tư, chính sách phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Trị từ đó chỉ ra những thành công và yếu kém của hoạt động này, đồng thời đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút
Trang 1LUẬN VĂN:
Thu hút vốn đầu tư vào các khu công
nghiệp, khu kinh tế ở tỉnh Quảng Trị
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là một vấn đề có tính quy luật chung của những nước nông nghiệp Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ xu thế toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, một số nước phát triển nhất đang chuyển lên nền kinh tế tri thức Đảng ta chủ trương tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát triển kinh tế tri thức Một trong những nhiệm vụ quan trọng là "Khuyến khích phát
triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phần mềm và công nghiệp bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động; phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế, nâng cao hiệu quả của các khu công nghiệp, khu chế xuất" [30, tr.91]
Quảng Trị là một tỉnh duyên hải bắc miền Trung có lợi thế về địa kinh tế nên đã thành lập khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo và xây dựng các khu công nghiệp Nam Đông
Hà, khu công nghiệp Quán Ngang, các khu du lịch - dịch vụ Cửa Tùng, Cửa Việt
Tuy nhiên, Quảng Trị là một tỉnh chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, điều kiện thiên nhiên không được thuận lợi như nhiều địa phương khác nên việc đầu tư để khai thác các nguồn lực chưa nhiều Vì vậy, việc thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế nói trên có một ý nghĩa rất quan trọng Nhưng gần 10 năm đã qua số lượng dự án và lượng vốn mà tỉnh thu hút được chưa nhiều, chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh Chỉ từ khi hành lang kinh tế Đông - Tây được khai thông thì thị trường đầu tư ở Quảng Trị mới có những tiến triển Tại sao với sự giúp đỡ to lớn của Chính phủ và sự nỗ lực của tỉnh mà kết
quả đạt được chưa nhiều là một vấn đề cần được nghiên cứu Bởi vậy " Thu hút vốn đầu tư
vào các khu công nghiệp, khu kinh tế ở tỉnh Quảng Trị " được chọn làm đề tài của luận
văn này
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề thu hút vốn đầu tư đã được nghiên cứu, phân tích ở nhiều góc độ khác nhau
Có thể nêu ra một số công trình sau:
“Nâng cao sức cạnh trạnh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” GS-TS Chu Văn Cấp, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003 “Kinh tế có vốn đầu tư nước
Trang 3ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: Thực trạng và triển vọng” Đề tài cấp bộ năm 2004 của khoa Kinh tế - Chính trị, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, PGS-TS Trần Quang Lâm chủ biên “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt
Nam thực trạng và giải pháp” Trần Xuân Tùng, Nxb CTQG, Hà Nội, 2005; “Nghiên cứu chiến lược xúc tiến FDI tại nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của bộ Kế Hoạch &
Đầu Tư và cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản năm 2003 “Thu hút đầu tư trực tiếp từ các
nước trong khu vực nhằm thúc đẩy phát triển nền kinh tế Việt Nam - thực trạng và giải pháp” Đinh Văn Cường -Luận văn thạc sĩ kinh tế năm 2004 “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương - thực trạng và giải pháp” Bùi Thị Dung - Luận văn thạc sĩ kinh tế năm 2005 “ Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước ASEAN và vận dụng vào Việt Nam” Nguyễn Huy Thám - Luận án tiến sĩ kinh tế năm 2000 "Một số giải pháp đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng duyên hải miền Trung" Bài báo của
Hoàng Hồng Hiệp, tạp chí Kinh tế và Dự Báo số 4/2005 "Một số vấn đề xã hội trong xây
dựng và phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam" Bài báo của Th.S Nguyễn Ngọc Dũng,
tạp chí Kinh tế và Dự Báo số 3/2005
Các công trình trên chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên phạm vi của cả nước hoặc của từng ngành, từng địa phương
Ở tỉnh Quảng Trị có các văn bản liên quan đến thu hút đầu tư như Quyết định số
11/2005/QĐ -TTg ngày 12/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành qui chế khu kinh tế
- thương mại đặc biệt Lao Bảo tỉnh Quảng Trị Quyết định 984/2005/QĐ - UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Trị ngày 25/5/2005 Ban hành chính sách khuyến khích ưu đãi đầu
tư trên địa bàn tỉnh Quảng Trị “Một số tình hình về xây dựng và phát triển khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo tỉnh Quảng Trị” của Ban Quản Lý khu kinh tế thương mại đặc
biệt Lao Bảo tỉnh Quảng Trị năm 2006
Các văn bản trên đề ra những quy định về quản lý vĩ mô của Nhà nước, chưa trực tiếp nghiên cứu vấn đề thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế ở tỉnh
Luận văn này kế thừa có chọn lọc phương pháp phân tích, một số quan điểm, giải pháp
và những kiến nghị từ các công trình đã được nêu ở trên, để làm rõ lợi thế địa kinh tế của Quảng Trị trong hệ thống hành lang kinh tế Đông - Tây Phân tích thực trạng quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế, chính sách ưu đãi và quảng bá xúc tiến thu hút đầu
Trang 4tư, chính sách phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Trị từ đó chỉ ra những thành công
và yếu kém của hoạt động này, đồng thời đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế ở tỉnh Quảng Trị đến năm 2010
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Luận văn tập trung nghiên cứu lợi thế địa kinh tế của tỉnh Quảng Trị trong việc thành lập các khu công nghiệp, khu kinh tế và khả năng thu hút vốn đầu tư, tìm hiểu nguyên nhân Quảng Trị chưa thu hút được nhiều vốn đầu tư trong 10 năm qua và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư ở Quảng Trị trong thời gian đến
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Phân tích lợi thế về địa kinh tế của tỉnh Quảng Trị trong việc thành lập các khu công nghiệp, khu kinh tế và khả năng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào các khu công nghiệp, khu kinh tế đó
- Đánh giá những thành tựu và hạn chế trong việc thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế ở Quảng Trị trong gần 10 năm qua Trên cơ sở đó chỉ ra nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến quá trình thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế ở Quảng Trị
- Đề xuất phương hướng và giải pháp để tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế ở Quảng Trị
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế
ở tỉnh Quảng Trị
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Từ 1998 đến tháng 6/2006 và đến năm 2010 với tầm nhìn
đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế - chính trị, coi trọng phương pháp khảo sát thực tiễn, phân tích, tổng hợp, so sánh, xử lý các số liệu thống kê
6 Những điểm mới của luận văn
Trang 5Phân tích lợi thế địa kinh tế của tỉnh Quảng Trị trên tuyến hành lang kinh tế Đông Tây ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế ở Quảng Trị
Phân tích nguyên nhân cơ bản khiến Quảng Trị chưa thu hút được nhiều vốn đầu tư trong và ngoài nước vào các khu công nghiệp, khu kinh tế
- Xu hướng, triển vọng và phương hướng, giải pháp để thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế ở tỉnh Quảng Trị
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương,
1.1.1 Khái niệm đầu tư
Do hoạt động đầu tư rất phong phú nên có nhiều cách hiểu về thuật ngữ này Theo Trần Xuân Tùng, khái niệm đầu tư thường được sử dụng rộng rãi để nói lên sự chi phí, sự
hy sinh các nguồn lực hiện tại (vốn, tài nguyên, nhân lực, khoa học - công nghệ ) vào hoạt động nào đó của con người nhằm thu được lợi ích lớn hơn trong tương lai Ở một góc độ khác, đầu tư được hiểu là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong một thời gian tương đối dài nhằm thu lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế - xã hội
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam (Q1), Hà Nội, 1995.“ Đầu tư là bỏ vốn vào một
doanh nghiệp một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây dựng mới hoặc thực hiện việc hiện đại hoá mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng ” [38, tr.761]
Theo luật đầu tư được Quốc Hội khoá XI thông qua ngày 29/11/2005 và Chủ Tịch Nước ký lệnh số 32/2005/L/CTN công bố ngày 12/12/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày
Trang 601/7/2006 thì “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô
hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” [32, tr.8]
Cũng theo luật này thì “vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện
các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp” [32, tr.10]
Như vậy, theo nghĩa chung nhất đầu tư là sự bỏ ra các nguồn lực vào một công việc nào đó nhằm thu lợi lớn hơn trong tương lai Nhưng không phải bất kể một sự chi phí nào cũng được gọi là đầu tư Có hai đặc trưng để phân biệt một hoạt động được coi là đầu tư đó
là tính sinh lời và rủi ro Thực vậy, nếu người ta chỉ chi phí ra để mua một thứ hàng hoá cho tiêu dùng thông thường thì không thể có yếu tố đầu tư trong đó Tuy nhiên, nếu hoạt động đầu tư nào cũng sinh lời mà không có rủi ro thì mọi người đều trở thành nhà đầu tư Chính hai thuộc tính này đã phân hoá, sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy xã hội phát triển Người
bỏ vốn đó được gọi là nhà đầu tư hay chủ đầu tư, họ có thể là cá nhân, tổ chức hoặc nhà nước
1.1.2 Khái niệm khu công nghiệp
Theo luật Đầu Tư nói trên thì "Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công
nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ" [32, tr.11]
Theo Từ Điển Bách Khoa Việt Nam, Tập 2, Hà Nội, 2002 Thì "Khu công nghiệp là
khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp,
do chính phủ thành lập hay cho phép thành lập" [39, tr.535]
Cũng theo Từ Điển Bách Khoa Việt Nam "Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa,
nhiều nước trên thế giới đã khẳng định khu công nghiệp là mô hình sản xuất công nghiệp có hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích Việt nam phát triển khu công nghiệp theo quan điểm toàn diện:
- Khu công nghiệp tác động đến đầu tư, đến sản xuất công nghiệp để xuất khẩu và phục
vụ tiêu dùng trong nước góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
- Việc kiểm soát chất thải công nghiệp bảo vệ môi trường sinh thái có điều kiện thực hiện tốt hơn
Trang 7- Trình độ tay nghề công nhân được nhân lên, sự chuyển giao công nghệ tiên tiến trong công nghiệp được hình thành từ đây
- Tiết kiệm nguồn lực phát triển hạ tầng, sử dụng đất có hiệu quả
- Góp phần hình thành các đô thị vệ tinh mới, giảm bớt sự tập trung quá cao vào các
đô thị lớn hiện có, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng Phát triển khu công nghiệp không chỉ mang lại lợi ích kinh tế - xã hội mà còn mang ý nghĩa an ninh quốc phòng" [39, tr.535]
Như vậy, khu công nghiệp được hiểu là nơi tập trung các hoạt động sản xuất và phục
vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định và do chính phủ quy định hay cho phép thành lập
1.1.3 Khái niệm khu kinh tế
Theo Luật Đầu tư "Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi
trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ" [32, tr.12]
Như vậy, có thể hiểu khu kinh tế là mô hình tổ chức "khu trong khu" nó bao gồm các
khu đô thị, cụm dân cư, các khu công nghiệp (công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ), khu
thương mại, các khu du lịch - dịch vụ Tất cả các "Khu" này có quan hệ hữu cơ, tác động
lẫn nhau, là động lực của nhau và là nền tảng cho sự phát triển bền vững Đó là điều kiện quan trọng bậc nhất trong quá trình thu hút đầu tư Khu kinh tế có nội dung hoạt động kinh
tế rộng, đa chức năng, đan xen các yếu tố kinh tế với xã hội, phát triển công nghiệp gắn với thương mại dịch vụ và sự hình thành các khu dân cư, khu đô thị, khu du lịch, khu thương mại tự do là điều kiện để sử dụng chung kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư
So với khu công nghiệp thì khu kinh tế có nhiều đối tượng quản lý khác nhau bao
gồm yếu tố doanh nghiệp lẫn các yếu tố khác như đô thị, du lịch, dân cư với mô hình "khu
trong khu" sẽ là một địa điểm rất phù hợp cho việc áp dụng những chính sách thử nghiệm
như: Tiếp tục thực hiện chủ trương phân cấp, uỷ quyền quản lý từ Trung ương cho địa phương, sự mở cửa một số lĩnh vực kinh tế hiện nay đang hạn chế đầu tư nước ngoài, một
số loại hình kinh doanh chưa từng được áp dụng tại Việt Nam hoặc các vấn đề về thủ tục đầu tư, chế độ tài chính, quản lý xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh và cư trú, thủ tục hải quan nhằm mục tiêu cải cách nền hành chính và cải thiện môi trường đầu tư theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế Khi tác động trở lại, những chính sách thử nghiệm này sẽ nhanh
Trang 8chóng hoàn thiện môi trường đầu tư và tăng tính hấp dẫn của khu kinh tế, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư nước ngoài
Ở góc độ hẹp, khu kinh tế thực chất là một địa bàn lãnh thổ thu nhỏ.Với một không
gian kinh tế có thể được xem là tương đối độc lập và có khả năng "phát triển khép kín",
nhưng khu kinh tế không thể tự tồn tại mà không cần đến một không gian kinh tế lớn hơn để hình thành các thị trường thiết yếu với những quan hệ kinh tế cần thiết Quản lý nhà nước
tại khu kinh tế theo mô hình "khu trong khu" có nhiều thuận lợi, Với mục tiêu trọng tâm
hướng đến là phát triển công nghiệp - phát triển kinh tế, việc quản lý nhà nước tại khu kinh
tế có điều kiện tốt để giải toả sức ép về mặt xã hội và ở một mức độ cao hơn, nó có điều kiện để vận hành và vận dụng các tiện ích xã hội nội khu để phục vụ tốt nhất cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong Khu Bộ máy quản lý tại khu kinh tế sẽ có những thẩm quyền đa ngành - đa lĩnh vực nhưng lại có tính chất chuyên biệt và chuyên môn hoá cao, do
đó có điều kiện để nâng cao hiệu quả quản lý Tuy nhiên, vấn đề này chưa có tiền lệ tại Việt Nam nên cần được nghiên cứu, bám sát thực tiễn để dự báo và đưa ra các giải pháp giải quyết một cách hợp lý
Phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế là một phương thức quản lý công nghiệp
tập trung, một cách thức tạo ra các tiểu vùng kinh tế động lực rất phổ biến trong xu thế hiện nay Với những giải pháp quản lý tích cực, chặt chẽ các khu công nghiệp, khu kinh tế sẽ là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, góp phần thúc đẩy đô thị hóa, bảo vệ môi trường sinh thái nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tài nguyên và sức cạnh tranh, thúc đẩy hình thành vùng nguyên liệu theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, là điều kiện để chuyển biến cơ bản về mọi mặt đời sống xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ngoài ra cũng theo luật đầu tư còn có một số khái niệm liên quan như:
"Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ
cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ"
"Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ cao,
ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất và kinh
Trang 9doanh sản phẩm công nghệ cao, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ" [32, tr.12]
Thực chất khu chế xuất, khu công nghệ cao là những dạng phái sinh theo chức năng khác nhau của khu công nghiệp Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa
và thực hiện các dịch vụ phục vụ cho xuất khẩu Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ cao vào sản xuất và là nơi đào tạo cung cấp và chuyển giao nguồn nhân lực công nghệ cao cho nền kinh tế
1.1.4 Vai trò của các khu công nghiệp, khu kinh tế đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.4.1 Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế là điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư
Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế là điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội Đây là một hình thức để huy động nguồn lực, động viên các nguồn vốn trong nước, ngoài nước, tiết kiệm trong dân cư vào sản xuất kinh doanh để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Đặc biệt ở những địa phương có khả năng tích luỹ từ nội bộ thấp thì nguồn vốn thu hút được thông qua các dự án đầu tư không chỉ đơn thuần là nguồn lực bổ sung mà còn
được coi là điều kiện để tạo ra “cú hích” từ bên ngoài, phá vỡ “ vòng luẩn quẩn của đói
Thông qua yêu cầu đáp ứng nhân lực cho các dự án đầu tư, người lao động sẽ có cơ hội được đào tạo nghề, học hỏi, tiếp thu khoa học - công nghệ, rèn luyện kỹ năng, kỹ luật
Trang 10lao động và năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp Chính nguồn lực này góp phần quan trọng để rút ngắn khoảng cách tụt hậu mà trước hết là tụt hậu về kinh tế và công nghệ
1.1.4.3 Xây dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế là điều kiện để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thu hút lao động từ nông nghiệp vào công nghiệp và dịch vụ sẽ làm giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ trong tổng số lao động của tỉnh (và do đó của cả nước) Đi theo sự chuyển dịch cơ cấu lao động là sự biến đổi cơ cấu giá trị trong GDP cũng theo hướng giảm tỷ trọng giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp và dịch vụ
Mặt khác, cơ cấu vùng cũng được đổi mới do hình thành những khu đô thị hay thị trấn gắn liền với các khu công nghiệp, khu kinh tế, đồng thời hệ thống kết cấu hạ tầng được mở rộng và hoàn thiện tạo thuận lợi cho việc giao lưu với các vùng khác trong và ngoài tỉnh, tác động đến cơ cấu hàng hóa xuất ra và nhập vào tỉnh
Thông qua quá trình đầu tư sẽ làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới có trình độ công nghệ và năng suất lao động cao phát triển mạnh, đồng thời chính quá trình ấy sẽ tạo ra một
xu thế ngược lại, một số ngành nghề có sức cạnh tranh kém sẽ phát triển chậm lại thậm chí
bị mai một và triệt tiêu
1.1.4.4 Phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế là điều kiện để mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu
Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng và cân bằng cán cân thương mại của mỗi nước cũng như của từng địa phương, thông qua xuất khẩu, lợi thế so sánh của từng địa phương sẽ được khai thác có hiệu quả hơn Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, dù doanh nghiệp có khả năng sản xuất với mức chi phí thấp cũng vẫn gặp khó khăn trong việc thâm nhập thị trường, nhất là thị trường thế giới Thông qua liên doanh, liên kết đầu tư, nhất là với các công ty xuyên quốc gia nắm được thị phần lớn là điều kiện tốt nhất để phát huy những lợi thế so sánh của mỗi quốc gia và của mỗi địa phương, nhanh chóng khẳng định được thương hiệu, vì các công ty xuyên quốc gia có vị thế và uy tín lớn trong hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế Đây là điều kiện để đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế của cả nước cũng như của từng doanh nghiệp
Trang 111.1.4.5 Thông qua thu hút các dự án liên doanh, liên kết vào các khu công nghiệp, khu kinh tế sẽ tiếp thu được công nghệ mới, kỹ năng quản lý tiên tiến, tạo ra sự phát triển năng động tại nơi tiếp nhận đầu tư
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đi tắt đón đầu việc tiếp thu những công nghệ mới là một đòi hỏi bức thiết của các nước đang phát triển cũng như của từng địa phương Thu hút các doanh nghiệp có vốn nước ngoài vào các khu công nghiệp, khu kinh tế được coi là con đường quan trọng để chuyển giao công nghệ vào nước ta, hơn thế nữa những công nghệ, kỹ năng quản lý được chuyển giao đó sẽ được cải tiến phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nơi tiếp nhận
Kinh nghiệm cho thấy khi các dự án đầu tiên được triển khai thuận lợi, có hiệu quả sẽ khuyến khích, lôi kéo các nhà đầu tư tiềm năng khác, thậm chí còn tạo ra sự cạnh tranh giữa các nhà đầu tư với nhau và giữa các nhà đầu tư với các doanh nghiệp hiện có ở địa phương, tạo nên sức ép buộc các doanh nghiệp sở tại phải thay đổi cách làm, cách quản lý có hiệu
quả hơn để tồn tại và phát triển
1.1.4.6 Phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế sẽ góp phần tăng thu ngân sách nhà nước ở địa phương và nâng cao đời sống nhân dân
Các dự án đầu tư sẽ mang lại nguồn thu ngân sách cho địa phương từ các khoản về thuế, tiền thuê đất, phí kết cấu hạ tầng, lợi nhuận Mặt khác sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sẽ phong phú và đa dạng, chất lượng cao, giá cả hợp lý, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư mà trước hết và trực tiếp là dân cư địa phương
1.2 KHẢ NĂNG VÀ NHU CẦU THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU KINH TẾ Ở TỈNH QUẢNG TRỊ
Xuất phát từ những lợi thế của Quảng Trị về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, đặc biệt nằm trên nút giao cắt của trục giao thông Bắc - Nam với hành lang kinh tế Đông - Tây và thực trạng cơ cấu kinh tế của tỉnh, Đại hội đại biểu Đảng Bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XIV
(nhiệm kỳ 2006 - 2010) xác định: “Quảng Trị có nguồn nhân lực khá dồi dào, trình độ tay
nghề, chất lượng đào tạo được nâng lên một bước Quá trình hội nhập, Quảng Trị có lợi thế của tuyến đường xuyên Á nối vùng kinh tế động lực trên trục hành lang kinh tế Đông - Tây qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, tạo thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế - xã hội” Từ
Trang 12thực tế đó Đại hội chỉ rỏ: “Phát triển công nghiệp - xây dựng là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên
số một của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm tạo ra động lực quan trọng và cơ bản cho chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế của tỉnh Tập trung đầu tư phát triển hạ tầng các khu công nghiệp nam Đông Hà, Quán Ngang, khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo, các cụm công nghiệp ở các huyện, thị xã, gắn kết các vùng kinh tế động lực với sự phát triển chung của hành lang kinh tế Đông - Tây về phía Việt Nam để tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư” [37, tr.62- 63]
Do nguồn lực đầu tư cho khai thác các tiềm năng chưa lớn và điều kiện tích lũy từ nội bộ của tỉnh thấp nên việc quy hoạch, xây dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế để thu hút các nguồn vốn đầu tư nhất là nguồn vốn từ nước ngoài và ngoài tỉnh vào địa bàn Quảng Trị là một chủ trương lớn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
1.2.1 Khả năng thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế ở tỉnh Quảng Trị
1.2.1.1 Lợi thế địa kinh tế của Quảng Trị là một nhân tố hấp dẫn đầu tư vào trồng
và chế biến cây công nghiệp; phát triển du lịch; nuôi trồng, chế biến thủy sản và khai thác khoáng sản
Quảng Trị là một tỉnh duyên hải bắc miền Trung Việt Nam, được tái lập tháng 7 năm
1989 trên cơ sở chia tách tỉnh Bình-Trị-Thiên thành ba tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế Tỉnh có chiều dài biên giới 206 km được phân chia bởi dãy Trường sơn và có hai cửa khẩu: cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và cửa khẩu quốc gia La Lay Quảng Trị là một trong những địa phương có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và khai thác biển Đông, đảm bảo giao thông thông suốt giữa hai miền Bắc-Nam và là vị trí ngã ba Đông Dương trên trục hành lang kinh tế Đông -Tây thông qua nước bạn Lào - Đông Bắc Thái Lan - Myanmar
mở ra quan hệ rộng lớn với vùng Tây Á
Điều kiện tự nhiên của Quảng Trị phong phú và đa dạng Ngoài vùng đồng bằng của các lưu vực sông và ven biển, vùng đồi núi, trung du của Quảng Trị phần lớn được kiến tạo bởi đất đỏ Bazan rất thích hợp cho trồng các loại cây công nghiệp như: cao su, hồ tiêu, café là điều kiện để cung cấp nguyên liệu phát triển các ngành công nghiệp chế biến
Tài nguyên biển của Quảng Trị rất đa dạng, bờ biển dài 75km, ven bờ là bãi cát trắng mịn, phía trong là những cồn cát cao do sóng và gió tạo nên Một số rạn đá ngầm
Trang 13ven bờ vừa có tác dụng chắn sóng, là nơi cư trú, sinh sống của các loại hải sản, vừa tạo nên những bãi tắm đẹp như Cửa Tùng, Cửa Việt, Mỹ Thuỷ Ngoài khơi có đảo Cồn Cỏ cách đất liền 15 hải lý đóng vai trò quan trọng trong thế vươn ra biển khơi và là một điểm đến du lịch lý tưởng, một khu neo đậu tránh bão và hậu cần nghề cá đang được khai thác Vùng lãnh hải Quảng Trị rộng chừng 8.400 km2 là ngư trường đánh bắt rộng lớn, ven bờ có hơn 4.000ha diện tích mặt nước đầm, phá có thể nuôi trồng các loại thuỷ hải sản có giá trị kinh tế cao Biển Quảng Trị có các loại thuỷ, hải sản quý như tôm hùm, mực nang, mực ống, cá cam, cá thu, cá ngừ, hải sâm, tảo Là một lợi thế để phát triển các ngành thủy, hải sản và du lịch biển
Thiên nhiên ưu đãi cho Quảng Trị nhiều loại tài nguyên khoáng sản đa dạng, dễ khai thác tuy trữ lượng không lớn Đến cuối năm 1995 đã tìm kiếm và thống kê được 48 điểm
mỏ và quặng Trong đó có 17 điểm thuộc nhóm kim loại (sắt, đồng, vàng, titan ); 22 điểm thuộc nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng (đá vôi, đất sét, đá xây dựng, đá trang trí); 2 điểm than bùn; 6 điểm nước khoáng và 2 điểm cát thuỷ tinh là điều kiện để phát triển các ngành công nghiệp nhất là công nghiệp khai khoáng
Nhìn chung, việc đầu tư khai thác các nguồn lực cho phát triển kinh tế chưa nhiều, phần lớn các nguồn lực của Quảng Trị còn ở dạng tiềm năng
1.2.1.2 Lợi thế của Quảng Trị về giao thông cũng tạo thuận lợi cho lưu chuyển hàng hóa, mở rộng du lịch và thu hút đầu tư
Trong xu thế phát triển, Quảng Trị có thuận lợi so với nhiều địa phương khác về giao thông Quảng Trị có quốc lộ 1A và đường sắt chạy suốt chiều dài Bắc - Nam của tỉnh nối liền các vùng, các trung tâm kinh tế của đất nước với các huyện, thị về phía đông Đường
Hồ Chí Minh qua Quảng Trị với hai nhánh Đông, Tây giao cắt với quốc lộ 9 rồi hợp thành một tuyến chính vào Tây Nguyên nối liền các trung tâm kinh tế về phía tây của Quảng Trị Đặc biệt quốc lộ 9 theo trục Đông - Tây qua dãy Trường Sơn ở đèo Lao Bảo là trục chính trong hành lang kinh tế Đông - Tây, hành lang này dài 1450km đi qua 4 nước: Myanmar, Thái lan, Lào và ở Việt Nam nối từ cửa khẩu quốc tế Lao Bảo qua thị xã Đông
Hà, vào Huế và kết thúc tại Đà Nẵng Hành lang kinh tế Đông - Tây giao nhau với một số tuyến đường huyết mạch bắc - nam như: Yangon - Dawei, Chiang Mai - Bangkok, đường 13 ( Lào) và quốc lộ 1A (Việt Nam) là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế theo hướng bắc
Trang 14hoặc hướng nam đến các trung tâm thương mại lớn như Bangkok, thành phố Hồ Chí Minh,
Hà Nội Sự ra đời của hành lang kinh tế Đông - Tây sẽ đem lại nhiều lợi ích thiết thực và lâu dài cho các quốc gia thành viên mà Quảng Trị là một địa phương đầu cầu về phía Việt Nam Đây là cơ hội cho tỉnh Quảng Trị thu hút vốn đầu tư vào khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản, hải sản và năng lượng phục vụ cho sản xuất và chế biến trong các khu công nghiệp, mở ra cơ hội phát triển các thành phố, thị trấn, thị xã trên tuyến hành lang, thúc đẩy thương mại xuyên biên giới, khu vực và thế giới, phát triển các hoạt động kinh tế mới thông qua việc sử dụng hiệu quả không gian kinh tế và hình thành khu vực kinh tế xuyên quốc gia với các nước vùng Tây Á, Nam Á, Đông Nam Á, Trung Quốc
Về đường biển, từ cảng Cửa Việt nối liền thông thương với các hải cảng khác mà trước hết là các hải cảng trong khu vực miền Trung như Chân Mây, Đà Nẵng, Liên Chiểu, Dung Quất
Quảng Trị nằm trên tuyến du lịch di sản miền Trung, nơi hội tụ nhiều di sản văn hóa, thiên nhiên thế giới như Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Hội An, Mỹ Sơn (Quảng Nam), cố đô Huế Đây là khu vực có nhiều lễ hội đặc sắc mang tính liên kết du lịch vùng độc đáo, có khả năng thu hút ngày càng nhiều du khách như lễ hội làng Sen (Nghệ An), festival Huế, nhịp cầu xuyên Á (Quảng Trị), lễ hội trăng rằm phố cổ Hội An (Quảng Nam)
và Quảng Trị là điểm dừng chân của lữ hành với các loại hình du lịch hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội, với một hệ thống di tích lịch sử chiến tranh cách mạng nổi tiếng như làng hầm địa đạo Vịnh Mốc, đôi bờ Hiền Lương, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Thành Cổ Quảng Trị, Khe Sanh, Đường 9, Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn Hoặc du lịch danh thắng như đường Hồ Chí Minh huyền thoại, bãi tắm Cửa Tùng, Cửa Việt, Mỹ Thuỷ dọc theo tuyến đường ven biển Quảng Trị Hoặc du lịch sinh thái như rừng nhiệt đới Rú Lịnh, khu bảo tồn thiên nhiên Đắkrông, trằm Trà Lộc Đó là những tiềm năng du lịch đang mời gọi
du khách và các nhà đầu tư
1.2.1.3 Khả năng cung ứng đầu vào cho các dự án đầu tư (Nhân lực, các ngành bổ trợ: vật liệu xây dựng, vận tải, bưu chính viễn thông…)cũng là một điều kiện hấp dẫn đầu tư
Thực tiễn cho thấy để một dự án được triển khai đầu tư đi vào hoạt động và phát triển
nó đòi hỏi nhiều yếu tố mà trước hết là những nhu cầu cho quá trình xây dựng và hoạt động
Trang 15của dự án Chính vì vậy, ngoài những vấn đề như môi trường chính trị - xã hội, vị trí địa lý,
điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế và đặc điểm văn hoá - xã hội thì những yếu tố như nguồn nhân lực tại chổ, khả năng cung ứng vật liệu xây dựng, vận tải, bưu chính viễn thông, tín dụng, ngân hàng nếu được đáp ứng kịp thời, thuận tiện, hợp lý cũng là những điều kiện hấp dẫn các nhà đầu tư
Quảng Trị có dân số 632.840 người, trong đó có 316.475 người trong độ tuổi lao động (Lao động nữ là 159.450 người) chiếm 50% dân số Lao động đã có việc làm là 281.937 người, chưa có việc làm ổn định là 34.538 người Mức thu nhập bình quân đầu người năm 2005 là 5,16 triệu đồng Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chung đạt 23,3%, đã qua đào tạo nghề là 13% Hàng năm địa phương đã tạo được việc làm mới cho khoảng 6.000 lao động
Công tác đào tạo nghề, cơ sở vật chất của hệ thống các trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề, được quan tâm đầu tư, Ở tỉnh lỵ và các huyện, thị đều có trường hoặc trung tâm dạy nghề Hiện nay toàn tỉnh có 4 trường dạy nghề, 15 trung tâm dạy nghề, 7 trung tâm khác có dạy nghề Đặc biệt, trong chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư, tỉnh chủ trương hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề từ 500 nghìn đến 800 nghìn đồng/lao động khi được nhà đầu tư đào tạo nghề tương thích với dự án đầu tư
Lực lượng lao động ở Quảng Trị khá dồi dào, trong đó có tỷ lệ đã qua đào tạo đáng
kể, con người Quảng Trị tích cực, cần cù, sáng tạo, mức thu nhập chung của lao động còn
thấp đó là những lợi thế cho các dự án khi đầu tư vào Quảng Trị
Ngoài các chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư của tỉnh Quảng Trị như hỗ trợ bồi
thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ sản xuất vùng nguyên liệu, chính sách tạo vốn thực hiện
dự án, ưu đãi về đào tạo nghề và sử dụng lao động ở địa phương, khuyến khích và vận động xúc tiến đầu tư, bảo đảm nguồn vốn hỗ trợ và các ưu đãi về đất đai, miễn giảm thuế, phí sử dụng hạ tầng, thủ tục hải quan các nhà đầu tư còn được 763 doanh nghiệp sở tại hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, ngành nghề cung cấp các hàng hóa và dịch vụ cần thiết như vật liệu
xây dựng, vận tải, kho bãi, bưu chính viễn thông, xây lắp (Xem phụ lục số 6)
Với một hệ thống kết cấu hạ tầng của các khu công nghiệp, khu kinh tế đã được quy
hoạch, xây dựng trong gần 10 năm qua cùng với những kinh nghiệm mà Quảng Trị đã tích luỹ được qua xúc tiến đầu tư, đặc biệt cơ chế, chính sách và danh mục các chương trình dự
Trang 16ân kíu gọi đầu tư đê được tỉnh ban hănh đồng bộ nhằm tạo môi trường đầu tư thông thoâng, cởi mở vă tin cậy Điều đó thể hiện sự cam kết, bảo đảm của chính quyền địa phương đối với câc nhă đầu tư khi đến lăm ăn với Quảng Trị
1.2.2 Nhu cầu thu hút vốn đầu tư văo câc khu công nghiệp, khu kinh tế ở Quảng Trị
1.2.2.1 Nhu cầu thu hút vốn đầu tư văo khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo
Khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo được quy hoạch câch thị xê tỉnh lỵ Đông
Hă 60km về phía Tđy, lă điểm đầu của Việt Nam trín hănh lang kinh tế Đông - Tđy, trải dọc 25km theo quốc lộ số 9, có tổng diện tích 15.804 ha, có ranh giới địa lý xâc định thuộc lênh thổ chủ quyền quốc gia Việt Nam nhưng có không gian kinh tế thương mại riíng biệt, bao gồm 2 thị trấn: Khe Sanh, Lao Bảo vă 5 xê: Tđn Liín, Tđn Hợp, Tđn Lập, Tđn Long, Tđn Thănh thuộc huyện Hướng Hoâ Dđn số hiện nay khoảng 35.000 người, trong đó có 4.000 người thuộc đồng băo dđn tộc Tẵi - Pacô vă Bru - Vđn Kiều
Đđy lă một mô hình khu kinh tế được Chính phủ triển khai xđy dựng vă hoạt động theo một quy chế riíng lần đầu tiín được âp dụng thí điểm tại Việt Nam, được hưởng mức
ưu đêi cao nhất theo quy định hiện hănh của phâp luật Việt Nam vă câc cam kết quốc tế mă Việt Nam tham gia.Việc thănh lập khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo thể hiện sự quan tđm lớn của Đảng vă Nhă nước nhằm văo câc mục tiíu: Khai thâc có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh khu kinh tế cửa khẩu trín hănh lang kinh tế Đông - Tđy; cụ thể hoâ mối quan hệ hợp tâc toăn diện với nước bạn Lăo; mở rộng giao thương để đón đầu tiến trình hội nhập AFTA; thực hiện chính sâch xoâ đói, giảm nghỉo nđng cao đời sống vật chất vă tinh thần cho cư dđn vùng biín giới huyện Hướng Hoâ tỉnh Quảng Trị
Đến nay công tâc quy hoạch vă xđy dựng khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo
đê cơ bản được hoăn thănh, bao gồm quy hoạch chung, quy hoạch tổng thể phât triển kinh tế
- xê hội đến năm 2020, Xđy dựng kết cấu hạ tầng của câc khu chức năng dănh cho hoạt động đầu tư phât triển sản xuất kinh doanh Để thực hiện đúng quy hoạch, khai thâc vă phât huy hiệu quả của kết cấu hạ tầng đê được xđy dựng cần những lượng vốn đầu tư cho câc lĩnh vực sau:
Một lă, vốn xđy dựng kết cấu hạ tầng
Trang 17Đây là khu kinh tế - thương mại nhận được sự giúp đỡ, đầu tư rất lớn của Chính phủ Sau gần 8 năm xây dựng và phát triển, Chính phủ và UBND tỉnh Quảng Trị đã tập trung đầu
tư có trọng điểm nên nhiều công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu đã được hình thành và phát
huy hiệu quả thiết thực Đã có 65 hạng mục đầu tư xây dựng hạ tầng hoàn thành và đưa vào
sử dụng với số vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là 320 tỷ đồng Ngoài ra, bằng nhiều nguồn vốn khác các doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng nhiều hạng mục bảo đảm cung ứng cho khu kinh tế - thương mại như: trạm biến áp và đường dây tải điện 110 KV Đông Hà - Lao Bảo có giá trị 130 tỷ đồng; nhà máy cấp nước Khe Sanh - Lao Bảo có công suất 9.000m3/ngày/đêm và đang được nâng công suất lên 15.000 m3/ngày/đêm; xây dựng và đưa vào sử dụng 2 tổng đài 512 số, điện thoại di động phủ sóng toàn khu vực với hai mạng Vinaphone và Mobiphone; triển khai lắp đặt mạng Internet tốc độ cao ADSL và đã đưa vào khai thác Hệ thống các loại hình dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng, và các khu vui chơi giải trí đã được đầu tư và đi vào hoạt động Ước tính nguồn vốn các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác đã đầu tư hơn 600 tỷ đồng
Ngoài ra, hạ tầng xã hội đã được đầu tư khá hoàn chỉnh: 3 trường phổ thông trung học, 5 trường phổ thông cơ sở, 10 trường tiểu học được xây dựng khang trang Tất cả các
xã, thị trấn trên địa bàn đều có trung tâm y tế với đội ngũ y, bác sĩ có chuyên môn cao; bệnh viện đa khoa trung tâm có quy mô 100 giường bệnh đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng Sân vận động Khe Sanh có sức chứa 10.000 chỗ, nhà văn hoá 1.000 chỗ ngồi, trạm thu phát sóng truyền hình Khe Sanh và Lao Bảo đã được xây dựng hoàn chỉnh và đưa vào khai thác có hiệu quả
Cùng với chính sách đặc biệt ưu đãi và hệ thống cơ sở kỹ thuật, cơ sở phúc lợi xã hội ngày một hoàn thiện, khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo đang vận hành trong những điều kiện hết sức thuận lợi, sẵn sàng chào đón các nhà đầu tư
Nhưng hiện nay khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo vẫn đang cần vốn để tiếp tục hoàn thiện các công trình hạ tầng trên quy mô 130 ha tại các khu vực đã quy hoạch sản xuất kinh doanh tập trung và triển khai hệ thống các công trình kết cấu hạ tầng mới trên diện tích mở rộng thêm, đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các doanh nghiệp đã và sẽ đăng ký tham gia hoạt động tại khu vực Đồng thời lập quy hoạch và xây dựng các công trình kết cấu
hạ tầng của các khu dịch vụ - du lịch bổ trợ khác như: Khu du lịch sinh thái thác Ồ, khu
Trang 18công viên văn hoá Khe Sanh - Tân Độ - Rào Quán Hoàn thành thủ tục và triển khai 5 dự án
bổ sung vào hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội với tổng mức đầu tư khoảng 13 triệu USD từ
nguồn vốn ODA của ADB ưu tiên đầu tư trên hành lang kinh tế Đông - Tây vào khu kinh tế
thương mại đặc biệt Lao Bảo gồm: Hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường thị trấn Lao Bảo (2 triệu USD); trung tâm dịch vụ cứu hộ SOS (2 triệu USD); kho ngoại quan Lao Bảo (1triệu USD); Trung tâm dịch vụ tổng hợp đường 9 (5 triệu USD); Tổ hợp chế biến gỗ xuất khẩu (3 triệu USD)
Tỉnh đã lập kế hoạch trình chính phủ bố trí vốn trong năm 2007 khoảng 70 đến 80 tỷ đồng cho các hạng mục hạ tầng mới như: cắm mốc chỉ giới, san nền thoát nước giao thông
tại khu dịch vụ - du lịch Làng Vây, điện cáp ngầm tại cụm thương mại - dịch vụ, nhà kinh
doanh lương thực, gốm, sứ, thuỷ tinh tại trung tâm thương mại, các hạng mục công trình giao thông, cấp điện tại cụm cửa khẩu kịp thời đáp ứng tốt nhất nhu cầu về kết cấu hạ tầng đang tăng mạnh của các dự án sản xuất kinh doanh
Hai là, nhu cầu thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp - thương mại - dịch vụ Lao Bảo; cụm công nghiệp tập trung phía tây thị trấn Lao Bảo; cụm cửa khẩu quốc tế Lao Bảo;
khu công viên văn hóa Lao Bảo; khu công nghiệp Tân Thành
* Khu công nghiệp - thương mại - dịch vụ Lao Bảo có diện tích 100 ha, đã đầu tư hoàn
chỉnh về kết cấu hạ tầng kỹ thuật và thu hút các dự án chủ yếu như kinh doanh thương mại,
du lịch, khách sạn, gia công, tái chế, lắp ráp, sản xuất công nghiệp sạch
* Cụm công nghiệp tập trung phía tây thị trấn Lao Bảo có diện tích 27 ha Tập trung
thu hút các loại hình hoạt động như sản xuất công nghiệp, chế biến thực phẩm, lắp ráp ô tô, điện tử, điện lạnh, sản xuất đồ gỗ gia dụng
* Cụm cửa khẩu quốc tế Lao Bảo có diện tích 30 ha quy hoạch xây dựng nhà ga kiểm
soát cửa khẩu, kho ngoại quan, bãi đỗ xe xuất - nhập cảnh
* Khu công viên văn hoá Lao Bảo rộng 25 ha (Có 7 ha mặt nước) Thu hút các dự án
đầu tư về dịch vụ như: vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nhà hàng, khách sạn
* Khu công nghiệp Tân Thành có diện tích 60 ha, quy hoạch dự trữ dành cho sản xuất
công nghiệp nặng Giai đoạn I đã xây dựng hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng 30 ha
Trang 19* Khu dịch vụ - du lịch Làng Vây có diện tích 65 ha, tập trung thu hút các ngành dịch
vụ, kinh doanh siêu thị, kho bãi trung chuyển hàng hoá, bãi đỗ xe, xưởng sửa chữa, bảo dưỡng các phương tiện giao thông
Tổng các nguồn vốn dự kiến kêu gọi đầu tư vào các khu vực trên là 88 triệu USD, dưới các hình thức như vốn trong nước, liên doanh, 100% vốn nước ngoài, BOT, BTO, BT
1.2.2.2 Nhu cầu thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp nam Đông Hà
Khu công nghiệp nam Đông Hà được quy hoạch trên địa phận phường Đông Lương thị xã Đông Hà tỉnh Quảng Trị, cách trung tâm thị xã tỉnh lỵ 2 km về phía nam, cách cảng Cửa Việt 12 km, nằm cạnh ga Đông Hà và quốc lộ 1A Đặc biệt nằm gần đường xuyên Á và cách khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo 51 km Tổng diện tích quy hoạch 159 ha, tổng vốn phê duyệt đầu tư xây dựng 140 tỷ đồng, giai đoạn I quy hoạch 99 ha và đã đầu tư
40 tỷ đồng từ nguồn vốn do Trung ương đầu tư để xây dựng các công trình hạ tầng cơ bản như hệ thống giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc
Đây là khu công nghiệp có vị trí thuận lợi, nằm trên nút giao cắt Bắc - Nam của quốc lộ 1A với hành lang kinh tế Đông - Tây Thuận tiện vận chuyển đường sắt bằng ga chính Đông
Hà, đường thuỷ thông qua cảng Cửa Việt
Khu công nghiệp này thu hút mọi ngành nghề trong đó chú trọng đến công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, trang trí nội thất, dệt, giày da, may mặc, cơ khí điện tử, thủ công mỹ nghệ Tổng các nguồn vốn dự kiến kêu gọi đầu tư vào khu công nghiệp này là 103 triệu USD, dưới các hình thức như vốn trong nước, liên doanh, 100% vốn nước ngoài, BOT, BTO, BT nhưng hiện mới chỉ có 8 dự án đăng ký và mới thực hiện được 3 dự án với số vốn đăng ký 952 tỷ đồng và vốn thực hiện 622 tỷ đồng
1.2.2.3 Nhu cầu thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp Quán Ngang
Đây là khu công nghiệp được quy hoạch trên địa phận xã Gio Quang, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị Cách trung tâm tỉnh lỵ 7 km về phía bắc, cách cảng cửa Việt 5 km, nằm cạnh ga Hà Thanh và quốc lộ 1A Là khu công nghiệp mới quy hoạch nằm trên đường xuyên Á, cách khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo 55 km
Tổng diện tích quy hoạch 205 ha, tổng vốn phê duyệt đầu tư 120 tỷ đồng, giai đoạn I quy hoạch 139 ha và đã đầu tư 10 tỷ đồng xây dựng một số hạ tầng thiết yếu như điện, nước, hệ thống giao thông nội bộ Khu công nghiệp Quán Ngang có quỹ đất rộng và bằng
Trang 20phẳng, gần với các vùng nguyên liệu phía bắc của tỉnh như cao su, hồ tiêu, cà phê, thuỷ hải sản và các khoáng sản khác
Khu công nghiệp này tập trung thu hút các ngành nghề của công nghiệp chế biến nông
- lâm - thuỷ sản, rượu bia, nước giải khát, thức ăn chăn nuôi, dệt, may mặc, kho hàng Tổng các nguồn vốn dự kiến kêu gọi đầu tư vào khu này là 22 triệu USD, dưới các hình thức như vốn trong nước, liên doanh, 100% vốn nước ngoài, BOT, BTO, BT Đến nay tuy có 3 dự án đăng ký với số vốn 367 tỷ đồng nhưng chưa có dự án nào được thực hiện
1.2.2.4 Nhu cầu thu hút vốn đầu tư vào khu du lịch - dịch vụ Cửa Việt
Đây là khu du lịch - dịch vụ được quy hoạch trên địa bàn xã Gio Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị với quy mô 141 ha, bao gồm 4 khu chức năng:
+ Khu du lịch - khách sạn : 13 ha
+ Khu công trình công cộng: 9 ha
+ Khu dân cư và đô thị mới: 28 ha
+ Quỹ đất dự phòng phát triển: 91 ha
Tổng vốn phê duyệt đầu tư kết cấu hạ tầng 153 tỷ đồng
Mục tiêu xây dựng khu vực này thành khu du lịch - dịch vụ có kết cấu hạ tầng hiện đại kết hợp với bảo tồn và hình thành các làng nghề truyền thống, các làng du lịch sinh thái biển phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng, giải trí, tắm biển và thể thao, khai thác tiềm năng biển Thu hút đầu tư trong và ngoài nước để hình thành vùng kinh tế động lực ven biển của Quảng Trị
Hiện nay hệ thống đường giao thông ven biển ngoài hàng rào(vốn đầu tư giai đoạn I:
150 tỷ đồng) và cầu Cửa Tùng (vốn đầu tư 53 tỷ đồng) bắc qua Cửa Tùng đã được thông tuyến nối liền hai khu du lịch - dịch vụ Cửa Tùng - Cửa Việt Huyện đảo Cồn Cỏ đã được quy hoạch chi tiết cho việc xây dựng thành đảo du lịch - dịch vụ hậu cần nghề cá sẽ tạo nên một vùng kinh tế năng động mở ra cơ hội khai thác biển Đông có hiệu quả Tổng các nguồn vốn dự kiến kêu gọi đầu tư vào khu này là 42 triệu USD, dưới các hình thức như vốn trong nước, liên doanh, 100% vốn nước ngoài, BOT, BTO, BT Hiện đã có 15 dự án đăng ký với
số vốn hơn 3.182 tỷ đồng nhưng chỉ mới có 4 dự án thực hiện với số vốn hơn 20 tỷ đồng, bằng 0,64% số vốn đăng ký
Trang 211.3 KINH NGHIỆM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC
1.3.1 Tạo lập môi trường thu hút đầu tư - Kinh nghiệm ở thành phố Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng là trung tâm kinh tế của khu vực miền Trung Trong những năm qua cùng với việc mở rộng và đa dạng hoá các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài trở thành một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng Tính đến cuối năm 2005 trên địa bàn Thành phố có 73 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 472 triệu USD Vốn đầu tư thực hiện chiếm 34,78% tổng vốn đầu tư Các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã giải quyết việc làm cho khoảng 22.500 lao động Kim ngạch xuất khẩu đạt 105 triệu USD, chiếm 21% tổng kim ngạch xuất khẩu của thành phố Ngoài ra, tại Đà Nẵng còn có 123 chi nhánh, văn phòng đại diện, kho trung chuyển của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động
Để đạt được những thành tựu như trên, UBND thành phố Đà Nẵng đã có những giải pháp quan trọng nhằm cải thiện và tăng cường môi trường đầu tư, tháo gỡ những khó khăn trong hoạt động của doanh nghiệp, cụ thể:
- Thành lập trung tâm xúc tiến đầu tư Đà Nẵng (IPC DaNang) một đơn vị có chức năng giúp UBND thành phố, sở kế hoạch và đầu tư thực hiện công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực xúc tiến đầu tư
- Ưu tiên thu hút đầu tư vào những ngành công nghiệp có giá trị gia tăng lớn như công nghệ thông tin, sản xuất phần mềm tin học, công nghiệp hướng vào xuất khẩu và sản xuất hàng tiêu dùng thay thế hàng nhập khẩu với quy mô vừa và lớn, thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại
- Hình thành các trung tâm thương mại, phát triển các dịch vụ cảng biển và sân bay, tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, vận tải, chuyển giao kỹ thuật, tư vấn đầu tư
- Đa dạng hoá các loại hình du lịch, xây dựng các khu du lịch ven biển, phát triển du lịch quốc tế song song với du lịch nội địa
- Việc cấp giấy phép cho các dự án đầu tư nước ngoài vào địa bàn thành phố được thực
hiện theo cơ chế “một cửa” tại trung tâm xúc tiến đầu tư Đà Nẵng Nhà đầu tư được miễn các
chi phí liên quan đến công tác giải quyết thủ tục đầu tư
Trang 22- Về đất đai, UBND Thành Phố tổ chức thực hiện và chịu chi phí bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, hoàn thành các thủ tục cho thuê đất Đối với các dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp, đơn giá thuê đất từ 0,02 - 6,7 USD/m2/năm tuỳ theo vị trí và lĩnh vực đầu tư Đối với các dự án đầu tư trong khu công nghiệp do thành phố quản lý, đơn giá thuê đất (đã bao gồm phí xây dựng và bảo dưỡng kết cấu hạ tầng) có giá thuê từ 0,3 – 0,54 USD/m2/năm tuỳ theo phương thức trả tiền thuê đất
1.3.2 Cải cách thủ tục hành chính - Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương
Đã từ lâu Bình Dương được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá là tỉnh có cơ chế, chính sách và thủ tục cấp phép đầu tư thông thoáng Trước đây mỗi dự án cấp phép phải mất 30 ngày thẩm định, sau đó rút ngắn còn 15 ngày rồi 7 ngày và hiện tại chỉ còn 3 ngày Từ khi có quy định của chính phủ phân cấp cho tỉnh cấp phép với những dự án dưới 5 triệu USD, có dự án đã được cấp phép ngay trong ngày, riêng ban quản lý khu công nghiệp Việt Nam - Singapo được
uỷ quyền cấp phép đến 40 triệu USD Hàng tuần hội đồng đầu tư của tỉnh đều có buổi họp thông qua các dự án mới và giải quyết kịp thời những vướng mắc cho các dự án đã được cấp phép
UBND tỉnh đã ban hành quy chế về trình tự thủ tục cấp phép đầu tư và các biện pháp hỗ trợ nhà đầu tư sau cấp phép Các khâu thủ tục hành chính sau cấp phép thuộc thẩm quyền của các sở, ban ngành trên địa bàn và thời gian được quy định rất cụ thể như: cấp mã số thuế không quá 7 ngày; mã số hải quan 7 ngày; xác nhận kế hoạch xuất, nhập khẩu 7 ngày; thủ tục thiết kế xây dựng 10 ngày; các quy trình đo đạc, lập bản đồ địa chính 20 ngày; thủ tục khắc con dấu không quá 4 ngày
Định kỳ lãnh đạo UBND tỉnh sắp xếp chương trình đến làm việc với doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, giúp doanh nghiệp yên tâm sản xuất kinh doanh Thực tế đó đã góp phần thúc đẩy mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của Bình Dương, cụ thể: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Về công nghệ, theo thống kê của tỉnh Bình Dương thì đa số các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sử dụng công nghệ tiên tiến, số còn lại sử dụng công nghệ mới có chất lượng khá hơn các doanh nghiệp trong nước Về học tập kinh nghiệm quản lý, thay vì trước đây phần lớn các nhà đầu tư sử dụng chuyên gia nước ngoài để
Trang 23quản lý thì nay họ đã huấn luyện, đào tạo và đang chuyển giao những nhiệm vụ quan trọng cho người Việt Nam đảm nhiệm Về giải quyết việc làm cho người lao động, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo công ăn việc làm thường xuyên cho 265.000 lao động
Để có được những thành công trên, Bình Dương đã tập trung giải quyết đồng bộ, có hiệu quả một số giải pháp chủ yếu trong việc cải thiện môi trường đầu tư như:
- Ưu tiên phát triển những ngành sản xuất sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có thị trường tiêu thụ ổn định và hướng vào xuất khẩu
- Kịp thời tháo gỡ những khó khăn và khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đổi mới trang thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao sức canh tranh của sản phẩm cho các doanh nghiệp
- Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực chỉ đạo, điều hành của bộ máy
chính quyền, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi bình đẳng cho các doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế Chú trọng giảm các chi phí đầu tư, mở rộng lĩnh vực đầu tư cho các nhà đầu
tư phù hợp với pháp luật và những cam kết kinh tế quốc tế của Việt Nam
1.3.3 Vận dụng cơ chế, chính sách nhằm thu hút đầu tư - Kinh nghiệm ở Thái Nguyên
Tính đến cuối năm 2005, toàn tỉnh có 34 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động, trong đó có 8 dự án ODA, 15 dự án FDI với tổng vốn đăng ký là 205,5 triệu USD Tỉnh xác định vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng trong việc khai thác những tiềm năng của tỉnh, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Hiện nay, tỉnh Thái Nguyên đang thực hiện nghiêm chỉnh quyết định về cơ chế “ một
cửa” của Thủ tướng Chính phủ, đơn giản hoá thủ tục hành chính nhất là các thủ tục về cấp phép
đầu tư, cấp giấy phép kinh doanh, thủ tục về đất đai Thực hiện có hiệu quả đề án “cải thiện
môi trường đầu tư” nhằm thu hút các nguồn vốn ODA, FDI cùng các nguồn vốn trong và ngoài
tỉnh đầu tư trên địa bàn Mặt khác, tỉnh đã tăng cường đầu tư xây dựng mới và nâng cấp kết cấu
hạ tầng nhằm thu hút nhiều hơn nữa vốn đầu tư vào Thái Nguyên
Thời gian tới, Thái Nguyên sẽ tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong
khuôn khổ pháp luật về đầu tư Thực hiện cơ chế “một đầu mối”, sở Kế Hoạch và Đầu Tư là cơ
quan đầu mối tham mưu cho UBND tỉnh quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn và thực hiện cấp phép cho các dự án đầu tư FDI ở ngoài các khu công nghiệp Ban quản
Trang 24lý các khu công nghiệp là đầu mối quản lý nhà nước về đầu tư tại các khu công nghiệp và thực hiện việc cấp phép đầu tư Các cơ quan chức năng, thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch được tiến hành sau khi có báo cáo và có ý kiến đồng ý của UBND tỉnh
Nhà đầu tư được hỗ trợ, tạo điều kiện về sử dụng hạ tầng Nếu nhà đầu tư đã xây dựng hoặc ứng vốn xây dựng các công trình hạ tầng ngoài hàng rào thì được hoàn trả Tỉnh quy định
cụ thể giá tiền thuê đất và cơ chế miễn giảm cụ thể, rỏ ràng cho các khu vực, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh và được công bố công khai Nhà đầu tư được miễn tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản và trong 11 năm tiếp theo kể từ ngày dự án đi vào hoạt động
Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và chế độ miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng cụ thể:
- Doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp 20% và thực hiện trong 10 năm kể từ khi dự án đi vào hoạt động đối với dự án được hưởng ưu đãi đầu tư và đầu tư tại địa bàn thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, huyện Phổ Yên, huyện Phú Bình; những dự án không thuộc ngành nghề, lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư nhưng đầu tư tại huyện Đồng Hỷ, Đại Từ, Định Hoá và Phú Lương cũng được hưởng những ưu đãi nói trên
- Thuế suất 15% và thực hiện trong 12 năm kể từ khi dự án đi vào hoạt động áp dụng đối với dự án đầu tư không thuộc ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi đầu tư tại địa bàn huyện Võ Nhai; dự
án đầu tư thuộc ngành nghề, lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư và đầu tư tại địa bàn huyện Đồng Hỷ, Đại Từ, Định Hoá và Phú Lương
- Thuế suất 10% và thực hiện trong 15 năm kể từ khi dự án đi vào hoạt động áp dụng đối với các dự án đầu tư thuộc ngành nghề, lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư và đầu tư vào huyện
Võ Nhai
Hết thời hạn áp dụng mức thuế suất ưu đãi, doanh nghiệp được hưởng mức thuế suất 28%, được miễn giảm bổ sung đối với thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp Thuế nhập khẩu được miễn giảm 100% đối với máy móc, thiết bị tạo tài sản cố định mà trong nước chưa sản xuất được, nguyên vật liệu sản xuất trong thời gian 5 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất, miễn thuế đối với nguyên liệu, bộ phận rời, phụ tùng và vật tư để sản xuất hàng xuất khẩu Khi bán sản phẩm cho doanh nghiệp khác trực tiếp sản xuất hàng xuất khẩu, được miễn thuế nhập khẩu tương ứng với số sản phẩm này Miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, vật tư thực hiện dự án BOT, BTO, BT, giống cây trồng, vật nuôi, nông sản đặc biệt để thực hiện dự án Không phải nộp thuế giá trị gia tăng đối với thiết bị,
Trang 25máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng gắn với dây chuyền công nghệ và vật tư trong nước chưa sản xuất được mà phải nhập khẩu để tạo tài sản cố định; nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất và cung ứng cho các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất sản phẩm xuất khẩu
1.3.4 Vận dụng chính sách ưu đãi về đất đai - Kinh nghiệm ở Phú Yên
Đến tháng 12/2005 tỉnh Phú Yên thu hút được 34 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đầu tư 247 triệu USD, vốn pháp định 118 triệu USD vốn đầu tư thực hiện 68 triệu USD, chiếm 27,53% Có được kết quả trên là nhờ UBND tỉnh đã chủ động vận dụng các chủ trương chính sách ưu đãi của Chính phủ vào điều kiện cụ thể của tỉnh Trong phạm
vi chức năng và thẩm quyền, UBND đã đề ra những cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm thu hút
các nhà đầu tư nước ngoài như: thực hiện cải cách thủ tục hành chính gọn nhẹ “một cửa, tại
chỗ” Đảm bảo thực hiện ổn định, lâu dài các cơ chế chính sách ưu đãi của tỉnh, các tổ chức
tư vấn, cá nhân trong và ngoài nước giới thiệu các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Phú Yên được hưởng phí môi giới
Về giá thuê đất, đối với các dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp, giá thuê đất từ 0,01 -
5 USD/m2/năm tuỳ theo vị trí và ngành nghề đầu tư, đối với các dự án đầu tư vào khu công nghiệp, giá thuê đất là 0,2 USD/m2/năm Đặc biệt tỉnh áp dụng các phương thức trả tiền thuê đất linh hoạt, nếu nhà đầu tư nộp trước tiền thuê đất một lần cho nhiều năm ngay trong năm đầu thì được giảm tiền thuê đất như sau: Nếu nộp cho 5 năm thì giảm 5% tiền thuê đất của 5 năm đó, nộp cho thời hạn thuê đất trên 5 năm thì cứ mỗi năm tăng thêm được giảm thêm 1% tổng số tiền thuê đất của thời gian đó, nhưng tổng mức giảm không vượt quá 20% số tiền phải nộp Trường hợp nộp tiền thuê đất cho toàn bộ thời gian thuê đất trên 25 năm thì được giảm 25% số tiền thuê đất phải nộp
Trang 26tế, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là điều kiện để chuyển biến cơ bản về mọi mặt đời sống xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Quảng Trị là một tỉnh có nhiều tiềm năng nhưng vì khả năng tích lũy từ nội bộ thấp nên nguồn lực để đầu tư khai thác những lợi thế chưa nhiều vì vậy thu hút được vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế có một ý nghĩa quan trọng, nó tác động tích cực đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội
Qua thực tiễn hoạt động thu hút đầu tư của một số địa phương, tỉnh Quảng Trị có thể rút ra một số kinh nghiệm về xây dựng môi trường thu hút đầu tư thông thoáng, cởi mở, rỏ ràng; xây dựng kết cấu hạ tầng có chất lượng cao, đồng bộ; đổi mới và nâng cao hiệu quả xúc tiến, quảng bá thu hút đầu tư một cách thiết thực, hiệu quả; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, thường xuyên quan tâm
để kịp thời giải quyết những vướng mắc nãy sinh trong hoạt động đầu tư kể cả khi dự án đã
đi vào hoạt động Mặt khác, phải chấp hành nghiêm những quy định chung của chính phủ về chính sách ưu đãi đầu tư, tránh tình trạng ban hành các chính sách ưu đãi vượt quá quy định chung của chính phủ và các bộ, ngành để thu hút đầu tư hoặc dùng ngân sách địa phương để
hỗ trợ cho dự án như một số địa phương đã thực hiện Kinh nghiệm của các địa phương trong thu hút vốn đầu tư là những bài học quý báu cho Quảng Trị để tăng thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế của tỉnh hiện nay
2.1.1 Chủ trương, chính sách về huy động vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu
kinh tế ở Quảng Trị khá đầy đủ và rõ ràng
2.1.1.1 Những chủ trương, chính sách khuyến khích thu hút đầu tư vào khu kinh
tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo
Trang 27Theo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và chính phủ, sau thời gian tích cực chuẩn bị
từ năm 1992 đến năm 1997 đề án khu thương mại Lao Bảo do Bộ Thương mại và UBND tỉnh Quảng Trị phối hợp xây dựng đã được hoàn thành, ngày 12/11/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 219/1998/QĐ-TTg ban hành quy chế khu vực khuyến khích phát triển kinh tế và thương mại Lao Bảo Quảng Trị (gọi tắt là khu thương mại Lao Bảo)
Sau thời gian 6 năm thực hiện, để tiếp tục tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách và khai thác tối đa hệ thống các công trình kết cấu hạ tầng, tạo thuận lợi hơn cho việc xây dựng và phát triển khu thương mại Lao Bảo, ngày 12/01/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 11/2005/QĐ-TTg ban hành quy chế khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo là mô hình kinh tế mới có tính chất đặc thù lần đầu tiên được thực hiện ở nước ta Trên cơ sở đó, các bộ ngành Trung ương đã xây dựng hệ thống chính sách và uỷ quyền cho tỉnh Quảng Trị thực hiện
UBND tỉnh Quảng Trị đã có Quyết định số 2463/QĐ-UBND ngày 10/10/2005 uỷ quyền và giao cho Ban Quản Lý khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo thực hiện các công việc thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh Quảng Trị như: Chấp thuận chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh vào các khu vực trong khu kinh tế - thương mại, cấp, thu hồi, điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, cấp phép thành lập văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài, cấp giấy phép xây dựng, chứng chỉ quy hoạch cho các công trình xây dựng trong các khu vực quy hoạch tập trung của khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo, cấp giấy phép cho người lao động nước ngoài, tiếp nhận đăng ký nội quy lao động, tiếp nhận thoả ước lao động tập thể
Quyết định số 2462/2005/QĐ-UBND ngày 10/10/2005 của UBND tỉnh Quảng Trị ban hành danh mục hàng hoá được miễn làm thủ tục hải quan khi vào nội địa Việt Nam (qua cổng B) và ban hành danh mục hàng nông sản và hàng hoá sản xuất tại khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo được miễn làm thủ tục hải quan khi nhập vào nội địa (cổng B)
Trên cơ sở các văn bản quy định đó có thể nêu ra những chính sách ưu đãi cơ bản hiện đang được áp dụng có hiệu quả tại khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo như sau:
- Hàng hoá, dịch vụ sản xuất tiêu thụ trong khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo
và hàng hoá dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài vào khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao
Trang 28Bảo không phải chịu thuế giá trị gia tăng Hàng hoá dịch vụ từ nội địa Việt Nam đưa vào khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo hưởng thuế suất giá trị gia tăng là 0 %
- Hàng hoá, dịch vụ sản xuất tiêu thụ trong khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo
và hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu từ nội địa và từ ngoài vào khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
- Hàng hoá từ nội địa Việt Nam và hàng hoá từ nước ngoài nhập khẩu vào khu kinh tế
- thương mại đặc biệt Lao Bảo được miễn thuế nhập khẩu Hàng hoá sản xuất tại khu kinh tế
- thương mại đặc biệt Lao Bảo khi xuất khẩu được miễn thuế xuất khẩu
- Hàng hoá sản xuất, gia công tái chế, lắp ráp tại khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo có sử dụng nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu từ nước ngoài khi nhập khẩu vào nội địa Việt Nam chỉ phải nộp thuế nhập khẩu đối với phần nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu cấu thành trong sản phẩm hàng hoá đó
- Hàng hoá từ khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo nhập vào nội địa Việt Nam
có xuất xứ sản xuất tại Lào được giảm 50% thuế nhập khẩu
- Dự án đầu tư vào khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo được miễn tiền thuê đất trong 11 năm đầu và được hưởng mức giá thuê đất bằng 30% giá thuê đất áp dụng cho các huyện miền núi tỉnh Quảng Trị từ năm thứ 12 trở đi
- Dự án đầu tư vào khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 04 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế; được giảm 50%
số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong 9 năm kế tiếp và được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% cho những năm tiếp theo Người làm việc tại đây là đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật được giảm 50% số thuế phải nộp
- Nhà nước đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh đến tận tường rào của nhà máy
- Người nước ngoài vào khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo để tìm hiểu thị trường và chuẩn bị tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh được miễn thị thực xuất, nhập cảnh
- Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của tổ chức cá nhân hoạt động đầu tư, kinh doanh có trụ sở đăng ký chính thức tại khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo được đăng
ký biển số riêng của khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo
Trang 292.1.1.2 Những chủ trương, chính sách khuyến khích thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế khác trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (trừ khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo)
Trên cơ sở chính sách ưu đãi của nhà nước, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành Quyết định số 984/2005/QĐ-UBND ngày 25/5/2005 quy định về chính sách khuyến khích
ưu đãi đầu tư của tỉnh Quảng Trị Theo đó các dự án đầu tư vào tỉnh Quảng Trị (trừ khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo) được hưởng các chính sách ưu đãi sau:
Căn cứ Nghị định 164/2003/ NĐ-CP ngày 22/12/2003 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp và phụ lục ban hành kèm theo nghị định Tại địa bàn tỉnh Quảng Trị, ngoài danh mục A quy định ngành nghề, lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư, danh mục B quy định địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được hưởng ưu đãi đầu tư thì ở Quảng Trị gồm có các Huyện: ĐắKrông, Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng Danh mục C quy định địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng ưu đãi đầu tư ở tỉnh Quảng Trị có huyện Hướng Hoá
Trên cơ sở đó UBND tỉnh Quảng Trị đã cụ thể hoá vào chính sách ưu đãi ban hành kèm theo Quyết định 984/2005/QĐ-UBND ngày 25/5/2005 của UBND tỉnh Quảng Trị 7 phụ lục quy định chi tiết chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh Quảng Trị như sau:
a) Cung cấp thông tin, địa điểm lập dự án đầu tư
Nhà đầu tư khi lập dự án để đầu tư tại Quảng Trị được các sở, ban ngành và các huyện, thị xã có liên quan cung cấp thông tin, địa điểm lập dự án đầu tư và các tài liệu khác
về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội, được tư vấn về cơ hội đầu tư miễn phí; trên cơ sở quy hoạch và kế hoạch đã được duyệt trong từng thời kỳ các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp giới thiệu, hướng dẫn, giúp đỡ nhà đầu tư lựa chọn vị trí thực hiện dự án đầu tư phù hợp với đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của dự án
b) Hỗ trợ bồi thường giải phóng mặt bằng và công trình ngoài hàng rào
Nhà đầu tư thuê đất để thực hiện các dự án đầu tư quy định tại khoản 1, khoản 2 phụ lục 1 của quy định này được UBND tỉnh hỗ trợ 100% kinh phí bồi thường giải phóng mặt bằng
Trang 30Các dự án thuộc danh mục lĩnh vực A, A1,A2,A3 (quy định tại phụ lục kèm theo Nghị định 164/2003/ NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ) đầu tư tại các khu vực quy hoạch và bảo đảm các điều kiện quy định thì sẽ được tỉnh xem xét hỗ trợ vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào dự án bao gồm cấp điện, cấp nước, đường giao thông và thoát nước theo các mức cho mỗi loại công trình kết cấu hạ tầng tương ứng từ 50% đến 80% tuỳ theo địa bàn đầu tư
Các nhà đầu tư có nhu cầu hỗ trợ kinh phí bồi thường giải phóng mặt bằng và các hạng mục công trình kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào phải được UBND tỉnh chấp thuận ghi trong giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư hoặc bằng văn bản chấp thuận khác trước khi triển khai thực hiện dự án và tổng mức vốn hỗ trợ tối đa không quá 2 tỷ đồng
c) Hỗ trợ sản xuất vùng nguyên liệu
Các nhà đầu tư khi đầu tư vào Quảng trị để sản xuất vùng nguyên liệu có quy mô tập trung từ 100 ha trở lên phục vụ công nghiệp chế biến nông, lâm sản và từ 30 ha trở lên đối với thuỷ, hải sản theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì được hỗ trợ lần đầu một phần kinh phí làm đường tạm bảo đảm giao thông
d) Chính sách tạo vốn thực hiện dự án
UBND tỉnh Quảng Trị có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi nhất để các nhà đầu tư tiếp cận các nguồn vốn tín dụng của nhà nước
e) Ưu đãi về sử dụng lao động
Ưu tiên tuyển chọn lao động sinh sống tại nơi đã được giải phóng mặt bằng mà nhà đầu tư thuê đất để thực hiện dự án; các doanh nghiệp khi có dự án đầu tư vào Quảng Trị đúng điều kiện ưu đãi nếu có nhu cầu đào tạo nghề lần đầu cho 20 lao động trở lên có hộ khẩu tại Quảng Trị được UBND tỉnh hỗ trợ với mức tối đa 500.000 đồng/người nếu đào tạo trên địa bàn tỉnh, 800.000 đồng/người nếu đào tạo ngoài tỉnh (trong trường hợp trong tỉnh không có cơ sở đào tạo theo đúng ngành nghề của doanh nghiệp)
g) Khuyến khích và vận động xúc tiến đầu tư
Các tổ chức, cá nhân trực tiếp xúc tiến thu hút đầu tư vào địa bàn tỉnh Quảng Trị được
hỗ trợ kinh phí bằng 1%0 trên tổng mức vốn đầu tư thực hiện dự án, nhưng tối đa không quá
50 triệu đồng sau khi dự án đi vào hoạt động
h) Bảo đảm nguồn vốn hỗ trợ
Trang 31HĐND tỉnh bố trí vốn ngân sách để thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư, trong trường hợp cần thiết khi UBND tỉnh chấp thuận bằng văn bản, nhà đầu tư có thể ứng vốn trước để thực hiện các công việc thuộc diện chính sách ưu đãi đầu tư của tỉnh và sẽ được UBND tỉnh trả lại số vốn đó theo thoả thuận giữa UBND tỉnh và nhà đầu tư
i) Các ưu đãi về đất đai và thuế
Các ưu đãi về thuê đất được áp dụng khung giá ưu đãi nhất theo các quy định hiện hành của Nhà nước
Nhà đầu tư được hưởng các ưu đãi tối đa về thuế thu nhập doanh nghiệp tại địa bàn tỉnh Quảng Trị theo quy định của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 về quy định chi tiết thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp và Nghị định 152/2004/NĐ-CP ngày 06/8/2004 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ
UBND tỉnh Quảng Trị giao sở Kế Hoạch và Đầu Tư là cơ quan đầu mối thực hiện cơ
chế “một cửa” trong việc hướng dẫn, giúp đỡ các thủ tục có liên quan đến hoạt động đầu tư, giao sở Tài Nguyên và Môi Trường là cơ quan đầu mối thực hiện cơ chế “một cửa” về trình
tự thủ tục đất đai, khoáng sản và môi trường liên quan đến các dự án đầu tư
k) Công bố danh mục các dự án kêu gọi đầu tư
Cùng với việc ban hành những chính sách ưu đãi đầu tư, tỉnh Quảng Trị đã lập đề án tiền khả thi và công bố danh mục các dự án kêu gọi nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA giai đoạn 2006 - 2010 (Xem phụ lục số
7 và số 8)
2.1.2 Những thành tựu đạt được trong hoạt động đầu tư ở tỉnh Quảng Trị gần
10 năm qua (1998 - 6/2006 )
So với các trung tâm kinh tế khác của miền Trung như Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế,
Quảng Bình thì thời kỳ đầu, Quảng Trị không có những điều kiện thuận lợi trong thu hút đầu tư bởi Quảng Trị có xuất phát điểm là một tỉnh nông nghiệp, kết cấu hạ tầng thấp kém, lại xa các trung tâm kinh tế - xã hội lớn Đề án khu thương mại Lao Bảo do Bộ Thương mại
và UBND tỉnh Quảng Trị phối hợp xây dựng có một ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặt nền móng cho việc quy hoạch, xây dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế và thu hút đầu tư vào Quảng Trị
Trang 322.1.2.1 Vốn đầu tư vào khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo tăng khá nhanh
cả về số lượng dự án, lượng vốn đăng ký và vốn thực hiện
Tại khu thương mại đặc biệt Lao Bảo tính đến 05/7/2006 đã có 103 dự án đầu tư với
số vốn đăng ký là 1.869.526 triệu đồng Trong đó có 90 dự án đã thực hiện chiếm 87,38%
số lượng dự án đăng ký và lượng vốn đã thực hiện là 1.240.623 triệu đồng, bằng 66,36 %
lượng vốn đăng ký (Xem bảng 2.1)
Ngoài ra tại khu thương mại trung tâm thu hút được hơn 400 quầy hàng kinh doanh thương mại khác của 300 hộ kinh doanh, 11 doanh nghiệp đặt chi nhánh, cửa hàng giới thiệu sản phẩm Trung tâm thương mại Lao Bảo trở thành điểm du lịch shoping hấp dẫn, thu hút bình quân mỗi ngày khoảng 500 lượt khách tham quan, mua sắm hàng hoá trong đó có khoảng 50% là khách đi theo các tour du lịch
Nếu lấy mốc thời gian đến 31/12/2004 trước khi có Quyết định 11/2005/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ chuyển đổi quy chế từ khu vực khuyến khích phát triển kinh tế và
thương mại Lao Bảo thành khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo thì số lượng dự án
và lượng vốn đầu tư vào khu vực này như sau (Xem bảng 2.2):
Bảng 2.1: Số vốn và dự án đã đăng ký đầu tư và thực hiện tại khu kinh tế - thương mại
đặc biệt Lao Bảo (Từ 1998 đến 5/7/2006)
Trang 33Nguồn: Ban quản lý khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo 2006
Bảng 2.2: Số lượng vốn và dự án đầu tư đã thực hiện
tại khu vực khuyến khích phát triển kinh tế và thương mại Lao Bảo
Nguồn: Ban quản lý khu kinh tế- thương mại đặc biệt Lao Bảo 2006
Số liệu ở bảng 2.1 và bảng 2.2 cho thấy từ khi thực hiện quy chế khu kinh tế -
thương mại đặc biệt Lao Bảo và khai thông hành lang kinh tế Đông - Tây thì số lượng dự
án thực hiện từ 60 lên 90 dự án tăng 50%; số vốn thực hiện từ 595.351 triệu đồng lên 1.240.623 triệu đồng tăng 108,39%
Hoạt động đầu tư ở khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo chỉ thực sự có bước chuyển biến từ đầu năm 2005, biểu hiện là số lượng dự án cũng như lượng vốn đầu tư của mỗi dự án ngày càng tăng Nếu giai đoạn 1998 đến 2004 mỗi dự án thực hiện có số vốn bình quân là 9.922,52 triệu đồng/dự án, thì đầu năm 2005 đến tháng 6/2006 bình quân mỗi dự án đăng ký có số vốn là 18.150,74 triệu đồng/dự án, tăng gần gấp đôi và vốn thực hiện là 13.784,7 triệu đồng tăng 1,39 lần
Đặc biệt, tại hội nghị xúc tiến đầu tư vào khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo
và hành lang kinh tế Đông - Tây tổ chức tại Quảng Trị ngày 8/5/2006 đã có 20 dự án được cấp phép đầu tư và chấp thuận chủ trương đầu tư với tổng mức đầu tư 1.486,26 tỷ đồng và
Trang 34diện tích thuê đất 539.140m Trong đó có 4 dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài được cấp giấy phép đầu tư vào khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo với tổng mức đầu tư là 19.300.000 USD (Tương đương 308,8 tỷđồng), diện tích thuê đất 73.680m2 Một dự án đầu
tư 100% vốn nước ngoài khác cũng đã được trao văn bản chấp thuận đầu tư vào khu kinh tế
- thương mại đặc biệt Lao Bảo với mức đầu tư 6.000.000 USD (Tương đương 95,4 tỷ đồng) với diện tích thuê đất là 8.700m2; 15 dự án đầu tư trong nước được trao văn bản chấp thuận đầu tư với tổng mức đầu tư 1.082,06 tỷ đồng và diện tích thuê đất 433.460m2 Sau hội nghị
đã thực hiện bước thoả thuận ban đầu về địa điểm, vốn đầu tư và quy mô sử dụng đất cho 4
dự án khác với số vốn đầu tư là 152,2 tỷ đồng và diện tích đất thuê 84.000m2 [45]
Một trong những biểu hiện hiệu quả đầu tư là hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo trong những năm qua đạt được mức tăng trưởng khá cao Theo thống kê của Bộ Thương mại tại hội nghị
tổng kết 5 năm hoạt động chợ biên giới Việt - Lào tổ chức từ 21 - 23/6/2006 tại thành phố Đồng Hới (Quảng Bình) trong tổng kim ngạch biên mậu của 10 tỉnh có chung đường biên giới Việt - Lào thời kỳ 2001 - 2005 thì Lao Bảo có kim ngạch xuất nhập khẩu có số lượng lớn nhất (xem bảng 2.3)
Bảng 2.3: Thống kê kim ngạch biên mậu của 10 tỉnh biên giới
Việt - Lào thời kỳ 2001-2005
Trang 35nhưng kim ngạch không nhiều
9 Quảng Nam Có Cửa khẩu Nam Giang- Đâctooc nhưng trao đổi hàng
hoá chưa nhiều
Tổng 65.808 57.395 83.328 96.790 133.062
Nguồn: Ban quản lý khu kinh tế- thương mại đặc biệt Lao Bảo 2006
Như vậy, một mặt khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo được Chính phủ cho áp dụng một quy chế ưu đãi đặc biệt lần đầu tiên được áp dụng thí điểm ở nước ta, chính sách
đó nằm trong chương trình chung của hành lang kinh tế Đông - Tây là nơi chính phủ các nước thí điểm thực hiện các chính sách ưu đãi mới nên có sức hấp dẫn các nhà đầu tư Mặt khác, từ năm 1998 đến năm 2004 là giai đoạn khu kinh tế thương mại Lao Bảo đang trong quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng Hệ thống giao thông như quốc lộ 1A, quốc lộ 9 xuyên Á ( trục chính của hành lang kinh tế Đông - Tây), hai nhánh đường Hồ Chí Minh qua tỉnh Quảng Trị và cả tuyến đường xuyên Á về phía các nước Lào, Thái Lan, Myanmar, đặc biệt cầu hữu nghị 2 bắc qua sông MêKông đang trong quá trình xây dựng nên chưa nối liền khu kinh tế - thương mại Lao Bảo với thị trường trong nước và với thị trường các nước tiểu vùng MêKông Nhưng từ khi khai thông được thị trường bằng sự phát triển liên kết theo
phương châm “hạ tầng đi trước một bước” và cũng là kết quả sau gần 10 năm nỗ lực xúc
tiến, quảng bá kêu gọi đầu tư, khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo đã có những bước phát triển lớn trong thu hút đầu tư
2.1.2.2 Các khu Công nghiệp, khu kinh tế khác của tỉnh (trừ khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo) mới chỉ thu hút được số ít dự án nhỏ, lượng vốn đăng ký chưa nhiều, vốn thực hiện chiếm tỷ lệ thấp và chủ yếu vốn trong nước
Nhìn chung các khu công nghiệp, khu kinh tế khác ở tỉnh Quảng Trị được quy hoạch
và xây dựng muộn hơn so với nhiều tỉnh, thành khác trong cả nước Nếu tính từ khi có Quyết định số 129/2005/QĐ-TTg ngày 2/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Quản Lý các khu công nghiệp của tỉnh Quảng Trị và Quyết định số 60/2006/QĐ-UBND ngày 24/7/2006 của UBND tỉnh Quảng Trị về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Quảng Trị thì mới thấy được trong một thời
Trang 36gian ngắn nhưng các khu công nghiệp, khu kinh tế ở Quảng Trị bước đầu đã tạo được sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Tính đến 30/6/2006 các khu công nghiệp nam Đông Hà, Quán Ngang, khu dịch vụ - du lịch Cửa Việt vừa xây dựng hạ tầng vừa xúc tiến thu hút đầu
tư nhưng đã thu hút được số lượng các dự án và lượng vốn như sau (Xem bảng 2.4):
Bảng 2.4: Kết quả thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp,
khu kinh tế tỉnh Quảng Trị đến 30/6/2006 (trừ khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao
Số DA
th hiện
Tỷ trọng
Vốn đăng ký
Vốn th hiện
Tỷ trọng
Nguồn: Ban quản lý các khu công nghiệp, khu kinh tế Quảng Trị 2006
Các dự án thu hút vào các khu công nghiệp, khu kinh tế ở Quảng Trị (trừ khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo) chủ yếu là của các doanh nghiệp trong tỉnh và trong nước chứ chưa có một dự án đầu tư nào của nhà đầu tư ngoài nước Mặt khác lượng vốn đầu tư của mỗi
dự án nhỏ, tiến độ triển khai thực hiện chậm Khu công nghiệp nam Đông Hà bình quân 119.000 triệu đồng/dự án đăng ký nhưng vốn thực hiện là 207.333,3 triệu đồng/dự án và tỷ trọng vốn thực hiện bằng 65,34% so với vốn đăng ký Trong khi đó khu du lịch- dịch vụ Cửa Việt là 212.166,27 triệu đồng/dự án đăng ký nhưng thực hiện chỉ có 5.112,5 triệu đồng/dự án và
tỷ trọng vốn thực hiện đạt 0,64% so với vốn đăng ký khu công nghiệp Quán Ngang bình quân 122,33 triệu đồng/dự án đăng ký nhưng đến thời điểm này chưa có dự án nào được triển khai
Trang 37Đây là một vấn đề đang đặt ra cho Quảng Trị, trong “cơn khát” dự án đầu tư, sự cần
thiết phải thu hút các dự án nhưng cần hướng đến các dự án có tính khả thi, khả năng tài chính mạnh, công nghệ cao, thị trường rộng nếu không thì sẽ sớm lấp đầy diện tích các khu công nghiệp, khu kinh tế nhưng hiệu quả không lớn thậm chí sẽ để lại những hậu quả khó giải quyết, như phải đầu tư lớn cho xử lý môi trường do sự lạc hậu của công nghệ, khả năng cạnh tranh kém, các dự án sau khi được cấp phép chậm hoặc không triển khai được
Bảng 2.5: Kết quả thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế tỉnh Quảng Trị
Tỷ trọng
Số vốn đăng ký
Số vốn thực hiện
Tỷ trọng
án, bằng 75,19%; với lượng vốn đăng ký là 6.371.020 triệu đồng, số vốn đã thực hiện là
1.883.073 triệu đồng bằng 29,56% Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế như sau (Xem bảng
2.6.):
Trang 38Bảng 2.6: Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế tại các khu công nghiệp,
khu kinh tế ở Quảng Trị
Đơn vị tính: Triệu đồng và %
STT Ngành
DA đăng
ký
DA thực hiện
Tỷ trọng
Vốn đăng
ký
Vốn thực hiện
Tỷ trọn
Nguồn: BQL các khu công nghiệp, khu kinh tế tỉnh Quảng Trị 2006
Số liệu ở bảng 2.6 cho thấy cơ cấu đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế ở Quảng Trị phát triển theo hướng tích cực, phản ánh đúng thực trạng và lợi thế địa kinh tế của Quảng Trị Ở khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo, có 89 dự án đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ chiếm 68,99% so với tổng số dự án đăng ký và lượng vốn đầu tư 4.374.265 triệu đồng chiếm 68,66% so với số vốn đăng ký; Công nghiệp và xây dựng chiếm các tỷ trọng tương ứng là 27,91% và 31,18%, cuối cùng là nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tỷ trọng 3,1% và 0,16% Cơ cấu đầu tư đó đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Quảng Trị theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (Xem bảng 2.7)
Bảng 2.7: Tổng sản phẩm và cơ cấu tổng sản phẩm của Quảng Trị
giai đoạn 2000-2006
ĐV tính 2000 2001 2002 2003 2004 2005
2006 (ước)