1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quan điểm, mục tiêu của việc đảm bảo thực hiện tốt chính sách đối ngoại về tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ đên 2020

110 387 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 145,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, lãnh đạo thực hiện tốt chính sách dân tộc là một vấn đề Đảng bộ dân tộc ở Tây Nam Bộ rất quan tâm, để từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dâ

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP

A PHẦN MỞ ĐẦU.

I Tính cấp thiết của đề tài.

Là một quốc gia đa dân tộc, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc là một trong những nội dung cơ bản được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm thể hiện trong quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta Xuất phát từ tình hình đặc điểm của một quốc gia có nhiều dân tộc, có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời; Đảng Cộng sản Việt Nam lấy những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng để xây dựng và giải quyết vấn đề dân tộc trong từng giai đoạn cách mạng, đã vận dụng sáng tạo và đề ra hàng loạt chính sách cụ thể phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nước, đã và đang đạt được nhiều thành tựu quan trọng

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra và ngày càng hoàn thiện chính sách dân tộc trên cơ sở ba nguyên tắc cơ bản: Đoàn kết

- Bình đẳng - Tương trợ, tạo mọi điều kiện để các dân tộc từng bước trưởng thành trong sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Dân tộc là sản phẩm của của 1 quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người trước khi dân tộc xuất hiện thì loài người đã traỉ qua những hình thức cộng đồng người từ thấp đến cao như : thị tộc, bộ lạc, bộ tộc…Theo Mác - Lênin thì dântộc là một nội dung có ý nghĩa chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là vấn

đề thực tiễn nóng bóng và thận trọng đòi hỏi phải được giải quyết một cách đúng đắn và thận trọng, đối với Việt Nam thì :Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có

vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại

Trang 2

gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế, chăm

lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữgìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của cácdân tộc Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định

cư và xây dựng vùng kinh tế mới Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tri thức là người dân tộc thiểu số Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc"

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, dân tộc và công tác thực hiện chính sách dân tộc đang đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm, đầu tư nghiên cứu,nhằm đáp ứng đòi hỏi tất yếu khách quan của sự nghiệp xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đặc biệt là trong bối cảnh quốc tế và trong nước hiện nay, vấn đề dân tộc đang có những diễn biến phức tạp vừa có những tác động đến quan hệ quốc tế lại vừa mang tính đặc thù riêng của từng quốc gia Dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, nhân quyền luôn là những vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng, coi đó như những đột phá khẩu để chống phá sự nghiệp cách mạng của nước ta; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dày công xây dựng, với nhiều thủ đoạn khác nhau nhằm gây mất ổn định cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng

Trang 3

Là một trong những dân tộc ít người ở Việt Nam thực hiện chính sách dân tộc của Đảng từ khi đất nước đổi mới, đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào Khmer từng bước được nâng cao hơn Tuy nhiên, hiện nay vùng đồng bào dân tộc Khmer vẫn còn là một trong những vùng chậm phát triển còn nhiều khó khăn đòi hỏi phải có sự quan tâm nhiều hơn nữa.

Tây Nam Bộ là một khu vực ở đồng bằng sông Cửu Long, có vị trí và vai tròrất quan trọng đóng góp vào việc giữ vững an ninh - quốc phòng và phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước Đây là vùng kinh tế nông nghiệp trọng điểm của phía Nam

và cả nước, có điều kiện thuận lợi về địa lý tự nhiên trong phát triển nông nghiệp Đồng bào dân tộc ở Tây Nam Bộ với số lượng không nhiều nhưng lại sống trên một địa bàn chiến lược quan trọng có đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Campuchia Vì vậy, lãnh đạo thực hiện tốt chính sách dân tộc là một vấn đề Đảng

bộ dân tộc ở Tây Nam Bộ rất quan tâm, để từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của khu vực cũng như của cả nước, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng”.Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo và các loại hình tín ngưỡng; tín đồ cáctôn giáo đều là nhân dân lao động, có tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm Ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của lực lượng cách mạng Việt Nam Đảng, Nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính sách đoàn kết các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc để tiến hành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. 

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân luôn được Nhà nước ta tôn trọng, bảo đảm, coi đó là một trong những quyền cơ bản của công dân Thế nhưng,

Trang 4

các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách tung ra những luận điệu cho rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, nhằm gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ Đảng, Nhà nước với đồng bào các tôn giáo, kích động quần chúng tín đồ chống đối chính quyền, gây mất ổn định chính trị - xã hội, tạo cớ can thiệp vào nội bộ nước ta. Để thực hiện âm mưu này, chúng đã tiến hành bằng nhiều cách, với các phương thức, thủ đoạn rất thâm độc, xảo quyệt Chúng ta có thể nhận diện và chỉ ra sự phi lý của những luận điệu

vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, tôn giáo qua các hoạt động sau

Đảng, Nhà nước ta ngay từ khi thành lập đã hiểu rõ nhu cầu tâm linh của người dân Việt Nam và coi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền nhân thân cơ bản của người dân Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước tađược xây dựng một mặt dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam với tư tưởng nhất quán, xuyên suốt là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc

Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và

sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc

Trang 5

không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng phápluật Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.

Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàndân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Đại đoàn kết toàn dân tộc với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáovới sự nghiệp chung Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc; thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tôn giáo

Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụngtín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chínhsách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và nhiều cấp, nhiều ngành vì cuộc sống tinh thần và vật chất của hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo, phân bố ở mọi vùng, miền, địa phương trong cả nước

Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được

Trang 6

hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật Việc truyềnđạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo cũng như bỏ đạo.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4-2006) tiếp tục khẳng định: "Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáokhác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống "tốt đời, đẹp đạo" Các tổ chức tôn giáohợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ Thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của đồng bào các tôn giáo Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạmquyền tự do tôn giáo của công dân"

Vì vậy, nghiên cứu các chuyên đề " Quan điểm, mục tiêu của việc đảm bảo

thực hiện tốt chính sách đối ngoại về tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ đên 2020; Phương hướng, nhiệm vụ của việc đảm bảo thực hiện tốt chính sách đối ngoại

về tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ đến năm 2020; Các giải pháp nhằm đổi mới phương thức thực hiện chính sách đối ngoại về tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ." là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực, được tác giả nghiên cứu dưới góc độ của

Trang 7

chuyên ngành khoa học lịch sử Đảng, nhằm làm sáng tỏ những thành công, hạn chế, rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở An Giang vừa qua để tiếp tục thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.

II Tình hình nghiên cứu vấn đề.

Vấn đề dân tộc, tôn giáo đang thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu hoạch định chính sách, của các nhà khoa học từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Hiện nay, việc nghiên cứu về chính sách đối ngoại tôn giáo, dân tộc đã có các công trìnhsau:

- Đề tài khoa học cấp bộ: Lịch sử đấu tranh cách mạng của đồng bào các

dân tộc ít người ở nước ta của Ủy ban Dân tộc và Miền núi do TS Trình Mưu làm

chủ nhiệm trong đó có phần đề cập đến “Lịch sử đấu tranh của đồng bào dân tộc

Khmer ở Tây Nam bộ” đã nghiệm thu năm 1996.

- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Thủy bảo vệ năm 2001: Quá trình thực

hiện chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long.

- Báo cáo tổng quan đề tài khoa học cấp bộ năm 2003: Một số giải pháp

nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc Khmer ở miền Tây Nam bộ trong giai đoạn hiện nay do Th.S Lê Tăng làm chủ nhiệm.

- Viện Nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi: Vấn đề dân tộc và định

hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004

- Ủy ban Dân tộc - Viện Dân tộc: Một số vấn đề đổi mới nội dung quản lý nhà

nước và phương thức công tác dân tộc, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2004

Trang 8

- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Trung tâm Khoa học về tín

ngưỡng tôn giáo: Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Vấn đề tôn giáo ở khu vực đồng

bào Khmer Tây Nam bộ hiện nay, Hà Nội, 2003 do TS Hồ Trọng Hoài chủ nhiệm.

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu về người Khmer được công

bố trên các tạp chí chuyên ngành, cũng như trong các công trình chuyên khảo như:

Các dân tộc ở Việt Nam - các tỉnh phía Nam; Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long; Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ

Các công trình trên đây tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau từ góc độ sử học, dân tộc học, tôn giáo học, kinh tế học… đã trình bày, lý giải nhiều vấn đề đặt

ra đối với nghiên cứu đồng bào Khmer nói chung và bước đầu trình bày thực trạng đời sống và các giải pháp để nâng cao đời sống cho đồng bào Khmer ở miền Tây Nam bộ hoặc giới thiệu tổng quan về dân tộc Khmer Tuy nhiên, cho đến nay chưa

có đề tài nào trình bày về Đảng lãnh đạo dân tộc Khmer ở một tỉnh nói riêng

Tây Nam Bộ là khu vực có nhiều đồng bào Khmer sinh tụ và các dân tộc tiểu số khác, đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về Đảng bộ lãnh đạo thực hiện chính sách đối ngoại dân tộc, tôn giáo đối với đồng bào dân tộc Khmer nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung

III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.

- Mục đích nghiên cứu : Là trình bày một cách có hệ thống chủ trương chính

sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta và quá trình vận dụng chủ trương của Đảng

để chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào các dân tộc thiểu

số tại Tây Nam Bộ, làm rõ sự tác động của chính sách dân tộc, quan điểm, mục tiêu của việc đảm bảo thực hiện tốt chính sách đối ngoại về tôn giáo, dân tộc ở TâyNam Bộ đến năm 2020

Trang 9

- Nhiệm vụ của luận văn: Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn đánh giá

đúng những thành tựu, chỉ ra những hạn chế và rút ra những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào dân tộc tại Tây Nam Bộ; bước đầu đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy tác dụng của kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở địa phương Phương hướng, nhiệm vụ của việc đảm bảo thực hiện tốt chính sách đối ngoại về tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộđến năm 2020

IV Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

- Luận văn được hoàn thành trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và quyền dân tộc tự quyết; sự vận dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đề ra đườsng lối, chính sách dân tộc thể hiện thông qua kết quả thực hiện chính sách dân tộc ở Tây Nam Bộ

- Nguồn tư liệu chính để thực hiện đề tài là các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc và các văn bản cụ thể hóa việc tổ chức thực hiện các chính sách trên của Đảng bộ ở khu vực Tây Nam Bộ Tham khảo và tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài

- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp logic Ngoài ra, còn kết hợp các phương pháp khác như: đối chiếu so sánh, phân tích, thống kê, tổng hợp của khoa học lịch sử

V Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Chuyên đề chỉ nghiên cứu quan điểm, mục tiêu của việc đảm bảo thực hiện tốt chính sách đối ngoại về tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ đên 2020; Phương hướng, nhiệm vụ của việc đảm bảo thực hiện tốt chính sách đối ngoại về tôn giáo,

Trang 10

dân tộc ở Tây Nam Bộ đến năm 2020; Các giải pháp nhằm đổi mới phương thức thực hiện chính sách đối ngoại về tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ.

VI Đóng góp của luận văn

- Khẳng định tính đúng đắn những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vấn đề dân tộc Tìm ra những ưu điểm, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách đối ngoại tôn giáo, dân tộc của Đảng thông qua thực tiễn ở khu vực Tây Nam Bộ

- Trình bày một cách hệ thống chính sách dân tộc của Đảng ở khu vực Tây Nam Bộ qua đó góp phần vào nghiên cứu trong việc vạch ra những giải pháp mới xây dựng khối đoàn kết dân tộc của Đảng ở khu vực Tây Nam Bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

VII Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,

Chuyên đề gồm 3 chương chính sau:

Chương I Khái quát về đặc điểm tôn giáo, dân tộc và quan điểm của nhà nước ta

về chính sách đối ngoại tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ đến năm 2020

Chương II Thực trạng chính sách đối ngoại về tôn giáo dân tộc ở Tây Nam Bộ.Chương III Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp về chính sách đối ngoại tôn giáo - dân tộc ở Tây Nam Bộ đến năm 2020

Trang 11

B PHẦN NỘI DUNG

Trong điều kiện bối cảnh đất nước, khu vực và quốc tế có nhiều biến đổi sâu sắc, ngoại giao Việt Nam có nhiệm vụ phục vụ ổn định chính trị, ưu tiên phát triển kinh tế, đồng thời bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc

Chính sách đối ngoại tôn giáo, dân tộc của Đảng và Nhà nước ta được xây dựng một mặt dựa trên quan điểm cơ bản của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

Việt Nam là một nước đa tín ngưỡng, tôn giáo với khoảng hơn 20 triệu tín đồ theo các tôn giáo khác nhau Từ xưa đến nay, các tín ngưỡng, tôn giáo luôn chung sống hoà hợp, gắn bó với dân tộc Trong quá trình dựng nước và giữ nước, các dân tộc đã kề vai, đoàn kết bên nhau đấu tranh giành độc lập dân tộc, tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc; Cả 54 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hình thành một truyền thống tốt đẹp từ ngàn xưa, đó là xây dựng cuộc sống đan xen, hoà bình, trong đó mỗi dân tộc đều có tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán và văn hoá khác nhau góp phần tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam

          Đảng và Nhà nước ta hiểu rõ nhu cầu tâm linh của nhân dân Việt Nam bởi

lẽ, hầu hết nhân dân Việt Nam không những có tín ngưỡng truyền thống thờ cúng

tổ tiên, thờ các vị thành hoàng, những vị đã có công xây dựng quê hương, đất nước…mà không ít người là tín đồ các tôn giáo; Bản tính của người Việt Nam là khoan dung, cởi mở, do vậy dù là tôn giáo nào, tín ngưỡng nào, từ đâu đến thì cộng

Trang 12

đồng cũng sẵn sàng chấp nhận miễn là nó không xâm phạm đến lợi ích quốc gia và

đi ngược lại truyền thống văn hoá dân tộc

          Chính sách đối ngoại tôn giáo, dân tộc của Đảng và Nhà nước ta được xây dựng một mặt dựa trên quan điểm cơ bản của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; Tinh thần đó được Đảng

và Nhà nước ta thể hiện bằng hệ thống chính sách phù hợp với từng giai đoạn cách mạng

          Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn luôn có quan điểm, thái độ rõ ràng về tín ngưỡng, tôn giáo theo lịch sử phát triển của dân tộc Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng năm 1991 đã khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập dân tộc và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân” Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng ghi rõ: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”.          Chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tín ngưỡng, tôn giáo rất đúng đắn, minh bạch và từng bước được hoàn thiện Đến đầu thập kỷ

90, trong những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới, Bộ Chính trị ra Nghị quyết

Trang 13

số 24/NQ-TW Về công tác tôn giáo trong tình hình mới, đã ghi dấu son về sự đổi mới đường lối, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo Nghị quyết 24/NQ-TW xác định:

…Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 24/NQ-TW, Đảng ta đã tổng kết, đánh giá những thành tựu và nêu rõ những khuyết điểm, đồng thời Bộ Chính trị ra Chỉ thị 37/CT-TW ngày 02/7/1998 Về công tác tôn giáo trong tình hình mới Cho đến Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy, khoá IX về công tác tôn giáo (Nghị quyết 25/NQ-TW ngày 12/3/2003) thì quan điểm chính sách của Đảng ta đốivới tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được khẳng định và phát triển thêm một bước mớiphù hợp với sự nghiệp đổi mới đất nước Đó là: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trìnhxây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật” Những quan điểm của Đảng

ta từ ngày thành lập đến nay chứng minh rằng Đảng coi quyền tự do tín ngưỡng là một nhu cầu quan trọng của con người, là một trong những quyền công dân, quyền chính đáng của con người Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng đức tin của đồng bào theo tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; tôn trọng quyền được theo bất cứ tôn giáo nào, mong muốn cho người dân theo tôn giáo được “phần hồn thong dong, phần xác ấm no”

          Nhà nước ta chỉ một ngày sau lễ Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong phiên họp đầu tiên vào ngày 03/9/1945, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã đề nghị chính phủ lâm thời tuyên bố: “Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”, coi đó là một trong sáu nhiệm vụ của Nhà nước còn non trẻ Sau

đó, thay mặt Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký văn

Trang 14

bản ngày 20/9/1945, trong đó Điều I ghi rõ: “Đền chùa, lăng tẩm, nhà thờ, tất cả những nơi có tính cách tôn giáo, bất cứ tôn giáo nào, nhân dân đều phải tôn trọng, không được xâm phạm” Nhưng văn bản có tính pháp luật tiêu biểu và hoàn chỉnh nhất trên chặng đường đầu tiên xây dựng luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng là Sắc lệnh số 234-SL ngày 14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Điều 15 trong Sắc lệnh ghi rõ: “ Việc tự do, tín ngưỡng, thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân, chính quyền dân chủ cộng hoà luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện”.

Trong lịch sử cho thấy, có nhiều cuộc chiến tranh do thương lượng mà đi đến hoà bình, nhiều cuộc mâu thuẫn xung đột sắc tộc, tôn giáo đẫm máu trên thế giới được thương lượng mà đi đến hoà giải Sau năm 1975 đất nước ta thống nhất, dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cả nước tập trung mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển đất nước và mở rộng quan hệ quốc tế Đảng và Nhà nước Việt Nam đã công bố chính sách đối ngoại của Việt Nam với các nước Đông Nam Á với mục tiêu hoà bình và phát triển, đồng thời cũng tuyên bố với thế giới: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Thực tiễn trong những năm gần đây ngoại giao

Việt Nam nói chung và đối ngoại tôn giáo nói riêng đã góp phần quan trọng khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và trong các sinh hoạt của đời sống quan hệ quốc tế và đối ngoại tôn giáo Việt Nam đã tham gia và chủ trì nhiều hội nghị thế giới và khu vực; một số tổ chức tôn giáo ở Việt Nam cũng đăng cai tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo về tôn giáo quốc tế lớn để lại dấu ân đậm nét trong lòng bạn bè thế giới Những sáng kiến của Việt Nam trong việc đóng góp xây dựngthế giới hoà bình, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái của hành tinh được các quốc gia ghi nhận và đánh giá cao, đồng thời cũng thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với các vấn đề quốc tế

Trang 15

Thực tế cho thấy, thời gian qua công tác đối ngoại tôn giáo có đóng góp tích cực trong việc thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở của Nhà nước Việt Nam trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế theo tinh thần “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập

và phát triển” Lực lượng tham gia hoạt động đối ngoại tôn giáo không ngừng được

mở rộng và phát huy hiệu quả trong thực tiễn với địa bàn hoạt động ngày càng đa dạng, đối tác quan hệ trên kênh đối ngoại tôn giáo ngày càng phong phú, góp phần quan trọng đưa hình ảnh Việt Nam ra với thế giới, cụ thể tháng 5/2008, Việt Nam

đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên Hợp quốc (VESAK), với sự tham dự của 4.000 đại biểu quốc tế và trong nước từ 74 quốc gia và vùng lãnh thổ, đây là lễ hội tôn giáo lớn có uy tín với thế giới; đối ngoại tôn giáo đóng góp tích cực cho cuộc đấu tranh trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, chống âm mưu

“Diễn biến hoà bình” của các thế lực xấu, bày tỏ tình đoàn kết quốc tế với bạn bè thế giới, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng sức mạnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh Những thành tựu của công tác đối ngoại tôn giáo năm 2010 là minh chứng rõ nét cho hoạt động quốc tế của tôn giáo đã tăng về số lượng, phong phú đa dạng về nội dung, hình thức, nhiều đoàn cán bộ và chức sắc các tôn giáo đã tham gia đối thoại về tôn giáo như: Đoàn liên ngành đi Philipin tham dự Hội nghị đặc biệt cấp Bộ trưởng các nước phong trào không liên kết về đối ngoại tín ngưỡng và hợp tác vì hoà bình và phát triển; Đoàn cán bộ liên ngành và chức sắc tôn giáo đi Tây Ban Nha tham dự Đối thoại

“Liên tín ngưỡng ASEM lần thứ VI”; Đoàn Ban Tôn giáo Chính phủ và Ban Tôn giáo một số địa phương đi nghiên cứu tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo tại Malaysia và Singapore Bên cạnh đó Việt Nam đã đón và làm việc với nhiều đoàn tôn giáo nước ngoài, nhiều cá nhân và tổ chức tôn giáo, tổ chức quốc tế đến trao đổi và tìm hiểu về chính sách tôn giáo của Việt Nam như: tham dự hội thảo bàn tròn về Tin lành do Viện Ngiên cứu Tôn giáo Việt Nam chủ trì phối hợp với Viện

Trang 16

Can dự Toàn cầu (IGE); tiếp tập đoàn truyền thông (WAZ) của Đức vào Việt Nam

để tìm hiểu chính sách tôn giáo của Việt Nam; dự Hội thảo tôn giáo và Pháp quyềntại Utah, Hoa Kỳ theo lời mời của trường Đại học BYU,…có thể khẳng định các cuộc làm việc, trao đổi của các đoàn cán bộ, chức sắc các tôn giáo của Việt Nam với các đoàn nước ngoài trên tinh thần hợp tác, thiện chí và tăng cường sự hiểu biếtlẫn nhau; trong các chuyến thăm của các đoàn nước ngoài vào Việt Nam, nhiều đoàn đã tiếp xúc với lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đại diện các bộ, ngành các tổ chức,

cá nhân tôn giáo mà đoàn quan tâm Đây là điều kiện, cơ hội để các đoàn quốc tế được chứng minh thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam và có cái nhìn đầy đủ hơn về chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam

Chương I: Khái quát về đặc điểm tôn giáo, dân tộc và quan điểm của nhà nước ta về chính sách đối ngoại tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ đến năm 2020

1 Khái quát về đặc điểm tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ

Trong thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã xác định đường lối chiến lược “pháthuy sức mạnh toàn dân tộc”, coi “đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo là động lực chủ yếu để phát triển đất nước”, để “phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế, của toàn xã hội”

Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, trong những năm đầu của thế kỷ XXI đã được Đảng và Nhà nước ta căn cứ vào tình hình thực tiễn trong nước, trong khu vực và trên thế giới; căn cứ vào yêu cầu phát triển để đề ra nhiệm vụ cho từng giai đoạn với những giải pháp thích hợp

và nhiệm vụ cụ thể

Trang 17

Theo định hướng của Đảng và Nhà nước, công tác dân tộc ở nước ta từ trước đến nay được xây dựng trên cơ sở của các nguyên tắc cơ bản: bình đẳng - đoàn kết

- tương trợ giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam

Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ:

Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tươngtrợ giúp nhau phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất tinh thần, xóa đói giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồidưỡng cán bộ dân tộc thiểu số Động viên và phát huy vai trò của những người tiêubiểu, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc, chống

tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc

Trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến rất phức tạp hiện nay, các thế lực thù địch đang tìm cách phá hoại khối đại đoàn kết của cộng đồng dân tộc Việt Nam, âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động, chia rẽ, gây rối và can thiệp vào công việc nội bộ nước ta, chống phá chế độ và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Nhận thức đúng đắn, về vị trí, vai trò và trách nhiệm thực hiện chính sách dân tộc trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang là một yêu cầu vừa cơ bản vừa cấp bách

Trang 18

Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) năm 2003

đã ra Nghị quyết riêng về công tác dân tộc, thể hiện sự quan tâm của Đảng ta về vấn đề dân tộc, tạo ra bước chuyển biến to lớn trong lĩnh vực công tác này, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Vấn đề dân tộc là vấn đề chính trị - xã hội đặc biệt nhạy cảm Các giai cấp khinắm quyền thống trị đều phải quan tâm giải quyết các vấn đề về dân tộc và quan hệgiữa các dân tộc Lịch sử đã chứng minh, giai cấp thống trị trong mỗi thời đại lịch

sử đều đưa ra những phương thức giải quyết vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc theo quan điểm, ý thức hệ của giai cấp của mình Các phương tiện giải quyết

thường được gọi là " chính sách dân tộc" Như vậy, chính sách dân tộc thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền thống trị xã hội, nắm đích của chính sách đó nhằm điềuchỉnh các quan hệ dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc trong một quốc gia theo quan điểm của giai cấp thống trị tại quốc gia đó Chính sách dân tộc cũng là cơ sở để giải quyết mối quan hệ giữa các quốc gia dân tộc trong khu vực và quốc tế

Tây Nam Bộ là vừng đất thuộc hạ lưu sông Mêkông, đây là khu vực có tầm chiến lước của cả nước Dân cư ở khu vực Tây Nam Bộ bao gồm nhiều tộc người: Người Kinh, người Hoa, người Khơ me, người Chăm v.v Trong đó người Khmervới hơn một triệu dân chiếm 6% dân số khu vực

Theo tổng hợp của cơ quan đặc trách công tác dân tộc ở Nam Bộ, tính đén thắng 12 năm 1995, tổng số dân Khmer ở khu vực Nam Bộ là 1.055.811 người Với số lượng cư dân trên, tộc Khơ me là cộng đồng dân tộc có số lượng lớn đứng thứ hai ở khu vực Tây Nam Bộ sau người Kinh Trong đó có đến 1.038.876 người chiếm 98,39% cư trú ở 7 tỉnh thuộc khu vực tây Nam Bộ là Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Minh Hải, An Giang Trong 7 tỉnh của miền tây

Trang 19

Nam Bộ thì 3 tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh và kiên Giang là nơi cư trú tập trung đông nhất của đồng bào Khơ me.

Ngoài một số loại hình tín ngưỡng dân gian, người Khơ me theo hai tôn giáo chính là : Bàlamôn giáo và Phật giáo Tuy nhiện, hiện nay hầu hết người Khơ me đều theo Phật giáo tiểu thửa ( Phật giáo Nam tông ) Bàlamôn chỉ còn tồn tại như một tàn dư và Phật giáo giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào dân tộc Khơ me Tây Nam Bộ

Có thể nói, ở đâu có người Khơ me Sinh sống thì ở đó có chùa chiền sư sãi Theo báo cáo của cơ quan đặc trách công tác dân tộc ở Nam Bộ, tính đến thắng 7.1992 dân số Khơ me khu vực Tây Nam Bộ là 1.046.318 người phân bố chủ yếu ởcác tình như sau : An Giang 85.728 người, Bạc Liêu 58.073 người, Cần Tơ có 33.900 người, Cà Mau 23.678 người, Kiên Giang có 181.149 người, Sóc Trăng có 384.116 người Trà Vinh co 293.323 người, Vĩnh Long có 22.351 người Số chùa trong toàn khu vực là 434 chùa phân bố ở accs tỉnh như sau: An Giang có 64, Bạc Liêu 22, Cần Thơ 26, Cà Mau 6, Kiên Giang 72, Sóc Trăng 90, Trà Vinh 141, Vĩnh Lõng 13 Sõ sư sãi tổng cộng có 8.170 người phân bố như sau : An Giang có

816 người, Bạc Liêu có 454 người, Cần Thơ có 170 người, Cà Mau có 74 người, Kiên Giang có 1000, Sóc Trăng có 1.966, Trà Vinh 3.500, Vĩnh Long 190

Như vậy trung bình cứ 2.411 người Khơ me thì có một ngôi chùa và cứ

128.000 người thì có một nhà sư Tại 3 tỉnh đông người Khơ me cư trú nhất là Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang cũng là nơi có nhiều chùa và sư vãi nhất Dân số Khơ me tại 3 tỉnh này chiếm 78,6% dân số Khơ me toàn khu vực, số chùa chiếm 69,8% và số sư sãi chiếm 79,1%

Trang 20

Từ năm 1990 đến nay, Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sảnViệt Nam đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác tôn giáo trong tình hình mới Trong đó, công tác chỉ thị về tôn giáo mang những đặc điểm sau :

Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và

sẽ tồn tại cũng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Đồng bào tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, do vậy Đảng có quan điểm " Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền

tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt bình thường theo đúng pháp luật Các tôn giáo hoạt động theo đúng khuôn khổ của phápluật, bình đẳng trước pháp luật

Đảng ta vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo dưới chủ nghĩa xã hội Đặc biệt, Đảng chú trọng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo trong thựchiện chính sách tôn giáo Trên cơ sở thừa nhận tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của tinh thần của một bộ phận nhân dân và đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với

sự nghiệp xây dựng xã hội ở nước ta Đảng yêu cầu tất cả cán bộ, đảng viên và công dân phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

Sự tôn trọng đó phải được hiểu là Đảng chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân, trong đó có nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận nhân dân, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, không phân biệt đối xử vì lý

do tín ngưỡng, tôn giáo, nhằm tăng cường đoàn kết, gắn bó giữa Đảng, Nhà nước

và nhân dân, tạo sự đồng thuận, giữ vững ổn định chính trị - xã hội Bên cạnh đó, Đảng ta yêu cầu hệ thống chính trị các cấp và toàn dân nêu cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm công tác tôn giáo, dân tộc

Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trang 21

Đồng bào theo tôn giáo là một bộ phận không thế tách rời khối đại đoàn kết toàn dân tộc, có vai trò lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Vì vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là:

Đoàn kết đồng bào théo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công dân với lý do tín ngưỡng, tôn giáo Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia

Nội dung trên thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng ta Đảng và nhà nước đánh giá cao vai trò và sự đóng góp to lớn của bộ phận nhân dân theo tôn giáo Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chỉ thành công khi có đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo được củng cố Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước chú trọng giáo dục truyền thống trong đạo lý của dân tộc Tăng cường đoàn kết lương giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, làm thất bại âm mưu của những kẻ chống phá Nhà nước ta

2 Quan điểm của nhà nước ta về chính sách đối ngoại tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc được thể hiện trong cương lĩnh dân tộc của Lênin gồm ba nội dung chủ yếu: Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc có quyền tự quyết, đoàn kết nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh xóa bỏ áp bức dân tộc và xây dựng mối quan hệ mới giữa các dân tộc.Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, thực chất của bình đẳng dân tộc là xóa bỏ sự nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác Từng bước xóa

Trang 22

bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc, việc thực hiện bình đẳng dân tộc sẽ góp phần thực hiện bình đẳng xã hội Sự bình đẳng này phải được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…Để thực hiện được điều ấy chỉ có đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân mới thực hiện được quyền bình đẳng và tự quyết đúng đắn, khắc phục được thái độ kỳ thị và mới đoàn kết được nhân dân lao động các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người, đưa các dân tộc tiến tới bình đẳng, công bằng, dân chủ, văn minh.

Trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắt gặp tư tưởng Lênin về cách mạng vô sản và vấn đề dân tộc thuộc địa Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, căn cứ vào thực tiễn Việt Nam là mộtquốc gia đa dân tộc, Bác đã nhiều lần căn dặn chúng ta về việc quan tâm đến đời sống của đồng bào các dân tộc Người nói:

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã giúp Đảng ta thấy rõ rằng trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta thì vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân Cách mạng dân tộc thực chất là cách mạng của nông dân do giai cấp công nhân lãnh đạo và chính quyền nhân dân thực chất là chính quyền của công nông

Người luôn kêu gọi đoàn kết các dân tộc, bởi đoàn kết là một yếu tố cực kỳ quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam Người chỉ rõ: Nhờ sức đoàn kết đấu tranh chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn sự phân chia nòi giống, tiếng nói làm gì nữa; Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa

Trang 23

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc hoạch định và thực hiện đường lối, chính sách chung của cả nước Người nhắcnhở phải tìm cách vận dụng đường lối chính sách chung ấy sao cho phù hợp với điều kiện các dân tộc, đồng thời Người cũng quan tâm đến việc hoạch định và thựchiện những chính sách cho riêng đồng bào các dân tộc thiểu số, cho riêng miền núi.Đặc biệt trong Di chúc Bác Hồ đã căn dặn:

Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù Từ ngày có Đảng nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân

Đặc điểm nổi bật trong quan hệ dân tộc - tộc người ở Việt Nam là có truyền thống đoàn kết gắn bó từ lâu đời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Do đặc điểm lịch sử của cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt và chống giặc ngoại xâm, các dân tộc ở Việt Nam, thiểu số cũng như đa số tuy trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán… khác nhau, nhưng đều có chung truyền thống đoàn kết thống nhất, tương thân, tương ái, đồng cam cộng khổ trong công cuộc dựng nước và giữ nước Truyền thống đó đã được phát huy cao độ trong các cuộc đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và đang được phát huy trong công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về vấn đề dân tộc và giải quyết các mối quan hệ dân tộc; xuất phát từ đặc điểm tìnhhình các dân tộc ở nước ta Đảng ta, luôn luôn đề ra chính sách dân tộc đúng đắn

Trang 24

ngay từ cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, tiếp tục hoàn thiện

và thể hiện cụ thể trong các Nghị quyết của các Đại hội đại biểu toàn quốc, trong các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và được khẳng định trong Hiến pháp

Chính sách dân tộc được thể hiện trong các giai đoạn, trên cơ sở cụ thể hóa những nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng:

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tháng 8 -1952, Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác dân tộc của Đảng đã chỉ rõ: “Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau để kháng chiến và kiến quốc”

Sau khi miền Bắc được giải phóng, đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng, miền Bắc trở thành hậu phương lớn của cả nước Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III đã đề ra chủ trương:

Đảng và Nhà nước cần có kế hoạch toàn diện và lâu dài phát triển kinh tế và văn hóa ở miền núi, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp dân tộc đa số, giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và khả năng to lớn của mình.Sau khi miền Nam được giải phóng, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta chủ trương tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàndân, đồng thời, coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam

Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ IV của Đảng đã chỉ ra một cách cụ thể hơn về chính sách dân tộc của Đảng:

Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặtgiữa các dân tộc, tạo ra những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch

Trang 25

về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ít người và dân tộc đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc phát triển về mọi mặt, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.

Đại hội Đảng lần thứ VI của Đảng cũng đã chỉ rõ con đường phát triển các dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc:

Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo của mỗi dân tộc

Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ VII của Đảng đã chỉ rõ:

Thực hiện chính sách bình đẳng đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam

Xuất phát từ tình hình phát triển không đồng đều giữa các dân tộc trong lịch

sử và sự chênh lệch lớn về đời sống kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, giữa các vùng, miền, Đảng và Chính phủ Việt Nam trong lãnh đạo công cuộc đổi mới ngày càng nhận rõ việc xóa bỏ sự chênh lệch giữa các vùng miền, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng dân tộc

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ:

Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn Thực hiện “ Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Xây dựng Luật dân tộc Từ nay đến năm 2000, bằng nhiều biện pháp tích

Trang 26

cực và vững chắc, thực hiện cho được 3 mục tiêu chủ yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện được đời sống, sức khỏe của đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh.

Để cụ thể hóa các Nghị quyết đổi mới của Đảng từ Đại hội VI, Bộ Chính trị

đã ban hành Nghị quyết 22 (ngày 27/11/1989) về một số chủ trương, chính sách lớn về phát triển kinh tế - xã hội miền núi

Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị đã nêu quan điểm chỉ đạo rất quan trọng là: Phát triển kinh tế - xã hội miền núi là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triểnnền kinh tế quốc dân Một mặt, các địa phương miền núi có trách nhiệm góp phần thực hiện chủ trương chiến lược phát triển kinh tế, xã hội chung của cả nước Mặt khác, việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách chung ở miền núi phải tính đầy đủ những đặc điểm về tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán của miền núi nói chung và của riêng từng vùng, từng dân tộc; trong việc này cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò năng động, sáng tạo của địa phương và cơ sở

Ngày 18/3/1990 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra quyết định số 72 về chủ trương chính sách cụ thể nhằm phát triển kinh tế - xã hội miền núi, nâng cao mức đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo đà phát triển mới cho các vùng đồng bào bằng các chương trình dự án cụ thể, phù hợp với từng vùng, từng địa bàn cư trú của các dân tộc ít người

Chỉ thị 68 - CT/TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VI) về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer Chỉ thị đã phân tích những

nguyên nhân chủ yếu của một số sai lầm tồn tại trong việc thực hiện chính sách

Trang 27

dân tộc của Đảng đối với đồng bào Khmer trong thời gian qua; đồng thời vạch ra

kế hoạch phát triển toàn diện về kinh tế, đời sống, văn hóa, xã hội, an ninh chính trị, công tác quần chúng, xây dựng Đảng và đào tạo cán bộ người Khmer

Với mục tiêu huy động mọi nguồn lực tại chỗ, phối hợp lồng ghép các

chương trình trên địa bàn để xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu ở mỗi trung tâm cụm

xã, nhằm tạo động lực đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi, góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng Thúc đẩy các hoạt động văn hóa

- xã hội trong tiểu vùng, tạo sự giao lưu giữa các bản, làng và giữa các cụm xã với

đô thị để phát huy sức mạnh cộng đồng, quản lý mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, góp phần xây dựng nông thôn mới vùng dân tộc và miền núi

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết dịnh số: 35/TTg, ngày 13/1/1997 phê duyệt Chương trình xây dựng trung tâm cụm xã miền núi, vùng cao

- Chỉ thị số 15/1998/CT-TTg ngày 28-03-1998 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội củng cố quốc phòng an ninh ở các xã, phường biên giới, hải đảo Để tiếp tục thực hiện Chỉ thị 23 -CT/TW ngày 29-11-1997 của Bộ Chính trị và triển khai thực hiện tinh thần Nghị quyết BanChấp hành Trung ương lần thứ IV (khoá VIII) về nhiệm vụ “Tăng cường và nâng cao hiệu quả hỗ trợ các vùng nghèo, xã nghèo” trong đó có các xã, phường biên giới, hải đảo

Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg ngày 23-7-1998 về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 1998 - 2000 Đây là một chương trình tổng hợp có tính chất liên ngành nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với mục tiêu: giảm tỷ lệ hộ đói nghèo trong tổng số hộ của cả nước xuống còn 10% năm 2000

Trang 28

Tiếp theo là Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31-7-1998 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa Mục tiêu của chương trình nhằm nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hòa nhập vào sự phát triển chung của cả nước, góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.

Thông qua các hệ thống văn bản, từ văn kiện của Đảng, Chính phủ, pháp luật của Nhà nước cũng như các văn bản dưới luật, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta ngày càng được quan tâm cả trong phương diện hoạch định chính sáchđến việc thể hóa và thực hiện trong đời sống

Chính sách dân tộc không chỉ nêu lên những nội dung xuyên suốt, bao trùm cảmột thời kỳ dài (thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước) mà cònđược xác định rõ những nhiệm vụ cụ thể, những mục tiêu cụ thể trong từng thời kỳ,thời đoạn Để làm được điều đó, cần phải thực hiện đầy đủ các nội dung cụ thể trêncác lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng

Về kinh tế: Nhiệm vụ kinh tế trong chính sách dân tộc chính là các chủ trương,

chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi và các vùng dân tộc thiểu số nhằm tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy tiềm năng và các nguồn lực, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế hàng hóa, từng bước khắc phục sự chênh lệch về tốc độ phát triển kinh tế giữa các vùng, miền, giữa dân tộc thiểu số với dân tộc đa số

Nội dung kinh tế trong chính sách dân tộc bao gồm nhiều nhiệm vụ, nhiều chương trình cụ thể liên quan đến các cấp, các ngành, từ Trung ương đến các địa

Trang 29

phương và cơ sở Đó là việc xây dựng cơ cấu kinh tế ở miền núi và các vùng dân tộc thiểu số trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ đến việc đẩy nhanh ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Phát triển kinh tế miền núi, các vùng dân tộc thiểu số cũng gắn liền với những nhiệm vụ

cụ thể trong điều chỉnh quan hệ sản xuất, đổi mới quản lý, giải phóng nguồn nhân lực sản xuất ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số Các chính sách, chủ trương phù hợp với các địa bàn, địa phương và những đặc điểm canh tác, sản xuất của các tộc người

Nội dung kinh tế của chính sách dân tộc cũng đòi hỏi phải xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện phát triển giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc để phát triển sản xuất, ổn định và nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số

Về chính trị: Nội dung bao trùm, xuyên suốt của chính sách dân tộc là thực

hiện sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc Đồng bào các dân tộc thiểu số cũng như đa số đều có quyền làm chủ, có đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ công dân, có quyền lợi và trách nhiệm xây dựng thể chế chính trị mới, phát huy vai trò của hệ thống chính trị, dân chủ hóa đời sống chính trị ở các vùng dân tộc thiểu số Ý thức chính trị, văn hóa chính trị (mà trước hết là những thông tin, tri thức về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền lợi, nghĩa vụ công dân…) được chú ý quan tâm trong chính sách dân tộc

Về văn hóa: Nội dung nhiệm vụ văn hóa cũng được phản ánh rất phong phú

trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bao hàm các nội dung bảo tồn, phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa, phát triển văn hóa, giáo dục, xây dựng đời sống văn

Trang 30

hóa mới của các dân tộc thiểu số, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, chống các tệ nạn

xã hội…, tạo nên sự thống nhất trong sự đa dạng của nền văn hóa Việt Nam

Về xã hội: Chính sách xã hội bao hàm nội dung giải quyết các vấn đề xã hội

Có rất nhiều nội dung, nhiệm vụ cụ thể thuộc chính sách xã hội được triển khai đanlồng trong nhiều chủ trương chính sách: Chính sách xóa đói, giảm nghèo đối với các vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng xa, vùng sâu; chính sáchtạo việc làm, chính sách đền ơn đáp nghĩa; chính sách bảo trợ xã hội; các chính sách về kế hoạch hóa dân số…Những chính sách đó đều phản ánh nội dung xã hội, trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

Về an ninh, quốc phòng: Chính sách dân tộc được hoạch định và thực hiện

cũng chính là tạo điều kiện củng cố, xây dựng an ninh, quốc phòng ngày càng vững chắc Bởi vậy, xây dựng, phát triển kinh tế văn hóa, xã hội cũng chính là thựchiện và đáp ứng những yêu cầu về ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia, trật

tự an toàn xã hội

Quán triệt đầy đủ các yêu cầu, nội dung nhiệm vụ của chính sách dân tộc đòihỏi chúng ta phải nhận thức sâu sắc rằng, thực hiện đúng đắn chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là trách nhiệm chung của tất cả mọi người, của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp của nước ta chứ không chỉ riêng đồng bào các dân tộc thiểu số

Lĩnh vực dân tộc, chính sách dân tộc có nội dung rộng lớn đòi hỏi việc hoạch định chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước phải luôn luôn được hoàn thiện, bổ sung, chi tiết hóa, pháp luật hóa

Về tư tưởng chỉ đạo, cần quán triệt rằng, giải quyết một vấn đề xã hội nói chung, vấn đề tôn giáo nói riêng không thể mong đợi thu lại được kết quả tức thì, bởi vì xã hội là một đại hệ thống cực kì phức tạp, hơn nữa, giải quyết vấn đề xã hội

Trang 31

về thực chất là giải quyết vấn đề con người Những con người đó không chỉ chịu

sự chi phối của quan hệ hiện tại, mà còn chịu tác động của các quan hệ truyền thống thông qua vô vàn những thiết chế Những tư tưởng truyền thống thông qua những thiết chế đã hình thành ở con người những suy nghĩ, tập quán, thói quen rất khó thay đổi Vì vậy, phải biết chờ đợi và không được nôn nóng khi sử dụng các biện pháp

Ngoài vấn đề trên, điều cần phải lưu ý thêm là, các giải pháp, mặc dù có thứ tự

ưu tiên, song phải đồng bộ để tạo nên tổng hợp lực có sức mạnh làm thay đổi tình hình Theo suy nghĩ đó, chúng tôi cho rằng Chính sách đối với tôn giáo ở Tây Nam Bộ cần tuân thủ các quan điểm sau đây:

 Chúng ta, qua thực tế cách mạng đều thống nhất khẳng định, để đảm bảo cho sự thành công của sự nghiệp xây dựng đất nước phải hết ức coi trọng

việc giữ vững ổn định chinh trị bởi đó là cơ sở, là nền tảng, là điều kiện của phát triển, cho phát triển Không chỉ ở Việt Nam mà có thể nói, ở mọi quốc gia trên thế giới các chính phủ càng phải nỗ lực để giữ vững ổn định chính trị của đất nước Nhiều quốc gia, khu vực để xảy ra nhiều bất ổn về chính trị thì kinh tế bị tàn phá, nguồn lực đất nước bị cạn kiệt, phân tán, đọng lực phát triển bị triệt tiêu Vì vậy, chính sách của nhà nước đối với đối ngoại tôn giáo phải phục vụ trực tiếp cho mục tiêu góp phần giữ vững ổn định chính của đất nước, đấu tranh thắng lợi với âm mưu và hành động của các thế lực chính trị phản động, của những người theo tư tưởng dân tộc cực đoan

 Chúng ta khẳng định đoàn kết là sức mạnh to lớn để xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp về đế quốc Mỹ xâm lược,

chúng ta đã toàn thắng bởi, chúng ta đã thực hiện thành công đại đoàn kết Hai mươi năm tiến hành đổi mới đất nước cũng vậy, chúng ta thu được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử cũng nhờ kiên trì thực hiện đại đoàn kết dân tộc Vì

Trang 32

vậy để hoàn thành những trách nhiệm mà cách mạng đặt ra trong giai đoạn hiện nay không còn con đường nào khác ngoài thực thi chiến lược đại đoàn kết

Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số tại Tây Nam Bộ, dù có đặc điểm lịch sử, văn hóa riêng, có tín ngưỡng, tôn giáo riêng, song họ là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Họ cũng chính là lực lượng cách mạng, là chủ thể tham gia bảo vệ và sáng tạo các giá trị của dân tộc Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại và trong tương lai Do đó, tăng cường sự đoàn kết,thống nhất cộng đồng dân tộc thiểu số Tây Nam Bộ là mục tiêu, là nguyên tắc mà chính sách đối ngoại tôn giáo , dân tộc của Nhà nước phải hướng tới

 Vấn đề tôn giáo và vấn đề dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ.Ở nhiều dân tộc,

ở đó đa số dân cư đều theo một tôn giáo, thì tôn giáo trở thành dấu hiệu đặc trưng của một dân tộc, đó cũng là nhân tố tạo nên sự cố kết dân tộc Trong điều kiện cụ thể của các dân tộc thiểu số tại Tây Nam Bộ, bởi họ là dân tộc thiểu số, tuyệt đại

bộ phận đều có niêm tin với tôn giáo của dân tộc mình nên việc thực hiện chính sách đối ngoại tôn giáo, dân tộc của nhà nức, thực chất là bộ phận thực hiện chính sách dân tộc Do đó, muốn thực hiện tốt chính sách về tôn giáo phải đồng thời thựchiện tốt chính sách về dân tộc Vì vậy, chính sách của Nhà nước đối với tôn giáo ở Tây Nam Bộ phải góp phần vào việc thực hiện chính sách dân tộc, theo nguyên tắc bình đằng, hợp tác, giúp đỡ nhau cũng tiến bộ mà Đảng đã xác định từ trước

 Xu hướng vận động tất yếu của xã hội hiện đại là, quyền công dân, quyền con người ngày càng được đảm bảo tốt hơn Trong các quyền cơ bản của công

dân,c ủa con người, tự do tôn giáo tín ngưỡng là một quyền được hiến định, được thể hiện trong nhiều văn kiện quốc tế về quyền con người Quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng được thể hiện trong cả tư tưởng( quyền được tin theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào đó, quyền được lựa chọn niềm tin hay thay đổi niềm tin ); Cả hành vi( quyền được biểu thị niềm tin thông qua hành vi với các nghi thức nhất định ) với

tư cách cá nhân hay nhóm cộng đồng, thầm kín hay công khai và quyền có các

Trang 33

thiết chế để biểu thị, duy trì, củng cố niềm tin Dĩ nhiên, quyền tự do đó cũng bị giới hạn bởi những quy định của pháp luật của các quốc gia nhằm bảo vệ niềm tin chân chính của cá nhân, nhóm, cộng đồng mà không làm tồn tại đến niềm tin chân chính của cá nhân, nhóm, cộng đồng khác hay không gây phương hại đến xã hội

Vì vậy chính sách của nhà nước phải đảm bảo cho việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền tự do của mình một cách đúng đắn

 Mục tiêu của chế độ ta là, đảm bảo cho cuộc sống của nhân dân ngày càng

tự do ấm no, hạnh phúc, được sống và làm việc trong một môi trường xã hội tốt đẹp.

Điều này cũng có nghĩa là, một mặt phải làm cho cuộc sống ngày càng thay đổitheo hưỡng tích cực và mặt khác, phải khắc phục những tàn tích, tàn dư, lạc hậu, tiêu cực mà lịch sử tạo ra Có thể nói đó là hai mặt của vấn đề thống nhất mà nhiều khi rất khó chia tách, phân biệt trong thực tế

Đối với hiện tượng tôn giáo cũng vậy, theo nguyên tắc đã trình bày ở trên, chúng ta tôn trọng sự lựa chọn niềm tin của mỗi người, song cũng phải có những tác động để cho niềm tin ấy ngày càng ít mê muội hơn, giàu lí trí và văn hóa hơn Đồng thời người làm chính sách và thực thi chính sách cũng phải nhận diện đúng nhân tố, những giá trị có ý nghĩa tích cực trong tôn giáo để bảo lưu, kế thừa, phát huy, phục vụ cho các mục tiêu chân chính của con người và xã hội Theo ý nghĩa

đó, chính sách của Nhà nước Việt nam đối với tôn giáo ở Tây Nam Bộ phải nhằm phát huy những yếu tố có ý nghĩa và hạn chế những tác động tiêu cực của tôn giáo này, phục vụ nhiệm vụ của cách mạng

Chương II Thực trạng chính sách đối ngoại về tôn giáo dân tộc ở Tây Nam Bộ.

1 Thành tựu.

Trang 34

Hơn 70 năm lãnh đạo cách mạng và nhất là gần 20 năm nước ta bước vào sự nghiệp đổi mới đất nước, nhờ quán triệt và thực thi nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân mà cộng tác dân tộc, tôn giáo ở khu vực Tây Nam Bộ đạt được những thành tựu đáng

kể Các thành tựu ấy được biểu hiện rõ nét trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa

xã hội của đống bào các dân tộc sinh sống tại vùng đất Tây Nam Bộ Đặc biệt là của đồng bào Khơ me hiện nay

1.1 Về kinh tế.

Sau gần 20 năm thực hiện chính sách tôn giáo - dân tộc của Đảng, đặc biệt từ khi có chỉ thị 68 - CT/TW, ngày 18 / 04 / 1991 của Ban bí thư trung ương Đảng khóa VI về công tác của đồng bào dân tộc Khơ me, đến nay bộ mặt nông thôn vùng đất Tây Nam Bộ đã có sự chuyển biến rõ rệt với sự đầu tư của trung ương và các địa phương, sự hỗ trợ của tổ chức quốc tế nhiều công trình hạ tầng được xây dựng như các công trình thủy lợi, đê bao ngăn mặn, làm ngọt ruộng đồng, xây dựng đường sá, cầu cống, điện, nước phục vụ cho sinh hoạt v.v từng bước được cải thiện, tạo cơ sở cho sự phát triển sản xuất, nâng cao dời sống vật chất tinh thần của các dân tộc sinh sống vừng đất Tây Nam Bộ

Theo báo cáo của lãnh đạo các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, ở 100%

số xã vùng đồng bào dân tộc khơ me đã có đường giao thông liên xã, đường điện phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất Nhiều công trình thủy lợi được đầu tư xây dựngphục vụ hiệu quả ho sản xuất trong vùng như trạm bơm điện ở Sóc Trăng, kênh thủy lợi ở Cần Thơ, Kiên Giang, hồ chứa nước ở An Giang, công trình thủy lợi đầumối Đa Hòa I, II, III đập Lưu Cừ, hệ thống kênh dẫn nước ngọt Đông , Tây Tầm Phương ở Trà Vinh v.v

+ Tại Trà Vinh, chỉ tính riêng hệ thống thủy lợi từ năm 1997 đến nay, chúng ta

đã đầu tư xây dựng 59 công trình kênh cấp I, II, III, hai hệ thống kênh bê tông ở

Trang 35

Cầu Ngang, Trà Cú với tổng số vốn đầu tư lên đến 564 tỉ đồng Nhờ các công trìnhthủy lợi nói trên diện tích đât canh tác được thâm canh, tăng vụ, diện tích đất trồng màu và nuôi trồng thủy sản của đống bào Khơ me tăng lên hàng chục nghìn ha Bên cạnh đó, các dự án nước sạch và điện cho sinh hoạt của đống bào, chương trình xóa cầu khỉ, tôn cao nền nhà để chung sống với lũ cũng góp phần rất lớn vàoviệc tháo gỡ khó khăn cho đồng bào dân tộc Khơ me sống ở vùng sông nước Tính đến năm 2004, toàn tỉnh đã có 55 xã và thị trấn được điện khí hóa, có hơn 146.106

hộ sử dụng điện chiếm trên 72 % tổng số hộ trong đó có nhiều đống bào Khơ me, đáng mừng là nhiều đống bào Khơ me ở vùng sâu, vùng xa, vừng căn cứ kháng chiến cũ đã có điện để sử dụng

- Thực hiện chương trình hỗ trợ vùng đống bào dân tộc khó khăn, nhiều xã vùng đồng bào Khơ me đã được miễn thuế nông nghiệp, được cho vay vốn với nhiều ưu đãi hoặc cho mượn vốn để sản xuất Hàng năm, các tỉnh có đông đồng bào Khơ me sinh sống đã cho các hộ nghèo vay hàng chục tỉ đồng để phát triển sảnxuất

+ Tại Trà Vinh, theo báo cáo của các cơ quan chức năng của tỉnh, từ năm 1996 đến năm 2000, bằng nguồn vốn của chương trình 135, 120, 35 tỉnh đã giúp cho 7.371 hộ nghèo và cực nghèo khắc phục được khó khăn, từng bươc ổn định đời sống và phát triển sản xuất

Tính từ năm 1998 đến 2004, ngân hàng Nông nghiệp của phát triển nông thôn cũng với ngân hàng chính sách ưu đãi xã hội Trà Vinh đã đầu tư gần 111.641 hộ Khơ me vay lãi xuất ưu đã với số vốn hơn 620 tỉ đồng Thực hiện dự án hỗ trợ dân tốc đặc biệt khó khăn, từ năm 1992 đến năm 2000 đã hộc trợ đời sống chó 2464 hộKhơ me nghèo khác với số vốn hơn 5.873 triệu đồng Ngoài ra, tỉnh còn hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn 3,3 tỉ đồng

Đặc biệt, thực hiện kế hoach 01 của ban thường vụ Tình ủy về giải quyết vấn

đề đất đai, phát triển kinh tế hợp tác, góp phần xóa đói giảm nghèo, tỉnh đã đầu tư

Trang 36

cho 338 hộ Khơ me nghèo chuộc lại gần 112 ha đất để sản xuất, với số vốn đầu tư gần 872 triệu đồng Đồng thời các địa phương trong vùng đồng bào Khơ me cũng

đã vận động được trên 1.000 hộ nhiều đất cho 1.400 hộ ít đất hoặc không có đất mượn trên 600 ha đất để sản xuất Riêng từ năm 2001 đến nay, thực hiện chính sách hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn, tỉnh tiếp tục hỗ trợ đời sống chó 8.085 hộ Khơ me nghèo với số tiền 2.450 triệu đổng để giải quyết khó khăn trong cuộc sống

và hỗ trợ cho sản xuất cho 3.550 hộ với số tiền là 1.550 tỉ đồng Hiện nay, trong toàn tỉnh đã có 2111 trang trại làm ăn có hiệu quả trong đó có 136 trang trại của đống bào Khơ me ở Tây Nam Bộ

Thực hiện dự án hỗ trợ nhà ở cho các hộ cực nghèo đang gặp khó khăn về nhà

ở trong vùng Tây Nam Bộ, được sự hỗ trợ của trung ương và Thành phố Hồ Chí Minh, tính từ năm 2002 đến cuối năm 2004, tỉnh đã xây dựng được 11.627 căn nhà, mỗi căn nhà giá trị 5 triệu đống trong đó phần lớn là hộ thuộc đồng bào Khơ

me Nhờ sự tập trung giúp đỡ của Đảng và Nhà nước, sự hỗ trợ của cộng đồng và

sự nỗ lực khắc phục khó khăn vươn lên của chính đồng bào có các hộ nghèo sinh sống, đến nay đời sống của các dân tộc sinh sống trong tỉnh đã không ngừng được cải thiện khoảng cách chênh lệch giữa các vùng được rút ngắn, số hộ giàu, khá, tăng lên đang kể, hộ nghèo ngày càng giảm

Hiện nay, số hộ Khơ me nghèo của tỉnh Trà Vinh là 18.286 chiếm 29.3 % so với tổng hộ Khơ me trong toàn tỉnh, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo toản tỉnh từ 43% năm 1992 xuống 15,45 năm 2004 đã xuất hiện nhiều mô hình Khơ me vươn lên làm ăn có hiệu quả trên các lĩnh vực Tỉnh Trà Vinh cũng đã phân định xong 3 tiêu hí khu vực trong toàn bộ vừng đồng bào Khơ me trong tỉnh để có cơ sở cho nhà nước tiếp tục đầu tư hợp lý, thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vừng xa, vừng đồng bào dân tộc nghèo khó

+ Tại Sóc Trăng, riêng năm 2001, các xã vùng đồng bào Khơ me được đầu tư xây dựng 106 công trình với tổng số vốn là 20,99 tỷ đồng ( nguồn vốn chương

Trang 37

trình 135) Bên cạnh đó, nguồn vốn của tỉnh và các tổ chức quốc tế đã góp phần nâng tổng số vốn đầu tư cho các làng xa này trong năm 2001 lên 49,5 tỷ đồng Đếnnay, đã có khoảng 50% số hộ người Khơ me trong tỉnh được sử dụng nước sạch để sinh hoạt, số lượng nhà ở kiên cố của người Khơ me ngày càng tăng.

+ Tại Kiên Giang, từ năm 1994 đến năm 2000 đã có 3.502 hộ được vay vốn với lãi xuất thấp hoặc không lãi với tổng số hơn 3,5 tỷ đồng Trong vòng 7 năm từ năm 1994 đến năm 2000, ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn của tỉnh

đx cho 44,433 lượt hộ vay trên 132 tỷ đồng Trong đó số hộ người Khơ me được vay vốn là 134% so với tổng số hộ Khơ me trong toàn tỉnh Tính đến năm 2000, ở Sóc Trăng đã có 5.506 hộ Khơ me thuộc diện khá, tăng 16,96 % so với năm 1991,

có 15,648 hộ đủ ăn và trung bình, chiếm khoảng 49,15% số hộ Khơ me trong tòa tỉnh, tăng 4.720 hộ so với năm 1991 Đời sống của đồng bào Khơ me từng bước được cải thiện, nâng cao rõ rệt

- Song song với việc giải quyết đất sản xuất cho các hộ không có đất, đầu tư vốn cho phát triển sản xuất và kết cấu hạ tầng, chính quyền các địa phương vùng

có đồng bào Khơ me cũng quan tâm đầu tư giống cây con và những kĩ thuật sản xuất cho đồng bào

+ Tại Trà Vinh, tình từ năm 2000 đến 2004, tỉnh đã thực hiện trợ giá, trợ cước hơn 2.132 tấn lúa giống mới với kinh phí 5.684 tỷ đồng cho 29.746 hộ nghèo ở các

xã đặc biệt khó khăn, đã mở gần 2.200 lớp tập huấn cho 83.856 lượt nông dân về

kĩ thuật trồng trọt, chăn nuôi Ngoài ra, tỉnh còn được trung ương hỗ trợ thêm giống cây trồng, vật nuôi cho mỗi xa thuộc chương trình 135 là 21,5 triệu đồng để giúp cho đồng bào phát triển sản xuất Nhờ đó đã giúp cho đồng bào Khơ me nângcao được trình độ sản xuất hàng hóa, đây mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, góp phần tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống gia đình Chính vì vậy, sản xuất, chăn nuôi gia súc, gia càm, nuooi trồng thủy sản trong vùng đồng bào Khơ

me sinh sống ngày càng phát triển

Trang 38

Cho đến nay, nhìn chung đời sống của các dân tộc trong vừng Tây Nam Bộ có bước cải thiện rõ rệt trên mọi lĩnh vực Nhiều chương trình, dự án có ý nghĩa lớn

về kinh tế - xã hội đã và đang tiếp tục được thực hiện, từng bước tạo ra những chuyển biến to lớn trong vùng Tây Nam Bộ kết cáu hạ tầng giao thông vận tải ngày càng phát triển Nhiều mô hình sản xuất thâm canh tăng vụ, xen canh được thử nghiệm và đưa vào sản xuất ổn định Đời sống của người Khơ me ngày càng tăng, số hộ nghèo ngày càng giảm, hộ đói gần như không còn Số nhà ở kiên cố càng ngày càng nhiều

Theo báo cáo của Tỉnh úy Sóc trăng, năm 1994 mức sống của các hộ gia đình Khơ me ở Sóc Trăng như sau : số hộ giàu, khá chiếm 7.77%; số hộ trung bình chiếm 28,11%; số hộ nghèo chiếm 64,12% Đến năm 1998 số hộ giàu, khá đã tăng lên đáng kể chiếm 21,6%; số hộ trung bình chiếm 45,3%; số hộ nghèo chiếm 33,1

% Năm 2000, số hộ giàu, khá chiếm 22,6%; số hộ trung bình chiếm 43.3 %; số hộ nghèo giảm xuống còn 28%

Tại Kiên Giang tình hình cũng tương tự Năm 1997 số hộ giàu, khá chỉ có 10,55%, số hộ trung bình chiếm 43,83% và số hộ nghèo chiếm 44,96% Đến năm

2000, số hộ giàu và khá đã tăng lên 19,5%, số hộ trung bình chiếm 52,04 % và số

hộ nghèo giảm còn 27,98 % Đến cuối năm 2004, số hộ giàu, khá chiếm 23,28 %,

số hộ trung bình chiếm 59,86 % và số hộ nghèo là 26,5 %

Có thể nói, những biến đổi về kinh tế và đời sống vật chất vùng đồng bào Khơ

me những năm gần đây đã tạo lực quan trọng để tiếp tục phát triển trong tiến trình công nhiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở vùng đông bằng sông Cửu Long nói chung, ở vùng đồng bào nông thôn Khơ me Tây Nam Bộ nói riêng

1.2 Về văn hóa - xã hội

Trong các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào Khơ me Tây Nam Bộ đều có phần chỉ đạo và phát triển văn hóa – xã hội Do đó, thời gian qua,

Trang 39

cùng với những chuyển biến trong lĩnh vực kinh tế, đời sống văn hóa – xã hội của đồng bào Khơ me cũng có nhiều chuyển biến tích cực.

Các trung tấm văn hóa tiêu biểu của đồng bào dân tộc Khơ me như: Bảo táng Khơ me, chùa chiền, nhà văn hóa, trung tâm thể thao….ở một số địa phương có đông đồng bào Khơ me sinh sống đã được quan tâm đầu tư tôn tạo, sửa chữa và xây dựng

Các đoàn nghệ thuật dân tộc khơ me được đầu tư kinh phí cho hoạt động đã phần nào đáp ứng thiết thực nhu cầu thưởng thức văn hóa, nghệ thuật của đồng bào Tại các tỉnh đồng bào dân tộc Khơ me cứ trú như Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang đều có đoàn nghệ thuật Khơ me chuyên nghiệp Bên cạnh đó, ở các địa phương khác còn có một số đoàn nghệ thuật không chuyên cũng luôn có nhiều nỗ lực khắc phục khó khăn để tồn tại và phát triển, góp phần đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa của đồng bào bào và đóng góp vào sự phát triển đời sống văn hóa của

cả nước

Các đoàn nghệ thuật này còn là nơi khai thác, lưu giữ và phát triển vốn văn hóatruyền thống của đồng bào dân tộc Khơ me Các làn điệu nhạc cổ như Raamvong, Phat cholay, Beak brambei, Khan Bram hay các loại hát đối đáp như Aday, Aday rương… đã được các đoàn xây dựng để vận dụng các kịch bản sân khấu Roobam

và Yuke vốn là những loại hình văn hóa truyền thống củ người Khơ me Tây Nam Bộ

Các phong trào thể thao, các trò chơi dân gian và vui chơi giải trí, các lễ hội dân tộc và tôn giáo được tiếp tục duy trì

Bên cạnh việc tôn trọng phong tục tập quán của đông bào, các đại phương có đồng bà Khơ me sinh sống còn quan tâm vận động, giáo dục đồng bào từng bước cải tiến các lễ hội và tập tục lạc hậu cho phù hợp tiến trình đổi mới và phát triển chung của khu vực và đất nước

Trang 40

Các phương tiện thông tin đại chúng phục vụ cho đồng bào Khơ me cũng ngày càng được phát triển.Tại nhiều địa phương có đồng bào Khơ me sinh sống đã phát huy tốt vai tró của nhà chùa trong việc tập hợp và vận động quần chúng thông qua việc trang bị máy thu hình đẻ nhà chùa sử dụng là phương tiện phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt văn hóa của Sum, Shóc Việc làm này đã có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao dân trí, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong vùng đồng bào Khơ me.

+ Ngoài chương trình phát sóng bằng tiếng Khơ me của đài truyền hình Việt Nam, các địa phương có đông đồng bào Khơ me sinh sống đều có đài phát thanh, truyền hình bằng tiếng Khơ me phát hàng ngày

+ Một số báo như Nhân Dân, Sài Gòn giải phóng, Tiền Phong, Tuổi trẻ cũng

đã về đến các xã vùng đồng bào Khơ me Một số đụa phương như Trà Vinh, Sóc Trăng đẫ xuấ t bẳn được một số tập san, báo định kỳ bằng tiếng Khơme

+ Gần đây, một số địa phương đã có nhiều cố gắng trong viêc xây dựng văn hóa cơ sở ở các Phum, Sóc của Người Khơ me bằng cách xây dựng chùa thành các trung tâm văn hóa, chàu được trang bị tủ sách, máy thu hình, đầu video….Nhờ đó đời sống văn hóa của đông bào từng bước được cải thiện, chủ trương, đường nối chính sách của Đẳng và Nhà nước đến được với vùng nông thôn Khơ me một cách thường xuyên hơn

Trong vùng đông bào Khơ me công tác giáo dục - đào tạo cũng được các cấp

ủy Đảng và chính quyền đại phương quan tâm đặc biệt Cơ sở trường, lớp và các trang thiết bị phục vụ dạy và học từng bước được nâng cao Hệ thống các trường nội trú dân tộc của các tỉnh và huyện nơi có đồng bào Khơ me cư trú cũng thường xuyên được củng cố và mở rộng Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên người dân tộc cũng không ngừng được nâng cao cả về số lượng và chất lượng Chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ tập vở, sách, bút đối với học sinh Khơ me ở cấp học phổ thông được thực hiện tốt trong toàn khu vực Nhờ đó, những năm qua số lượng học

Ngày đăng: 27/03/2017, 14:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12.Ngô Văn Doanh, Văn hóa Chăm Pa, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1994, tr.72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Chăm Pa
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
13.Bùi Khánh Thế (chủ biên), Từ điển Chăm - Việt, Nxb KHXH, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: điển Chăm - Việt
Nhà XB: Nxb KHXH
14.Phan Quốc Anh, Những quan niệm trong tang ma của người Chăm Bàlamôn, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 6 (84), 2002, tr.21-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan niệm trong tang ma của người Chăm Bàlamôn
17.Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, Văn hóa Chăm, Nxb KHXH, Hà Nội,1991, tr.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Chăm
Nhà XB: Nxb KHXH
18.Tài liệu tham khảo - Ngô Văn Doanh, Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm, Nxb VHDT, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 1998
19.Viện nghiên cứu Tôn giáo, Những vấn đề tôn giáo hiện nay, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề tôn giáo hiện nay
Tác giả: Viện nghiên cứu Tôn giáo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
21. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Chỉ thị 68-CT/TW ngày 18/4/1991 về công tác ở vùng đồng bào Khmer Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1991)
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1991
22. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Chỉ thị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1996
23. Ban Cán sự Đảng - Ủy ban dân tộc và miền núi (1998), Báo cáo số 10/BCS ngày 9/5/1998, Sơ kết việc thực hiện Chỉ thị 68-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VI về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer (4-1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ kết việc thực hiện Chỉ thị 68-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VI về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer
Tác giả: Ban Cán sự Đảng - Ủy ban dân tộc và miền núi
Năm: 1998
27. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang, Báo cáo tình hình an ninh tư tưởng - chính trị và công tác tư tưởng - văn hóa vùng đồng bào Khmer An Giang, ngày 16 tháng 11 năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình an ninh tư tưởng - chínhtrị và công tác tư tưởng - văn hóa vùng đồng bào Khmer An Giang
28. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương - Tài liệu học tập các Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập các Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
29. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Vụ Giáo dục lý luận chính trị (1996), Chương trình lý luận chính trị phổ thông (dành cho cán bộ, đảng viên người dân tộc Khmer Nam bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình lý luận chính trị phổ thông
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Vụ Giáo dục lý luận chính trị
Năm: 1996
32. Trần Văn Bính (chủ biên) (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Nam bộ - Thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Nam bộ - Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
33. Phan Xuân Biên (1994), Nhìn lại các chính sách đối với cộng đồng người Hoa và người Khmer ở Việt Nam trong lịch sử, Báo cáo tổng hợp đề tài khoa họcKX.04.12, Viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại các chính sách đối với cộng đồng người Hoavà người Khmer ở Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Phan Xuân Biên
Năm: 1994
34. Chính phủ (1997), Quyết định số 35/TTg ngày 13 tháng 1 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt Chương trình xây dựng trung tâm cụm xã miền núi, vùng cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (1997), Quyết định số 35/TTg ngày 13 tháng 1 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1997
35. Chính phủ (1998), Chỉ thị số 15/1998/CT-TTg ngày 28 tháng 03 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ, Về tăng cường chỉ đạo xây dựng về phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở các xã, phường biên giới, hải đảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 15/1998/CT-TTg ngày 28 tháng 03 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ, Về tăng cường chỉ đạo xây dựng về phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở các xã, phường biên giới, hải đảo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
36. Chính phủ (1998), Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg, ngày 23/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (1998), Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg, ngày 23/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
37. Chính phủ (1998), Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg, ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
38. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
39. Đảng Cộng sản Việt Nam (1978), Văn kiện của Đảng về chính sách dân tộc, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện của Đảng về chính sách dân tộc
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1978

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w