Quan hệ tôn giáo của các dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng có mối liên hệ kết nối với các tín đồ Phật Giáo trong cả nước và đất nước Campuchia láng giềng, với các tổ chức tín ngư
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cho đến hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố duy nhất ở Việt Nam có số lượng dân số người dân tộc thiểu số Việt Nam sống đông đúc và tập
trung thành nhóm cộng đồng dân cƣ đô thị lâu đời nhất ở nước ta Ở Hà Nội không
có những phường dân cư hoặc quận đô thị có dân số dân tộc thiểu số từ 30% trở lên Ngược lại, tại Thành phố Hồ Chí Minh số đơn vị phường, quận có dân tộc thiểu số, nhất là bà con người Hoa có dân số trên 30% là có thể nhận biết một cách dễ dàng (ví như ở quận 11, quận 5, quận 6, quận Tân Phú) Ở Hà Nội, các dân tộc thiểu số chưa có những cơ sở tôn giáo riêng, trong lúc đó ở Thành phố Hồ Chí Minh, bà con người Hoa có nhiều đền, miếu, chùa, đình Minh Hương riêng do họ lập nên và để thờ cúng chung với người Việt Bà con Khmer có chùa Khmer, bà con Chăm có các thánh đường Muslim luôn luôn sinh hoạt tôn giáo hàng ngày Hiện nay, người Hoa
có 14 hội quán, 39 đền thờ họ (48 họ), nhiều hội quán có tuổi đời lâu năm, kiến trúc hoành tráng, hàng tháng có hàng nghìn bà con người Hoa, người Việt ở thành phố
và các tỉnh lân cận đến lễ bái cầu an Đồng bào Chăm có 16 thánh đường, tiểu thánh đường Bà con Khmer có 2 chùa Phật giáo Nam Tông Người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh là một nguồn nhân lực kinh tế đáng kể của nền kinh tế đô thị tại thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn trước đây và Thành phố Hồ Chí Minh sau này Văn hóa đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, nhất là văn hóa đô thị vùng Chợ Lớn cũ (nay là quận
5, quận 11, quận 6) đều mang đậm nét nhân tố văn hóa Hoa truyền thống qua những
lễ hội dân gian, phong tục tập quán, sinh hoạt tâm linh [34, tr.838-842] Tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có 51 dân tộc thiểu số ở Việt Nam sinh sống và cư trú, dân số chung là 437.532 người, chiếm 6,10% nhân khẩu thành phố Trong đó, có 3 cộng đồng dân tộc sống tập trung đông là dân tộc Hoa (411.505 người), dân tộc Khmer (11.807 người), dân tộc Chăm (7.059 người) Trong các dân tộc thiểu số, dân tộc Hoa chiếm 94,05% dân số, dân tộc Khmer 2,69% và người Chăm là 1,61% [34, tr.838-842] Quan hệ tôn giáo của các dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng có mối liên hệ kết nối với các tín đồ Phật Giáo trong cả nước và đất nước Campuchia láng giềng, với các tổ chức tín ngưỡng dòng họ của người Hoa ở Việt
Trang 2Nam và Đông Nam Á, người Chăm và cộng đồng tôn giáo Islam ở Malaysia và Indonesia Chỉ có ở Thành phố Hồ Chí Minh, vấn đề dân tộc và tín ngưỡng dòng
họ, tôn giáo (Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành, Islam) đã tồn tại bên nhau như là một vấn đề xã hội đô thị mang tính chiến lược có từ trước năm 1975
Thật vậy, trước năm 1975, người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh thông qua các hội quán dòng họ và cơ sở thừa tự ở vùng Chợ Lớn cũ đã là nơi kết nối và liên lạc với bà con người Hoa ở hải ngoại Trong đó, mối quan hệ với người Hoa Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam ở Bắc Mỹ và Châu Âu là thường xuyên, với người Hoa Triều Châu các quốc gia ở Đông Nam Á, đặc biệt là người Hoa ở Thái Lan, Campuchia, Lào và Mianma là gắn kết qua con đường thương mại, tín ngưỡng, dòng họ, địa phương Sau năm 1975, quan hệ mang tính “mạng lưới xã hội” ấy có thời gian lắng xuống Nhưng từ khi chính sách “đổi mới” năm 1986 được thực hiện, những hoạt động mang tính mạng lưới xã hội ấy đã và đang phục hồi và phát triển Người Hoa, nhất là bà con người Hoa lao động có một vai trò và vị trí quan trọng trong lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh Người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh là một dân tộc đô thị có nhiều cống hiến xây dựng và phát triển thành phố từ khi khởi đầu đô thị cho đến nay Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, bà con người Hoa đã từng tham gia cuộc khởi nghĩa Nam kỳ tháng 11 năm 1940 và Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 ở Sài Gòn – Chợ Lớn Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954) và cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước (1955 – 1975), phong trào đấu tranh của công nhân Hoa ở nhà máy dệt Vitnatexco, Vimitex, các đội biệt động nam nữ cánh Hoa Vận đã có nhiều công lao
to lớn trong phong trào chống Mỹ và chế độ cũ suốt hàng chục năm liền Ngày nay, cán bộ người Hoa như Nghị Đoàn, Dư Huệ Liên, Hà Tăng, Lưu Kim Hoa, các liệt sĩ như Quách Thị Trang, Trần Bội Cơ, Trần Khai Nguyên, các bà mẹ anh hùng, chiến
sĩ quân đội nhân dân người Hoa được cả nước biết tiếng và vinh danh đời đời
Nói về đồng bào Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh nhân một lần tham dự cuộc họp mặt truyền thống các giới đồng bào Hoa vào dịp đón mừng xuân Giáp Tuất ngày 30/01/1994 tại Khu du lịch Đầm Sen đã
khẳng định: “Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đồng bào người
Trang 3biết là ngay ở đây cũng có rất nhiều người đã từng tham gia 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Thanh niên, sinh viên Hoa cũng tham gia chống Mỹ ngay trong nội thành này và ở Chợ Lớn Một biểu tượng trước bùng binh chợ Bến Thành
là bức tượng của nữ sinh viên người Hoa Quách Thị Trang” Trong phát biểu này, đồng chí Nguyễn Văn Linh còn kêu gọi “Tôi kêu gọi đồng bào các giới, nhất là các giới người Hoa ở thành phố này làm ăn giỏi, cả về thương nghiệp cũng như công nghiệp tham gia lao động, làm tiểu thương, thương nghiệp và có thể đóng góp thành những tư sản Hoa đưa nền kinh tế Việt Nam đi lên Tôi cũng đề nghị đồng bào các giới kinh doanh người Hoa ở thành phố này có quen biết những người Hoa
ở các nước gần chúng ta như Singapore, Malaysia, Đài Loan, Hồng Kông…trước kia cũng từng ở đây, nhưng sau vì nhiều lý do bỏ đi sang các nơi khác làm ăn, bây giờ cứ ở lại các nước đó, nhưng sẽ về đây góp vốn, thiết bị máy móc cùng với đồng bào Hoa tại thành phố cùng chung sức nhau xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh này cũng như đất nước Việt Nam…” [20, tr.170] Vì vậy, nghiên cứu người Hoa và mối
quan hệ của họ với sự phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong lịch sử cận hiện đại
là nghiên cứu một phần quan trọng của tiềm năng và phát triển của thành phố trong thời gian dẫn đến năm 1986 (đổi mới) và sau năm 1986
Người Khmer ở Thành phố Hồ Chí Minh phần lớn là người nghèo đô thị có nguồn gốc từ các tỉnh lân cận của vùng đồng bằng sông Cửu Long tập trung xung quanh hai ngôi chùa của người Khmer ở quận 3 (chùa Kandaransi) và quận Tân Bình (chùa Bodhivong) Bà con đã thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của chính quyền và Mặt trận Tổ quốc Thành phố sinh sống nhằm xây dựng khu dân cư cùng bà con người Việt Lo lắng làm ăn sinh sống, hy vọng con em mình được học hành, được dạy bảo nhân cách theo chuẩn đạo đức Phật giáo Nam tông và giữ mối quan hệ với đồng bào Khmer ở quê hương gốc tại các tỉnh miền tây Nam Bộ là nguyện vọng cơ bản nhất của bà con Khmer sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay Tuy nhiên, trong thời gian qua “Cuộc chiến trên lĩnh vực văn hóa, mà trước hết là trận địa thông tin, báo chí, tuyên truyền đã diễn ra và ngày càng quyết liệt Bên cạnh những tổ chức lâu nay ngày càng được sử dụng nhiều hơn, gần đây cái gọi là “Hội Khmer Krôm” đã bùng lên quyết liệt trong trận chiến chống phá
Trang 4hội hiện tại và cho cả sự phát triển trong tương lai ở vùng Khmer Nam Bộ Nếu chúng ta đến các vùng nông thôn xa xôi, nhất là vùng biên giới Việt Nam – Campuchia, chúng ta dễ dàng nhận diện được mức độ ảnh hưởng và thẩm thấu trong nhận thức, tình cảm của người dân đối với những hoạt động tuyên truyền chống phá của thế lực thù địch Do vậy, cần củng cố và tăng cường hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, đài truyền hình, báo chí, tuyên truyền cổ động…đưa tất cả các “binh chủng” trên mặt trận này vào chiến đấu trực diện và toàn diện Đó phải coi là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa chiến lược, chứ không phải làm theo kiểu hình thức, “Hiện diện” hoặc ban ơn, chiếu cố như lâu nay” [11, tr.303]
Người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh có dân số ít, nhưng quan hệ hải ngoại không hẹp vì hai lý do Một là liên quan đến dòng Suni của Hồi giáo hiện đại trên thế giới, nhất là các quốc gia Đông Nam Á, hai là liên quan đến ngôn ngữ và văn hóa với cộng động ngôn ngữ Malayou ở các quốc gia Hồi giáo vùng Đông Nam
Á hiện nay Bà con Chăm thường cư trú tập trung xung quanh các thánh đường Hồi Giáo (masjid) và các tiểu thánh đường (surao) Nhà nghiên cứu dân tộc Chăm Phú
Văn Hẵn cho rằng việc “nghiên cứu cộng đồng Chăm Nam Bộ là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay khi Việt Nam đang hòa nhập với Đông Nam Á, nơi mà đạo Islam
có vị trí quan trọng trong các tôn giáo, có nơi là quốc gia như Malaysia, Brunei, còn Indonesia là nước có tín đồ lớn nhất với gần 200 triệu người Những quốc gia Đông Nam Á còn lại, ngay cả những quốc gia mang đậm dấu ấn Phật giáo như Cambochia cũng có tín đồ Islam (chủ yếu là người Chăm) sinh sống Cho nên việc nghiên cứu người Chăm Nam Bộ là góp phần tìm hiểu khu vực, tìm hiểu thế giới Islam, một lực lượng mạnh mẽ và phức tạp trên diễn đàn quốc tế hiện nay Nghiên cứu cộng đồng Chăm Islam Nam Bộ còn góp phần vào việc hiểu biết một nếp sinh hoạt văn hóa độc đáo pha trộn giữa tôn giáo và phong tục tập quán dân tộc Tìn đồ Islam tuân thủ chặt chẽ giáo lý của mình Sức mạnh của giáo lý đã làm thay đổi khá nhiều quan niệm, nếp sống đặc trưng của dân tộc họ Chế độ mẫu hệ của người Chăm nhường bước cho những đức tin, nhưng người phụ nữ không bị ràng buộc nặng nề như những người khác (nữ tín đồ Islam Nam Bộ chỉ đội khăn chứ không bịt
Trang 5Khmer, tiếng Việt Và cũng chính nhờ những ngôn ngữ mà họ giao tiếp được với thế giới trong nước và ngoài nước, Hiện nay, trên thế giới, vấn đề đạo Islam nóng bỏng
vì những xung đột tôn giáo, quyền lực, chủng tộc…Nhưng, đạo Islam ở Nam Bộ Việt Nam, tuy có những vấn đề nội tại, nhưng không bùng phát như tại các nước khác Mặc dù, cộng đồng Chăm và đồng đạo Islam ở đây lại đồng thời cũng là một cộng đồng tộc người đã từng có sự phát triển mạnh trong quá khứ Vì thế, cần tìm hiểu những yếu tố nào của cộng đồng đạo Islam và cộng đồng Chăm để có thể hiểu sâu hơn quá trình tộc người của họ dưới sự tác động của tôn giáo” [23, tr.315- 316] Theo tôi, Thành phố Hồ Chí Minh là không gian tập trung nhất các vấn đề của
bà con người Chăm Nam Bộ mà tiến sĩ Phú Văn Hẵn đã đề cập đến
Tóm lại, mối quan hệ dân tộc tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời đương đại mang tính đặc thù khác với thủ đô Hà Nội và các đô thị tỉnh thành trong nước Ở đây, các dân tộc sống tập trung thành những cộng đồng dân cư đô thị chiếm dân số đông ở các tổ dân phố, khu phố, phường và quận Ngược lại, ở Hà Nội và các đô thị tỉnh thành ở nước ta, các dân tộc thường cư trú lẻ tẻ và rất phân tán Mặt khác, ở Thành phố Hồ Chí Minh, cộng đồng dân tộc và cộng đồng tôn giáo gắn kết lẫn nhau với nhiều quan hệ kinh tế - xã hội - văn hóa rất phong phú và phức tạp tồn tại trong từng dòng họ, từng nhóm địa phương Các mối quan hệ này tồn tại ở nội thành, ngoại thành, miền tây Nam Bộ và hải ngoại
Do đó, việc chọn đề tài “Quan hệ dân tộc tại Thành phố Hồ Chí Minh trong
30 năm đổi mới (1986-2015)” là cần thiết để nhận biết vai trò, vị trí của các dân tộc
và mối quan hệ giữa các dân tộc ở một thành phố lớn nhất nước ta về dân số, là một trong hai đô thị đặc biệt ở Việt Nam hiện nay Bởi vì, các dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh là nguồn nhân lực xây dựng, hình thành và phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh trong lịch sử Vấn đề quan hệ dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến vấn đề ổn định xã hội và phát triển kinh tế - văn hóa trong 30 năm đổi mới
và trong tương lai
2 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 6Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ giữa các dân tộc đang chung sống trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Cụ thể:
- Mối quan hệ giữa người Kinh với người Hoa, giữa người Kinh với người Chăm, giữa người Kinh với người Khmer, giữa người Kinh với các cộng đồng dân tộc khác
- Mối quan hệ giữa cộng đồng các dân tộc (trừ người Kinh) trên địa bàn thành phố
- Các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, đối ngoại ảnh hưởng đến các mối quan hệ dân tộc trên địa bàn thành phố
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung
Đề tài này nghiên cứu, phân tích các mối quan hệ giữa các dân tộc; các yếu
tố tác động đến mối quan hệ dân tộc trong xây dựng đại đoàn kết dân tộc thời kỳ đổi mới để đánh giá, đề xuất các giải pháp để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc Đây là nền tảng, là động lực để phát triển thành phố trong thời gian tới
3.2 Mục tiêu cụ thể
Trang 7- Tìm hiểu đặc điểm, tình hình của các dân tộc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt trong giai đoạn thành phố tiến hành công cuộc đổi mới
- Phân tích các yếu tố tác động đến các mối quan hệ giữa các cộng đồng dân tộc trên địa bàn thành phố (chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội…)
- Đề xuất các giải pháp về chính sách để tăng cường mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc trên địa bàn nhằm tạo động lực quan trọng cho sự phát triển của thành phố trong giai đoạn tới
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài “Quan hệ dân tộc tại thành phố Hồ Chí Minh trong 30 năm đổi mới (1986 – 2015)”, theo tôi có 2 ý nghĩa khoa học và một ý nghĩa thực tiễn Về ý nghĩa khoa học, đây là một công trình nghiên cứu sơ bộ đầu tiên về các hoạt động xã hội
toàn diện đối với 3 dân tộc đông người nhất ở thành phố trong tiến trình đổi mới 30 năm liên tục Việc nghiên cứu này góp phần khắc sâu hơn tầm hiểu biết chiến lược
về vai trò và chức năng của vấn đề dân tộc trong thực tiễn xây dựng, phát triển và hội nhập của môi trường đô thị hóa Đồng thời, qua đó người nghiên cứu cũng bước đầu tìm hiểu những nhu cầu mới của môi trường đô thị và văn hóa đô thị đang làm chuyển hóa các nhân tố truyền thống của dân tộc đã tồn tại từ lâu đời trong lịch sử Hơn thế nữa, đây là một công trình sơ bộ đóng góp lịch sử đương đại của thanh phố,
đặc biệt là lịch sử 30 năm đổi mới của Thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975 Về ý nghĩa thực tiễn, đây là một công trình tổng hợp tình hình hoạt động của các dân tộc
thiểu số Thành phố Hồ Chí Minh trong 30 năm đổi mới với mối quan hệ với người Việt (dân tộc đa số) với các chính sách, chủ trương của Đảng, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc Từ đây, luận văn nghiên cứu có thể góp một phần vào tầm nhìn tổng quan để hình thành một chính sách dân tộc đổi mới ở một đô thị văn minh, hiện đại
và nghĩa tình như Thành phố Hồ Chí Minh
5 Lịch sử nghiên cứu
Có thể nói, quá trình nghiên cứu chuyên đề đã được công bố về mối quan hệ dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh trong 30 năm đổi mới là còn rất hiếm hoi Trong lúc đó, những tư liệu phân tích và miêu tả về kinh tế người Hoa, tôn giáo và tín
Trang 8ngưỡng của Hoa, Chăm, Khmer có nhiều hơn, nhưng vẫn rất khiêm tốn, đặc biệt nói đến các dân tộc Hoa, Chăm, Hoa ở thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn xưa Những công
trình mang tính tổng quan như Đào Trinh Nhất nghiên cứu về “Thế lực Khách Trú
và vấn đề di dân vào Nam Kỳ” (1924 NXB Thụy Ký, Hà Nội) của người Hoa ở
Việt Nam mà nội dung cụ thể là các hoạt động kinh tế công thương nghiệp ở vùng
Chợ Lớn cũ với nền kinh tế lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long…Đào Trinh Nhất
(1900 – 1951) quê ở huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, sinh ra ở Huế học báo chí ở Paris, làm việc và trưởng thành ở Sài Gòn Công trình nghiên cứu người Hoa được xuất bản lúc ông 24 tuổi Ông mất tại một xóm nghèo ở phố Hòa Hưng (Sài Gòn) vào ngày 23/11/1951, thọ 52 tuổi Đây là tác giả nghiên cứu về hoạt động kinh tế thương mại của người Hoa sớm nhất trong lịch sử nghiên cứu người Hoa đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay
Mãi đến năm 1968, trong thư mục sách nghiên cứu mới xuất hiện một công trình nghiên cứu về người Hoa một cách khoa học và toàn diện, tập trung vào vùng
Chợ Lớn Đó là luận án đại học “Những người Trung Hoa ở miền Nam Việt Nam”
(Les Chinois Sud – Việt Nam) của tác giả Tsai Maw – Kuey đã bảo vệ thành công tại Khoa văn hóa và khoa học nhân văn Trường Đại học Sorbonnes ở Paris vào tháng 6 năm 1968 Tsai Maw – Kuey lớn lên ở Chợ Lớn và học Trường chuyên ngữ Pháp - Hoa tại đây rồi vào đại học trường Sorbonne nổi tiếng của Châu Âu tại thủ
đô Paris Tác giả rất quan tâm đến những thương nhân, doanh nghiệp người Phúc
Kiến và Quảng Đông Luận án có 8 chương chính: chương 1 nói về quá trình nhập
cư thời kỳ trước khi Pháp thuộc và sau khi Pháp thuộc, sự hình thành thành phố
Chợ Lớn Chương 2, nói về các dữ liệu dân số Chương 3, nói về 5 nhóm địa
phương theo ngôn ngữ (Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hakka, Hải Nam)
Chương 4, trình bày về các tộc họ Chương 5, nói về các nhà kinh doanh Chương 6, nói về công nghệ và tiểu thủ công nghiệp Chương 7, trình bày về các nghề bị cấm Chương 8, trình bày về các trường học và các tổ chức phụ huynh học sinh Hoa
Về người Chăm, chỉ có một số bài báo của nhà nghiên cứu Chăm Dohamid
và Dorohiem nghiên cứu về ngôn ngữ và chế độ mẫu hệ Chăm Ở Paris, từ năm
1970 có tiến sĩ Po Dharma làm việc ở Trường Viễn đông Bác cổ Pháp nghiên cứu
Trang 9sách về “Người Việt gốc Miên” Lê Hương tên thật là Lê Quang Hương, công chức thời Pháp thuộc ở Cao Lãnh vào năm 1944 Sau năm 1954 làm thông tấn viên Việt Tấn Xã ở thủ đô PhnômPênh và năm 1958 về lại Sài Gòn làm ở Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa Sài Gòn dưới thời Ngô Đình Diệm
Ở Hà Nội, việc nghiên cứu người Hoa, người Chăm, người Khmer đã được nghiên cứu từ năm 1956 Việc nghiên cứu chủ yếu là miêu tả và nhận dạng theo chuyên khảo dân tộc học (monography) với tinh thần xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam và thực hiện quyền tham chính xây dựng quyền lập pháp, tham gia đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Năm 1959, nhà xuất bản Văn hóa ở Hà Nội đã xuất bản cuốn sách “Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” do nhóm nghiên cứu dân tộc của Ủy Ban Dân Tộc biên soạn (Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu
Thấu, Mai Văn Trí, Ngọc Anh, Mạc Như Đường) “nhằm trình bày một số tình hình
và đặc điểm các dân tộc thiểu số và giới thiệu sơ bộ một số dân tộc tương đối có tài liệu” [24] Cuốn sách đã dành 10 trang (tr.73-83) viết về 80.538 người Hoa các tỉnh
miền Bắc như Hải Ninh, Hồng Quảng, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Cao Bằng Cuốn sách dành 13 trang giới thiệu 45.000 người Chăm ở Ninh – Bình Thuận, Châu Đốc, Sài Gòn, Tây Ninh và vùng dân cư ven biển miền Trung (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên ngày nay) Cuốn sách cũng dành 13 trang (tr 177-191) để giới thiệu về “Dân tộc Khơ – Me Nam Bộ” với dân số trên 45 vạn người cư trú ở miền tây Nam Bộ, trên 60% dân số tập trung trong khu vực Vĩnh – Trà (tức là các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên) liên hợp thành tỉnh Vĩnh – Trà thành lập ngày 27/6/1951 và giải thể sau hiệp định Giơnevơ năm 1954 Trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Viện Dân tộc học Việt Nam thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam đã xuất bản một công trình sách lớn gồm
2 tập (“Các dân tộc phía Bắc” và “Các dân tộc phía Nam” Nxb KHXH Hà Nội, 1984) Trong đó, các phần giới thiệu về người Hoa, Người Chăm, người Khmer Nam Bộ đã được giới thiệu qua những tư liệu điều tra thực tế và thư tịch theo chuẩn mực dân tộc học và sử học Trong thời gian sau năm 1975, với việc thành lập Ban Dân tộc học thuộc Viện Khoa Học Xã hội Miền Nam thuộc Trung ương Cục Miền Nam (năm 1978 đổi tên thành Viện Khoa Học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 10thức dân tộc và công bố những công trình nghiên cứu về người Hoa, người Chăm, người Khmer Nam Bộ đã được phát triển và lan tỏa mạnh mẽ Trong thời gian này,
có nhiều bài nghiên cứu, chuyên đề nghiên cứu sách được xuất bản và công bố trên các tạp chí khoa học Có thể nêu lên vài ví dụ như các bài chuyên khảo của Mạc Đường về “Chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ đối với vấn đề dân tộc ít người ở miền
Nam nước ta” (tạp chí Dân tộc học, Hà Nội số 2 – 1977), sách “Xã hội người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975” (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1996),
“Về đồng bào Hoa ở Đồng bằng sông Cửu Long và Nam Bộ”, trong sách “Chung một bóng cờ”, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội 1993, “Hệ thống cấu trúc làng
Chăm ở Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, Hà Nội 1992, “Sơ khảo lịch sử chống xâm lăng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Nam Bộ” NXB Khoa học Xã hội,
Hà Nội 2015, sách “Chân dung anh hùng các dân tộc thiểu số Việt Nam” do Đinh
Thu Xuân và Mạc Đường biên soạn, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội 2006…Đó còn là những công trình dân tộc nghiên cứu sâu về người Hoa của Gs Phan An, Phan Xuân Biên về người Hoa, người Chăm và Khmer Nam Bộ, của các nhà nghiên cứu dân tộc học Phan Lạc Tuyên, Mad Mod, Phan Văn Dốp, Phan Thị Yến Tuyết, Trần Hồng Liên, Võ Công Nguyện, Tạ Long, Nguyễn Thị Chính, Bá Trung Phụ, Thành Phần, Sử Văn Ngọc, Nguyễn Khắc Cảnh, Đặng Thị Kim Oanh, Phú Văn Hẵn, Trần Thanh Pôl…
Việc nghiên cứu chuyên khảo các vấn đề xã hội, kinh tế và văn hóa, tôn giáo các dân tộc Hoa, Chăm, Khmer Nam Bộ hầu như đã đạt được mức lan tỏa mạnh trong những năm 80 và 90 của thế kỷ XX Sang thế kỷ XXI, xuất hiện xu thế đi dần vào việc nghiên cứu quan hệ dân tộc trong thời đương đại Mở đầu bằng những sự nhận thức về lý thuyết được công bố tại Thành phố Hồ Chí Minh là một số nội dung trong công trình mang tính lý thuyết và thực tiễn của Viện Nghiên cứu phát triển
thành phố Hồ Chí Minh do Gs Phan Xuân Biên chủ biên (sách “Quan hệ tộc người
và phát triển xã hội ở Việt Nam hiện nay”, NXB Tổng hợp TP.HCM 2010) và giáo
trình của Gs Ngô Văn Lệ tại Khoa Nhân học, Trường Đại học KHXHNV Thành
phố Hồ Chí Minh (sách “KHXH và văn hóa tộc người – hội nhập và phát triển”,
Nxb Đại học Quốc Gia TP HCM, 2012) Gần đây nhất, Hội Dân tộc Học – Nhân
Trang 113, NXB Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 với 34 nhà nghiên cứu đã đề cập nhiều lĩnh vực quan hệ dân tộc đương đại Ví như những bài viết của
Gs Phan Thị Yến Tuyết, TS Trần Thị Thảo, Trần Hạnh Minh Phương, Nguyễn Đệ…về người Hoa, của Sơn Ngọc Khánh, Trần Văn Triệu, TS Nguyễn Thành Đức, Phan Anh Tú về người Khmer Nam Bộ…Nguyễn Ngọc Ánh về người Chăm.v.v
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Khảo sát và phân tích tư liệu, văn kiện
Với phương pháp khảo sát và phân tích tư liệu, văn kiện, đề tài tập hợp và phân tích các tài liệu như: Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố từ năm 1986 đến năm 2015, các Nghị quyết có liên quan đến việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, các văn bản có liên quan đến các dân tộc trên địa bàn thành phố…, các sách, báo, các tài liệu đã nghiên cứu về quá trình phát triển các dân tộc ở thành phố
Hồ Chí Minh nhằm xây dựng một bức tranh tổng quát về bối cảnh nghiên cứu, các cách tiếp cận nghiên cứu, các kết quả phân tích đối với các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
Tổ chức khảo sát, phỏng vấn trên thực tế để thu thập các thông tin từ các cộng đồng người Hoa, người Chăm, người Khmer, người Kinh về các mối quan hệ giữa các cộng đồng, về tâm tư, nguyện vọng trong quá trình phát triển của thành phố, để phản ánh, bổ sung thêm các thông tin từ nghiên cứu trên tư liệu
6.2 Phân tích và miêu tả các mô hình quan hệ
Thông qua thực tiển khảo sát để mô tả các mô hình quan hệ giữa các dân tộc trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, như trong làm ăn kinh tế, trong tín ngưỡng tôn giáo, trong giao tiếp văn hóa và trong cộng đồng dân cư để phân tích, đánh giá mặt tích cực, mặt tiêu cực của các mô hình quan hệ Qua đó rút ra những quan hệ chung nhất, có tính phổ biến để phát triển
6.3 Phân tích theo logic lịch sử để khẳng định xu hướng phát triển
Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được sử dụng trong đề tài để xem xét quá trình quan hệ liên tục trên nhiều mặt của các cộng đồng dân tộc trên địa bàn thành phố trước và trong quá trình đổi mới để làm rõ điều kiện và đặc điểm phát
Trang 12sinh, phát triển và biểu hiện của chúng để cho thấy xu hướng phát triển của các mối quan hệ này
Trên cơ sở đó khẳng định mối quan hệ đoàn kết, gắn bó cùng nhau phát triển của các cộng đồng dân tộc trên địa bàn thành phố trong tương lai
7 Bố cục của luận văn
Bố cục luận văn được thực hiện theo hướng dẫn của khoa Sau Đại học – trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng Luận văn có bố cục như sau:
lịch sử và lịch sử đương đại nói chung, đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh, xét trên các thƣ tịch đã đƣợc công bố, là còn rất hiếm vắng Đây là điều khó khăn nhất
cho tác giả và sẽ là điều thiếu sót thể hiện trong luận văn này
Trang 13CHƯƠNG MỘT:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH DÂN TỘC Ở THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN (1986 – 2015) 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, quan hệ dân tộc là lĩnh vực được Đảng Cộng Sản Việt Nam và nhà nước rất quan tâm để xây dựng Đại đoàn kết dân tộc Đây chính là động lực, là sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển cho đến ngày nay Trong toàn
bộ lý luận của Đảng thì tư tưởng Đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục, tập hợp, tổ chức cách mạng và tiến bộ, nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh và độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Việc đánh giá quan hệ các dân tộc giúp chúng ta hiểu rõ những mặt mạnh, mặt yếu trong từng mối quan hệ, hiểu rõ những chính sách đang tác động đến các quan
hệ dân tộc có phù hợp hay không? Sự phát triển của cộng đồng các dân tộc có phù hợp với sự phát triển của đất nước hay không? Đây chính là những vấn đề để xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bài viết, báo cáo tổng kết đi sâu phân tích các quan hệ dân tộc, các cộng đồng người dân tộc trên địa bàn thành phố nói riêng và cả nước nói chung, ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, ở nhiều lĩnh vực khác nhau Trong giới hạn đề tài cho phép, chúng tôi xin tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau:
- Tập sách: Chung một bóng cờ - của nhiều tác giả được nhà xuất bản Sự Thật tái xuất bản năm 2015 Bộ sách đã được xuất bản lần đầu cách đây 23 năm, là kết quả đầy tâm huyết của các đồng chí: Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Hữu Thọ, Trần Bạch Đằng và các đồng chí trong Hội đồng chỉ đạo biên tập, và Ban biên tập làm việc trong gần 3 năm Đây là tập sách nói về quan hệ chính trị và chiến đấu của nhân dân Miền Nam trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước; sự đoàn kết của các dân tộc, một phẩm chất dân tộc cô đặc, phản ảnh sức mạnh của nền văn hiến Việt Nam, sức mạnh Đại đoàn kết dân tộc
Trang 14- Tập sách: Người Hoa ở Việt Nam - thành phố Hồ Chí Minh của ông Nghị Đoàn Nguyên trưởng ban công tác người Hoa thành phố Tập sách được nhà xuất bản thành phố xuất bản năm 1999 tập trung nhiều bài viết về truyền thống cách mạng, về lĩnh vực kinh tế, về truyền thống văn hóa dân tộc và các lĩnh vực khác của người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh
- Tập sách: Quá trình hội nhập và phong trào đấu tranh cách mạng của người Hoa Sài Gòn – Chợ Lớn và các tỉnh Nam Bộ từ năm 1930 đến năm 1975 do Câu lạc
bộ truyền thống kháng chiến khối người Hoa thành phố Hồ Chí Minh xuất bản Cuốn sách đề cập đến truyền thống đoàn kết giữa người Hoa và người Việt qua hai thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ của dân tộc ta
- Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh trong mỗi kỳ Đại hội đều tổng kết, đánh giá tình hình các dân tộc, mối quan hệ của các dân tộc và việc thực hiện chính sách Đại Đoàn kết dân tộc trên địa bàn thành phố Bên cạnh đó, thành phố cũng quan tâm tổng kết, đánh giá tình hình người Hoa trên địa bàn (địa phương có đông người Hoa nhất cả nước) để đúc kết kinh nghiệm, cụ thể:
+ Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa IX) về công tác dân tộc
+ Báo cáo tổng kết 10 năm việc thực hiện Chỉ thị 62/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng “về tăng cường công tác người Hoa trong tình hình mới” (Báo cáo số 13-BC/TU ngày 12-4-2006 của Ban Thường vụ Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh)
+ Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị 62-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng “về tăng cường công tác người Hoa trong tình hình mới”
+ UBND thành phố đã có Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 06/2004/CT-TTg ngày 18-02-2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh trật tự đối với đồng bào người Chăm trong tình hình mới
Tuy nhiên việc nghiên cứu sâu và tổng thể về mối quan hệ dân tộc tại thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 30 năm đổi mới chưa nhiều và chưa toàn diện Do
Trang 15vậy, đề tài này xin được đề cập một cách tổng thể những mặt được và chưa được về quan hệ giữa các dân tộc tại thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn này để đề xuất, kiến nghị những chính sách cần quan tâm thực hiện để góp phần nâng cao chất lượng mối quan hệ các dân tộc tạo nền tảng và động lực cho bước phát triển mới của thành phố
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm dân tộc
a Chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù; Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó Theo nghĩa này, dân tộc được hiểu như một tộc người hay một dân tộc trong một quốc gia đa dân
tộc, với nghĩa này, Việt Nam gồm 54 dân tộc hay 54 tộc người
b Chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung suốt một quá trình lịch sử lâu dài dựng nước
và giữ nước
Theo nghĩa này, dân tộc đồng nghĩa với quốc gia – dân tộc như: dân tộc Việt
Nam, dân tộc Trung Hoa
Dân tộc thường được nhận biết thông qua những đặc trưng chủ yếu sau:
- Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành
viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc
- Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng
gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước
- Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung
Trang 16- Có nét tâm lý riêng (nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn hóa dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hóa dân tộc, gắn bó với nền văn
hóa của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc)
1.2.2 Quan hệ dân tộc
Quan hệ dân tộc là quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia và xuyên quốc gia và mối quan hệ giữa tộc người với cộng đồng dân tộc – quốc gia trên nhiều lĩnh vực như: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…
Quan hệ dân tộc vừa là mối quan hệ tự nhiên, vừa mang tính tất yếu trong một quốc gia hay khu vực đa dân tộc, chịu tác động của nhiều yếu tố
Tầm quan trọng của quan hệ dân tộc là điều dễ nhận thấy, nhưng xử lý vấn
đề này như thế nào cho đúng ở mỗi quốc gia là điều không dễ dàng Cùng với thời gian, từ trong nội tại, quan hệ dân tộc cũng luôn biến đổi Và cùng với thời gian, các thể chế chính trị cũng thay đổi chính sách dân tộc, tác động đến mối quan hệ dân tộc Ngoài ra quan hệ dân tộc còn bị chi phối bởi bối cảnh quốc tế, trước những nhân tố bên ngoài, với các hệ lụy khó kiểm soát
Với Việt Nam, quan hệ dân tộc là lĩnh vực được Đảng và nhà nước rất quan tâm Bởi vậy trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ đất nước, các dân tộc thiểu số đã sát cánh cùng dân tộc đa số, có nhiều đóng góp to lớn Khi bước vào giai đoạn xây dựng đất nước, tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các chính sách của Đảng và nhà nước càng tập trung thực hiện đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc
Quan hệ dân tộc hiện nay thể hiện chủ yếu:
- Mối quan hệ giữa toàn bộ các tộc người với quốc gia – Tổ quốc Việt Nam
Xã Hội Chủ Nghĩa
- Mối quan hệ giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu số
- Quan hệ giữa các tộc người thiểu số với nhau ở trong và ngoài nước
- Quan hệ nội tộc người bao gồm: quan hệ nội tộc người trong nước và quan
hệ với những người đồng tộc và thân tộc ở nước ngoài
Trang 17Các quan hệ trên đây được biểu hiện ở nhiều lĩnh vực: từ nguồn gốc, ngôn ngữ, văn hóa, hôn nhân, dòng họ, kinh tế đến chính trị
1.2.3 Quan hệ nội tộc người
Chủ yếu phân tích sự cố kết hoặc sự phân ly của tộc người:
- Sự cố kết: Nhu cầu nội tại trong phát triển, nhu cầu chia sẻ giúp đỡ nhau
trong cùng tộc người, đặc biệt là cùng dòng họ, hay cộng đồng làng
- Sự phân ly: Thường do tác động bên ngoài như: kinh tế thị trường, toàn cầu
hóa, truyền đạo trái phép…
1.2.4 Quan hệ giữa các dân tộc thiểu số
Đặc biệt là quan hệ xã hội – văn hóa dẫn đến sự đồng hóa tự nhiên hoặc chuyển hóa về tộc người Sự cư trú xen cài, hôn nhân hỗn hợp dân tộc Vấn đề tái định cư đang diễn ra ở nhiều vùng dân tộc thiểu số ở nước ta làm gia tăng việc cộng
cư, xen cư giữa các dân tộc, thúc đẩy giao lưu, tiếp xúc văn hóa, song cũng đặt ra vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa của các tộc người này
1.2.5 Quan hệ giữa dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh
- Quan hệ giữa người Kinh với các dân tộc thiểu số khác trong lịch sử khà tốt đẹp, không có áp bức dân tộc Ngay cả cuộc di dân về phương Nam để khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng diễn ra một cách hòa bình giữa người Kinh với các tộc người tại chỗ
- Sự giao lưu, ảnh hưởng văn hóa của người Kinh với các dân tộc thiểu số có
sự xích lại gần nhau
- Trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập cảnh báo về việc xói mòn, thậm chí mất văn hóa của các dân tộc thiểu số do ảnh hưởng văn hóa của người Kinh
- Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng diễn ra mạnh mẽ, trong đó có sự phân hóa giữa dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, giữa đồng bằng và miền núi
1.2.6 Quan hệ dân tộc xuyên quốc gia
Trang 18- Ở Việt Nam do nhiều nguyên nhân, có khoảng 40 dân tộc có mối quan hệ xuyên quốc gia với mức độ khác nhau Chủ yếu là quan hệ dân tộc xuyên biên giới, tức quan hệ với đồng tộc, khác tộc ở 3 nước láng giềng có chung đường biên giới là: Trong Quốc, Lào, Campuchia
- Quan hệ lịch sử tộc người, hôn nhân, dòng họ, di dân
- Quan hệ với các quốc gia không có chung đường biên giới của một số dân tộc như Hoa, Chăm
1.2.7 Quan hệ tộc người với cộng đồng dân tộc – quốc gia
c - Cộng đồng – sở hữu chung – họ là một cộng đồng có chung sự sở hữu
d - Cộng đồng – Một nhóm quốc gia có lợi ích chung: - Cộng đồng Asean
- Cộng đồng là một tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những quan điểm tương đồng về mặt văn hóa, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một địa phương nhất định (thôn, bản, làng, xã, huyện, tỉnh…)
- Cộng đồng dân cư là nhiều người, nhiều nhà cùng sống chung nhau trong một khoảng không gian
Trang 191.3 Tổng quan tình hình dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn (1986-2015)
1.3.1 Sự hình thành dân cư trong quá trình khai phá đất Sài Gòn – Gia Định giai đoạn đầu đến thời kỳ Pháp thuộc:
Bến Nghé (Sài Gòn xưa) là một vùng đất hoang vu, rừng rậm, đầm lầy, nằm giữa lưu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long, có nhiều sông rạch đổ ra biển Đông
Thế kỷ thứ 16 đã có lưu dân người Việt (Đàng Ngoài) và miền Trung (Đàng Trong) đến đây sinh cơ lập nghiệp Trong lưu dân có người bị đi đày và số đông là nông dân, có cả nho sĩ, mang theo tinh thần chống đối bọn quan lại tham ô và cường hào, ác bá
Trên vùng đất mới, nhiều lớp người đi đầu mở cõi đã quy tụ ngày càng đông đúc các lưu dân lao động cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo, chống chọi lại cá sấu, hùm beo, thú dữ, chịu đựng mưa nắng, muỗi mòng, đĩa vắt… cùng cư dân tại chỗ biến vùng đất này thành ruộng rẫy, xây dựng nên thôn ấp với tinh thần tự lập, tự quản, đoàn kết hòa hợp, tương thân, tương ái
Đến cuối thế kỷ 17, vùng đất Bến Nghé - Sài Gòn trở thành bến sông, phố chợ, một cửa ngõ giao dịch với bên ngoài Khi Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Cảnh làm quan kinh lược Đồng Nai, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn, dựng dinh Phiên trấn Từ đó Sài Gòn trở thành một trung tâm hành chính, có chế độ cai trị,chấm dứt thời kỳ tự phát, tự quản của lưu dân
Từ thế kỷ 18, Sài Gòn ngày càng có vị trí chiến lược quan trọng, chẳng những đối với cả nước mà còn đối với cả khu vực Nam Đông Dương và Đông Nam
Á
Do ở phía Nam, đất rộng người thưa, nhà nước phong kiến đã sớm có chính sách mở rộng nông nghiệp, tự do khai hoang chiếm hữu ruộng đất, khuyến khích thương mại… chính sách này đã khuyến khích ngày càng mạnh mẽ hội tụ dân cư tứ
xứ từ Trung, Bắc vào Nam để sinh cơ lập nghiệp, nhất là tại phố thị Sài Gòn và các vùng phụ cận Trong số những lưu dân, những năm đầu thế kỷ 18 đã có nhiều người
Trang 20Hoa vốn bất phục tùng triều đình nhà Thanh hoặc bị truy nã hoặc đời sống cùng cực
đã tìm đến vùng đất Đồng Nai – Gia Định để làm ăn Họ đã góp sức đáng kể vào việc mở mang đô thị vùng Sài Gòn và sau đó là vùng Chợ Lớn
Vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, Sài Gòn vừa là Trung tâm hành chính, vừa là Trung tâm thương mại với 2 thị trấn lớn là Sài Gòn – Chợ Lớn và vùng Gia Định Bến sông Sài Gòn trở thành bến sông thường xuyên có tàu thuyền các nước phương Tây lui tới Cư dân Sài Gòn – Gia Định vừa sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vừa buôn bán, kể cả mở rộng buôn bán với nước ngoài nên trở thành một trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất có tầm cỡ Đông Nam Á
Qua con đường tàu bè giao lưu buôn bán với nước ngoài, văn hóa phương Tây dần thâm nhập vào Sài Gòn Xã hội Sài Gòn từ thuở đó đã có tính chất quốc tế qua các bản sắcdân cư vãng lai Cộng đồng dân cư Sài Gòn ly hương tìm đất mới là
để kiếm sống nên có ý chí tự lập cao Những điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh kinh
tế xã hội mới đã tạo cho cư dân nơi đây nhiều đức tính mới Cùng với tinh thần yêu nước, trọng nhân nghĩa, cần cù lao động… vốn là truyền thống tốt đẹp của nhân dân Việt Nam nói chung, người dân Sài Gòn - Gia Định còn có thêm tính khí phóng khoáng, hào hiệp, cởi mở, dám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo…
Cũng chính từ những đặc điểm nêu trên và qua đoàn kết đấu tranh với thiên nhiên cùng với chống ngoại xâm để bảo vệ và xây dựng vùng đất Phương Nam đã hun đúc nên hào khí Đồng Nai
- Tháng 2/1859 quân Pháp đánh thành Gia Định tiếp đó tấn công đồn Chí Hòa, thực dân Pháp chiếm Sài Gòn và biến nơi đây thành bàn đạp để thôn tính 3 tỉnh miền Đông, rồi cả Nam kỳ lục tỉnh Chúng thực hiện chế độ thuộc địa trực trị ở Nam kỳ Sài Gòn trở thành thủ phủ, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn ở Miền Nam nước ta, chiếm được Nam kỳ thực dân Pháp chú trọng xây dựng những công trình, những xí nghiệp phục vụ cho việc cai trị vùng đất mới và mở rộng việc lấn chiếm cả nước và toàn cõi Đông Dương
Do kinh tế mở mang khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn thu hút ngày càng nhiều người ở các vùng ngoại ô và các tỉnh Nam kỳ, cùng nhiều địa phương khác trong
Trang 21đông hơn Dân số ngày càng tăng nhanh, năm 1901 chỉ có 47.577 dân, Chợ Lớn chỉ
có 63.237 dân thì đến năm 1929 Sài Gòn - Chợ Lớn có trên 300.000 dân Cơ cấu dân số cũng có sự thay đổi đáng kể:
- Công nhân lao động những năm đầu thế kỷ 20 có khoảng 25.000 thì đầu năm 1920 đã lên đến 100.000 người Đội ngũ công nhân lao động phần lớn nằm trong các mạch máu kinh tế quan trọng của thực dân Pháp, chịu 3 tầng áp bức bóc lột nặng nề của đế quốc, phong kiến và tư sản, nên có ý thức chống áp bức, bóc lột,
có tinh thần đoàn kết với tính tổ chức kỷ luật cao
- Tầng lớp dân nghèo thành thị bao gồm những người buôn gánh, bán bưng, bán quán, bán lẻ tạp hóa, tiệm may nhỏ, làm nón, hớt tóc, chạy xe kéo, làm vệ sinh, quét chợ, quét đường… nhiều người không có chỗ cư trú ổn định, đồng tiền kiếm được chỉ đủ đắp đổi qua ngày Họ căm thù thực dân, phong kiến, bất bình trước cảnh phân chia giàu nghèo Họ thường tham gia vào các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ và gắn bó với tự nhiên, với công nhân, nông dân
Nông dân ở ngoại thành vốn sẵn lòng yêu nước, từ khi có giai cấp công nhân, lòng yêu nước và tinh thần cách mạng của nông dân ngày càng được nâng cao
Tầng lớp tiểu tư sản gồm những người thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ, những viên chức nhỏ, trí thức làm nghề tự do, học sinh, sinh viên… Đa số kinh tế của tầng lớp này thường bấp bênh, luôn bị đe dọa phá sản, thất nghiệp, lại bị thực dân phong kiến, tư sản bóc lột, khinh rẻ nên họ bất mãn với chế độ thực dân phong kiến, đặc biệt là tầng lớp trí thức, ký giả, sinh viên, học sinh, họ biết lợi dụng “tự
do, dân chủ” kiểu thuộc địa để cổ vũ lòng yêu nước, thương nòi, chống ngoại ban phong kiến đòi quyền lợi cho dân
Giới tư sản ở Sài Gòn gồm tư sản người Pháp, người Hoa kiều, người Ấn kiều, một số nước ngoài khác và tư sản người Việt Tư sản Việt Nam chia làm 2 bộ phận: Tư sản kinh doanh kiểu mại bản và tư sản dân tộc Tư sản mại bản quyền lợi của lớp người này gắn liền với quyền lợi của thực dân Pháp và mâu thuẫn gay gắt với tư sản Hoa kiều Tư sản dân tộc có khuynh hướng dân tộc và dân chủ muốn được tự do phát triển như tư sản các nước, không lệ thuộc, nhưng do quan hệ kinh
Trang 221.3.2 Sự biến động dân cư Sài Gòn – Gia Định từ năm 1954 – 1975:
Sau khi thực dân Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Geneve vào năm 1954 để chuẩn bị cho tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam Bắc Một cuộc di dân đã diễn ra từ Bắc vào Nam của một bộ phận người Công giáo đã vào định cư ở Sài Gòn – Gia Định Sau đó đế quốc Mỹ vào Nam bộ thay chân thực dân Pháp Hiệp định Geneve không được thực hiện, đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam, Bắc Miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đi theo con đường Xã Hội Chủ Nghĩa, Miền Nam bị Mỹ chiếm đóng và dựng lên chính quyền Việt Nam Cộng Hòa do Ngô Đình Diệm cầm đầu Đất nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Ở miền Nam chính quyền Sài Gòn thực hiện chính sách dồn dân lập ấp chiến lược, chiến tranh nổ ra và người dân từ nông thôn kéo về thành thị làm cho dân số Sài Gòn – Gia Định tăng nhanh Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vào 30/4/1975, hai miền được thống nhất, dân số Sài Gòn – Gia Định lúc bấy giờ là 3.498.120 người (thống kê vào tháng 5/1975)
1.3.3 Sự biến động dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến nay:
Đến tháng 7/1976 thành phố Sài Gòn – Gia Định được đổi tên thành thành phố Hồ Chí Minh Sau chiến tranh, một bộ phận dân cư đã quay trở lại quê nhà, một
bộ phận dân thành phố đi khai phá các vùng kinh tế mới để xây dựng lại đất nước, một bộ phận người dân do lo sợ chế độ cộng sản di tản ra nước ngoài, trong đó có một bộ phận người Hoa nên dân số thành phố giai đoạn này có sự giảm sút nhưng không đáng kể (theo thống kê ngày 01/10/1979 dân số thành phố là 3.419.977 người); đến 01/4/1989 dân số thành phố có tăng nhưng không đáng kể: 3.988.124 người
Từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới Thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều giải pháp để đẩy mạnh phát triển kinh tế, đẩy mạnh tốc độ đô thị hóa, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, các khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu chế xuất được hình thành đã thu hút một lượng rất lớn người dân ở mọi vùng miền trên
cả nước vào thành phố làm ăn, sinh sống
Trang 23- Ngày 01/4/1999 – dân số là 5.037.155 người;
- Ngày 01.10.2004 – dân số là 6.117.251 người;
- Ngày 01.4.2009 – dân số là 7.162.864 người;
- Ngày 01.4.2010 – dân số là 7.382.287 người;
- Ngày 01.4.2014 – dân số là 7.955.000 người;
Nếu tính luôn những người lưu trú thì khoảng trên 10 triệu người, gấp gần 3 lần so với năm 1975, tốc độ tăng dân số hàng năm là 3,54% (Phụ lục 5)
1.3.4 Khái quát tình hình dân tộc ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam Trên cơ sở diện tích tự nhiên, thì Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn thứ nhì Việt Nam (Sau thủ đô Hà Nội được mở rộng), nếu xét về quy mô dân số, thì Thành Phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất Việt Nam Hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội là đô thị loại đặc biệt của Việt Nam
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 Quận và 5 Huyện, tổng hiện tích 2.095 km2 Theo kết quả điều tra dân số chính thức 01/4/2009 thì dân số thành phố
là 7.162.864 (chiếm 8,43% dân số Việt Nam) Đến 01/04/2014 dân số thành phố đạt 7.955.000, tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số vượt trên 10 triệu người
Về dân tộc, Thành phố Hồ Chí Minh có 51/54 dân tộc anh em, cùng người nước ngoài sinh sống Đại đa số là người Kinh, người Hoa (414.045), người Khmer (24.268), người Chăm (7.814), người Tày (4.514), người Mường (3.462)…
Người dân thành phố theo nhiều tôn giáo khác nhau, theo thống kê có 13 tôn giáo là: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Tin Lành, Hồi Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam, Ấn Giáo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh Sư Đạo, Minh Lý Đạo, BaHa’I (Phụ lục 4)
1.3.5 Phân tích tình hình các dân tộc trên địa bàn Thành phố
Trang 241.3.5.1 Người Hoa:
Người Hoa là một thành viên trong cộng đồng 54 dân tộc của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Bà con người Hoa sống ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ có khoảng 1.000.000 người, riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 414.045 người
Người Hoa ở Nam bộ có nguồn gốc từ người Hán và các dân tộc ít người ở các tỉnh vùng Duyên Hải phía Nam Trung Hoa di cư sang Nam bộ cách đây nhiều thế kỷ Phần lớn những người di dân từ Trung Hoa đến Nam bộ là những nông dân, thợ thủ công nghèo, nhiều khó khăn Ngoài ra còn có một số quan quân nhà Minh không chịu khuất phục nhà Thanh, khi vương triều nhà Thanh nắm quyền thống trị
ở Trung Hoa Những di dân từ Trung Hoa đến Nam Bộ còn có nhiều nho sĩ, thương nhân, nghệ nhân… đã tìm đến đất Nam Bộ định cư, mưu sinh lập nghiệp lâu dài
Trung tâm tụ cư của người Hoa ở vùng Chợ Lớn (nay thuộc Quận 5, Quận 6, Quận 11… Thành phố Hồ Chí Minh) cũng được hình thành khá sớm Làng Minh Hương ở Chợ Lớn (nay dấu tích còn lại là Đình Minh Hương Gia Thạnh) được hình thành từ năm 1776 Làng Minh Hương Chợ Lớn gồm một tập hợp đông đảo người Hoa đến từ Biên Hòa, một số từ Mỹ Tho sau vụ Hoàng Tiến tranh quyền với Dương Ngạn Địch năm 1688 và một số sớm ở Làng Tân Kiểng (nay thuộc khu vực Quận 5) Làng Minh Hương là một tổ chức hành chính đặc biệt của nhà Nguyễn để quản
lý và giúp đỡ sự hội nhập của người Hoa vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Vào cuối thế kỷ XVIII, khu vực người Hoa ở Chợ Lớn trở nên một khu đô hội và thương mại nhộn nhịp vào loại lớn ở Nam Bộ
Quá trình hình thành cộng đồng người Hoa tại đất Nam Bộ diễn ra khá dài với những đợt nhập cư đông đảo cũng như lẻ tẻ Đặc biệt là những đợt nhập cư của người Hoa đến Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX Đó là thời kỳ thực dân Pháp mở rộng công cuộc khai thác thuộc địa ở Đông Dương, đang cần một nguồn nhân lực lớn Chính phủ Pháp đã ký nhiều hiệp ước với các chính quyền Trung Quốc đương thời Hiệp định tuyển mộ công nhân người Trung Quốc đến Việt Nam làm phu đồn điền cao su, làm đường xe lửa, đường bộ, hàng vạn người Hoa đã nhập cư vào Nam Bộ,
Trang 25Sự hình thành cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ là một quá trình hội nhập, những thế hệ người Hoa đầu tiên và con cháu đã chung lưng đấu cật với các dân tộc anh em người Việt, Khmer, Chăm trong công cuộc mở mang, khai khẩn và giữ gìn vùng đất Nam Bộ qua một chặng đường dài lịch sử
Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 414.045 người Hoa, chiếm 5,78% so với dân số toàn thành phố Cộng đồng người Hoa gồm 05 nhóm ngôn ngữ chính: Quảng Đông (nói tiếng Quảng, chiếm khoảng 50%), Triều Châu (nói tiếng Triều Châu, chiếm khoảng 30%), Khách gia (nói tiếng Hẹ, chiếm khoảng 5%), còn lại là nhóm ngôn ngữ Phúc Kiến và nhóm ngôn ngữ Hải Nam Người Hoa sinh sống ở hầu hết các quận, huyện trong thành phố, nhưng tập trung chủ yếu ở khu vực Chợ Lớn (quận 11: 102.911 người; quận 6: 64.560 người; quận 5: 64.407 người; quận 8: 34.915 người; quận 10: 22.854 người), (xem phụ lục 1) Những năm gần đây người Hoa ở các quận nội thành có xu hướng và tăng dần ở các quận ven (quận Tân Phú, quận Bình Tân…)
(Xem phụ lục 1 – Số liệu người Hoa chia theo quận, huyện)
- Đặc điểm về kinh tế
Ở Thành Phố Hồ Chí Minh người Hoa sinh sống chủ yếu tập trung ở Quận 5,
6, 10, 11 và khu vực Chợ Lớn cũ (và mới) Kinh tế người Hoa ở Thành Phố Hồ Chí Minh khá mạnh và đa dạng có nhiều xí nghiệp, cơ sở sản xuất các sản phẩm nhựa,
da giày, cơ khí, chế biến lương thực thực phẩm người Hoa ở Thành Phố Hồ Chí Minh cũng lớn mạnh về thương mại, dịch vụ
Ở Sài Gòn, người Hoa sinh sống bằng nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, nhưng chủ yếu trên hai lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp, dịch vụ Trên lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp của thành phố, người Hoa đóng góp một phần quan trọng trong tổng giá trị sản phẩm, ở một số quận đông người Hoa, từ 50% đến 70% giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp thuộc về người Hoa Hoạt động tiểu thủ công nghiệp của người Hoa ở thành phố rất đa dạng, họ có mặt ở hầu hết ngành nghề lớn nhỏ, đáng chú ý là ngành cơ khí, hóa nhựa, cao su, thủy tinh, thuộc
da và sản phẩm của da, dệt… Một số ngành thủ công của người Hoa mang tính
Trang 26như ở nhiều nước như chế biến thực phẩm, hương liệu, đông nam dược… Người Hoa ở Sài Gòn cũng rất giỏi trên lĩnh vực buôn bán, dịch vụ
Trước ngày giải phóng (30/4/1975) hơn 80% hàng hóa bán lẻ và 60% hàng hóa bán buôn của thành phố do người Hoa đảm trách Nhiều công ty xuất nhập khẩu lớn thuộc người Hoa quản lý, một số ngân hàng cũng nằm trong tay tư sản người Hoa Từ sau ngày giải phóng, một số bà con buôn bán, dịch vụ người Hoa đã chuyển sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nhưng trên mặt trận phân phối, lưu thông dịch vụ người Hoa vẫn còn ưu thế Trong sản xuất kinh doanh, người Hoa có một đội ngũ thợ chuyên môn tay nghề giỏi, tiếp cận kỹ thuật và thị trường thế giới nhanh chóng, linh hoạt Giữ chữ “Tín” trong quan hệ sản xuất, buôn bán là một đặc điểm truyền thống của người Hoa
- Đặc điểm về văn hóa
Người Hoa vốn có tín ngưỡng đa thần, ở Thành phố Hồ Chí Minh, người Hoa có hơn 50 ngôi Chùa, Đền, Miếu, Đình, Điện… được xây dựng từ nhiều thế kỷ trước với những nét kiến trúc độc đáo mang màu sắc văn hóa Hoa như Miếu Thiên Hậu, Quan Công, Ông Bổn, Ngũ Đế, Bắc Đế hàng năm, người Hoa có nhiều Lễ Hội với sự tham gia đông đảo của bà con các dân tộc cộng cư như: Tết Nguyên Đán, Tết Nguyên Tiêu, Thanh Minh, Đoan Ngọ, Trung Thu
Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược ở miền Nam, lực lượng cách mạng của con người Hoa ở thành phố không ngừng trưởng thành và lớn mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà trực tiếp là tổ chức Hoa vận Phong trào cách mạng của bà con người Hoa ở thành phố luôn diễn ra sôi động và quyết liệt Tinh thần đoàn kết của công nhân, lao động người Hoa và công nhân Việt, bà con lao động người Việt đã có sự gắn bó mật thiết tạo nên sức mạnh to lớn để chiến thắng kẻ thù là các thế lực ngoại xâm và bọn tay sai ở miền Nam nước ta
Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, nhân dân cả nước chuyển sang một giai đoạn lịch sử mới, thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa, tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 27Bà con người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang tích cực tham gia vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới
- Những vấn đề cần lưu ý đối với người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, tình hình người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn những mặt tồn tại đáng quan tâm như sau:
- Vẫn còn một bộ phận người Hoa ít quan tâm tìm hiểu chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, nhà nước; Chưa tích cực tham gia các hoạt động, các sinh hoạt chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội tại địa bàn; Một bộ phận người Hoa lớn tuổi vẫn còn tâm trạng e dè, thụ động
- Một bộ phận người Hoa, nhất là giới lao động đời sống còn nhiều khó khăn, học vấn thấp, một số còn mù chữ
- Việc dạy và học Hoa văn chính sách chưa rõ ràng, cụ thể, sách giáo khoa Tiếng Hoa chỉ mới ở cấp tiểu học Hoạt động văn hóa, nghệ thuật của người Hoa phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, truyền thông văn hóa, truyền thông cách mạng của người Hoa, văn hóa phẩm tiếng Hoa chưa nhiều
- Những năm gần đây, tình hình Trung Quốc mưu đồ độc chiếm Biển Đông
đã tác động nhất định đến mối quan hệ giữa người Hoa với người Kinh, giữa người Hoa với nhà nước
- Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng những vấn đề quan hệ Việt Nam – Trung Quốc để kích động chia rẽ đoàn kết dân tộc, tạo sự hoang mang trong đời sống đồng bào Hoa
1.3.5.2 Người Chăm:
Người Chăm, còn gọi là người Chàm, người Chiêm, dân Chiêm Thành, người Hồi hiện cư ngụ chủ yếu tại Campuchia, Việt Nam, Malaysia, Thái Lan và Hoa Kỳ Người Chăm thuộc nhóm chủng tộc người Nam đảo
Trang 28Đồng bào Chăm ở nước ta hình thành 3 nhóm tín ngưỡng chính là: Tín ngưỡng tôn giáo bản địa có Bàlamôn, Chăm Bà ni (Hồi giáo Bà ni) và Chăm Islam (Hồi giáo Islam) Cũng có một bộ phận không nhiều không theo tôn giáo nào
Đồng bào Chăm là một trong số 54 dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một dân tộc có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời, rất đa dạng và phong phú, một dân tộc có chữ viết rất sớm ở nước ta
Trên lãnh thổ Việt Nam có 161.729 người Chăm (theo tổng điều tra dân số năm 2009) sống rãi rác ở các tỉnh phía Nam như: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang Do đặc điểm cư trú, tính chất tôn giáo và sắc thái văn hóa mang tính vùng miền, người Chăm ở Việt Nam được chia thành 3 nhóm cộng đồng chính là Chăm H’roi, Chăm Ninh Thuận - Bình Thuận và Chăm Nam Bộ
Thành phố Hồ Chí Minh có số người Chăm là 7.819 người (theo tổng điều tra dân số năm 2009) Trong quá khứ, cộng đồng này đã phải thực hiện một cuộc hành trình dài từ cố hương Trung bộ vào vùng đất Nam bộ để rồi định cư tại Sài Gòn nay là Thành phố Hồ Chí Minh, sống rải rác ở các quận, huyện, tập trung đông nhất ở quận 8 và quận Phú Nhuận
Mặc dù trải qua những cuộc di dân đến vùng đất mới Sài Gòn – Thành phố
Hồ Chí Minh, nhưng người Chăm vẫn tiếp tục sống tập trung thành nhóm ở những địa bàn vốn là vùng đất thấp, gần kênh rạch, các bến sông Việc quần tụ thành những cụm dân cư để thuận lợi cho việc sinh hoạt tín ngưỡng – tôn giáo, giúp đỡ lẫn nhau trong sinh hoạt, còn việc sống ven kênh rạch để buôn bán được thuận lợi,
đi lại trong Thành phố và đi về quê cũ An Giang, như: xóm người Chăm trên kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè (phường 13, quận 3), xóm người Chăm gần cầu Công Lý (phường 15, 17 quận Phú Nhuận), xóm người Chăm trên rạch Bến Nghé, khu Nam Long (phường 7, quận 6), xóm người Chăm cầu Rạch Ông (phường 2, quận 8), xóm Chăm Tế Bần (phường 1, quận 8)…
Hiện nay, cộng đồng người Chăm đang sinh sống tại Thành phố được phân
bố như sau:
Trang 29+ Khu vực Hòa Hưng (Cách Mạng Tháng Tám) phường 10, quận 3
+ Khu vực ở Ụ Tàu phường 1, quận 4
+ Khu vực ở Nguyễn Trãi phường 11, quận 5
+ Khu vực ở Xóm Củi, phường 13, quận 5
+ Khu vực ở Nam Long phường 7, quận 6
+ Khu vực ở cầu Rạch Ông phường 2, quận 8
+ Khu vực ở Tế Bần, phường 1, 2 và phường 5, quận 8
+ Khu vực ở Bình Đông phường 14, quận 8
+ Khu vực ở cầu Công Lý phường 15, quận Phú Nhuận
+ Khu vực ở Huỳnh Văn Bánh phường 17, quận Phú Nhuận
+ Khu vực ở nhà máy sửa chữa Tân Phước, quận Thủ Đức
Cộng đồng người Chăm sớm tiếp xúc văn hóa Islam và tôn giáo này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tập quán sống hàng ngày
Trình độ dân trí của đại bộ phận đồng bào Chăm còn thấp, giáo dục phổ thông phát triển chậm, chính do trình độ học vấn thấp đồng thời không có nghề nghiệp chuyên môn nên phần lớn người Chăm khó tìm được việc làm ổn định, nghề nghiệp chủ yếu là làm thuê, buôn bán tự do, lao động phổ thông Do vậy kinh tế của người Chăm chậm phát triển so với mặt bằng chung của thành phố
Để duy trì việc học tiếng Chăm, tại Thành phố có 17 cơ sở dạy tiếng Chăm,
để khuyến khích việc dạy và học tiếng Chăm, chính quyền thành phố đã có nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực
Về tín ngưỡng – tôn giáo, người Chăm tại Thành phố phần lớn theo tôn giáo Islam (Hồi giáo) khoảng 5478 người, một số ít theo đạo Bàni, Bàlamôn, Tin lành và một số tôn giáo khác Toàn thành phố có 15 khu vực Thánh đường và tiểu Thánh đường, mỗi Thánh đường và tiểu Thánh đường đều có người đứng đầu cai quản, tổ chức hoạt động và chịu trách nhiệm mọi vấn đề trước cộng đồng Thánh lễ Ramadan và các lễ hội tết Hồi giáo là nét văn hóa tiêu biểu của người Chăm Islam
Trang 301.3.5.3 Người Khmer:
Người Khmer đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, chỉ có một số rất ít có nguồn gốc từ các tỉnh miền Đông Nam Bộ, đặc biệt những hộ sinh ra và lớn lên tại Thành phố Hồ Chí Minh không xác định được nguyên quán của mình Nhiều nghiên cứu trước đây cho rằng người Khmer ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là những người nhập cư đến thành phố vào các thời điểm khác nhau nhưng do nhiều biến cố lịch sử và số lượng dân cư ít, sống phân tán nên tài liệu lịch sử ít được ghi chép
Có ý kiến cho rằng thời điểm tộc người Khmer có mặt tại Thành phố Hồ Chí Minh là khoảng những năm 40 của thế kỷ 20 Nhưng theo số liệu về dân số Khmer tại Sài Gòn (sớm nhất được biết cho đến nay) vào thời điểm 1888 có 92 người (Barrault (Capt) 1927)[44, tr.140] và tăng dần cho đến nay
(Xem phụ lục 2 – Sự phát triển dân số của người Khmer từ 1888 đến 2009)
Theo số liệu thống kê năm 2009 của Cục thống kê thành phố, tổng số người Khmer ở Thành phố Hồ Chí Minh có 24.268 người, đứng thứ ba sau người Việt, người Hoa; người Khmer có mặt rải rác trong 24 quận huyện của Thành phố Hồ Chí Minh Theo tập tục văn hóa, vào các dịp lễ hội truyền thống người Khmer luôn tụ tập cùng nhau tại các chùa để thực hiện nghi lễ và vui chơi, củng cố mối quan hệ cộng đồng Nói cách khác lễ hội là một hoạt động văn hóa-xã hội không thể thiếu được đối với cộng đồng người Khmer
(Xem phụ lục 3 – Thống kê người Khmer tại Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2009)
Lễ hội của người Khmer có thể chia làm 2 loại: một là lễ hội dân tộc, hai là
lễ hội Phật giáo; tuy nhiên, chúng ta rất dễ nhận ra ảnh hưởng qua lại của tập tục dân gian và nghi thức Phật giáo Phật giáo Nam tông là tôn giáo toàn dân của người Khmer, chi phối hầu hết những lĩnh vực của đời sống tinh thần cộng đồng Khmer
Ở Thành phố Hồ Chí Minh do điều kiện đặc thù nên chủ yếu có một số lễ hội dân tộc chính như: Tết Chol Chnăm Thmây (mừng năm mới) với nghi lễ tắm tượng Phật
Trang 31bằng nước thơm; Lễ Dolta (báo hiếu, xá tội vong nhân) và Lễ hội Ok Om Bok (lễ cúng Trăng, tạ ơn và cầu cho mùa màng tươi tốt)
Tại Thành phố Hồ Chí Minh người Khmer có các chùa: chùa Chantarangsay (số 16A/235 Trần Quốc Thảo phường 7 quận 3); Chùa Bodhivamsa Pathi Vong – số 1985B Hồng Lạc, phường 10, quận Tân Bình
1.3.5.4 Các dân tộc thiểu số khác:
Ngoài người Hoa, người Chăm, người Khmer có số lượng tương đối lớn, tại Thành phố Hồ Chí Minh còn có sự hiện diện của các dân tộc thiểu số khác nhưng số lượng không nhiều như: người Tày 4.514 người, người Mường 3.462 người… Ít nhất là người La Hủ 1 người
Tuy Thành phố Hồ Chí Minh có 51/54 dân tộc anh em từ khắp mọi miền đất nước đang làm ăn, sinh sống trên địa bàn, nhưng chỉ có một số dân tộc có số lượng đáng kể như người Kinh, người Hoa, người Chăm, người Khmer; các dân tộc còn lại có số lượng người rất ít Vì thế quan hệ dân tộc trên địa bàn thành phố chủ yếu là quan hệ giữa người Kinh (dân tộc chiếm đa số - 93%) với người Hoa, người Chăm, người Khmer và quan hệ giữa các dân tộc ít người với nhau Trong đề tài này chỉ phân tích 3 mối quan hệ: Giữa người Kinh với người Hoa; người Kinh với người Chăm; người Kinh với người Khmer Sự tác động của các chính sách của Đảng, nhà nước với các mối quan hệ này
Trang 32CHƯƠNG HAI:
THỰC TRẠNG QUAN HỆ DÂN TỘC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 1986 - 2015 2.1 Quan hệ dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1975
2.1.1 Mối quan hệ của người Hoa:
Quá trình hình thành cộng đồng người Hoa trên đất Nam bộ nói chung và trên địa bàn Sài Gòn – Gia Định nói riêng diễn ra khá dài, là một quá trình hội nhập Những thế hệ người Hoa đầu tiên và con cháu đã chung lưng đấu cật với các dân tộc anh em như người Kinh, người Khmer, người Chăm… trong quá trình mở mang bờ cõi, khai khẩn và giữ gìn vùng đất Nam bộ, Sài Gòn, Gia Định trong suốt chặng đường dài lịch sử
Thời phong kiến, Chúa Nguyễn đã sớm nhận thấy ưu thế của người Hoa trong công cuộc phát triển vùng đất này nên đã có thái độ cởi mở và ưu ái các cuộc
di dân từ Trung Hoa đến Nam bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho người Hoa định cư, yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh và họ trở thành thành viên công dân Việt Nam, là thần dân của Chúa Nguyễn Cộng đồng người Hoa giai đoạn này sống hòa thuận với người Kinh và các dân tộc khác, có các mối quan hệ làm ăn, trao đổi văn hóa với nhau
Dưới thời thống trị của thực dân Pháp, chính quyền đã áp dụng một chính sách lập lờ đối với người Hoa, nhằm chia rẽ bà con lao động người Hoa với cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gọi người Hoa là những “Kiều dân đặc biệt” và quản lý người Hoa dựa trên các tổ chức Bang Hội Người Hoa ở các địa phương được chia thành nhiều Bang dựa trên cơ sở cùng quê gốc và cùng nhóm ngôn ngữ Trung Hoa Sau nhiều lần phân chia, còn lại 5 Bang chính là Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ (Hakka) trực thuộc vào sự quản lý của chính quyền Trung ương được Pháp lập ra ở Nam kỳ Chính sách này đã tạo nên sự phân lập Người Hoa và làm chậm quá trình hội nhập của người Hoa với cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Trang 33Từ sau năm 1954, miền Nam Việt Nam đặt dưới sự quản lý của chính quyền Sài Gòn thân Mỹ Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã có những thay đổi chính sách đối với người Hoa Chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành những Nghị định, những Chỉ dụ để chấm dứt các hoạt động Bang Hội của người Hoa, đã xóa bỏ vị trí ngoại kiều của người Hoa Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã tìm cách “đồng hóa” cưỡng bức người Hoa, gọi người Hoa là “người Việt gốc Hoa”, cùng với một số dân tộc khác như người Khmer Nam bộ được gọi là “người Việt gốc Miên”
Tuy nhiên trong giai đoạn thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, cùng với các phong trào yêu nước, các phong trào đấu tranh của người Việt Người Hoa với tinh thần gắn bó với dân tộc, xem Việt Nam là tổ quốc của mình, đã đồng tâm hiệp lực cùng các dân tộc anh em đứng lên kháng Pháp, chống Mỹ Phong trào đấu tranh cách mạng chống thực dân, đế quốc xâm lược Việt Nam của bà con người Hoa ở Nam bộ, Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 cho đến ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất ngày 30-4-
1975, là một quá trình chiến đấu hy sinh, nhiều gian khổ, khó khăn vô cùng oanh liệt Trong cuộc chiến đấu đó, theo thống kê chưa đầy đủ, người Hoa đã có 235 liệt
sĩ, 4 anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 14 bà Mẹ Việt Nam anh hùng [25, tr.209]… và còn biết bao cán bộ, chiến sĩ người Hoa bị thương tật, bị bắt ở tù và tra tấn dã man trong các nhà lao, cả ở địa ngục trần gian Côn Đảo, Phú Quốc… những đóng góp của bà con người Hoa trong sự nghiệp giải phóng đất nước, độc lập và tự
do cho dân tộc đã chứng tỏ sự gắn bó của người Hoa với người Kinh, với các dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, cũng là nét văn hóa đặc sắc của người Hoa ở Nam bộ, người Hoa ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định
2.1.2 Mối quan hệ của người Khmer:
+ Giai đoạn 1945 - 1954 chính quyền thực dân chủ trương di chuyển một bộ phận cán bộ, công chức, cảnh sát đến các vùng khác để dễ bề cai trị, trong đó có những người Khmer là công chức, binh lính, cảnh sát ở các tỉnh Nam Bộ chuyển đến làm việc tại Sài Gòn Thời kỳ này các đồn điền cao su được mở rộng, một số nam giới Khmer nghèo từ các tỉnh Miền Tây lên Sài Gòn làm đồn điền cao su Họ
Trang 34đã thích nghi nhanh với cuộc sống, hòa hợp với cộng đồng các cư dân khác và con cái họ kết hôn với người Kinh, Hoa, Ấn tạo nên những gia đình hỗn hợp dân tộc
Năm 1947 chùa Chantaramsay hiện nay ở quận 3 được xây dựng là nơi quy
tụ, cố kết cộng đồng người Khmer
+ Giai đoạn 1954 - 1975:
Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Đế quốc Mỹ ra sức phá hoại Hiệp định, biến Miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, dựng nên Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, tiến hành dồn quân, bắt lính Thời
kỳ này thanh niên Khmer ở đồng bằng Sông Cửu Long bị gọi nhập ngũ khá đông, trong số này nhiều người đóng quân ở ngã tư Bảy Hiền (một căn cứ quân sự lớn của chính quyền Sài Gòn) Theo chân binh lính, những người thân của họ cũng đến Sài Gòn kiếm sống và sống quanh khu vực Bảy Hiền Năm 1961 tại đây đã xây dựng chùa PothyVong (phường 10, quận Tân Bình hiện nay) Nhiều gia đình do hoàn cảnh khó khăn, đói kém hoặc lánh nạn chiến tranh cũng tìm đến đất Sài Gòn kiếm sống Họ tập trung sống xung quanh hai ngôi chùa Chantaramsay, PothyVong Cộng đồng người Khmer giai đoạn này tiếp tục giữ mối quan hệ tốt đẹp với người Kinh và với cộng đồng các dân tộc khác trên đất Sài Gòn và cộng đồng này ngày càng phát triển
2.1.3 Mối quan hệ của người Chăm:
Người Chăm tuân thủ chặt chẽ giáo lý của Islam Sức mạnh của tín ngưỡng giáo lý Islam đã làm thay đổi khá nhiều quan niệm, nếp sống đặc trưng của dân tộc Người Chăm trong quá trình phát triển văn hóa cũng đã dung hòa văn hóa Islam với truyền thống của dân tộc và các dân tộc người Hoa, người Khmer và người Việt sống chung quanh mình
Đạo Islam đến với người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh trên các nền tín ngưỡng vốn có của mình là niềm tin vào cái thiêng liêng, đồng thời làm biến đổi một cách sâu sắc phong tục, tập quán cổ truyền Có thể nói tín ngưỡng đã trở thành nhu cầu để cộng đồng người Chăm tồn tại, là sợi dây liên kết là chất keo để gắn bó
Trang 35rằng buộc các thành viên trong cộng đồng với nhau, thúc đẩy họ yêu thương giúp
đỡ nhau cùng tồn tại và phát triển
Những năm trước 30/4/1975, người Chăm sống khá khép kín trong cộng đồng của họ, ít tham gia các hoạt động của chính quyền, ít giao tiếp với cộng đồng các dân tộc khác, họ chỉ chăm lo việc đạo, lao động để bảo tồn cuộc sống; Việc giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ít được chính quyền quan tâm, một bộ phận còn mặc cảm, tự ty với cuộc sống
2.2 Quan hệ dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến năm
1986
2.2.1 Tình hình Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1975 – 1986:
Sau Đại thắng mùa xuân 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố, nền chuyên chính vô sản được thiết lập Thành phố đã tiếp quản gần như nguyên vẹn cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối lớn, nhiều xí nghiệp sản xuất hiện đại, một vành đai nông nghiệp khoảng 100.000 ha đất canh tác Lực lượng lao động dồi dào gồm giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật Song do nhiều năm chiến tranh, lại bị Mỹ và các nước phương Tây cấm vận nên tình hình Thành phố hai năm đầu (1975-1977) gặp nhiều khó khăn Cụ thể:
- Tập trung sức giải quyết tàn dư của địch, trấn áp bọn phản cách mạng một cách kiên quyết, kịp thời Đồng thời thực hiện chính sách khoan hồng tổ chức tốt việc học tập cải tạo cho hầu hết binh lính, sĩ quan và cán bộ nhân viên chế độ cũ
- Chống nạn đói, giải quyết nạn thất nghiệp, tệ nạn xã hội, khôi phục và phát triển sản xuất, tổ chức mạng lưới phân phối lương thực và một số hàng hóa thiết yếu khác cho nhân dân; cải tạo và phát triển nền văn hóa mới mang nội dung Xã hội Chủ nghĩa, ổn định dần đời sống nhân dân
- Bên cạnh đại bộ phận nhân dân phấn khởi trước việc chiến tranh kết thúc, đất nước được độc lập thống nhất, thì một bộ phận người dân do chưa hiểu biết chế
độ mới; do bị các thế lực phản động kích động đã tìm cách vượt biên ra nước ngoài
Trang 36Từ năm 1977-1980 Thành phố đã tập trung thực hiện công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, bước đầu hình thành trên địa bàn Thành phố một nền kinh tế gồm 5 thành phần, trong đó kinh tế Xã hội Chủ nghĩa chiếm tỉ lệ ngày càng tăng Nhà nước độc quyền kinh doanh một số ngành; kinh tế tư bản tư doanh trong công nghiệp về cơ bản đã được cải tạo dưới nhiều hình thức, 76% cơ sở công nghiệp của tư bản trước đây qua cải tạo đã trở thành xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp công tư hợp doanh
Ngành công nghiệp tuy có sự đảo lộn về kinh tế và sự trói buộc về quản lý, đội ngũ công nhân vẫn chịu đựng sự thiếu thốn và khó khăn, bám máy, bám xưởng
đã phấn đấu đẩy mạnh sản xuất công nghiệp chiếm 24,5% giá trị tổng sản lượng công nghiệp cả nước; giảm dần mức độ lệ thuộc bên ngoài, sử dụng nguyên liệu trong nước Đã xuất hiện những điển hình có cách suy nghĩ mới, cách làm mới
Trong nông nghiệp, các tập đoàn, hợp tác xã được thành lập đã có nhiều cố gắng xây dựng phương thức sản xuất mới, xây dựng vành đai xanh các vùng ngoại thành, thực hiện thâm canh, áp dụng giống mới bước đầu đã tạo năng xuất lao động, sản lượng trong trồng trọt và chăn nuôi cao hơn trước
Về phát triển khoa học kỹ thuật, đội ngũ khoa học kỹ thuật đã góp phần quan trọng trong nhiệm vụ xây dựng guồng máy quản lý kinh tế xã hội; phát huy sáng kiến, nghiên cứu giải quyết những khó khăn về nguyên liệu, vật tư, phụ tùng, nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy móc thiết bị… Tác động tích cực đến phát triển kinh tế Thực tiễn sản xuất đã thúc đẩy hoạt động khoa học kỹ thuật của Thành phố
có những nét mới Đội ngũ trí thức, khoa học kỹ thuật của chế độ cũ tiếp tục gắn bó với quê hương đất nước, cùng với đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật mới tạo những bước đột phá giải quyết khó khăn của thành phố
Trên lĩnh vực Văn hóa xã hội, các hoạt động văn hóa, giáo dục, thông tin, y
tế, thể dục thể thao bước đầu được khôi phục và có sự phát triển Vừa đấu tranh xóa
bỏ các tàn dư văn hóa độc hại do chế độ cũ để lại, vừa hình thành những nét mới về văn hóa Xã hội Chủ nghĩa, các phong trào xóa mù chữ, bổ túc văn hóa được các địa phương triển khai thực hiện Con người mới được bắt đầu hình thành
Trang 37Hệ thống chính quyền ngày càng được hoàn thiện từ Thành phố đến quận, huyện, xã, phường, nhất là quận, phường Hiệu lực quản lý của bộ máy chính quyền dựa trên khối đoàn kết toàn dân đã từng bước được củng cố góp phần tích cực vào những thành quả của nhân dân thành phố
Việc xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công nông và lực lượng trí thức trên tinh thần hòa hợp dân tộc cùng với việc hình thành các đoàn thể chính trị xã hội đến tận cơ sở đã góp phần đoàn kết tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào hành động cách mạng để xây dựng thành phố
Trong năm năm 1980-1985, trong tình hình đất nước vừa trải qua hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh phía Bắc, cùng với sự cấm vận gay gắt của Mỹ, cơ chế kinh tế tập trung bao cấp đã bộc lộ những mặt hạn chế của nó đã đưa đất nước ta rơi vào khủng hoảng kinh tế, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Trong tình thế khó khăn chung của cả nước, Thành phố tiếp tục có nhiều nỗ lực để bước qua giai đoạn thử thách khắc nghiệt này
Trên mặt trận kinh tế - đời sống Công nghiệp thành phố tăng trưởng nhanh tạo ra khối lượng hàng tiêu dùng và xuất khẩu lớn, có một số mặt hàng mới chất lượng sản phẩm có tiến bộ hơn Nếu loại trừ yếu tố giá thì năm 1985 tăng gấp 6 lần
so với năm 1980
Về nông nghiệp, sản lượng lương thực tiếp tục tăng cao, các phong trào xây dựng vùng lúa cao sản, cánh đồng mẫu, vùng chuyên canh cùng với phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã làm chuyển đổi rõ rệt vùng ngoại thành nhất là Nhà Bè, Duyên Hải, Củ Chi, Bình Chánh đã hình thành vành đai xanh, vành đai thực phẩm, cây công nghiệp, nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản
Trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại đã có sự chuyển động mở rộng được quan hệ mua bán với nhiều thị trường thế giới nhất là Liên Xô, Campuchia, Lào và các nước khác trong cộng đồng Xã hội Chủ nghĩa, tuy nhiên vẫn chưa đạt được kết quả cao
và làm đòn bẫy vực dậy nền kinh tế
Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội Tuy có nhiều nỗ lực trong giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động, người nghèo Nhưng do nguồn cung cấp
Trang 38lương thực, thực phẩm không ổn định, lạm phát, vật giá tăng nhanh, nhất là sau đợt đổi tiền và tổng điều chỉnh giá (tháng 5/1985) nên đời sống của người lao động đã giảm sút nghiêm trọng Hoạt động giáo dục đào tạo tiếp tục có sự phát triển đã xóa được việc học ca 4; số người học bổ túc văn hóa tăng cao đã góp phần nâng cao trình độ dân trí Các hoạt động thông tin, văn hóa nghệ thuật có sự đầu tư để phục
vụ đời sống tinh thần của người dân, tuy nhiên còn một bộ phận người dân lao động chưa được hưởng thụ văn hóa
Hoạt động chăm sóc sức khỏe người dân tuy có được đầu tư trên 1.000 giường bệnh so với trước nhưng hoạt động chăm sóc sức khỏe người dân còn nhiều khó khăn, tình hình dịch bệnh còn cao, còn trên 60% xã phường hệ thống trạm y tế còn nghèo nàn
2.2.2 Quan hệ dân tộc ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1975-1986:
2.2.2.1 Mối quan hệ của người Hoa:
Sau ngày 30-4-1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước Việt Nam thống nhất, Đảng và nhà nước Việt Nam đã xác định rõ ràng vị trí của người Hoa là công dân Việt Nam, là một thành phần trong cộng đồng 54 dân tộc ở Việt Nam Người Hoa được đối xử bình đẳng với các dân tộc anh em về quyền lợi và nghĩa vụ công dân Đảng, nhà nước đã đánh giá cao những hy sinh cống hiến lớn lao của đồng bào Hoa trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng vì độc lập, tự do, giải phóng dân tộc Việt Nam
Tuy nhiên trong giai đoạn này, cùng với công cuộc cải tạo tư sản, chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, sự kích động của các thế lực thù địch gây nên sự kiện
“Nạn kiều” đã có những tác động làm tổn hại mối quan hệ của người Hoa với chính quyền Một bộ phận người Hoa đã di tản ra nước ngoài Trong cơ chế kinh tế tập trung bao cấp đã làm cho sản xuất kinh doanh vốn là thế mạnh của người Hoa bị thu hẹp, không phát triển làm cho đời sống người Hoa gặp khó khăn, lòng tin vào chế
độ bị giảm sút
Sau khi đất nước thống nhất vào năm 1975, người Hoa ở Việt Nam khoảng 4% dân số Việt Nam, trong đó có hơn 1,5 triệu người Hoa sống ở khu vực Chợ Lớn,
Trang 39Sài Gòn Những năm đầu sau giải phóng, quan hệ người Hoa với chính quyền có biểu hiện xấu đi qua việc đăng ký quốc tịch (phần lớn đăng ký quốc tịch Trung Quốc mặc dù họ đã chuyển sang quốc tịch Việt Nam từ những năm 1956 - 1957); việc đóng cửa các tờ báo tiếng Trung, các trường học của người Hoa và chính sách đánh tư sản trong đó có tư sản là người Hoa và tịch thu tài sản của họ Năm 1977, lạm phát 80% cùng với sự thiếu thốn lương thực, chiến tranh biên giới với Campuchia, năm 1979 chiến tranh biên giới phía Bắc cùng với sự kích động của các thế lực thù địch, người Hoa ở Việt Nam bắt đầu di tản sang các nước khác và về Trung Quốc, thời điểm này người ta gọi đây là vấn đề “Nạn Kiều” Khoảng 2/3 trong số nửa triệu vượt biên từ Việt Nam là người gốc Hoa Đến năm 1986, người Hoa tại Việt Nam đã giảm từ 1,8 triệu năm 1975 xuống còn 900.000 người Người Hoa không còn kiểm soát nền kinh tế Việt Nam như trước nữa và các phong tục, ngôn ngữ gốc Hoa đã mất đi phần lớn
Bên cạnh những khó khăn, hạn chế thì đại bộ phận người Hoa tại Thành phố
Hồ Chí Minh giai đoạn này vẫn tiếp tục chia sẻ những khó khăn của thành phố, của đất nước sau những năm dài chiến tranh Tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ đã đóng góp không nhỏ vào các hoạt động sản xuất, dịch vụ phục vụ đời sống nhân dân thành phố Sau hơn 10 năm giải phóng, hàng trăm cán bộ người Hoa đã trưởng thành là những giám đốc, quản đốc nhà máy, xí nghiệp, những cán bộ chính quyền, những thợ giỏi, bàn tay vàng của thành phố Nhiều gia đình người Hoa được công nhận gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, gia đình quân nhân cách mạng Trong các phong trào, hàng ngàn gia đình người Hoa đạt gia đình văn hóa mới, nhiều thanh niên nam nữ người Hoa đã tham gia chiến đấu ở biên giới Tây Nam của Tổ quốc, họ là những chiến sĩ quân đội nhân dân, là những đội viên thanh niên xung phong, là những người tích cực trong phong trào nếp sống mới ở cơ sở,
đã hình thành một đội ngũ cách mạng trẻ, đầy triển vọng
Trong giai đoạn đầy khó khăn này, nhìn chung đồng bào Hoa ở Thành phố tiếp tục gắn bó, chan hòa nhiều mặt trong đời sống với cộng đồng người Việt cả về vật chất lẫn tinh thần Họ coi “Việt Nam cũng là Tổ quốc của mình, được hưởng quyền lợi như người Việt và cũng có nghĩa vụ như người Việt” [26, tr.123] Họ
Trang 40những công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, cùng với các dân tộc khác trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
2.2.2.2 Mối quan hệ của người Khmer từ (1975 – 1986):
Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, dân số Khmer tại Thành phố Hồ Chí Minh biến động theo xu hướng giảm do một số di dân ra nước ngoài, về quê cũ làm ăn, đi xây dựng vùng kinh tế mới theo chính sách của nhà nước Một số người Khmer về quê, đi kinh tế mới làm ăn khó khăn lại quay về Thành phố Những năm 1977 – 1978, Pôn pốt – Ieng Xary tiến hành diệt chủng tại Campuchia và chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, một số lượng lớn người Khmer
và Việt kiều ở Campuchia chạy về Việt Nam lánh nạn, trong đó có khá nhiều người nhập cư vào Thành phố
Thời kỳ này người Khmer ở thành phố tiếp tục sống hòa nhập với cộng đồng, chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước Tuy đời sống còn nhiều khó khăn nhưng họ luôn đoàn kết, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
2.2.2.3 Mối quan hệ của người Chăm từ (1975 – 1986):
Giai đoạn này, dân số người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh có sự biến động khá lớn Theo thống kê năm 1976, người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh lúc bấy giờ là 6.607 người, phân bố rất nhiều ở quận 8, quận Phú Nhuận, quận 1 và quận 3 Nhưng đến năm 1979, người Chăm giảm xuống còn 2.991 người Nguyên nhân của sự thay đổi đột ngột này là do đất nước mới vừa Thống nhất và đang tiến hành khôi phục kinh tế - xã hội Trong thời gian này, nhà nước phát động chương trình hồi hương và xây dựng kinh tế mới Hưởng ứng chương trình này, người Chăm thành phố đã có những đợt hồi hương định cư tại quê nhà Đến những năm
1986 người Chăm tại Thành phố có xu hướng tăng lên trên 3.500 người, sự gia tăng này một mặt do tăng dân số tự nhiên, nhưng đa số do các vùng quê kinh tế quá khó khăn nên họ quay trở lại Thành phố
Người Chăm ở giai đoạn này đa số là những người thuộc công nhân, viên chức chế độ mới làm việc ở các cơ quan, xí nghiệp nhà nước hoặc tư nhân, sinh