1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894)

126 1,1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 852,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894) SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -* -

NGUYỄN THỊ TÚ QUYÊN

SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ

Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

VINH, 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của các thầy cô trong khoa Lịch sử, trường Đại học Vinh, của thầy giáo hướng dẫn, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứu Trung Quốc, Thư viện Nguyễn Thúc Hào - trường Đại học Vinh

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người trực tiếp hướng dẫn khoa học cho tôi là PGS.TS Văn Ngọc Thành Thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo trong chuyên ngành Lịch sử Thế giới, các thầy cô trong khoa Lịch sử, trường Đại học Vinh, các cơ quan ban ngành từ Trung ương tới địa phương

Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, cổ vũ động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu đó!

Vinh, tháng 10 năm 2010

Trang 3

CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ 12

1.2 Sự xuất hiện của phong trào Dương Vụ 33

1.2.1 Phái “Kinh thế” và việc đặt tiền đề tư tưởng

cho sự ra đời của phong trào Dương Vụ 33 1.2.2 Sự xuất hiện của phái Dương Vụ và phong trào

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ 43

2.1 Những hoạt động trên lĩnh vực kinh tế 43

2.2 Những hoạt động trên lĩnh vực quân sự 67 2.3 Những hoạt động trên lĩnh vực văn hoá giáo dục 71 2.3.1 Thành lập các học đường kiểu mới 72

Trang 4

2.3.2 Cử người ra nước ngoài du học 77 2.4 Thất bại của phong trào Dương Vụ 80

Trang 5

Tuy nhiên, cứ ôm khư khư tư tưởng “Thiên triều thượng quốc”, các

vương triều phong kiến Trung Quốc luôn tự coi mình là chí tôn thiên hạ, là trung tâm của thế giới, nên đã không đoái hoài đến xung quanh, coi các nước

bên ngoài là “man di” Quan điểm trước sau của họ là “sản vật của Thiên

triều không có thứ gì không có, không cần phải mượn hàng của ngoại di để trao đổi” [44;172]… Chỉ đến thời kỳ cận đại, khi tiếng súng đại bác của

những người “Dương di” ầm vang trên các vùng biển Trung Quốc, phong

kiến Trung Quốc mới bừng tỉnh và chợt nhận ra rằng: mình đã tụt hậu quá xa

so với thiên hạ Cũng chính lúc này, một bộ phận thức thời trong giai cấp thống trị đã nhận thức được yêu cầu của thời cuộc cần phải hoà mình vào dòng chảy của thời đại để tự cứu mình cũng như vận mệnh của dân tộc trước nguy cơ xâm lược của người phương Tây Điều này đồng nghĩa với việc phải học tập khoa học kỹ thuật của người phương Tây để tự cường

Lúc bấy giờ, ở Trung Quốc đã hình thành nên một phong trào có tên

gọi “Phong trào Dương Vụ”, do phái quan lại cấp tiến trong triều đình Mãn

Thanh phát động

Phong trào Dương Vụ đã diễn ra trong khoảng hơn 30 năm (từ những năm 60 đến những năm 90 của thế kỷ XIX), với nội dung trải trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, quân sự, văn hoá, giáo dục… Xét về bản chất, phong trào

Trang 6

Dương Vụ chỉ là những biện pháp “tự cứu” của giai cấp phong kiến thống trị,

nên không tránh khỏi những hạn chế cố hữu Tuy nhiên, xét trên khía cạnh xu hướng phát triển của thời đại, những hoạt động của phong trào Dương Vụ lại thể hiện rõ tính chất của một cuộc cải cách Nó ít nhiều phản ánh sự ứng biến

tự thân cho hợp thời cuộc của giai cấp phong kiến Trung Quốc Đây cũng là điều đã diễn ra tương tự ở các nhà nước phong kiến láng giềng lúc bấy giờ

như Nhật Bản, Thái Lan… Vô hình chung, sự “chuyển mình” của bộ phận

cấp tiến trong giai cấp phong kiến dưới nhà Thanh đã góp phần đưa Trung Quốc bước vào một chặng mới của lịch sử, mà chúng ta thường gọi là quá trình cận đại hoá Chính vì vậy, không thể phủ định những tác động tích cực của phong trào Dương Vụ

Tuy nhiên, đã có thời gian và đã có những quan điểm ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, khi nhìn nhận và đánh giá về phong trào Dương Vụ lại chưa có được cái nhìn khách quan, đầy đủ Đặc biệt, một thời gian dài người

ta chỉ căn cứ vào lực lượng khởi xướng và lãnh đạo để nhìn nhận phong trào này dưới góc độ phản động, đồng thời phủ nhận tối đa những mặt tích cực của phong trào Điều này đã khiến cho phong trào Dương Vụ chưa được đặt đúng

vị trí mà nó đáng phải có

Việt Nam là một nước giáp với Trung Quốc, lịch sử Việt Nam và lịch

sử Trung Quốc có những điểm móc xích và tương đồng trong nhiều giai đoạn Việc nghiên cứu lịch sử Trung Quốc rất được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm và đạt được những thành tựu nhất định… Tuy nhiên, cho đến nay số công trình nghiên cứu ở Việt Nam về phong trào Dương Vụ vẫn còn rất khiêm tốn, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện

Điều này khiến cho thuật ngữ “Dương Vụ” Còn khá mơ hồ, thậm chí là xa lạ

đối với không ít người Chính vì thế việc tìm hiểu một cách hệ thống, chi tiết

về phong trào Dương Vụ trở thành đòi hỏi cần thiết, phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và học tập

Trang 7

Mặt khác, cả Trung Quốc và Việt Nam hiện nay đã và đang trong công công cuộc cải cách mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong khi đó nội dung chủ đạo của phong trào Dương Vụ chính là cải cách nhằm đưa Trung Quốc phát triển theo hướng hiện đại hóa, xây dựng đất nước phú cường Vì vậy nghiên cứu về phong trào Dương Vụ còn góp phần nhất định trong việc so sánh, nhận định về công cuộc đổi mới ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam hiện nay

Xuất phát từ những yêu cầu vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn nêu trên, thêm vào đó là sự hứng thú của bản thân đối với việc nghiên cứu

lịch sử Trung Quốc, tác giả đã mạnh dạn chọn vấn đề: “Sự ra đời và những

hoạt động chủ yếu của phong trào Dương Vụ ở Trung Quốc (1861 - 1894)”

làm đề tài nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phong trào Dương Vụ là một phong trào cải cách nhưng lại được khởi xướng bởi lực lượng phong kiến cấp tiến trong triều đình nhà Thanh Chính điều này đã tạo nên sự lý thú, thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu, nhất là ở Trung Quốc, tìm hiểu đánh giá

2.1 Nghiên cứu của các học giả Trung Quốc

Từ trước khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời (1949), đã có những tác phẩm đề cập đến phong trào Dương Vụ Tiêu biểu phải kể đến tác

phẩm “Thanh sử cảo” của Triệu Nhĩ Tốn, tác phẩm “Lịch sử cận đại Trung

Quốc” của Tưởng Đình Phát, tác phẩm “Thanh đại thông sử” của Tiêu Nhất

Sơn… Các nghiên cứu ở giai đoạn này đã bước đầu khôi phục diện mạo của phong trào Dương Vụ Tuy nhiên, phần nhiều các nghiên cứu trong giai đoạn này đều coi Dương Vụ là một phong trào phản động, bán nước

Kể từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX trở đi, việc nghiên cứu về phong trào Dương Vụ đã chuyển sang một hướng khác Cùng với việc đời

sống tư tưởng đã được “cởi trói”, các nhà nghiên cứu về Dương Vụ nói riêng

Trang 8

có điều kiện để trình bày quan điểm học thuật của mình Lúc này giới nghiên cứu Trung Quốc đã có cách nhìn cởi mở hơn về phong trào Dương Vụ Đặc biệt người ta còn tổ chức một cuộc hội thảo về phong trào Dương Vụ cũng như bàn về lãnh tụ Dương Vụ (như hội thảo về Tăng Quốc Phiên, Tả Tôn Đường, Lý Hồng Chương, Lưu Minh Truyền…) Theo đó, đã xuất hiện nhiều công trình, bài viết bàn về phong trào Dương Vụ Đáng chú ý phải kể đến một

số tác phẩm như:

Tác phẩm “Thiên Tân giản sử” (1987) của tập thể các tác giả, Nhà xuất

bản Nhân dân Bắc Kinh, cùng với việc khái quát vị trí quan trọng của Thiên Tân và những nét chính về của lịch sử thành phố này, các tác giả đã dành

riêng chương 6, “Sự hình thành phong trào Dương Vụ ở Thiên Tân và sự xuất

hiện của chủ nghĩa cận đại”, để trình bày về các hoạt động Dương Vụ diễn ra

trong hơn 30 năm và tác dụng của nó trong việc làm bộ mặt Thiên Tân biến đổi nhanh chóng Đặc biệt, các tác giả đã đều thừa nhận vai trò quan trọng của triều đình nhà Thanh song song với việc trình bày các hoạt động của phong trào Dương Vụ

Cuốn “Lịch sử phong trào Dương Vụ” (1992) của Hạ Nguyên Đông, Nhà xuất bản Hoa Đông, Thượng Hải Tác phẩm này so với tác phẩm “Phong

trào Dương Vụ” của Mân Thế An xuất bản năm 1995 đã có sự phát triển và

nâng cao Tư tưởng chủ đạo của tác phẩm này là “lý luận phát triển”, trong đó trình bày khá toàn diện, chi tiết các biện pháp mà phái Dương Vụ đã tiến hành trên các lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, công nghiệp dân dụng, quân sự, giáo dục…

Tác giả Giang Tú Bình (1993) trong cuốn “Bàn về cận đại hóa của

phương Đông: So sánh phong trào Dương Vụ và duy tân Minh Trị”, Nhà xuất

bản Khoa học Xã hội Trung Quốc, đã dùng phép so sánh để nhìn nhận về quá trình cận đại hóa ở Trung Quốc và Nhật Bản Trong đó, học giả Giang Tú Bình đã chỉ ra một số biến đổi trên các mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng ở

Trang 9

Trung Quốc và Nhật Bản thông qua phong trào Dương Vụ và duy tân Minh Trị

2.2 Nghiên cứu của các học giả Việt Nam

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, các học giả cũng đã có sự quan tâm nhất định đến việc nghiên cứu phong trào Dương Vụ Tuy chưa có những chuyên khảo, song cũng đã có một số công trình, bài viết đề cập đến những khía cạnh của phong trào Dương Vụ Người giới thiệu phong trào Dương Vụ sớm nhất vào Việt Nam là giáo sư Đặng Thai Mai qua những bài giảng của ông trong những năm 60

Ở cuốn “Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”

(1997) của tập thể các tác giả trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, bên cạnh nội dung chính bàn về việc du nhập các tư tưởng tiến bộ của phương Tây vào Việt Nam hồi cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, phần đầu của cuốn sách đã đề cập đến sự du nhập các tư tưởng và văn minh phương Tây vào các nước phương Đông, trong đó có Trung Quốc Đặc biệt, có một số bài viết đã nhắc đến sự xu nhập tư tưởng phương Tây vào Trung Quốc và sự hình thành tư

tưởng “Dương Vụ” cũng như phái Dương Vụ

Cuốn sách “Lịch sử cận đại Trung Quốc” (2004), Nhà xuất bản Chính

trị Hà Nội, của tác giả Nguyễn Huy Quý đã trình bày đại cương về lịch sử cận đại Trung Quốc từ Chiến tranh nha phiến (1804 - 1842) đến năm 1949 Trong

đó, ở chương 3 cuốn “Phong trào Dương Vụ, chiến tranh Trung - Pháp và

chiến tranh Trung - Nhật” đã có đề cập đến phong trào Dương Vụ Ở đây, các

tác giả đã khái quát bối cảnh dẫn tới sự xuất hiện của phong trào Dương Vụ

và điểm qua những nội dung cơ bản của phong trào Dương Vụ

Trong cuốn “Phong trào cải cách ở một số nước Đông Á giữa thế kỷ

XIX - đầu thế kỷ XX” (2007), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

của tập thể các tác giả, do giáo sư Vũ Dương Ninh chủ biên, đã đề cập đến

Trang 10

các cuộc cải cách lớn ở các nước Đông Á hồi cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ

XX Đáng chú ý trong đó là chương 5 - “Phong trào cải cách ở Trung Quốc

cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX” của tác giả Phùng Thị Huệ Trong chương

này khi đề cập về các cuộc cải cách tiêu biểu ở Trung Quốc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tác giả đã dành một dung lượng tương đối để nói về bối cảnh

ra đời và những nội dung cơ bản của phong trào Dương Vụ, giúp người đọc hình dung một cách khái quát về phong trào Dương Vụ

Trong cuốn “Lịch sử Trung Quốc” (1991), Nxb Giáo dục của các tác

giả Nguyễn Anh Thái, Đặng Thanh Tịnh, Ngô Phương Bá Các tác giả này đã dành 2 trang để giới thiệu phong trào Dương Vụ Nhận định của các tác giả

là: “Phái Dương Vụ là một phái có khuynh hướng TBCN trong tập đoàn

thống trị phong kiến trước khi có giai cấp tư sản hình thành Họ khởi xướng phong trào Dương Vụ nhằm canh tân đất nước, chống xâm lược và bảo vệ quyền lợi giai cấp"

Luận văn thạc sĩ Lịch sử thế giới, trường Đại học Sư phạm Hà Nội của

tác giả Hoàng Thị Ngọc (2008) với đề tài: “Sự chuyển biến trong tư tưởng và

chính sách đối ngoại của nhà Thanh từ sau cuộc chiến tranh Nha phiến đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX (1842 - 1911)” đã đề cập đến những chuyển

biến trong tư tưởng và chính sách đối ngoại của nhà Thanh từ sau hai cuộc chiến tranh thuốc phiện đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Đặc biệt tác giả

đã dành một số trang không nhỏ để bàn về tư tưởng và chính sách hướng về phương Tây của phong trào Dương Vụ

Luận văn thạc sĩ Lịch sử thế giới, trường Đại học Vinh tác giả Nguyễn

Văn Tuấn (2009) với đề tài: “Con đường cứu nước theo xu hướng tư sản ở

Trung Quốc và ảnh hưởng của nó đối với Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” đã đề cập đến những nội dung cơ bản của phong trào Dương Vụ Đồng

thời, tác giả cũng đã chỉ rõ con đường cứu nước theo xu hướng tư sản ở Trung Quốc là một sự phát triển liên tục, có kế thừa từ khi bắt đầu đến giai đoạn

Trang 11

đỉnh cao; vị trí, vai trò và ý nghĩa lịch sử của nó đối với Trung Quốc cận đại cũng như trong tiến trình lịch sử Trung Quốc

Bên cạnh còn có một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí có đề cập đến một số khía cạnh của phong trào Dương Vụ

Đào Duy Đạt với một loạt bài: “Loại hình xí nghiệp “Quan đốc thương

biện” - Bước đầu tiến trình cận đại hoá nền kinh tế Trung Quốc”, tạp chí

Nghiên cứu Trung Quốc, số 5/1998; “Tính chất và tác dụng của loại hình xí

nghiệp quan đốc thương biện trong tiến trình cận đại hoá Trung Quốc”, tạp

chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 2/2004; “Những con đường du nhập Tây học

ở Trung Quốc trong phong trào Dương Vụ (1861 - 1895)”, tạp chí nghiên cứu

Trung Quốc, số 3/2002; “Nền quốc phòng Trung Quốc cận đại hoá với tiến

trình cận đại hoá Trung Quốc” (1999), Thư viện Viện nghiên cứu Trung

Quốc…

Tác giả Hoàng Văn Hiến với bài: “Vấn đề tiếp thu văn hoá phương Tây

của Trung Quốc và Việt Nam cuối thế kỷ XIX”, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử,

số 3/2000

Tác giả Nguyễn Văn Vượng với bài: “Các ngả đường của phong trào

Đông Du Trung Quốc thời cận đại”, tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số

5/2008

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu nói trên đã có những đề cập nhất định đến phong trào Dương Vụ ở Trung Quốc hồi cuối thế kỷ XIX Tuy nhiên, do phụ thuộc vào phạm vi và mục đích nghiên cứu, nên các công trình nói trên vẫn chưa có điều kiện để trình bày một cách hệ thống và sâu sắc về

sự ra đời, các hoạt động của phong trào Dương Vụ Trung Quốc Đặc biệt, không ít công trình nghiên cứu đã trở nên không còn phù hợp với quan điểm đổi mới ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam hiện nay Mặc dù vậy, trên cơ sở

kế thừa, những công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu quan trọng giúp chúng tôi hoàn thành đề tài này

Trang 12

3 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt nội dung, phong trào Dương Vụ là một phong trào “tự cường”

do phái quan lại cấp tiến trong triều đình nhà Thanh tiến hành Nội dung của

nó trải rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Trong đó, có những hoạt động của phái Dương Vụ được biểu hiện ra rất rõ ràng, nhưng lại

có những lĩnh vực lại tỏ ra mờ nhạt hoặc biểu hiện gián tiếp Trong điều kiện nguồn tài liệu thu thập cũng như thời gian tiến hành làm đề tài có phần hạn chế, nên đề tài chỉ tập trung vào việc tìm hiểu các hoạt động cụ thể và được bộc lộ ra rõ ràng của phái Dương Vụ trên các mặt kinh tế, quân sự, văn hoá, giáo dục và bước đầu đưa ra một số nhận xét, đánh giá về vai trò của nó đối với Trung Quốc

Về mặt thời gian, phong trào Dương Vụ diễn ra trong khoảng thời gian

3 thập kỷ (1861 - 1894) Chính vì vậy, đề tài cũng chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động của phong trào Dương Vụ trên các mặt cơ bản về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, giáo dục trong thời gian tồn tại của nó (1861 - 1894) Tuy nhiên, ảnh hưởng của phong trào Dương Vụ không chỉ tác động đến lịch sử Trung Quốc trong khoảng thời gian nó phát sinh và tồn tại mà còn tác động đến cả các giai đoạn sau đó Vì vậy, để có những nhận xét, đánh giá về phong trào đề tài mở rộng việc nghiên cứu tác động của nó đến năm 1911 (Cách mạng Tân Hợi)

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là phác hoạ một cách khái quát, hệ thống về phong trào Dương Vụ (1861 - 1894) từ đó đưa ra một số nhận xét, đánh giá vai trò của nó đối với Trung Quốc Với mục đích đó, nhiệm vụ của

đề tài là:

- Làm rõ bối cảnh lịch sử và những tiền đề dẫn đến sự xuất hiện của phong trào Dương Vụ ở Trung Quốc hồi những năm 60 đến 90 của thế kỷ XIX

Trang 13

- Phục dựng và phân tích bức tranh toàn cảnh về các hoạt động của phái Dương Vụ trong hơn 30 năm cuối thế kỷ XIX ở Trung Quốc Trong quá trình

đó, đề tài cố gắng làm rõ những biện pháp và hành động của phái Dương Vụ chính là những nội dung cải cách, được ví như những luồng gió mới thổi vào

xã hội Trung Quốc cổ truyền

- Đưa ra được những nhận xét, đánh giá về phong trào Dương Vụ, dù chỉ với mục đích trước hết là tự cứu vãn quyền lợi giai cấp, nhưng về khách quan, phong trào đã tạo ra những cơ sở tiền đề đưa Trung Quốc bước vào quá trình hiện đại hoá

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình hoàn thành đề tài này là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic

Trong quá trình hoàn thành luận văn, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp như so sánh, tổng hợp, lập bảng thống kê… nhằm giúp cho đề tài có cái nhìn tham chiếu, sâu sắc và toàn diện hơn

6 Đóng góp của luận văn

Đóng góp của luận văn chủ yếu trên một số khía cạnh sau:

- Chỉ ra nguyên nhân cũng như một số tiền đề quan trọng cho sự nảy sinh của phong trào Dương Vụ

- Khái quát về phong trào Dương Vụ ở Trung Quốc cuối thế kỷ XIX

- Góp phần làm phong phú thêm những tư liệu về phong trào Dương Vụ, phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và học tập về phong trào này ở nước ta hiện nay

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Sự ra đời của phong trào Dương Vụ

Chương 2: Hoạt động của phong trào Dương Vụ

Chương 3: Một số nhận xét, đánh giá về phong trào Dương Vụ

Trang 14

Đầu thế kỷ XIX, cùng với những thắng lợi của cách mạng công nghiệp, CNTB đã bước lên đỉnh cao của thời kỳ tự do cạnh tranh và dần chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Đến lúc này, trong quan hệ với các nước phương Tây, các khu vực thuộc địa không còn đơn thuần là nơi để tước đoạt của cải, thực hiện di dân, cung cấp sản vật quý, hay truyền bá tôn giáo… mà quan trọng hơn cả, nó giữ vai trò là nguồn cung cấp nguyên liệu, nhân công và là nơi tiêu thụ sản phẩm chính yếu của nền công nghiệp chính quốc Chính vì lẽ

đó mà vấn đề thuộc địa đã trở thành một trong những vấn đề có liên quan trực tiếp đến sự sống còn của CNTB, buộc các nước tư bản dù trẻ hay già muốn tồn tại và tiếp tục phát triển đều không thể đứng ngoài cuộc Các nước thực dân phương Tây đã đẩy mạnh công cuộc xâm lược thuộc địa, vươn rộng tầm

thống trị của mình ra những vùng đất mà họ cho là còn “man di” của thế giới

Sự đẩy mạnh xâm lược thuộc địa của các nước thực dân phương Tây

trong thế kỷ XIX đã tạo nên cuộc đụng độ lớn và trực tiếp giữa hai “thế giới”,

Trang 15

phương Tây tân tiến và phương Đông cổ truyền Lúc này, các quốc gia phương Đông không chỉ thuần túy đối phó với những thế lực xâm lược có cùng trình độ với mình, mà là những thế lực có trình độ phát triển cao hơn rất nhiều Chính điều này đã khiến độc lập chủ quyền của các dân tộc nhỏ yếu phương Đông đứng trước nguy cơ bị đe dọa hơn bao giờ hết Vấn đề đặt ra cấp thiết lúc bấy giờ là phải làm thế nào để cứu được dân tộc mình không bị cuốn vào vòng xoáy của chủ nghĩa thực dân, bảo vệ được chủ quyền

Ngoại trừ một số nơi đã dễ dàng khuất phục và chấp nhận ách thống trị của thực dân phương Tây (một số đảo ở Philippin, Inđônêxia, Mã Lai hay Campuchia…), nhiều nơi chính quyền và nhân dân các dân tộc phương Đông

đã lựa chọn con đường đấu tranh vũ trang nhằm chống lại sự xâm lược của CNTB phương Tây, bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc Tiêu biểu phải kể đến cuộc kháng chiến của Việt Nam chống thực dân Pháp, của Miến Điện chống thực dân Anh… Phương thức ứng phó này cũng là phương thức quen dùng nhất của các dân tộc phương Đông mỗi khi có kẻ thù ngoại bang xâm lược Trên thực tế, phương thức bảo vệ độc lập chủ quyền bằng kháng chiến đã gây cho các nước thực dân phương Tây không ít thiệt hại, làm cho công cuộc chinh phục thuộc địa của chúng không thể hoàn thành chóng vánh như ý định Mặc dù vậy, kết cục chung các dân tộc nhỏ yếu phương Đông đều phải khuất phục trước các đội quân viễn chinh nhà nghề thực dân phương Tây Điển hình như, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam sau ngót 40 năm chiến đấu ngoan cường (1858 - 1896), cuối cùng bị thực dân Pháp nô dịch Thực tế cho thấy phương thức kháng chiến truyền thống cũng không thể giúp các dân tộc nhỏ yếu phương Đông bảo vệ được độc lập chủ quyền

Trong khi đó, đứng trước nguy cơ xâm lược của CNTB ở Đông Á lúc bấy giờ cũng đã xuất hiện một phương thức ứng phó khác, ít nhiều thể hiện được tác dụng Đó là tiến hành cải cách, hiện đại hóa đất nước theo mô hình các nước phương Tây Đáng chú ý là trường hợp của Nhật Bản Cũng như các

Trang 16

dân tộc nhỏ yếu phương Đông khác, đến giữa thế kỷ XIX, Nhật Bản đứng trước sức ép của nhiều cường quốc phương Tây Hàng loạt các nước đế quốc như Mỹ, Anh, Nga, Hà Lan… đã ép buộc Nhật Bản phải ký các hiệp ước bất bình đẳng Một số nước thường xuyên kéo tàu chiến đến uy hiếp, đồng thời can thiệp vào công việc nội bộ của Nhật Bản Trong bối cảnh nền độc lập chủ quyền bị đe dọa trực tiếp, Nhật Bản đã quyết định lựa chọn con đường cải cách, hiện đại hóa đất nước, nhằm tránh cuộc chiến tranh tàn khốc có thể xẩy

ra với các nước phương Tây, đồng thời tăng sức đề kháng của dân tộc trước

họa ngoại xâm Với khẩu hiệu “Học tập phương Tây, đuổi kịp và vượt

phương Tây”[42;191], cuộc cải cách Minh Trị (1868 - 1912) đã diễn ra rộng khắp trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng, văn hóa, giáo dục… Đến giữa những năm 1880, công cuộc cải cách ở Nhật Bản đã cơ bản hoàn tất Từ một nước phong kiến phương Đông lạc hậu, yếu kém, qua cuộc cải

cách Minh Trị, Nhật Bản chẳng những đã “lách mình” ngoạn mục khỏi vòng

xoáy nô dịch của chủ nghĩa thực dân (CNTD) phương Tây mà còn gia nhập vào hàng ngũ các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN), trở thành mẫu hình cho con đường cải cách, tự cường để bảo vệ độc lập dân tộc ở phương Đông hồi cuối thế kỷ XIX Nhiều lực lượng xã hội ở các quốc gia phương Đông đã coi phong trào cải cách ở Nhật Bản là biểu tượng và ngưỡng mộ tin theo Ngoài

ra, phải kể đến trường hợp của Thái Lan Tương tự Nhật Bản, đứng trước nguy cơ bị mất độc lập chủ quyền, Chulalongkorn (1868 - 1910) đã có cách ứng phó phù hợp, đó là tiến hành cải cách mở cửa Nhờ đó, Thái Lan đã không phải chịu chung số phận như nhiều nước phương Đông khác, mà vẫn giữ được nền độc lập tương đối của mình…

Như vậy, đến giữa thế kỷ XIX, xâm lược thuộc địa đã trở thành một đặc tính của CNTB Đồng thời bảo vệ chủ quyền đã trở thành nhiệm vụ cốt yếu của các dân tộc chậm tiến phương Đông Vấn đề ở đây là làm thế nào để trong cơn lốc của CNTD đó, các dân tộc phương Đông vẫn bảo vệ được mình,

Trang 17

không bị cuốn vào vòng nô dịch của CNTD Để làm được điều đó, nhiều phương cách cứu nước khác nhau đã được thể nghiệm

“thịnh thế” đáng ghi nhận Nhưng khi lịch sử bước sang thế kỷ XIX, xã hội

Trung Quốc vẫn còn lạc hậu và trì trệ, sau khoảng thời gian dài thống trị để đi nốt đoạn cuối cùng Triều đình nhà Thanh lúc này đã ở vào giai đoạn mạt kỳ, những chứng tật của nó biểu hiện rõ rệt và thi nhau phát tác Trong đó nổi bật nhất là ở sự hủ bại, mục nát của giai cấp thống trị từ trên xuống dưới

Bấy giờ, các hoàng đế Mãn Thanh không còn chuyên tâm việc nước, thường xuyên tổ chức các chuyến du hành, tuần thú dài ngày về các địa phương xa xôi, đua nhau xây dựng đền đài, cung điện… tiêu tốn nhiều ngân lượng quốc khố Các quan chức từ trung ương đến địa phương cũng ra sức ăn chơi xa xỉ, luôn tìm mọi cách bòn rút quốc khố triều đình cũng như bóc lột tiền của của nhân dân Tệ tham nhũng bắt đầu từ giữa triều Càn Long (1735 - 1799) đã trở thành một hiện tượng phổ biến, được công khai hóa, mà nhà nước với sức lực quản lý yếu ớt đã không đủ sức để kiểm soát nổi Một ví dụ điển hình cho tình trạng tham nhũng nửa cuối triều Thanh là trường hợp của Hòa Thân (1750 - 1799) Khi tịch biên gia sản của tên tham quan này, mọi

người đều sửng sốt khi tổng gia sản đổi ra bạc trắng “tất cả có khoảng tám

trăm triệu lạng Trong khi đó vương triều nhà Thanh mỗi năm thu nhập khoảng bảy chục triệu lạng” [31;442] Việc tham ô tiền tài của giới quan

chức đã từ chỗ trực tiếp vơ vét người dân, đến chỗ moi móc tiền bạc quốc khố Chính vì vậy, từ cuối vương triều Càn Long trở đi, quốc khố của triều Thanh luôn ở trong tình trạng trống rỗng và nhiều lúc bị thâm hụt

Trang 18

Nạn tham nhũng và tình trạng quốc khố trống rỗng đã để lại hậu quả nặng nề cho xã hội, mà người gánh chịu không ai khác chính là nhân dân Sự

o ép, áp bức bóc lột của địa chủ quan lại, sự gia tăng thuế khóa của nhà nước, cộng với thiên tai mất mùa liên miên… đã đẩy những người nông dân vào tình cảnh khốn cùng Chính vì vậy, từ cuối thế kỷ XVIII và nhất là đầu thế kỷ XIX, đã nổ ra hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân Đáng chú ý là phong trào Thái Bình Thiên Quốc (1851- 1864) Mặc dù phong trào này cuối cùng bị thất bại nhưng sự tồn tại của nó trong 14 năm nhiều phen khiến triều đình nhà Thanh khốn đốn, phải nhờ đến sự chi viện của liên quân đế quốc mới dập tắt được, nó đã phần nào cho thấy sự suy yếu tột độ của chính quyền phong kiến Mãn Thanh

* Về kinh tế

Trước khi CNTB phương Tây chính thức xâm nhập, Trung Quốc vẫn

là quốc gia nông nghiệp điển hình Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp với phương tiện sản xuất, phương thức canh tác cũ kỹ, lạc hậu, năng suất thấp Nông nghiệp là đối tượng thu tài chính chủ yếu của nhà nước Quan hệ sản xuất truyền thống (địa chủ phát canh cho nông dân để thu tô) vẫn được bảo tồn Ở thời Càn Long, nhà Thanh đạt được sự hưng thịnh nhất trong nông nghiệp, nhưng từ đó về sau, kinh tế nông nghiệp Trung Quốc trở nên suy sụp Nạn chấp chiếm ruộng đất hết sức phổ biến Một bộ phận nhỏ địa chủ, quý tộc chiếm phần lớn đất đai của đất nước, trong khi phần lớn nông dân chiếm tới 80% dân số nhưng chỉ có khoảng 10% diện tích đất đai Trong sở hữu ruộng đất, chế độ trung ương tập quyền được thể hiện rõ nét Năm 1812, ruộng đất trực tiếp hoặc gián tiếp thuộc quyền quản lý của nhà vua lên tới 830 ngàn khoảnh (1 khoảnh bằng 100 mẫu Trung Quốc) Bên cạnh đó, chế độ thuế khoá rất hà khắc Nông dân phải nộp 50 - 80% thu hoạch cho chủ và còn vô vàn sưu thuế, phu phen tạp dịch [65;15]

Trang 19

Tuy nhiên, những mầm mống kinh tế TBCN xuất hiện từ thời nhà Minh vẫn tồn tại và tiếp tục phát triển, nhất là vào khoảng đầu thế kỷ XVIII

Thủ công nghiệp có sự phát triển nhất định Các ngành làm đồ sứ, dày,

tơ lụa… tương đối thịnh hành Trong đó, nghề dệt tơ lụa phát triển mạnh nhất Nam Kinh, Tô Châu, Hàng Châu, là những trung tâm của ngành tơ lụa Những nơi này, các xưởng dệt lớn đã có 3 vạn máy dệt, nhiều hộ có đến mấy trăm máy dệt, thuê hàng trăm công nhân Nghề làm đồ sứ dưới triều Mãn Thanh cũng rất phát đạt Đầu thế kỷ XVIII, có đến hàng chục nơi sản xuất sứ nổi tiếng ở các tỉnh thuộc lưu vực Hoàng Hà, Trường Giang, Châu Giang trong đó nổi bật hơn cả là Giang Tây Toàn khu vực làm đồ sứ có tới 300 lò với khoảng 10 vạn thợ và bắt đầu đã có sự phân công trong lao động Nghề làm muối cũng phát triển ở Tứ Xuyên Ở đây, cuối thế kỷ XVIII đã có 3.000 giếng muối, sử dụng hàng vạn lao động Sản phẩm của một số ngành đã trở thành hàng hoá trao đổi trong và ngoài nước Số lượng các xưởng thủ công phân tán ngày càng nhiều và hình thành các tổ chức phường hội kết hợp sản xuất Tuy vậy, về cơ bản quy mô của các xưởng thủ công còn nhỏ, manh mún,

kỹ thuật lạc hậu

Từ nửa đầu thế kỷ XVIII, nghề khai mỏ (sắt, đồng, vàng, thiếc, bạc, than…) và luyện kim cũng phát triển ở nhiều nơi trong nước với quy mô tương đối lớn Ở Quảng Đông có nhiều công trường khai mỏ và luyện kim, mỗi công trường có tới hàng nghìn công nhân, biết sử dụng sức cơ giới để đưa chất đốt và quặng vào lò Mỗi lò, mỗi ngày nấu được từ 10 đến 20 tấm thép (mỗi tấm nặng 300 cân)

Thương nghiệp cũng có bước chuyển rõ nét.Thị trường trong nước được mở rộng với các hàng hoá như tơ, bông, thuốc nhuộm, vải lụa Việc buôn bán với nước ngoài cũng được đẩy mạnh Đồ sứ, hàng tơ, dệt, đồ sứ được mang sang bán ở Inđônêxia, châu Âu Việc buôn bán với nước ngoài do

các công ty độc quyền gọi là “thương hàng” đảm nhận Ví dụ như ở Quảng

Trang 20

Châu, có một “thương hàng” lớn phụ trách việc mua bán với các công ty

Đông Ấn của các nước châu Âu

Mặc dù vậy, Nhà Thanh chủ trương duy trì quan hệ sản xuất cũ, cản trở

sự phát triển của thủ công nghiệp, thương nghiệp, thực hiện chính sách “trọng

nông ức thương” và “bế quan toả cảng” Chính quyền hầu như cắt đứt liên

lạc với bên ngoài, chỉ để lại cảng Quảng Châu cho phép buôn bán hạn chế

Quan điểm trước sau là “sản vật của Thiên triều không có thứ gì không có,

không cần phải mượn hàng của ngoại di để trao đổi” [44;172] Chính vì vậy,

những yếu tố tích cực của nền kinh tế Trung Quốc chịu sự chèn ép quyết liệt

và rất khó phát triển Những manh nha của nền kinh tế TBCN có từ trước tồn

tại một cách tự phát và “bất hợp pháp” Thái độ của triều đình nhà Thanh đi

ngược lại xu thế phát triển của lịch sử, tiếp tục đưa đất nước lún sâu vào khủng hoảng Tuy nhiên, những yếu tố kinh tế tiến bộ vẫn âm ỉ phát triển, bất chấp sự cản trở của triều đình, đó là quy luật phát triển khách quan, không thể chống lại

Cùng với sự xâm nhập ngày càng sâu sắc của CNTD phương Tây, nền kinh tế Trung Quốc đã có biến đổi tích cực Nền kinh tế TBCN tiếp tục hình thành và phát triển, kéo theo đó là những chuyển biến cơ cấu kinh tế, dần dần phá vỡ tính khép kín của nền kinh tế Trung Quốc

Quá trình xâm nhập của CNTB phương Tây vào Trung Quốc diễn ra hết sức mạnh mẽ Các quốc gia tham gia vào quá trình đó là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Mỹ và Nga Các nước phương Tây tìm thấy ở Trung Quốc thứ mà họ cần thiết đó là thị trường rộng lớn chưa được khai phá Ban đầu, hoạt động của họ là buôn bán và truyền giáo, về sau tiến dần đến âm mưu xâm lược Trung Quốc Hầu hết các nước phương Tây sau khi đến Trung Quốc đã tìm cách thiết lập căn cứ thông thương lâu dài Hoạt động kinh doanh của thương nhân phương Tây là yếu tố quan trọng để củng cố hơn nữa quan

hệ sản xuất TBCN vào đất nước điển hình nhất của quan hệ sản xuất phong

Trang 21

kiến Những hoạt động buôn bán của các nước phương Tây bị chính quyền nhà Thanh cự tuyệt và gây khó khăn Nhà Thanh không muốn mở rộng phạm

vi thông thương cho các nước phương Tây, tiến hành đánh thuế sản vật cao và nhiều lần tịch thu hàng hoá của các lái buôn phương Tây Sức ép đó đặt ra yêu cầu cấp bách đối với các nước phương Tây là buộc nhà Thanh phải cho phép

tự do kinh doanh Tuy vậy, thái độ của nhà Thanh hầu như không đổi, đó cũng là lý do để các nước phương Tây, trước hết là Anh tiến hành xâm lược Trung Quốc

Các nước phương Tây đã mang vào Trung Quốc quan hệ sản xuất TBCN và làm cho các ngành kinh tế bắt đầu phát triển rõ nét hơn Sự phát triển đó mang tính khách quan, hợp quy luật Trong nông nghiệp, yếu tố kinh

tế hàng hoá đã trở nên phổ biến Đã có nhiều hiện tượng các lái buôn xuất vốn cho nông dân trồng trọt và cuối vụ thu theo thành phẩm Một số sản phẩm nông nghiệp vốn chỉ phục vụ cho địa chủ, quý tộc hay triều đình, đã được trao đổi ở các trung tâm buôn bán Hình thức lĩnh canh cũng có sự thay đổi Chế

độ lĩnh canh “vĩnh viễn” trở nên phổ biến Do hiện tượng mất mùa, sự tàn phá

của thiên tai nên các chủ đất bắt đầu nhượng bộ, giao ruộng đất cho nông dân

Trong thủ công nghiệp, xuất hiện ngày càng nhiều các xưởng sản xuất quy mô hơn, thuê hàng chục công nhân với hình thức trả công là tính ngày trả tiền Sức lao động đã trở thành hàng hoá, đó là yếu tố quan trọng để khẳng định sự xuất hiện quan hệ sản xuất TBCN ở Trung Quốc Quan hệ giữa chủ

công xưởng và người lao động là “chủ xuất vốn, thợ xuất sức” Đến thế kỷ

XVIII, số lượng cũng như quy mô sản xuất của các xưởng thủ công không ngừng tăng và hình thức hoạt động của nó cũng đổi khác Chủ công xưởng đem nguyên liệu cho người làm thuê và thu sản phẩm Kỹ thuật sản xuất cũng bắt đầu trở nên hiện đại hơn theo hướng sử dụng nhiều máy móc, các tổ chức phường hội cũng được tổ chức tốt hơn

Trang 22

Vào nửa đầu thế kỷ XIX, tình hình kinh tế Trung Quốc biến đổi khá nhanh Các ngành công nghiệp ra đời và phát triển mạnh mẽ Một số ngành công nghiệp quy mô lớn như khai mỏ đều do chính phủ quản lý Nhân công ở các mỏ một phần là người tù tội, một phần là từ nông dân bị phá sản Các xưởng sản xuất đồng, than, sắt ở Tứ Xuyên, Quảng Đông, Thiểm Tây, Giang Tây… đã có tới hàng ngàn công nhân Nhìn chung, phương thức hoạt động của các xưởng sản xuất công nghiệp đã mang tính chất TBCN Chế độ lao động làm thuê hình thành

Do sự phát triển của công nghiệp và thủ công nghiệp nên thương nghiệp Trung Quốc thời kỳ này cũng rất phát đạt Nhiều trung tâm buôn bán sầm uất hình thành, giữ vai trò là đầu mối của các hoạt động trao đổi hàng hoá trong nước Sách vở lúc bấy giờ có nói đến việc buôn bán phát đạt ở một số thành phố, thị trấn lớn như Trấn Phật Sơn, Quảng Đông, Hán Khẩu, Tô Châu:

“Sắt thép Phật Sơn buôn bán khắp chốn”, “Buôn bán sầm uất thứ nhất Tô Châu”, “Lụa Hàng Châu sứ màu Giang Tây” [43;322] Giao lưu buôn bán

của Trung Quốc với bên ngoài phát triển nhanh Số tàu buôn của Trung Quốc đến các nước Đông Nam Á năm 1820 là 295 chiếc, sức chở tới 85.200 tấn

Số tàu buôn của ngoại quốc đến Trung Quốc thông qua cảng Quảng Châu trong hai năm 1833 và 1834 là 213 chiếc, trong đó Anh có 101 chiếc, Mỹ 70 chiếc, Bồ Đào Nha 23 chiếc Tàu buôn của nước ngoài đến mua các sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp như chè, đồ sứ, tơ lụa, vải vóc… của Trung Quốc [69;23]

Sau chiến tranh thuốc phiện (1840), kinh tế TBCN Trung Quốc phát triển nhanh chóng Nhiều cơ sở công nghiệp hiện đại đã được xây dựng, sử dụng ngày càng nhiều máy móc vào sản xuất Năm 1861, thương nhân Phúc Châu mua máy móc của người nước ngoài để sản xuất chè, năm 1863, hiệu buôn gạo Hồng Thịnh đã dùng máy xát gạo Thời kỳ này, nền kinh kinh tế tư bản dân tộc Trung Quốc được chấn hưng với việc nhiều nhà máy được xây

Trang 23

dựng Đầu tiên là nhà máy cơ khí Phát Xương ở Thượng Hải, năm 1869 đã sử dụng máy cái, đến 1870 đã sử dụng động cơ hơi nước Tiếp đó là nhà máy tơ Xương Long thành lập năm 1872 ở Nam Hải (Quảng Đông) Đến năm 1890

đã có khoảng 60 xưởng ươm tơ Các ngành sản xuất diêm, bột mì, giấy, khai

mỏ cũng xây dựng nhiều nhà máy sản xuất Từ thập niên 80 của thế kỷ XIX, các thành phố Thượng Hải, Thiên Tân, Quảng Châu, Phúc Châu, Trùng Khánh đều đã xây dựng các nhà máy sản xuất diêm Đến đầu những năm 90, hiện tượng thương nhân bỏ vốn kinh doanh đã nhiều hơn, số lượng xí nghiệp của thương nhân không ngừng tăng

Sự phát triển của nền kinh tế TBCN ở Trung Quốc, một mặt thể hiện yêu cầu phát triển của đất nước, mặt khác chứng minh cho tính lạc hậu, bảo thủ của chế độ phong kiến với cơ sở kinh tế vốn có của nó Chính nền kinh tế TBCN ngày càng thiết lập vững chắc ở Trung Quốc là cơ sở kinh tế hết sức quan trọng để xuất hiện những hình thức cứu nước và chấn hưng đất nước theo kiểu mới Sự phát triển khách quan của các yếu tố kinh tế tiến bộ là động lực thôi thúc những trí thức thức thời ở Trung Quốc đi tìm cách phá bỏ rào cản cho nền kinh tế TBCN phát triển và dấy lên các phong trào yêu nước với nội dung phát triển đất nước theo hướng TBCN

* Về quân sự

Trong quá trình dấy nghiệp của vương triều Thanh, chế độ “Bát kỳ”

được coi là cơ sở nền tảng giúp họ dành được thiên hạ từ tay người Hán Nhưng theo thời gian, tác dụng của quân Bát kỳ cũng dần yếu đi Và đặc biệt,

“tinh thần thượng võ của họ mất đi sau một thế hệ vì không còn là một tổ chức các chiến sĩ mà chỉ còn là một bọn ăn bám vào giới cầm quyền Họ đã trở nên thối nát không còn sức chiến đấu nữa” [49;133] Bấy giờ, “chỉ tính riêng tại khu vực thành Bắc Kinh, đã có mấy chục vạn Kỳ nhân suốt ngày ăn

ở không, chỉ la cà chỗ này chỗ nọ để tìm thú vui Họ không còn làm việc thủ công, không cày ruộng, không doanh thương, không học hành, mà chỉ du thủ

Trang 24

du thực, suốt ngày chơi bời lêu lổng, cho nên những Kỳ nhân đó thường ra vào quán trà, hí viện, sòng bạc, nhà chứa điếm” [31;458] Trong khi đó, đến thế kỷ

XIX, tính thế tập vẫn được bảo trì trong quân Bát kỳ Vì thế, một đứa trẻ cũng

có thể là một người lính Bát kỳ và được trả lương, dẫu rằng sau đó nó có thể sẽ chẳng được huấn luyện và cũng chẳng biết gì về quân sự binh gia Chất lượng của quân Bát kỳ theo đó ngày càng sa sút trông thấy Có thể lấy một ví dụ, vào

năm 1784, “Gia Khánh đi theo Càn Long đến duyệt binh tại Hàng Châu, quân

Bát kỳ trú phòng tại đó khi bắn tên đều đi ra ngoài đích, có người thậm chí ngồi trên lưng ngựa đã té xuống đất” [31;457]

Bên cạnh Bát kỳ binh, sau khi đã nắm được quyền bính, triều đình Mãn Thanh đã chỉnh đốn và chiêu mộ mới những đội lính người Hán, lập nên một

đội quân chính quy khác, gọi là “Lục doanh binh” Tuy nhiên, cũng như quân

Bát kỳ, quân Lục doanh sau một thời gian dài quốc gia thanh bình, đến đầu thế kỷ XIX lực lượng này cũng đã trở nên thối nát, mất hết sức chiến đấu và

vô kỷ luật Trong hàng ngũ tướng lĩnh, tham nhũng diễn ra phổ biến Các sĩ quan thường mướn tạm thường dân để thế chỗ cho đủ số quân mỗi khi có cấp trên kiểm tra và sau đó hưởng số lương của những chỗ khuyết quân đó Việc mua bán chức vụ tướng lĩnh cũng được thực hiện dễ dàng

Về mặt tổ chức đã sa sút, mặt trang bị khí giới của quân đội nhà Thanh còn ở vào tình trạng đáng báo động hơn Là quê hương phát minh ra thuốc súng, nhưng người Trung Quốc đã không biết phát huy hiệu quả của phát minh này để phục vụ cho quốc phòng Đến giữa thế kỷ XIX, người phương Tây đã sử dụng phổ biến các loại vũ khí tân tiến như súng trường, súng liên thanh, súng cối, địa lôi, ngư lôi… Trong khi đó, các loại vũ khí cổ truyền như giáo, cung tên, đao, kiếm… vẫn là những loại vũ khí chính được trang bị của lục quân Trung Quốc Tới thập niên 50 của thế kỷ XIX, tướng quân của Tăng

Quốc Phiên vẫn chủ yếu sử dụng cung tên, cùng với một số súng “Điểu

Trang 25

và súng thần công khi giao chiến với quân Thái Bình Thiên Quốc Sang đầu thập niên 60 của thế kỷ XIX, súng trường mới bắt đầu được người phương Tây giới thiệu vào Trung Hoa, nhưng cũng chưa được trang bị rộng rãi cho quân triều đình

Trang bị vũ khí thủy quân cũng không khác gì lục quân Trong khi các nước phương Tây đã biết dùng chiến thuyền vỏ thép, chạy bằng động cơ hơi nước, trang bị các loại súng hiện đại… thì thủy quân Trung Hoa vẫn còn dùng

các loại thuyền tay chèo hoặc thuyền buồm, với “ván mỏng đinh rỉ, trúng đạn

vỡ ngay”, cùng ít khẩu đại bác cũ kỹ Vũ khí cá nhân của lính thủy cũng

không khác gì lính bộ, cũng vẫn chỉ là các loại giáo, mác, cung, kiếm truyền thống Chất lượng của thủy binh Trung Hoa cũng rất tồi tệ Trước chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất, trong một cuộc thao dượt của thủy quân Triết Giang,

“chỉ có một vài sĩ quan biết sử dụng súng phòng hải, người khác chẳng biết phải dùng bao nhiêu thuốc đạn để bắn nữa” [56;136] Tình trạng này đã được

một giáo sỹ kiêm lái buôn thuốc phiện phản ánh lại: “cả một hạm đội Trung

Hoa hơn ngàn chiến thuyền lớn nhỏ cộng lại cũng không đương cự được với một chiến thuyền của ta” [56;137] Bên cạnh đó, việc bố phòng bờ biển lúc

này cũng hết sức lơi lỏng Nhiều pháo đài dọc theo duyên hải ít được tu bổ

nên không hoạt động được Một ví dụ điển hình là: “các pháo đài duyên hải

tại Thiên Tân xây hồi mùa xuân thì mùa thu cùng năm đã sập” [56;137]

Có thể thấy, trong bối cảnh các nước thực dân phương Tây với “tàu

to”, “súng lớn” lăm le thôn tính Trung Quốc, thì một nền quốc phòng như

vậy không thể nào có thể bảo vệ nổi độc lập chủ quyền Tiếc thay, đó chính là hiện trạng của lực lượng quân đội Trung Hoa vào giữa thế kỷ XIX

* Về giáo dục

Trung Quốc từ lâu đã được xem là nơi có chế độ khoa cử phát triển, từng có ảnh hưởng rộng rãi không chỉ ở Đông Á, mà còn sang tận cả Tây Âu

1

Một loại súng trường cổ được du nhập vào Trung Quốc từ thời Minh

Trang 26

trong thời cổ trung đại Cho đến thời nhà Tống, khoa học kỹ thuật Trung Quốc vẫn được xem là dẫn đầu thế giới, với hàng loạt các phát minh lớn, có ảnh hưởng to lớn đến tiến trình lịch sử nhân loại Bước sang thời kỳ cận đại,

và nhất là kể từ sau Cách mạng công nghiệp, trong lúc khoa học kỹ thuật phương Tây phát triển như vũ bão, nền giáo dục cận đại không ngừng biến đổi, lấy việc phát huy tính năng động, sáng tạo của người học làm nền tảng… thì giáo dục Trung Quốc dường như vẫn dẫm chân tại chỗ Dưới thời nhà Thanh, để duy trì nền thống trị chuyên chế phong kiến, triều đình vẫn áp dụng lối thi cử cổ truyền Trong đó, nội dung thi được chia làm ba xuất đề thi: xuất

thứ nhất gọi là “Kinh nghĩa”; xuất thứ hai gồm “Luận”, “Phán”, “Chiếu”,

“Cáo”, “Biểu”; xuất thứ ba gồm các môn kinh sử, sách luận Trong ba xuất

đề thi này, xuất thứ nhất là quan trọng nhất Phạm vi đề mục của xuất thi

“Kinh nghĩa” chỉ đóng khung trong “Tứ thư tạp chú” do đại sư Lý học đời

Nam Tống là Chu Hy biên soạn

Tuy nhiên, điểm đáng chú ý hơn cả trong chế độ khoa cử dưới triều Thanh là nó quy định rất chặt chẽ cách thức hành văn của bài thi Hình thức

này được gọi là “văn Bát cổ”, tức gồm 8 bộ phận: “Phá đề”, “Thừa đề”,

“Khởi giảng”, “Nhật thủ”, “Khởi cổ”, “Trung cổ”, “Hậu cổ”, “ Thúc cổ”

kết hợp lại Xét dưới góc độ dùng hình thức văn Bát cổ để rèn luyện kỹ năng viết cho người học, thì thể văn này không phải là không có ích Song, vấn đề

ở đây là nhà nước đã xem văn Bát cổ là loại văn chính luận duy nhất, có thể

“phát ngôn thay cho thánh nhân” Theo đó, thể văn này vừa có niêm luật chặt

chẽ, vừa phải rất chỉnh chu về ngôn từ Người học “không thể dẫn các học

thuyết của Bách gia Chư tử để làm hỗn loạn tư tưởng, cũng không thể trích dẫn những trước tác của hậu thế để làm hỗn loạn thời đại Do vậy, nếu không phải là sách của 3 đời Hạ, Thương, Chu thì không được phép đọc, không phải lời giải thích của Chu Hy thì không được xem” [31;495,496] Và theo đó,

“ngôn luận của Thánh nhân gần như trở thành kịch bản để cho các diễn viên

Trang 27

hát trên sân khấu, ngay từ thời kỳ còn là trẻ con đã bắt đầu ngâm nga mô phỏng theo những khuôn mẫu trước, những câu đối ngẫu, bài tỷ phải học cho tới già thì mới có thể dựa theo tiết tấu mà ngâm, mà đọc” [31;496]

Như vậy, lối khoa cử Bát cổ từ hình thức đến nội dung đều thể hiện rõ

sự xơ cứng, sáo rỗng Nó làm cho người đọc phải tốn rất nhiều thời gian và trí lực chỉ để viết nên những bài văn khuôn sáo, mà không thể phát huy được óc sáng tạo của cá nhân Từ đó, đưa tư tưởng mọi người vào ngõ cụt, làm cho rất nhiều trí thức từ chỗ không dám phát huy kiến thức của mình, trở thành những con người thụ động, không còn biết quan tâm đến các vấn đề xã hội Điều này trở nên đặc biệt nguy hiểm khi đến giữa thế kỷ XIX, Trung Quốc đã trở thành miếng mồi béo bở mà các nước đế quốc rắp tâm xâm lược Vận nước nguy cấp đang hết sức cần đến những nhân tài hữu dụng, nhưng nếu cứ

dựa vào những con người được “nhào nặn” ra từ nền khoa cử Bát cổ, thử hỏi

“nhân tài” tìm đâu cho thấy

* Về chính sách đối ngoại

Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, có nền văn hóa lâu đời và giàu thành tựu Suốt mấy nghìn năm lịch sử, người Trung Quốc chỉ tiếp xúc với các dân tộc nhỏ yếu xung quanh mình Trong nhiều thế kỷ, Trung Quốc và châu Âu biết rất ít về nhau Một đường thương mại mỏng manh nối liền giữa

họ là con đường tơ lụa qua Trung Á từ thời La Mã Chính vì vậy, từ rất sớm

đã hình thành nên tính kiêu ngạo, tự cao, tự đại một cách mù quáng trong giai

cấp thống trị Trung Quốc, mà người ta thường gọi là tư tưởng “Thiên triều

thượng quốc” Tư tưởng này đã ăn sâu vào đầu óc của giới cầm quyền phong

kiến Trung Quốc, trở thành một nhân tố thường xuyên của kết cấu ý thức văn hóa Cho đến khi nhà Thanh lên cầm quyền, tuyệt đại đa số giới phong kiến Trung Quốc vẫn cho rằng Trung Quốc là ưu việt nhất, đứng ở trung tâm của

thế giới, hoàng đế của Trung Quốc là “vua của muôn vua”, các hóa vật của

Trung Quốc là phong phú và có giá trị nhất… Với tư tưởng đó, giới thống trị

Trang 28

phong kiến Trung Quốc qua các triều đại nói chung, triều Thanh nói riêng, luôn ngạo nghễ và tôn cao nền sản xuất của mình mà coi khinh hàng hóa của các nước bên ngoài Theo đó, họ không có ý thức chủ động giao lưu và buôn bán với các dân tộc khác Họ luôn xem người nước ngoài đến Trung Quốc

buôn bán đều là những “nước phiên thuộc” đến để tiến cống cho “Thiên triều

thượng quốc”, được “Thiên triều” ban cho đặc ân buôn bán để kiếm chút ít

lợi lộc từ “Thượng quốc” Như trong một bức thư phúc đáp gửi vua Anh (1793), Càn Long vẫn dùng lời lẽ hết sức tự cao tự đại: “các ngươi từ trùng

dương xa cách, do quá hâm mộ văn hóa của Trung Hoa, nên đã đặc biệt phái

sứ tiết đến đây để cung kính dâng biểu, cúi đầu chúc ta được vạn thọ Ta phê duyệt biểu chương thấy lời văn của các ngươi rất thành khẩn, chứng tỏ các ngươi có lòng thành khẩn cung kính và phục tùng”, rồi “Thiên triều thượng quốc của ta sản vật phong phú, không thiếu thứ gì, cơ bản không cần thiết phải giao thương với ngoại Di Do bởi các loại như trà, đồ sứ, hàng dệt bằng

tơ lụa của thiên triều ta là vật phẩm cần thiết của các nước Tây Dương các ngươi, cho nên ta mới đặc biệt khai ân giúp đỡ, cho phép các ngươi được mở hiệu buôn bán tại Áo Môn” [31;481,482] Hay như việc vua Hàm Phong

(1850 - 1861) cũng từng từ chối tiếp sứ thần nước ngoài, chỉ vì họ không chịu quỳ xuống hành lễ… Đây rõ ràng là một sự mù quáng của triều đình nhà Thanh Vì thói kiêu căng vốn đã thấm sâu vào ý thức hệ, phong kiến Trung

Quốc đã không “mở mắt” ra để thấy các nước TBCN phương Tây thế kỷ XIX không phải là những quốc gia “Dương di”, mà là những “con mãnh thú hung

tợn”, có thừa khả năng để nuốt trọn một dân tộc lạc hậu như Trung Quốc

Từ tâm lý tự cao mù quáng, nên khi nhận thấy các mối đe dọa từ bên

ngoài, triều đình Thanh bấy giờ cũng là triều đại thực thi chính sách “Bế quan

tỏa quốc” một cách nghiêm ngặt nhất Ở các triều đầu đời Thanh, việc bế

quan còn chưa mấy khắt khe, cơ bản chỉ gồm các biện pháp di dời dân khỏi vùng duyên hải, cấm nhân dân đi ra biển, chỉ cho phép các thương gia ngoại

Trang 29

quốc tiến hành buôn bán ở những nơi quy định như Áo Môn, Chương Thâu, Ninh Ba, Vân Đài Sơn… Nhưng bắt đầu từ đời Càn Long đến các triều vua sau đó, chính sách bế quan ngày càng được triều đình thắt chặt hơn Lúc này, nhà Thanh đã đóng cửa rất nhiều hải cảng, chỉ cho phép thương nhân nước ngoài buôn bán ở một hải cảng duy nhất tại Quảng Châu, đồng thời đặt thêm rất nhiều quy định cấm đoán nghiêm ngặt và phiền toái cho các hoạt động buôn bán, gồm cả nội thương và ngoại thương Điển hình như, quy định thời gian các thương gia được đến Quảng Châu buôn bán là từ tháng 5 đến tháng

10 hàng năm, rồi phải trọ tập trung tại “Di quán”, không được đi ra ngoài dạo

chơi ngoại trừ những việc liên quan đến buôn bán Vợ con của các thương gia nước ngoài chỉ ở trên thuyền không được lên bờ Triều đình còn cử lính canh nơi thuyền bè ngoại quốc neo đậu… Mặt khác, hàng hóa Trung Quốc chỉ được xuất khẩu rất hạn chế Các hàng hóa kim khí (vàng, bạc, đồng, binh khí…) đều bị cấm xuất khẩu Các mặt hàng được xem là thế mạnh của Trung Quốc như tơ, hàng dệt, trà, đồ sứ… cũng chỉ được xuất khẩu hạn chế và chỉ

có một đơn vị “Thương Hành” ở Quảng Châu là được độc quyền phụ trách

việc xuất nhập khẩu hàng hóa với số lượng quy định

Như vậy, có thể thấy, tư tưởng “thiên triều thượng quốc” và chính sách

bế quan được thực thi cao độ dưới triều Thanh đã gây hậu quả nghiêm trọng Giữa lúc CNTB phương Tây đang phát triển như vũ bão, các liệt cường đang muốn phá tung mọi ranh giới của thị trường để xả sức ép của nền sản xuất đại

công nghiệp, thì có một “Trung Hoa” vừa “kiêu căng”, vừa “ngoan cố”, lẫn

“mê muội”, tự giam hãm mình trong một thế giới riêng, cắt đứt mọi giao

thiệp với bên ngoài Hiện trạng này, nếu tiếp tục duy trì, rõ ràng sẽ khiến dân tộc Trung Hoa đi đến chỗ suy bại

Như vậy, cho đến giữa thế kỷ XIX, “vương triều nhà Thanh lúc bấy

giờ cũng giống như một tòa cao ốc sắp sửa sụp đổ, khó bề chống chọi”

[31;438] Nó chất chứa trong lòng đầy rẫy những bất cập, thể hiện rõ sự yếu

Trang 30

kém, lạc hậu Những bối cảnh này lại tồn tại ngay trong bối cảnh CNTB

phương Tây đang vươn rộng “chiếc vòi xâm lược thuộc địa” của mình, mà

Trung Quốc đã và đang trở thành một trong những đối tượng được chú ý hàng đầu Chính vì thế, vận mệnh Trung Quốc đang rất cần những liều thuốc đặc

hiệu để chữa trị những “căn bệnh” nội tại, giúp Trung Quốc không bị cuốn

vào vòng nô dịch của CNTD phương Tây

1.1.2.2 Thất bại của hai cuộc Chiến tranh thuốc phiện và sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, rất giàu có về sản vật, nên từ rất sớm các nước phương Tây đã tìm đến Đầu tiên là người Bồ Đào Nha, từ năm

1517 đã đến Quảng Châu buôn bán và đến năm 1535 đã thuê Áo Môn (Quảng Đông) đặt làm thương điếm Sau Bồ Đào Nha, lần lượt các nước phương Tây khác như Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp, Mỹ… đã tìm đến Trung Quốc buôn bán Hoạt động giao thương giữa Trung Quốc và người phương Tây diễn ra khá êm xuôi, ngoại trừ đôi lúc chính quyền Trung Quốc (thời nhà Minh và

đầu nhà Thanh) có thực hiện ở mức độ thấp chính sách “bế quan” Nhưng kể

từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, nước Anh đã tiến hành cách mạng công nghiệp Người Anh đã thay đổi phương cách buôn bán với người Trung Quốc và muốn biến Trung Quốc thành thị trường tiêu thụ hàng hoá công nghiệp Và

như đã trình bày ở phần trên, xuất phát từ tư tưởng “thiên triều thượng quốc”,

cộng với việc lo sợ trước ảnh hưởng của CNTB phương Tây, nhà Thanh đã

thực hiện chính sách “bế quan toả cảng” một cách nghiêm ngặt, khiến cho

hàng hoá phương Tây khó tiêu thụ rộng rãi ở Trung Quốc

Để chống lại chính sách bế quan của triều đình Trung Quốc, thực dân Anh cũng như một số nước có lợi ích truyền thống ở Trung Quốc đã tìm cách

để mở toang cánh cửa, đó là buôn bán thuốc phiện Bằng nhiều cách khác

nhau, thương nhân Anh đã ồ ạt tuồn thuốc phiện vào Trung Quốc Loại “hàng

hoá” đặc biệt này đã làm cho thực dân Anh giàu lên nhanh chóng Trong khi

Trang 31

đó thuốc phiện đã làm Trung Quốc đắm trong tai hoạ, không những bị tiêu tốn một khối lượng lớn bạc trắng, mà còn làm cho sức lực của người Trung Quốc tổn hại nghiêm trọng

Trước thảm cảnh đó, ngày 31/1/1838, vua Đạo Quang đã phái Lâm Tắc

Từ làm Khâm sai đại thần, thực hiện lệnh cấm thuốc phiện triệt để Những hành động tích cực và kiên quyết của Lâm Tắc Từ đã dấy lên một phong trào tịch thu, tiêu huỷ và chống buôn bán thuốc phiện rầm rộ ở Quảng Châu Điều này đã gây tổn hại rất lớn đến lợi ích của thực dân Anh Đó cũng chính là cái

cớ để Chính phủ Anh phát động cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc

“Tháng 6/1840, quân đội viễn chinh phương Đông của Anh gồm 15.000 người và hơn 40 tàu chiến đến Quảng Châu” [43;325] Mặc dù quân sĩ và

nhân dân Trung Quốc chiến đấu hết sức ngoan cường, song trước sức mạnh của đạn pháo và chiến hạm tối tân của thực dân Anh, người Trung Quốc đã phải chấp nhận thất bại

Ngày 29/8/1842, triều đình Mãn Thanh đã ký hiệp ước bất bình đẳng

đầu tiên với người phương Tây - “Điều ước Nam Kinh” Bản điều ước này

gồm 5 nội dung cơ bản là:

“ 1 Trung quốc cắt Hồng Công cho Anh Quốc

2 Trung Quốc bồi thường cho Anh 21 triệu bảng, trả hết trong 4 năm

3 Trung Quốc phải mở 5 cửa khẩu thông thương: Quảng Châu, Phúc Châu, Hạ Môn, Ninh Ba, Thượng Hải Người Anh được cu trú và lập lãnh sự quán tại những nơi đó

4 Hải quan Trung Quốc không được quyết định thuế xuất nhập khẩu,

mà phải bàn bạc với phía Anh

5 Thương nhân người Anh hoàn toàn có quyền tự do giao dịch tại các của khẩu thông thương” [42;242,243]

Sau “Điều ước Nam Kinh”, nhà Thanh tiếp tục ký bổ sung với Anh

“Điều ước Hổ Môn” (08/10/1843, trong đó bổ sung “quyền lãnh sự tài phán”

Trang 32

và quyền “tối huệ quốc”), ký với Mỹ “Điều ước Vọng Hạ” (03/07/1884), ký với Pháp “Điều ước Hoàng Phố” (tháng 10/1884); rồi một loạt các nước

phương Tây khác như Bỉ, Thuỷ Điển, Na Uy, Bồ Đào Nha, Nga… cũng được nhà Thanh chấp nhận những đặc quyền ở Trung Quốc

Tuy nhiên, không chịu dừng lại ở đó, các nước đế quốc vẫn tiếp tục phát động cuộc Chiến tranh thuốc phiện lần thứ hai (1856 - 1860), xâm phạm sâu hơn chủ quyền của Trung Quốc Không thể chống cự nổi liên quân đế

quốc xâm lược, triều đình Mãn Thanh đã lần lượt phải ký tiếp “Điều ước

Thiên Tân” với Nga, Mỹ, Anh, Pháp Đặc biệt, đến tháng 10/1860, nhà Thanh

lại tiếp tục phải ký thêm “Điều ước Bắc Kinh” với Anh và Pháp, thừa nhận hiệu lực của “Điều ước Thiên Tân”, đồng thời phải chấp nhận mở thêm cảng

Thiên Tân cho Anh và Pháp thông thương

Như vậy, chỉ trong vòng 20 năm (1840 - 1860), các nước đế quốc đã phát động liên tiếp hai cuộc chiến tranh đối với Trung Quốc Qua mỗi cuộc chiến tranh thuốc phiện, hàng loạt các điều ước đã được ký kết, ghi nhận sự xâm lấn ngày càng sâu của CNTD phương Tây vào Trung Quốc, xâm phạm

nghiêm trọng chủ quyền quốc gia Đến lúc này, từ một “Thượng quốc”,

Trung Quốc đã bị biến thành nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến, những chủ quyền cơ bản đã bắt đầu bị cắt xẻ, thôn tính Nếu không có những biện pháp thích hợp, việc toàn bộ độc lập chủ quyền của Trung Quốc bị rơi vào tay CNTD là điều hoàn toàn có thể xẩy ra

Trong khi đó xét về diện mạo kinh tế Trung Quốc, cho đến giữa thế kỷ XIX, đó không gì khác vẫn là một nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc Hoạt động kinh tế chủ đạo là nông nghiệp Thủ công nghiệp và thương nghiệp chỉ

là những hoạt động phụ, nhỏ nhoi và thường gắn chặt với nông nghiệp Chúng

ta có thể hình dung cụ thể tình trạng này qua sự miêu tả của Mác về đời sống

người nông dân Phúc Kiến năm 1852 như sau: “Người nông dân Phúc Kiến -

ngoài việc trồng tỉa lúa má còn sản xuất nữa Đến mùa Xuân họ mang đến

Trang 33

các cửa bể để bán cho thương nhân… Sau vụ mùa, tất cả những người trong gia đình nông dân đều bắt tay vào việc kéo sợi, dệt vải, họ mặc bằng vải mình dệt ra Khi bản thân dùng thừa ra mới mang ra thị trường bán 9/10 dân nước này đều mặc bằng vải mình dệt ra, phẩm chất của nó từ chỗ thô sơ đến tinh vi… Tất cả vải đó đều do nông dân sản xuất ra Mỗi nhà ở Trung Quốc đều

có khung cửi, đây là một nước rất đặc biệt với nước khác, ở nước khác thì người làm ra sợi tơ và đem tơ sợi đó đến những xí nghiệp dệt để dệt, còn như

ở Trung Quốc thì tự kéo sợi, tự dệt lấy, những người nông dân Phú Kiến không những là người nông dân mà còn là công nhân công nghệ gia đình nữa” [5;35,36] Với bức tranh kinh tế đó, cho đến giữa thế kỷ XIX, tích luỹ

tư bản nguyên thuỷ vẫn còn xa lạ với Trung Quốc

Tuy vậy, trải qua hai cuộc chiến tranh thuốc phiện, những mầm mống của CNTB cũng đã bắt đầu xâm nhập vào Trung Quốc Chỉ riêng nước Anh,

“trong thời gian từ 1840 - 1845 giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu của Anh sang Trung Quốc đã tăng gấp 4 lần” [50;20] Sự tràn ngập thị trường của

hàng hóa phương Tây đã làm cho nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc của Trung Quốc bước đầu bị phá vỡ Bắt đầu từ những năm 1860, người Anh, Mỹ

đã thành lập một chuỗi cơ sở công nghiệp TBCN ở Quảng Châu, Hồng Kông, Thượng Hải… Các nước đế quốc cũng đã bước đầu với tay chi phối mạch máu tài chính của Trung Quốc bằng việc lập nên các ngân hàng Sớm nhất

phải kể đến là các ngân hàng Anh Ngay từ năm 1845 đã xây dựng “ngân

hàng Lệ Như đặt cơ cấu tổ chức ở Thượng Hải và Hồng Kông” [59;386] Sau

Anh, một loạt các nước phương Tây khác như Đức, Pháp, Mỹ, Nga, Bỉ… cũng đã đua nhau thành lập các ngân hàng ở Trung Quốc

Trong khi đó cho đến nửa đầu thế kỷ XIX, nền sản xuất của Trung Quốc mặc dù chưa có các nhà máy công nghiệp, song đã tồn tại khá nhiều các công trường thủ công Những công trường này hoạt động ở nhiều lĩnh vực như dệt vải, lụa, đồ sứ, sản xuất hộp chè, giày dép… Trong đó, sự phân công

Trang 34

lao động và chuyên môn hoá đã đạt mức khá cao Ví dụ, “một cái bình sứ

phải qua tay 50 người thợ mới làm nên được” [45;256] Việc tập trung sản

xuất cũng đã manh nha ở một số nơi Lấy nghề khai thác đồ đồng ở Vân Nam

làm ví dụ, “cuối thế kỷ XVIII toàn tỉnh có 70 vạn công nhân làm nghề khai

thác mỏ đồng Có rất nhiều xưởng đúc đồng, xưởng đúc đồng nào lớn có đến 7,8 vạn người Sự phân công của việc khai thác đồng và chế tạo đồng rất tỉ mỉ” [5;31] Hay nghề làm muối ở Tứ Xuyên, đến đầu thế kỷ XIX “Tứ Xuyên

có hàng vạn ruộng muối, mở một ruộng muối như thế tốn rất nhiều vốn Trong đó gồm có các loại công nhân làm muối, công nhân đốt lò, gánh muối… cả Tứ Xuyên có đến mấy chục vạn công nhân làm nghề muối Nhưng chỉ có mấy trăm nhà tư bản khống chế toàn bộ sự sản xuất của ngành này”

[5;31]

Một biểu hiện khác là những chuyển biến trong lĩnh vực nông nghiệp Bên cạnh lối bóc lột địa tô vẫn tồn tại phổ biến, từ sau chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất, đã xuất hiện một số địa chủ, phú nông thuê người làm dài ngày hoặc ngắn ngày để cày cấy ruộng đất

Ngoài ra, cùng với sự mở cửa thông thương cảng biển, một loạt các thành phố có tính chất nửa thuộc địa như Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba, Hồng Kông, Ma Cao, Thượng Hải… cũng đã hình thành Ở các thành phố này, nhà Thanh chấp thuận cho người nước ngoài lập tô giới Trong khi đó, các tô giới lại thuộc đặc quyền của người nước ngoài, nơi được xem

“là bản sao thu nhỏ” của chính quốc Vì thế, những thành tố của nền văn

minh phương Tây ít nhiều đã được phô bày ngay trên đất Trung Quốc, ở tại các thành phố và nhất là ở các tô giới

Cũng từ sau chiến tranh thuốc phiện, cơ cấu giai cấp trong xã hội Trung Quốc đã có sự chuyển mình một cách rõ rệt Lúc này, sự thâm nhập của kinh

tế thực dân đã đẻ ra một lực lượng công nhân, đồng thời cũng đẻ ra một tầng lớp tư sản mại bản, tiếp tay cho bọn tư sản nước ngoài

Trang 35

Như vậy, những biểu hiện trên một mặt cho thấy quá trình thực dân hóa

ở Trung Quốc, nhưng mặt khác lại chính là luồng sinh khí mới, tạo tiền đề cho sự nảy nở, xuất hiện của trào lưu tư tưởng cấp tiến chịu ảnh hưởng của phương Tây sau đó

1.2 SỰ XUẤT HIỆN CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ

1.2.1 Phái “Kinh thế” và việc đặt tiền đề tư tưởng cho sự ra đời của

phong trào Dương Vụ

Từ sau Chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất, trong sự u mê, mù quáng

của cả một giai cấp vốn luôn ngạo nghễ “Thiên triều thượng quốc”, đã xuất hiện một nhóm người giám vượt qua cái “tôi” để “khai nhãn khán thế giới”

(mở mắt nhìn thế giới bên ngoài) Họ không ai khác, vẫn chính là những quan viên, sĩ phu phong kiến Thanh triều Tuy nhiên, đây là những quan lại cấp tiến thức thời, tự thấy cần có trách nhiệm đề đạt những biện pháp để cứu nguy cho dân tộc Những con người cấp tiến này xuất hiện chủ yếu dưới thời vua Gia Khánh (1796 - 1820) và Đạo Quang (1820 - 1850), về sau được các sử gia gọi

chung là “phái Kinh thế”

“Kinh thế” có nghĩa là quan tâm lo liệu thế sự Đại biểu của phái này

phải kể đến tên tuổi của các nhân vật như Lâm Tắc Từ, Ngụy Nguyên, Phùng Quế Phương, Cung Tự Trân, Quản Đồng, Diệu Oánh, Tước Từ, Đào Chú, Bao Thế Thần… Phái Kinh thế đã phê phán một cách gay gắt những tệ nạn trong xã hội đương thời, đồng thời đề xuất những phương án cải cách xã hội, trong đó thể hiện tầm vượt trội so với số đông còn lại của giai cấp phong kiến

Đáng chú ý và cũng là người mở đầu cho trào lưu tư tưởng canh tân ở Trung Quốc từ sau Chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất là Lâm Tắc Từ (1785

-1850) Ông được xem là “khai nhãn thế giới đệ nhất nhân” [15;50] (tức

người đầu tiên nhìn ra thế giới) Mặc dù là người có óc bài ngoại rất quyết liệt, nhưng từ sau thất bại của quân đội triều đình khi giao chiến với quân Anh trong Chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất, Lâm Tắc Từ không thể không

Trang 36

thừa nhận sức mạnh của kỹ thuật quân sự phương Tây Vốn có lòng yêu nước, lại có đầu óc tỉnh táo, tư duy biến ứng, Lâm Tắc Từ cực lực phản đối thái độ

tự cao tự đại một cách mù quáng của không ít quan lại đương triều Ông chủ

trương “phải hiểu rõ Di tình”, tức phải hiểu rõ thế giới, hiểu rõ các nước bên

ngoài Trên cơ sở tìm hiểu, nhận thức được sâu sắc sức mạnh của phương Tây, mà trước hết là về quân sự, Lâm Tắc Từ đã đưa ra những quan điểm cải

cách của mình Trong đó, “Ông công khai nói rằng Trung Hoa phải học các

kỹ thuật mới của kẻ thù và phải cố gắng tự mình đóng thuyền chiến và chế tạo súng ống Trước khi Trung Hoa tự chế tạo được vũ khí thì phải mua của ngoại quốc, ngay cả từ người Anh” [56;142] Trên thực tế, để hiện thực hóa

luận điểm của mình, chính Lâm Tắc Từ đã mua lại một chiến thuyền vốn trước đó đã được người Anh sử dụng trong cuộc Chiến tranh thuốc phiện

Lâm Tắc Từ còn tự mình thu thập tài liệu nước ngoài, biên soạn cuốn “Tứ

châu chí” Đây chính là cuốn sách đầu tiên ở Trung Quốc giới thiệu lịch sử và

địa lý năm châu, trong đó đề cập đến hơn 30 quốc gia khác nhau

Một nhà tư tưởng lỗi lạc của phái Kinh thế phải kể đến là Ngụy Nguyên (1794 - 1857) Ông là một người bạn của Lâm Tắc Từ và cũng là người tiếp thu trực tiếp nhiều quan điểm tiến bộ của Lâm Tắc Từ Năm 1842, Ngụy

Nguyên đã biên soạn cuốn “Hải quốc đồ chí” (Đại từ điển về các quốc gia

ngoài biển) là một bộ sách giới thiệu địa lý, lịch sử, chính trị, kinh tế, dân tộc, tôn giáo, lịch pháp và tình hình xã hội phương Tây, nhưng chứa đựng rất nhiều tinh thần mới, được ví như những đề xuất canh tân hết sức giá trị Trong đó, Ngụy Nguyên cho rằng để chiến thắng được bọn xâm lược phương Tây, không những phải có phương án tác chiến thích hợp mà còn phải cải tiến

vũ khí và phương pháp huấn luyện quân sự của quân đội Trung Quốc Từ đấy

ông khẳng định “bất thiện sư ngoại Di giả, ngoại Di chế chi” [31;515], có

nghĩa là nếu không biết học tập người ngoại quốc thì sẽ bị người ngoại quốc

khống chế Cũng chính Ngụy Nguyên đã đưa ra khẩu hiệu “Sư Di chi trường

Trang 37

kỹ dĩ chế Di”, tức học tập sở trường về mặt kỹ thuật của người ngoại quốc và

dùng sở trường đó để đối phó với họ Và để cụ thể hóa việc “học tập sở

trường về kỹ thuật của người phương Tây”, Ngụy Nguyên đã đề ra những

biện pháp như “mời kỹ sư phương Tây, công nhân kỹ thuật phương Tây đến

Trung Quốc để mở xưởng đóng tàu, xưởng chế tạo súng đạn tại Quảng Đông; đồng thời gửi công nhân người Trung Quốc ra nước ngoài du học, để chuyên học hỏi những kỹ thuật có tương quan của CNTB ở phương Tây, và thông qua một thời gian học tập thì có thể học hết được những sở trường về kỹ thuật của phương Tây, để chuyển biến nó thành sở trường kỹ thuật của Trung Quốc, về sau không cần phải ỷ lại người ngoại quốc nữa Sau khi chúng ta đã có những

vũ khí và trang bị tiên tiến, thì Trung Quốc có thể xây dựng một đội hải quân theo kiểu mới của mình Đến chừng đó chúng ta không còn sợ “tàu to súng lớn” của địch nữa, mà có thể trực tiếp đánh nhau với chúng trên mặt biển”

[31;515]

Trong nội dung “học tập người Di” của bộ “Hải quốc đồ chí”, Ngụy

Nguyên cũng đã ý thức tầm quan trọng của việc phát triển công thương

nghiệp Ông cho rằng, “nguyên nhân chủ yếu khiến nước Anh giàu mạnh là

do họ biết trọng thị công thương nghiệp của mình, hơn nữa họ dùng sức mạnh quân sự của quốc gia để giúp đỡ cho công thương nghiệp của họ phát triển thế lực ra hải ngoại Kết quả của việc công thương nghiệp và quân sự hỗ tương phối hợp với nhau, đã làm cho họ có thể xưng bá giữa các cường quốc trên thế giới” [31;517] Trên cơ sở đó, Ngụy Nguyên đã đưa ra những chủ

trương phải “hoãn bản cấp tiêu” (tức phải bớt chú trọng phát triển nông

nghiệp, mà đẩy mạnh phát triển công thương nghiệp) Đặc biệt, Ngụy Nguyên

là một trong những người đầu tiên đã nhận thức được lợi ích và sự cần thiết phải mở cửa cho người nước ngoài vào buôn bán giao thiệp

Trong bộ “Hải quốc đồ chí”, Ngụy Nguyên còn giới thiệu một cách tỉ

mỉ và tỏ ý ca ngợi đối với thể chế chính trị của các nước phương Tây Ông đã

Trang 38

giới thiệu cho người Trung Quốc thấy nguyên tắc dân chủ của chế độ Nghị

hội ở Anh, của chế độ cộng hòa ở Mỹ, hay như Thụy Sỹ, “ông cũng đã hết

lòng khen ngợi nước này không đặt nhà vua, không có vương hầu, mà thực hành chế độ dân chủ cộng hòa” [31;518]… Như vậy, có thể xem “Hải quốc

đồ chí” của Ngụy Nguyên như là cuốn “Tân thư” đầu tiên của Trung Quốc

cận đại, và cũng là cuốn sách đã xóa đi tư tưởng “Thiên triều thượng quốc”,

đồng thời chỉ rõ cho người Trung Quốc thấy rõ những cái yếu kém, lạc hậu của mình đặt trong tương quan phát triển lúc bấy giờ

Cùng với Lâm Tắc Từ và Ngụy Nguyên, trong phái Kinh thế còn nổi lên một nhà tư tưởng cấp tiến khác là Phùng Quế Phương (1809 - 1874) Mặc

dù được xếp vào hàng hậu bối của Ngụy Nguyên, nhưng với một nhãn quan rộng rãi, Phùng Quế Phương đã tạo được ảnh hưởng lớn lao trong phái Kinh thế, đưa ra được nhiều cải cách hết sức có giá trị đối với đất nước Trung Hoa

Năm 1861, Phùng Quế Phương đã viết cuốn sách “Hiệu lư bân”, trong đó đi

sâu vào đề xuất những biện pháp cải cách chính trị - xã hội, mong muốn đưa Trung Quốc tiến lên con đường TBCN Cũng cùng quan điểm với Ngụy Nguyên và nhiều nhân sĩ của phái Kinh thế, Phùng Quế Phương công nhận sự vượt trội của kỹ thuật quân sự phương Tây và vì thế Trung Quốc cần phải học hỏi Song quan điểm của Phùng Quế Phương đã phát triển hơn Ngụy Nguyên

khi ông chủ trương Trung Quốc “muốn học hỏi người phương Tây thì không

những phải mua khí giới, mà còn học cách chế tạo, không chỉ bắt chước mà cồn phái phát minh ra các kiểu mới” [56;155] Phùng Quế Phương còn khẳng

định, muốn thông thạo kỹ thuật của phương Tây thì phải cải cách giáo dục để

đào tạo nhân tài Đặc biệt, ông chính là người đưa ra triết lý “Thể dụng”, chủ

trương duy trì tinh thần Khổng - Mạnh, nhưng kết hợp kỹ thuật tân tiến của phương Tây là đủ để làm cho đất nước cường thịnh

Như vậy, cho đến trước khi phong trào Dương Vụ diễn ra, vào giữa thế

kỷ XIX ở Trung Quốc đã xuất hiện một trào lưu tư tưởng tiến bộ khai đường

Trang 39

Những nhân sĩ cấp tiến thuộc phái Kinh thế cùng những tư tưởng mới mẻ của

họ, đã thực sự tạo nên luồng sinh khí mới cho “cái ao tù” về tư tưởng của xã hội phong kiến Trung Quốc lúc bấy giờ Các tác phẩm như Tứ châu khí, Hải

quốc đồ chí, Hiệu lư bản… đã giúp người Trung Quốc mở rộng tầm nhìn và

chỉ cho họ thấy được sự yếu kém của dân tộc mình, đồng thời thấy cần phải học tập người phương Tây Tuy thế, những chủ trương, biện pháp cải cách được phái Kinh thế đưa ra vẫn nằm trên lý thuyết Chúng chưa được triều đình nhà Thanh và xã hội chú ý đúng mức, nên chưa phát huy được tác dụng trong thực tế Mặc dù vậy, những chủ trương của phái Kinh thế đã tạo tiền đề

về tư tưởng cho các phong trào cải cách ở Trung Quốc sau đó, mà trước hết

và trực tiếp là phong trào Dương Vụ

1.2.2 Sự xuất hiện của phái Dương Vụ và phong trào Dương Vụ

Chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất (1840 - 1842) kết thúc chưa được bao lâu thì thế cục Trung Quốc lại rơi vào tình trạng hết sức tồi tệ Trong khi triều đình nhà Thanh phải lo đối phó với quân Thái Bình và Niệp quân (khởi nghĩa nông dân ở An Huy, Hà Nam từ năm 1852 - 1868), các nước đế quốc lại phát động cuộc Chiến tranh thuốc phiện lần hai (1856 - 1860) Kết quả của

việc “lưỡng đầu thọ địch” là nhà Thanh đã phải ký thêm hàng loạt các hiệp

ước bất bình đẳng, khiến Trung Quốc chịu thêm sự nô dịch ngày càng nặng nề bởi các nước phương Tây Mối nhục và tình trạng bất ổn đã đẩy xã hội Trung Quốc vào tình cảnh khó khăn chưa từng có Giới sĩ phu nói riêng, toàn thể dân tộc Trung Hoa nói chung đòi hỏi phải có những biện pháp mới để cứu đất nước khỏi bị nô dịch hoàn toàn bởi các liệt cường phương Tây Trong bối

cảnh bức bách như thế, những “toa thuốc” cũ đã không còn chữa nổi những

“chứng bệnh”mới Vì thế, các tác phẩm của Lâm Tắc Từ, Ngụy Nguyên,

Phùng Quế Phương… đến lúc này đã được nhiều người đọc và được lưu

truyền rộng rãi trong giới quan lại, sĩ phu Ý kiến về “tự cường” đã được tầng

lớp trên của xã hội chấp nhận

Trang 40

Mặt khác, trải qua những thất bại của quân triều đình trong cả hai cuộc Chiến tranh thuốc phiện, rồi lại thấy tận mắt quân Thái Bình kiêu dũng là thế

mà vẫn bị thảm bại trước súng đạn của người ngoại quốc… đã dẫn đến những thay đổi lớn trong tư tưởng và quan niệm của một số quan viên trong Chính phủ nhà Thanh Lúc này họ đã nhận thức được sở trường về khoa học kỹ thuật của người phương Tây cũng như lo lắng cho vận mệnh của dân tộc, của giai cấp Chính vì thế, họ đã quyết định phải học tập kỹ thuật tiên tiến của phương Tây để bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc cũng như nền thống trị của vương triều nhà Thanh Tình hình trên đã dẫn đến nội bộ giai cấp thống trị

Mãn Thanh đã có sự phân hóa, hình thành nên hai phái “phái Dương Vụ” 2

“phái Ngoan Cố”

Phái Dương Vụ gồm những người có cùng chủ trương “tân chính” (thực hiện những chính sách mới), kêu gọi “tự cường” bằng cách học tập

phương Tây Trên cái nền là luân thường đạo lý Trung Quốc, họ nêu cao khẩu

hiệu “Trung học vi thể, Tây học vi dụng”, tức là lấy luân thường đạo lý,

cương thường của Trung Quốc làm nền tảng để trị nước, lấy khoa học của phương Tây làm biện pháp để làm giàu Trong đó phải kể đến nhân vật như Dịch Hân, Văn Tường, Quế Lương, Tăng Quốc Phiên, Tả Tông Đường, Lý Hồng Chương, Quách Sùng Đào, Trương Chi Động, Tiết Hoán, Đinh Nhật

Xương… Họ là những người có học thuyết uyên thâm, đa số là những “công

thần” đã giúp triều đình trấn áp được các cuộc khởi nghĩa nông dân, các cuộc

chính biến trong cung đình

Điểm đáng chú ý là phái Dương Vụ đã quy tụ được một số yếu nhân có quyền lực khá lớn trong triều đình nhà Thanh Tiêu biểu ở cấp trung ương phải kể đến là Dịch Hân (1832 - 1898) Ông là con trai thứ sáu của Hoàng đế Đạo Quang, được phong là Cung Thân Vương Nhờ có công trạng to lớn đối

với triều đình trong những lúc nguy nan, Dịch Hân được xem là “Nghị Chính

2

Bản thân từ “dương vụ” có nghĩa là học hỏi theo các nước phương Tây

Ngày đăng: 27/03/2017, 20:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1943), Trung Hoa sử cương. Nxb Bốn phương Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Hoa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Bốn phương Sài Gòn
Năm: 1943
2. Trương Tú Bình, Vương Hiểu Minh (1998), 100 sự kiện của Trung Quốc, tập 1, 2. Phạm Việt Chương biên dịch và hiệu đính. Nxb Văn hoá Thông tin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 sự kiện của Trung Quốc, tập 1
Tác giả: Trương Tú Bình, Vương Hiểu Minh
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 1998
3. Đới Ngọc Cần (1999), Chính sách mới với tiến trình hiện đại hoá của Trung Quốc thời kỳ đầu, Khoa học Xã hội Nam Kinh, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách mới với tiến trình hiện đại hoá của Trung Quốc thời kỳ đầu
Tác giả: Đới Ngọc Cần
Năm: 1999
4. Trần Văn Chánh (Chủ biên) (2006), Từ điển lịch sử Trung Hoa. Nxb Thanh niên, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển lịch sử Trung Hoa
Tác giả: Trần Văn Chánh (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2006
5. CNTB ở Trung Quốc và Nhật Bản. Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội - 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNTB ở Trung Quốc và Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội - 1971
6. Ngô Ngọc Chương (1973), Cách mạng Tân Hợi - Một cuộc cách mạng dân chủ vĩ đại trong lịch sử cận đại của Trung Quốc. Nxb Ngoại Văn, Bắc Kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng Tân Hợi - Một cuộc cách mạng dân chủ vĩ đại trong lịch sử cận đại của Trung Quốc
Tác giả: Ngô Ngọc Chương
Nhà XB: Nxb Ngoại Văn
Năm: 1973
7. Li Gan Cyan, Zhou Ji Ming, Chang Jian Hua (2000), Sử học Trung Quốc trước gạch nối hai thế kỷ. Hoàng Ngọc Diễm, Trương Quỳnh Hoa, Lê Khương dịch. Viện Thông tin KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử học Trung Quốc trước gạch nối hai thế kỷ
Tác giả: Li Gan Cyan, Zhou Ji Ming, Chang Jian Hua
Năm: 2000
9. Đới Dật (1960), Vấn đề phân kỳ và nội dung cơ bản của Lịch sử cận - hiện đại Trung Quốc, Bài giảng tại trường ĐHND Trung Quốc. Chương Thâu dịch. Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phân kỳ và nội dung cơ bản của Lịch sử cận - hiện đại Trung Quốc
Tác giả: Đới Dật
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội
Năm: 1960
10. Khương Đạc (1997), Nhìn lại việc nghiên cứu phong trào Dương Vụ. tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại việc nghiên cứu phong trào Dương Vụ
Tác giả: Khương Đạc
Nhà XB: tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Năm: 1997
12. Đào Duy Đạt (1996), Bước đầu tìm hiểu tiến trình cận đại hoá ở Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XIX - Đề tài tiềm năng, Viện Nghiên cứu Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu tiến trình cận đại hoá ở Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XIX - Đề tài tiềm năng
Tác giả: Đào Duy Đạt
Năm: 1996
13. Đào Duy Đạt (1998), Loại hình xí nghiệp “Quan đốc thương biện” - Bước đầu tìm hiểu tiến trình cận đại nền kinh tế Trung Quốc. tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình xí nghiệp “Quan đốc thương biện” - Bước đầu tìm hiểu tiến trình cận đại nền kinh tế Trung Quốc
Tác giả: Đào Duy Đạt
Nhà XB: tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Năm: 1998
14. Đào Duy Đạt (1999), Nền quốc phòng Trung Quốc cận đại với tiến trình cận đại hoá Trung Quốc. Thư viện Viện nghiên cứu Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền quốc phòng Trung Quốc cận đại với tiến trình cận đại hoá Trung Quốc
Tác giả: Đào Duy Đạt
Nhà XB: Thư viện Viện nghiên cứu Trung Quốc
Năm: 1999
15. Đào Duy Đạt (2002), Những con đường du nhập Tây học ở Trung Quốc trong phong trào Dương Vụ (1861 - 1895). tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những con đường du nhập Tây học ở Trung Quốc trong phong trào Dương Vụ (1861 - 1895)
Tác giả: Đào Duy Đạt
Nhà XB: tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Năm: 2002
16. Đào Duy Đạt (2003), Phong trào Duy Tân ở Hồ Nam và căn cứ lí luận biện pháp Duy Tân của Đàm Tự Đồng. tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Duy Tân ở Hồ Nam và căn cứ lí luận biện pháp Duy Tân của Đàm Tự Đồng
Tác giả: Đào Duy Đạt
Nhà XB: tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Năm: 2003
18. Đào Duy Đạt (2004), Tính chất và tác dụng của loại hình xí nghiệp Quan đốc thương biện trong tiến trình cận đại hoá Trung Quốc. tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất và tác dụng của loại hình xí nghiệp Quan đốc thương biện trong tiến trình cận đại hoá Trung Quốc
Tác giả: Đào Duy Đạt
Nhà XB: tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Năm: 2004
19. Lâm Hán Đạt, Tào Dư Chương (1997), Lịch sử Trung Quốc năm ngàn năm, tập 1, 2. Trần Ngọc Thuận dịch. Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Trung Quốc năm ngàn năm, tập 1, 2
Tác giả: Lâm Hán Đạt, Tào Dư Chương
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 1997
20. Trịnh Phú Điền, Khả Vĩnh Tuyết, Dương Hiệu Xuân (2002), Tướng soái cổ đại Trung Hoa. Tập 4: Minh - Thanh. Trịnh Cư, Lê Văn Duyệt dịch.Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tướng soái cổ đại Trung Hoa. Tập 4: Minh - Thanh
Tác giả: Trịnh Phú Điền, Khả Vĩnh Tuyết, Dương Hiệu Xuân
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2002
21. Trần Độ (1984), Mấy ý kiến nhân đọc Lịch sử Trung Quốc cận đại. tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số, 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến nhân đọc Lịch sử Trung Quốc cận đại
Tác giả: Trần Độ
Nhà XB: tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
Năm: 1984
22. Trần Độ: Vài nét về tình hình sử học Trung Quốc sau Mao, (bản chép tay), Thư viện Viện Nghiên cứu Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về tình hình sử học Trung Quốc sau Mao
23. Lê Giảng (1999), Các triều đại Trung Hoa. Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Trung Hoa
Tác giả: Lê Giảng
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Hoạt động chế tạo tàu thủy của Tổng cục chế tạo máy móc - SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ Ở TRUNG QUỐC (1861 - 1894)
Bảng 2.1 Hoạt động chế tạo tàu thủy của Tổng cục chế tạo máy móc (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w