14 - Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Minh Hưởng với đề tài “Phát hiện, điều tra các tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới của lực lượng cảnh sát nhân dân” công bố năm
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MAI TRÂM
PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM MUA BÁN NGƯỜI
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luật án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 9
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 13
1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 20
Chương 2: TỘI PHẠM MUA BÁN NGƯỜI VÀ TÌNH HÌNH TỘI PHẠM MUA BÁN NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 24
2.1 Tội phạm mua bán người theo quy định của luật hình sự Việt Nam hiện hành 24
2.2 Tình hình tội phạm mua bán người ở Việt Nam hiện nay 33
Chương 3: NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM MUA BÁN NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 68
3.1 Nhận thức lý luận về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm mua bán người 68
3.2 Hệ thống nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tình hình tội phạm mua bán người ở Việt Nam hiện nay 71
Chương 4: DỰ BÁO TÌNH HÌNH TỘI PHẠM MUA BÁN NGƯỜI Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM MUA BÁN NGƯỜI 116
4.1 Dự báo tình hình tội phạm mua bán người ở Việt Nam trong thời gian tới 116
4.2 Hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm mua bán người ở Việt Nam 121
KẾT LUẬN 157
TÀI LIỆ U THAM KHẢO 161
PHỤ LỤC 170
Trang 41
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong chiều dài lịch sử phát triển của nhân loại, con người luôn được đặt tại
vị trí trung tâm, trong đó quyền con người được xem là giá trị chung của nhân loại, thành quả của quá trình đấu tranh gian khổ, bền bỉ mà cả nhân loại hướng tới và ra sức bảo vệ Chính vì vậy, mua bán người đã trở thành mối quan tâm sâu sắc của nhiều quốc gia trên khắp thế giới Mua bán người, bao gồm phụ nữ, đàn ông và trẻ
em, đặt biệt là cho mục đích tình dục không phải là một hiện tượng mới mà là một thực tế phổ biến trong nhiều xã hội qua các thời kỳ lịch sử Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, nhất là trong quá trình phát triển, hội nhập kinh tế, toàn cầu hóa thì mua bán người đã thực sự trở thành mối đe dọa cho các quốc gia, bởi mua bán người, đặt biệt là mua bán phụ nữ, trẻ em với nhiều hình thái, động cơ khác nhau, được tổ chức chặt chẽ hơn và mang tính xuyên vùng, xuyên quốc gia, bao quanh nó
là các vấn đề về đạo lý, đạo đức, chính trị, kinh tế, văn hóa, y tế, thương mại Mua bán người trở thành một ngành kinh doanh có tính toàn cầu đem lại những món lợi nhuận khổng lồ cho các tổ chức tội phạm Theo báo cáo của Tổ chức nhập cư thế
giới (IOM), hàng năm có khoảng 4 triệu người bị bọn buôn người bán qua biên
giới các quốc gia, lợi nhuận thu được từ hoạt động tội ác này hằng năm không dưới 10 tỉ USD, chỉ đứng sau lợi nhuận thu được từ buôn bán vũ khí và buôn lậu
ma túy [75] và theo báo cáo của Liên Hợp Quốc và tổ chức Lao động quốc tế, hằng năm trên thế giới có khoảng 800.000- 1.000.000 người bị mua bán, lợi nhuận tội phạm thu được khoảng 32 tỷ USD Trong đó, trên 80% nạn nhân là phụ nữ và các
bé gái [38] Mua bán người được xếp vào loại tội ác chống lại loài người bởi nó
xâm phạm nghiêm trọng tới quyền con người, trong đó, có những quyền cơ bản nhất như: quyền tự do đi lại, quyền được bảo vệ an toàn về tính mạng, sức khỏe, quyền lao động Tội phạm mua bán người có tính chất và mức độ nguy hiểm cao cho xã hội bởi tính giã man, vô nhân đạo thể hiện ở chỗ không chỉ xâm phạm các quyền con người mà còn coi con người như một món hàng hoá để trao đổi vì lợi nhuận Hậu quả mà tội phạm mua bán người gây ra cho nạn nhân, gia đình nạn nhân nói riêng và cho toàn xã hội nói chung là hết sức nặng nề vì nạn nhân, gia đình nạn nhân không chỉ phải hứng chịu những tổn thương về tâm sinh lý, sức khỏe tính mạng mà mua bán người còn đe dọa đến sự ổn định, trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt đối với các quốc gia Đây là một biểu hiện của chế độ
Trang 52
“chiếm hữu nô lệ thời hiện đại” mà cả nhân loại lên án và tìm mọi biện pháp ngăn chặn, đầy lùi Vì vậy, nhiệm vụ phòng, chống tội phạm mua bán người đặt ra không chỉ riêng đối với một quốc gia nào mà đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các nước trên toàn thế giới, nhất là trong tình hình hiện nay khi vấn đề mua bán trẻ em, bóc lộc sức lao động, đưa người lao động trái phép từ các nước nghèo sang các nước phát triển đã trở thành vấn đề nóng của cả thế giới vì không chỉ phát sinh các vấn đề tại các nước đến mà nhiều người dân vô tội phải bỏ mạng trên biển hoặc trong những chiếc xe tải, xe container chất đầy người
Ở Việt Nam, tội phạm mua bán người là một hiện tượng chỉ mới xuất hiện khoảng hơn chục năm trở lại đây, song tính đa dạng và phức tạp cũng như những hậu quả nghiêm trọng mà tội phạm này gây ra cho nạn nhân, gia đình, xã hội đã thu hút sự quan tâm đặc biệt và lo ngại sâu sắc của Nhà nước và cộng đồng
Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều biện pháp nhằm đấu tranh ngăn chặn tình trạng mua bán người, đặc biệt là mua bán phụ nữ và trẻ em nhưng tình hình tội phạm mua bán người vẫn diễn biến phức tạp với tính chất, thủ đoạn ngày càng nghiêm trọng, tinh vi, xảo quyệt; nhiều trường hợp có tổ chức chặt chẽ và có tính xuyên quốc gia Tội phạm mua bán người đã thực sự trở thành vấn đề nóng bỏng, nhức nhối, ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của xã hội, phong tục, tập quán, đạo đức xã hội, pháp luật của Nhà nước, cướp đi hạnh phúc của nhiều gia đình, làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS, tiềm ẩn những nhân tố xấu về an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội Các phần tử xấu lợi dụng vấn đề này để nói xấu, tuyên truyền sai sự thật, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước [15] Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, đặt ra cho khoa học pháp lý phải nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về tội phạm mua bán người để tìm ra những giải pháp phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm này là một yêu cầu cấp bách và cần thiết vì:
Thứ nhất, xét về mặt đạo đức xã hội, hành vi mua bán người là loại hành vi
suy đồi nhất, đáng xấu hổ nhất và đáng bị trừng phạt nhất trong mọi loại hành vi
Vì thế, nghiên cứu để tiến tới ngăn chặn, đẩy lùi hành vi tha hóa nhất về mặt đạo đức luôn được đặt ra
Thứ hai, xét trên phương diện thực tế của tình hình tội phạm ở nước ta, vấn đề
cần phải được nhìn nhận ở hai đặc điểm sau:
- Một là, trong dây chuyền các đối tượng chịu sự xâm hại của những hành vi
phạm tội, phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam là những đối tượng dễ bị xâm hại nhất, tức
Trang 63
là những mắt xích yếu nhất Cho nên, dù tội danh mua bán phụ nữ đã được thay thế thành tội danh mua bán người cho phù hợp với pháp luật quốc tế và với những biểu hiện mới của tình hình tội phạm, thì phụ nữ và trẻ em nước ta vẫn là những người
bị hại chủ yếu;
- Hai là, một trong những nét đặc trưng nhất, đáng lưu ý nhất đối với tình
hình tội phạm thời kỳ kinh tế thị trường so với thời kỳ kinh tế bao cấp ở nước ta chính là mức tăng đột biến và dữ dội của tình hình tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ
em Nếu lấy năm 1986 làm năm định gốc (năm định gốc là thuật ngữ!), tức là 100%, thì số vụ án phải xét xử hình sự sơ thẩm ở những năm mà cơ chế thị trường bắt đầu phát huy tác dụng, tức là từ năm 1989 trở đi như sau: năm 1989 đạt mức 1.550%; năm 1990 đạt 5.050%; năm 1991 đạt 7.750%; năm 1992 đạt 7.250%; năm
1997 đạt 8.500%; năm 1998 đạt 8.650%; năm 1999 đạt 6.950%; năm 2000 đạt 6.850%; năm 2001 đạt 3.900%, năm 2002 đạt 4.400% và năm 2003 đạt 4.100% [53, tr.309]
Thứ ba, xét trên phương diện lý luận, tội phạm học, khoa học luật hình sự và
các khoa học pháp lý có liên quan khác trong những năm qua đã có những bước tiến mới tạo thêm những cơ sở lý luận mới cho việc tiến hành nghiên cứu đề tài
“Phòng, chống tội phạm mua bán người tại Việt Nam”;
Thứ tư, về mặt pháp luật, bên cạnh việc Quốc hội ban hành Luật số
37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2010) (sau đây gọi là Bộ luật hình sự năm 1999) để sửa đổi Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 từ tội “Mua bán phụ nữ” thành tội
“Mua bán người” và giữ nguyên Điều 120 về “Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em” chỉ bổ sung, sửa đổi khoản 2 điều luật này thì ngày 27/11/2015, Quốc hội ban hành Luật số 100/2015/QH13 ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 thì Điều 119
Bộ luật hình sự năm 1999 được đổi thành Điều 151 giữ nguyên tên tội danh, chỉ sửa đổi, bổ sung một số quy định trong điều luật Riêng Điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999 từ tội “Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em” thành tội “Mua bán người dưới 16 tuổi ” tách các hành vi đánh tráo, chiếm đoạt thành các điều luật riêng và thêm vào Điều 154 quy định về tội “Mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận
cơ thể người” Ngoài ra, Quốc hội còn ban hành Luật phòng, chống mua bán người,
có hiệu lực từ ngày 01/01/2012, đã làm nảy sinh nhu cầu nhận thức mới về tội phạm mua bán người trong tình hình mới
Trang 7lý luận về phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng, nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm mua bán người ở Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây cần phải thực hiện để đạt được mục đích của
đề tài luận án:
Thứ nhất, phân tích, hệ thống làm rõ những vấn đề lý luận về phòng, chống tội
phạm mua bán người; Phân tích làm rõ khái niệm, đặc điểm tội mua bán người; Xác định những đặc trưng pháp lý của tội mua bán người; Phân biệt tội mua bán người với hành vi đưa người di cư trái phép
Thứ hai, phân tích làm rõ những quy định của pháp luật về phòng, chống tội
phạm mua bán người tại Việt Nam, bao gồm: các văn bản luật (Bộ luật hình sự, Luật phòng, chống mua bán người ) và các văn bản dưới luật (các văn bản chỉ đạo của các cấp, ban, ngành, đoàn thể về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng); Đánh giá thực trạng các biện pháp phòng ngừa tội phạm mua bán người đã và đang được áp dụng trên phạm vi cả nước, cũng như những văn bản chỉ đạo trên các địa bàn cụ thể
Thứ ba, phân tích, làm rõ tình hình tội phạm mua bán người tại Việt Nam từ
2004 đến 2015; Đánh giá thực trạng phòng, chống tội phạm mua bán người thời gian qua tại nước ta, bao gồm: làm rõ phần hiện và phần ẩn của tình hình tội phạm mua bán người; Luận giải, mô tả, minh chứng bằng các số liệu, tình huống điển hình về bức tranh hiện thực phản ánh tình hình tội phạm mua bán người thời gian qua; Xác định các yếu tố thuộc về nguyên nhân, điều kiện của tội phạm mua bán người;
Thứ tư, dự báo tình hình tội phạm mua bán người và thiết lập hệ thống các biện
pháp phòng, chống tội phạm mua bán người trong thời gian tới
Trang 85
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn phòng, chống tội phạm mua bán người tại Việt Nam Cụ thể trên cơ sở làm rõ các quy luật của tội phạm mua bán người và thực tế của tình hình tội phạm mua bán người tại Việt Nam từ năm 2004- 2015 để xác định nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng, trong đó phân tích, đánh giá
để tìm ra mối liên hệ giữa tình hình tội phạm mua bán người với những hiện tượng, quá trình kinh tế - xã hội khác
An Giang
- Về thời gian, khảo sát tình hình tội phạm mua bán người và thực trạng phòng, chống tội phạm mua bán người từ năm 2004 đến năm 2015 Trong đó, đề tài sử dụng chất liệu nghiên cứu trong vòng 12 năm, từ 2004 đến năm 2015, bao gồm số liệu thống kê xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án và 92 bản án hình sự các loại về tội mua bán người/mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án là nền tảng tri thức về luật hình sự và tội phạm học
đã được nhân loại khái quát từ trước đến nay thể hiện thông qua các công trình khoa học mà tác giả đã kế thừa trong luận án làm nền tảng tri thức để tiếp cận, nghiên cứu tội phạm mua bán người
Lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước là phương pháp luận chủ yếu Trong đó, trọng tâm vẫn là phương pháp luận Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử Đây là phương pháp chủ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận án, để đưa ra những nhận định, kết luận khoa học đảm bảo tính khách quan, khoa học
Tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật hình sự, luật tố tụng hình sự và đặc biệt là tội phạm học, cụ thể như:
Trang 96
- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Phương pháp này được sử dụng trong
tất cả các Chương của luận án để xem xét từng vấn đề nghiên cứu trong mối liên hệ giữa lịch sử, lý luận, pháp lý với thực tiễn tổ chức thực hiện
- Phương pháp phân tích, so sánh, chứng minh và tổng hợp: Các phương
pháp này dùng để làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn nhằm thống nhất nhận thức Các phương pháp này được sử dụng trong tất cả các Chương của luận án, đi sâu trình bày các hiện tượng, các quan điểm, quy định và thực tiễn phòng, chống tội phạm mua bán người; Rút ra bản chất của các hiện tượng, các quan điểm, quy định và hoạt động thực tiễn phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng, từ
đó đưa ra những dự báo, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm mua bán người
- Phương pháp lịch sử: Được vận dụng nhằm phân tích, đánh giá sự kế thừa và
phát triển Phương pháp này chủ yếu được sử dụng tại Chương 2, Chương 4 của luận
án nhằm đưa ra những chứng cứ, số liệu trong từng giai đoạn lịch sử đặt trong những bối cảnh, mối quan hệ qua lại với những yếu tố lịch sử khác Ngoài ra, phương pháp này cũng được sử dụng tại các Chương khác của luận án khi trình bày, phân tích và đánh giá pháp luật về phòng, chống tội phạm mua bán người
- Phương pháp thống kê, khảo sát ý kiến, nghiên cứu hồ sơ, hệ thống và phương pháp chuyên gia: Dùng để đánh giá thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm mua
bán người thời gian qua Phương pháp này chủ yếu được sử dụng tại Chương 2 của luận án
- Phương pháp hệ thống: Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận
án nhằm trình bày nội dung theo một trình tự, bố cục hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề để đạt được mục đích, yêu cầu đã được xác định cho luận án
Để thực hiện có hiệu quả mục đích nghiên cứu, luận án kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp trong suốt quá trình nghiên cứu của toàn bộ nội dung luận án Tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu của từng chương, mục trong luận án, tác giả vận dụng, chú trọng các phương pháp khác nhau cho phù hợp
5 Những đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, luận án đã tìm hiểu và hệ thống hóa các công trình khoa học đi trước
có liên quan đến đề tài luận án, tác giả kế thừa có chọn lọc và phát triển ý tưởng khoa học, từ đó đưa ra những luận điểm của mình về vấn đề nghiên cứu
Thứ hai, luận án nghiên cứu hệ thống các quy phạm pháp luật về tội phạm mua
bán người, nghiên cứu các vấn đề lý luận về tội mua bán người, tội mua bán, đánh
Trang 107
tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em theo Điều 119, 120 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 và tội mua bán người, tội mua bán người dưới 16 tuổi, tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người theo Điều 151, 152, 154 Bộ luật hình sự năm 2015 Đồng thời nghiên cứu các quy định của Luật phòng, chống mua bán người
Thứ ba, luận án đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật
trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người trên phạm vi toàn quốc, chỉ
ra được các khái niệm, dấu hiệu pháp lý, đặc điểm và thực tiễn phòng, chống tội phạm mua bán người thời gian qua tại Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn từ năm 2010 đến nay (thời điểm Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 có hiệu lực thi hành) và Bộ luật hình sự năm 2015 được ban hành
Thứ tư, luận án đã phân tích, đánh giá, làm rõ tình hình tội phạm mua bán
người và thực trạng phòng, chống tội phạm mua bán người thời gian qua tại Việt Nam, trên cơ sở đó xác định nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm mua bán người
Thứ năm, luận án đã nghiên cứu, tiếp cận lý luận về quyền con người và cơ sở
thực tiễn của nó, sự liên quan giữa quyền con người với tội phạm mua bán người,
từ đó đưa ra các giải pháp căn bản từ gốc để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người tại Việt Nam
Thứ sáu, luận án đã đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác phòng, chống tội phạm mua bán người dựa trên cơ sở phân tích các điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội cụ thể tại nước ta
Thứ bảy, luận án cung cấp những luận cứ khoa học phù hợp với thực tiễn, làm
cơ sở cho việc đề ra các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng; là cơ sở để thiết kế các biện pháp ngăn chặn và đẩy lùi, đặc biệt là việc đề ra các biện pháp phòng ngừa trong hiện tại và dự báo, phòng ngừa trong tương lai, thông qua việc đánh giá mức độ nguy hiểm của tội phạm, phát hiện những quy luật tồn tại và phát triển của tội phạm
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
6.1 Ý nghĩa về mặt khoa học
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu tội phạm mua bán người dưới góc
độ tội phạm học tại Việt Nam Việc nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận, thực tiễn đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng,
Trang 118
chống tội phạm mua bán người thời gian qua, góp phần hoàn thiện lý luận về luật hình sự và lý luận về tội phạm học liên quan đến tội phạm mua bán người
Trên cơ sở nghiên cứu, luận án đã đề ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện
hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam nói chung và tội phạm học nói riêng, cũng như
đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người
Kết quả nghiên cứu của Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, học tập
và nghiên cứu tội phạm học và pháp luật hình sự Đây là nguồn tư liệu mang tính lý luận và thực tiễn cao, dùng để tham khảo đề ra các giải pháp căn bản và lâu dài trong công tác
6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của Luận án có giá trị như một tài liệu tham khảo cho hoạt động phòng, chống tội phạm nói chung và phòng, chống tội phạm mua bán người ở
Việt Nam nói riêng
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm có 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu;
Chương 2 Tội phạm mua bán người và tình hình tội phạm mua bán người ở Việt Nam hiện nay;
Chương 3 Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm mua bán người ở Việt Nam hiện nay;
Chương 4 Dự báo tình hình tội phạm mua bán người ở Việt Nam và những biện pháp phòng, chống tội phạm này
Trang 129
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Phòng, chống mua bán người đã trở thành mối quan tâm sâu sắc của nhiều quốc gia trên khắp thế giới Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này; nhiều hội nghị, hội thảo diễn đàn khu vực và quốc tế được tổ chức để làm sáng
tỏ những vấn đề liên quan đến tội phạm mua bán người Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các hội thảo, hội nghị đã khái quát được tình hình mua bán người đang diễn ra trên thế giới trong những năm qua Trong đó đặc biệt nổi bật là đã cho ra đời được các văn kiện quan trọng nhằm đấu tranh, phòng ngừa, trấn áp tội phạm mua bán người như:
- Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, ban hành ngày 15/11/2000, được thông qua bởi các quốc gia thành viên trong hội nghị tại Palermo, vào ngày 12-15 tháng 12 năm 2000, có hiệu lực ngày 29/9/2003;
- Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị buôn bán người, đặc biệt
là phụ nữ, trẻ em – Nghị định thư đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 15/11/2000, có hiệu lực kể từ ngày 25/12/2003, với 117 nước ký và 46 nước phê chuẩn;
- Nghị định thư về chống nhập lậu người bằng đường bộ, đường biển, đường hàng không, có hiệu lực ngày 28/01/2004…
Các văn kiện này chứa đựng các nguyên tắc, kế hoạch hành động, trong đó chỉ
rõ các bước cần tiến hành để thực hiện các nguyên tắc, đặc biệt đưa ra được khái niệm về buôn bán người, cũng như mô tả được các hành vi, yếu tố cấu thành tội phạm mua bán người Mặc dù không mang tính chất bắt buộc pháp lý nhưng những văn kiện này có ý nghĩa cung cấp cho các cơ quan của Chính phủ và phi Chính phủ những kiến nghị về lập pháp và chính sách cũng như hướng dẫn trong việc phối hợp hành động chống lại tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu của các Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ đã được công bố trong thời gian qua, trong đó một số công trình đáng lưu ý như:
- "At what price, honour?", Research into domestic trafficking of Vietnamese
(girl) children for sexual exploitation, from urban slums in Phnom Penh, Cambodia ("Mức giá nào, thưa ngài?", Nghiên cứu về buôn bán nội địa trẻ em gái người Việt
Trang 1310
Nam vì mục đích khai thác tình dục từ các khu ổ chuột thành thị tại Phnom Penh, Campuchia) của tác giả Reimer J.k do nhà xuất bản Chab Dai Coalition xuất bản năm 2006
Nghiên cứu cho thấy thực trạng chung về nạn buôn bán người và khai thác tình dục phụ nữ và trẻ em ở Campuchia Mặc dù hiện tại đã có sự quan tâm nhằm giải quyết các khía cạnh khác nhau của vấn đề này, thậm chí cả đối với người Khơ-
me, chiếm đa số trong dân số, nhưng vẫn có nhiều yếu tố như nghèo đói lan tràn, thất nghiệp ở mức cao và trình độ học vấn thấp và những điều này đã khiến cho nạn buôn bán trẻ em làm lao động và vào các ổ mại dâm trở thành các mối quan tâm thực sự của các gia đình Tuy nhiên, có rất ít các nguồn lực liên quan sẵn có nhằm trợ giúp các nạn nhân, sự không hoặc kém hiểu biết hoặc các khung pháp luật hiệu lực đối với việc khởi tố thủ phạm và những đặc tính về văn hóa làm tăng thêm nguy
cơ của nạn buôn bán người và tình dục vì mục đích thương mại Các yếu tố nguy cơ chính trong số các can phạm người Việt Nam cũng được điều tra trong nghiên cứu Các phát hiện từ cuộc nghiên cứu đã củng cố thêm cho các ấn phẩm nghiên cứu trước đây về các yếu tố bất lợi tác động đến việc buôn bán trẻ em vì mục đích tình dục thương mại Một điểm khác biệt trong cuộc nghiên cứu này là sức nặng của các giá trị cụ thể làm tồi tệ thêm bởi thực tế ở người Việt Nam tại Campuchia, mà bản thân nó cũng là một yếu tố bất lợi Phần đầu của cuốn sách giới thiệu về cơ sở, thiết
kế và phương pháp của cuộc nghiên cứu Phần 2 gồm các phát hiện từ cuộc nghiên cứu Nó chỉ ra rằng gần một nửa các gia đình coi đây là một sự lựa chọn tiếp theo việc buôn bán Các phát hiện cũng cho thấy trẻ em gái nhỏ tuổi có thể bị bán trinh (sau đó quay trở về nhà) rồi sau đó tiếp tục bị bán vào các nhà thổ và ở đó trong một thời gian dài Một mức độ cao và khái quát hơn về nhận thức trong số trẻ em và người trưởng thành về tỷ lệ buôn bán người (buôn bán trẻ em gái vì mục đích tình dục) và nhà chứa Nhiều trẻ cho biết chúng tự cảm thấy nguy hiểm khi bị bán và một số đứa trẻ khác bị ép buộc tham gia vào hoạt động thương mại tình dục Một số
ít trẻ đã nói nếu có ai đó bắt ép chúng thì chúng sẽ "đánh trả lại" Tuy nhiên, phần lớn trẻ em cho rằng chúng không thích điều đó nhưng sẽ chấp nhận để tồn tại Phần cuối của cuốn sách là các kiến nghị từ cuộc nghiên cứu
- Taking the journey together: A united response to trafficking in the mekong region (Cùng nhau trên một chặng đường: Đồng lòng hưởng ứng chống nạn buôn bán
người ở vùng sông Mêkong) của tác giả Chalk, Katie do Nhà xuất bản World Vision Asia - Pacific Communications phát hành năm 2006
Trang 1411
Tổ chức Tầm nhìn Thế giới có đại diện tại 6 nước thuộc tiểu vùng sông Mêkông Năm 2006, Dự án “Chiến lược về chống buôn bán người Tiểu vùng sông Mêkông (MDRTS) – Melong delta regional trafficking strategy” kết thúc, với bốn mục mục tiêu là ngăn chặn; bảo vệ; đảm bảo sự theo đuổi của các tổ chức, chính phủ đối với vấn đề buôn bán người; đẩy mạnh mạng lưới liên kết ở cộng đồng cũng như Tầm nhìn Thế giới với các cơ quan chống buôn bán người ở Tiểu vùng sông Mêkông Báo cáo cung cấp tổng quan về chiến lược, những thành tựu của dự án và các bài học kinh nghiệm Dự đoán về các loại hình buôn bán người, các khuynh hướng và những thách thức mà 6 quốc gia trong khu vực phải đối mặt
- Child-friendly standards and guilelines for the recovery and integration of trafficking children (Các chuẩn mực và hướng dẫn trẻ trong việc phục hồi và hoà
nhập đối với trẻ em bị buôn bán) do tổ chức ILO International Labour Organization
thực hiện, NXB ILO International Labour Organization (2006)
Cuốn sách là các chuẩn mực và hướng dẫn theo các bước khác nhau, các thủ tục và dịch vụ cần thiết trong việc bảo vệ, phục hồi và tái hoà nhập xã hội của các trẻ em là nạn nhân của buôn bán người Những chuẩn mực và hướng dẫn này được
đề xuất cho việc sử dụng thực tế của những người triển khai, các nhà quản lý các
cơ sở bảo trợ, cán bộ Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình này Chúng cũng được mở rộng tầm ảnh hưởng tới các chính sách trong tương lai hoặc các cải cách về chính sách Phần đầu của cuốn sách gồm 12 nguyên tắc chung về bảo vệ trẻ em Các phần tiếp theo là 3 giai đoạn chính trong việc phục hồi và tái hoà nhập (gia nhập, thời gian chuyển tiếp và hoà nhập), tiếp theo là sự miêu tả từng dịch vụ chính (hoặc quyền được bảo vệ) mà một đứa trẻ cần Các trách nhiệm của Nhà nước được đề cập đến trong phần cuối của cuốn sách
- Review of a decade of research on trafficking in persons Cambodia (Nhìn lại
một thập kỷ nghiên cứu về buôn bán người Campuchia) do nhóm tác giả Derks,
Annuska, Henke, Roger, Vanna, Ly thực hiện, NXB The Asia Foundation phát hành năm 2006
Cuốn sách được trình bày dưới dạng báo cáo Trên cơ sở xem xét một cách hệ thống những thông tin sẵn có báo cáo chỉ ra rằng mua bán người là một trong những vấn đề nan giải của Campuchia, nó tồn tại dưới một dạng thức ngầm của bóc lột và phổ biến với nhiều hình thức như tham nhũng, cưỡng hiếp, lạm dụng ma túy Báo cáo nhìn nhận lại 1 thập kỷ các nghiên cứu liên quan đến buôn bán
Trang 1512
người tại Campuchia Báo cáo xem xét một cách hệ thống những thông tin sẵn có,
có thể hoặc không thể nói gì với chúng ta về các hình mẫu, phạm vi và hậu quả của nạn buôn bán người tại Campuchia, đồng thời báo cáo cũng đề cập đến 1 đánh giá quan trọng về các cách tiếp cận chính, các triển vọng cũng như các cuộc tranh luận
đã định hướng cho các nghiên cứu, cách thức thực hiện, phạm vi nghiên cứu và những phát hiện cụ thể từ các cuộc nghiên cứu được tổng hợp cho Campuchia Chương 2 và 3 của cuốn sách cung cấp một cái nhìn tổng thể có hệ thống các cách tiếp cận về phương pháp cũng như nội dung được sử dụng trong các nghiên cứu
Cụ thể, chương 2 đánh giá về các phương pháp, cách thức thu thập số liệu và dạng thông tin được sử dụng cũng như về địa điểm và các phát hiện trong các nghiên cứu về buôn bán người ở Campuchia Chương 3 thảo luận về các cách tiếp cận cơ bản khác nhau của các nghiên cứu về buôn bán người Chương 4 đưa ra đánh giá những điều chúng ta đã biết và chưa biết về mục đích, tiến trình, phạm vi cũng như nguyên nhân của nạn buôn bán người ở Campuchia Chương 5 tập trung vào việc làm thế nào để các chính sách và các nghiên cứu về buôn bán người được kết hợp lại với nhau tại Campuchia Chương 6 đưa ra các bài học rút ra từ việc xem xét lại theo cách mà các kiến thức nghiên cứu đã được đưa ra cũng như các vấn đề mới cần được nghiên cứu xa hơn và tốt hơn
- First hand knowledge: Voice across the Mekong community action agianst trafficking of children and women (Kiến thức đầu tay: tiếng nói vùng sông Mê Kông:
hành động cộng đồng chống lại nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em) do tổ chức ILO International Labour Organization thực hiện – NXB ILO International Labour Organization (2005)
Cuốn sách là báo cáo thuộc dự án tiểu vùng sông Mê Kông đấu tranh chống lại mua bán phụ nữ và trẻ em Báo cáo gồm 5 phần chính gồm các thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu tại 5 quốc gia thuộc dự án gồm Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam và Trung Quốc Ứng với mỗi quốc gia là một chủ đề riêng như sự quan tâm quốc gia đối với thực trạng mua bán phụ nữ và trẻ em, những nỗ lực trong việc bảo
vệ trẻ em và sự đoàn kết cộng đồng với thực trạng này Những nội dung này được thể hiện dưới dạng những câu chuyện kể của trẻ em, phụ nữ, các nhà lãnh đạo cộng đồng và các quan chức tham gia trực tiếp vào dự án
- Learning programme evaluation Combating human trafficking in the Greater
Mekong Sub-region 12-19 December 2005 (Đánh giá chương trình Chống lại nạn
Trang 16án của UNIAP từ 6 quốc gia thuộc tiểu vùng sông Mê Kông
- The Mekong challenge: Analysis report of the Baseline survey for the TICW project phase II in Yunnan province (part of a series of studies on human trafficking and labour migration in the greater Mekong sub-region – Thách thức Mekong: Báo
cáo phân tích điều tra cơ bản dự án TICW giai đoạn II tại tỉnh Vân Nam (Một phần trong loạt nghiên cứu về buôn bán người và sự di cư lao động tại tiểu vùng sông Mê Kông), Nghiên cứu do tổ chức ILO International Labour Organization thực hiện và phát hành năm 2005
Đây là cuộc điều tra cơ bản thuộc giai đoạn II dự án TICW nhằm tìm kiếm đầy đủ các thông tin về phạm vi, quy mô, lý do và các dữ liệu tin cậy về di cư lao động trong đó có buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới và sự di cư bất hợp pháp tại tỉnh Vân Nam Phần đầu của báo cáo cung cấp các thông tin về dự án cũng như luật, nghị định và chính sách về di cư lao động vùng nông thôn cùng việc chống lại tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em Phần tiếp theo của báo cáo tập trung phân tích các dữ liệu điều tra chính như hộ gia đình, những lao động di cư và những người hồi hương tại 6 vùng thuộc dự án Đối với những người di cư hoặc những người đã quay trở về, những phát hiện chính gồm trình độ giáo dục, đào tạo kỹ năng, lý do di
cư, tuổi khi di cư lần đầu tiên, người giúp tìm việc, thái độ của các thành viên trong gia đình người di cư, nghề nghiệp, giờ làm việc, thu nhập những thông tin kinh tế
xã hội cơ bản của các vùng thuộc dự án và thực trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em và sự
di cư bất hợp pháp tại tỉnh Vân Nam; tính khả thi trong việc triển khai dự án chống lại buôn bán phụ nữ và trẻ em (TICW) Phần cuối của báo cáo đưa ra các kiến nghị
và can thiệp
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trong khoa học pháp lý, đề tài về mua bán người đã được nghiên cứu không chỉ ở cấp độ quốc tế mà tại Việt Nam, đề tài này cũng được nhiều cá nhân, tổ chức nghiên cứu Có thể chia các công trình nghiên cứu về tội phạm mua bán người thành 3 nhóm lớn sau:
1.2.1 Luận án, luận văn, khóa luận: Trong các công trình nghiên cứu thuộc
nhóm này phải kể đến:
Trang 1714
- Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Minh Hưởng với đề tài “Phát hiện,
điều tra các tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới của lực lượng cảnh sát nhân dân” công bố năm 2008, luận án đi sâu nghiên cứu về công tác phát hiện, điều
tra đối với tội mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới của lực lượng cảnh sát nhân dân, trong đó đã nêu được những đặc điểm riêng mang tính chất đặc thù của tội mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới, những khó khăn, thuận lợi, những mặt đạt được, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế và đưa ra đề xuất, kiến nghị nhằm phục vụ tốt công tác phát hiện, điều tra tội mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới, qua đó nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam
- Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Văn Hương với đề tài “Đấu
tranh phòng, chống tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam”, công bố năm 2008; luận án
nghiên cứu về công tác đấu tranh phòng, chống tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam giai đoạn trước khi Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung, trong đó luận án đã khái quát bức tranh toàn cảnh về công tác đấu tranh phòng, chống tội mua bán phụ nữ ở giai đoạn này, cũng như nêu ra một số nguyên nhân, điều kiện để tội phạm mua bán phụ nữ tồn tại, từ đó đề ra một số giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Hoàng Văn Lai với đề tài “Quản lý nhà
nước và sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực buôn bán người ở Việt Nam”,
công bố năm 2007; luận văn nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực buôn bán người ở Việt Nam, trong đó đã phản ánh những mặt đã đạt được, những mặt còn hạn chế, nguyên nhân của những yếu kém trong công tác quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng, từ đó đề ra một số giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả của các đối tượng này trong lĩnh vực phòng, chống buôn bán người ở Việt Nam
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Đào Thị Ánh Tuyết với đề tài“Đấu
tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn tỉnh Tây Ninh”, công bố năm 2007; luận văn đã giải quyết một số vấn đề về lý luận và thực
tiễn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 1997 – 6/2007
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Minh Diễm Quỳnh với đề
tài,“Đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới tại
tỉnh An Giang”, công bố năm 2007; luận văn đã giải quyết một số vấn đề về lý luận
Trang 1815
và thực tiễn trong đấu tranh phòng, chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới tại tỉnh An Giang giai đoạn 1997 – 6/2007
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Mai Trâm với đề tài“Đấu
tranh phòng, chống tội mua bán người trên địa bàn tỉnh An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh”, công bố năm 2010; luận văn đề cập hoạt động đấu tranh, phòng, chống
Tội mua bán người trên địa bàn 2 tỉnh An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh, trong
đó đã phản ánh thực trạng đấu tranh phòng, chống tội mua bán người trên 2 địa bàn này, có sự so sánh điểm giống nhau, khác nhau giữa 2 địa bàn, từ đó đưa ra các nguyên nhân, điều kiện để tội phạm mua bán người tồn tại và phát triển, với các nguyên nhân chung và đặc thù của từng vùng, từng địa bàn, để đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm này
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Đức Phương với đề tài“Tội
buôn bán người trong Luật hình sự Việt Nam”, công bố năm 2010; luận văn đã xem
xét tội mua bán người dưới góc độ luật hình sự, luận văn nghiên cứu những vấn đề
lý luận và thực tiễn về tội mua bán người và tội mua bán trẻ em, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự đối với tội mua bán người và tội mua bán trẻ em nhằm góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người tại Việt Nam
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Vũ Mạnh Đức (2014),“Tội mua bán
người trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn – Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”, công bố năm 2014; luận văn đã đề cập hoạt động đấu tranh, phòng, chống
tội mua bán người trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, trong đó đã nêu lên được thực trạng tình hình đấu tranh phòng, chống tội mua bán người trong giai đoạn 2009-2013 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, cũng như lý giải được các nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm và đề ra một hệ thống các biện pháp phòng ngừa
Ngoài ra, còn một số luận văn thạc sĩ luật học của các tác giả như: Nguyễn
Thị Tám với đề tài “Đấu tranh phòng, chống các tội mua bán phụ nữ, trẻ em ở Việt
Nam-Thực trạng và giải pháp” (Hà Nội-2009); Đinh Thị Phương Thúy với đề tài
“Đấu tranh phòng, chống tội mua bán phụ nữ trên địa bàn thành phố Hà Nội” (Hà
Nội-2008); Nguyễn Minh Diễm Quỳnh với đề tài “Đấu tranh phòng, chống tội mua
bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới tại tỉnh An Giang” (Thành phố Hồ Chí
Minh-2007); Hoàng Hương Thủy với đề tài “Tội mua bán phụ nữ: Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” (Hà Nội-2005) và các khóa luận của các tác giả như: Bùi Thị Tường
Vân (2004), “Đấu tranh phòng, chống các tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em”,
Trang 1916
khóa luận cử nhân luật, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Hồ Thị Linh
(2005), “Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người theo pháp luật quốc
tế”, khóa luận cử nhân luật, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Trường
Đại học Luật Hà Nội,
Các tác giả của các luận án, luận văn, khóa luận đã tiếp cận được các khái niệm pháp lý, các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người tại một địa bàn cụ thể, trong một khoảng thời gian cụ thể,
từ đó chỉ ra được một số nguyên nhân và đề ra các giải pháp khắc phục Các công trình trên rất có giá trị để Luận án có thể kế thừa thông tin, số liệu đối chứng, ý tưởng nghiên cứu mà vẫn không bị trùng lặp vì có sự khác nhau về các yếu tố như: Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu; thời gian nghiên cứu; địa bàn nghiên cứu; chất liệu nghiên cứu
1.2.2 Sách, giáo trình, sách bình luận chuyên khảo: Trong nhóm này đáng
chú ý có các tác phẩm như:
- Đỗ Ngọc Quang (1995), Giáo trình Tội phạm học, Nhà xuất bản Trường Đại
học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội ;
- Viện Nhà nước và Pháp luật (2000), “Tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Công an nhân dân;
- Nguyễn Xuân Yêm (2001), Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm,
Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội;
- Vũ Ngọc Bình (2002), “Phòng, chống buôn bán và mại dâm trẻ em”, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội;
- Nguyễn Văn Cảnh (2007), “Hoạt động điều tra các vụ án buôn bán phụ nữ
và trẻ em”, Nhà xuất bản Công an nhân dân;
- Đinh Văn Quế (2005), “Bình luận khoa học BLHS”, Nhà xuất bản Thành phố Hồ
Chí Minh;
- Lê Cảm (chủ biên) (2007), Giáo trình luật hình sự phần các tội phạm, Khoa
luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội;
- Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên) (2007), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, tập
1, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội;
- Hoàng Thị Kim Quốc (chủ biên) (2007), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước
và pháp luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
- Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2011), “Quyền con người”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội;
Trang 2017
- Võ Khánh Vinh (2011, 2013), Giáo trình “Tội phạm học”, Nhà xuất bản
Công an nhân dân;
- Võ Khánh Vinh (2012), “Xã hội học pháp luật những vấn đề cơ bản”, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội;
- Giáo trình “Tội phạm học” của trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2004, 2012;
- Học viện Cảnh sát nhân dân (2002,2013), Giáo trình “Tội phạm học”, Nhà
xuất bản Công an nhân dân;
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình “Luật hình sự Việt Nam - 2
tập”, Nhà xuất bản Công an nhân dân;
- Phạm Văn Tỉnh (2007), “Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt
Nam”, Nhà xuất bản Công an nhân dân;
Các sách, giáo trình là những kết quả nghiên cứu của các tác giả được thực hiện trong nhiều năm, các sách, giáo trình này đưa ra các căn cứ, luận điểm về lý luận, các khái niệm, đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản của tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng ở các khía cạnh luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự Đây là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng vì các tài liệu này không chỉ chứa đựng lý luận tội phạm học về các vấn đề cơ bản mà đề tài luận án phải giải quyết mà còn có những chỉ dẫn trong việc xác định phương pháp luận nghiên cứu đề tài, từ tổng quan cho đến chi tiết
1.2.3 Các công trình nghiên cứu, tài liệu liên quan đến tội phạm mua bán người
- “Báo cáo đánh giá hệ thống pháp luật của Việt Nam trên tinh thần các Nghị định thư của Liên hợp quốc về chống buôn bán người và di cư trái phép, bổ sung cho công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia”,
công bố năm 2004, bản báo cáo là kết quả nghiên cứu trong khuôn khổ Dự
án“Tăng cường năng lực các cơ quan tư pháp và hành pháp trong phòng ngừa và
đấu tranh chống tội phạm buôn bán người ở Việt Nam” của tập thể các chuyên gia
pháp luật thuộc Vụ pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ Tư pháp Báo cáo tập trung
so sánh, đánh giá tính tương thích giữa hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
có liên quan của Việt Nam và Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia, Nghị định thư bổ sung Công ước về phòng ngừa, trấn áp
và trừng phạt tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, đánh giá khía cạnh
Trang 2118
pháp lý và khả năng Việt Nam tham gia hai văn kiện này Báo cáo cũng đưa ra các đánh giá và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm mua bán người
- “Báo cáo tổng hợp về buôn bán phụ nữ và trẻ em Việt Nam”, đây là công
trình nghiên cứu của tổ chức ActionAid Việt Nam (viết tắt AAV), công bố năm
2005 Báo cáo là kết quả nghiên cứu cấp quốc gia/vùng lãnh thổ tại Campuchia, Đài Loan (Trung Quốc) và Việt Nam Đây là một phần trong Dự án về phòng, chống buôn bán người do ActionAid Việt Nam khởi xướng nhằm xây dựng mạng lưới xuyên quốc gia hỗ trợ tốt hơn cho các nạn nhân là phụ nữ và trẻ em Việt Nam Báo cáo được tổng hợp theo bốn vấn đề gồm: tìm hiểu tình trạng phụ nữ và trẻ em
bị buôn bán tại nguyên quán của họ, tìm hiểu về hiện trạng tại nơi đến, tiếp cận những biện pháp can thiệp và đưa ra kiến nghị cho ActionAid Việt Nam về những can thiệp cho chương trình trong tương lai Báo cáo đã xác định được các đối tác tiềm năng trong Chương trình Phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em của AAV tại 3 quốc gia nghiên cứu; xác định bản chất, mức độ, địa điểm và thành phần cụ thể của chương trình can thiệp dành cho người bị buôn bán, cộng đồng có người ra
đi trong lĩnh vực nghiên cứu; tìm hiểu điều kiện sống của phụ nữ và trẻ em Việt Nam tại Campuchia, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc); tiếp cận tình hình, hình thức buôn bán, xu thế, nguyên nhân, hậu quả tại mỗi địa điểm xác định và đưa ra các kiến nghị cho các chương trình
- “Báo cáo tổng quan về di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài”, đây là
công trình nghiên cứu của 4 tác giả Đặng Nguyệt Ánh, Lê Kim Sa, Nghiêm Thị Thủy, Phi Hải Nam, công bố năm 2011 Báo cáo là kết quả nghiên cứu bức tranh toàn cảnh về quá trình di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài từ năm 2000-
2010, trong đó làm rõ các khái niệm liên quan đến di cư, các công tác quản lý và những bất cập trong quá trình di cư tạo cơ hội để tội phạm mua bán người tồn tại
và phát triển
- “Nghiên cứu về mua bán trẻ em trai tại Việt Nam”, đây là công trình nghiên
cứu của Tổng cục Thống kê phối hợp với Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) tại Việt Nam thực hiện, công bố tháng 01/2012 Nghiên cứu đưa ra một số bằng chứng ban đầu về tình trạng mua bán trẻ em trai xảy ra ở Việt Nam, cả trong nước và nước ngoài Trong thời gian qua, trẻ em trai bị mua bán nhằm mục đích bóc lột lao động, làm ăn xin và bán rong trên đường phố, hành nghề/bóc lột tình dục và nhận con nuôi Nghiên cứu chỉ ra thực trạng các trường hợp trẻ em trai bị mua bán nhưng
Trang 2219
trong hệ thống báo cáo chính thức của chính quyền địa phương lại không có trường hợp mua bán trẻ em trai nào hoặc không có số liệu thống kê chính thức về tình hình này Đồng thời, chỉ ra những yếu kém trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người nói chung và mua bán trẻ em trai nói riêng, từ đó đưa ra một
số kiến nghị để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh đối với tội phạm này
- Một số đề tài đề cập đến hoạt động phòng ngừa và điều tra tội phạm mua bán
người như: Nguyễn Quang Dũng (1996), Tổ chức tiến hành một số hoạt động điều
tra ban đầu các vụ án mua bán phụ nữ qua biên giới Việt Trung, Hà Nội, Đề tài
nghiên cứu khoa học; Phạm Đang Quyền (1999), Điều tra tội phạm buôn bán phụ nữ
và trẻ em qua biên giới của lực lượng cảnh sát nhân dân, Hà Nội; Một số tài liệu
hướng dẫn về điều tra, truy tố, xét xử đối với tội mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em, một số bài viết trên các tạp chí, các báo cáo của các cơ quan: Công an, Viện kiểm sát, Tòa án
- Các bài viết ở các tạp chí chuyên ngành như: Trần Minh Hưởng (2003),
“Đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em ở nước ta trong tình hình mới”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 7; Vương Hoàng Cảnh (2004), “Cuộc chiến với tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em”, Tạp chí Lao động và xã hội, số
253; Đặng Thu Hiền (2006), “Một số giải pháp phòng ngừa tội phạm mua bán phụ
nữ và trẻ em”, Tạp chí Kiểm sát, số 21; Lương Thanh Hải (2006), “Phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và pháp
luật, số 3; Kim Long (2008), Một số vấn đề lý luận về tội phạm mua bán phụ nữ,
trẻ em, Thông tin khoa học xét xử số 03 Các bài viết đề cập đến một khía cạnh,
một vấn đề cụ thể liên quan đến tội phạm mua bán người
- Các tài liệu tập huấn: Bộ Công an – Tổng cục cảnh sát – Bộ Quốc phòng –
Bộ Tư lệnh Biên phòng (2007), Sổ tay hướng dẫn điều tra vụ án buôn bán người, Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội ; Ban chỉ đạo Commit Việt Nam (2008), Bộ tài liệu
tập huấn liên ngành về phòng, chống buôn bán người, NXB Công an nhân dân, Hà
Nội; Asean (2009), Tài liệu tập huấn của Asean về nâng cao nhận thức phòng,
chống tội phạm buôn người cho Thẩm phán và Kiểm sát viên, Thành phố Hồ Chí
Minh; Bộ Công an – Vụ pháp chế (2012), Tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật
Phòng, chống mua bán người, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội ; Tài liệu Hội thảo Tình hình phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài và việc phòng, chống mua bán
phụ nữ, trẻ em qua biên giới – Những vấn đề đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật hôn nhân và gia đình, được tổ chức tại tỉnh Vĩnh Long tháng 7/2012
Trang 2320
Các tài liệu này cung cấp những nghiên cứu, thông tin, kỹ năng cơ bản về phòng, chống tội phạm mua bán người Đây là những tài liệu được biên soạn bởi chính những tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình phòng, chống tội phạm mua bán người nên mang tính thực tiễn cao Tuy nhiên, các tài liệu chủ yếu mang tính hướng dẫn và báo cáo là chính, thiếu tính tổng hợp và khái quát
1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu các công trình trong nước và ngoài nước về tội phạm mua bán người như đã đề cập ở trên, tác giả có một số nhận xét, đánh giá về các kết quả nghiên cứu như sau:
1.3.1 Về các công trình nước ngoài
- Thứ nhất, các công trình nghiên cứu, đặc biệt là các văn kiện đã đề cập và
phân tích các nguyên tắc, kế hoạch hành động, trong đó chỉ rõ các bước cần tiến hành để thực hiện các nguyên tắc, đặc biệt đưa ra được khái niệm về buôn bán người, cũng như mô tả được các hành vi, yếu tố cấu thành tội phạm mua bán người Đây là điểm xuất phát rất quan trọng, là cơ sở lý luận mang tính chất tiền đề
để tác giả luận án tiếp tục đi sâu phân tích cơ sở lý luận và có sự so sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về phòng, chống tội phạm mua bán người
- Thứ hai, các công trình nghiên cứu nước ngoài thường được thực hiện thông
qua điều tra xã hội học, thông qua các cuộc điều tra các tác giả chỉ ra thực trạng và
đề xuất kiến nghị trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn Cách tiếp cận này, có ưu điểm là xác với thực tế, đưa ra các kiến nghị phù hợp tại phạm vi nghiên cứu nhưng hạn chế là không mang tính khái quát (các tác phẩm thường được trình bày dưới dạng câu hỏi khảo sát, trả lời)
- Thứ ba, pháp luật Việt Nam và thế giới còn tồn tại sự khác biệt, trong đó có sự
khác biệt về khái niệm tội phạm mua bán người giữa các nước với nước ta, thể hiện rõ nhất ngay cách dùng từ để chỉ về loại tội phạm này, đa số các nước dùng “buôn bán người”, nước ta là “mua bán người”, cũng như một số yếu tố cấu thành tội phạm…
- Thứ tư, các công trình nghiên cứu đã xác định được các đối tác tiềm năng trong
các Chương trình Phòng, chống mua bán người, đặc biệt là mua bán phụ nữ, trẻ em tại các quốc gia, vùng lãnh thổ nơi đến và điểm xuất phát, cũng như xác định bản chất, mức độ, địa điểm, hình thức buôn bán, xu hướng, nguyên nhân, hậu quả tại mỗi địa điểm đã xác định Xác định các lỗ hổng trong đáp ứng nhu cầu phòng, chống mua bán người giữa các quốc gia từ đó đưa ra các kiến nghị cho các chương trình hợp tác về
Trang 2421
phòng, chống mua bán người, đặc biệt là mua bán phụ nữ, trẻ em trong tương lai với các lĩnh vực đã được xác định
- Thứ năm, các công trình nghiên cứu nước ngoài đã cung cấp cho tác giả một cái
nhìn toàn diện, đa chiều về tình hình tội phạm mua bán người ở các nước và công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên phạm vi các nước và thế giới, từ đó giúp tác giả có cơ sở để nghiên cứu, so sánh với thực trạng đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người ở nước ta, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng
1.3.2 Về các công trình trong nước
- Thứ nhất, các công trình cho thấy có nhiều cách tiếp cận ở các góc độ khác
nhau từ góc độ tội phạm học, góc độ pháp lý hình sự đối với tội phạm mua bán người Các công trình nghiên cứu cũng đã thống nhất về mặt nhận thức lý luận về tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng Các tác giả đều khẳng định tội phạm mua bán người tại nước ta ngày càng phức tạp và cần sự nỗ lực của toàn xã hội để đẩy lùi tội phạm này Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu tội phạm mua bán người trên phạm vi toàn quốc, một số công trình được nghiên cứu đã từ lâu ở giai đoạn trước khi Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Bộ luật hình sự năm 2015, Luật phòng, chống mua bán người được ban hành
- Thứ hai, các công trình nghiên cứu đã thống nhất về nhận thức lý luận về
tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội phạm mua bán người nói riêng, bao gồm: Phần ẩn của tình hình tội phạm; Phần hiện của tình hình tội phạm; Thực trạng (mức độ) của tình hình tội phạm Động thái (diễn tiến) của tình hình tội phạm; Tính chất của tình hình tội phạm; Cơ cấu của tình hình tội phạm; Đánh giá tình hình tội phạm theo cơ cấu, động thái và tính chất của tình hình tội phạm để làm cơ sở để tìm
ra nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm, từ đó đưa ra dự báo và đề ra các giải pháp khắc phục
- Thứ ba, các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ vai trò phòng, chống của
tình hình tội phạm, thiếu một trong hai mặt này thì không thể từng bước giải quyết
có hiệu quả vấn đề tội phạm, dần loại nó ra khỏi đời sống xã hội Các công trình nghiên cứu cũng đều thống nhất đánh giá vai trò nổi trội của phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa tội phạm mua bán người nói riêng, trong sự so sánh vai trò giữa phòng và chống tội phạm
Trang 2522
- Thứ tư, các công trình nghiên cứu đã được công bố thời gian qua về tình hình
mua bán người (mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em) trên một địa bàn cụ thể, đã đi sâu nghiên cứu được những đặc trưng pháp lý, cũng như khái quát được công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm mua bán người trên một địa phương cụ thể trong một giai đoạn nhất định, trong đó đã thống kê đầy đủ số lượng vụ, đối tượng, nạn nhân, đồng thời cũng tìm ra được các nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm và đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này Đây là những nghiên cứu hữu ích sẽ được tác giả kế thừa trong quá trình nghiên cứu Tuy nhiên, bản thân tình hình tội phạm mua bán người thời gian qua luôn biến đổi và chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phân tích nguyên nhân và điều kiện để tội phạm mua bán người tồn tại và phát triển từ đó đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống mua bán người trên phạm vi cả nước Các công trình, đề tài nghiên cứu, sách chuyên khảo, các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành… là những điều kiện hỗ trợ cho việc thực hiện luận án
- Thứ năm, đã có một số công trình nghiên cứu về nạn nhân của tội phạm mua
bán người nhưng chưa được nghiên cứu sâu, vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu sâu để
có cách hỗ trợ phù hợp
1.3.3 Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
- Trên cơ sở khảo cứu, hệ thống hoá các công trình khoa học đi trước có liên quan đến đề tài luận án, tác giả kế thừa có chọn lọc và phát triển ý tưởng khoa học, từ
đó đưa ra những luận điểm của mình về vấn đề nghiên cứu
- Bên cạnh việc nghiên cứu hệ thống các quy phạm pháp luật về tội phạm mua bán người, luận án sẽ tập trung hướng nghiên cứu vào thực tiễn phòng, chống tội phạm mua bán người thời gian qua tại Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn từ năm 2010 đến nay (thời điểm Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 có hiệu lực thi hành) Từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá về những khó khăn, phức tạp trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện
- Một hướng tiếp cận khác cũng được luận án chú trọng là nghiên cứu lý luận
về quyền con người và cơ sở thực tiễn của nó, sự liên quan giữa quyền con người với tội phạm mua bán người, từ đó đưa ra các giải pháp căn bản từ gốc để nâng cao hiệu quả đấu tranh với tội phạm này
Trang 26KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội phạm mua bán người với nhiều cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau từ góc độ tội phạm học, góc độ pháp lý hình sự đối với tội phạm mua bán người Các công trình nghiên cứu của chương này đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh, đa diện về tình hình nghiên cứu tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng trên thế giới
Tại Việt Nam, tội phạm mua bán người chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây, tuy nhiên do tính chất nghiêm trọng và phức tạp của loại tội phạm này nên đã
có nhiều công trình nghiên cứu, tuy nhiên các công trình nghiên cứu đã được công
bố thời gian qua về tình hình tội phạm mua bán người (mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em) là các công trình nghiên cứu trên một địa bàn cụ thể hoặc đã được nghiên cứu trước khi Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 và Bô luật hình sự năm 2015, Luật Phòng, chống mua bán người được ban hành Vì vậy, cần có một công trình nghiên cứu, các vấn đề lý luận mới liên quan đến tội phạm mua bán người Mặt khác, bản thân tình hình tội phạm mua bán người thời gian qua luôn biến đổi và chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phân tích nguyên nhân và điều kiện để tội phạm mua bán người tồn tại và phát triển từ đó đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống mua bán người trên phạm vi cả nước Đây chính là những nội dung chính mà luận án sẽ tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ cả về mặt lý luận và thực tiễn để từ đó làm cơ sở đưa ra các giải pháp phù hợp đối với công tác phòng, chống tội phạm mua bán người trong thời gian tới
Trang 2724
Chương 2 TỘI PHẠM MUA BÁN NGƯỜI VÀ TÌNH HÌNH TỘI PHẠM MUA BÁN
NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Tội phạm mua bán người theo quy định của luật hình sự Việt Nam hiện hành
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm tội phạm mua bán người
Vấn đề nhận thức khái niệm tội phạm về mua bán người có ý nghĩa rất quan trọng, bởi lẽ đó là cơ sở, lý luận đầu tiên cho việc xây dựng và thực hiện các giải pháp phòng, chống tội phạm mua bán người
Luật quốc tế và Luật hình sự Việt Nam có sự khác biệt về việc sử dụng thuật ngữ để phản ánh nội hàm của khái niệm về tội phạm này Nghị định thư của LHQ
về phòng, chống buôn bán người năm 2000 gọi là “buôn bán người” (trafficking in persons) Tại Việt Nam, hành vi mua bán người trước ngày 19/6/2009 chưa được pháp luật hình sự quy định mà chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp hơn đó là hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em Ngày 19/6/2009, Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm
1999, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2010 Theo đó, Điều 119 “Tội mua bán phụ nữ” được sửa thành “Tội mua bán người” và được quy định tại Điều 119 và sửa đổi bổ sung Điều 120 “Tội mua bán trẻ em” Ngày 27/11/2015, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật số 100/2015/QH13 ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 Theo đó, Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 “Tội mua bán người” được sửa đổi, bổ sung và quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 Riêng Điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999 “Tội mua bán trẻ em” được đổi thành “Tội mua bán người dưới 16 tuổi” được quy định tại Điều 151 Bộ luật hình sự năm 2015
và bổ sung thêm Điều 154 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người”
Tuy được dùng khá phổ biến trong các văn bản pháp luật nhưng cách sử dụng thuật ngữ liên quan đến tội phạm này hiện nay cũng chưa thống nhất Trong khi nhiều văn bản đề cập đến thuật ngữ “buôn bán” phụ nữ, trẻ như: Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, các văn bản thuộc Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em giai đoạn từ 2004 đến năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ… thì Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 chỉ có tội mua bán người và tội mua bán trẻ em hay Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tội mua bán người, tội mua bán
Trang 28“traffick, trafficked, trafficking (in some thing)” trong đó “buôn bán người” là
“trafficking in persons”, “buôn bán phụ nữ” là “trafficking in woman”, “buôn bán trẻ em” là “trafficking in children” [14, tr.202-tr.1284] thay vì dùng “mua bán” theo nghĩa thông thường (purchase and sale) Vì vậy, có ý kiến cho rằng cách gọi của Luật quốc tế mang tính chất trao đổi thương mại và mục đích lợi nhuận cụ thể hơn, trong khi cách gọi của Luật hình sự Việt Nam chỉ dừng lại ở hình thức trao đổi
“tiền-hàng” đó là mua và bán Tuy nhiên, về bản chất thì buôn bán hay mua bán trong tiếng Việt và tiếng Anh giống nhau ở chỗ nó đều là những từ có thể được dùng để mô tả hành vi trao đổi, trong đó một bên dùng tiền hoặc các vật có giá trị khác để đổi lấy hàng hóa và ngược lại
Khái niệm buôn bán hay mua bán người không giống buôn bán hay mua bán thuộc phạm trù kinh tế thông thường mà cần được xem xét dưới góc độ pháp lý hình
sự Làm rõ khái niệm buôn bán người hay mua bán người chính là xác định hành vi khách quan, bản chất pháp lý của tội phạm mua bán người
Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 không có quy định cụ thể về dấu hiệu khách quan của hành vi mua bán người nhưng tại Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 23/7/2013 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Quốc phòng – Bộ Tư pháp đã đưa ra định nghĩa về hành vi mua bán người và mua bán trẻ em như sau:
“Mua bán người” là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác
để trao đổi người (từ đủ 16 tuổi trở lên) như một loại hàng hóa; cụ thể là một trong
Trang 2926
các hành vi sau đây:
1 Bán cho người khác, không phụ thuộc vào mục đích của người mua
2 Mua người để bán lại cho người khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào
3 Dùng người như là tài sản để trao đổi, thanh toán
4 Mua người để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì các mục đích trái pháp luật khác
5 Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán người được hướng dẫn tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người
“Mua bán trẻ em” là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để
trao đổi trẻ em (người dưới 16 tuổi) như một loại hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi sau đây:
a) Bán trẻ em cho người khác, không phụ thuộc vào mục đích của người mua; b) Mua trẻ em để bán lại cho người khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào;
c) Dùng trẻ em làm phương tiện để trao đổi, thanh toán;
d) Mua trẻ em để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì mục đích trái pháp luật khác Nghiên cứu các quy phạm pháp luật có liên quan đến tội phạm mua bán người của Việt Nam và so sánh với Luật quốc tế, có thể thấy rằng, quan niệm về tội phạm mua bán người trong pháp luật Việt Nam mặc dù có một số điểm tương đồng với luật quốc tế nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt, thể hiện:
- Về hành vi, tội mua bán người theo pháp luật Việt Nam chỉ quy định khái quát hành vi mua bán Luật hình sự Việt Nam không liệt kê các hành vi cụ thể như: Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp và nhận người là những hành vi xảy ra trong toàn bộ quá trình mua bán người được nêu trong định nghĩa của Nghị định thư năm
2000 về chống buôn bán người Pháp luật Việt Nam coi hành vi tuyển mộ, vận chuyển, đưa chuyển, chứa chấp và tiếp nhận là các hành vi đồng phạm Trong trường hợp chứng minh được một người thực hiện hành vi tuyển mộ, vận chuyển, đưa chuyển, chứa chấp và tiếp nhận người với mục đích mua bán người đó thì sẽ bị
xử lý về tội mua bán người với vai trò đồng phạm
- Về phương thức, Luật hình sự Việt Nam không nêu cụ thể phương thức thực hiện hành vi phạm tội, trong khi đó, Nghị định thư năm 2000 về chống buôn bán người quy định các hành vi nói trên phải được thực hiện theo các phương thức như:
Trang 3027
đe dọa sử dụng, sử dụng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị thương tổn hoặc bằng việc cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với những người khác Tuy nhiên trong trường hợp đối tượng bị xâm hại là trẻ em thì không cần tính đến việc tội phạm có sử dụng hay không sử dụng các phương thức này
- Về mục đích, theo Nghị định thư năm 2000 về chống buôn bán người thì một trong những dấu hiệu quan trọng để xác định tội phạm mua bán người chính là yếu tố bóc lột Theo Nghị định thư năm 2000 về chống buôn bán người thì mục đích “để bóc lột” là một trong những yếu tố bắt buộc cấu thành buôn bán người Đây chính là một trong những dấu hiệu để phân biệt “buôn bán người” với “đưa người di cư trái phép” Cùng là một hành vi đưa người qua biên giới, nhưng người
di cư trái phép được tự do định đoạt cuộc sống của họ, còn người bị buôn bán thì phải sống trong sự kiểm soát và bị bóc lột bởi tội phạm mua bán người Theo Luật hình sự Việt Nam, động cơ, mục đích, thủ đoạn thực hiện tội phạm không phải là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm Chỉ cần có hành vi chuyển giao người để đổi lấy tiền, lợi ích vật chất là cấu thành tội phạm
- Về đối tượng bị mua bán, Nghị định thư năm 2000 về chống buôn bán người
đề cập cụ thể về đối tượng bị buôn bán, gồm: đàn ông, phụ nữ, trẻ em Trong khi đó pháp luật Việt Nam trước ngày 19/6/2009 chỉ quy định đối tượng bị mua bán là phụ
nữ, trẻ em Ngày 19/6/2009, Quốc hội ban hành Luật số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2010) thì tội mua bán phụ nữ được sửa thành tội mua bán người Do đó, nạn nhân hay đối tượng của hành vi mua bán không phân biệt là nữ hay nam; nếu từ đủ
16 tuổi trở lên thì người phạm tội phạm tội mua bán người
Đối với trường hợp mua bán trẻ em thì ngoài sự khác nhau về hành vi (mua bán và buôn bán) nêu trên, quan niệm thế nào là trẻ em giữa pháp luật Việt Nam và Nghị định thư năm 2000 về chống buôn bán người có sự khác biệt Pháp luật Việt Nam coi trẻ em là người dưới 16 tuổi, trong khi đó Nghị định thư năm 2000 về chống buôn bán người quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi Vì vậy, trong trường hợp nạn nhân từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị mua bán thì pháp luật Việt Nam và luật quốc tế sẽ xét xử khác nhau
Bộ luật hình sự năm 2015 được ban hành đã phần nào khắc phục những điểm khác biệt trên cụ thể như đổi tội danh Điều 120 BLHS năm 1999 “Tội mua bán trẻ
Trang 3128
em” thành “Tội mua bán người dưới 16 tuổi” và bổ sung thêm Điều 154 quy định
về “Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người” (xem phụ lục)
2.1.2 Đặc trưng pháp lý của tội mua bán người, mua bán trẻ em
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Bộ luật hình sự có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phòng ngừa, đấu tranh, chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Bộ luật hình sự quy định
về tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội Chỉ người nào phạm một tội đã được quy định trong Bộ luật hình sự mới phải chịu trách nhiệm hình sự, vì vậy việc nghiên cứu, nắm vững các quy định của Bộ luật hình sự về tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng để vận dụng đúng đắn trong thực tiễn là vấn đề
có ý nghĩa rất quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm mua bán người
Theo quy định của pháp luật hình sự, hành vi mua bán người trước ngày 19/6/2009 chưa được pháp luật hình sự quy định mà chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp hơn đó là hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em Đến ngày 19/6/2009, Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2010 Theo
đó, Điều 119 “Tội mua bán phụ nữ” được sửa thành “Tội mua bán người” và sửa đổi bổ sung Điều 120 “Tội mua bán trẻ em” Để hiểu rõ hơn về các tội này, chúng
ta cùng nghiên cứu, làm rõ dấu hiệu pháp lý của từng tội
2.1.2.1 Tội mua bán người (Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ
sung năm 2009)
So với Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 chưa sửa đổi, bổ sung thì Điều
119 mới có thay đổi tội danh từ “mua bán phụ nữ” thành “mua bán người” Do đó, nạn nhân hay đối tượng của hành vi mua bán không phân biệt giới tính là nữ hay nam, nếu từ đủ 16 tuổi trở lên thì người phạm tội phạm tội “mua bán người”; nếu nạn nhân dưới 16 tuổi thì người phạm tội phạm tội “mua bán trẻ em” quy định tại Điều 120 Bộ luật hình sự
Cùng với đó, điểm a khoản 2 thay đổi cụm từ “mua bán phụ nữ vì mục đích mại dâm” thành “vì mục đích mại dâm” Bổ sung một số tình tiết tăng nặng định khung là: Điểm d “Để lấy bộ phận cơ thể nạn nhân”; điểm đ “Để đưa ra nước ngoài”; các điểm e và điểm g tương tự như điểm đ, e của Bộ luật hình sự chưa được sửa đổi, bổ sung nhưng thay cụm từ “mua bán nhiều người” bằng “đối với nhiều người” và “mua bán nhiều lần” bằng “phạm tội nhiều lần”
Trang 3229
Chế tài tại các khung hình phạt của điều này không thay đổi
Căn cứ vào nội dung điều luật và các văn bản hướng dẫn có thể khái quát các dấu hiệu của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam là:
- Khách thể của tội phạm: Người phạm tội đã coi con người như là hàng hóa
để mua, bán, trao đổi nhằm mục đích kiếm lời Hành vi này xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự, quyền tự do, quyền con người Đối tượng mua bán của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên không phân biệt nam, nữ
- Mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm là hành vi mua, bán người từ đủ 16 tuổi trở lên để lấy tiền, hàng hóa, lợi ích vật chất khác, để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì các mục đích trái pháp luật khác hoặc dùng người như
là tài sản để trao đổi, thanh toán
Việc người bị hại có đồng ý đưa họ ra để mua, bán hay không có ý nghĩa để cấu thành tội phạm, nếu có thì cũng chỉ có ý nghĩa về việc áp dụng hình phạt (lượng hình)
Tội phạm được coi là hoàn thành khi nạn nhân bị đem ra mua hoặc bán Nếu người phạm tội đã thực hiện hành vi tìm người, liên hệ nơi bán, thỏa thuận giá cả nhưng chưa thực hiện hành vi mua, bán do những nguyên nhân ngoài ý muốn thì coi là phạm tội chưa đạt, vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự Nếu tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (tuy không có gì ngăn cản) thì được miễn trách nhiệm hình
sự về tội định phạm
- Chủ thể của tội phạm: Người có năng lực trách nhiệm hình sự và đến thời điểm thực hiện tội phạm theo khoản 1 Điều 119 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên, còn theo khoản 2 Điều 119 BLHS là người từ đủ 14 tuổi trở lên
- Mặt chủ quan của tội phạm:
Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp: Nhận thức rõ hành vi nguy hiểm cho xã hội Người phạm tội phải nhận thức được hành vi của mình là hành vi mua bán người thì mới là hành vi phạm tội, nếu họ không nhận thức được là hành vi mua bán người thì không phải là tội phạm Tội mua bán người theo Điều 119 BLHS có cấu thành tội phạm hình thức Chỉ cần người có một trong những hành vi được miêu
tả trong điều luật thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này mà không cần quan tâm đến hậu quả của hành vi đã xảy ra chưa và ở mức độ nào Nghĩa là ngay cả khi hành vi mua bán chưa hoàn thành, chưa diễn ra việc giao nhận tiền hoặc tài sản hoặc không cần chứng minh trong quan hệ mua bán phải có đủ cả người mua
Trang 3330
và người bán… thì cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện Chủ thể thực hiện hành vi luôn hướng tới mục tiêu trục lợi, kiếm tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác phát sinh từ hành vi mua bán đó Do đó, họ thực hiện hành vi vi phạm luôn luôn với lỗi cố ý
Vì là mua bán nên dấu hiệu thu lợi cũng là một dấu hiệu quan trọng nhưng nó không phải là dấu hiệu bắt buộc, việc người phạm tội có thu lợi hay không, điều đó không có ý nghĩa về mặt định tội, nếu có thì cũng chỉ có ý nghĩa về việc áp dụng hình phạt (lượng hình)
Điều 119 quy định hai khung hình phạt Khung cơ bản có mức hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm Khung nặng hơn ở khoản 2 có mức phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm
2.1.2.2 Tội mua, bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120 Bộ luật
hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009)
So với Điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999 chưa sửa đổi bổ sung thì Điều 120
Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 không thay đổi về tội danh, chỉ sửa đổi, bổ sung tình tiết định khung tăng nặng Mặc dù có bổ sung một
số tình tiết định khung tăng nặng nhưng chế tài của khoản 2 Điều 120 không thay đổi so với Bộ luật hình sự năm 1999 chưa sửa đổi, bổ sung
Điều 120 BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định nhiều hành
vi phạm tội độc lập với nhau nhưng cùng xâm phạm đến một đối tượng, đó là trẻ
em Tội phạm này cũng tương tự như một số tội phạm khác quy định nhiều hành vi phạm tội tương tự với nhau về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội trong cùng một điều luật nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm Thực tiễn xét xử cho thấy nhiều vụ án người phạm tội vừa có hành vi chiếm đoạt, vừa có hành vi mua bán, lại vừa có hành vi đánh tráo trẻ em, nếu tách các hành vi đó ra để truy cứu trách nhiệm hình sự về từng tội phạm riêng thì cũng được nhưng nhà làm luật đã quy định chung trong cùng một điều luật Tùy từng trường hợp cụ thể, các cơ quan tiến hành tố tụng cần vận dụng cho phù hợp
Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn, rút ra các dấu hiệu của tội mua bán trẻ em là:
- Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm hại quyền tự do thân thể của trẻ em
và quyền được chăm sóc, giáo dục của trẻ em
- Mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện ở hành vi: Mua bán trẻ em
là hành vi trao đổi trẻ em lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác Như vậy, hành vi mua
Trang 34+ Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự mà các hành vi đó có liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện hoặc là hệ quả tất yếu của hành vi phạm tội kia) thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh đầy đủ đối với tất cả các hành vi đã được thực hiện theo Điều 120 Bộ luật hình sự và chỉ phải chịu một hình phạt
Ví dụ: một người đánh tráo trẻ em rồi chiếm đoạt đứa trẻ bị đánh tráo đó và bán cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tên tội danh là mua bán, đánh tráo và chiếm đoạt trẻ em theo Điều 120 BLHS và phải chịu một hình phạt + Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 120 Bộ luật hình sự mà các hành vi đó độc lập với nhau thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội độc lập mà người đó đã thực hiện Khi xét xử, Tòa án
áp dụng Điều 50 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt chung
Ví dụ: một người mua một đứa trẻ để bán lại cho người khác và bị bắt, sau đó phát hiện người đó còn thực hiện hành vi chiếm đoạt một đứa trẻ khác Trong trường hợp này, người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ
em và tội chiếm đoạt trẻ em theo quy định tại Điều 120BLHS Đối với trường hợp này, Tòa án quyết định mức hình phạt tương ứng đối với từng tội và sau đó quyết định hình phạt chung cho cả hai tội theo quy định tại Điều 50 BLHS [21]
Người bị hại trong tội danh này là người dưới 16 tuổi Tuổi của người bị hại là một tình tiết thuộc yếu tố khách quan không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người phạm tội, chỉ cần xác định người bị hại là dưới 16 tuổi mà người phạm tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt là phạm tội
- Chủ thể của tội phạm: Là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đến thời điểm thực hiện tội phạm từ đủ 14 tuổi trở lên
- Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm thực hiện do lỗi cố ý
Điều 120 quy định hai khung hình phạt Khung cơ bản có mức hình phạt tù từ
ba năm đến mười năm Khung tăng nặng ở khoản 2 có mức phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân
Trang 3532
Ngoài ra, khoản 3 Điều 120 Bộ luật hình sự còn quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm
2.1.3 Phân biệt tội phạm mua bán người với các hành vi đưa người di cư trái phép
Theo báo cáo của tổ chức di dân thế giới hiện nay trên thế giới có trên 200 triệu người sinh sống, làm việc ngoài lãnh thổ quốc gia của mình Trong bối cảnh mua bán người và đưa người di cư trái phép thì việc phân biệt hai hành vi này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tội danh và đấu tranh phòng, chống tội phạm
vì tội phạm mua bán người không chỉ xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm con người mà còn xâm trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người nên thường có khung hình phạt cao hơn nhiều so với hành vi đưa người di cư trái phép là loại tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước về xuất nhập cảnh Việc phân biệt này còn có ý nghĩa trong việc phát hiện và áp dụng những biện pháp đặc biệt
để hỗ trợ nạn nhân của tội phạm mua bán người vì thường họ bị bắt lao động khổ sai giống như nô lệ hoặc làm việc tại các nhà chứa, làm nô lệ tình dục, bị tước đoạt hoặc hạn chế tự do, không có cơ hội thoát khỏi nơi giam giữ… Thực tiễn đã có nhiều trường hợp lầm lẫn giữa tội phạm mua bán người và đưa người di cư trái phép vì nhiều hành vi của tội phạm mua bán người cũng có dấu hiệu của hành vi đưa người di cư trái phép như sử dụng giấy tờ giả để đưa người vượt biên hoặc vượt biên trái phép, cả hai hành vi này thường có yếu tố thu lợi nhuận Mua bán người và đưa người di cư trái phép là hai loại tội phạm khác nhau, có thể phân biệt dựa vào ba yếu tố cơ bản sau:
- Sự đồng tình: “đưa người di cư trái phép” mặc dù được thực hiện trong các điều kiện tồi tệ nhưng có sự đồng ý của người di cư với việc đưa trái phép người; trong khi đó, các nạn nhân của việc mua bán người không đồng ý hoặc buộc phải miễn cưỡng đồng ý Sự đồng ý của nạn nhân không có ý nghĩa trong việc định tội
- Yếu tố “bóc lột”: “đưa người di cư trái phép” kết thúc bằng việc người nhập
cư đến được địa điểm thỏa thuận, sau đó người này sẽ đi đâu, làm gì tùy ý, người phạm tội thu lợi trực tiếp từ việc đưa người di cư đến địa điểm đã thỏa thuận; còn tội mua bán người thường gắn với sự bóc lột nạn nhân theo một số phương thức nhất định để tạo ra những nguồn lợi nhuận bất hợp pháp cho tội phạm mua bán
Trang 362.2 Tình hình tội phạm mua bán người ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Phần hiện của tình hình tội phạm mua bán người
Nghiên cứu phần hiện của tình hình tội phạm mua bán người, cụ thể là nghiên cứu trên cơ sở những số liệu thống kê như sau:
Một là, số liệu thống kê của TAND tối cao Đây là nguồn số liệu phù hợp
pháp luật, có thể diễn giải, so sánh, đánh giá được và số liệu này cũng mang tính đại diện để phục vụ nghiên cứu
Hai là, số liệu thống kê không thường xuyên, thu thập 92 bản án hình sự các
loại Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu hồ sơ, phương pháp tổng hợp và phân tích để nghiên cứu nguồn số liệu này
Xét về chất liệu nghiên cứu, tác giả đã sử dụng báo cáo thống kê của Ban chỉ đạo 130 – Bộ Công an giai đoạn 2004 – 2009, số liệu báo cáo của TAND tối cao giai đoạn 2004 - 2015 Quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy cần phải thống kê, làm rõ một số khía cạnh khác nhau của tình hình tội phạm mua bán người thực hiện tại Việt Nam như: đặc điểm nhân thân của người phạm tội, yếu tố nạn nhân, thời điểm, phương thức, thủ đoạn gây án Các thống kê thường xuyên của Bộ Công
an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao không thống kê các nội dung này nhưng tại các báo cáo thống kê của TAND tối cao có thể hiện một số nội dung này nhưng không đầy đủ Vì vậy, để có chất liệu nghiên cứu cho cơ cấu chuyên biệt của tình hình tội phạm mua bán người thực hiện tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2015, tác giả còn sử dụng nguồn chất liệu nghiên cứu thứ 2 đó là 92 bản án với 230 bị cáo đã được xét
xử tại TAND các tỉnh, thành và của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử trong các năm từ 2000 – 2013 sẽ thể hiện trong Bảng 2.9 (xem
phụ lục)
Tác giả nhận thấy, giai đoạn 2004 – 2015, có 4.061 bị cáo bị xét xử liên quan
đến tội phạm mua bán người như Bảng 2.2 (xem phụ lục 1) Đây là nguồn thống kê
Trang 3734
thường xuyên và chính thức nên đã thể hiện cơ bản tình hình tội phạm mua bán người giai đoạn 2004-2015 Bên cạnh nguồn thống kê thường xuyên này, tác giả còn sử dụng nguồn thống kê không thường xuyên là 92 bản án với 230 bị cáo, số Bản án được thu thập từ 17 tỉnh, thành trên tổng số 63 tỉnh, thành tại Việt Nam là chưa đáp ứng được tính đại diện cho các địa bàn khác nhau Tuy nhiên, tác giả đã thu thập được số liệu thống kê của TAND tối cao đối với 63 tỉnh, thành trong phạm
vi cả nước xét xử các vụ án liên quan đến tội phạm mua bán người giai đoạn
2004-2015 và số liệu xét xử của từng, tỉnh, thành giai đoạn 2005-2004-2015 Ngoài ra, tác giả còn sử dụng số liệu của Bộ Công an thống kê tại một số tỉnh thành có tình hình tội phạm mua bán người phức tạp nhưng vì số liệu này không nhiều nên chỉ sử dụng mang tính chất tham khảo và củng cố thêm các nhận định trong việc nghiên cứu, so sánh đối chiếu với số liệu thống kê của TAND tối cao và bổ sung một số mặt mà trong tiêu chí thống kê của TAND tối cao chưa được đề cập đến Vì vậy, với chất liệu nghiên cứu như đã nêu, về cơ bản cũng đảm bảo chất phản ánh được tình hình tội phạm mua bán người giai đoạn 2004 - 2015 tại Việt Nam
2.2.1.1 Mức độ của tình hình tội phạm mua bán người
Về lý luận, mức độ của tình hình tội phạm là đặc điểm định lượng của tình hình tội phạm, bao hàm tổng thể những hành vi phạm tội đã xảy ra trong thực tế và các chủ thể thực hiện hành vi đó trong một đơn vị thời gian và không gian nhất định Tác giả sử dụng số liệu thống kê thường xuyên của TAND tối cao để đánh giá mức độ của tình hình tội phạm mà đề tài đang nghiên cứu
Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, từ năm 2004 đến 2015, ngành Tòa án đã giải quyết 2.090 vụ, với 4.061 bị cáo về tội mua bán người (phụ nữ), mua bán trẻ em Nếu so sánh số vụ liên quan đến tội phạm mua bán người đã đưa ra xét xử trên tổng số án hình sự sơ thẩm các loại mà Tòa án các cấp đã giải quyết thì số lượng vụ án này chỉ chiếm 0,28% (2.090/744.024 vụ) Điều này cho thấy số vụ mua bán người chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số các vụ án hình
sự mà ngành Tòa án đã giải quyết Tuy nhiên, không thể căn cứ vào tỷ lệ này mà cho rằng tội phạm mua bán người không nguy hiểm bằng các tội phạm khác mà cần xem xét vào tình hình diễn biến của tội phạm mà có cái nhìn tổng thể
Trang 38Thứ nhất, qua số liệu diễn biến các năm cho thấy tỷ lệ tội phạm mua bán
người không lớn, chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (chiếm 0,28% trong tổng số vụ án hình sự
mà ngành Tòa án nhân dân đã giải quyết), điều này cho thấy số vụ án mua bán người được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử thời gian qua là không nhiều
Thứ hai, tình hình tội phạm mua bán người có lúc tăng, lúc giảm nhưng nhìn
chung từ năm 2004 đến nay tội phạm mua bán người có chiều hướng đi lên Nếu lấy cột mốc khởi đầu từ năm 2005, mức độ của tình hình tội phạm mua bán người luôn tăng Không có năm nào giảm so với năm 2005 Trong đó, phải kể đến năm
2008, 2014 có sự tăng đột biến Và từ năm 2009 đến 2014, mức độ của tình hình tội phạm này luôn tăng, năm sau cao hơn năm trước Riêng năm 2015, số vụ có
Trang 3936
giảm nhưng nếu so sánh với tỷ lệ án hình sự trong năm 2015 thì tỷ lệ án liên quan đến tội phạm mua bán người lại tăng Điều này cho thấy mức độ của tình hình tội phạm mua bán người thực hiện luôn có sự vận động và thay đổi theo chiều hướng tăng dần Đây là vấn đề rất đáng báo động
Tuy nhiên nếu so từng năm thì từ năm 2005 đến năm 2008 tăng đều qua các năm, sau đó có chiều hướng giảm ở các năm 2009 – 2011, đến năm 2012, 2013 lại chuyển hướng tăng và đến năm 2013-2014 thì không tăng, không giảm và đến năm
2015 số vụ có giảm nhưng không nhiều Điều này cho thấy sự tác động của việc mạnh mẽ của việc sửa đổi, bổ sung của BLHS năm 1999 đến tình hình tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng Mặt khác, cho thấy, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người thời gian qua bước đầu phát huy hiệu quả nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn
Thứ ba, mức độ tình hình tội phạm mua bán người năm 2014 có sự tăng đột
biến, số vụ mua bán người đưa ra xét xử tăng 237,5% so với năm 2005 Nếu tính mức tăng theo phương pháp liên kế định gốc, tức là lấy năm 2005 là năm định gốc bằng 100%, thì các năm tiếp theo đều tăng và mức tăng bình quân của giai đoạn
2006 – 2014 là 187% Đây là mức tăng rất cao và cao hơn mức tăng tình hình tội phạm của cả nước giai đoạn này (tăng 113,5%)
2.2.1.2 Diễn biến của tình hình tội phạm mua bán người ở Việt Nam giai đoạn 2004-2015
“Diễn biến của tình hình tội phạm là sự phản ánh xu hướng tăng, giảm hoặc
ổn định tương đối của tội phạm nói chung (hoặc một tội hoặc nhóm tội) xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định và trên địa bàn nhất định”.[52]
Để làm rõ xu hướng của tình hình tội phạm mua bán người tại Việt Nam giai đoạn 2004-2015, phương pháp so sánh định gốc tính theo năm và tính theo giai đoạn
đã được áp dụng Kết quả so sánh định gốc theo năm được thể hiện ở Bảng 2.3 (Xem
phụ lục)
Xu hướng tăng mạnh của tình hình tội phạm mua bán người tại Việt Nam càng được khẳng định và thể hiện rõ thông qua phương pháp so sánh định gốc theo giai đoạn, tức là xem ba năm 2004, 2005, 2006 là giai đoạn định gốc và 2007, 2008, 2009;
2010, 2011, 2012; 2013, 2014, 2015 là các giai đoạn tiếp theo cho thấy các giai đoạn sau đều tăng Cụ thể: Giai đoạn 2007, 2008, 2009 tăng 58,97% về số vụ và 79,09% về
số bị cáo Giai đoạn 2010, 2011, 2012 tăng 45,58% về số vụ và 60,29% về số bị cáo Giai đoạn 2013, 2014, 2015 tăng 90,88% về số vụ và 118,8% về số bị cáo
Trang 4037
Giải thích cho xu hướng tăng mạnh của tình hình tội mua bán người tại Việt Nam những năm qua có nhiều lý do, trong đó phải nói đến hai lý do sau:
Thứ nhất, về lý do chủ quan, ở các giai đoạn sau sự xúc tiến mạnh việc thực
hiện các chương trình hành động đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người theo kế hoạch của Ban chỉ đạo 130/CP và Quyết định của Thủ tướng chính phủ phê duyệt chương trình phòng, chống tội phạm mua bán người theo các giai đoạn cụ thể
đã huy động được sự tham gia của các cấp, các ngành trong công tác đấu tranh đối với tội phạm này, nên tỉ lệ phát hiện tội phạm (tội phạm rõ) tăng lên
Thứ hai, xuất phát từ lý do khách quan là do tự thân của tình hình tội phạm
Cụ thể, những giải pháp phòng, chống tội phạm thời gian qua chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn nên tội phạm có điều kiện tồn tại và phát triển Ví dụ như giải pháp kinh tế chưa phát huy triệt để, chưa tạo công ăn việc làm cho người phạm tội nên có những
bị cáo sau khi chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, không có công ăn việc làm, họ lại tiếp tục phạm tội hoặc những nạn nhân bị bán sang bên kia biên giới một thời gian, sau đó trốn thoát trở về, nhưng không có việc làm, lại do đã từng là nạn nhân của tội phạm mua bán người nên biết được phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm đã dùng những thủ đoạn này đi lừa gạt những người khác để họ trở thành nạn nhân mới của tội phạm này
2.2.1.3 Cơ cấu của tình hình tội phạm mua bán người
a Cơ cấu theo phương thức thực hiện tội phạm
Phương thức thực hiện tội phạm là cách thức tội phạm thực hiện hành vi phạm tội, thông thường được chia làm 03 giai đoạn gồm: chuẩn bị, thực hiện hành vi phạm tội và che giấu tội phạm Tùy vào loại tội phạm mà có thể diễn ra cả 3 giai đoạn hoặc chỉ có 01 hoặc 02 giai đoạn Đối với tội phạm mua bán người thì thông thường bao gồm cả 3 giai đoạn, trong một số vụ án gồm có 02 giai đoạn là chuẩn bị
và thực hiện hành vi phạm tội, qua nghiên cứu không có trường hợp nào chỉ có 01 giai đoạn Trong từng giai đoạn phạm tội, phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm mua bán người có những biểu hiện khác nhau Nhưng qua nghiên cứu cho thấy, tội phạm mua bán người thường sử dụng một số thủ đoạn sau:
Thứ nhất, thủ đoạn phổ biến nhất mà tội phạm mua bán người thường sử dụng
đối với các nạn nhân là nữ và trẻ em gái là lợi dụng những phụ nữ, trẻ em có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trình độ văn hóa thấp, hay các cô gái quá lứa, lỡ thì hoặc các
bà vợ có chồng nghiện ma túy, rượu, bị chồng đánh đập để lừa gạt, dụ dỗ, lôi kéo bằng những lời hứa có việc làm nhàn hạ nhưng thu nhập cao, rồi tìm mọi cách đưa ra