Quản lí giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học ở các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lí giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học ở các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lí giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học ở các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lí giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học ở các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lí giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học ở các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lí giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học ở các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lí giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học ở các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lí giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học ở các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lí giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học ở các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lí giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học ở các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ THU TRÀ
QUẢN LÍ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Ở CÁC TRƯỜNG VEN BIỂN
THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ THU TRÀ
QUẢN LÍ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Ở CÁC TRƯỜNG VEN BIỂN
THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THU HẰNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Thu Trà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô giáo Phòng Sau đại học cùng các thầy cô giáo trong và ngoài khoa Tâm lý - Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Thị Thu Hằng - Người đã
trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Sở Giáo dục - Đào tạo,
Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Hạ Long, Ban giám hiệu và đồng nghiệp các trường TH & THCS thành phố Hạ Long đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện luận văn này
Do điều kiện thời gian và phạm vi nghiên cứu, kiến thức có hạn, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được ý kiến chỉ dẫn quí báu của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Học viên
Trần Thị Thu Trà
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của Luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 6
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Thế giới 6
1.1.2.Việt Nam 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 9
1.2.1 Môi trường, giáo dục môi trường cho HS TH 9
1.2.2 Quản lí và quản lý giáo dục MT 11
1.2.3 Vai trò, ý nghĩa, mục tiêu và nội dung GDMT trong trường TH 15
1.3 Quản lý GDMT cho HS TH ở các nhà trường 19
1.3.1 Yêu cầu về QL GDMT cho HS TH ở các nhà trường 19
1.3.2 Quản lý xây dựng kế hoạch và lựa chọn hình thức GDMT cho HS TH 19
Trang 61.3.3 Quản lý việc tổ chức GDMT cho HS TH 20
1.3.4 Quản lý việc chỉ đạo thực hiện GDMT cho HS TH 21
1.3.5 Quản lý việc kiểm tra đánh giá hoạt động GD, BVMT 21
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý GDMT cho HS TH 22
1.4.1 Đặc điểm tâm lí của HS tiểu học 22
1.4.2 Trình độ, năng lực của CBQL, GV 23
1.4.2 Các yếu tố khác 23
Tiểu kết chương 1 24
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Ở CÁC TRƯỜNG VEN BIỂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 25
2.1 Khái quát đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và Giáo dục - Đào tạo thành phố Hạ Long 25
2.1.1.Khái quát đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội 25
2.1.2 Khái quát về tình hình giáo dục của thành phố Hạ Long 26
2.2 Thực trạng QL GDMT ở các trường ven biển thành phố Hạ Long 27
2.2.1 Thực trạng nhận thức của CBQL về GDMT và QL GDMT cho HS TH ở các trường ven biển thành phố Hạ Long 30
2.2.2 Thực trạng quản lý các nội dung GDMT ở các trường ven biển thành phố Hạ Long 34
2.2.3 Thực trạng rèn luyện kỹ năng QL GDMT cho GV TH ở các trường ven biển thành phố Hạ Long 42
2.2.4 Thực trạng phối hợp các lực lượng QL GDMT ở các trường ven biển thành phố Hạ Long 47
2.3 Đánh giá về thực trạng QL GDMT của HT các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 50
2.3.1 Ưu điểm 50
2.3.2 Một số hạn chế trong QL GDMT của HT các trường ven biển thành phố Hạ Long 51
Trang 7Tiểu kết chương 2 53
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GDMT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Ở CÁC TRƯỜNG VEN BIỂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 55
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 55
3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 55
3.1.2 Đảm bảo tính khả thi 55
3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 56
3.2 Một số biện pháp quản lý GDMT cho HS TH các trường ven biển - TP Hạ Long Tỉnh Quảng Ninh 56
3.2.1 Nâng cao nhận thức về QL GDMT 56
3.2.2 Tăng cường quản lý các nội dung GDMT cho HS TH ở các trường ven biển 61
3.2.3 Tăng cường rèn luyện kĩ năng tổ chức GDMT cho GV 66
3.2.4 Tăng cường quản lý CSVC 70
3.2.5.Tăng cường phối hợp các lực lượng QL GDMT 72
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 73
3.4 Kết quả thăm dò về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 73
3.4.1 Mục đích thăm dò 73
3.4.2 Đối tượng thăm dò 74
3.4.3 Phương pháp thăm dò 74
3.4.4 Kết quả thăm dò 74
Tiểu kết chương 3 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Khuyến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Nhận thức về mục tiêu giáo GDMT cho học sinh tiểu học của
CBQL 31 Bảng 2.2 Nhận thức về mục tiêu GDMT cho HS tiểu học của GV 32 Bảng 2.3 Đánh giá về việc xác định các nội dung GDMT khi lập kế hoạch của
GV trong nhà trường của CBQL 35 Bảng 2.4 Đánh giá về việc xác định các nội dung GDMT khi lập kế hoạch của
GV trong nhà trường của GV 36 Bảng 2.5 Đánh giá về việc thực hiện các hình thức GDMT ở các trường
TH & THCS ven biển thành phố Hạ Long của CBQL 39 Bảng 2.6 Đánh giá về việc thực hiện các hình thức GDMT ở trường TH &
THCS ven biển thành phố Hạ Long của GV 40 Bảng 2.7 Kết quả khảo sát việc QL các hình thức GDMT cho HS TH ở 4
trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 41 Bảng 2.8 Kết quả khảo sát việc QL nội dung bồi dưỡng GDMT của BGH
đối với đội ngũ GV 43 Bảng 2.9 Kết quả khảo sát nhận thức về hành vi BVMT của HS TH 4 trường
ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 46 Bảng 2.10 Kết quả khảo sát CBQL về QL CSVC cho GDMT ở 4 trường
ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 48 Bảng 2.11 Kết quả khảo sát việc QL GD con em BVMT của phụ huynh 49 Bảng 3.1 Kết quả thăm dò mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý GDMT 74 Bảng 3.2 Kết quả thăm dò mức độ khả thi của các biện pháp quản lý GDMT 75
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI Ngày 4 tháng 11 năm 2013 đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW với nội dung về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Trong mục tiêu tổng quát đã xác định việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện
và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo” Đồng thời “phấn đấu đến năm
2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”
Để hoàn thành tốt trọng trách của mình, những năm qua giáo dục Việt Nam đang không ngừng đổi mới sâu sắc và toàn diện đối với tất cả các bộ môn văn hoá, các hoạt động giáo dục nói chung trong đó có giáo dục môi trường nói riêng và đã có những bước tiến đáng ghi nhận
Gần đây, cùng với sự bùng nổ của khoa học công nghệ, sự phát triển như
vũ bão của công nghiệp, sự gia tăng dân số đã tác động không nhỏ đến môi trường dẫn đến nhiều hệ lụy ảnh hưởng đến cuộc sống con người như: ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, trái đất nóng lên, động đất, sóng thần, cháy rừng, sạt lở đất, nước biển dâng cướp đi hàng triệu sinh mạng vô tội, biến những người sống sót thành vô gia cư Những hệ lụy đó có nguyên nhân sâu xa từ ý thức, thái độ và hành vi của con người với môi trường
Giáo dục bảo vệ môi trường không phải là vấn đề mới nhưng là một vấn
đề hết sức cần thiết đối với thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước Các em học sinh tiểu học ở các trường ven biển Thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh hiện nay đang được học tập và sinh sống bên cạnh một di sản - một kì quan thiên nhiên của thế giới Môi trường trong sạch của kì quan Vịnh
Hạ Long gần đây ngày càng có xu thế biến đổi do những tác động của con
Trang 11người trong đó có người dân sinh sống trên địa bàn và du khách đến thăm quan, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống mà còn ảnh hưởng đến
sự phát triển bền vững của đất nước
Thực tế là nhiều chủ trương, chính sách và các quy định pháp luật về BVMT cho đến nay vẫn chưa đến được với toàn thể nhân dân Người dân chưa biết hoặc biết rất ít những kiến thức về MT và BVMT; chưa nắm rõ được quyền và nghĩa vụ của mình đối với công tác BVMT Nhận thức về tầm quan trọng của MT và công tác BVMT còn hết sức hời hợt và mơ hồ, vấn đề đặt ra là phải tích cực công tác giáo dục BVMT cho mọi tầng lớp nhân dân đặc biệt là từ lứa tuổi cắp sách đến trường ngay bậc TH trong các nhà trường
Môi trường không chỉ là nơi con người sinh sống mà còn tạo cơ hội cho con người phát triển nhưng nếu môi trường khắc nghiệt (thiên tai, lũ lụt, hạn hán, núi lửa, sóng thần ), ô nhiễm (nhiều rác thải, khói bụi, bức xạ, tiếng ồn, hóa chất) sẽ khiến con người phát sinh bệnh tật (ung thư, nhiễm trùng, các loại bệnh về
hô hấp ) thì sự phát triển sẽ ngắn lại Trong thực tế hiện nay những mối nguy hiểm đe dọa sức khỏe con người luôn xảy ra trong bất kì môi trường nào
GDMT giúp thế hệ trẻ có cơ hội được học tập và sinh sống trong một môi trường xanh - sạch - đẹp, an toàn đó là một nơi không rác thải, xa tiếng ồn
và có nhiều cây xanh bóng mát Thông qua giáo dục môi trường HS tiểu học còn biết cách giữ vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường ở gia đình, trong nhà trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với thiên tai một cách chủ động GDMT sẽ giúp các em hình thành ý thức, hành vi, thói quen bảo vệ môi trường và trở thành những tuyên truyền viên tích cực góp phần nâng cao ý thức BVMT đến các thành viên trong gia đình và cộng đồng GDMT ở các nhà trường đã được các cấp các ngành quan tâm xong việc tổ chức còn mang tính hình thức, tính thời điểm, đặc biệt cách thức quản lý chỉ đạo tổ chức hoạt động
cụ thể cho các em học sinh còn nhiều bất cập và hạn chế, nhất là các em HS
TH Nhiều em chưa hình thành thói quen khi tham gia các hoạt động GDMT của lớp, của trường, hoặc tham gia thiếu tự tin, thiếu nhiệt tình
Trang 12Quản lý GDMT ở các trường TH như thế nào cho khoa học để thu hút được số lượng đông đảo các em học sinh tham gia, giúp các em hình thành thói quen, thể hiện thành hành động BVMT nâng cao chất lượng MT sống mỗi ngày
là điều trăn trở của nhiều GV và không ít các bậc QLGD, đặc biệt ở các trường ven biển, ở gần khu du lịch như thành phố Hạ Long
Với mong muốn hình ảnh đẹp của quê hương được ghi lại trong tâm hồn các em, trong mắt du khách và bạn bè quốc tế đến với Hạ Long
Chúng tôi quyết định chọn đề tài “Quản lí giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học ở các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh”
làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lí giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu
Giáo dục môi trường là yếu tố quan trọng trong việc BVMT sống, phòng chống biến đổi khí hậu Trên cơ sở nghiên cứu và khảo sát thực tế, luận văn đề
xuất một số biện pháp QL GDMT cho HS TH ở một số trường ven biển thành
phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Giáo dục môi trường cho HS TH ở các trường TH & THCS ven biển
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý giáo dục môi trường cho học
sinh Tiểu học của Hiệu trưởng ở các trường ven biển
3.3 Khách thể điều tra
- Cán bộ quản lý GD: 23
- Cán bộ quản lý môi trường:7
- Giáo viên tiểu học: 75
- Học sinh tiểu học: 680
- Phụ huynh học sinh: 60
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục môi trường cho học sinh nói chung và học sinh tiểu học nói riêng
Trang 134.2 Đánh giá thực trạng về giáo dục môi trường và quản lí giáo dục
môi trường cho học sinh Tiểu học ở các trường ven biển TP Hạ Long, tỉnh
Quảng Ninh
4.3 Đề xuất một số biện pháp quản lí giáo dục môi trường cho học sinh
tiểu học ở các trường ven biển TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
5 Giả thuyết khoa học
Quản lý giáo dục môi trường ở các trường ven biển TP Hạ Long, tỉnh
Quảng Ninh trong những năm qua đã được các cấp quan tâm và đạt được những kết quả đáng khích lệ, bên cạnh đó vẫn còn bộc lộc nhiều bất cập, hạn chế Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý giáo dục môi trường phù hợp, khả thi thì công tác quản lý GDMT ở các trường ven biển sẽ có nhiều thay đổi Nhất là khi áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để phát huy được tính tích cực, tự giác của học sinh trong việc BVMT thì chất lượng môi trường sẽ được nâng cao
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu những biện pháp quản lý giáo dục môi trường cho học sinh
tiểu học của các trường ven biển TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (Trường TH &
THCS Hùng Thắng, Trường TH & THCS Tuần Châu, Trường TH & THCS Bãi Cháy 2, Trường TH & THCS Minh Khai)
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Thu thập và nghiên cứu các tài liệu, các văn bản pháp qui, các công trình nghiên cứu khoa học về quản lí, tổ chức hoạt động giáo dục môi trường; phân tích, tổng hợp các nội dung để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Phương pháp này sử dụng để thu thập dữ kiện
từ thực tiễn quản lý giáo dục môi trường
Trang 14- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:
+ Bảng hỏi dành cho giáo viên trực tiếp tham gia tổ chức giáo dục môi trường về những công việc, những biện pháp quản lí và làm việc với học sinh
+ Bảng hỏi dành cho (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, TPT Đội) về công tác quản lí giáo dục môi trường
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn các chuyên gia và cán bộ quản lý
có kinh nghiệm quản lý giáo dục môi trường
7.3 Nhóm các phương pháp bổ trợ
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu và phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng; sử dụng phương pháp kiểm định giả thuyết để đánh giá tính khoa học, khả thi của kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Thế giới
Thuật ngữ: “Giáo dục môi trường” đã được sử dụng từ rất sớm, năm
1948 tại Pari trong cuộc họp của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên Từ những năm 1960 con người đã ý thức được về những ảnh hưởng có hại của mình đối với môi trường sống Trong tuyên bố của Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về “Môi trường và con người” tổ chức tại Stockhom Thụy Điển từ ngày 5 - 6/6/1972 nguyên tắc 19 đã nêu rõ “Việc giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn làm sao để họ có được trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường và cải thiện môi trường” Thể hiện sự tiến bộ của những nhận thức của con người đối với môi trường và cũng từ đó ngày mùng 5 tháng 6 được lấy làm “Ngày môi trường thế giới” hàng năm
Ở nhiều quốc gia trên thế giới GDMT được đưa vào dạy ở hệ thống các trường phổ thông ngay từ những năm đầu của thập kỉ 70 như: Mỹ, Mehicô, Liên Xô cũ, chủ đề môi trường được lồng ghép vào các môn học có liên quan đến môi trường như: sinh học, địa lý, hoá học, giáo dục công dân, đạo đức, thẩm mỹ… Trong các nước ASEAN, Brunei, Indonexia, Thái Lan là những nước đưa giáo dục môi trường một cách có hệ thống vào các bậc trung học cơ
sở, trung học phổ thông, còn lại chủ yếu là lồng ghép vào các môn học truyền thống về tự nhiên và xã hội
Những năm 1960 giáo dục bảo vệ môi trường ở Nhật Bản được bắt đầu bằng việc chống ô nhiễm môi trường và BVMT tự nhiên Đến cuối những năm
1980, ý thức được tầm quan trọng của MT với đời sống con người GDMT thực
sự đã có chỗ đứng trong nền giáo dục Nhật Bản
Trang 16Cho đến nay GDMT đã phát triển mạnh mẽ ở tất cả các châu lục, các quốc gia, nhiều thông điệp và những cuốn sáchvề BVMT được đưa ra mỗi
năm: Jay Withgot, Matthew Laposata (2011), Môi trường cần thiết (Essential
Environment), Gregory M Anderson, Richard C.Haul, PhD and Tom William
(2013), Môi trường 24/7 (Environment 24/7), Joana Yarrow, 1001 cách bảo vệ
trái đất (1001 ways to save the earth), hay tác giả Diane Gow Mc.Dilda với
365 cách sống xanh (365 ways to live Green) nhằm cứu vãn sự suy thoái môi
trường thế giới ngày càng trở nên bức thiết
Từ kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy vai trò của nhà trường hết sức quan trọng đối với GDMT ở tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.1.2.Việt Nam
Ở Việt Nam phong trào trồng cây xanh cải tạo môi trường được phát triển rộng rãi kể từ năm 1962, sau khi Bác Hồ khai sinh ra “Tết trồng cây”
Sau đó, những năm 1980 đã có nhiều tác giả nghiên cứu về giáo dục môi
trường và BVMT cho các nhà trường: Hoàng Đức Nhuận “Về giáo dục môi
trường trong các môn học ở trường Phổ thông” (1982), Nguyễn Dược với
“Giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường Phổ thông” (1986)…
Đảng và nhà nước ta cũng như các cấp, các ngành đã quan tâm đến công tác GDMT cụ thể là nhiều chủ trương chính sách về BVMT đã được ban hành:
Luật BVMT đã được thông qua tháng 12 năm 1993
Chỉ thị số 36/1998/CT-TW của bộ chính trị ngày 25 tháng 6 năm 1998 trong số 8 giải pháp được nêu ra thì giải pháp đầu tiên là thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục của tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 17Đề án 1363/QĐ-TTg đã được Chính phủ phê duyệt ngày 17 tháng 10 năm 2001 về việc đưa các nội dung GDMT vào hệ thống giáo dục quốc dân với mục tiêu giáo dục học sinh, sinh viên có hiểu biết về chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước về BVMT, có kiến thức về môi trường để tự giác thực hiện BVMT đồng thời đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy, GV, cán bộ nghiên cứu khoa học công nghệ và CBQL về BVMT
Quyết định số 6621/QĐ-BGDĐT-KHCN ngày 30 tháng 12 năm 2002 của Bộ giáo dục đào tạo cũng đã đề cập đến GDMT trong trường phổ thông giai đoạn 2001-2010 Ngoài ra rất nhiều các dự án lớn nhỏ trong nước và quốc
tế, nhiều chiến dịch BVMT cũng đã được triển khai ở nhiều địa phương trên khắp cả nước
Con người cần nhận thức và thay đổi cách cư xử của mình với thiên nhiên để tồn tại và phát triển bền vững đồng thời cần kết hợp lợi ích cá nhân với lợi ích của cộng đồng để nâng cao chất lượng cuộc sống
GDMT gồm hai phạm vi chủ yếu: Giáo dục trong nhà trường và giáo dục ngoài cộng đồng Hai lĩnh vực này không thể tách rời nhau mà phải kết hợp chặt chẽ, bổ sung cho nhau
GDMT ở Việt Nam được đưa vào theo phương thức lồng ghép với các môn học tự nhiên và xã hội, sau Cải cách giáo dục (năm 1986-1992) nội dung GDMT đã được chú trọng đưa vào giảng dạy cho học sinh ở các trường phổ thông ở một số môn học: Sinh, Địa, Khoa học…
Trong chương trình giáo dục tiểu học hiện nay GDMT được tích hợp lồng ghép ở nhiều môn học văn hóa ở trên lớp và được tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ học GDMT là một bộ phận quan trọng trong hoạt động GD phổ thông góp phần thực hiện mục tiêu GD Nó là cầu nối giữa các môn học với hoạt động GD, là điều kiện và phương tiện để phát huy sức mạnh cộng đồng cùng tham gia vào sự phát triển của nhà trường và vào sự nghiệp GD
Trang 18GDMT giúp HS có thêm hiểu biết về tự nhiên xã hội, con người, rèn luyện cho HS phẩm chất, nhân cách, hình thành các mối quan hệ giữa con người với đời sống xã hội, với thiên nhiên và với MT sống
GDMT giúp nhà trường phát huy vai trò của GV trong công tác tổ chức, tuyên truyền, huy động các lực lượng trong và ngoài nhà trường, cộng đồng xã hội tham gia vào công tác GD
Vấn đề GDMT đã được đề cập trong một số luận văn thạc sĩ nhưng chủ yếu về hoạt động quản lý của HT các trường THCS, THPT như:
- Tác giả Nguyễn Văn Tâm với luận văn: Một số biện pháp quản lý
hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch Thất tỉnh
Hà Tây (2005)
- Tác giả Nguyễn Tý với luận văn: Biện pháp quản lý công tác giáo dục
môi trường ở các trường THCS trên địa bàn quận Thanh Khê Thành phố Đà Nẵng (2012)
Chúng tôi sẽ nghiên cứu về QL GDMT của người hiệu trưởng trên một đối tượng khác là HS tiểu học ở các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới GD phù hợp với điều kiện hiện nay
ở địa phương
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Môi trường, giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học
1.2.1.1 Môi trường
Khái niệm về môi trường được trình bày trong Luật BVMT đã được Quốc
hội thông qua tháng 12 năm 1993: “Môi trường gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố
vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người, thiên nhiên”
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao
quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [11]
Trang 19Theo UNEP định nghĩa: “Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học,
sinh học, kinh tế xã hội, tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng” [dẫn theo 45]
Còn định nghĩa của UNESCO (1981): “Môi trường sống của con người
bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, trong đó con người sống và bằng lao động của mình, khai thác các nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân tạo thỏa mãn nhu cầu của con người” [dẫn theo 45]
Môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu
tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, sự phát
triển và sinh sản của sinh vật và được hiểu là tập hợp các yếu tố tự nhiên:
không khí, ánh sáng mặt trời, núi rừng, sông suối môi trường xã hội trực tiếp liên quan đến chất lượng cuộc sống con người: các mối quan hệ, các tổ chức, đoàn thể , môi trường nhân tạo gồm các yếu tố do con người tạo nên: những tiện nghi trong cuộc sống, nơi ở, làng mạc, thành phố có mối quan hệ chặt chẽ mật thiết có tác động qua lại với con người, ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của con người, làm cho cuộc sống của con người thêm phong phú
Môi trường là không gian sinh tồn của con người Giống như mọi sinh vật khác, để tồn tại và phát triển về mặt sinh lý, tâm lý và tinh thần con người cần có một không gian sống với những yêu cầu nhất định về chất và lượng của nó [28]
Tóm lại: Môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để
sống và phát triển Môi trường luôn biến động dưới sự tác động tiến hóa của tự nhiên và hoạt động của các sinh vật, trong đó có con người đang có tác động mạnh nhất Con người không thể giữ MT nguyên dạng nhưng phải bảo vệ ba chức năng của MT là: không gian sinh tồn, nơi cung cấp tài nguyên và nơi chứa đựng và xử lý chất thải
Trang 201.2.1.2 Giáo dục môi trường cho HS TH
Giáo dục môi trường cho học sinh TH là một quá trình thường xuyên
thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp các
em có ý thức, sự hiểu biết về MT từ đó hình thành thái độ, tình cảm ý thức trách
nhiệm với MT và vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử
dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai
Qua các phương tiện truyền thông, qua các hình ảnh, thông tin cập
nhật GDMT giúp học sinh, cộng đồng nâng cao nhận thức, thay đổi thói
quen tiêu dùng, đồng thời tuyên truyền nhắc nhở, hướng dẫn họ tham gia
cùng thực hiện hành động BVMT
Thông qua GDMT trong và ngoài nhà trường, chính khóa và ngoại khóa
mỗi nhà trường sẽ trở thành một trung tâm văn hóa Xanh- Sạch - Đẹp, đồng
thời là nơi tạo tiền đề tổ chức các hoạt động BVMT ở các khu dân cư trên địa
bàn, cộng đồng
1.2.2 Quản lí và quản lý giáo dục môi trường
1.2.2.1 Quản lí
Cho đến nay khái niệm QL vẫn là một vấn đề phức tạp, nhiều ý kiến tuy
nhiên QL được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt
đời và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu Quản lý được giải thích
như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự khởi
đầu để họ triển khai công việc Như vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo thì có bấy
nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về QL
Theo “Từ điển Tiếng Việt”: “Quản lý là trông, coi, giữ gìn theo những
yêu cầu nhất định” hoặc “quản lý là tổ chức điều khiển các hoạt động theo
những yêu cầu nhất định”.[40, tr.772]
Trang 21Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục đích dự kiến”.[31, tr.24]
Xét trên phương diện nghĩa của từ, QL thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên QL cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự
mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong
và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về QL Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về QL Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về QL lại càng phong phú
Theo C Mác thì quản lý (quản lý xã hội) là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lí
(con người điều khiển con người) Người viết “Tất cả mọi lao động xã hội trực
tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [6, tr.34]
Có thể nói; khái niệm quản lý được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau, song đều có chung những dấu hiệu chủ yếu là: hoạt động QL được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội, là những tác động có tính hướng đích, phối hợp sự nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức
Trang 22Tóm lại: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt tới mục tiêu định ra trong điều kiện biến động của môi trường
Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Quản lý mang tính khoa học vì các hoạt động của QL có tổ chức, có định hướng đều dựa trên những qui luật, những nguyên tắc và những phương pháp hoạt động cụ thể, đồng thời QL mang tính nghệ thuật vì nó được vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo vào những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội
1.2.2.2 Quản lí giáo dục môi trường
* Quản lí giáo dục
Giáo dục và quản lý giáo dục là sự tồn tại song hành Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói như thế về quản lý giáo dục
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động
dạy học Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối giáo dục đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [9, tr.9]
QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống GD đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất, QLGD là một bộ phận trong quản lý văn hóa tinh thần QLGD theo nghĩa tổng quát là điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đạo tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội QLGD bao gồm quản lý vĩ mô - quản lý hệ thống giáo dục và quản lý vi mô - quản lý trường học
Trang 23Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý giáo dục là hệ thống những
tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội
tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất" [31, tr.35]
Quản lý là một nhân tố của sự phát triển xã hội Quản lý là hoạt động phổ biến diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người Như vậy dù theo tác giả nào thì khái niệm quản lý giáo dục cũng đều chứa đựng các nhân tố đặc trưng bản chất như: Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ở tầm vĩ mô
là quản lý của nhà nước mà cơ quan quản lý trực tiếp là Bộ, Sở, Phòng giáo dục, còn ở tầm vi mô là quản lý của Hiệu trưởng nhà trường Phải có hệ thống tác động quản lý theo nội dung, chương trình kế hoạch thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội, Phải có một lực lượng đông đảo của xã hội những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật tương ứng
Quản lý giáo dục có tính xã hội cao Bởi vậy, cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng phục vụ cho công tác giáo dục Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản
lý giáo dục, trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất
* Quản lí giáo dục môi trường
Là quá trình xây dựng kế hoạch, lựa chọn hình thức, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá các hoạt động GD, BVMT
Quản lý GDMT là một bộ phận của công tác QLGD trong nhà trường góp phần GD ý thức, đạo đức cho học sinh TH, giúp các em hình thành nhân
cách và phát triển toàn diện
Trang 241.2.3 Vai trò, ý nghĩa, mục tiêu và nội dung GDMT trong trường TH
1.2.3.1 Vai trò của GDMT
Tiểu học là cấp học đầu tiên của bậc học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân, tạo ra cơ sở ban đầu bền vững cho trẻ em hình thành nhân cách GDMT ở TH có vai trò quan trọng, nền tảng, muốn có một hệ thống giáo dục quốc dân lành mạnh, chất lượng cần có một cấp học tiểu học vững chắc, HS được phát triển toàn diện trong một môi trường thân thiện, tích cực
Điều này đòi hỏi các nhà QLGD phải biết vận dụng các biện pháp QL GDMT phù hợp, linh hoạt sáng tạo, sẽ phát huy được nội lực và ngoại lực đạt được hiệu quả mục tiêu GD Trong giai đoạn hiện nay, Giáo dục tiểu học cần thực hiện một số giải pháp để đạt được mục tiêu, cụ thể:
- Thực hiện dạy theo chương trình sách giáo khoa mới, dạy đủ các môn học bắt buộc và tự chọn, tăng cường GDMT, thể chất và kĩ năng sống nhằm phát triển toàn diện HS đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội
- Xây dựng và đánh giá nhà trường TH theo chuẩn quốc gia đến mức độ
2, xây dựng các điều kiện đảm bảo cho việc Giáo dục đào tạo HS về các mặt: đức, trí, thể, mỹ, môi trường và các kỹ năng cơ bản
Dạy cho HS tích cực tự học, rèn kỹ năng sống, BVMT là yêu cầu chức năng, nhiệm vụ mới của GV trong thời kỳ hiện nay, đó chính là quan điểm phát huy nội lực của HS, kết hợp sự giúp đỡ bên ngoài, đặc biệt là sự hướng dẫn, định hướng của thầy, cô giáo
Trong quản lý và giảng dạy GV cần chú ý xây dựng kỉ cương, nề nếp dạy học bằng hệ thống nội qui, qui định chặt chẽ Xây dựng ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm cá nhân, sự cộng tác và học hỏi lẫn nhau trong quá trình dạy học Những hình thức động viên, khen thưởng kịp thời và định mức những cống hiến và thành tích của cán bộ GV, HS, tạo điều kiện để cho CB, GV lao động cải thiện đời sống cả về vật chất lấn tinh thần
Trang 251.2.3.2 Ý nghĩa GDMT
Đối với sự phát triển bền vững của bất kỳ quốc gia nào, MT có tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt Nhờ những thành tựu của khoa học công nghệ mà đời sống của con người thay đổi căn bản, đồng thời cũng đưa con người đối mặt với những vấn đề về môi trường mới nảy sinh Nhiều năm qua công tác bảo vệ môi trường trở thành quan tâm của toàn xã hội Hoạt động BVMT phải thường xuyên lấy phòng ngừa là chính do đó công tác GD có ý nghĩa hết sức quan trọng
Dù ở gia đình trong nhà trường hay ngoài xã hội việc giáo dục hướng dẫn các em học sinh ý thức BVMT là rất cần thiết Phải dạy cho trẻ ý thức ngay
từ tuổi ấu thơ Nội dung và hình thức cũng phải phù hợp với đặc điểm tâm lý và từng giai đoạn phát triển lứa tuổi
GDMT trong nhà trường phổ thông là một quá trình nhằm giúp HS có được sự hiểu biết, kỹ năng và ý thức trách nhiệm của họ đối với thiên nhiên và thế giới xung quanh Tạo cho HS khả năng biết đánh giá các giá trị, vẻ đẹp của thiên nhiên từ đó có những thái độ, hành vi ứng xử thân thiện với môi trường, giải quyết những vấn đề MT hiện tại và phòng ngừa những vấn đề mới Ở các trường ven biển GDMT mang ý nghĩa sống còn khi hàng ngày các em HS phải chứng kiến cảnh xâm thực của biển, sự ô nhiễm làm đổi màu nước biển khiến những sinh vật như: tôm, cá chết nổi trên mặt nước, sự biến đổi về thời tiết không còn theo qui luật
1.2.3.3 Mục tiêu GDMT ở trường Tiểu học
Với một hệ thống GD được tổ chức chặt chẽ từ Mầm non đến Đại học, cùng mạng lưới các cơ sở giáo dục và đào tạo từ thôn, bản trên mọi miền đất nước có vai trò quan trọng trong việc tổ chức GDMT
Mục tiêu cụ thể:
- Làm cho HS bước đầu hiểu biết các thành phần MT: đất, nước, không khí, ánh sáng, động thực vật và mối quan hệ giữa chúng Mối quan hệ giữa con
Trang 26người với MT, ô nhiễm môi trường, cách thức BVMT xung quanh (nơi ở, nơi học tập vui chơi…)
- HS bước đầu có khả năng tham gia các hoạt động BVMT phù hợp lứa tuổi (trồng và chăm sóc cây xanh, ngăn nắp vệ sinh, giữ trường lớp sạch đẹp), sống hòa hợp với thiên nhiên, thân thiện với MT Biết tiết kiệm năng lượng, biết chia sẻ hợp tác BVMT
Thông qua những hoạt động được tổ chức lồng ghép trong các môn học chính khóa hoặc hình thức GD ngoài giờ lên lớp, các buổi ngoại khóa, trải nghiệm… GDMT góp phần hình thành tình cảm, nâng cao hiểu biết của HS, bổ sung hỗ trợ hoạt động học tập trên lớp Giúp HS phát triển sự hiểu biết trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
GDMT hiện nay chưa là một môn học chính khóa mà là một bộ phận của quá trình giáo dục, trong các nhà trường TH GDMT không chỉ làm cho các em hiểu rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường mà quan trọng là trang bị cho các em HS những tri thức cơ bản về môi trường để hình thành thói quen, hành vi ứng xử văn minh, thân thiện với MT Từ ý thức sẽ nảy sinh tình yêu thiên nhiên, sống hòa đồng với thiên nhiên, quan tâm tới thế giới xung quanh, có trách nhiệm với bản thân, có thói quen sống ngăn nắp, vệ sinh Giúp các em có động cơ tham gia tích cực vào các hoạt động tuyên truyền đến cộng đồng bảo vệ và cải thiện MT một cách hiệu quả hơn
Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo GDMT góp phần quan trọng trong việc giáo dục toàn diện nhân cách học sinh GDMT gắn nhà trường với thực tiễn, giúp các em mở rộng kiến thức, xây dựng những tình cảm tốt đẹp, phát huy tính chủ động, sáng tạo, biến quá trình giáo dục thành tự giác GDMT cần được quan tâm, chú trọng, đầu tư hơn nữa của các nhà quản lý giáo dục
Trang 271.2.3.4 Nội dung GDMT ở trường Tiểu học
Ở bậc học tiểu học nội dung GDMT được lồng ghép, tích hợp ở nhiều môn học như: Đạo đức, TNXH, Địa lý, Khoa học, Tiếng Việt, Mỹ Thuật, Âm nhạc
Các nội dung tích hợp, lồng ghép có thể là toàn phần, bộ phận hay liên
hệ tùy thuộc vào từng bài dạy, tiết dạy đã được Bộ giáo dục qui định cụ thể trong nội dung phân phối chương trình các môn học ở cấp TH và khả năng của giáo viên, đa phần hướng vào các nội dung như: Giữ vệ sinh cá nhân, giữ trường sạch lớp đẹp, chăm sóc khuôn viên, vườn trường, sử dụng tiết kiệm năng lượng, yêu quí thiên nhiên…
Đối với những trường ven biển nội dung GDMT quan trọng cần tích hợp, lồng ghép chính là GDMT biển và hải đảo nhằm giúp các em gần gũi với thiên nhiên biển, hải đảo nơi mình đang sinh sống, ý thức bảo vệ tài nguyên biển qua các hành vi, thái độ ứng xử với môi trường
GDMT ở cấp tiểu học mang tính đặc trưng có thể thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, cụ thể: chiến dịch làm sạch môi trường, tuyên truyền, ngoại khóa, tham quan, tổ chức thi vẽ tranh, thi tìm hiểu về môi trường và bảo
vệ môi trường…
Thực hiện các phong trào: Xanh-sạch-đẹp, chủ nhật xanh, tiếng trống làm sạch sân trường…
Trồng cây xanh, chăm sóc các công trình măng non, trang bị thùng rác
để học sinh bỏ rác đúng nơi qui định…
Giới thiệu một số cảnh quan thiên nhiên, quan tâm đến MT địa phương nhằm GD lòng yêu quí và ý thức trách nhiệm, bồi dưỡng tình yêu, thói quen văn minh lịch sự trong ứng xử với MT, thiên nhiên
Các nội dung được thực hiện một các linh hoạt theo từng chủ điểm hoạt động của từng năm học, từng trường, từng địa phương
Trang 281.3 Quản lý GDMT cho HS TH ở các nhà trường
1.3.1 Yêu cầu về QL GDMT cho HS TH ở các nhà trường
Tiểu học là bậc học cơ bản, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng trong việc đào tạo trẻ em trở thành công dân tốt cho đất nước Ở lứa tuổi này các em còn ham chơi hơn ham học do vậy việc GDMT phải dựa theo nguyên tắc “học
mà chơi, chơi mà học” dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú
GDMT là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, tích hợp vào các môn học và các hoạt động, là cách tiếp cận xuyên bộ môn Vì vậy việc tổ chức GDMT phải phù hợp với mục tiêu của cấp học
GDMT phải trang bị cho HS một lượng kiến thức theo hệ thống, phù hợp với thực tế địa phương Do GDMT là một quá trình được thực hiện thông qua các môn học và hoạt động ngoài giờ vì thế cần chú trọng thực hành, tạo cơ hội cho HS phát hiện và tìm cách giải quyết, xử lý các vấn đề môi trường dưới sự điều hành, hướng dẫn của GV, hình thành các kĩ năng sống BVMT phù hợp lứa tuổi
Quá trình GD bao giờ cũng được QL dựa trên 4 chức năng cơ bản: Xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá
1.3.2 Quản lý xây dựng kế hoạch và lựa chọn hình thức GDMT cho HS TH
Quản lý việc xây dựng kế hoạch là khâu quan trọng nhất và có tính tiên quyết trong công tác quản lý Kế hoạch thường được xây dựng dựa trên các chỉ thị, nhiệm vụ năm học, các văn bản hướng dẫn, chương trình, chủ điểm… Và căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường, địa phương
Kế hoạch cần ghi rõ mục tiêu, nội dung chương trình, thời gian thực hiện, người phụ trách, lực lượng tham gia, địa điểm và các điều kiện để thực hiện kế hoạch…
Kế hoạch có thể: theo chủ điểm, học kì, cả năm học… trong đó kế hoạch
cả năm đóng vai trò xác định rõ mục tiêu, nội dung chương trình, các danh mục cần thực hiện, cách thức tổ chức mang tính định hướng, bao quát toàn bộ hoạt động GD xuyên suốt năm học
Trang 29Một kế hoạch tốt, chi tiết, cụ thể sẽ tăng tính hiệu quả, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, nhân lực sẽ hạn chế được rủi ro trong quá trình triển khai thực hiện đồng thời kế hoạch tốt làm cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát, đánh giá được khách quan, chính xác
Để thực hiện kế hoạch và yêu cầu đề ra, công tác tổ chức có vai trò quyết định hiệu quả GD của các trường
Do đặc điểm lứa tuổi HS TH hiếu động, tập trung chưa cao hay bị phân tán vì vậy việc lựa chọn nội dung và hình thức GD phù hợp lứa tuổi và đặc điểm tâm lý để công tác tổ chức thực hiện đạt hiệu quả
Lứa tuổi TH các em đã làm quen và tiếp nhận các kiến thức sơ đẳng về khoa học và được nâng cao dần GDMT có thể theo hình thức nội khóa: lồng ghép trong các môn học, hoặc khai thác nội dung trong các môn học: TNXH ở lớp 1, 2, 3 Khoa học, Địa lý khối 4, 5 Cũng có thể là hình thức ngoại khóa như: vẽ tranh, trồng cây vườn trường, xây dựng các câu lạc bộ, thực hiện các hoạt động trải nghiệm thực tế…
Tùy từng đối tượng HS, tùy lứa tuổi và chủ điểm đưa ra trong năm học
để có hình thức GDMT phù hợp
1.3.3 Quản lý việc tổ chức GDMT cho HS TH
Việc tổ chức bộ máy GDMT trong nhà trường là cần thiết, do HT các trường phân công và chịu trách nhiệm Công tác tổ chức được thực hiện một cách chặt chẽ từ trên xuống dưới, dựa vào hệ thống các văn bản chỉ đạo về GDMT ở cấp TH Một cán bộ quản lý thành công phụ thuộc vào việc sử dụng ý tưởng và tài năng của một tập thể do đó tổ chức phân công đúng người, đúng việc là yếu tố quan trọng Việc trao đổi thông tin QL GDMT bắt đầu từ BGH đến các tổ trưởng chuyên môn, TPT đội, xác định phân loại công việc, mục tiêu cần đạt, tạo cơ hội cho GV có năng lực, kiến thức về lĩnh vực này được tham gia, cống hiến
Trang 301.3.4 Quản lý việc chỉ đạo thực hiện GDMT cho HS TH
Năng lực QL là khả năng thực hiện những nhiệm vụ công việc và giải quyết các tình huống nảy sinh trong QL bảo đảm mục tiêu đề ra
QL GDMT cho HS TH ở các nhà trường hiệu trưởng là người hướng dẫn
GV và TPT Đội có trách nhiệm thực hiện kế hoạch và tổ chức hướng dẫn cho HS, kiểm tra hiệu quả của công tác GD đảm bảo các yêu cầu theo kế hoạch Chỉ đạo thực hiện GDMT theo hai hình thức: lồng ghép, tích hợp và hoạt động độc lập
Quản lý chỉ đạo thực hiện dạy lồng ghép, tích hợp dựa vào kế hoạch dạy học của GV trong các môn học: Khoa học, Tự nhiên xã hội, đạo đức, lao động kĩ thuật, Tiếng Việt
QL chỉ đạo thực hiện ở các hoạt động độc lập (ngoài giờ lên lớp) thông qua các kế hoạch ngoài giờ lên lớp của GV và TPT đội thể hiện ở các hình thức:
- Tham quan học tập: tổ chức thăm quan các nhà máy xử lý rác thải, nước thải, các xí nghiệp trên địa bàn
- Tuyên truyền: trên hệ thống phát thanh của nhà trường, pano, tranh cổ động, tài liệu…
- Ngoại khóa: Vẽ tranh, xây dựng các mô hình “Cổng trường đẹp”, chăm sóc các công trình măng non, đoạn đường em chăm…
xanh-sạch Các cuộc thi: vẽ tranh, tìm hiểu về MT biển đảo, tìm hiểu về luật BVMT…
- Các chiến dịch vệ sinh MT: thu gom rác thải trên bãi biển, ngày chủ nhật xanh…
Hay theo hình thức: các câu lạc bộ, BVMT…
HS TH ở những trường ven biển thì hình thức trải nghiệm thực tế như: thu gom, vớt rác trên biển, bãi biển, trồng cây là những hình thức thiết thực thu hút các em
1.3.5 Quản lý việc kiểm tra đánh giá hoạt động GD, BVMT
GDMT là những hoạt động không bắt buộc, thường là khuyến khích thực hiện GDMT cần có chương trình cụ thể, có nội dung thống nhất theo từng chủ
Trang 31điểm với những hình thức hoạt động đa dạng, phong phú với thời lượng linh hoạt Vì thế việc quản lý đánh giá GDMT của GV cần phải thực hiện Việc QL của HT tập trung chủ yếu vào các vấn đề sau:
- Theo dõi việc tổ chức thực hiện GDMT của TPT Đội hoặc GV thông qua kế hoạch, báo cáo theo các nội dung kế hoạch
- Xem giáo án thiết kế và duyệt các thiết kế đó trong tổ chức theo từng chủ điểm đã quy định
- Bồi dưỡng kỹ năng tổ chức GDMT cho GV, TPT
- Dự các buổi GDMT, qua đó đánh giá được tổ chức hoạt động của GV
- Tiến hành đánh giá kết quả GD và rèn luyện HS kỹ năng theo mục đích, yêu cầu và qua hoạt động giữ VSMT thực tế
- Tạo điều kiện về các phương tiện hoạt động và tổ chức tiến hành bồi dưỡng về những vấn đề mà GV còn hạn chế, còn lúng túng trong tổ chức hoạt động, nhất là hoạt động chung
Kiểm tra đánh giá là công tác không thể thiếu trong quá trình QLGD và quá trình GD Nếu coi kiểm tra là phương tiện thì đánh giá là kết quả và là nội dung của kiểm tra, hai hoạt động này luôn gắn kết chặt chẽ với nhau Dựa vào kết quả kiểm tra đánh giá mà người HT đánh giá được kết quả mục tiêu đề ra, đồng thời hoạch định được những kế hoạch khả thi hơn cho những hoạt động tiếp theo
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý GDMT cho HS TH
1.4.1 Đặc điểm tâm lí của HS tiểu học
HS tiểu học hầu hết là hiếu động, nghịch ngợm và rất hồn nhiên Ở mỗi
em đều tiềm tàng khả năng phát triển GDMT ở lứa tuổi TH sẽ để lại dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời sau này của các em Tuy nhiên ở lứa tuổi này nếu không được giáo dục sẽ dẫn các em tới những hành động lệch chuẩn làm tổn hại đến
MT một cách vô ý thức hoặc có ý thức
Trang 32Do đó việc chỉ đạo tổ chức GDMT cần dựa trên đặc điểm tâm lý này để
có thể đưa ra những hình thức phù hợp, HS dễ tiếp cận, GV dễ QL
1.4.2 Trình độ, năng lực của CBQL, GV
GDMT không phải là một môn học độc lập trong chương trình phổ thông hiện hành mà được tích hợp lồng ghép trong các môn học Kiến thức về môi trường rất phong phú, đa dạng đòi hỏi CBQL và GV phải tìm tòi, tự học, đọc nhiều trong khi quĩ thời gian dành cho việc này của mỗi CBQL và GV có hạn
do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan:
Thời gian dành cho việc soạn giảng, lên lớp, nhận xét học sinh theo thông tư 30, sinh hoạt chuyên môn… đã chiếm gần hết quĩ thời gian của GV, đối với CBQL thời gian còn ít hơn do đặc thù của công tác QL, thêm vào đó tài liệu về GDMT ở thư viện các nhà trường không nhiều, thiết bị nghe nhìn ở một
số trường còn thiếu thốn…
Sự hiểu biết và kiến thức hạn chế về lĩnh vực GDMT sẽ đưa đến xác định sai lệch mục tiêu, nếu năng lực QL hạn chế sẽ dẫn đến việc quản lý lỏng lẻo thiếu chính xác, kém hiệu quả trong công tác QL GDMT ở các nhà trường ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành ý thức, thái độ, hành vi của các em HS
1.4.3 Các yếu tố khác
Ngoài trình độ, năng lực nhà QL và đặc điểm tâm lý HS TH thì các yếu
tố như: kinh tế, văn hóa, xã hội địa phương cũng ảnh hưởng không nhỏ đến QL GDMT
Ở những vùng kinh tế phát triển nhận thức của người dân sẽ khá hơn công tác phối hợp QL GDMT giữa chính quyền, các ban ngành đoàn thể, các bậc phụ huynh và nhà trường sẽ được thực hiện tốt hơn, CSVC phục vụ cho QL GDMT cũng đầy đủ hơn Tuy nhiên sự phát triển kinh tế sẽ kéo theo văn hóa
xã hội phát triển làm cho công tác QL GDMT khó khăn hơn do nhận thức của người dân về GD, BVMT trong cộng đồng không đồng đều
Trang 33Tiểu kết chương 1
QL GDMT được phân tích từ lịch sử nghiên cứu dựa vào các khía cạnh
sư phạm, quản lý GD trong nhà trường mà chủ thể quản lý là Hiệu trưởng, các lực lượng trong và ngoài nhà trường cùng phối hợp
Cơ sở lý luận cho thấy QL GDMT gồm nhiều nội dung, từ việc lập kế hoạch, tổ chức bộ máy, chỉ đạo thực hiện đến việc kiểm tra đánh giá kết quả GDMT, do đó người cán bộ QL phải vận dụng những quan điểm của Đảng và nhà nước về GDMT: Chỉ thị, nghị quyết, văn bản của Bộ, của ngành GD liên qua để thực hiện nghiêm túc, đầy đủ vai trò trách nhiệm của mình thông qua thu hút, phân công, điều chỉnh, giám sát GDMT cho học sinh tiểu học ở các trường ven biển một cách có hệ thống để đạt hiệu quả Đồng thời huy động tối
đa các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) của mình trong QL GDMT
Trong công tác QLGD nói chung, QL GDMT cho học sinh tiểu học ở các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nói riêng là một việc làm quan trọng, góp phần đào tạo toàn diện thế hệ trẻ, đặc biệt là HS bậc TH -
ở độ tuổi đang phát triển và cơ sở ban đầu hình thành nhân cách là một trong những biện pháp có tính bền vững và hữu hiệu nhất trong các biện pháp thực hiện mục tiêu GDMT và phát triển bền vững đất nước
Phân tích các yếu tố của chủ thể quản lý đối với GDMT và các mối quan
hệ giữa đối tượng quản lý để tiến hành các hoạt động vì đây là định hướng lý luận cần thiết khi xác định các biện pháp QL GDMT theo định hướng GD toàn diện HS TH
Để QL GDMT cho HS TH ở các trường ven biển cần có những biện pháp cụ thể, đồng bộ hợp quy luật của chủ thể QL tác động lên đối tượng QL trong việc tổ chức thực hiện GDMT
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Ở CÁC TRƯỜNG VEN BIỂN THÀNH PHỐ HẠ LONG,
TỈNH QUẢNG NINH
2.1 Khái quát đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và Giáo dục - Đào tạo thành phố Hạ Long
2.1.1.Khái quát đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội
Thành phố Hạ Long được thành lập theo Nghị định số 102 NĐ-CP ngày 27/12/1993 của Chính phủ trên cơ sở thị xã Hòn Gai cũ, là thủ phủ của tỉnh Quảng Ninh
Thành phố Hạ Long nằm ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh có diện tích 22.250 ha, có 20 đơn vị hành chính với số dân là 215.795 (theo thống kê tháng
4 năm 2009), hình thành 5 vùng kinh tế, có quốc lộ 18A chạy qua tạo thành chiều dài của thành phố, có cảng biển với chiều dài bờ biển dài gần 50km, có Vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là di sản thế giới và năm 2011
đã được bầu chọn là kỳ quan thiên nhiên của thế giới mới
Hạ Long có nền văn hóa lâu đời, văn hóa Hạ Long đã được đánh dấu như một bước tiến của người Việt Các địa chỉ lịch sử, các sinh hoạt văn hoá và sinh cảnh, các đồi thông, các công viên và đặc biệt lễ hội Carnaval và ẩm thực Hạ Long là yếu tố đặc trưng của thành phố này
Hạ Long là vùng đất nhiều tiềm năng về du lịch, ngư nghiệp, có hệ sinh thái biển hết sức đa dạng, phong phú Là trung tâm văn hóa, chính trị và du lịch của tỉnh Quảng Ninh với vị trí thuận lợi hàng năm Hạ Long đón tới hơn 7 triệu lượt khách du lịch Do sự phát triển của các loại hình du lịch, dịch vụ, việc kinh doanh, dịch chuyển cơ cấu kinh tế đã và đang làm cho môi trường trong sạch dần đã bị phá vỡ, không còn như xưa nữa Rác thải ngày một nhiều hơn, chất thải từ hoạt động khai thác than hầm lò, từ các hoạt động tàu du lịch làm ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước Vịnh Hạ Long…
Trang 35Nguyên nhân chủ yếu:
Công tác GDMT của chính quyền các cấp, của các nhà trường còn yếu Nhận thức của người dân và hành động bảo vệ môi trường còn kém Cán bộ quản lý các nhà trường chưa tự nâng cao nhận thức trong việc quản lý GDMT trong nhà trường
Các cấp, các cơ quan đơn vị đến người dân chưa nhận thức đúng, đủ và chưa có hành động đúng, đủ, thiết thực vì môi trường
2.1.2 Khái quát về tình hình giáo dục của thành phố Hạ Long
Hệ thống giáo dục ở thành phố Hạ Long được phủ kín đáp ứng yêu cầu học tập của con em nhân dân trên địa bàn CSVC ở các trường trên địa bàn thành phố hầu hết khang trang với đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho nhu cầu dạy và học
Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý được đào tạo chính qui đạt chuẩn và trên chuẩn, được bổ sung thường xuyên và được bồi dưỡng nâng cao trình độ, một số trường CBQL đã có trình độ thạc sĩ CBQL có độ tuổi trên 50 nên ngại theo học các lớp bồi dưỡng đào tạo nâng cao trình độ, một số CBQL mới được
bổ nhiệm còn non yếu về nghiệp vụ QL Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong công tác đổi mới QL hiện nay ở một số trường trên địa bàn thành phố
Hạ Long
Các cơ quan và chính quyền thường xuyên quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đặc biệt là ý thức trách nhiệm của nhân dân đã có nhiều tiến bộ
Mạng lưới trường lớp ở thành phố Hạ Long
(Theo báo cáo tổng kết năm học 2014- 2015 số 405/PGD & ĐT ngày 10/6/2015)
Tổng số đội ngũ GV toàn ngành: 2332 cán bộ giáo viên (trong đó: Biên chế: 1800, hợp đồng: 532) Tiểu học: 931 người, biên chế: 778, hợp đồng: 153; Phòng giáo dục: 23, biên chế: 22, hợp đồng: 01
Trang 36Đội ngũ cán bộ giáo viên và cán bộ quản lý đảm bảo về số lượng, tương đối ổn định về cơ cấu, có trình độ đào tạo đạt chuẩn, có chuyên môn, nghiệp vụ
và tâm huyết với nghề Công tác bồi dưỡng giáo viên, công tác đào tạo nghiệp
vụ, nâng cao trình độ hàng năm được chú trọng Phối hợp các cơ sở có chức năng đào tạo, mở các lớp bồi dưỡng cán bộ nguồn, cán bộ quản lý, các lớp chính trị …
Về phát triển mạng lưới trường lớp và qui mô học sinh:
Tổng số có: 68 trường
- Tiểu học: 17 trường công lập
- TH & THCS: 04 trường công lập, 02 trường ngoài công lập
* Số học sinh huy động vào các cấp, bậc học: 33.743 học sinh
- Tiểu học: 21.192 học sinh
Chất lượng giáo dục các bậc học của Hạ Long luôn dẫn đầu trong số 14 huyện thị của tỉnh Quảng Ninh, số lượng học sinh giỏi các cấp luôn ở mức cao 100% các trường thực hiện đúng chương trình theo qui định của Bộ Giáo dục
và đào tạo Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và quản lý
Định hướng phát triển:
Phát triển Giáo dục đào tạo của thành phố trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho phát triển thành phố và của Tỉnh Tập trung phát triển sự nghiệp Giáo dục đào tạo, nhanh chóng xã hội hóa, chuẩn hóa các trường học và đội ngũ giáo viên Nâng cao chất lượng dạy và học, khuyến khích tạo điều kiện để tổ chức và mở rộng mạng lưới trường lớp theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Tăng cường quản lý nhà nước về Giáo dục đào tạo, huy động mọi nguồn lực xã hội chăm lo CSVC, thiết bị dạy học cho các cơ sở giáo dục
2.2 Thực trạng QL GDMT ở các trường ven biển thành phố Hạ Long
Những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục thành phố Hạ Long đã tách các trường TH và THCS thành các trường theo từng cấp học riêng, tuy vậy vẫn còn 4 trường ven biển vẫn đồng thời tồn tại 2 cấp học trong
Trang 37một nhà trường Đó là các trường: TH & THCS Hùng Thắng, TH & THCS Tuần Châu, TH & THCS Bãi Cháy 2, TH & THCS Minh Khai Các trường này đều nằm ở các phường ven biển của thành phố Hạ Long Học sinh hầu hết là con em những người dân làm ngư nghiệp, một số ít là buôn bán nhỏ và dịch vụ,
du lịch Dân trí không đồng đều, mức sống của nhân dân ở các làng chài còn nghèo Vẫn còn phụ huynh chưa biết chữ, nhận thức còn hạn chế Sức học và
độ tuổi của học sinh không đồng đều, còn có học sinh học hoà nhập
Giáo viên ở các trường đều được đào tạo chuẩn chính qui Đại học và cao đẳng, đội ngũ trẻ nhiệt tình tâm huyết với nghề Chính quyền địa phương và các cấp, các ngành luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục Các nhà trường đều quan tâm đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên, xây dựng CSVC, nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học, đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, chỉ đạo phối hợp tổ chức các phong trào thi đua, các cuộc vận động từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh Từ năm học 2013-2014 Bộ giáo dục đã triển khai việc đánh giá học sinh tiểu học theo thông tư 32 sau đó là thông tư 30 được thực hiện từ 15 tháng
10 năm 2014 nhằm tiến tới đổi mới căn bản toàn diện giáo dục trong những năm tiếp theo và giảm bớt áp lực cho phụ huynh, học sinh và giáo viên trong các nhà trường
Tuy nhiên các trường này đều xa trung tâm thành phố nên trước đây GV chưa yên tâm công tác, nhiều đồng chí chỉ công tác một vài năm rồi lại chuyển
về các trường trung tâm gây khó khăn cho công tác QL, rèn giũa đội ngũ
Đội ngũ HT, phó hiệu trưởng các trường ven biển ở thành phố Hạ Long:
Trình độ nghiệp vụ
Trình độ cao cấp LLCT
Từ 35-50 Trên
50
Đã học nghiệp vụ
QL
Chưa học nghiệp vụ
QL
Trang 38Nhìn chung đội ngũ HT, phó hiệu trưởng đều đạt chuẩn và trên chuẩn
Số HT được bồi dưỡng nghiệp vụ QL là 100% Đa số các HT đều có kinh nghiệm QL và tâm huyết với nghề, say mê công việc Trong số các CBQL được đào tạo thạc sỹ (có 40% số HT, phó hiệu trưởng đã học và một số đang theo học cao học QLGD) Điều này chứng tỏ công tác bồi dưỡng CBQL rất được quan tâm, chắc chắn đây là một trong những nhân tố góp phần thú đẩy sự phát triển của bậc học
Đội ngũ CBQL vẫn bộc lộ một số điểm yếu, nhất là về mặt nghiệp vụ quản lý ở một số phó HT mới được bổ nhiệm chưa qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD, một số HT tuổi trên 50 ngại theo học các lớp đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ Do vậy thiếu cơ sở lý luận nên thường bị động, hiệu quả công tác không cao, mất nhiều thời gian để hoàn thành công việc
Trong công tác QL đặc biệt là QL GDMT còn gặp nhiều khó khăn
Những năm gần đây cùng với sự phát triển của địa phương, sự quan tâm của các cấp, các ngành đặc biệt từ khi Ban chấp hành trung ương khóa 11 đã ban hành nghị quyết số 29- NQ/TW tại hội nghị lần thứ 8 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đội ngũ CBQL ở các trường nói chung, các trường ven biển
Hạ Long nói riêng đã được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, tuy ở các mức độ khác nhau, nhưng cơ bản đã trang bị những cơ sở lý luận cần thiết cho HT QL tốt hơn các công tác trong nhà trường
Thực tế nhiều năm qua thành tích ở bậc học TH vẫn ổn định và phát triển Tuy nhiên so với yêu cầu còn bộc lộ nhiều hạn chế: các môn học còn mang tính hàn lâm, QL còn nặng về hoạt động dạy và học chưa chú trọng đến các kỹ năng của HS, thiếu nhạy bén với các vấn đề thực tế mới nảy sinh thể hiện rõ nét nhất là quản lý GDMT Từ ngày 28 tháng 8 năm 2014 Bộ giáo dục ban hành thông tư 30/2014 và ngày 15 tháng 10 năm 2014 thực thi qui định về đánh giá HS TH Thông tư này góp phần khuyến khích tinh thần học tập và giảm áp lực cho các em HS ở tất cả các bộ môn
Trang 39Giáo dục BVMT không chỉ là trách nhiệm của riêng các nhà trường mà của toàn xã hội Ý thức, hành vi, trách nhiệm BVMT cần được giáo dục từ khi các em mới cắp sách đến trường Quản lý GDMT là một phần công tác QL của người HT, góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện trong nhà trường, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi và biến động của xã hội
Thực trạng QL GDMT của đề tài này tập trung chủ yếu nghiên cứu những vấn đề sau:
ở các trường ven biển thành phố Hạ Long
- Nhận thức về vai trò của GDMT cho HS TH ở các trường ven biển Qua khảo sát 13 đồng chí cán bộ quản lý về tầm quan trọng của GDMT cho HS TH ở các trường ven biển, 100% CBQL cho rằng GDMT có tầm quan trọng nhất định trong nhà trường Khi CSVC ngày càng đầy đủ, trường lớp ngày càng khang trang thì các phong trào vệ sinh trường lớp càng được phát triển mạnh, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của HS
Sự tác động của các yếu tố trong đời sống xã hội: dịch vụ, du lịch và thay đổi cơ cấu kinh tế cũng đòi hỏi sự cải thiện môi trường trên phạm vi
Trang 40toàn thành phố đã tác động đến từng người dân và đội ngũ nhà giáo đặc biệt
1 Hình thành ý thức, thái độ
thân thiện với môi trường 13 100
2 Hình thành kỹ năng, hành
vi bảo vệ môi trường 10 78 3 22
3 Nâng cao nhận thức bảo
Kết quả trên cũng đưa ra: trong quá trình triển khai công tác GDMT trong các nhà trường chịu sự tác động của nhiều yếu tố: kiến thức, năng lực
GV, các CBQL trong đó có cả các biện pháp quản lý của BGH