nêu cụ thể hơn trong cách hướng dẫn củamình
Khi không thể mở ra mối giao tác để phát hiện như phải có, chẳng hạnđối với người phát tin trên đài phát thanh hoặc vô tuyến, phóng viên báo chí
và tác giả các cuốn sách, thì cần phải lưu ý đặc biệt đến việc phân tích trước
về thính giả để người giao tiếp / nguồn có thể cố gắng sử dụng ngôn ngữthích hợp nhất, cũng như làm rõ các ví dụ, làm sáng sủa các cấu trúc để tránh
“tiếng ồn” trong giao tiếp
2 Mô hình tác động qua lại về giao tiếp
Mô hình tuyến tính về giao tiếp không tính đến mọi biến thiên, mọi đổithay trong quá trình giao tiếp Dĩ nhiên đây là một mô hình “người nói – ngườinghe” đơn giản Vì nguyên nhân này, một số nhà khoa học ban đầu về hành
vi, chịu ảnh hưởng của các nghiên cứu trong tâm lý học, đã mở rộng ý niệm
về quá trình này thành cái mô tả sự liên hệ qua lại lớn hơn và chứng minhđộng lực, bản chất đang diễn ra của giao tiếp Mô hình tác động qua lại vềgiao tiếp được trình bày ở Hình 2
Trong mô hình này thì nguồn mã hoá thông điệp và gửi nó tới ngườinhận thông qua một hay nhiều kênh giác quan Người nhận tiếp nhận và giải
mã thông điệp này như trong giao tiếp tuyến tính, nhưng sau đó có sự khácbiệt lớn: người nhận mã hoá phản hồi (một phản ứng hay các phản ứng) và
Trang 18gửi phản hồi này tới nguồn, vậy là quá trình trở thành hai chiều Rồi sau đó,nguồn giải mã thông điệp phản hồi căn cứ theo thông điệp gốc đã được gửi
và phản hồi đã được nhận, sau đó nguồn mã hoá một thông điệp mới thíchứng với phản hồi nhận được (sự thích ứng) Ví dụ Hùng nói với Hoa: “Xin hãyđưa cho tôi cuốn sách” Hoa nhìn vào chồng sách ở trước mặt cô ta và nói:
“Quyển nào?” (phản hồi) Hùng trả lời: “Quyển đỏ trên đỉnh chồng sách” (sựthích ứng)
Quan điểm này về giao tiếp đã tính đến những ảnh hưởng của nhiềuphúc đáp của người nhận Quan điểm này cho rằng một quá trình, trongchừng mực nào đó, là vòng quanh: gửi và nhận, gửi và nhận và cứ như thếtiếp tục…
3 Mô hình giao dịch về giao tiếp
Bây giờ, một số nhà chuyên môn cho rằng việc giao tiếp không thể đơngiản quy rút lại thành một quá trình “kích thích và phản ứng” như là các môhình tuyến tính và tác động qua lại đưa ra Quan điểm này ủng hộ ý kiến chorằng giao tiếp là một sự giao dịch mà trong đó nguồn và người nhận đóngnhững vai trò có thể hoán đổi được cho nhau trong suốt hoạt động giao tiếp.Như vậy là không dễ dàng xây dựng nên một mô hình thật rõ ràng, dứt khoátcủa quá trình: Hình 3 minh hoạ một mô hình giao dịch về giao tiếp
Trong mô hình này, tiêu biểu cho những gì mà chúng ta biết cho đếngiờ về giao tiếp là những thay đổi được phát hiện đồng thời trong cả haingười giao tiếp Người giao tiếp A mã hoá một thông điệp và gửi nó đi Ngườigiao tiếp B, sau đó, mã hoá phản hôi gửi tới người giao tiếp A, người giải mã
nó Nhưng những bước này không phải là độc chiếm lẫn nhau vì việc mã hoá
và giải mã có thể xảy ra đồng thời Là những người nói, chúng ta có thể gửimột thông điệp phản hồi phi ngôn ngữ từ người nghe của chúng ta Sự mãhoá và giải mã này có thể xảy ra liên tiếp trong suốt quá trình giao tiếp Bởi vìchúng ta có thể gửi và nhận các thông điệp một lúc, nên mô hình này là đahướng Hãy chú ý rằng, một người không được gắn nhãn như là nguồn vàngười kia như là người nhận, thay vào đó cả hai người giao tiếp khoác lấy vai
Trang 19trò của người gửi và người nhận trong sự giao dịch (chuyển đổi vai trò) Nhưvậy, mô hình này gần như đại diện cho việc giao tiếp đồng thời.
Hùng (nguồn) nói “Anh yêu em”;
Hoa (nguồn) dừng lại, quay đi, cau mày và nói:
“Em không chắc anh như vậy”;
sở chính, đến các nhân viên maketing ở các văn phòng khác nhau trên khắp
cả nước Đây là một ví dụ của mô hình về giao tiếp tuyến tính
Tiếp đến, người điều hành cũng trình bày giống như vậy tại phòng củaban lãnh đạo công ty Cô ta nói chính xác theo bản thảo mà cô ta đã chuẩn bị,chẳng phải mất công tìm bất kì một phản hồi nào Rồi theo bài phát biểu cô taliệu có câu hỏi nào không? Một trong các thành viên của ban lãnh đạo hỏi mộtcâu hỏi và câu đó được trả lời Điều này chứng minh mô hình tác động qua lại
về giao tiếp Sau đó nhân viên bán hàng bước vào phòng Người điều hành
Trang 20các quan hệ quần chúng bắt đầu nói Khi cô ấy nói thì một người bán hànghỏi một câu hỏi Trong lúc câu hỏi đang được nêu ra, người nói gật đầu Cô
ấy, sau đó, đồng ý bằng lời với người bán hàng Trong lúc chuyện này xảy ra,người bán hàng cũng gật đầu, chỉ báo rằng anh ta đã hiểu điều vừa được giảithích và nói: “Tôi đã hiểu” Đây là một ví dụ về một mô hình giao dịch (hoánchuyển vai trò) của giao tiếp
B CÁC THÀNH TỐ CỦA HÀNH VI GIAO TIẾP
Để hiểu rõ quá trình giao tiếp phức tạp, ta hãy xem xét chi tiết cácthành tố của hành vi giao tiếp
1 “Người giao tiếp / nguồn” và thông điệp
Như được minh hoạ ở Hình 4 (tr 31), quá trình giao tiếp bắt đầu khi
“người giao tiếp / nguồn” bị kích thích một cách có ý thức hay không có ý thứcbởi một sự việc, một khách thể hay một ý tưởng nào đó Xuất hiện nhu cầugửi thông điệp đi sau khi đã dùng trí nhớ để tìm ra thứ “tiếng” (ngôn ngữ hayphi ngôn ngữ) thích hợp để mã hoá thông điệp: Các nhân tố như sự tri giác,các kỳ vọng, thái độ và trạng thái cơ thể đều có ảnh hưởng đến việc gửithông điệp
Quá trình giao tiếp rất phức tạp, bởi vì nó mang tính chất ký hiệu, sửdụng một thứ “ngôn ngữ” nào đó để đại diện cho các khách thể và ý tưởng
mà chúng ta đang giao tiếp Không may, các ký hiệu có thể không được hiểu
Ví dụ, một kỹ sư hàng không phải lựa chọn thứ “tiếng” của mình một cách cẩnthận để nói cho một ai đó không am hiểu về nguyên tắc của vận tốc gió Các
từ ngữ quá chuyên sâu về mặt kỹ thuật có thể làm rối trí người giao tiếp –người nhận và làm cho họ không hiểu được
2 Kênh
Các thành tố của giao tiếp (theo Berko, Wolvin và Wolvin)
Người giao tiếp / nguồn
1 Những cảm nhận do ý tưởng
hay nhu cầu giao tiếp gây nên
2 Lựa chọn cách truyền thông
Người giao tiếp / người nhận
1 Những cảm nhận do kích thíchhay nhu cầu giao tiếp gây nên
2 Tiếp nhận ký hiệu (mã) dưới
Trang 21thông điệp bằng ký hiệu ngôn
ngữ (mã)
3 Sử dụng trí nhớ và kinh
nghiệm cũ để tìm ra ký hiệu
ngôn ngữ nhằm truyền thông
thông điệp (mã hoá)
dạng méo mó
3 Sử dụng trí nhớ và kinh nghiệm
cũ để gắn nghĩa cho ký hiệu (giảimã)
4 Lưu giữ thông thin
5 Gửi phản hồi đi
Khi giao tiếp, thông điệp đã mã hoá được chuyển tải qua một kênh baynhiều kênh Nếu cuộc giao tiếp diễn ra trực tiếp, mặt đối mặt thì các kênh này
có thể là một vài hay tất cả năm giác quan Điển hình là chúng ta dựa vàohình ảnh thị giác và âm thanh làm các kênh khi nói và lắng nghe Tuy nhiên,thay vì sự giao tiếp mặt đối mặt, chúng ta có thể lựa chọn để dùng một kênhđiện tử có dùng âm thanh (như điện thoại chẳng hạn) hay thị giác (vô tuyếntruyền hình) Trong một số trường hợp, chúng ta có thể lựa chọn cách gửimột thông điệp đến một ai đó bằng phương tiện tiếp xúc thân xác, chẳng hạnnhư vỗ vai người khác Trong trường hợp này thì kênh xúc giác được sửdụng
“Người giao tiếp / nguồn” nên luyện tập càng kỹ càng tốt cách lựa chọnkênh cho cuộc giao tiếp, giống như họ tiến hành việc lựa chọn các ký hiệu đểdùng Điều này là cần thiết, bởi vì các kênh khác nhau đòi hỏi những phươngpháp phát triển ý tưởng khác nhau Chẳng hạn, việc chọn các kênh điện tử đãlàm thay đổi bản chất của sự giao tiếp chính trị Các ứng cử viên tổng thống ởcác nước đã từng phải đi kinh lý khắp đất nước để đọc bài diễn văn trong cácchiến dịch vận động tranh cử, nhưng ngày nay, thông qua việc sử dụng vôtuyến truyền hình, họ có thể đến với một số lượng dân chúng rộng lớn hơn
mà không cần phải đi đâu cả Vậy là kênh điện tử đã được thay thế cho kênh
“mặt đối mặt”!
3 “Người giao tiếp / người nhận” và thông điệp
Không tính đến kênh được dùng, thông điệp cần phải được giải mãtrước khi giao tiếp (có thể) được hoàn thành Người giao tiếp / người nhận,trên cơ sở tiếp nhận các tín hiệu ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, xử lý chúng
Trang 22thông qua trí nhớ để các tín hiệu được phiên dịch sang hệ tiếng nói của ngườinhận Thông điệp đã được giải mã này sẽ không giống hệt với thông điệp đãđược người giao tiếp / người mã hoá, vì hệ thống ký hiệu của mỗi ngườiđược tạo nên bởi một tập hợp duy nhất các cảm nhận Ví dụ, một người nộitrợ sẽ có thột cách hiểu về câu “thêm mắm muối theo khẩu vị” nghĩa là gì.Nhưng lời chỉ dẫn này có thể giải mã một cách khác nhau ở những ngườinhận khác nhau Một người quản trị ngân hàng vốn thích làm đầu bếp chocác cuộc liên hoan cuối tuần ngoài trời có thể muốn thêm một chút mắm muốithôi, còn để cho khách cho thêm gia vị Mặt khác, một người nào đó có kinhnghiệm nấu nướng hơn lại có thể giải mã thông điệp này là “thêm nhiều mắmmuối vào!”.
4 Phản hồi
Ngay sau khi hiểu được nội dung thông điệp đã nhận được “người giaotiếp / người nhận” đã có thể trả lời Sự trả lời này – được gọi là phản hồi – cóthể là một phản ứng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ (hoặc cả hai) đối với thôngđiệp Cần quan sát sự phản hồi một cách cẩn thận, bởi vì nó sẽ chỉ cho tathấy người giao tiếp / người nhận” hiểu (ví dụ, gật đầu) hay không hiểu (ví dụ,nhún vai và nói “Tôi không hiểu), khuyến khích “người giao tiếp / nguồn” tiếptục hoặc không tán thành (ví dụ, đẩy lùi và nói “Không thể được”!) Hành độngtrả lời, mà qua đó “người giao tiếp / người nhận” gửi phản hồi đến “người giaotiếp / nguồn”, thực sự làm thay đổi vai trò của người nhận sang vai trò củangười gửi (nguồn)
5 Tiếng ồn
Thông điệp không chỉ bị ảnh hưởng bởi sự giải thích của mỗi một ngườigiao tiếp, mà còn bởi cả tiếng ồn nữa Tiếng ồn là bất kỳ một trở ngại bêntrong hoặc bên ngoài nào trong quá trình giao tiếp Tiếng ồn có thể do cácnhân tố của môi trường, sự suy yếu của cơ thể, những yến đề về ngữ nghĩa,
sự tối nghĩa, những vấn đề về cú pháp, sự lộn xộn trong cách xếp đặt, tiếng
ồn xã hội và những vấn đề tâm lý gây nên
6 Môi trường giao tiếp
Trang 23Giao tiếp không thể xảy ra trong chân không; nó luôn luôn tồn tại trongmột ngữ cảnh nào đó, một môi trường nào đó Nơi mà chúng ta hiện diện vàngười cùng hiện diện với chúng ta đều có ảnh hưởng đến sự giao tiếp củachúng ta Những nhân tố như kích thước của căn buồng, màu sắc của tường,
sự trang trí, kiểu và cách xếp đặt các đồ gỗ, kiểu chiếu sáng và căn buồng cóđông đúc hay không… đều có thể ảnh hưởng đến việc chúng ta cảm xúc rasao, đến cách giao tiếp kiểu giao tiếp mà chúng ta tham gia vào Chẳng hạnnhư xếp đặt một lượng lớn người trong một khu vực làm việc nhỏ hẹp (nhưtrường hợp thường xảy ra với nhóm những người đánh máy chữ trong một
cơ sở thương mại lớn) có thể dẫn đến sự giao tiếp căng thẳng thiếu tự nhiên.Chúng ta cũng có phản ứng đối với các nhân tố như nhiệt độ, mùi vị, âmthanh
C CÁC QUAN HỆ TRONG HÀNH VI GIAO TIẾP
Quan hệ là vị thế, địa vị của nhân cách với tất cả những gì ở xungquanh nó, kể cả vôi chính bản thân mình Bằng cách này hay cách khác, conngười ta đều có quan hệ, thái độ đối với các sự vật, sự kiện của đời sống xãhội, với những người khác Họ thích một cái gì đó, không thích một cái gì đó;một sự kiện này làm cho họ xao xuyến, một sự kiện khác lại bị họ thờ ơ; tìnhcảm, hứng thú, chú ý – đó là những quá trình tâm lý biểu thị quan hệ của conngười, (khi quan hệ được chủ thể ý thức thì trở thành thái độ của chủ thể) vàbiểu thị địa vị của nó
Trong quá trình giao tiếp tồn tại cả mối quan hệ qua lại giữa nhữngngười giao tiếp
Quan hệ qua lại là địa vị tương hỗ của một nhân cách này với nhâncách khác, với cộng đồng Nếu trong quan hệ không bắt buộc phải có “liên hệngược” phản hồi đối với con người thì trong quan hệ qua lại luôn luôn có mốiliên hệ ngược Quan hệ qua lại ở hai bên giao tiếp không phải lúc nào cũng
có cùng một thô thức (cùng một sắc thái) A có thể có quan hệ (thái độ) tốt đốivới B, nhưng B có thể không phải như vậy đối với A
Trang 24Giao tiếp là sự liên hệ của con người với nhau có thể nhìn thấy được,quan sát được từ bên ngoài Còn quan hệ và quan hệ qua lại là những mặtcủa giao tiếp Chúng có thể hiển nhiên, công khai, nhưng cũng có thể ẩn giấu,ngấm ngầm, không được thể hiện ra Quan hệ qua lại được hiện thực hoátrong giao tiếp và thông qua giao tiếp Đồng thời quan hệ qua lại để lại dấu ấnlên giao tiếp, tạo nên nội dung độc đáo của giao tiếp.
Khác với trong hoạt động với đồ vật (hoạt động với đối tượng), mốiquan hệ qua lại trong giao tiếp là mối quan hệ qua lại giữa chủ thể với chủ thể(xem mục “Tri giác xã hội”) Ta có thể thấy được tính chất phức tạp đặc trưngcủa mối quan hệ qua lại giữa chủ thể với chủ thể qua ví dụ sau
A và B giao tiếp với nhau; giữa chúng hình thành mối quan hệ giao tiếp
A – B và thông tin ngược về phản ứng của B đối với A, tức là B – A Ngoài ra,
ở A và B đều có thể tượng về bản thân mình – A' và B', cũng như biểu tượng
về nhau: biểu tượng của A về B – B”, và biểu tượng của B về A – A” Sự tácđộng qua lại trong quá trình giao tiếp được thực hiện như sau: A với tư cách
là A' gửi thông điệp cho B như là B” B với tư cách là B’ phản ứng lại A như làA” Rõ ràng, giao tiếp sẽ thành công tối đa khi có sự đứt đoạn tối thiểu trongcác đường
A – A' – A” và B – B’ – B”
Như trên đã nói, quá trình giao tiếp của con người chịu ảnh hưởng rõrệt của hoàn cảnh xã hội Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh xã hội mà mỗi người cómột vai trò nhất định
Vai trò là chức năng, là hình mẫu hành vi chuẩn mực được xã hội tánđồng, đang được chờ đợi ở mỗi người trong địa vị hiện có của họ Nói cáchkhác, vai trò là sự ấn định một vị trí nhất định mà mỗi cá nhân chiếm đượctrong hệ thống các quan hệ xã hội Vai trò của anh sinh viên là học tập rènluyện để trở người phục vụ xã hội có chuyên môn Một người cô thể đảmtrách nhiều vai trò khác nhau: người chồng, người cha, người con, ngườigiám đốc, người đảng viên v.v… Vai trò đảm nhận tạo nên địa vị mà người đó
có trong quan hệ xã hội mà họ đang sống
Trang 25Chúng ta nhận được một người là sinh viên qua trang phục, áo quần,cách ăn mặc và sinh hoạt cũng như các vật sở hữu của người ấy Những thứ
đó là những ký hiệu của vai trò, địa vị
Muốn giao tiếp tốt thì phải biết các vai trò, địa vị của mình và của ngườigiao tiếp của mình và phải mã hoá những thông điệp cùng với những điềunày trong trí óc của mình
Chương 2: NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC GIAO TIẾP
I NỘI DUNG GIAO TIẾP ĐƯỢC BIỂU LỘ NHƯ THẾ NÀO
A NGHĨA VÀ TRUYỀN ĐẠT NGHĨA TRONG GIAO TIẾP
1 Trong cuộc sống đời thường, ai cũng khao khát được người khácquan tâm chú ý đến bản thân mình Sự quan tâm chú ý, sự đùm bọc, thươngyêu, sự chăm sóc, sự lắng nghe, sự khoan dung, động viên vỗ về của mọingười xùng quanh… đều rất có ý nghĩa và có giá trị tích cực giúp mỗi chúng
ta trở thành con người lành mạnh, làm nảy nở trong tâm hồn chúng ta nhữnggiá trị cao quý, những tình cảm lớn…
Từ buổi sơ sinh cho đến thuở màn chiều xế bóng, mối tương quan giữangười và người vừa là nhu cầu, vừa là điều kiện có ý nghĩa và tác dung to lớn
để biến chúng ta thành người với tất cả giá trị nhân văn cao cả của nó; có thểxem đó là nội dung sự biểu lộ đích thực của giao tiếp
Vậy nội dung giao tiếp, trước hết là sự biểu lộ một nhu cầu trong quan
hệ giữa chúng ta với mọi người – đó là một đòi hỏi bắt buộc, nghĩa là có tínhtất yếu Chúng ta khao khát ước mong có được quan hệ bình thường, tốt đẹpvới mọi người và qua đó, những nhu cầu riêng tư của chúng sẽ được đápứng, thoả mãn, nhờ những ảnh hưởng qua lại trong các quan hệ đa dạng,phức tạp này Sự thành công trong nghề nghiệp, hạnh phúc trong gia đình,tình bạn chung thuỷ, hạnh phúc riêng tư…, tất cả đều tuỳ thuộc ở các mức độnhất định trong việc duy trì được các quan hệ lành mạnh, tốt đẹp với mọingười
Trang 26Qua tiếp xúc, giao lưu với người khác, chúng ta tự khẳng định đượcmình qua sự quan tâm săn sóc lẫn nhau và những niềm hân hoan, sự vuithích, niềm hứng khởi trong cuộc sống chúng ta cảm nhận thấy không khí ấmcúng, cảm thấy mình được hoàn thiện dần, hoà hợp được với mọi người,nhằm cùng nhau đạt tới mục đích của cuộc sống Nói cách khác, cuộc sóngcủa chúng ta có ngày càng hoàn thiện hay không là tuỳ thuộc khá nhiều vàophẩm chất của các mối quan hệ tương giao mà chúng ta tạo lập nên đối vớimọi người quanh ta.
2 Giao tiếp là con đường giúp chúng ta đạt tới hạnh phúc trong cuộc sống
Các mối quan hệ giao tiếp giữa chúng ta và mọi người là rất cần thiết
và có ý nghĩa sâu xa đối với hạnh phúc của mỗi cá nhân, với rất nhiều khíacạnh khác nhau:
– Tạo nên điều kiện và cơ hội cho sự tăng trưởng và phát triển về trithức và hiểu biết xã hội nói chung
Qua giao lưu, tiếp xúc với nhiều người với những cá tính khác nhau,chúng ta có thể hình thành cá tính của mình một cách độc lập và có sắc tháiriêng
Giữ được thăng bằng, duy trì được sức khoẻ và bình an về mặt tâmlý
Toàn bộ quá trình phát triển của con người diễn ra song song với việccác quan hệ xã hội ngày càng được mở rộng, trong đó chúng ta vừa chịu sựtác động, ảnh hưởng vừa phụ thuộc lại vừa có ảnh hưởng, tác động ngượctrở lại với mọi người Đặc biệt là đối với trẻ em, thế giới xung quanh đột ngột
mở rộng khi các em tự chính thức đến trường học Còn đối với tuổi thanhniên, khi các em tham gia vào các hoạt động thực tế và nghề nghiệp, trởthành thành viên gắn bó với cộng đồng thì các quan hệ tương quan này càngđược mở rộng hơn và họ luôn luôn vừa phải duy trì, củng cố lại vừa phải pháttriển các mối quan hệ mới với mọi người xung quanh Càng tăng thêm cácmối giao tiếp, các quan hệ này càng được mở rộng và diễn biến rất linh hoạt
Dù sao thì ở các mức độ khác nhau, muốn duy trì và phát triển chất lượng
Trang 27của cuộc sống, chúng ta phải hợp tác với mọi người từ trong gia đình cho đếnbạn bè, trang lứa, đồng nghiệp, qua đó chúng ta thâu tóm luôn tri thức, kinhnghiệm và các kỹ năng giao lưu tiếp xúc với mọi người.
Vậy là sự phát triển, tăng trưởng của chúng ta về tri thức và con người
xã hội – tất cả đều được quyết định bởi tính chất và bản chất của các mốiquan hệ, giao lưu với những người khác (Johnson – 1979)
Bản sắc riêng của cá nhân mỗi người sẽ dần dần được định hình vàcủng cố từ các mối quan hệ giao tiếp này Khi giao tiếp, qua quan hệ vớingười khác, qua quan sát, ghi nhận các phản ứng, sự phản hồi của họ, tahiểu đời, hiểu mình hơn nhờ thái độ và cách nhìn nhận đánh giá từ bên ngoài
Từ thái độ, phản ứng của người khác, ta sẽ hình dung rõ nét về chínhmình về các mặt trí tuệ, nhân phẩm và vai trò của bản thân Tất cả giúp ta tin
ở những hệ thống giá trị mà ta noi theo, những nguyên mẫu mà ta mongmuốn đạt tới nhất là đối với những ai ta thán phục, kính nể – nghĩa là trongquan hệ với mọi người, chúng ta “sắm vai trò” xã hội của mình, “học” đượcnhiều điều bổ ích, tự phát hiện tư cách “con người” của mình
Từ đó, chúng ta cố gắng tìm hiểu thế giới cuộc sống quanh ta, xác địnhcái “thực” cái “hư”, cái thiện, cái ác – nghĩa là biết cách củng cố, nâng cao,hoàn thiện trình độ nhận thức và cảm nghĩ của mình trong sự bề bộn, phứctạp của cuộc sống Tất nhiên nhờ học hỏi trong thiên nhiên, trong xã hội, mọiđiều hay dở, đúng sai, tốt đẹp hoặc ngược lại – chúng ta kiểm chứng qua ýkiến, thái độ của người khác – đó là cơ sở khách quan, thuận lợi để “nâng”mình lên một cách vững chắc, đáng tin cậy
Nhiều nhà tâm lý học, sinh lý học còn chứng minh rằng sức khoẻ vàtrạng thái tinh thần của mỗi người cũng phụ thuộc khá nhiều vào mối quan hệbình thường, tốt đẹp với mọi người Nhiều cứ liệu về tâm bệnh học cho thấy,một số người, vì những lý do nào đó, do không xác lập nổi các mối quan hệgiao tiếp bình thường với mọi người, thường sa vào tình trạng khủng hoảngtinh thần, lo âu, trầm cảm, cảm thấy lẻ loi, cô đơn trong cuộc sống đờithường “Dường như kỹ năng giao tiếp vụng về là một trong những nguyênnhân chủ yếu của tâm bệnh” (Johnson 1980)
Trang 28Nhìn rộng ra xã hội, một trong những giá trị nhân văn đòi hỏi con ngườiphải và cần được sống hài hoà trong các quan hệ thân mật nhân ái chính là
cơ sở của cuộc sống cộng đồng bền vững
Vậy là mỗi cá nhân cần được khẳng định là con người chân chínhthông qua giao tiếp với người khác, mà sự khẳng định này bao hàm cả sựđáp ứng của người khác, bằng nhiều cách để chúng ta tự khẳng định giá trị,nhân cách của mình; ngược lại điều đó cũng hàm ý đó là mối tương tác haichiều: chúng ta cần cho mọi người và ngược lại, mọi người cũng đòi hỏi sựkhẳng định, thừa nhận từ phía chúng ta
B GIAO TIẾP TRONG MỘT XÃ HỘI PHÁT TRIỂN
Sự phát triển và tiến bộ của xã hội loài người gắn liền với khả năng tạolập, phát triển và ổn định các mối giao tiếp với những người khác Theo logiccủa cuộc sống, nhờ tương giao với mọi người? chúng ta được giáo dục vàphát triển về ngôn ngữ, các kỹ năng xử sự trong đời sống và tuân thủ mộtcách sáng tạo các khuôn mẫu thích hợp với sự mong đợi của xã hội, phù hợpvới nền văn hoá chung
1 Nền tảng của nền văn minh của mọi xã hội chính là khả năng nhân loại sống hợp tác và hoà hợp với nhau, cùng nhau hoạt động, mưu cầu lợi ích chung, hướng tới đạt các mục tiêu chung
Xã hội phát triển, ngày càng trở nên phức tạp; khoa học và kỹ thuậtngày càng phát triển thì nhu cầu xây dựng các mối tương quan xã hội và giaotiếp càng trở nên cấp bách (cả ở dạng trực tiếp lẫn gián tiếp qua các phươngtiện kỹ thuật), vì vậy ý nghĩa nhân văn cũng được nâng cao lên và trở nên sâusắc thêm
Thiếu sự giao lưu, giao tiếp, thiếu sự phối hợp ăn ý, đồng bộ chúng ta
sẽ không thể thực hiện được các mục tiêu cần thiết Nhân loại trong thực tếgiành khá nhiều công sức trí tuệ, thời gian cho công việc này mà với tư cách
cá nhân riêng lẻ chúng ta không thể hoàn thiện
Trong mọi quan hệ, mọi hoạt động, để đạt lợi ích chung, chúng ta cầnphải chia sẻ với nhau về mọi phương diện, mọi vấn đề, trao đổi và giúp đỡ lẫn
Trang 29nhau cả về tri thức và tài nguyên và cùng nhau làm việc Tìm ra cách sốnghoà hợp, cùng suy nghĩ, cùng hoạt động với những cam kết thích hợp, chúng
ta sẽ có chung tiếng nói, có cùng cách ứng xử để tạo ra cơ hội hoạt động vìlợi ích chung, cùng nhau góp công, góp sức, tài nguyên và thời gian, tàichính… để cùng tạo nên sức mạnh và cuộc sống hạnh phúc, hài hoà
Điều đó khẳng định rằng xã hội càng phát triển với phương thức hoạtđộng càng đa dạng, phức tạp hơn nhưng tất cả các thành viên trong xã hộichúng ta vẫn tuỳ thuộc trong tương tác chung giữa người và người ngày càngchặt chẽ Do đó việc trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ đúng cho mỗingười về giao tiếp nhằm duy trì và tăng cường hiệu quả trong quan hệ giữangười với người chắc chắn không hề giảm ý nghĩa, tác dụng của nó Có thểrút ra nhận xét khái quát rằng mọi xã hội dù phát triển và hoạt động phức tạpđến đâu vẫn phải dựa trên hệ thống hợp tác rộng lớn các nhu quan hệ giữangười và người được duy trì nhờ sự tác động lẫn nhau giữa các cá nhân
Một xã hội công bằng, văn minh, về thực chất, dựa trên sự gắn bó giữangười với người, dựa trên sự thông cảm, thương mến, gắn bó giữa các thànhviên
Con người – với tư cách là con người xã hội, trong đó mọi nỗi niềmhạnh phúc, sự tự hoàn thiện luôn luôn phụ thuộc vào khả năng thực tế có thểxây dựng quan hệ tốt đẹp và hiệu quả với người khác Sự khao khát tìnhthương yêu sự cảm thông trong mọi quan hệ trong một xã hội phát triển cao(về khoa học – kỹ thuật và công nghệ, chứng tỏ tính quy luật của vấn đề này.Điều làm cho chúng ta càng mang giá trị nhân bản hơn chính là nhu cầu và
sự thoả mãn nhu cầu quan hệ và tác động lẫn nhau giữa người và người.Nếu các quan hệ này ngày càng thể hiện, phản ảnh các “tính người” như lòngnhân hậu, thái độ dịu dàng, tình yêu trong sáng, sự nhạy cảm vôi hạnh phúccủa người khác, thì sự quan tâm săn sóc, đáp ứng đòi hỏi lành mạnh của mọingười chính là các nội đung, yêu cầu bên trong của các mối quan hệ giaotiếp
2 Phẩm chất và số lượng của các mối tương quan giữa con người với nhau tuỳ thuộc vào sự hiểu biết và kỹ năng giao tiếp
Trang 30Như vậy dù xã hội phát triển, đạt trình độ công nghệ và kỹ thuật đếnđâu đi chăng nữa, con người vẫn rất cần có được sự hiểu biết và kỹ năng xâydựng duy trì các mối quan hệ giao tiếp trực tiếp trọn vẹn, đa dạng và phongphú trong đời sống đời thường.
3 Giao tiếp là con đường tự khẳng định và tự thể hiện
Nền văn hoá chung của nhân loại cũng văn hóa riêng của từng dân tộcđang bị sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật làm cho biến dạng,rạn nứt ở nhiều lĩnh vực
Tuy nhiên, xu thế chung của sự phát triển xã hội ngày nay cho thấy nềnvăn hoá đương đại dường như đang thay đổi mạnh mẽ, đi từ xu hướng thiên
về giá trị vật chất chuyển dần sang xu hướng tự thể hiện, để cao tính tự chủ,
tự khẳng định của mỗi người
Xu hướng đi từ nhấn mạnh sự độc lập, riêng biệt của cá nhân đồng thờidần dần chuyển sang sự kết hợp và phụ thuộc lẫn nhau không chỉ ở mức cánhân – cá nhân mà ở các cấp độ cao hơn (cá nhân – xã hội, quốc gia – quốctế); là khuynh hướng vừa giao tiếp, hội nhập lại vừa khẳng định bản sắc độcđáo riêng biệt của từng dân tộc, quốc gia cũng đang dần thể hiện rõ nét Cuộcsống theo quy luật khách quan của nó đòi hỏi từng cá nhân phải góp phần bổsung, tạo nên sự phức hợp, đa dạng, phong phú của cộng đồng và ngược lại,
xã hội, cộng đồng phải tạo ra môi trường, điều kiện cho những cái riêng, cáiđộc đáo (hợp lý) tồn tại và phát triển
Như vậy có nghĩa là các giá trị xã hội của chúng ta dường như đanghướng tới việc nhấn mạnh việc tự thể hiện và phát huy tối đa tiềm năng nhâncách của mỗi người Trong xã hội mới năng động và phát triển, tính di động
xã hội đã trở thành đặc trưng, thành ấn tượng đặc sắc của mỗi thành viên vàthông qua quá trình này, chúng ta tự hoàn thiện mình Các quan hệ chỉ có giátrị vững bền tương đối, cái cũ luôn luôn được di chuyển, thay thế bằng mới
Sự thay thế, chuyển hoá đó tạo ra tình huống: luôn luôn có các quan hệ mớixuất hiện và chúng ta luôn có nhu cầu hoàn thiện các mối quan hệ đó, làmcho nhân cách của mỗi người cũng ngày càng hoàn thiện hơn
Trang 31Các nhà tâm lý học lạc quan tin tưởng rằng trong tâm hồn chúng ta,mỗi người luôn luôn có dự cảm về sự thúc giục thể hiện các tiềm năng mới
mẻ của cá nhân, làm phong phú thêm cho cuộc sống chung Đó chính là nhucầu của sự tự thể hiện; điều đó vừa đòi hỏi sự chọn lựa tinh tế giữa cái quákhứ và cái hiện tại, vừa yêu cầu phát huy hợp lý mọi cái hợp lý trong điều kiệnthời gian và không gian để qua đó tự khẳng định mình
Trong giao tiếp, sự phát triển hợp lý đòi hỏi phải hướng về tường lai, rũ
bỏ quá khứ lạc hậu ám ảnh bản thân, không hoài cổ và biết liên kết cácnguyện vọng, ước mơ về tương lai với mục tiêu hiện tại một cách thực tếnhất Nhiều cứ liệu cho thấy sự tự thể hiện cũng tuỳ thuộc vào tính chất tự lậpcủa mỗi người Trong đời thường, có người thiên về hướng nội, lại có ngườithiên về hướng ngoại (thiên về người khác) Những người hướng nội thiên vềcác giá trị có tính nguyên tắc, tiếp thu từ thuở thiếu thời, rất khó thay đổi khihoàn cảnh đổi thay Trái lại với người hướng ngoại thường tiếp thu sự hướngdẫn hay ảnh hưởng từ những người mà họ quan hệ và dễ đàng chấp nhậnnhững gì cần thiết để được người khác chấp nhận mình Người tự lập phảivượt lên trên các nhược điểm trên, thoát ra khỏi mọi giá trị cũ, cứng nhắc, biếtchọn lọc, phát huy sáng tạo các yếu tố hợp lý, vận dụng một cách uyểnchuyển các giá trị và các nguyên tắc nhằm hành động phù hợp với yêu cầu vàthực trạng của công việc và hoàn cảnh đặt ra
Điều kiện về thời gian và tính tự lập của một con người tự thể hiện cóquan hệ biện chứng với nhau; con người phải dựa và phát huy truyền thốngnhưng lại hướng hành động vào hiện tại và tương lai, vào sự tự học, tự hoànthiện, tìm ra cách thức tự biểu lộ, tự khẳng định mình trong cuộc sống Xã hộihiện đại đòi hỏi con người tự hoàn thiện mình trong mối tương giao với nhữngngười khác trên cơ sở tự lập – tự do không chỉ với giá trị có tính nguyên tắc,chuẩn mực mà còn đòi hỏi con người phải biết cách đáp ứng thích ứng, vớicác nhu cầu, yêu cầu mới của mọi người, của xã hội trong trạng thái luôn luônvận động và phát triển Muốn vậy, chúng ta phải học cách làm chủ thời gian.Các kỹ năng giao tiếp của chúng ta chính là nền tảng cho sự tự thể hiện củamỗi con người Mọi thành công trong cuộc sống, mọi hạnh phúc của cá nhân
Trang 32– dù có nguồn gốc sâu xa đến đâu chăng nữa thì kỹ năng giao tiếp vẫn là cáccốt yếu không thể thiếu, cần cho việc duy trì các mối liên hệ, quan hệ cần thiếtcho sự tạo lập hạnh phúc cá nhân, phúc lợi xã hội và tất nhiên là con đường
Thông thường có hai cách diễn đạt: Diễn đạt theo kiểu khẳng định trựctiếp – như người ta vẫn nói: nói thẳng thừng, vỗ mặt… thể hiện thái độ phủđịnh bất bình của người nói
Ví dụ:
Tôi không đồng ý cách làm này…
Ai cho phép các vị làm như vậy…
Lối diễn đạt này bộc lộ thái độ bực dọc, sỗ sàng, dễ gây mất cảm tình ởđối tượng, dễ dẫn đến sự đổ vỡ về quan hệ, hỏng việc
– Cũng với thái độ phủ định nhưng có thể diễn đạt một cách lịch sự,mềm dẻo, bộc lộ sự tôn trọng của ta với người nghe mà vẫn giữ được quanđiểm có tính nguyên tắc Ví dụ:
Rất tiếc là hiện nay tôi không thể đồng ý với ngài…
Theo tôi biết thì hình như tình hình không hoàn toàn như vậy…
Nhìn chung nội dung bài này tốt, chỉ tiếc là quá dài không thể sử dụngđược…
Cách diễn đạt này được một số tác giả gọi là sử dụng ngôn từ tình tháivới các động từ, mệnh đề tình thái giúp cho ta biểu lộ cảm nghĩ, thái độ mộtcách nhã nhặn, lịch thiệp trong giao tiếp
Với phong cách này, đi sâu hơn vào các trường hợp cụ thể, chúng ta
sẽ thấy nhiều người tuỳ theo bối cảnh, tình huống giao tiếp còn dùng lối hiểnngôn hoặc hàm ngôn trong giao tiếp
Trang 33Theo Ducrot, hiển ngôn là “cái người ta nói ra”, còn hàm ngôn là “cáingười ta muốn nói mà không tiện nói ra”.
Trong cuộc sống gia đình, với bạn bè thân mật, phần lớn ta dùng lốihiển ngôn (vừa tiết kiệm thời gian, vừa đảm bảo tính chính xác của thôngtin…)
Ví dụ: Vào nhà bạn thân, ta nhận xét: “ở đây nóng quá đi mất!” màkhông sợ mất lòng, phật ý, vì hai bên đã hiểu nhau
Nhưng trong bối cảnh mới tiếp xúc lần đầu, ta phải giữ ý tứ và giữ thái
độ lịch sự: ta phải từ từ, diễn đạt khéo léo hơn, giống như trong thơ xưa diễnđạt ý theo lối “ý tại ngôn ngoại”, vừa tế nhị, vừa tỏ ra có văn hoá, dù ngườinghe không thích thú nhưng vẫn cảm thấy chấp nhận được hoặc hiểu được
ẩn ý của ta (hàm ý), nhờ đó mà hiểu nhau hơn
Ví dụ: Trong tình huống có phong trào chống hút thuốc lá ông chồng lạinghiện nặng, vợ muốn khuyên chồng bỏ thuốc nên gợi ý khéo qua câu kể:
“Gớm, hôm nay ở ngoài phố họ giải thích là thuốc lá cũng xếp vào danh mụcnghiện ma tuý đấy nhà mình ạ!” Câu này có vẻ khách quan nhưng hàm ý sâu
xa là gián tiếp khuyên chồng chớ hút thuốc lá nữa, vì nếu tiếp tục hút sẽ bịxếp vào điện nghiện ma tuý!
Ngay trong văn bản học, người ta cũng rất chú ý áp dụng phương phápphân tích văn bản theo phương pháp “lưỡng phân ngữ nghĩa” để phân biệt ý
tứ, nội dung hàm chứa trong văn bản: đâu là hiển ngôn, đâu là hàm ngôn để
có thái độ ứng xử phù hợp đạt yêu cầu
Tất nhiên trong cuộc sống đa dạng và sôi động, không phải lúc nào tacũng nhanh chóng phân biệt được ngay đâu là hàm ngôn, đâu là hiển ngôn.Thông qua hoạt động giao tiếp, nhờ có vốn sống từng trải, ta sẽ có kỹ năng
Trang 34chúng ta hình thành phong cách ngôn ngữ có văn hoá, phù hợp với yêu cầucủa việc giao tiếp.
– Dù sao thì trong giao tiếp cũng khó tránh hết được những tình huốngbất ngờ khiến ta rơi vào thế bị động, lúng túng, có thể xảy ra mọi chuyện
Tuy vậy, có những trở ngại có tính chất phổ biến mà để khắc phụcchúng cần phải có thời gian, để rèn luyện sự lịch lãm, tích luỹ vốn sống ngàycàng phong phú của mỗi người
Các trở ngại thường thấy một cách phổ biến là: sự chênh lệch (về tuổitác, trình độ, vốn sống…) giữa người tác động và đối tượng chịu sự tác động(thu – phát), do đó thông điệp phát ra có những nhược điểm, gây tâm lý ứcchế, người nghe không sẵn sàng giao tiếp, do đó khó đạt mục đích giao tiếp
Trường hợp thứ hai là do người đối thoại yếu đuối, lao động căng thẳngmệt mỏi, thậm chí vừa trải qua những cú sốc trong tình cảm, trong đời tư, dẫnđến sự giao tiếp không được trôi chảy, thuận lợi
Ngoài ra các yếu tố môi trường (nóng bụi, chật chội, ồn ào) cũng gâyphân tán chú ý, thậm chí trong môi trường xã hội, giữa đám đông, sự trao đổi,giao tiếp rất có thể diễn ra không bình thường được, vì đối tượng giao tiếp bịkhống chế bởi ngoại cảnh (cảm thấy không an toàn)
Tuy không thể khắc phục được tất cả nhưng nếu ý thức trước được cáctrở ngại đó, quá trình giao tiếp sẽ có điều kiện thực tế để khả thi
D NGỤY BIỆN TRONG GIAO TIẾP
1 Trong khi giao tiếp, chúng ta không chỉ đơn giản trao đổi tư tưởngvới nhau, mà cái chủ yếu là thuyết phục người khác về sự chính xác, đúngđắn của những quan niệm của mình, đồng thời đạt tới sự thông hiểu, chấpnhận nhau Cả trong lúc trao đổi thông thường cũng như trong lúc tranh luận,chúng ta phải cố gắng chứng minh ý kiến, quan điểm của mình qua nhữngđiều đã được kiểm chứng thì mới thuyết phục được người đối thoại Do đó,chứng minh logic là cơ sở để tạo nên tính thuyết phục của nội dung trao đổitrong giao tiếp Thông thường, kết cấu logic của chứng minh bao gồm ba yếu
Trang 35tố có quan hệ mật thiết với nhau: luận đề, luận cứ và phương thức chứngminh.
– Trước hết về luận đề: Đó chính là một tư tưởng hay luận điệu mà sựđúng đắn của nó cần được chứng minh Tất nhiên để thuyết phục được thìluận đề phải chính xác, có cơ sở nếu không thì sẽ không chứng minh hay làmcho người khác tin vào sự đúng đắn của nó được
– Các lập luận, luận cứ (lý lẽ) cũng là những tư tưởng hay luận điệu mà
sự đúng đắn của chúng đã được chứng minh, đã được kiểm tra Cũng dữluận đề, luận cứ phải chính xác, vì nó một tổng thể các sự việc có quan hệ vớiluận đề, là lý lẽ mạnh nhất, không thể bác bỏ được
Phương thức chứng minh là hình thức liên hệ logic giữa lý lẽ và luận
đề Phương thức tiến hành chứng minh có thể là trực tiếp và cũng có thể làgián tiếp Trong trường hợp chứng minh trực tiếp thì các lý do trực tiếp lý giảicho sự đúng đắn của luận đề, còn trong chứng minh gián tiếp thì sự đúng đắncủa luận đề được lý giải bằng cách chứng minh luận điểm đối lập là sai lầm
2 Trong thực tế trao đổi hàng ngày vẫn có những trường hợp có ngườidùng một cách có ý thức những Kỹ xảo về logic để chứng minh cho quanđiểm lập luận sai trái của mình, từ chuyên môn gọi là ngụy biện
Thực chất, ngụy biện là cách dùng những lý lẽ sai một cách có ý thứckhi tranh luận và chứng minh Đúng như tên gọi, Từ điển Triết học gọi đó là
“những lối ngụy biện tức là những mánh khoé đủ loại được ngụy trang bằng
sự đúng đắn hình thức bề ngoài”
Thủ pháp chủ yếu có tính chất đặc trưng của phép ngụy biện là táchcác sự kiện ra khỏi mối liên hệ giữa chúng với các sự kiện khác, áp dụng cácquy luật của nhóm hiện tượng này với các hiện tượng của nhóm khác, cácquy luật của thời đại lịch sử này đối với các sự kiện của thời đại khác… vàdựa vào đó để rút ra kết luận dường như “khách quan” nhưng thật ra là sựxuyên tạc, dối trá để che đậy một cách cố ý tinh vi (trong các tài liệu Lôgic họckhông thiếu gì những ví dụ tiêu biểu về loại này)
Trang 36Muốn phân biệt được lập luận thông thường với phép ngụy biện, cầnnắm vững logic học và vận dụng để chứng minh, bác bỏ các kiểu ngụy biện
từ đơn giản đến phức tạp
II NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP
A NGÔN NGỮ NÓI, NGÔN NGỮ VIẾT VÀ NGÔN NGỮ THẦM TRONG GIAO TIẾP
Ngôn ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử dụng một thứ tiếng nào đó đểgiao tiếp với nhau Ngôn ngữ đặc trưng cho từng người Sự khác biệt cá nhân
về ngôn ngữ được thể hiện ở cách phát âm, ở cấu trúc của câu, ở sự lựachọn các từ
Ngôn ngữ có bản chất xã hội – lịch sử Con người luôn luôn sống vàlàm việc trong các nhóm, các cộng đồng xã hội nhất định (bản chất xã hội củacon người) Chính đời sống xã hội, chính sự lao động phối hợp cùng nhau đó
đã dẫn đến sự tất yếu phải thường xuyên có sự giao tiếp, sự thiết lập nhữngquan hệ với nhau và sự tác động lẫn nhau ở con người Sự giao tiếp nàyđược thực hiện chủ yếu bằng ngôn ngữ Chính nhờ ngôn ngữ mà con ngườitrao đổi được những ý nghĩ, tình cảm, ý định, nguyện vọng, kinh nghiệm… vớinhau
Trong cuộc sống của con người, ngôn ngữ có các chức năng cơ bảnsau đây:
Chức năng chỉ nghĩa Chức năng này làm cho ngôn ngữ của conngười khác với sự thông tin ở con vật Con người dùng ngôn ngữ để chỉchính bản thân sự vật, hiện tượng (bởi vì từ mà ta dùng trong quá trình ngônngữ được gắn chặt với hiện tượng và sự vật mà từ đó chỉ) Còn những âmthanh do con vật phát ra không chỉ các sự vật, hiện tượng, mà chúng chỉ biểuthị trạng thái sợ hãi, đói khát, thỏa mãn… nhờ tính chất giống nhau của cácthể hiện ấy ở tất cả các cá thể trong cùng một loài, “ngôn ngữ” không có nộidung đối tượng
Chức năng khái quát hoá Từ ngữ không chỉ một sự vật, hiện tượngriêng lẽ, mà chỉ chung một loạt các sự vật, hiện tượng có chung nhau những
Trang 37thuộc tính bản chất Chức năng này biểu hiện mối quan hệ chặt chẽ giữangôn ngữ nghĩ, nó phù hợp nhất đối với sự tư duy trừu tượng – lôgic.
Chức năng thông báo Nếu hai chức năng trên nói lên mặt bên trongcủa ngôn ngữ, thì chức năng thông báo nói lên mặt ngoài của ngôn ngữ.Chức năng thông báo lại bao gồm 3 mặt: thông tin, biểu cảm và thúc đẩyhành động
Tóm lại, ngôn ngữ có hai chức năng chính: Công cụ của giao tiếp vàCông cụ của tư duy, đúng như nhà tâm lý học lỗi lạc L X Vưgốtxki đã nhậnđịnh: “Ngôn ngữ cũng như các hệ thống tín hiệu khác, thoạt đầu thực hiện vaitrò là phương tiện giao tiếp, và chỉ sau đấy, trên cơ sở đó, mới trở thành công
cụ của tư duy và của sự điều chỉnh hành vi một cách có chủ định ở đứa trẻ”.Trong phần này, chúng ta chỉ đề cập đến chức năng thứ nhất mà thôi
Một cách khái quát, người ta chia ngôn ngữ làm 2 loại: ngôn ngữ bênngoài và ngôn ngữ bên trong
Ngôn ngữ bên ngoài là thứ ngôn ngữ hướng vào người khác, nó đượcdùng để truyền đạt và tiếp thu tư tưởng Ngôn ngữ bên ngoài lại bao gồm hailoại: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
* Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ được hướng vào người khác, được biểuhiện bằng âm thanh và được tiếp thu bằng cơ quan phân tích thính giác.Ngôn ngữ nói là hình thức ngôn ngữ cổ sơ nhất trong lịch sử loài người.Trong sự phát sinh cá thể, ngôn ngữ nói cũng có trước Ngôn ngữ nói cũng lạigồm hai loại: độc thoại và đối thoại (xem mục “Đối thoại” ở chương III)
Ngôn ngữ nói độc thoại là loại ngôn ngữ mà trong đó một người nói vànhững người khác nghe Ví dụ, đọc diễn văn, đọc báo cáo hay giảng bài v.v…
Đó là loại ngôn ngữ liên tục một chiều, không có sự phụ trợ ngược trở lại
Ngôn ngữ nói độc thoại đòi hỏi một số yêu cầu ngặt nghèo hơn so vớingôn ngữ nói đối thoại: người nói phải có sự chuẩn bị trước về nội dung, hìnhthức và kết cấu của những điều định nói, nhiều khi phải tìm hiểu trước đốitượng (những người nghe) Ngôn ngữ phải trong sáng, dễ hiểu, chính xác.Ngôn ngữ nói độc thoại gây những căng thẳng nhất định cho cả người nói lẫnngười nghe: người nói vừa phải chuẩn bị trước, như vừa nói ở trên, vừa phải
Trang 38theo dõi ngôn ngữ của chính bản thân mình và phản ứng của người nghe;còn người nghe thì phải tập trung chú ý trong một thời gian dài.
* Ngôn ngữ viết là thứ ngôn ngữ hướng vào người khác, được biểuhiện bằng các kí hiệu chữ viết và được tiếp thu bằng cơ quan phân tích thịgiác Ngôn ngữ viết cho phép con người tiếp xúc với nhau một cách gián tiếptrong những khoảng cách không gian và thời gian lớn Ngôn ngữ viết cónhững yêu cầu nhất định đối với cả người viết lẫn người đọc Trong ngôn ngữviết, người viết không thể sử dụng những phương tiện phụ, hỗ trợ, như giọngnói, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt… Không phải lúc nào họ cũng biết trước đượcphản ứng của người đọc đối với điều mình viết ra, vì không nghe, không nhìnthấy độc giả và thường cũng không biết gì về họ cả, mà độc giả lại rất đông,nhiều ngành, nhiều giới, nhiều lứa tuổi nên lại càng khó Về phía người đọccũng có những khó khăn nhất định, họ không thể bày tỏ ý kiến một cách trựctiếp Vì vậy để khắc phục những khó khăn trên, ngôn ngữ viết có những yêucầu chặt chẽ hơn cả: phải viết tỷ mỹ, chính xác, phải tuân theo đầy đủ cácquy tắc ngữ pháp, chính tả và lôgic
Ngôn ngữ viết cũng có hai loại: độc thoại như sách, báo và đối thoại(gián tiếp) như thư từ
Ở mức độ giao tiếp trong con người (intrapersonal), thì con người phải
sử dụng ngôn ngữ bên trong
* Ngôn ngữ bên trong là loại ngôn ngữ cho mình, hướng vào chínhmình, nó giúp cho con người suy nghĩ được, tự điều chỉnh, tự giáo dục được
Nó là cái vỏ từ ngữ của tư duy Khác với ngôn ngữ bên ngoài, ngôn ngữ bêntrong có một số đặc điểm độc đáo sau gây:
– Không phát ra âm thanh Nhưng đây chỉ là một đặc điểm của ngônngữ bên trong mà thôi, chưa phải là đặc điểm bản chất nhất, vì chưa nói lênhết được đặc trưng của ngôn ngữ bên trong Vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào đặcđiểm này để gọi ngôn ngữ bên trong là ngôn ngữ thầm thì không chính xác, vìngôn ngữ không phát thành tiếng (thầm) chưa hẳn là ngôn ngữ bên trongthực sự
Trang 39 Bao giờ cũng được rút gọn, cô đọng: thường cả một câu hoàn chỉnhđược rút ngắn chỉ còn là một từ mà thôi (chủ ngữ hay vị ngữ).
– Tồn tại dưới dạng những cảm giác vận động, do cơ chế đặc biệt của
nó quy định
Tuy khác biệt, nhưng ngôn ngữ bên trong có quan hệ chặt chẽ với ngônngữ bên ngoài: ngôn ngữ bên ngoài là nguồn gốc của ngôn ngữ bên trong, làkết quả nội tâm hoá của ngôn ngữ bên ngoài Theo những tài liệu hiện đại thìngôn ngữ bên trong có hai mức độ: ngôn ngữ bên trong và ngôn ngữ bêntrong thực sự Ở mức độ ngôn ngữ nói bên trong thì ngôn ngữ bên trong vẫngiữ nguyên cấu trúc của ngôn ngữ bên ngoài, nhưng chỉ không phát ra thànhtiếng mà thôi Ở mức độ ngôn ngữ bên trong thật sự thì ngôn ngữ bên trongmới có đầy đủ các đặc điểm nêu trên
B GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các ký hiệu phi ngôn ngữ là một loạtphương tiện quan trọng của sự biểu đạt Đó là tất cả các kích thích bên ngoàikhông phải là lời nói và chữ viết bao gồm sự chuyển động của thân thể, cácđặc điểm của cơ thể được biểu lộ ra bên ngoài, các đặc điểm giọng nói và sự
sử dụng không gian và khoảng cách
Thông thường tự giao tiếp phi ngôn ngữ được dùng để biểu đạt cácdấu hiệu cơ bản sau:
1 Sự gần gũi:
Chúng ta thường có khuynh hướng đến gần những cái gì chúng tathích và xa lánh những gì chúng ta không ưa Chúng ta thể hiện sự gần gũinày bằng khoảng cách và chỗ (vị trí) chúng ta ngồi, đứng
2 Cường độ:
Ở đây giao tiếp phi ngôn ngữ thường có liên hệ đến kích cỡ Kích cỡcủa những củ chỉ hoạt động, vùng hoạt động, vật sở hữu, áo quần,… gópphần nói lên cường độ của giao tiếp
3 Sự đáp ứng:
Trang 40Chúng ta sử dụng rất nhiều hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ để diễn tả
sự đáp ứng, từ mềm vui trọn vẹn đến sự thất vọng hoàn toàn
* Các kênh của giao tiếp phi ngôn ngữ
Các thông điệp phi ngôn ngữ, cũng như các dạng giao tiếp khác, đềuđược chuyên chở qua các kênh khác nhau
+ Ngôn ngữ thân thể (Kinesics) có thể được định nghĩa như là sựnghiên cứu giao tiếp thông qua những chuyển động của thân thể Chúng tagiao tiếp thông qua điệu bộ, qua cách chúng ta đi và đứng, qua sự biểu cảmcủa bộ mặt, con mắt và qua cung cách kết hợp các cách thể hiện khác nhautrên đối với các kênh mở và đóng
Thường có những loại ngôn ngữ thân thể sau:
Những biểu tượng, là những động tác phi ngôn ngữ được dịch ra ngônngữ một cách trực tiếp hay được xác định bằng “từ điển” Đó là một hình thứcngôn ngữ dấu hiệu, thay thế hoàn toàn cho những thông điệp bằng lời Chẳnghạn, dùng ngón cái và ngón trỏ làm thành một vòng tròn, với ba ngón còn lạicăng rộng ra làm kí hiệu chỉ nghĩa: “mọi việc đều ổn”; hoặc đưa ngón tay cholên môi (thường kèm theo một âm thanh) để ám chỉ “hãy im lặng” v.v…
Những minh hoạ, là những điệu bộ, cử chỉ đi kèm và bổ túc cho lời nói.Chúng thường được dùng để nhấn mạnh thêm hoặc cho những chỉ dẫn giốngnhư khi “nói bằng tay”, ví dụ khi nói “hãy đi qua đây” người ta thường vẫyngón tay nhiều lần, chậm hay nhanh tuỳ trường hợp Hoặc khi nói giá tiền chongười nước ngoài, người bán hàng thường giơ cả các ngón tay với số lượngtương ứng
Những biểu cảm là những hình dáng của khuôn mặt nói lên những cảmxúc hay ý kiến như buồn rầu hay không tán thành Bĩu môi, nháy mắt, nhướncao hay hạ thấp mí mắt và lông mày… là những ví dụ về các biểu cảm
Những điều chỉnh là những động tác phi ngôn ngữ được dùng khichúng ta muốn điều chỉnh tác động của lời nói, ví dụ gật đầu để khuyến khíchmột ai đó tiếp tục nói hay giơ bàn tay lên khi chúng ta tiếp tục lời nói củamình