1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)

204 364 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 3,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo vệ ở bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận án

Lê Thị Hướng

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban Quản lý đào tạo, các thầy/cô giáo của khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, bộ môn Phát triển nông thôn đã tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp ý kiến cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và cán bộ các phòng, ban của UBND tỉnh Vĩnh Phúc; Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; Sở Tài nguyên và Môi trường; Cục Thuế; Bảo hiểm xã hội; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh; Chi cục Bảo vệ môi trường; các cơ quan, ban ngành cấp huyện; các doanh nghiệp đã nhiệt tình cung cấp tài liệu, hỗ trợ thu thập dữ liệu, trao đổi thông tin để tôi thực hiện luận án

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới lãnh đạo Trường Cao đẳng Kinh tế -

Kỹ thuật Vĩnh Phúc nơi tôi công tác, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện tốt nhất để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận án này

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận án

Lê Thị Hướng

Trang 5

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4 1.4 Những đóng góp mới của luận án 5 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

2.1.2 Vai trò của thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 15 2.1.3 Đặc điểm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa 18 2.1.4 Nội dung nghiên cứu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa 20 2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa 27

2.2.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại một số nước trên thế giới 33 2.2.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam 38 2.2.3 Bài học kinh nghiệm để tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

nhỏ và vừa của Việt Nam và tỉnh Vĩnh Phúc 42 2.2.4 Một số công trình nghiên cứu liên quan 43

Trang 6

PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47

3.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Vĩnh Phúc 47 3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 47 3.1.3 Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Vĩnh Phúc 49

3.2.3 Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu 56 3.2.4 Phương pháp thu thập thông tin 59 3.2.5 Phương pháp xử lý dữ liệu và phân tích 61 3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 63 PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 65 4.1 Thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn

4.1.2 Trách nhiệm đối với người lao động 77 4.1.3 Trách nhiệm đối với môi trường 94 4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa

4.2.1 Các yếu tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp 108 4.2.2 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp 117 4.3 Giải pháp tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên

Danh mục các công trình đã công bố 150

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

BHXH Bảo hiểm xã hội

BVMT Bảo vệ môi trường

DN Doanh nghiệp

DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

GTGT Giá trị gia tăng

HĐLĐ Hợp đồng lao động

LĐ-TBXH Lao động – Thương binh và Xã hội NXB Nhà xuất bản

TNMT Tài nguyên và Môi trường

TNDN Thu nhập doanh nghiệp

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TNXH Trách nhiệm xã hội

TNXHDN Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp UBND Ủy ban nhân dân

Trang 8

2.3 Tỷ lệ doanh nghiệp Nhật Bản sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế về trách

3.1 Tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh giai

Trang 9

4.14 Kết quả khảo sát người lao động về quyền lợi bảo hiểm xã hội 81 4.15 Tình hình nợ đọng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa 84 4.16 Kết quả khảo sát về mức lương bình quân của lao động năm 2015 phân

4.17 Kết quả khảo sát về thời gian làm việc của người lao động 88 4.18 Kết quả khảo sát việc chấp hành quy định về thời gian làm việc, thời giờ

4.19 Kết quả khảo sát về công tác an toàn, vệ sinh lao động 91 4.20 Tình hình tai nạn lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa 92 4.21 Kết quả khảo sát công tác đăng ký hồ sơ bảo vệ môi trường phân theo

ngành nghề và quy mô vốn (2015) 95 4.22 Lý do doanh nghiệp không có hồ sơ bảo vệ môi trường 96 4.23 Kết quả khảo sát về công tác giám sát môi trường định kỳ 97 4.24 Kết quả khảo sát về công tác quản lý, xử lý chất thải nguy hại (n=19) 103 4.25 Tổng hợp kết quả kiểm tra công tác bảo vệ môi trường tại các doanh

nghiệp nhỏ và vừa từ năm 2012 đến 2014 105 4.26 Các hoạt động đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường của doanh nghiệp

4.27 Mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp trong vòng 5 năm tới 109 4.28 Yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp 112 4.29 Ảnh hưởng của yếu tố năng lực tài chính đến việc chấp hành quy định

pháp luật của doanh nghiệp nhỏ và vừa 114 4.30 Nhận thức của người lao động về một số quy định của pháp luật lao động 115 4.31 Tỷ lệ người lao động được đóng bảo hiểm xã hội theo trình độ và vị trí

4.32 Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường

4.33 Tình hình thực hiện các biện pháp quản lý, cưỡng chế nợ thuế tại doanh

4.34 Nhu cầu được hỗ trợ về kiến thức pháp luật của doanh nghiệp nhỏ và vừa 131

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

2.1 Tăng trưởng về số lượng báo cáo trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

3.1 Cơ cấu doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh phân theo ngành

4.12 Sự đáp ứng về vốn đối với yêu cầu hoạt động của doanh nghiệp 113 4.13 Phản ứng của người dân địa phương đối với các doanh nghiệp gây ô

Trang 12

4.3 Thực hiện chế độ tiền lương tại công ty Cổ phần Thương mại – Xuất

4.4 Thực hiện chế độ về thời gian làm việc tại công ty Cổ phần Thương mại

4.5 Công tác an toàn, vệ sinh lao động tại công ty Cổ phần Thương mại –

4.6 Hồ sơ bảo vệ môi trường và công tác giám sát môi trường định kỳ tại

Công ty TNHH Thương mại Khánh Dư 100 4.7 Đánh giá của người dân về ô nhiễm môi trường trên địa bàn 104 4.8 Công tác quản lý chất thải tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại

4.12 Phản ứng của người dân đối với doanh nghiệp gây ô nhiễm 126 4.13 Nhu cầu tư vấn về pháp luật lao động của người lao động 139

Trang 13

TRÍCH YẾU LUẬN ÁN Tên tác giả: Lê Thị Hướng

Tên luận án: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Chuyên ngành: Kinh tế phát triển Mã số: 62 31 01 05

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân và các yếu tố ảnh

hưởng đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội của

doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Tỉnh trong thời gian tới

* Mục tiêu cụ thể: i) Hệ thống hóa, làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về trách

nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa ii) Đánh giá thực trạng trách nhiệm xã hội của

các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc iii) Đề xuất các giải pháp chủ

yếu nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh

Vĩnh Phúc trong thời gian tới

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận: tiếp cận theo ngành, tiếp cận theo quy mô doanh

nghiệp, tiếp cận có sự tham gia, tiếp cận thể chế

- Nguồn và phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập chủ

yếu thông qua các tài liệu được công bố chính thức của các cơ quan của tỉnh Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát chủ doanh nghiệp, người lao động, cán bộ quản lý nhà nước, người dân đại phương

- Phương pháp lấy mẫu: Tổng mẫu điều tra là 542, gồm: 92 lãnh đạo doanh nghiệp,

324 người lao động, 77 cán bộ quản lý nhà nước, 49 người dân địa phương

Kết quả chính và kết luận

* Một số kết quả chính có thể tóm tắt như sau:

i) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là việc doanh nghiệp định hướng các hành vi của họ nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế, tuân thủ pháp luật, bảo vệ môi trường, đạo đức kinh doanh, tự nguyện đóng góp cho xã hội theo hướng hài hòa lợi ích của các bên liên quan và theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững Phạm vi và nội dung của trách nhiệm xã hội tùy thuộc vào đặc thù của từng nhóm doanh nghiệp Các nội dung trách nhiệm xã hội được đề xuất đối với DNNVV, bao gồm: trách nhiệm nộp thuế; trách nhiệm đối với người lao động; trách nhiệm đối với môi trường; trách nhiệm đối với thị trường và trách nhiệm đối với cộng đồng

ii) Luận án nghiên cứu thực trạng trách nhiệm xã hội của DNNVV trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trên ba nội dung cốt lõi: trách nhiệm nộp thuế, trách nhiệm đối với người lao

Trang 14

động và trách nhiệm đối với môi trường Kết quả nghiên cứu cho thấy các DNNVV trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc mặc dù đã có những đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tuy nhiên việc thực hiện các trách nhiệm xã hội cốt lõi của khối doanh nghiệp này còn rất hạn chế:

- Tỷ lệ đóng góp của DNNVV vào ngân sách tỉnh hàng năm mới đạt trên 4%, chưa tương xứng với các nguồn lực được sử dụng; tỷ lệ nợ đọng thuế rất cao, lên đến 23% tổng

số ghi thu hàng năm, chiếm trên 30% tổng nợ thuế toàn tỉnh

- Phần lớn các DNNVV chưa đảm bảo đầy đủ các lợi ích hợp pháp cho người lao động như chế độ bảo hiểm, thời gian làm việc, chế độ nghỉ lễ, nghỉ phép, công tác

an toàn vệ sinh lao động Số doanh nghiệp tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động chỉ chiếm 30% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động và chỉ có khoảng 20% trong tổng số lao động được hưởng quyền lợi này

- Phần lớn các DNNVV chưa thực hiện đúng quy định về quản lý và xử lý chất thải Tính đến năm 2014, chỉ có 33% doanh nghiệp có hồ sơ ban đầu về công tác bảo vệ môi trường và chỉ có 6,4% trong số đó thực hiện quy định về báo cáo giám sát môi trường định kỳ

iii) Việc thực hiện trách nhiệm xã hội của DNNVV trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc chịu ảnh hưởng bởi hai nhóm yếu tố Yếu tố nội tại doanh nghiệp bao gồm: nhận thức

về trách nhiệm xã hội, ý thức pháp luật của lãnh đạo doanh nghiệp, nhận thức của người lao động và năng lực tài chính của doanh nghiệp Yếu tố thuộc môi trường bên ngoài bao gồm: nhận thức của cộng đồng dân cư, hệ thống pháp luật và hoạt động quản lý nhà nước tại địa phương

iv) Luận án đã đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội của DNNVV trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới Một là, nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội, ý thức pháp luật của đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp và nhận thức của người lao động, cộng đồng dân cư Hai là, đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước tại địa phương; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và có biện pháp xử lý vi phạm hợp

lý đối với hoạt động của doanh nghiệp Ba là, thực hiện các chính sách hỗ trợ, khuyến khích để DNNVV có điều kiện thuận lợi trong triển khai các chương trình trách nhiệm

xã hội Luận án đã khuyến nghị việc thiết kế và áp dụng các bộ tiêu chuẩn trách nhiệm

xã hội doanh nghiệp ở nước ta, tiến tới thiết kế bộ tiêu chuẩn riêng cho địa phương

* Kết luận:

Luận án đã hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của DNNVV; phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện các nội dung trách nhiệm xã hội cốt lõi của DNNVV trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới

Trang 15

THESIS ABSTRACT PhD candidate: Le Thi Huong

Thesis title: Social responsibility of small and medium-sized enterprises in Vinh Phuc

province

Major: Development economics Code: 62 31 01 05

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture

Research Objectives

* General objective: To assess the reality, analyzing the causes and factors that

affect the social responsibility of small and medium-sized enterprises in Vinh Phuc province, by which proposing a number of key measures to strengthen social

responsibility of small and medium-sized enterprises in the province in the coming time

* Specific objectives: 1) To systematize and clarifying theoretical and practical

basis of social responsibility of small and medium-sized enterprises (SMEs) 2) Assessing the reality of social responsibility of SMEs in Vinh Phuc province 3) Proposing some measures which mainly aim at strengthening the social responsibility of SMEs in Vinh Phuc province in the coming time

Materials and Methods

- Research approaches: sector approach, enterprise scale approach, participatory

approach, institutional approach

- Sampling method: Total sample is 542, in which there are 92 business leaders;

324 employees; 77 state managers and 49 locals

- Sources and methods of data collection: Secondary data was collected mainly

through documents published by the official agencies of the Province Primary data was collected through interviews business owners, workers, managers of state, local people

Main findings and conclusions

* Main findings:

Social responsibility of enterprises can be defined as the behavioral orientation of enterprises in order to ensure economic benefits, legal compliance, environmental protection, business morality, voluntary contributions to society towards harmonizing the benefits of the related sides and pursuing sustainable development objectives The scope and content of social responsibility depends on specific characteristics of each business group The proposed content of social responsibility for SMEs includes: Tax responsibility; responsibility for employees; environment; market and the community

ii) The thesis studies the current reality of social responsibility of small and medium-sized enterprises in Vinh Phuc province on three core contents: Tax

Trang 16

responsibility, responsibility for workers and environmental responsibility The research results showed that small and medium-sized enterprises in Vinh Phuc province despite having positive contributions in economic – social development of the local, but the implementation of core social responsibility of this business sector is very limited:

- The contribution percentage of SMEs to the annual province budgets is just over 4%, is not commensurate with the used resources; the rate of tax arrears is very high, up to 23% of total annual recorded revenue, accounting for over 30% of total tax debt throughout the province

- The majority of SMEs are not fully guaranteed legal benefits of employees such as insurance policy, working time, holiday mode, leave, safety and hygiene of labor Up to 2014, fewer than 30% of enterprises participated in social insurance for employees and only 20% of employees are entitled to this benefit

- The majority of enterprises do not comply with the regulations on management and waste treatment By 2014, only 33% had the original documents on environmental protection, and only 6.4% of them implemented regulations on environmental monitoring reports periodically

iii) Implementing the social responsibility of SMEs in Vinh Phuc province is influenced by two groups of factors Internal factors include: awareness business leaders, workers' awareness and financial capability of the business External factors include: awareness of the community, the legal system and state management operations of the local

iv) The thesis proposed measures to strengthen the social responsibility of SMEs

in Vinh Phuc province in the near future Firstly, raising awareness of social responsibility, the legal awareness of business leaders and the awareness of workers, communities Secondly, promoting the state management of local; strengthening inspection and monitoring and having reasonable measures to handle the violation of the business activities Thirdly, the implementation of supportive policies, providing small and medium-sized enterprises with favorable conditions for implementing social responsibility programs The thesis recommended designing and applying the sets of social responsibility standard in business in our country, then proceeding to the design

of specific local standards

* Conclusion:

This thesis systematized and developed theoretical basis of SMEs; analyzing, assessing the reality of implementing core contents of social responsibility of SMEs in Vinh Phuc province, finding out the causes and proposing key measures to strengthen

the social responsibility of SMEs in Vinh Phuc province in the coming time

Trang 17

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động sản xuất trên toàn thế giới với mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời cũng gây ra những bất ổn đối với xã hội và môi trường Thế giới đang phải đối mặt với những vấn đề như ô nhiễm môi trường, bất bình đẳng, thiếu an toàn trong lao động và trong tiêu dùng… và Việt Nam không phải là ngoại lệ Các chuyên gia kinh tế đã chỉ ra rằng thiệt hại môi trường ở Việt Nam do các hoạt động kinh tế gây ra chiếm khoảng 5,5% GDP hàng năm và có xu hướng gia tăng trong những năm tiếp theo nếu không kịp thời áp dụng các biện pháp phòng ngừa (Đinh Đức Trường và Lê

Hà Thanh, 2012) Vì vậy, các chủ thể của nền kinh tế trong đó có doanh nghiệp phải có trách nhiệm để góp phần giải quyết những bất ổn này, nếu không bản thân sự phát triển sẽ không bền vững và dẫn tới những ảnh hưởng xấu cho các thế hệ con cháu về sau Nói cách khác, hoạt động của các doanh nghiệp ngoài mục tiêu lợi nhuận còn cần phải gắn liền với thực hiện trách nhiệm xã hội thông qua thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, bảo vệ môi trường, đối xử có đạo đức với người lao động, người tiêu dùng và các trách nhiệm khác với cộng đồng

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ là đòi hỏi tất yếu của xã hội đối với doanh nghiệp trong thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, mà còn là tiêu chuẩn để củng cố uy tín cho chính các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển Các thị trường nhập khẩu trên thế giới đang đặt ra các yêu cầu ngày càng tăng đối với hàng hóa, dịch vụ không chỉ về chất lượng mà còn về nguồn gốc hình thành ra nó gắn với các yếu tố lao động và môi trường Trong xu thế toàn cầu hóa

và cạnh tranh đa cấp độ, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trở thành một công

cụ quan trọng để doanh nghiệp tạo được lợi thế cạnh tranh và phát triển bền vững Nếu doanh nghiệp không thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, trước hết sẽ có nguy cơ bị mất đi đội ngũ lao động giỏi đồng thời sẽ dần mất đi cơ hội để hòa nhập với thị trường quốc tế

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được vận dụng ở Việt Nam trong khoảng 20 năm trở lại đây cùng với quá trình hội nhập quốc tế Khởi nguồn việc thực hành trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở nước ta là các công ty đa quốc gia như Toyota, Honda, Nestle, Unilever… Về sau một số doanh nghiệp trong nước,

Trang 18

đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất thầu, doanh nghiệp xuất khẩu đã có ý thức rất tốt trong việc tích hợp trách nhiệm xã hội vào chiến lược kinh doanh, coi trách nhiệm xã hội là một tấm vé thông hành để tiếp cận với thị trường thế giới Tuy nhiên, bên cạnh đó còn một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp ở nước ta chưa thực

sự quan tâm đến vấn đề này, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ Do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò, bản chất của trách nhiệm xã hội đồng thời những hạn chế vốn có của khối doanh nghiệp này đã trở thành rào cản trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Phạm Văn Đức, 2010) Đa số các doanh nghiệp nhỏ cho rằng thực hiện trách nhiệm xã hội là gánh nặng về chi phí nên chỉ phù hợp với các tập đoàn lớn, hoặc đánh đồng trách nhiệm xã hội với làm từ thiện Một số doanh nghiệp có thực hiện trách nhiệm xã hội nhưng thực hiện một cách thụ động theo yêu cầu của các bên hữu quan hơn là chiến lược chủ động của doanh nghiệp (Hoàng Thị Thanh Hương, 2015) Hậu quả là số doanh nghiệp vi phạm những quy định về luật lao động và môi trường tăng nhanh ở mức báo động trong những năm vừa qua (Võ Khắc Thường, 2013) Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tính đến cuối năm 2014 có tới 80% lực lượng lao động cả nước không được tham gia bảo hiểm xã hội (Nguyễn Thị Lệ Thu, 2015) Điều này đồng nghĩa với việc hàng triệu người lao động trên cả nước có thể có cuộc sống bất ổn khi về già do không có thu nhập

Tỉnh Vĩnh Phúc hiện có khoảng 5.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm 97% tổng số doanh nghiệp của tỉnh Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp 10% GDP của tỉnh, 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; giá trị xuất khẩu chiếm 8% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh (UBND tỉnh Vĩnh Phúc, 2015) Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò to lớn trong việc thu hút, tạo việc làm cho lao động

là người địa phương, lao động nông thôn, giải quyết việc làm cho trên 70 ngàn lao động, chiếm 60% lao động trong khu vực doanh nghiệp; mỗi năm tạo thêm từ

7 đến 8 ngàn chỗ làm mới; góp phần tích cực trong việc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh từ khu vực nông nghiệp, nông thôn sang khu vực công nghiệp, dịch vụ Có thể thấy sức ảnh hưởng của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc là rất lớn Nghị quyết số 04-NQ/2013 của Ban chấp hành Đảng bộ Tỉnh khóa XV đã nêu quan điểm: “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là chiến lược lâu dài, đồng thời cũng là nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, có vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của tỉnh; là một trong những nhân tố phát triển bền vững trong quá

Trang 19

trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, góp phần thực hiện mục tiêu đưa tỉnh trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” (Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, 2013a) Để doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể phát huy được vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện thành công mục tiêu của tỉnh đề ra thì mỗi doanh nghiệp ngoài các đóng góp mạnh mẽ về mặt kinh tế còn phải tích cực gánh vác trách nhiệm xã hội

Tuy nhiên, đóng góp từ thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chỉ chiếm khoảng 4% tổng thu ngân sách tỉnh, chưa đạt mục tiêu của tỉnh đề ra – mục tiêu đóng góp từ 10-15% tổng thu ngân sách vào năm 2015 (Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, 2013a) Tỷ lệ đóng góp hiện tại cũng được xem là chưa tương xứng với các nguồn lực mà khối doanh nghiệp này đang sử dụng Các số liệu được các cơ quan quản lý

ở địa phương công bố gần đây còn cho thấy việc chấp hành quy định pháp luật về thuế, lao động, bảo vệ môi trường của khối doanh nghiệp này còn nhiều hạn chế

Số doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động chỉ chiếm dưới 30% tổng số và cũng chỉ có khoảng 20% số lao động thuộc khối doanh nghiệp này được đóng bảo hiểm xã hội (Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc, 2015); Các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường, tình trạng trốn thuế, nợ đọng thuế, không thực hiện đầy đủ các chế độ đãi ngộ lao động theo luật định cũng được ghi nhận một cách phổ biến Thực trạng trên là một trong những nguyên nhân khiến cho sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong những năm qua chưa phát huy hết tiềm năng và thế mạnh của tỉnh, việc tham gia vào các chuỗi cung ứng giá trị còn rất hạn chế, hầu hết doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh chưa có

cơ hội tiếp cận với thị trường quốc tế

Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc là cần thiết nhằm đánh giá cụ thể về mức độ thực hiện các nội dung trách nhiệm xã hội, tìm ra nguyên nhân và giải pháp để tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng và ở Việt Nam nói chung

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trang 20

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là trách nhiệm xã hội của các doanh

nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Bao gồm: nội dung, bản chất trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; các chính sách pháp luật của nhà nước có liên quan; thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung:

Phần lý luận tổng quan, luận án nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nói chung và khung lý thuyết về trách nhiệm xã hội đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Phần đánh giá thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc: Mặc dù khung lý thuyết đã chỉ ra năm nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa, song do hạn chế về nguồn lực của nghiên cứu và để phù hợp yêu cầu về dung lượng luận án tiến sĩ, nghiên cứu chỉ giới hạn đánh giá theo ba nội dung cốt lõi bao gồm: trách nhiệm nộp thuế; trách nhiệm đối với người lao động và trách nhiệm đối với môi trường Trong đó nghiên cứu chú trọng đánh giá, phân tích khía cạnh trách nhiệm pháp lý vì đây là khía cạnh cơ bản nhất thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn hiện nay

+ Trách nhiệm nộp thuế: nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá và phân tích việc chấp hành quy định pháp luật đối với các khoản thuế nội địa, chủ yếu là thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp

+ Trách nhiệm đối với người lao động: Đánh giá việc chấp hành quy định pháp luật về chế độ hợp đồng lao động, bảo hiểm, thời gian giờ giấc làm việc, an

Trang 21

toàn vệ sinh lao động và chính sách tiền lương

+ Trách nhiệm đối với môi trường: Nghiên cứu chỉ đánh giá việc chấp hành các quy định về hồ sơ, thủ tục, chính sách bảo vệ môi trường của doanh nghiệp

mà không đi sâu vào đánh giá các thông số kỹ thuật môi trường

- Về không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong đó các dữ liệu sơ cấp được thu thập đại diện ở một số địa phương gồm: thành phố Vĩnh Yên, huyện Yên Lạc huyện Vĩnh Tường và huyện Lập Thạch Đây là các địa phương có số lượng doanh nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong tổng

số doanh nghiệp toàn tỉnh, bao gồm đầy đủ các ngành nghề kinh doanh, loại hình

và quy mô doanh nghiệp

- Về thời gian: Việc điều tra, khảo sát được tiến hành vào năm 2014, 2015

do vậy các số liệu sơ cấp thuộc khoảng thời gian này Các số liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu chủ yếu thuộc giai đoạn 2011-2015

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Đóng góp mới về lý luận:

- Hệ thống hóa, làm rõ cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; xây dựng khung lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa gắn với đặc thù của doanh nghiệp Việt Nam và xu hướng phát triển mới nhất của lý thuyết này

- Tổng hợp những bài học đối với Việt Nam trong việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn ở một số quốc gia châu Á

Đóng góp mới về thực tiễn:

- Phân tích làm rõ những hạn chế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thực hiện các nội dung trách nhiệm xã hội cốt lõi, xác định các yếu tố thuộc môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng đến thực hiện trách nhiệm xã hội của nhóm doanh nghiệp này

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới

Trang 22

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VỀ TRÁCH NHIỆM

XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Luật doanh nghiệp quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,

có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (Quốc hội, 2005a) Trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là khái niệm tương đối dùng để so sánh quy mô của một doanh nghiệp so với các doanh nghiệp lớn Việc xác định các tiêu chí và định mức để đánh giá quy mô đối với DNNVV có sự khác biệt ở mỗi quốc gia, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh

tế, bối cảnh văn hóa và mục đích phân loại DNNVV Song nhìn chung, phần lớn các quốc gia đều xác định DNNVV theo ba tiêu chí cơ bản: số lượng lao động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong năm, tổng mức vốn đầu tư của doanh nghiệp, tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp Trong đó các tiêu chí về lao động và vốn đầu tư được sử dụng rộng phổ biến hơn Báo cáo nghiên cứu của APEC và OECD chỉ ra rằng, đa số các quốc gia hiện nay chỉ sử dụng một trong

ba tiêu thức đánh giá trên, đặc biệt là nhóm các nước kinh tế đang chuyển đổi Một số quốc gia khác sử dụng kết hợp hai hoặc cả ba tiêu thức nói trên

Việc phân loại DNNVV theo các tiêu thức này không phải là bất biến mà được vận dụng dựa trên đặc điểm phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia, cho từng giai đoạn khác nhau và cho từng ngành nghề kinh doanh khác nhau

Bảng 2.1 Tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số nước

1 Indonesia <200 < 0.6 tỷ Pupie < 2 tỷ Pupie

2 Thái lan <200 <50 triệu Bath -

3 Singapore <100 <50triệu đô Sing -

4 Philippine < 200 60 triệu Peso -

5 Malaysia < 200 < 2.5 triệu MR -

6 Nhật Bản < 100 đối với bán buôn < 30 triệu Yên -

< 50 đối với bán lẻ < 30 triệu Yên -

< 300 đối với DN khác < 300 triệu Yên -

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2006)

Trang 23

Ở Việt Nam những năm trước đây đã xuất hiện nhiều DNNVV Đến năm

2001, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về Trợ

giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đã thống nhất về định nghĩa và tiêu

chí phân loại: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 lao động” (Chính phủ, 2001)

Tuy nhiên qua 7 năm thực hiện, định nghĩa về DNNVV của Nghị định 90/2001/NĐ-CP đã bộc lộ những điểm chưa hợp lý Do chỉ xét theo một tiêu chí, một số doanh nghiệp có số lao động vượt xa con số 300, nhưng vì vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng nên vẫn được coi DNNVV Ngược lại, có doanh nghiệp mức vốn đăng ký hàng trăm tỷ đồng, nhưng số lao động thường xuyên thấp hơn 300 cũng được xếp vào nhóm DNNVV Mặt khác, việc không phân biệt DNNVV theo lĩnh vực hoạt động nên cũng bộc lộ những hạn chế, vì mỗi lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh có yêu cầu về quy mô vốn và lao động khác nhau Nghị định số

56/2009/NĐ-CP của Chính phủ về Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

đã quy định cụ thể hơn về tiêu chí phân loại DNNVV Theo đó, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm, trong đó tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên

Bảng 2.2 Tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa

theo Nghi định 56/2009/NĐ-CP

Số lao động (người)

Tổng nguồn vốn (tỷ đồng)

Số lao động (người)

Tổng nguồn vốn (tỷ đồng)

Số lao động (người)

1 Nông, lâm nghiệp,

Trang 24

2.1.1.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Các quan điểm triết học đều cho rằng mỗi chủ thể trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, ngoài trách nhiệm với chính bản thân tổ chủ thể đó, họ còn phải có những quyết sách và hành động mang lại lợi ích cho các chủ thể khác có liên quan, một mặt góp phần thực hiện mục tiêu chung của toàn xã hội, một mặt thông qua đó làm tiền đề để bản thân tổ chức đó phát triển một cách bền vững Theo Nguyễn Văn Thức (2008) thì trách nhiệm được hiểu là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình Trách nhiệm thuộc phạm trù đạo đức học và luật học, phản ánh thái độ xã hội đặc biệt là thái độ đạo đức – pháp luật của cá nhân, tổ chức đối với xã hội; thái độ này biểu thị sự hoàn thành nghĩa vụ đạo đức của mình và các tiêu chuẩn pháp luật Trách nhiệm xã hội bao gồm ba nội dung cơ bản: một là quan hệ giữa người với người cùng chung sống; hai là sự gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng và xã hội; ba là trách nhiệm phải đóng góp vào sự bảo vệ và phát triển bền vững của cộng đồng và xã hội Sự đóng góp này được thể hiện ở ba mức độ: tự nhiên, tự nguyện và nghĩa vụ Nguyễn Tài Đông (2013) cho rằng: “Trách nhiệm xã hội là một lý thuyết hoặc một hệ tư tưởng đạo đức nhấn mạnh đến việc một cá nhân hoặc một tổ chức phải có nghĩa vụ hành động vì lợi ích xã hội”

Mặc dù có nhiều cách khái niệm khác nhau về TNXH, song nội hàm của các khái niệm này về cơ bản có những điểm tương đồng Nét chung của các quan điểm về TNXH là một cơ chế điều hòa các quan hệ xã hội, xã hội có bao nhiêu mối quan hệ thì có bấy nhiêu loại TNXH (Đặng Hữu Toàn, 2012) Nền tảng của trách nhiệm xã hội dựa trên các mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội với bản chất con người, với hệ thống xã hội và trật tự xã hội, với đạo đức, với bản chất và mô hình của hệ thống kinh tế

Mục đích của việc thực hiện TNXH là nhằm hướng tới lợi ích chung của toàn cộng đồng xã hội, tổng hòa lợi ích của các bên liên quan trong các mối quan hệ xã hội TNXH là một phạm trù thể hiện đạo lý mà các cá nhân hoặc tổ chức có nghĩa

vụ phải hành động để mang lại lợi ích cho cộng đồng Nó có thể được thực hiện một cách thụ động như tránh tham gia vào các hành vi xã hội có hại, hoặc chủ động bằng cách thực hiện các hoạt động trực tiếp thúc đẩy các mục tiêu xã hội TNXH được đặt ra cho mọi chủ thể đang tồn tại trong xã hội chúng ta Doanh nghiệp với tư cách là một chủ thể của xã hội, sử dụng nguồn lực và có ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội, do đó TNXH của chủ thể này tồn tại một cách tất yếu

Trang 25

Theo Carroll (1999), thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHDN) được đề xuất đầu tiên bởi học giả người Anh - Oury Shelton vào năm 1923 Shelton cho rằng TNXHDN được đặt trong trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với người dân thông qua việc doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân trong và ngoài doanh nghiệp Đến năm 1953, trong cuốn

“Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” Bowen đã chính thức đặt nền móng cho lý thuyết này bằng những biện giải sâu sắc về mối quan hệ giữa doanh nghiệp, doanh nhân và các mục tiêu của xã hội Ông quan niệm TNXHDN là “đề cập đến nghĩa vụ của doanh nghiệp để theo đuổi các chính sách, thực hiện những quyết định, hoặc hành động được kỳ vọng để đạt được các mục tiêu và giá trị của xã hội" (Bowen, 2013)

Tuy nhiên, ở thời kỳ này quan điểm xã hội phổ biến cho rằng mục tiêu tối cao của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, còn trách nhiệm xã hội được đặt ở

vị trí ngoài tầm nhìn của doanh nghiệp Các khái niệm về TNXHDN được các học giả đề xuất ở thời kỳ này tuy khẳng định sự cần thiết song vẫn còn mang tính chất mơ hồ Về sau, các học giả khác lần lượt phát triển khái niệm trên theo các hướng mở rộng hoặc cụ thể hóa nội hàm của nó

Ủy ban Phát triển kinh tế - Committee for Economic Development (1971)

đã phác thảo “ba vòng tròn đồng tâm” để mô tả trách nhiệm xã hội của doanh

nghiệp Theo đó, vòng trong là chỉ doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm cơ bản thuộc chức năng kinh tế, tức là việc tìm kiếm lợi nhuận cho các nhà đầu tư, cung cấp sản phẩm cho xã hội, giải quyết việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Vòng tròn giữa là chỉ doanh nghiệp thực hiện kết hợp chức năng kinh tế với giá trị quan

xã hội và các vấn đề lớn được xã hội quan tâm, chẳng hạn như bảo vệ môi trường, đối xử tốt với nhân viên, đáp ứng sự mong đợi của khách hàng… Vòng tròn ngoài là trách nhiệm vô hình khác của doanh nghiệp để thúc đẩy rộng rãi hơn nữa tiến bộ xã hội, chẳng hạn như xóa đói giảm nghèo, ngăn ngừa các biểu hiện tiêu cực của xã hội

Davis (1973) quan niệm: “TNXH là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lí, kinh

tế, công nghệ” Ông cho rằng nếu một quyết định kinh doanh nào đó thể hiện TNXH thì trong tương lai nó cũng sẽ mang lại các lợi ích kinh tế đối với công ty Backman (1975) cũng đề xuất khái niệm tương tự: "TNXHDN thường đề cập đến các mục tiêu hay động cơ cần được mang lại từ hoạt động kinh doanh

Trang 26

bên ngoài những đáp ứng về hiệu quả kinh tế" Như vậy, doanh nghiệp ngoài động cơ lợi nhuận còn phải hoạt động vì những mục tiêu khác, đó chính là TNXH Ông cũng xác định một số nội dung thuộc TNXH như: việc làm của các nhóm dân tộc thiểu số, giảm ô nhiễm môi trường, gia tăng sự tham gia trong các chương trình phát triển cộng đồng, cải thiện sức khỏe và an toàn công nghiệp… Sethi (1975) đã phân biệt giữa “nghĩa vụ xã hội” và “trách nhiệm xã hội” Theo đó, “nghĩa vụ xã hội là những hành vi của công ty nhằm đáp ứng với sức mạnh của thị trường và các ràng buộc pháp lý”, có nghĩa là chỉ bao gồm hai tiêu chí là kinh tế và pháp lý Trong khi đó trách nhiệm xã hội là một phạm trù cần được hiểu một cách rộng hơn, “TNXHDN hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp

lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kì vọng xã hội đang phổ biến”

Với cách khái niệm này, TNXHDN trở thành một quy tắc chứ không chỉ là các phản ứng tự nhiên

Drucker (1984) đã phát biểu rằng “sự phù hợp TNXHDN là biến một vấn

đề xã hội vào cơ hội và lợi ích kinh tế, vào năng lực sản xuất, vào năng lực của con người, vào công việc được trả lương cao và vào sự giàu có" Ông cũng khẳng định: “Lãnh đạo trong tất cả các tổ chức phải gánh vác hai trách nhiệm Họ có trách nhiệm và phải chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động của tổ chức của họ, bên cạnh đó họ cũng phải có trách nhiệm với cộng đồng nói chung”

Carroll (1979) đã kế thừa các lý luận trong quá khứ và nêu ra khái niệm mới: “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh

tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định” Đây là một cách khái niệm mà qua đó nội hàm của TNXHDN được đề cập một cách rõ ràng, cụ thể hơn so với các khái niệm trước

Khái niệm của Sethi (1975) và Carroll (1979) có một điểm tương đồng khi cùng đề cập đến yếu tố thời điểm, cả hai nhà nghiên cứu đều cho rằng TNXHDN không phải là quy tắc bất biến mà nó sẽ được thay đổi để phù hợp với kỳ vọng của xã hội ở mỗi thời điểm khác nhau Chẳng hạn, gần đây khi khái niệm “phát triển bền vững” ra đời thì vấn đề bảo vệ môi trường đã được cập nhật ngay vào nội hàm TNXHDN, điều mà ít được đề cập tới trong các giai đoạn trước đó Bốn khía cạnh của TNXHDN sau này đã được Carroll (1991) biểu đạt lại bằng mô hình “kim tự tháp” Theo đó, TNXHDN bao gồm bốn khía cạnh thể hiện ở các mặt kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện (tự nguyện) theo thứ tự từ

Trang 27

thấp đến cao Trách nhiệm kinh tế là trách nhiệm vốn có của doanh nghiệp, là cơ

sở để thực hiện các trách nhiệm khác Trách nhiệm pháp lý yêu cầu doanh nghiệp hoạt động phải tuân thủ quy định của pháp luật Trách nhiệm đạo đức đòi hỏi hành vi của doanh nghiệp công bằng và hợp lý, phù hợp với chuẩn mực xã hội Trách nhiệm từ thiện thể hiện các hành vi ngoài chức năng hoạt động của doanh nghiệp nhằm làm cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn

Hình 2.1 Mô hình kim tự tháp về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Nguồn: Carroll (1991) Bước sang thế kỷ 21, khi vấn đề TNXHDN được quan tâm rộng rãi, được đưa ra thảo luận trên các diễn đàn thế giới thì nhiều tổ chức và nhóm nghiên cứu cũng đề xuất khái niệm riêng của họ Các khái niệm này càng về sau càng trở nên

cụ thể, nội hàm cũng được mở rộng hơn Trong đó vấn đề về môi trường và phát triển bền vững được bổ sung, trở thành một trong những nội dung trọng tâm của TNXHDN Nhóm nghiên cứu của Ủy ban châu Âu - European Commission (2001) nêu quan điểm: “có trách nhiệm về mặt xã hội không chỉ là phải thực hiện đầy đủ các trách nhiệm pháp lý có hiệu lực, mà còn phải đi xa hơn và đầu tư nhiều hơn cho con người, cho môi trường và cho các mối liên hệ với các thành phần có liên

quan” Richard et al (2000) đồng quan điểm: “TNXHDN là sự cam kết của doanh

nghiệp nhằm góp phần phát triển kinh tế, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ cũng như của cộng đồng xã hội nói chung” Một khái niệm tương đương khác được đề xuất bởi nhóm nghiên cứu của Ngân hàng thế giới - WB: “TNXHDN là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển

chung của xã hội” (Petkoski and Twose, 2003)

Kinh tế Pháp lý

Trang 28

Khái niệm của Ngân hàng thế giới hiện đang được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, khái niệm trên thiên về các hành vi mang tính đạo đức của doanh nghiệp, chủ yếu là đối với người lao động

và sự đóng góp có ích cho cộng đồng Với cách khái niệm như trên, có thể gây ra một sự lầm tưởng rằng trách nhiệm pháp lý, thậm chí cả trách nhiệm kinh tế không thuộc phạm vi TNXHDN, hay TNXHDN gắn liền với các hoạt động từ thiện Trong thực tế, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm kinh tế được chứng minh là hai nội dung cơ bản, hàng đầu của TNXHDN

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã cụ thể hóa khái niệm về TNXHDN:

“Doanh nghiệp ngoài việc phải có trách nhiệm đối với chủ sở hữu, theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, thì còn phải gánh vác trách nhiệm đối với các bên có lợi ích liên quan như nhân viên, người tiêu dùng, đối tác, cộng đồng, chính phủ…, có trách nhiệm đối với môi trường tự nhiên và các thế hệ con cháu về sau, theo đuổi phát triển bền vững” (Lin and Gao, 2004) Theo đó, TNXHDN được phân định thành trách nhiệm thị trường, trách nhiệm môi trường, trách nhiệm đối với người lao động và trách nhiệm công ích Một số khái niệm tương tự nhưng đơn giản hơn:

“TNXHDN là việc các tổ chức hành động để đáp ứng lợi ích của bản thân họ và các bên liên quan ở thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo

lợi ích của các thế hệ tiếp theo” (Sybil et al., 2009) Hoặc đó là “sự tự nguyện

của doanh nghiệp cam kết thực hiện tốt các vấn đề về lao động, môi trường và hoạt động kinh doanh trên cơ sở tuân thủ các luật pháp quốc gia, thông lệ quốc tế

và đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên đồng thời góp phần phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia một cách bền vững” (Ngô Vân Hoài, 2011)

Một số nhà nghiên cứu đã tiếp cận khái niệm TNXHDN xuất phát từ lý thuyết về các “bên liên quan” (Stakeholder) Quan điểm cốt lõi của lý thuyết này cho rằng các bên liên quan đều đã bỏ ra sự đầu tư mang tính chuyên dụng nhất định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, họ hoặc là đã chia sẻ rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp, hoặc là đã đầu tư nguồn lực cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy nhiệm vụ của nhà quản lý doanh nghiệp là phải tối đa hóa tổng giá trị doanh nghiệp, đồng thời cần phải xem xét toàn diện những ảnh hưởng của doanh nghiệp đối với các bên liên quan nhằm tối đa hóa lợi ích cho họ Freeman (1984) cho rằng các bên liên quan được xem là bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào có ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp (dẫn theo Freeman, 2010) Theo đó, các bên liên quan

Trang 29

của công ty bao gồm các cổ đông, chủ nợ, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, các nhóm lợi ích công cộng và các cơ quan chính phủ (Roberts,1992 và Freeman, 2010) Môi trường sinh thái được xem là một bên liên quan chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hoạt động của doanh nghiệp (Crowther and Aras, 2008) Một số quan điểm khác cho rằng các tổ chức phi chính phủ cũng được coi là bên liên quan vì

họ có chức năng bảo vệ lợi ích cho các nhóm xã hội nhất định

Từ các khái niệm trên cho thấy một tư tưởng chung đó là doanh nghiệp ngoài việc thực hiện trách nhiệm kinh tế đối với chủ sở hữu thì còn phải gánh vác những trách nhiệm khác đối với các bên liên quan Tuy nhiên, nội hàm của TNXHDN ở mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia có sự khác nhau, phụ thuộc vào kỳ vọng

xã hội phổ biến (Sethi, 1975) Ngoài ra, các cấp độ của TNXHDN còn phụ thuộc vào đặc trưng của từng nhóm doanh nghiệp

Kỳ vọng xã hội phổ biến được thay đổi theo từng giai đoạn, ở từng quốc gia

thậm chí ở từng địa phương, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, đặc điểm văn hóa, xã hội Chẳng hạn, vào cuối những năm 1950, các nước Âu, Mỹ bị tàn phá nặng nề bởi các cuộc chiến tranh thế giới, khi đó mục tiêu khôi phục kinh tế, tối đa hóa lợi nhuận của cổ đông trở thành yêu cầu tối thượng Xu hướng TNXHDN lúc này được xem là sự triệt phá nền tảng của xã hội tự do (Friedman, 1962) Chính việc chạy theo lợi nhuận bất chấp các quy luật khách quan dẫn tới trong lòng xã hội tư bản nảy sinh những mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa các giai cấp đối kháng về lợi ích Từ sau thập kỷ 70, quan điểm xã hội đã có sự thay đổi mạnh mẽ Theo Johnson (1971), nhu cầu của xã hội đặt ra đối với các nhà tư bản chuyển từ tối đa hóa lợi nhuận sang “tối đa hóa tiện ích”, đòi hỏi các doanh nghiệp tìm kiếm nhiều mục tiêu chứ không phải chỉ có tối đa lợi nhuận (dẫn theo Carroll, 1999) Các vấn đề về quyền con người, nghĩa vụ thuế, lợi ích của người lao động, mong đợi của khách hàng được ưu tiên bên cạnh mục tiêu hiệu quả kinh tế (CED, 1971) Bước sang thế kỷ 21, các vấn đề về môi trường được thế giới đặc biệt quan tâm và đưa ra thảo luận ở các diễn đàn toàn cầu Thuật ngữ

“phát triển bền vững” xuất hiện và trở thành một trong các nội dung cơ bản của TNXHDN – đó là việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, bảo đảm sự công bằng giữa các thế hệ trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường (Nguyễn Văn Đức, 2010)

Đặc trưng của từng nhóm doanh nghiệp thể hiện thông qua vị trí, chức

năng và năng lực của các nhóm doanh nghiệp đó Chẳng hạn, quy mô của doanh nghiệp được xem là một yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn cụ thể trong các lĩnh

Trang 30

vực của TNXHDN (Francesco et al., 2007) Việc phân nhóm doanh nghiệp nhằm

xác định rõ nội dung TNXHDN theo các cấp độ khác nhau: trách nhiệm phải làm, trách nhiệm nên làm và trách nhiệm tự nguyện - sẵn sàng làm

Khái niệm TNXHDN cũng cần được thể hiện đầy đủ theo ba khía cạnh: Nội

dung - thực hiện những trách nhiệm nào? Phương thức – thực hiện như thế nào?

và động lực – tại sao phải thực hiện, thực hiện vì mục đích gì?

Từ các yêu cầu trên, theo xu hướng quốc tế mới nhất, có thể khái quát về

TNXNDN như sau: TNXHDN là việc doanh nghiệp định hướng các hành vi của

họ nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế, tuân thủ pháp luật, bảo vệ môi trường, đạo đức kinh doanh, tự nguyện đóng góp cho xã hội theo hướng hài hòa lợi ích của các bên liên quan và theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững

Với cách khái niệm này, quá trình phát triển doanh nghiệp phải được đặt trong mối quan hệ với các bên liên quan và môi trường tự nhiên trên cơ sở xem xét đầy đủ lợi ích, kỳ vọng của các bên liên quan và yêu cầu phát triển bền vững Doanh nghiệp phải tích hợp việc theo đuổi các giá trị kinh tế với lợi ích xã hội và môi trường Mỗi doanh nghiệp cần xác định phạm vi trong thực hiện trách nhiệm

xã hội tức là lựa chọn những nội dung phù hợp khả năng của họ Theo đó, doanh nghiệp tự xác định trách nhiệm xã hội cho riêng mình theo các cấp độ khác nhau: Cấp độ một là các trách nhiệm phải làm, như trách nhiệm kinh tế (gia tăng lợi ích cho bản thân doanh nghiệp, cho cổ đông và đảm bảo thu nhập của người lao động) đồng thời tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật Cấp độ hai là các trách nhiệm nên làm, thể hiện các hành vi ứng xử có đạo đức với các bên liên quan (người lao động, khách hàng, nhà cung cấp, người dân địa phương) Cấp độ thứ ba là các trách nhiệm tự nguyện hay sẵn sàng làm, thể hiện thông qua các hoạt động từ thiện, chia sẻ cộng đồng Doanh nghiệp cần xây dựng mục tiêu trách nhiệm xã hội theo từng nội dung và cho từng giai đoạn, đồng thời cần có chế độ báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu đó

Động lực để doanh nghiệp thực hiện TNXH trước hết xuất phát từ động lực nội tại – mục tiêu phát triển lâu dài mà doanh nghiệp theo đuổi là động lực quan trọng, là căn cứ cơ bản thúc đẩy TNXH Doanh nghiệp thông qua thực hiện TNXH để được xã hội thừa nhận và để đạt được các mục đích cụ thể như thu hút lao động, thu hút khách hàng, nâng cao uy tín… Động lực bên ngoài là sự ràng buộc và yêu cầu của văn bản pháp luật buộc doanh nghiệp phải thực hiện theo chuẩn mực pháp lý và đạo đức xã hội Trong hai nhóm động lực này thì động lực

Trang 31

bên ngoài chỉ mang tính chất tình thế, thụ động còn động lực nội tại chính là cái gốc kích thích doanh nghiệp thực hiện các TNXH – điều này lại phụ thuộc vào nhận thức của mỗi doanh nghiệp về nội dung, vai trò của TNXHDN

2.1.2 Vai trò của thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

Hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với thực hiện TNXH là một xu thế tất yếu, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay TNXH không chỉ có ý nghĩa đối với phát triển xã hội, bảo vệ môi trường mà nó còn có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển lâu dài của bản thân doanh nghiệp

Các nghiên cứu và dẫn chứng thực tế đã cho thấy, “doanh nghiệp nào thực hiện tốt TNXH thì lợi ích của họ không những không giảm đi mà còn tăng thêm” (Phạm Văn Đức, 2010) “Ngoài việc xây dựng niềm tin với cộng đồng và đem lại cho công ty một lợi thế trong việc thu hút khách hàng và nhân viên giỏi, hành động có trách nhiệm đối với người lao động và những người khác trong xã hội có thể giúp xây dựng giá trị cho công ty và cổ đông của họ” (Hohnen, 2007) Nhiều lãnh đạo doanh nghiệp ở Việt Nam cũng đã khẳng định những cơ hội do hoạt động TNXHDN mang lại cho công ty của họ

Hộp 2.1 Ý kiến của lãnh đạo doanh nghiệp về vai trò của trách nhiệm xã hội

Ý kiến của bà Vũ Thị Thuận - Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Traphaco:

“Gắn trách nhiệm xã hội với sự phát triển bền vững của DN là một xu thế tất yếu trên con đường hội nhập của các doanh nghiệp Việt Nam, bởi nó vừa mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, cho xã hội, đặc biệt là nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp”

Nguồn: Tuấn Anh và Phan Nam ( 2013) Vai trò của TNXHDN đối với quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp được thể hiện qua một số khía cạnh như sau:

- Giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động

Nếu xét trong ngắn hạn, thời gian đầu thực hiện TNXHDN, chi phí hoạt động của doanh nghiệp có xu hướng tăng lên Tuy nhiên, trong khoảng chi phí

Trang 32

tăng thêm đó có một phần chi phí mà trước đây doanh nghiệp đã “né tránh” nó, chẳng hạn như chi phí xử lý chất thải hay các khoản chi phí cho công nhân Một số quan điểm cho rằng mức độ gánh vác TNXH phụ thuộc vào khả năng tài chính của doanh nghiệp và TNXH chỉ thích hợp với những doanh nghiệp

có tiềm lực tài chính mạnh Tuy nhiên, nếu TNXH được quan tâm ngay từ khi bắt đầu quá trình đầu tư thì việc kết hợp các nguồn lực (hữu hình và vô hình) sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh và đạt được kết quả hoạt động khả quan nhất (Nguyễn Ngọc Thắng, 2015) Với lập trường đó, có thể trong thời gian đầu

tỷ suất lợi nhuận sẽ bị suy giảm nhưng nếu xét trong dài hạn, doanh nghiệp có thể từng bước tiết kiệm được chi phí khi quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào được gắn liền với TNXHDN

Trong thời đại ngày nay, chính sách đơn thuần dựa vào lực lượng lao động giá rẻ để giảm giá thành đã trở nên không còn phù hợp Porter (1990) đã chỉ ra rằng không cần thiết có mối liên hệ giữa năng lực cạnh tranh với sức lao động giá

rẻ Ông cho rằng, mục tiêu giảm thiểu chi phí nên được xây dựng trên nền tảng khoa học kỹ thuật và trình độ quản lý của doanh nghiệp chứ không phải từ việc tiết kiệm chi phí nhân công Ngược lại, năng suất lao động phụ thuộc một phần lớn vào yếu tố con người Do vậy, thực hiện tốt trách nhiệm đối với người lao động sẽ kích thích tinh thần làm việc và sáng tạo của họ, giúp tăng năng suất lao động, hạ thấp tỷ lệ sản phẩm hỏng dẫn tới hạ giá thành sản phẩm Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể tiết kiệm được chi phí tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới nếu giảm được tỷ lệ nhân viên nghỉ việc

- Thu hút lao động giỏi, tăng cường sự gắn bó của người lao động

Đội ngũ lao động có năng lực, có lòng trung thành là yếu tố quyết định sự thành bại của tổ chức Việc thu hút được lao động có chuyên môn tốt là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp hiện nay Trong điều kiện của nền kinh

tế thị trường, những doanh nghiệp trả lương thỏa đáng và công bằng, thực hiện các chế độ bảo hiểm đầy đủ và môi trường làm việc sạch sẽ có khả năng thu hút

và giữ được nguồn nhân lực có chất lượng cao Ngoài ra, đối với những người có năng lực, bên cạnh việc đòi hỏi một mức lương thỏa đáng, đội ngũ này còn mong muốn được làm việc trong một môi trường mà ở đó họ được phát huy hết khả năng của mình, được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, được đào tạo, được thăng tiến

và được tôn trọng

Trang 33

- Nâng cao uy tín và giá trị thương hiệu

Những doanh nghiệp thực hiện tốt TNXH sẽ tận dụng được sự hỗ trợ của bên thứ ba mang tính chất khách quan để đưa hình ảnh của mình đến với công chúng Điều này giúp gia tăng “tình cảm” của người tiêu dùng cũng như các đối tác, các nhà đầu tư đối với thương hiệu hay sản phẩm của doanh nghiệp Hầu hết các công ty đa quốc gia đều áp dụng các bộ tiêu chuẩn quốc tế hoặc đề ra các bộ quy tắc ứng xử riêng, trong đó ngoài các tiêu chuẩn về chi phí sản xuất và chất lượng sản phẩm thì các tiêu chuẩn biểu hiện trách nhiệm xã hội cũng được đặc biệt quan tâm Sự cạnh tranh chuyển dần từ cạnh canh về giá cả và chất lượng sang đồng thời việc đáp ứng các các tiêu chuẩn TNXHDN

- Thu hút khách hàng, tăng doanh thu

Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc những hàng hóa mà họ mua Những yếu tố về nguyên liệu, điều kiện sản xuất, tình trạng sử dụng lao động, chính sách bảo vệ môi trường của nhà sản xuất, chính sách chăm sóc khách hàng là những thông tin quan trọng khi người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa Theo khảo sát của một số doanh nghiệp, trong số các sản phẩm cùng loại, tương đương

về chất lượng, khách hàng sẵn sàng mua những sản phẩm được làm ra bởi những người khuyết tật, những sản phẩm có bao bì thân thiện với môi trường hoặc những sản phẩm sẽ được trích một phần doanh thu cho hoạt động từ thiện

Khảo sát toàn cầu của Nielsen (2013) về trách nhiệm cộng đồng của doanh nghiệp cho thấy có trên 50% người tiêu dùng được khảo sát sẵn sàng trả thêm tiền cho sản phẩm vì cộng đồng (Biểu đồ 2.1)

Hình 2.2 Tỷ lệ người tiêu dùng sẵn sang trả thêm tiền cho sản phẩm hoặc dịch vụ của các công ty có cam kết hoạt động xã hội và bảo vệ môi trường

Trang 34

2.1.3 Đặc điểm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, giải quyết việc làm ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Khối doanh nghiệp này đóng góp hơn 55% GDP và hơn 65% việc làm ở các nước có thu nhập cao; hơn 60% GDP và hơn 70% tổng số việc làm ở các nước có thu nhập thấp (OECD, 2004) DNNVV chiếm bình quân 98% số lượng doanh nghiệp và đem lại việc làm cho 66% lực lượng lao động tại các quốc gia khu vực Châu Á (ADB, 2014)

Ở Việt Nam, theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2011), tính đến cuối năm 2011

số DNNVV chiếm đến 97,6% tổng số doanh nghiệp và sử dụng 5,06 triệu lao động, hàng năm tạo thêm việc làm cho nửa triệu lao động mới Các số liệu trên cho thấy, DNNVV có những ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển, trong đó có nước ta Hoạt động của khối doanh nghiệp này làm tiêu hao đáng kể nguồn lực của xã hội từ vốn, đất đai, nhân lực và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái Vì vậy, ngoài đóng góp về mặt kinh

tế, các DNNVV cũng cần phải gánh vác các trách nhiệm khác đối với cộng đồng

xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững Việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội còn được xem một trong những tấm vé thông hành để DNNVV nước ta tiếp cận với thị trường thế giới trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây trên thế giới đã chỉ ra rằng sự quan tâm của các DNNVV đối với TNXHDN còn ở mức độ hạn chế so với các hãng lớn và đặc thù về nguồn lực, văn hóa kinh doanh của khối doanh nghiệp này được xem

là những rào cản trong thực hiện TNXHDN Các DNNVV chưa có thái độ rõ ràng trong việc thực hành trách nhiệm xã hội, ngoại trừ các hoạt động từ thiện (Fuller and Tian, 2006) Tư duy về TNXHDN của các DNNVV cũng có sự khác biệt so với các hãng lớn Nếu động lực thực hành TNXH của các hãng lớn là vì mục tiêu phát triển bền vững và hướng tới cộng đồng thì động lực của DNNVV chủ yếu là để cải thiện uy tín, hình ảnh hoặc để tìm kiếm một sự bình đẳng với các doanh nghiệp lớn (Udayasankar, 2008) Vì thế, DNNVV thường quan tâm nhiều hơn đến những hoạt động xã hội bên ngoài như làm từ thiện

Các nhà nghiên cứu khác trên thế giới cũng chỉ ra một số thách thức trong thực hiện TNXH ở các doanh nghiệp nhỏ như thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực, hạn chế về nhận thức, thiếu sự hỗ trợ thích hợp và thông tin (Li Yu, 2010) DNNVV ở nước ta hiện nay cũng có những đặc điểm riêng được xem là rào cản đối với thực hiện TNXH, cụ thể:

Trang 35

- Nguồn lực tài chính bị hạn chế và khó khăn trong huy động vốn là một trong những lý do khiến DNNVV thường có xu hướng tiết kiệm chi phí, né tránh các khoản chi phí không phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của

họ Việc thực hiện trách nhiệm nộp thuế đầy đủ, đúng hạn cũng bị ảnh hưởng

- Trình độ kỹ thuật, công nghệ của đa số doanh nghiệp còn thấp, khả năng gây ô nhiễm môi trường cao Việc trang bị hệ thống xử lý chất thải cũng chưa được quan tâm đúng mức ở phần lớn các doanh nghiệp này

- Đa số các chủ doanh nghiệp nhỏ chưa được đào tạo cơ bản, chủ yếu quản

lý bằng kinh nghiệm và thực tiễn, chủ yếu hướng tới mục tiêu lợi nhuận mà chưa

có những chiến lược dài hạn cho phát triển doanh nghiệp Hầu hết các DNNVV chưa có đội ngũ nhân sự để quản lý các hoạt động TNXH

- Lao động trong các DNNVV chủ yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo cơ bản, ít hiểu biết pháp luật nên khả năng tự bảo vệ lợi ích của họ trước chủ doanh nghiệp còn hạn chế Trong khi đó phần lớn DNNVV không có tổ chức công đoàn nên không phát huy được sức mạnh tập thể, làm giảm sức ép đối với chủ doanh nghiệp trong việc đảm bảo lợi ích chính đáng cho người lao động

Với những đặc điểm trên, để phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi, nghiên cứu cho rằng cần giới hạn phạm vi và mức độ thực hiện TNXH đối với DNNVV Theo đó, khía cạnh kinh tế và pháp lý trong thực hiện TNXH của DNNVV cần được coi trọng hàng đầu Trách nhiệm kinh tế chính là tiền đề cho

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tự thân doanh nghiệp phải vận động để đáp ứng Đồng thời, hoạt động của mọi doanh nghiệp, bất kể quy mô, ngành nghề đều phải được đặt trong một khung khổ pháp luật, đó là đáp ứng các quy tắc ứng

xử xã hội tối thiểu đã được quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia Điều đó

có nghĩa trách nhiệm pháp lý là yêu cầu bắt buộc đối với DNNVV Các hành vi ứng xử vượt ra khỏi phạm vi quy định của pháp luật chỉ nên được khuyến khích

ở mức độ phù hợp với năng lực của doanh nghiệp Chẳng hạn, DNNVV không nhất thiết phải sử dụng nguồn năng lượng sạch cho hoạt động sản xuất của họ nếu điều kiện tài chính và công nghệ chưa cho phép Việc định hướng các hành

vi TNXH đối với các DNNVV cũng không nên quá đề cao khía cạnh trách nhiệm

từ thiện, tránh tình trạng dư luận đánh đồng hoạt động từ thiện với TNXHDN (Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức, 2008)

Trang 36

2.1.4 Nội dung nghiên cứu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nghiên cứu TNXHDN là trả lời các câu hỏi: doanh nghiệp có trách nhiệm với ai? trách nhiệm về vấn đề gì? và phạm vi chịu trách nhiệm đến đâu? Trong

đó, mức độ thực hiện TNXHDN tùy thuộc vào đặc trưng của từng nhóm doanh nghiệp và kỳ vọng xã hội phổ biến ở từng thời kỳ, từng quốc gia DNNVV ở nước ta hiện nay có những hạn chế nhất định về nguồn lực tài chính, trình độ quản lý và công nghệ, năng lực hội nhập Bên cạnh đó, các giá trị văn hóa doanh nghiệp như chuẩn mực đạo đức, triết lý kinh doanh tại các DNNVV cũng chưa thực sự được coi trọng Để phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi, nghiên cứu cho rằng cần có giới hạn nhất định về phạm vi và các nội dung TNXH cốt lõi đối với DNNVV

Dựa trên mô hình kim tự tháp của Carroll (1991), nghiên cứu đề xuất mô hình TNXH của DNNVV theo các nội dung cốt lõi như sau (hình 2.3):

Hình 2.3 Mô hình trách nhiệm xã hội doanh nghiệp theo các vấn đề cốt lõi

Nguồn: Carroll (1991); Freeman (2010) Các nội dung TNXHDN cốt lõi thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc đảm bảo lợi ích của các bên liên quan, bao gồm: trách nhiệm nộp thuế; trách nhiệm đối với người lao động; trách nhiệm đối với môi trường; trách nhiệm đối với thị trường và trách nhiệm đối với cộng đồng Trong mỗi nội dung trách nhiệm, phạm vi chịu trách nhiệm lại được giới hạn theo các cấp độ từ thấp đến cao: kinh tế - pháp lý - đạo đức - từ thiện Đối với các DNNVV, trách nhiệm kinh

Kinh tế Pháp lý Đạo đức

Trách nhiệm đối với cộng đồng

Trách nhiệm đối với thị trường

Trách nhiệm đối với người lao động

Trách nhiệm

nộp thuế

Trách nhiệm đối với môi trường

Từ thiện

Trang 37

tế và pháp lý cần được coi trọng hàng đầu Các hành vi ứng xử vượt ra khỏi phạm vi quy định của pháp luật (đạo đức và từ thiện) chỉ nên được khuyến khích

ở mức độ phù hợp với năng lực của doanh nghiệp

2.1.3.1 Trách nhiệm nộp thuế

Nhà nước với tư cách là bộ máy quản lý kinh tế xã hội từ trung ương đến địa phương, nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước là từ tiền thuế nhằm chi trả cho các hoạt động của nhà nước và đầu tư cho xã hội Tiền thuế có quan hệ chặt chẽ tới sự vận hành bình thường của xã hội và cũng có ảnh hưởng đến trực tiếp đến lợi ích của doanh nghiệp Thuế với ý nghĩa phân phối lại thu nhập của xã hội mà trong đó doanh nghiệp là một chủ thể, vì vậy doanh nghiệp có trách nhiệm đóng góp thuế với mức độ, phạm vi phù hợp theo các tiêu chí đã được nhà nước quy định Dưới góc độ này, việc nộp thuế của doanh nghiệp không chỉ là thực hiện trách nhiệm với nhà nước mà còn là trách nhiệm với cộng đồng – làm cho cộng đồng trở nên công bằng và phát triển hơn Với tư cách là một bên liên quan, nhà nước cung ứng các nguồn lực cho doanh nghiệp hoạt động như đất đai,

cơ sở hạ tầng, dịch vụ công, hỗ trợ vay vốn…Vì vậy, nhà nước cũng có lợi ích liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp – lợi ích đó được biểu hiện thông qua các khoản thuế mà doanh nghiệp phải đóng góp cho ngân sách nhà nước

Như vậy, trách nhiệm nộp thuế được xem như một trách nhiệm cơ bản nhất, bắt buộc bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải thực hiện Tham chiếu theo mô hình kim tự tháp của Carroll (1991) thì trách nhiệm thuế thuộc về hai cấp độ đầu tiên – kinh tế và pháp lý Xét về khía cạnh pháp lý, doanh nghiệp có nghĩa vụ đóng thuế đầy đủ, đúng hạn, tuân thủ các quy định về kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội, chống thất thu cho ngân sách nhà nước Xét về khía cạnh kinh tế, việc doanh nghiệp nỗ lực gia tăng lợi nhuận cũng phải đồng thời với việc tăng giá trị các khoản thuế đóng góp cho ngân sách nhà nước Mức thuế đóng góp càng nhiều thể hiện mức độ cống hiến của doanh nghiệp đối với xã hội càng lớn Để đo lường trách nhiệm xã hội doanh nghiệp thông qua việc nộp thuế có thể sử dụng một số tiêu chí như: mức thuế đóng góp hàng năm, tỷ lệ thuế trên tổng vốn đầu tư, tốc độ gia tăng tiền thuế so với tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp, tình trạng trốn thuế, nợ đọng thuế…

Nhiều ý kiến cho rằng, đối với các quốc gia đang phát triển nói chung cũng như đối với các doanh nghiệp non trẻ, một khi doanh nghiệp làm tốt nghĩa vụ thuế của mình thì đã có thể được coi là thực hiện tốt trách nhiệm xã hội

Trang 38

2.1.3.2 Trách nhiệm đối với người lao động

Trách nhiệm đối với người lao động là một trong những nội dung khởi nguồn và chủ đạo của TNXHDN, đề cập đến trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc đảm bảo lợi ích chính đáng cho người lao động cả ở hiện tại và tương lai Đến nay, nhiều bộ tiêu chuẩn quốc tế về sử dụng lao động đã được ban hành và được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu

Tổ chức Trách nhiệm Quốc tế (SAI) đã ban hành bộ tiêu chuẩn SA 8000, đưa ra các yêu cầu về quản trị TNXHDN nhằm cải thiện điều kiện làm việc trên toàn cầu bao gồm yêu cầu về lao động cưỡng bức, lao động trẻ em, phân biệt đối

xử, giờ giấc làm việc, phúc lợi, sức khỏe và an toàn, thỏa ước tập thể… (Social Acountability International, 2013) Trong bộ tiêu chuẩn của WRAP (Worldwide Responsible Accredited Production) – Trách nhiệm toàn cầu về sản xuất may mặc – có 12 nguyên tắc, trong đó có 8 nguyên tắc quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp trong sử dụng lao động Bộ quy tắc ứng xử BSCI (Business Social Compliance Initiative) của Hiệp hội ngoại thương châu Âu có 10 quy tắc về vấn

đề sử dụng lao động Các bộ tiêu chuẩn này đều đặt ra yêu cầu về các nội dung tương tự bộ tiêu chuẩn SA 8000

Nhìn chung, trách nhiệm đối với người lao động thể hiện trên cả ba khía cạnh cơ bản là kinh tế, pháp lý và đạo đức Để đảm bảo lợi ích chính đáng cho người lao động, trước hết doanh nghiệp có trách nhiệm chấp hành nghiêm các văn bản luật liên quan đến lĩnh vực lao động, ngoài ra doanh nghiệp cũng có trách nhiệm đáp ứng những quyền lợi cao hơn của người lao động ngoài phạm vi luật định Ở Việt Nam, theo Luật Lao động (Quốc hội, 2012a) một số trách nhiệm pháp lý chủ yếu mà doanh nghiệp phải thực hiện trong sử dụng lao động theo luật định như sau:

- Xây dựng chế độ sử dụng lao động rõ ràng, minh bạch, đầy đủ

- Bảo đảm quyền và lợi ích căn bản cho người lao động, bao gồm:

+ Ký kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm cho người lao động theo đúng quy định

+ Thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng về bố trí việc làm, xin nghỉ việc và cho nghỉ việc

+ Phát lương đầy đủ, đúng chế độ, đúng hạn; xây dựng cơ chế tăng lương hàng năm phù hợp với quy định của nhà nước và tiền lương trung bình của xã

Trang 39

hội Doanh nghiệp có trách nhiệm nỗ lực tối đa trong việc gia tăng thu nhập cho người lao động chứ không chỉ đáp ứng theo khung quy định của nhà nước

- Chấp hành đúng quy định về chế độ làm việc của nhân viên: thời gian làm việc, thời gian nghỉ giải lao, nghỉ phép, nghỉ chế độ bảo hiểm

- Không vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng lao động như lao động cưỡng bức, phân biệt đối xử, lao động trẻ em…

Người lao động bên cạnh việc đòi hỏi được hưởng các quyền lợi cơ bản, chính đáng theo quy định pháp luật thì còn có những mong muốn cao hơn về chính sách đãi ngộ, điều kiện làm việc, đào tạo và phát triển con người, chế độ

ưu tiên, sự chia sẻ và sự tôn trọng… Những quyền lợi này mặc dù cũng đã được quy định trong luật lao động, song phần lớn không có những giới hạn cụ thể và việc đo lường mức độ thực hiện của doanh nghiệp về các vấn đề này thật không

dễ dàng Vì vậy, doanh nghiệp cần có những quyết sách và hành động mang tính

tự nguyện, thể hiện trách nhiệm đạo đức đối với nhân viên của mình

Người lao động là một bộ phận hữu cơ của doanh nghiệp Giữa hai nhóm lợi ích này có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại rất mạnh mẽ Khi doanh nghiệp gia tăng quyền lợi cho nhân viên thì doanh nghiệp sẽ thu lại được sự cống hiến nhiệt tình, tức là nhân viên sẽ góp phần làm gia tăng lợi ích cho doanh nghiệp Bản thân sự đóng góp của người lao động cho doanh nghiệp cũng chính

là đóng góp cho xã hội Nói cách khác, người lao động cũng tham gia vào quá trình gánh vác trách nhiệm xã hội cùng với doanh nghiệp

2.1.3.2 Trách nhiệm đối với môi trường

Cộng đồng dân cư nơi doanh nghiệp hoạt động chịu ảnh hưởng từ hoạt động của doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vực, song vấn đề đáng quan tâm nhất là những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái Những tác động tiêu cực có thể nảy sinh do liên quan đến sử dụng nguồn lực, địa điểm hoạt động, vật ô nhiễm và phế phẩm của doanh nghiệp, nó không chỉ giới hạn trong phạm vi địa bàn hoạt động của doanh nghiệp mà tác động đến môi trường toàn cầu Theo đà tăng trưởng về nhân khẩu thế giới và sự gia tăng tiêu thụ, xã hội ngày càng phải đối mặt với rất nhiều thách thức về môi trường, bao gồm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm, biến đổi khí hậu, phá vỡ hệ sinh thái cũng như sự xuống cấp các khu định cư ở thành thị và nông thôn Ô nhiễm môi trường và chi phí xã hội mà doanh nghiệp gây ra có thể lớn hơn rất nhiều lần những lợi ích mà

Trang 40

họ mang lại cho xã hội (Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức, 2008) Cho nên, bất cứ một doanh nghiệp có tinh thần trách nhiệm nào cũng phải gánh vác trách nhiệm bảo vệ môi trường (BVMT)

Trách nhiệm đối với môi trường là một trong các nội dung TNXH cơ bản

mà cộng đồng đang đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện Nó không chỉ có ý nghĩa to lớn trong thực hiện mục tiêu phát triển bền vững mà còn có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển của doanh nghiệp Để có thể cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp phải đảm bảo hoạt động của mình không gây ra những tác hại đối với môi trường sinh thái, tức là phải thể hiện sự thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất của mình (Trần Hồng Minh, 2009) Trách nhiệm đối với môi trường không chỉ dừng lại ở ý thức mà còn là nghĩa vụ theo luật định, được được thể hiện qua những chiến lược và hoạt động cụ thể của doanh nghiệp nhằm tuân thủ pháp luật về BVMT và thực hiện các hành vi khác

có lợi cho môi trường sinh thái

Luật pháp các quốc gia đều quy định các nội dung bắt buộc trong lĩnh vực BVMT phù hợp với đặc thù phát triển Ở Việt Nam, trách nhiệm cơ bản nhất trong BVMT của tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hiện nay được quy định tại điều 35, Luật Bảo vệ môi trường (Quốc hội, 2014) Theo đó, các doanh nghiệp có trách nhiệm:

+ Thực hiện các biện pháp BVMT nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt, bản cam kết bảo vệ môi trường đã đăng ký và tuân thủ tiêu chuẩn môi trường; thực hiện chế độ báo cáo về môi trường theo quy định của pháp luật về BVMT

+ Phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đối với môi trường từ các hoạt động của mình; khắc phục ô nhiễm môi trường do hoạt động của mình gây ra

+ Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức BVMT cho người lao động trong cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của mình

+ Chấp hành chế độ kiểm tra, thanh tra BVMT

+ Nộp đầy đủ các loại thuế, phí liên quan đến BVMT

Ngoài việc tuân thủ các quy định pháp luật về BVMT, doanh nghiệp cũng cần hướng tới những hành động cao thượng hơn như chú trọng đào tạo, nâng cao

ý thức về môi trường; đề ra những quyết sách và hành động phù hợp để phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện môi trường sinh thái Một số bộ nguyên tắc

Ngày đăng: 27/03/2017, 09:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh phúc (2015). Tổng hợp số thu BHXH khối doanh nghiệp các năm giai đoạn 2011-2015. Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng hợp số thu BHXH khối doanh nghiệp các năm giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh phúc
Nhà XB: Vĩnh Phúc
Năm: 2015
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009). Báo cáo môi trường quốc gia năm 2009: Môi trường khu công nghiệp Việt Nam. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2009: Môi trường khu công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
4. Bùi Loan Thùy (2012). Từ thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tiến tới tạo lập giá trị chung trong hội nhập kinh tế toàn cầu. Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 2/2012, tr 55-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tiến tới tạo lập giá trị chung trong hội nhập kinh tế toàn cầu
Tác giả: Bùi Loan Thùy
Nhà XB: Tạp chí Phát triển và Hội nhập
Năm: 2012
6. Châu Thị Lệ Duyên và Nguyễn Minh Cảnh (2012). Phân tích các nhân tố thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố Cần Thơ. Kỷ yếu Khoa học năm 2012, Trường Đại học Cần Thơ, tr 81-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích các nhân tố thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố Cần Thơ
Tác giả: Châu Thị Lệ Duyên, Nguyễn Minh Cảnh
Nhà XB: Kỷ yếu Khoa học năm 2012
Năm: 2012
7. Chi cục Bảo vệ môi trường Vĩnh Phúc (2012). Báo cáo kết quả kiểm tra định kỳ về công tác bảo vệ môi trường tại một số cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012. Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả kiểm tra định kỳ về công tác bảo vệ môi trường tại một số cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Tác giả: Chi cục Bảo vệ môi trường Vĩnh Phúc
Nhà XB: Vĩnh Phúc
Năm: 2012
8. Chi cục Bảo vệ môi trường Vĩnh Phúc (2014). Báo cáo tình hình chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Vĩnh Phúc 9. Chính phủ (2001). Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về Trợ giúp phát triển doanhnghiệp nhỏ và vừa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
Tác giả: Chi cục Bảo vệ môi trường Vĩnh Phúc
Nhà XB: Vĩnh Phúc
Năm: 2014
14. Cục Thống kê Vĩnh Phúc (2016). Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015. Truy cập ngày 15/10/2016, tại http://niengiam.thongkevinhphuc.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015
Tác giả: Cục Thống kê Vĩnh Phúc
Năm: 2016
15. Cục Thuế Vĩnh Phúc (2012). Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2011, nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2012. Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2011, nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2012
Tác giả: Cục Thuế Vĩnh Phúc
Nhà XB: Vĩnh Phúc
Năm: 2012
16. Cục Thuế Vĩnh Phúc (2013a). Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2012, nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2013. Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2012, nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2013
Tác giả: Cục Thuế Vĩnh Phúc
Nhà XB: Vĩnh Phúc
Năm: 2013
17. Cục thuế Vĩnh Phúc (2013b). Báo cáo đánh giá kết quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế năm 2013. Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá kết quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế năm 2013
Tác giả: Cục thuế Vĩnh Phúc
Nhà XB: Vĩnh Phúc
Năm: 2013
20. Cục Thuế Vĩnh Phúc (2015a). Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2014, nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2015. Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2014, nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2015
Tác giả: Cục Thuế Vĩnh Phúc
Nhà XB: Vĩnh Phúc
Năm: 2015
22. Cục Thuế Vĩnh Phúc (2016). Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2015, nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2016. Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2015, nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2016
Tác giả: Cục Thuế Vĩnh Phúc
Nhà XB: Vĩnh Phúc
Năm: 2016
12. Cục Thống kê Vĩnh Phúc (2014). Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2013. Truy cập ngày 15/10/2016, tại http://niengiam.thongkevinhphuc.gov.vn/ Link
13. Cục Thống kê Vĩnh Phúc (2015). Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014.Truy cập ngày 15/10/2016 tại http://niengiam.thongkevinhphuc.gov.vn/ Link
23. Đặng Huê (2014). Cần trao chức năng thanh tra, xử phạt cho ngành BHXH. Truy cập ngày 10/12/2014, tại http://www.baohiemxahoi.gov.vn/?u=nws&amp;su=d&amp;cid=829&amp;id=9139 Link
6/5/2013, tại http://www.vcci.com.vn/tin-vcci/20130402050416577/trach-nhiem -xa-hoi-cua-dn-ganh-nang-hay-co-hoi-.htm Link
84. Friedman M. (1962). Capitalism and Freedom . Retrieved on 20/2/2014 at http://sis.ashesi.edu.gh/courseware/cms2_9/pluginfile.php/11277/mod_resource/content/1/friedman-milton-capitalism-and-freedom.pdf Link
92. Li W. L. (2010). Corporate Social Responsibility in China: Window Dressing or Structural Change. Berkeley Journal of International Law. Retrieved on 12/5/2015 at http://scholarship.law.berkeley.edu/bjil/vol28/iss1/3 Link
103. Sethi S. P. (1975). Dimensions of Corporate Social Performance: An Analytical Framework. California Management Review. Retrieved on 15/5/2013 at http://cmr.ucpress.edu/content/17/3/58 Link
104. Social Acountability International (2013). SA8000 Guidance – 2008 Standard.Retrieved on 21/4/2014 at http://sa-intl.org/_data/n_0001/resources/live/SA8000ConsolidatedGuidance2013.pdf Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số nước - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
Bảng 2.1. Tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số nước (Trang 22)
Hình 2.1. Mô hình kim tự tháp về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
Hình 2.1. Mô hình kim tự tháp về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Trang 27)
Hình 2.3. Mô hình trách nhiệm xã hội doanh nghiệp theo các vấn đề cốt lõi - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
Hình 2.3. Mô hình trách nhiệm xã hội doanh nghiệp theo các vấn đề cốt lõi (Trang 36)
Hình 3.1. Khung phân tích tổng thể của luận án - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
Hình 3.1. Khung phân tích tổng thể của luận án (Trang 69)
Bảng 3.6. Đặc điểm mẫu khảo sát người lao động  Nhóm doanh nghiệp  Mẫu khảo sát  Tỷ lệ (%) - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
Bảng 3.6. Đặc điểm mẫu khảo sát người lao động Nhóm doanh nghiệp Mẫu khảo sát Tỷ lệ (%) (Trang 74)
Bảng 4.8. Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa nợ thuế trong 3 năm gần đây - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
Bảng 4.8. Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa nợ thuế trong 3 năm gần đây (Trang 90)
Bảng 4.9. Kết quả thanh, kiểm tra thuế tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
Bảng 4.9. Kết quả thanh, kiểm tra thuế tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Trang 91)
Bảng 4.10. Tình hình ký kết hợp đồng lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
Bảng 4.10. Tình hình ký kết hợp đồng lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa (Trang 93)
Bảng 4.14. Kết quả khảo sát người lao động về quyền lợi bảo hiểm xã hội - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
Bảng 4.14. Kết quả khảo sát người lao động về quyền lợi bảo hiểm xã hội (Trang 97)
Bảng 4.15. Tình hình nợ đọng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
Bảng 4.15. Tình hình nợ đọng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa (Trang 100)
Bảng 4.20. Tình hình tai nạn lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
Bảng 4.20. Tình hình tai nạn lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa (Trang 108)
Hình 4.2. Bãi tập kết ô tô ở xã Tề Lỗ huyện Yên Lạc - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
Hình 4.2. Bãi tập kết ô tô ở xã Tề Lỗ huyện Yên Lạc (Trang 117)
Bảng 4.24. Kết quả khảo sát về công tác quản lý, xử lý chất thải nguy hại (n=19) - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
Bảng 4.24. Kết quả khảo sát về công tác quản lý, xử lý chất thải nguy hại (n=19) (Trang 119)
Bảng 4.30. Nhận thức của người lao động về một số quy định của pháp luật lao động - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
Bảng 4.30. Nhận thức của người lao động về một số quy định của pháp luật lao động (Trang 131)
39. Hình thức nộp tờ khai thuế hiện nay tại công ty: - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LA tiến sĩ)
39. Hình thức nộp tờ khai thuế hiện nay tại công ty: (Trang 189)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm