1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

123 265 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội-2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố Những luận điểm mà luận văn kế thừa của những người đi trước đều ghi rõ xuất xứ và tên tác giả đã đưa ra luận điểm đó

Tác giả

Đậu Thị Yến

Trang 4

2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến nhân dân xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, đặc biệt là gia đình chủ xưởng đóng tàu đã tạo điều kiện để tôi tham gia sinh hoạt tại địa phương và tại xưởng tàu giúp tôi thu thập các thông tin quan trọng cho luận văn Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến chính quyền xã Nghi Thiết đã luôn giúp

đỡ tôi trong quá trình tiếp xúc với cư dân và cung cấp các tư liệu cần thiết cho luận văn Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến những người đã cung cấp thông tin cho tôi về nghề đóng tàu tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Nghiên cứu của tôi sẽ không thể thành công nếu như không có sự hướng dẫn nghiêm túc và chỉ bảo tận tình của TS Vũ Trường Giang đã hướng dẫn khoa học cho tôi để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Nhân học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ bảo tôi những kiến thức Nhân học quý báu trong 2 bậc học Cử nhân và Thạc sĩ

Hà Nội, tháng 01 năm 2016

Tác giả

Đậu Thị Yến

Trang 5

3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

DẪN LUẬN 5

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 10

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10

1.2 Tiếp cận lý thuyết 13

1.3 Phương pháp nghiên cứu 19

1.4 Khái quát địa bàn nghiên cứu 21

Chương 2 ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT 28

2.1 Sự ra đời của nghề đóng tàu thuyền 28

2.2 Vai trò của nghề đóng tàu trong đời sống kinh tế Nghi Thiết 32

2.3 Hoạt động đóng tàu thuyền ở xã Nghi Thiết 33

2.4 Biến đổi của nghề đóng tàu và bảo tồn, phát huy nghề trong điều kiện hiện nay 50

Chương 3 ĐỜI SỐNG TINH THẦN VÀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT 59

3.1 Tín ngưỡng 59

3.2 Nghi lễ liên quan đến nghề đóng tàu 65

3.3 Văn hóa dân gian 75

3.4 Đời sống xã hội của cư dân đóng tàu, thuyền 79

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 102

Trang 6

Bảng 3.1 Số lượng con của các gia đình chủ xưởng đóng tàu ở Nghi Thiết

Error! Bookmark not defined.

DANH MỤC BIỂU ĐÒ

Biểu đồ 2.1 Độ tuổi của lao động làm việc tại các xưởng đóng tàu thuyền 39

Trang 7

5

DẪN LUẬN

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Việt Nam là quốc gia có 3.260 km bờ biển kéo dài từ Bắc đến Nam Biển chứa nhiều nguồn tài nguyên quý giá cho nước ta trên hành trình hội nhập và phát triển hôm nay Để khai thác nguồn tài nguyên trên biển, nhiều ngành kinh tế cần có phương tiện vận tải là tàu, thuyền Nghề đóng tàu, thuyền là một trong những nghề xuất hiện sớm ở nước ta Sách “Nghề cổ đất Việt” của Vũ Từ Trang đã dẫn: “Với tình hình địa lý nước ta, sông ngòi, kênh rạch, dọc ngang rất nhiều, đã vậy biển Đông lại ôm dọc chiều dài đất nước, vì thế thuyền bè là một phương tiện giao thông rất mật thiết với người dân Chính vì vậy, nghề đan thuyền, đóng thuyền, đóng tàu bè ở nước ta phát triển rất sớm” [45, tr 343] Do đó, ngay từ rất sớm, người thợ thủ công làm nghề đóng tàu thuyền đã cư trú ven biển để sản xuất ra tàu, thuyền phục vụ nhu cầu

đó Tuy nhiên, hầu như các nghiên cứu về biển đang tập trung chủ yếu vào nghiên cứu văn hoá lễ hội của ngư dân vùng biển để phục vụ phát triển du lịch của một số địa phương có hoạt động du lịch dựa vào điều kiện tự nhiên của vùng biển; nghiên cứu mô hình và kỹ thuật nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản của ngư dân vùng biển, các đề tài này được thực hiện chủ yếu do các nhà quản lý ở địa phương đặt hàng nghiên cứu; khảo sát đời sống kinh tế của những cộng đồng ngư dân nghèo, nhằm giúp chính quyền tìm giải pháp ổn định và nâng cao mức sống cho ngư dân, bởi thực tại họ luôn gặp nhiều khó khăn và tổn thất do thiên tai (bão, lũ) gây nên [40] Vì vậy, việc nghiên cứu về cộng đồng cư dân đóng tàu thuyền hiện nay chưa được chú trọng

Đây là một bộ phận dân cư có nhiều điểm đặc biệt, người thợ đóng tàu thuyền, công việc thuộc vào họat động thủ công nghiệp tuy nhiên họ lại cư trú ven biển, vậy họ thuộc bộ phận cư dân làm nghề tiểu thủ công hay thuộc cộng

Trang 8

6

đồng cư dân sinh sống ven biển? Văn hóa của họ là văn hóa biển hay văn hóa của tầng lớp thợ tiểu thủ công nghiệp? Phải chăng có một tầng văn hóa mới của nhóm thợ thủ công cư trú ven biển? Vậy biển có vai trò như thế nào trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của những cư dân này? Họ đã sinh sống và thích nghi với biển như thế nào, có điều gì khác biệt so với ngư dân? Đây là những vấn đề chính mà nghiên cứu này đặt ra

Mặt khác, hiện nay, thông qua các nghiên cứu về các cộng đồng cư trú ven biển, chúng ta thấy ngư dân thường là bộ phận được nhắc tới với rất nhiều khó khăn trong cuộc sống và luôn cần sự hỗ trợ chính sách từ phía Nhà nước, vậy những bộ phận dân cư khác thì sao? Thợ đóng tàu, thuyền, còn những khó khăn nào trong cuộc sống còn đặt ra đối với họ? Họ cần hỗ trợ gì từ phía các cấp chính quyền? Trong cộng đồng cư trú họ gặp phải những rào cản nào? Điều này chưa được quan tâm đúng mức trong các nghiên cứu hiện nay

Hiện nay, Nhà nước đang chú trọng đầu tư để ngư dân đóng mới tàu thuyền, cải tiến tàu thuyền ngày càng hiện đại hơn để bám biển, cải thiện điều kiện kinh tế và tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo, nhiều làng nghề đóng tàu thuyền từng bị bỏ quên, mai một đã được phục hồi và chú trọng đầu tư phát triển Để các kế hoạch trên đạt được hiệu quả thì trước hết cần nghiên cứu từ những người dân làm nghề này, tìm hiểu tiếng nói, nguyện vọng và triển vọng nghề nghiệp của họ nhằm có sự đầu tư đúng hướng và hiệu quả Trên đây là những cơ sở để tôi lựa chọn một nghiên cứu mới mẻ nhưng cũng đầy thú vị

và thách thức này

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện nhằm ba mục đích chính:

Một là, tìm hiểu thực trạng cuộc sống của cộng đồng cư dân làm nghề

đóng tàu thuyền ở ven biển Nghệ An thông qua nghiên cứu trường hợp xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc

Trang 9

7

Hai là, tìm hiểu quá trình thích nghi với địa bàn cư trú của cộng đồng

cư dân này thông qua các đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng

Ba là, chỉ ra những biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội

của cư dân đóng tàu thuyền

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Cư dân đóng tàu thuyền sống và thích nghi với biển như thế nào (các

hoạt động sinh kế, tổ chức xã hội, đời sống văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh, ảnh hưởng từ các cộng đồng cư trú xung quanh)?

- Để gìn giữ và phát huy nghề nghiệp truyền thống mà cha ông để lại,

cư dân đóng tàu thuyền có được những thuận lợi nào và gặp phải những khó khăn ra sao?

- Trong bối cảnh tình hình chung của đất nước hiện nay, cư dân đóng tàu thuyền đã có những động thái như thế nào để gìn giữ những giá trị truyền thống do cha ông truyền lại và hội nhập với bối cảnh xã hội đương đại?

4 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về một số khía cạnh trong đời sống của cư dân

đóng tàu thuyền (các hoạt động sinh kế, sinh hoạt văn hóa và tổ chức xã hội)

Địa bàn nghiên cứu là xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Nghề đóng tàu, thuyền là hoạt động kinh tế chính của cư dân tại đây Tại địa bàn nghiên cứu nghề đóng tàu thuyền đã có lịch sử hơn 700 năm, trải qua nhiều thế hệ lao động, nghề được duy trì đến ngày nay, với 13 xưởng sản

xuất, có hàng trăm lao động đang làm việc đều cư trú tại địa bàn

Về phạm vi nghiên cứu, luận văn nghiên cứu cuộc sống hiện nay của người làm nghề đóng tàu Năm 1991 là thời kỳ hợp tác xã đóng tàu theo cơ chế bao cấp nhà nước giải tán, sau đó các xưởng sản xuất tư nhân lần lượt được thành lập và triển khai mô hình sản xuất đến nay, vì vậy, nghiên cứu tập

trung nghiên cứu từ giai đoạn này

Trang 10

8

5 Nguồn tư liệu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng nguồn tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau Trước hết, là các công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan cư dân ven biển nói chung và cư dân làm nghề đóng tàu thuyền nói riêng của các học giả trong nước và ngoài nước được xuất bản dưới dạng sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, bài báo khoa học Hai là, nguồn thông tin quan trọng nhất và chủ yếu là nguồn tài liệu chúng tôi thu thập được qua quá trình điền dã tại địa bàn nghiên cứu là xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ

An Chúng tôi làm việc với ban lãnh đạo chính quyền địa phương, trình bày với họ về đề tài nghiên cứu, xin phép họ được tạm trú tại xã Khi được chính quyền cho phép, chúng tôi bắt đầu quá trình điền dã tại địa bàn nghiên cứu, tiến hành phỏng vấn và tham gia các hoạt động lao động sản xuất, các sinh

hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người đóng tàu, thuyền

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn là nghiên cứu chuyên sâu về cư dân đóng tàu thuyền ở xã Nghi Thiết nhằm đưa ra các đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn Về mặt khoa học, luận văn cung cấp cho ngành Nhân học và các bộ môn liên quan tư liệu mới, phong phú và có hệ thống về cư dân đóng tàu thuyền ở Nghệ An Thứ hai, áp dụng các lý thuyết sinh kế, sinh thái học văn hóa và biến đổi văn hóa vào thực tế nghiên cứu người làm nghề đóng tàu ở xã Nghi Thiết, luận văn không chỉ làm rõ rằng cư dân đóng tàu không phải là một bộ phận dân cư

mờ nhạt ở ven biển mà họ đã hình thành nên một cộng đồng nghề nghiệp rõ ràng, có đời sống kinh tế văn hóa mang dấu ấn của riêng họ, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đóng tàu, thuyền, sự thích nghi với môi trường cư trú của cư dân Về mặt thực tiễn, luận văn chia sẻ mong muốn của

cư dân đóng tàu về những trăn trở, suy nghĩ của họ trong việc theo đuổi nghề nghiệp và gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử của địa phương Cuối cùng,

Trang 11

9

luận văn đề xuất một số kiến nghị để các cấp chính quyền có sự quan tâm, tạo điều kiện để cư dân đóng tàu gìn giữ và phát triển đời sống kinh tế, văn hóa,

xã hội

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần dẫn luận và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1 Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phương pháp và

địa bàn nghiên cứu

Chương 2 Đời sống kinh tế của cư dân đóng tàu, thuyền ở xã Nghi

Thiết

Chương 3 Đời sống tinh thần và các vấn đề xã hội của cư dân đóng

tàu, thuyền ở xã Nghi Thiết

Trang 12

10

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Cư dân ven biển đã sớm được các nhà khoa học quan tâm tới, nhiều công trình nghiên cứu quy mô đã được thực hiện Đầu tiên phải kể đến cuốn

sách của tác giả Nguyễn Duy Thiệu “Cộng đồng ngư dân Việt Nam” (Fishers

communities in Vietnam), đây là cuốn sách nghiên cứu một cách tổng thể nhất về cộng đồng ngư dân ở nước ta Cuốn sách giới thiệu những nét khái quát của cộng đồng ngư dân Việt Nam bao gồm quá trình hình thành các nhóm ngư dân và sự hình thành cộng đồng ngư dân ở Việt Nam, cơ cấu tổ chức xã hội của các cộng đồng nghề cá ở Việt Nam, đồng thời tác giả so sánh với các làng xã nông nghiệp cổ truyền, ngoài ra tác giả còn đề cập đến đời sống tín ngưỡng trong cộng đồng ngư dân Việt Nam Cuốn sách là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về địa bàn dân cư vùng biển1 Cư dân đóng tàu thuyền được đề cập trong cuốn sách với vai trò là những người tham gia hoạt động kinh tế phụ2, không có các giá trị văn hóa

đặc sắc [36] Cuốn sách “Cư dân mặt nước ở sông Hương và đầm phá Tam

Giang- Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế” của tác giả Lê Duy Đại, có sự nghiên

cứu một cách chi tiết về một cộng đồng dân cư sinh sống và mưu sinh trên mặt nước Cuốn sách tập trung trình bày chi tiết về đời sống kinh tế, đời sống

xã hội và đời sống văn hóa của cư dân mặt nước, họ có một con thuyền vừa làm chỗ ở vừa là phương tiên mưu sinh, cuộc sống lênh đênh trên mặt nước Đây là công trình nghiên cứu có đầu tư công phu về một cộng đồng ngư dân tại một địa bàn cụ thể, đi sâu vào những khía cạnh nhỏ nhất trong đời sống

1 Khác với các nghiên cứu dân tộc học trước đó, tập trung chủ yếu vào cộng đồng dân cư ở khu vực miền núi

2

Kinh tế chính là ngư nghiệp

Trang 13

11

người dân [8] Các cuốn sách trên đều đề cập đến cư dân ven biển từ nghiên cứu mang tính tổng quát đến nghiên cứu một địa bàn cụ thể, tuy nhiên, ngư dân là cư dân được tập trung tìm hiểu, người làm nghề đóng tàu chưa được đề cập đến trong các công trình này

Một nghiên cứu về cư dân ven biển thuộc lĩnh vực dân tộc học là luận

án tiến sĩ “Lối sống người dân làng chài hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại

xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thụy và phường Ngọc Sơn, quận Kiến An, Hải Phòng)” của Vũ Thị Hạnh, nêu lên những đặc điểm nổi bật trong lối sống của

cư dân làng chài về phương diện mưu sinh, phương diện xã hội và đời sống văn hóa, đặc biệt luận án cũng chỉ ra những biến đổi trong quan niệm về cách

tổ chức cuộc sống của cộng đồng cư dân [13] Chuyên ngành văn hóa học có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa của cư dân ven biển Luận án tiến

sĩ “Lễ hội cổ truyền cư dân ven biển Hải Phòng và sự biến đổi trong giai

đoạn hiện nay” của Lê Thanh Tùng, trình bày một cách tổng thể về các nhóm

lễ hội tiêu biểu, đặc trưng của lễ hội cổ truyền cư dân ven biển Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay Luận án đã mô tả rất đầy đủ về các lễ hội của cư dân ven biển đồng thời đặt ra vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị lễ hội cổ truyền trong đời sống văn hóa, xã hội đương đại của cư dân ven biển [48] Bên cạnh đó còn có một số luận án khác cũng đề cập đến khía cạnh văn hóa

của cư dân ven biển như “Văn hóa dân gian của cư dân ven biển Quảng

Ngãi” của Nguyễn Đăng Vũ, “Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam- Đà Nẵng: hình thái, đặc trưng, giá trị” của Nguyễn Xuân Hương Cư dân ven

biển được mặc định là ngư dân, trong khi đó, thợ đóng tàu thuyền cũng cư trú ven biển nhưng các công trình nghiên cứu đều không đề cập đến [48], [54]

Bài viết “Các loại hình làng ven biển ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh

Hóa” của Phạm Văn Tuấn, đề cập đến các loại làng ven biển phân theo nhiều

tiêu chí khác nhau Làng ven biển được phân loại ở đây là làng của ngư dân,

Trang 14

12

làng của thợ đóng tàu được đặt nằm trong cộng đồng làng của ngư dân [47]

Trong cuốn “Cộng đồng ngư dân ở Nam Bộ” của Trần Hồng Liên, ngoài việc

đề cập đến đối tượng chính là cộng đồng ngư dân, tác giả đã nhắc tới nhóm cư dân đóng tàu thuyền, tuy nhiên họ được nêu ra với vị thế là những người tham gia các hoạt động kinh tế phụ3

[22] Các nghiên cứu về cư dân ven biển chỉ tập trung vào ngư dân, chưa có những trình bày về cộng đồng người làm nghề đóng tàu, thuyền trong các đề tài này

Trong lĩnh vực kinh tế học, cuốn sách “Đổi mới và phát triển kinh tế

ven biển” của Lê Cao Đoàn, đã đề cập đến các đặc điểm tự nhiên và tiềm

năng phát triển kinh tế xã hội vùng bồi tụ nước lợ ven biển tỉnh Thái Bình Trong cuốn sách, tác giả đề cập đến nhiều ngành kinh tế ven biển như đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp ven biển, nghề đóng và sửa chữa tàu

thuyền không được tác giả đề cập tới [9] Luận án tiến sĩ “Giải pháp chính

sách phát triển kinh tế ven biển của tỉnh Thanh Hóa” của Lê Minh Thông, đề

cập đến nhiều ngành nghề kinh tế ven biển trong đó nghề đóng và sửa chữa tàu biển được xếp vào nhóm các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác và sử dụng tài nguyên biển [42] Ở cách tiếp cận kinh tế học, khi nghiên cứu về cộng đồng ven biển, các tác giả tập trung chủ yếu vào ngành kinh tế chính là đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, đóng tàu thuyền là một hoạt động kinh tế phụ bổ trợ cho nghề đi biển của ngư dân

Khóa luận tốt nghiệp đại học “Bảo tồn và phát triển làng nghề đóng

tàu, thuyền làng Cống Mương (khu 8, phường Long Hải, đảo Hà Nam, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh)” của Khiếu Thị Mai Lan, đã khảo sát nghề

đóng tàu thuyền ở khía cạnh làng nghề Tác giả khóa luận tập trung trình bày

về hoạt động đóng tàu thuyền từ truyền thống đến biến đổi và đặt ra vấn đề bảo tồn làng nghề như thế nào [20]? Ngoài ra, còn rất nhiều bài báo, bài viết

3 Cho nghề đi biển

Trang 15

1.2 Tiếp cận lý thuyết

Nghiên cứu về một cộng đồng luôn là một vấn đề rộng, đòi hỏi nhà nghiên cứu phải xét đến mọi khía cạnh xoay quanh cộng đồng nghiên cứu đó

Vì thế, với đề tài nghiên cứu “Cư dân đóng tàu thuyền ở xã Nghi Thiết, huyện

Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An” tôi cần phải sử dụng rất nhiều lý thuyết để lý giải các

phát hiện tại địa bàn nghiên cứu Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn Thạc

sĩ, tôi chỉ sử dụng hai lý thuyết chủ đạo cho nghiên cứu: Lý thuyết về sinh kế, hướng tiếp cận sinh thái học văn hóa

1.2.1 Lý thuyết về sinh kế

Hướng tiếp cận của lý thuyết sinh kế là hướng tiếp cận không thể thiếu trong các nghiên cứu về cộng đồng ở nông thôn Trong nghiên cứu về nông thôn và giảm nghèo trong hai thập kỷ qua vấn đề sinh kế và sinh kế bền vững đã trở thành mục tiêu phân tích ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô, trong đó khung sinh kế bền vững được coi là một cách tiếp cận toàn diện về các vấn đề phát triển thông qua việc thảo luận về sinh kế của con người và đói nghèo trong các bối cảnh khác nhau Theo quan điểm của khung sinh kế bền vững

do bộ phát triển quốc tế Anh (Department for International Development – DFID), khung phân tích này đề cập đến các yếu tố và thành tố hợp thành sinh kế: các ưu tiên mà con người có thể nhận biết được; các chiến lược mà họ lựa

Trang 16

kể trên bao gồm vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người và vốn

tự nhiên Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa mà người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế Vốn tài chính ngụ ý về các nguồn lực tài chính mà con người sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế của mình Vốn

xã hội là các nguồn lực xã hội mà con người sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình, bao gồm quan hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phi chính thống quan trọng Vốn con người là những kỹ năng, trí thức, khả năng làm việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo thành những điều kiện giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế Vốn

tự nhiên là tất cả các nguyên vật liệu tự nhiên để tạo dựng sinh kế hộ gia đình hay cộng đồng Khung phân tích này lấy con người và sinh kế của họ làm trung tâm của sự phân tích, nghĩa là đặt con người ở trung tâm của sự phát triển Khung phân tích này th ừa nhận rằng các chính sách, thể chế và quá trình có ảnh hưởng đến sự tiếp cận và việc sử dụng các tài sản mà cuối cùng chúng đều ảnh hưởng đến sinh kế Sinh kế của con người được phân tích dưới góc độ sở hữu và tiếp cận các loại vốn, hay tài sản vốn [28, tr.103], [32, tr 26]

Trên cơ sở khung sinh kế nông thôn bền vững (Sustainable Ruaral Livelihoods Framework) của Scoones (1998) và khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) của DFID (2001), năm 2004, tổ chức nghiên cứu phát triển bền vững vương quốc Anh (IMM) đã sửa đổi lại để áp

Trang 17

có ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng ven biển Nhóm thứ ba bao gồm các yếu tố ảnh hưởng gián tiếp như tính mùa vụ, thiên tai, xu hướng bên ngoài,…

sự lựa chọn các hoạt động sinh kế ven biển dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa ba nhóm yếu tố này [44, tr.27-28]

Như vậy, ý tưởng chung về các khung sinh kế bền vững là: các hộ gia đình dựa vào các nguồn lực sinh kế hiện có (bao gồm: nguồn lực con người,

tự nhiên, tài chính, vật chất và xã hội) trong bối cảnh thể chế và chính sách ở địa phương sẽ thực hiện các hoạt động sinh kế (như sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng, du lịch, đa dạng hóa các loại hình sinh kế,…) nhằm đạt được các kết quả sinh kế bền vững (như tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, giảm rủi ro và khản năng bị tổn thương, cải thiện an ninh lương thực, sử dụng bền vững hơn các nguồn tài nguyên…) dưới sự tác động của bối cảnh bên ngoài (các cú sốc, các xu hướng và tính mùa vụ) [44, tr.28]

Với cơ sở lý luận trên của lý thuyết về sinh kế, luận văn vận dụng lý thuyết nhằm tìm hiểu về:

- Cư trú ven biển tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc lựa chọn nghề nghiệp và đa dạng hóa các hoạt động sinh kế của mình Đóng và sửa chữa tàu thuyền không phải là nghề có nhiều dân cư ven biển lựa chọn làm sinh kế Lựa chọn nghề đóng và sửa chữa tàu thuyền làm sinh kế là một tính toán nhằm mục đích kinh tế hay vì đó là nghề do cha ông truyền lại

Trang 18

16

- Nguồn tiêu thụ các sản phẩm của nghề rất hạn chế bởi trong cộng đồng không phải gia đình nào cũng sắm được tàu, thuyền đi biển, hơn nữa một chiếc tàu, thuyền có thể sử dụng được rất lâu Để các sản phẩm được tiêu thụ cần có một thị trường rất rộng Việc duy trì được nghề do cha ông truyền lại bên cạnh kỹ thuật làm nghề còn phải tìm thị trường cho sản phẩm Quan hệ giữa người khách hàng và người sản xuất chính là một cơ hội để người làm nghề tìm lối ra cho sản phẩm hay dựa vào chất lượng của sản phẩm làm ra là yếu tố quyết định đến khả năng tiêu thụ

- Nguồn vốn tài chính phải bỏ ra để làm nên một chiếc tàu, thuyền là rất lớn Khách hàng của họ là ngư dân, nguồn vốn duy trì nghề do đó phụ thuộc rất nhiều vào khả năng chi trả của ngư dân Các chính sách của nhà nước đối với ngư dân có tác động gián tiếp đến những người làm nghề đóng tàu, thuyền

- Hiện nay, tình hình biển Đông đang là vấn đề được quan tâm nhiều nhất Nhiều chính sách của nhà nước nhằm hỗ trợ cho ngư dân đóng tàu thuyền đi biển để phát triển kinh tế và tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo Người thợ đóng tàu có nhiều đơn đặt hàng từ ngư dân Đây là điều kiện thuận lợi để nghề đóng tàu thuyền phát triển và cộng đồng dân cư này phát triển về kinh tế, xã hội

Có thể thấy, trước sự lựa chọn một hoạt động kinh tế, từng nhóm cư dân phải cân nhắc giữa các nguồn vốn mà họ có để duy trì nguồn sinh kế Mặt khác, để sử dụng hiệu quả các nguồn vốn cũng là một vấn đề, các nhóm cư dân lựa chọn một sinh kế, tận dụng các nguồn vốn họ có để duy trì và phát triển ngành nghề Mỗi một nguồn vốn đều có vai trò nhất định đối với sự tồn tại của hoạt động kinh tế Trong thời điểm diễn biến kinh tế nước ta có nhiều biến động, nghề đóng và sửa chữa tàu, thuyền cũng chịu tác động của bối cảnh chung

Trang 19

17

1.2.2 Hướng tiếp cận sinh thái học văn hóa

Lý thuyết sinh thái văn hóa (cultural ecology)

Lý thuyết sinh thái văn hóa của Julian Steward (1902 - 1972) nhằm tiếp cận văn hóa của con người và thích nghi như thế nào với các môi trường

tự nhiên và môi trường xã hội chính trị cụ thể Con người trải nghiệm cuộc sống của mình và phải thích nghi với các môi trường thông qua bối cảnh văn hóa Sinh thái văn hóa là các dạng thức văn hóa hình thành và phát triển tương ứng với những môi trường nhất định như sinh thái biển đảo, sinh thái đồng bằng châu thổ, sinh thái thung lũng, sinh thái cao nguyên Việt Nam có rất nhiều loại hình sinh thái tự nhiên tương ứng với vùng cư trú của các tộc người Những tộc người sinh sống lâu đời tại một môi trường sinh thái nào thì nhất định họ sẽ trải nghiệm, thích nghi, sáng tạo, hình thành những kỹ năng sinh sống và thể hiện sắc thái tâm lý cũng như những dạng thức văn hóa phù hợp với môi trường sinh thái ấy, đó là sinh thái văn hóa tộc người Các cư dân, đó chính là chủ nhân văn hóa (culture bearer)

Trong quá trình sinh tồn của mình, con người phụ thuộc rất nhiều vào

tự nhiên Từ những thành tựu văn hóa có được qua sự thích nghi môi trường sinh thái tại chỗ, con người có thể hình thành nên những loại hình văn hóa như là một tập hợp những sắc thái văn hóa đặc trưng và tạo nên yếu tố cốt lõi của nền văn hóa Ngoài ra, cũng trong chính sự thích nghi với môi trường sinh thái, con người đã hình thành nên những phương thức sinh hoạt kinh tế, những tín ngưỡng tôn giáo , bởi vì bất kỳ ở đâu, trong việc hình thành làng xóm, xây dựng nhà ở, cách ăn, mặc, các phương tiện tiện di chuyển, công cụ sản xuất, tín ngưỡng tôn giáo, văn học nghệ thuật người dân tại chỗ đều thích nghi với điều kiện thiên nhiên và môi trường sinh thái tại nơi sinh sống

để họ có thể tồn tại và phát triển Qua nghiên cứu sinh thái văn hóa, người học

sẽ hiểu được cách người Việt hay các dân tộc khác sống tại Việt Nam sử dụng

Trang 20

18

văn hóa để thích nghi với môi trường thiên nhiên cụ thể cũng như sáng tạo nên những sắc thái văn hóa lâu dần trở thành đặc trưng văn hóa của họ và của vùng [13, tr.21]

Luận văn vận dụng lý thuyết Sinh hái học văn hóa để tìm hiểu các nội dung sau:

- Cộng đồng cư dân làm nghề đóng và sửa chữa tàu thuyền cũng như các cộng đồng nghề nghiệp khác, họ với đặc trưng nghề nghiệp của mình và đặc điểm cư trú, họ cũng tạo nên một bản sắc văn hóa của riêng họ Nền văn hóa đó vừa mang dấu ấn của cư dân ven biển vừa mang sắc thái của tầng lớp thợ thủ công nghiệp

- Với sự xâm nhập của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự len lỏi của kinh tế thị trường, các giá trị văn hóa truyền thống của cư dân đóng tàu thuyền dần bị mai một, cộng đồng làng nghề đóng tàu không có ý thức gìn giữ văn hóa mạnh mẽ như cộng đồng ngư dân vì văn hóa của họ không tiêu biểu cho một không gian cư trú hay một tầng lớp xã hội

- Khác với ngư dân, cộng đồng dân cư đóng tàu thuyền cư trú trên bờ từ lâu đời Người làm nghề này thường xuyên ở tại gia đình của mình, họ có điều kiện gần gũi để chăm sóc và giáo dục con cái Do đó, họ theo dõi được hành vi thói quen cũng như những thay đổi tâm sinh lý của con, quản lý được chặt chẽ con cái họ, nên trẻ vị thành niên ít sa vào tệ nạn xã hội hơn so với nhóm cộng đồng của ngư dân

- Đặc trưng cư trú ven biển của cư dân đóng tàu được thể hiện rõ nét nhất qua cách họ tổ chức đời sống kinh tế

Nói một cách khác, trước từng môi trường cảnh quan và môi trường

xã hội, các nhóm cư dân phải nắm bắt được đặc điểm của nơi cư trú để định hình các phương thức mưu sinh Trên nền mưu sinh như vậy, thợ đóng tàu thuyền hình thành các mối quan hệ xã hội, được biểu hiện, duy trì trong các

Trang 21

19

thiết chế xã hội và được điều chỉnh bằng các quy định của phong tục, lệ tục Các đặc điểm kinh tế- xã hội của cư dân đóng tàu thuyền được hình thành các hình thái tín ngưỡng, các sinh hoạt văn hóa và được trao truyền cho các thế hệ sau, thông qua gia đình, dòng họ, làng và các quy định của phong tục, lệ tục… Các đặc điểm về kinh tế, xã hội, văn hóa đó mang tính ổn định cao song cũng

dễ thay đổi khi môi trường sống thay đổi

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Đối với một nghiên cứu nhân học, điền dã dân tộc học là công việc không thể thiếu Vì thế, để tiến hành nghiên cứu này, tác giả đã dành thời gian làm việc trên thực địa là ba tháng, từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 4 năm

2015 Tác giả chọn thời gian với mục đích lựa thời điểm giữa hai năm âm lịch (cuối năm cũ, đầu năm mới)4 Đây là thời điểm cư dân đóng tàu thuyền có nhiều hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội được tổ chức, đặc biệt là các hoạt động văn hóa Hiện nay tại địa bàn nghiên cứu có 13 xưởng đóng tàu thuyền

có quy mô lớn nhỏ khác nhau, mỗi xưởng thuộc quyền sở hữu của một gia đình Trong xưởng gồm hai bộ phận là chủ xưởng và người làm thuê Cả hai

bộ phận dù là người lao động hay là người sử dụng lao động, sinh kế chính của họ là nghề đóng tàu thuyền, vì vậy, cả chủ và thợ đều là đối tượng nghiên cứu của đề tài này Tác giả áp dụng các phương pháp vào đối tượng nghiên cứu như sau:

Quan sát tham dự được tiến hành tại xưởng đóng tàu Tác giả tham gia vào đời sống sinh hoạt của các gia đình chủ xưởng và tham gia vào công việc sản xuất hàng ngày của xưởng Quá trình quan sát chú trọng tới cách tổ chức sắp xếp sinh hoạt trong gia đình ông chủ, các hình thức tín ngưỡng, kiêng kỵ, cách giao tiếp với khách hàng và người làm thuê, đặc biệt là quy trình đóng

4 cuối năm Giáp Ngọ và đầu năm Ất Mùi

Trang 22

13 xưởng đóng tàu ở địa bàn đều được thực hiện phỏng vấn, trong đó tác giả nói chuyện nhiều lần với 20 người, hỏi lại nhiều thông tin để xác định lại độ chính xác của thông tin từ cuộc phỏng vấn Các thông tin thu thập từ mọi khía cạnh trong cuộc sống của họ từ những vấn đề liên quan đến cuộc sống mưu sinh, cách thức tổ chức xã hội, đời sống văn hóa tinh thần, quan hệ giao lưu với các cộng đồng cư trú ở xung quanh, đặc biệt là lý do họ duy trì nghề nghiệp cha ông truyền lại trong một thời gian dài, có những khó khăn thuận lợi, những tính toán như thế nào

Sử dụng phỏng vấn cấu trúc với hai đối tượng là những người thợ làm thuê ở các xưởng đóng tàu và khách hàng các xưởng đóng tàu (chính là ngư dân) Người thợ làm thuê ở xưởng đóng tàu và khách hàng có tác động đến sự duy trì của nghề tại địa phương Nhằm mục đích tìm hiểu suy nghĩ của người thợ làm thuê khi chọn nghề đóng tàu làm sinh kế, những quy tắc nghề nghiệp

mà họ phải tuân thủ và có sự khác biệt nào so với người làm chủ, đánh giá của

họ về tình hình phát triển và triển vọng của nghề, dự định của họ đối với nghề nghiệp trong tương lai Tác giả tiến hành 30 cuộc phỏng vấn với độ tuổi và trình độ tay nghề khác nhau bao gồm cả nam giới và phụ nữ Các cuộc phỏng vấn được tiến hành tại xưởng đóng tàu, tranh thủ thời gian nghỉ của thợ, tác

Trang 23

21

giả thực hiện phỏng vấn Tác giả còn áp dụng phương pháp phướng vấn cấu trúc với khách hàng của các xưởng đóng tàu Người nghiên cứu khai thác các thông tin về hiểu biết của họ về cộng đồng cư dân đóng tàu thuyền, đánh giá của họ về các sản phẩm, mối quan hệ giữa người bán hàng và khách hàng được duy trì như thế nào Tuy nhiên đối tượng phỏng vấn này, một số người

có sản phẩm đang sản xuất tại xưởng, có thể tiến hành phỏng vấn trực tiếp, một số người đã trở về địa phương làm nghề, tác giả phỏng vấn gián tiếp bằng email5 Tác giả thực hiện 20 cuộc phỏng vấn

Tác giả tiến hành 6 cuộc phỏng vấn nhóm dành cho ba lứa tuổi trên 50 tuổi, từ 35 đến 50 tuổi và dưới 35 tuổi, mỗi lứa tuổi chia làm hai nhóm: nhóm nam và nhóm nữ Phỏng vấn nhóm tập trung về chủ đề chính là động lực nào giúp nghề đóng tàu thuyền ở địa phương còn được duy trì đến ngày nay, hiện trạng phát triển của nghề đóng tàu hiện nay, triển vọng của nghề này, các chính sách của nhà nước có đáp ứng được nhu cầu của cư dân làm nghề và mong muốn của họ về nghề này

1.4 Khái quát địa bàn nghiên cứu

1.4.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Xã Nghi Thiết ở về phía Đông Bắc huyện Nghi Lộc bên bờ Bắc sông Cửa Lò Phía Bắc giáp xã Nghi Tiến, phía Tây giáp xã Nghi Quang, phía Nam

là sông Lò và thị xã Cửa Lò, phía Đông giáp biển Tạo nên địa bàn nơi đây như một bán đảo Diện tích tự nhiên: 612,73 ha6

Nghi Thiết có địa hình tự nhiên hiểm trở, đa dạng Đông và Nam là biển và cửa sông Nhìn chung, toàn

xã núi đồi, gò bãi và thung lũng kế tiếp xen kẽ nhau

5 Tác giả nhờ chủ xưởng liên lạc trước với khách hàng của họ Người nghiên cứu sau khi được đối tượng đồng ý trả lời phỏng vấn, gửi câu hỏi vào hộp thư của khách hàng, sau đó nhận câu trả lời từ người được phỏng vấn

6

Số liệu do UBND xã cung cấp

Trang 24

22

Phía Bắc là dãy núi Cánh Phượng hình vòng cung, dài hàng ngàn mét, thế núi cao lớn bao quanh thung lũng Đông Vang Phía Nam núi Phượng là thung lũng Đông Ngàn Phía Đông là bãi cát kéo dài từ núi Mào Gà tới núi Rồng Phía Nam xã trên bờ bắc cửa Lò sông Cấm, núi Rồng nhô ra biển Đông Giữa hai núi là đồi thấp, rộng hơn 500m, dài hơn 1km, dốc thoai thoải

về hai phía Bắc và Nam Địa hình đồi núi, gò bãi khúc khuỷu không thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp [16, tr.5]

Địa bàn xã có nhiều tài nguyên thiên nhiên như cát xây, đá xây, khoáng sản, động, thực vật, đặc biệt có nhiều thủy hải sản Đất có ba loại chủ yếu là đất đồi núi, đất vùng trũng và đất cát ở gò bãi ven sông, biển Đất đồi núi chiếm 50% diện tích, trong đó có những vùng ven núi và đồi gò được nhân dân khai thác cải tạo thành địa bàn cư trú Đất ở hai thung lũng Đông Vang và Đông Ngàn rộng trên 600 ha Đây là vùng đất trũng, xưa kia Đông Ngàn bị ngập mặn, quá trình biến cải lâu dài của tự nhiên cùng với sự khai khẩn lao động, cải tạo của con người mà thành đất trồng trọt, đất còn có phù

sa và núi đồi bồi đắp nên đã trở thành vùng đất màu mỡ có thu hoạch khá tốt Đất cát chiếm một diện tích lớn ven sông, ven biển, thích hợp với các loại cây rừng phòng hộ như phi lau, keo lá tràm và cây ngập mặn như sác, sú, vẹt, được,… [16, tr 6 - 7]

Nguồn nước ở đây nhiều nhất là nước mặn, nước ngọt phụ thuộc vào

tự nhiên, nguồn nước ngầm được khai thác qua các giếng đào, chất lượng nước tốt song thường bị khan hiếm vào mùa hè Do độ che phủ trên các núi đồi ngày nay mất mát nhiều, các rừng cây bị chặt phá làm cho nước trong lòng núi, lòng đất giảm sút rất nhiều Đặc biệt, tại địa bàn xã có mạch ngầm giếng thủy tiên từ núi Rồng chảy từ xưa đến nay không cạn, đó là mạch nước khoáng thiên nhiên được sử dụng làm nước giải khát và chữa bệnh

Trang 25

Nghi Thiết nằm trong tiểu vùng khí hậu ven biển Bắc Trung Bộ nên chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa, tạo nên hai mùa khá rõ: mùa nóng và màu lạnh Mùa nóng thường bị gió phơn Tây Nam thổi mạnh mang theo hơi nóng ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân Là xã ven biển nên Nghi Thiết thường xuyên hứng chịu nhiều trận bão tố gây thiệt hại cho cuộc sống của người dân [55]

1.4.2 Dân cư

Truyền thuyết cho rằng: khi Thục An Dương Vương thất thủ chạy đến chân núi Mộ Dạ ở ven biển, công chúa Mỵ Châu bị hàm oan, nhà vua tuẫn tiết, quân sĩ tan tác Những người còn lại men theo sườn núi ven biển để tìm nơi lánh nạn Đến eo núi Cánh Phượng người ta tìm thấy một thung lũng cây cối um tùm, được bao bọc ba phía như vòng cung Phía ngoài vòng cung là bờ biển với nhiều bãi cát, bãi đá tự nhiên tạo nên một địa thế vừa kín đáo thuận lợi cho việc nương náu vừa dễ dàng cho việc mưu sinh Vì vậy, những binh lính đó dần trở thành dân lưu cư Họ khai phá và cải tạo thung lũng này thành một cánh đồng màu mỡ, tuy không rộng lớn nhưng vẫn đủ cho họ sinh sống với hai nghề: trồng cây lương thực và chài lưới [55]

Theo thời gian, những dòng người thiên lý đến đây ngày một nhiều hơn Họ tụ tập và chung sống cùng nhau Một cộng đồng dân cư sớm được hình thành

Nhiều tư liệu khảo cổ học và lịch sử đã chứng minh về địa bàn cư trú

của cư dân Âu Lạc trên đất Nghệ Tĩnh Trong sách “Lịch sử Nghệ Tĩnh tập 1”

Trang 26

24

giáo sư Hà Văn Tấn đã thống kê những địa điểm đồ đồng khai quật được ở vùng quanh núi Thành (Hưng Nguyên) Có thể kể đến các cứ liệu lịch sử và di tích của vùng Cửa Xá - Cửa Lò như:

- Sự kiện vua An Dương Vương tuẫn tiết ở núi Mộ Dạ

- Gia phả họ Bùi ở Diễn Kim (Diễn Châu) nói về việc tướng Bùi Văn Thôn mộ quân ở Cửa Xá chặn đánh giặc Triệu Đà

- Di tích lịch sử văn hóa đền thờ An Dương Vương ở làng Mỹ Xá7

Đó là những chững cứ minh chứng cho sự có mặt của cư dân cổ đại thời Hùng Vương- Âu Lạc- vùng Cửa Lò thời cổ Những nhóm người cổ cư trú chủ yếu ở vùng địa hình đồi núi và thung lũng ven biển, phía bắc cửa biển

Họ đánh bắt hải sản ven biển, ven sông kết hợp với phương thức săn bắn và hái lượm cổ truyền, dần dần biết trồng trọt và chăn nuôi gia súc, gia cầm [3]

- Nguồn cư dân di cư từ thời Lý, Trần về sau:

Thời Lý, Trần (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV) sau các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhà nước phong kiến dần đẩy mạnh việc khai khẩn, phát triển kinh tế, ở Nghệ An triều đình cử các quan chức nổi tiếng đứng đầu việc khai khẩn như Lý Nhật Quang, Trần Quốc Khang, Hồ Cương,…

Những vùng biển hiểm yếu như các cửa biển, công việc khai khẩn kết hợp với việc xây dựng lực lượng đồn trú bảo vệ và canh phòng Các khu vực dân cư vùng bờ bắc Cửa Xá8

đã được hình thành trong điều kiện đó [26] Gia phả dòng họ, thần phả và các văn tự cổ ở các làng cổ Đông Vang, Đông Ngàn, Kẻ Lau cho biết:

Thái tổ Nguyễn Cung là người đầu tiên đến chiêu dân lập ấp, khai khẩn ở vùng ven núi Cánh Phượng, Mái Chùa… Từ thời Tiền Lê, thời Lý, sau này cùng với trại quân của ông Di Duệ Nguyễn Biện Thông đã khai lập

Trang 27

25

vùng Kẻ Lau hoang vu thành ba làng cổ Đông Vang, Đông Ngàn và Kẻ Lau

Ba khu vực dân cư được hình hành thời Tiền Lê, thời Lý Từ đó về sau người dân di cư từ nhiều vùng khác nhau tới cùng với những người lính trận và giải binh họ đến định cư ở vùng cửa biển hiểm trở này Dần dần hình thành cộng đồng dân cư đông đúc ngày nay [26]

Nhiều dòng họ đã lần lượt đến định cư ở các làng trong khoảng thời gian 800 năm từ thời Lý đến nay Từ chỗ chỉ có một số người cổ đến khai hoang lập ấp, từ thời Đinh đến nay đã có hơn 40 dòng họ lớn nhỏ Nhiều dòng

họ lớn nhỏ đã lần lượt đến định cư ở các làng trong khoảng thời gian từ thời

Lý đến nay đã gần 1000 năm Từ chỗ những nhóm người cổ đến nương náu, mai danh ẩn tích từ trước thời nhà Đinh đầu thế kỷ thứ 10, họ khai hoang lập

ấp đến nay đã có hơn 40 dòng họ lớn nhỏ di cư đến vùng đất này, nhiều nhất

là thế kỷ 15 - 16 Triều Trần và Hậu Lê [53]

Vào thời Đinh, thời Lý thế kỷ X, XI hình thành các nhóm cư dân cổ gọi là Nại ông Hoàng Sau phát triển đông đúc thành Lăng Cổ rồi thành xứ Kẻ Lau, là tiền thân của ba làng cổ Đông Ngàn, Đông Vang và Kẻ Lau Đầu thế

kỷ XIII gọi là Hoàng Lao xã thuộc phủ Anh Đô rồi thuộc về phủ Hưng Nguyên Vào thời Lê, từ thế kỷ XV xã Hoàng Lao thuộc tổng La Vân huyện Nghi Lộc Xã Hoàng Lao đổi thành xã Trung Kiên vào thời Lê Trung Hưng gồm hai làng Đông Vang và Trung Kiên; cũng thuộc triều Lê Trung Hưng làng Đông Ngàn là nông nghiệp, có mộc triện riêng và cũng thuộc tổng La Vân [26]

Nhiều nghề truyền thống gắn với lao động và cuộc sống của cư dân như nghề đánh bắt thủy hải sản, nghề nông, đặc biệt nghề đóng tàu, thuyền ra đời từ rất sớm khi những nhóm người di cư đến họ đã có nghề đóng tàu thuyền từ người thợ thuyền và thuyền bè đã phục vụ công cuộc kháng chiến

và kiến quốc của các triều Lý trong khoảng trên 200 năm của triều Lý Thái tổ

Trang 28

26

Nguyễn Cung và các cụ dòng tộc thân phụ của Nguyễn Biện Thông là những quan chức của triều đình và cũng là những ông tổ xa của nghề đóng tàu thuyền nổi tiếng của vùng đất này [3]

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, làng Đông Vang đổi tên là Hải Thịnh, làng Đông Ngàn đổi tên là Hải Ngạn, làng Trung Kiên cũng có tên là làng Hải Trung Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến tháng ba năm

1954 các làng Đông Vang, Đông Ngàn, Trung Kiên, Hải Trung thuộc xã Đông Hải, huyện Nghi Lộc Tháng ba năm 1954 xã Đông Hải chia đôi thành hai xã Nghi Thiết và Nghi Tiến Làng Hải Đồn, Hải Thịnh, Hải Ngạn, Hải Trung thuộc xã Nghi Thiết cho tới ngày nay

Hiện nay, toàn xã có 6.300 nhân khẩu, 1603 hộ dân, chia thành 10 xóm (xóm Chùa 1, xóm Chùa 2, xóm Đình, xóm Bắn, xóm Rồng, xóm Tân

Các hoạt động sinh kế ở xã Nghi Thiết bao gồm nghề đóng tàu, làm ruộng, đánh bắt thủy hải sản và dịch vụ thương mại Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 5 năm (2009-2014) đạt trên 13%/năm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng Bình quân thu nhâ ̣p đầu người năm 2013 đa ̣t trên 19 triê ̣u đồng/người Đến nay, 100% hộ dân trên đ ịa bàn đã được dùng đ iê ̣n, có 4 km đườn g nhựa , 7 km đường bê tông nông thôn , 3 trường ho ̣c cao t ầng Nhà cửa c ủa các hộ dân ngày khang trang, nhiều hộ đã mua sắm được những tiện nghi sinh hoa ̣t đắt tiền; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên, toàn xã có 500 hộ giàu chiếm 32%, 852 hô ̣ khá chiếm 55%, hô ̣ nghèo chỉ còn 13% Đến nay, Nghi Thiết đã hoàn thành 10 trên tổng số 19 tiêu chí xây dựng

nông thôn mới [16]

9 Số liệu do UBND xã cung cấp

Trang 29

27

Tiểu kết chương 1

Nghiên cứu về cư dân ven biển đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước Các nghiên cứu đều đặt ngư dân ở vị trí trung tâm đại diện cho bộ phận dân cư ven biển Vì vậy, những công trình chú trọng và đi sâu vào đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của cư dân đóng tàu thuyền một cách có hệ thống còn chưa có

Người làm nghề đóng tàu được tiếp cận dưới hai lý thuyết chính là lý thuyết sinh kế và hướng tiếp cận sinh thái học văn hóa Mỗi lý thuyết đi sâu giải thích từng khía cạnh trong đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của cư dân đóng tàu

Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong nhân học như quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, phỏng vấn cấu trúc và phỏng vấn nhóm tập trung Sử dụng các phương pháp nhằm khai thác các thông tin

đa chiều để cung cấp các đặc trưng trong đời sống của cư dân đóng tàu thuyền ven biển

Địa bàn nghiên cứu của luận văn là xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Trong lịch sử, địa phương có một làng nghề đóng tàu thuyền

700 năm tuổi Nhiều người thợ đóng tàu đã lập nhiều công lao lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước qua các thời kỳ Hiện nay, có 13 xưởng đóng tàu đang hoạt động tại địa bàn, đều là xưởng tư nhân của 13 gia đình

Trang 30

28

Chương 2 ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN

Ở XÃ NGHI THIẾT 2.1 Sự ra đời của nghề đóng tàu thuyền 2.1.1 Quá trình hình thành nghề

Theo gia phả của các dòng họ và văn bia nhiều văn tự cổ của các làng thì từ thời Lý - Trần, những người đến khai hoang lập làng vùng này đã củng

cố và phát triển nghề đóng thuyền cho dân làng

Làng Hoàng Lao thưở ban đầu là Kẻ Lau, một vùng lau sậy nằm sát bên bờ sông Cửa Thả (Cửa Lò) Phía đông nam có cửa lạch và núi Đầu Rồng, tây bắc có núi Chùa, phía nam là sông Lò gọi là Cửa Lò Dưới các triều đại phong kiến Cửa Xá được xây dựng như một căn cứ hải quân, một cơ sở hậu cần, một cứ điểm quân sự để tiến vào nam trải ra bắc tiêu diệt kẻ thù xâm lược Các nhóm dân cư bản địa, cùng với gia đình binh lính, lính thợ được các triều đại chiêu dân lập ấp, tạo lập xóm làng ngày một trù phú đông đúc Nghề đóng thuyền cũng được phát triển từ đó [16, tr.90]

Thái tổ Nguyễn Biện Thông là quân triều Lý Sắc phong của cụ là

“Bách hộ châu công, ất hiệu ử binh Nhâm Dần niên” đồng hưng nội ngoại kiêm quân dực tải, hữu công chí lâm chuẩn ứng lục chức nhất, tải gia giáo dục chức nhất giao phó vụ hộ khả vi tráng tiết tướng quân hiệu mệnh từ giao kim tráng sĩ tiền kỳ phong phó vụ hộ Trung quân” Cụ có công ở triều nhà Lý, trông coi đóng thuyền Chính vì vậy, đến khi định cư lập nghiệp ở vùng đất này, cụ đã mang theo cả nghề đóng thuyền về đây [16, tr.89]

Đến đầu triều Trần, giữa thế kỷ XIII vua Trần Thái Tông ban sắc chỉ công nhận ba làng cổ Đông Vang, Đông Ngàn và Kẻ Lau thuộc xã Hoàng Lao Tên Hoàng Lao bắt đầu cũng từ đó Thợ thuyền Hoàng Lao từ lẻ tẻ nhóm phường dần dần tập trung quy tụ thành làng nghề Tay nghề thợ Hoàng Lao

Trang 31

29

đã nổi tiếng trong cả nước Nhưng sự kiện để thợ thuyền Hoàng Lao càng nổi tiếng là giữa thế kỷ XV việc ông Nguyễn Chí Đức cùng nhóm thợ Hoàng Lao năm 1442 cắt đôi một chiếc thuyền mắc cạn để giải thoát cho đoàn chiến thuyền vẫn được phục hồi sử dụng Ông đã được vua thưởng và mời ra làm quan nhưng vì yêu quê hương, yêu nghề nên ông ở lại quê hương và dùng số tiền thưởng đó phát triển nghề nghiệp và cúng cho làng làm đình Chính vì vậy, ông được dân làng tôn làm ông Hoàng và tổ sư nghề Nghề đóng tàu ở làng Hoàng Lao được biết đến nhiều hơn từ sự kiện đó và nhanh chóng nổi tiếng khắp cả nước [16, tr.90]

2.1.2 Qúa trình phát triển nghề

2.1.2.1 Trong thời phong kiến

Trải qua hàng trăm năm phát triển, đến thời Hậu Lê nghề đóng thuyền

ở làng Hoàng Lao đạt đến một trình độ cao phục vụ cho nhiều nhu cầu tại địa phương và khắp nơi trong nước Triều đình nhiều lần huy động thợ Hoàng Lao đóng và sửa chữa thuyền chiến cho quân đội các triều, văn bia làng đã ghi chép về nghề đóng thyền phát triển bán cho nhiều nơi, được khách hàng đặt mua nhiều chứng tỏ uy tín của thuyền Hoàng Lao đã đạt đỉnh cao trong nước

+ Năm Bính Thìn 1676 vua Lê - chúa Trịnh giao cho Hoàng Lao mở xưởng đóng thuyền phục vụ cho triều đình và năm đó đã đóng được 6 chiếc10

+ Năm Đinh Mão Gia Long thứ 6 (1807) vua sai quan tham trị công

bộ Nguyễn Đức Huyên và Hoàng Kim Điển cùng vệ ủy thủy quân Phạm Văn Tường đi Nghệ An đố c sức đóng 100 chiếc thuyền ô (loại thuyền kiểu Quảng Đông - Trung Quốc)11

+ Năm Nhâm Ngọ Minh Mệnh thứ 3 (1822) vua dụ rằng “Nghệ

An là nơi nhiều gỗ quý, tốt, lại có nhiều thợ thuyền và giỏi nghề, họ đã nhiều

Trang 32

30

phen phục dịch cho triều đình về việc đóng thuyền Nay hạ chiếu cho Nghệ

An đóng một thuyền bóc đồng ghép ván giấy kiểu thuyền hiệu Điềm Dương

có chiều dài 6 trượng 7 thước, rộng 1 trượng 5 thước, 3 tấc sâu 1 trượng, 1 thước 9 tấc 3 phân Đưa về kinh đô sau khi hoàn tất12

+ Năm Tân Sửu Thiệu Trị thứ nhất 1841 vua lại giao cho Nghệ An đóng một chiếc thuyền kiểu Tế Xuyên và một chiếc thuyền kiểu Hòa Lạc, giao nộp về kinh sau khi hoàn tất13

+ Năm Tân Dậu Tự Đức thứ 14 vua giao cho Nghệ An chế tạo 3 chiếc hải vận, thay thế 3 thuyền cũ đã hỏng Sau khi hoàn thành Nghệ An đã có tờ tấu trình kê khai mọi chi phí chế tạo 3 chiếc thuyền tấu trình về kinh14

+ Năm Canh Ngọ, triều Tự Đức thứ 23 (1834) vua đã ra chiếu cho các tỉnh phía bắc: Hải Dương, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Nghệ An đóng các hạng thuyền để có được hạng thuyền đẳng hạng Giá cả do hai bên ưng thuận, miễn mọi thuế dịch

+ Năm Qúy Mão triều Thiệu Trị thứ 3 (1834) nhà vua phê chiếu chỉ, chuẩn y tờ tấu: Nghệ An đã đóng xong hai thuyền tuần dương, khảo nghiệm thấy chắc chắn, nhất đẳng hạng, cần phải khao thưởng Nghệ An các người thợ đóng hai thuyền đó cũng phải được thưởng tiền, thợ đầu cánh thưởng mỗi viên hai quan, thợ bạn ngang mỗi viên một quan năm tiền

Phần lớn thuyền các vua triều Nguyễn giao cho Nghệ An đóng đều do thợ Hoàng Lao thực hiện

2.1.2.2 Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Làng nghề đóng tàu Hoàng Lao (Trung Kiên) là một trong một số ít làng nghề nổi tiếng giàu kinh nghiệm, tay nghề giỏi được lưu truyền qua nhiều thế hệ, đã đóng góp nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

12 Theo sách “Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ”, tập 13, Nxb Khoa học xã hội (2007), trang 351- 369

13 Theo sách “Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ”, tập 13, Nxb Khoa học xã hội (2007), trang 351- 366

14

Tờ tấu trang 34- 35, Châu bản tập số 128

Trang 33

31

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp thợ làng nghề Trung Kiên đã đóng hàng chục ngàn tấn thuyền vận tải để phục vụ kháng chiến, đóng 12 chiếc thuyền phà, 4 chiếc cầu Đáng tự hào là trong đợt dân công hỏa tuyến thợ làng nghề Trung Kiên đã chịu trách nhiệm đóng phà ở Hòa Bình và phà vượt sông Lô ở Tuyên Quang

Sau ngày hòa bình lập lại, phong trào hợp tác xã được dấy lên Trong

xu thế chung, ở làng Hoàng Lao cũng thành lập được một hợp tác xã với tên gọi là Hợp tác xã tàu thuyền Trung Kiên Người đầu tiên làm chủ nhiệm hợp tác xã là Nguyễn Thân Mến, cùng với đó là hai phó chủ nhiệm Võ Văn Thăng

và Nguyễn Trọng Khiết Khi chiến trang phá hoại miền Bắc bùng nổ, hợp tác

xã tàu thuyền Trung Kiên, cùng với nhân dân Trung Kiên tham gia tích cực vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Hợp tác xã đóng tàu thuyền Trung Kiên từ 45 xã viên phát triển lên xí nghiệp có 500 lao động, hợp tác xã đã đóng hàng ngàn tấn tàu, thuyền, phà, sà lan, phà phao phục vụ kháng chiến Hợp tác xã là đơn vị lá cờ đầu của ngành thủ công nghiệp toàn miền Bắc Từ một địa điểm đóng tàu thuyền năm 1964 đến năm 1971 đã có 5 địa điểm

Năm 1966, Bác Hồ công nhận chi bộ Trung Kiên là chi bộ 4 tốt Trung Kiên là đơn vị được Trung ương và tỉnh ủy trực tiếp giao nhiệm vụ bí mật đóng thuyền kiểu miền Nam không số chở cán bộ, vũ khí vào chi viện cho chiến trường miền Nam trên tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển Đó chính là những con tàu không số thực hiện nhiệm vụ giao thông giữa tiền phương với hậu phương bằng đường biển

Đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã Nguyễn Thân Mến là đại biểu Quốc hội khóa 3 và được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động Hợp tác xã được Chính phủ tặng nhiều Huân chương Chiến công và Huân chương Lao động

Trang 34

32

Hiện nay, làng nghề Hoàng Lao đang chuyển mình theo cơ chế thị trường Từ đóng tàu thuyền loại nhỏ truyền thống, nay chuyển sang đóng tàu thuyền lắp máy, đóng tàu có công suất lớn để vận tải và đánh bắt hải sản xa

bờ Nghề nghiệp được nâng cao phát triển, phẩm chất truyền thống người thợ được giữ vững

2.2 Vai trò của nghề đóng tàu trong đời sống kinh tế Nghi Thiết

Nghề đóng tàu thuyền đã trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển

ở Nghi Thiết, đến nay, đã trở thành một sinh kế chính trong cộng đồng dân

cư Trong cơ cấu kinh tế của Nghi Thiết15, nhóm ngành công nghiệp- xây dựng16 chiếm 58,87% Năm 2014, toàn xã Nghi Thiết đã đóng mới và bàn giao cho khách hàng được 83 chiếc tàu, tăng 2 chiếc so với năm 2013 Cũng trong năm 2014, tổng doanh thu từ các ngành nghề ở xã Nghi Thiết là 127,775 tỷ đồng, trong đó doanh thu từ hoạt động đóng tàu thuyền là 57 tỷ đồng, chiếm 44,6% tổng doanh thu Doanh thu từ nghề đóng tàu thuyền đóng góp một phần lớn vào sự phát triển kinh tế tại địa phương

Nghề đóng tàu, thuyền ở Nghi Thiết là nguồn sinh kế chính của phần lớn dân cư tại địa phương Đến nay, đã đóng được hàng ngàn con tàu du lịch, vận tải đánh bắt giải quyết việc làm cho nhiều lao động nông nhàn góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo tại địa phương Với nguồn thu nhập cao

từ nghề đóng tàu thuyền, người dân nơi đây tiến tới hoàn thành chương trình xây dựng Nông thôn mới, ổn định đời sống kinh tế, xã hội Theo chia sẻ của

chủ xưởng Hoàng Văn Lệ “So với mặt bằng chung đời sống kinh tế của các

xã trong huyện Nghi Lộc, Nghi Thiết là xã có đời sống kinh tế khá Kinh tế Nghi Thiết không thể phát triển không bằng các xã thuận lợi về giao thông như các xã có đường quốc lộ đi qua nhưng so với các xã ven biển thì mức

Trang 35

33

sống của người dân cao hơn Bởi vì ở Nghi Thiết có nghề đóng tàu, người lao động không khó để xin làm việc ở các xưởng trong xã Người chủ nào cũng muốn thuê người trong làng trong xã vì hiểu nhau dễ làm việc với nhau hơn”

Nghề đóng tàu, thuyền là nguồn sinh kế có sẵn tại địa phương, các thế

hệ người lao động ở Nghi Thiết bất cứ lúc nào cũng có thể trở về làm nghề

khi họ không tìm được việc làm Chị Nguyễn Thị Mơ chia sẻ “Trước đây chị

không làm nghề này, nhưng lấy chồng về đây, có sẵn nghề, mình cũng xin một việc làm, làm công việc vặt, mỗi ngày thu nhập cũng được 100 nghìn, có thêm đồng mua rau”

Đối với các chủ xưởng, nghề đóng tàu thuyền bên cạnh việc đảm bảo kinh tế, duy trì đời sống gia đình, còn giúp các chủ xưởng có điều kiện cho

các con học tập tốt hơn Chủ xưởng Nguyễn Văn Nghi chia sẻ “Nhờ vào xưởng

tàu này, bác đã nuôi 4 anh chị học đại học Cho một chị đi du học ở Nhật Bản Nếu đi làm thuê thì không có đủ điều kiện để cho con học hành như vậy”

Trong đời sống kinh tế, nghề đóng tàu thuyền đem lại cho người làm nghề một cuộc sống đầy đủ và có điều kiện để hỗ trợ cho sự phát triển của các con trong tương lai Đồng thời, nghề đóng tàu tại địa phương cũng tạo ra nguồn việc làm cho bộ phận lao động tại chỗ

2.3 Hoạt động đóng tàu thuyền ở xã Nghi Thiết

2.3.1 Sự hình thành các xưởng đóng tàu, thuyền tư nhân và tổ chức quản lý trong xưởng

Hiện nay, ở xã Nghi Thiết có tống cộng 13 xưởng đóng tàu, thuyền tư nhân với quy mô lớn nhỏ khác nhau

Trang 36

Nguồn: Điều tra điền dã của tác giả (2015)

Khi cả nước chuyển sang kinh tế thị trường, Hợp tác xã Trung Kiên giải thể năm 1990 Trước khi hợp tác xã giải thể phần lớn thợ đóng tàu ở làng Trung Kiên đều làm việc tại hợp tác xã, khi hợp tác xã ngừng hoạt động, một

số người thợ đóng tàu từng làm việc trong hợp tác xã trước đây đã đứng ra thành lập ra xưởng tàu của riêng họ, tùy vào khả năng của từng cá nhân mà các xưởng đóng tàu được thành lập vào khoảng thời gian sớm muộn khác nhau Hầu hết các xưởng đều được thành lập vào nửa đầu những năm 90 của

Trang 37

35

thế kỷ 20 Bác Trần Đăng Hòa17 cho biết: “Năm 1992, bác xin xã một miếng

đất, miếng đất sát ngoài cùng mép sông Gia đình bác đóng một con đò, chở

nhà bác được mở trên miếng đất đó.” Một số xưởng thành lập muộn hơn vào

những năm đầu của thế kỷ 21, đặc điểm chung của các xưởng này là ông chủ xưởng trước đây không làm việc trong hợp tác xã Trung Kiên, nhưng thế hệ trước của họ thì có Xưởng đóng tàu của anh Nguyễn Gia Quảng được thành

lập năm 2012: “Anh trước đây không có học nghề đóng tàu, anh làm nghề

buôn bán hải sản, sau đó bị người ta lừa mất tiền, anh lâm vào bước đường cùng nên quyết định quay lại làm nghề đóng tàu vì mình cũng có sẵn xưởng của bố mẹ trước đó đã làm nghề để lại Xưởng đã có từ lâu đời do ông nội để lại, rồi đến đời cha anh, nhưng ban đầu anh không theo nghề, nên một thời gian, cha anh nghỉ không làm nghề do tuổi cao, xưởng cho người ta thuê, còn anh thì bây giờ về mới làm lại hai năm nay”

Các xưởng đóng tàu, thuyền ở xã Nghi Thiết không được mở ra một cách đồng bộ, lý do mở xưởng mang tính cá nhân, phụ thuộc vào sự lựa chọn

và điều kiện của từng gia đình chủ xưởng Hiện nay, tùy thuộc vào tiềm lực tài chính và khả năng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng mà các xưởng đóng tàu, thuyền có quy mô lớn nhỏ khác nhau, trong đó phải kể đến một số xưởng lớn của các chủ xưởng như Hoàng Văn Lệ, Trần Đăng Hòa, Võ Thế Xâm

Mỗi xưởng là một mô hình sản xuất mang tính hộ gia đình Người đứng đầu xưởng là ông chủ xưởng, là ông chồng là người chủ của gia đình sở hữu xưởng đóng tàu Người vợ của ông chủ xưởng làm công việc kế toán, là người ghi chép sổ sách, các khoản mua bán chi tiêu của xưởng , bác Hoàng

Thị Hoa, vợ chủ xưởng Võ Thế Xâm cho biết “Làm nghề thì chỉ có hai vợ

17 Trước đây bác là chủ xưởng nhưng nay đã giao lại cho con trai là anh Trần Đăng Lữ

Trang 38

36

chồng thôi, chồng thì lo việc đóng tàu, mua gỗ, tìm khách, còn vợ thì lo quản

lý tài chính.” Như vậy trong một xưởng đóng tàu, ông bà chủ là người quản

lý tất cả mọi vấn đề, ông chồng làm chủ, là người ra quyết định trong công việc kinh doanh của gia đình Ông bà chủ thuê lao động về xưởng làm việc, là các thợ thủ công đóng tàu khác ở địa phương Số lượng thợ trong xưởng từ 10 đến 70 người, tùy vào quy mô của xưởng và tùy vào thời điểm công việc nhiều hay ít Trong số thợ chia ra thành nhiều cấp bậc, bao gồm: thợ cả, thợ bậc hai, thợ bậc ba, thợ bậc bốn, thợ bậc năm (thợ học việc), trong đó, người thợ cả là người giúp đỡ ông chủ rất nhiều Thợ cả là người thợ có tay nghề cao nhất ở xưởng tàu, không bao gồm ông chủ, là người được ông chủ giao nhiệm vụ chỉ đạo kỹ thuật cho cả xưởng Nhiều chủ xưởng tay nghề cao hơn thợ mà họ thuê nhưng phải lo công việc kinh doanh nên cần có thợ cả, để đảm bảo vấn đề kỹ thuật luôn được chỉ đạo đầy đủ Chủ xưởng chỉ đạo kỹ thuật và

vẽ bản vẽ để đóng tàu Như vậy, mỗi xưởng đóng tàu là một hộ kinh doanh riêng, các vấn đề trong xưởng do hai vợ chồng người chủ quyết định, trong đó ông chồng đóng vai trò chính, người vợ phụ giúp chồng trong công việc quản

lý tài chính, bên cạnh đó, họ thuê hệ thống người giúp việc là các thợ thủ công đóng tàu với vai trò nổi bật của thợ cả đã hỗ trợ đắc lực cho ông bà chủ trong việc giám sát thi công công trình

2.3.2 Quan hệ lao động

2.3.2.1 Lực lượng lao động và thu nhập

Đối với nghề đóng tàu thuyền, lực lượng lao động là các thợ thủ công Hiện nay, trong 13 xưởng ở xã Nghi Thiết, số lượng lao động không cố định Theo các chủ xưởng cho biết, số lượng nhân công ở xưởng phụ thuộc vào đơn đặt hàng của xưởng, nếu có nhiều việc thì có nhiều thợ và ít việc thì ít thợ Lao động làm nghề đóng tàu bao gồm lao động thường xuyên18

và lao động

18

Lao động thường xuyên là lao động chọn nghề đóng tàu làm sinh kế chính

Trang 39

37

thời vụ19 Theo thống kê của chi cục Thống kê huyện Nghi Lộc (năm 2013) làng nghề đóng tàu Trung Kiên (ở xã Nghi Thiết) có 300 lao động thường xuyên, 300 lao động thời vụ, trong đó có 200 lao động lành nghề

Bảng 2.2 Số lao động đang làm việc tại các xưởng đóng tàu thuyền

Trang 40

38

Đặc trưng của nghề đóng tàu thuyền là công việc thường mang tính nặng nhọc và đòi hỏi tính kỹ thuật cao Trước đây, hầu như chỉ có đàn ông làm nghề này nhưng hiện nay ở Nghi Thiết trong các xưởng đóng tàu có sự tham gia của phụ nữ Phụ nữ làm việc trong xưởng đóng tàu chủ yếu là làm các việc vặt như xẻ gỗ,… các công việc không liên quan đến kỹ thuật, bởi vì

họ không biết kỹ thuật làm nghề

Tiền công lao động của người thợ được tính theo giờ, do đó, đòi hỏi tính kỷ luật là phải đi làm đúng giờ Mức lương của người lao động được quy định dựa vào vị trí công việc của người thợ tại xưởng, tuy nhiên, không phải tất cả các xưởng đều có một mức lương chung Thợ cả20 là người có mức lương cao nhất ở xưởng, dao động từ 350.000đ đến 400.000đ một ngày Tiếp theo là các thợ bậc một, bậc hai, bậc ba,… đến thợ xẻ gỗ, thợ học việc mức lương giảm dần tùy thuộc vào trình độ kỹ thuật của người thợ, mức lương thấp nhất dao động từ 180.000đ đến 200.000đ Người lao động đi làm ngày nào tính lương ngày đó, một ngày tính trung bình làm 9 tiếng21

, buổi sáng từ 7h đến 11h30, buổi chiều từ 13h đến 17h30, nếu làm nửa ngày thì tính lương nửa ngày, nếu đang đi làm có việc xin nghỉ thì tính lương theo giờ Bình quân thu nhập hàng tháng của người thợ đóng tàu thuyền khoảng 6 triệu đồng Có thể thấy, thu nhập từ nghề đóng tàu không phải là một khoản thu nhập nhỏ, người thợ lành nghề có thể có thu nhập từ 10 đến 15 triệu đồng mỗi tháng, nhưng hiện nay, ở Nghi Thiết nhiều lao động, đặc biệt là lao động trẻ không chọn nghề này làm sinh kế

Hiện nay, nghề đóng tàu ở Nghi Thiết đang thiếu khoảng vài trăm lao động, do xu hướng thích đi làm ăn xa ở nước ngoài và miền nam của lao động

20

Thợ cả đóng vai trò quán xuyến mọi công việc ở xưởng, từ việc tính toán khối lượng gỗ để đóng tàu đén việc chịu trách nhiệm về các vấn đề kỹ thuật của con tàu Để được làm thợ cả đòi hỏi phải có tay nghề cao cũng như kinh nghiệm dày dặn nhằm giúp ông chủ tiết kiệm được chi phí và đưa ra được mức giá phù hợp với khách hàng

21

Từ năm 2015, mỗi ngày người lao động làm 8 tiếng

Ngày đăng: 27/03/2017, 15:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.A. Belik (2000), Văn hóa học những lý thuyết nhân học văn hóa, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học những lý thuyết nhân học văn hóa
Tác giả: A.A. Belik
Nhà XB: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Năm: 2000
2. Trần Thị Mai An (2010), “Phác thảo yếu tố biển trong văn hóa Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 6, tr 90 - 95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo yếu tố biển trong văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Mai An
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng
Năm: 2010
3. Ban quản lý di tích lịch sử xã Nghi Thiết (2015), Tham luận “Sự hình thành làng, xã Nghi Thiết”, in trong “Nghi Thiết trong tâm hồn xứ Nghệ”, Nxb Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi Thiết trong tâm hồn xứ Nghệ
Tác giả: Ban quản lý di tích lịch sử xã Nghi Thiết
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2015
4. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên) (1995), Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1995
5. Từ Chi, Phạm Đức Dương (1996), “Vài nhận xét về thế ứng xử của người Việt trước biển”, Tạp chí Thông tin khoa học và công nghệ, Thừa Thiên Huế, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận xét về thế ứng xử của người Việt trước biển
Tác giả: Từ Chi, Phạm Đức Dương
Nhà XB: Tạp chí Thông tin khoa học và công nghệ
Năm: 1996
6. Vũ Minh Chi (2004), Nhân học văn hóa con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học văn hóa con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên
Tác giả: Vũ Minh Chi
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
7. Quang Dũng (2014), “Nghi Lộc gắn phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với xây dựng nông thôn mới”, trên trang http://nghean.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi Lộc gắn phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với xây dựng nông thôn mới
Tác giả: Quang Dũng
Năm: 2014
8. Lê Duy Đại (2013), Cư dân mặt nước ở sông Hương và đàm phá Tam Giang- Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên Huế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cư dân mặt nước ở sông Hương và đàm phá Tam Giang- Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Lê Duy Đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2013
9. Lê Cao Đoàn (1999), Đổi mới và phát triển vùng kinh tế ven biển, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và phát triển vùng kinh tế ven biển
Tác giả: Lê Cao Đoàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1999
10. Phạm Thị Hương Giang (2012), Khảo sát và nghiên cứu văn học dân gian của cư dân ven biển miền Trung và Nam Bộ, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học dân gian, trường Đại học KHXH và nhân văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát và nghiên cứu văn học dân gian của cư dân ven biển miền Trung và Nam Bộ
Tác giả: Phạm Thị Hương Giang
Nhà XB: trường Đại học KHXH và nhân văn Hà Nội
Năm: 2012
11. Grant Evans (chủ biên) (2001), Bức khảm văn hóa châu Á tiếp cận nhân học, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức khảm văn hóa châu Á tiếp cận nhân học
Tác giả: Grant Evans (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
12. Đinh Văn Hạnh - Phan An (2004), Lễ hội dân gian của người ngư dân Bà Rịa - Vũng Tàu, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội dân gian của người ngư dân Bà Rịa - Vũng Tàu
Tác giả: Đinh Văn Hạnh - Phan An
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2004
13. Vũ Thị Hạnh (2014), Lối sống người dân làng chài hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thụy và phường Ngọc Sơn, quận Kiến An, Hải Phòng), luận án tiến sỹ nhân học, viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối sống người dân làng chài hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thụy và phường Ngọc Sơn, quận Kiến An, Hải Phòng)
Tác giả: Vũ Thị Hạnh
Năm: 2014
14. H.Russel Bernard (2009), Các phương pháp nghiên cứu trong nhân học tiếp cận định tính và định lượng, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu trong nhân học tiếp cận định tính và định lượng
Tác giả: H.Russel Bernard
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
15. Trần Hoàng (2010), Sinh hoạt văn hoá dân gian cổ truyền làng biển Cảnh Dương, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh hoạt văn hoá dân gian cổ truyền làng biển Cảnh Dương
Tác giả: Trần Hoàng
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2010
16. Nguyễn Thanh Hùng (2015), Nghi Thiết trong tâm hồn xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi Thiết trong tâm hồn xứ Nghệ
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2015
17. Jean Pierre Olivier De Sardan (2008), Nhân học phát triển lý thuyết, phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu điền dã, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học phát triển lý thuyết, phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu điền dã
Tác giả: Jean Pierre Olivier De Sardan
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
18. Phạm Thanh Khiết (2005), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm tạo việc làm cho ngƣ dân ven biển Miền Trung”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 6, tr 57 - 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm tạo việc làm cho ngƣ dân ven biển Miền Trung”, Tạp chí "Nghiên cứu Kinh tế
Tác giả: Phạm Thanh Khiết
Năm: 2005
19. Nguyễn Văn Kim (chủ biên) (2011), Người Việt với biển, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Việt với biển
Tác giả: Nguyễn Văn Kim (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2011
20. Khiếu Thị Mai Lan (2014), Bảo tồn và phát triển nghề đóng tàu, thuyền làng Cống Mương (khu 8, phường Long Hải, đảo Hà Nam, thị xã Quảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát triển nghề đóng tàu, thuyền làng Cống Mương
Tác giả: Khiếu Thị Mai Lan
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w