Tác động tích cực là mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản, phân bổ tốt hơn các nguồn lực quốc gia đến các ngành có lợi thế cạnh tranh cao nhất, tăng cường học hỏi công nghệ mới từ việc
Trang 1LUẬN VĂN:
Tác động của gia nhập tổ chức thương mại thế giới đến nền nông nghiệp Việt Nam
Trang 2Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một thực tế khách quan, một xu thế tất yếu cuốn hút các quốc gia Việt Nam đã và đang triển khai nhiều hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế và đã thu được nhiều kết quả
Thực hiện chủ trương tích cực và chủ động hội nhâp kinh tế quốc tế, Việt nam coi việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một mục tiêu quan trọng Việc tham gia các hiệp định, các hiệp ước quốc tế về thương mại, về kinh tế trong WTO sẽ tạo nhiều
cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam phát triển Nhưng việc tham gia và theo đó là thực hiện các cam kết của WTO sẽ là một quá trình đầy gay go, thách thức trên tất cả những lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp với 67% lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Khoảng 1/4 tổng GDP và khoảng 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu là từ nông nghiệp, do đó ngành nông nghiệp là một ngành quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam Gia nhập WTO nền nông nghiệp Việt Nam có thể chịu sự tác động trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực Tác động tích cực là mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản, phân bổ tốt hơn các nguồn lực quốc gia đến các ngành có lợi thế cạnh tranh cao nhất, tăng cường học hỏi công nghệ mới từ việc trao đổi ngày càng gia tăng với phần còn lại của thế giới, tăng cường tính linh hoạt trong thương mại quốc tế để đối mặt với những cú sốc do thiên tai… Mặt khác, đặt ngành nông nghiệp trước khả năng biến động lớn do ảnh hưởng của thị trường thế giới bởi
xu hướng tự do hoá thương mại, đặt các doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh lớn, mặt hàng có sức cạnh tranh yếu thì nguy cơ phá sản là không thể tránh khỏi, điều đó dẫn đến nhiều nông dân bị mất việc làm, làm sâu sắc thêm những bất bình đẳng về thu nhập trong nông nghiệp, nông thôn và giữa thành thị với nông thôn
Xuất phát từ những vấn đề bức xúc nêu trên, nhất là khi Việt Nam đang đứng trước
ngưỡng cửa bước vào WTO, tôi chọn vấn đề: “Tác động của gia nhập tổ chức thương
mại thế giới đến nền nông nghiệp Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trang 3* Xoay quanh vấn đề Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả đề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau:
- Một số công trình nghiên cứu, bài viết trên các tạp chí đã tập trung phân tích diễn biến tình hình Việt Nam đàm phán gia nhập WTO và từ đó đưa ra các giải pháp đẩy nhanh việc gia nhập WTO; nghiên cứu nội dung của các hiệp định của WTO, từ đó chỉ ra các cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát triển, cũng như Việt Nam khi gia nhập WTO
- Một số công trình, bài báo cũng đã nghiên cứu và làm rõ sự cần thiết Việt Nam phải gia nhập WTO Những điểm nêu trên có thế tìm thấy trong các tác phẩm:
+Việt Nam gia nhập WTO: “Tác động tới nền kinh tế Đồng Nai và các giải pháp để thích ứng với quá trình hội nhập”, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà nôi 2005
+ “Tổ chức thương mại thế giới (WTO) với nền kinh tế toàn cầu”, của Nguyễn Văn Thanh, Tạp chí Cộng sản
+ “Việt Nam con đường tới WTO”, của Vũ Xuân Trường, Báo Hà Nội mới
+ “Nhiều lợi thế cũng như thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO”, Bích Hạnh- Báo Nhân dân ngày 19/2/2004
+ “Một bước chuẩn bị cho Việt Nam gia nhập WTO”, Thu Hà-Báo Nhân dân ngày 20/2/2004
+ “Trung Quốc gia nhập WTO thời cơ và thách thức”, Võ Đại Lược- Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà nội 2004
+ “Gia nhập WTO Việt Nam kiên định con đường đã chọn”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia- 2004
* Liên quan đến hội nhập WTO và tác động của nó đến nông nghiệp Việt Nam Đã
có một số công trình khoa học, bài báo đề cập đến các vấn đề nông nghiệp Việt Nam trong kinh tế toàn cầu và mối quan hệ giữa bảo hộ và tự do hoá thương mại nông sản, kinh nghiệm bảo hộ nông nghiệp trên thế giới, cái được và cái mất và tác động đối với nông nghiệp Việt Nam khi gia nhập WTO Các công trình liên quan đến vấn đề này:
- “Làm gì cho nông thôn Việt Nam”, Phạm Đỗ Chí- Đặng Kim Sơn-Nguyễn Tiến
Triển, Đồng chủ biên 2003
- “Bảo hộ hợp lý nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ”
Bùi Xuân Lưu, Nhà xuất bản Thống kê- Hà nội 2004
Trang 4- “WTO và ngành nông nghiệp Việt Nam”, kết quả nghiên cứu của Bộ nông nghiệp
và phát triển nông thôn do Australia tài trợ
- “Tăng cường năng lực hội nhập quốc tế cho ngành nông nghiệp và phát triển
nông thôn”, kết quả nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn do AU said
- “Chính sách thương mại nông nghiệp trong quá trình Việt Nam gia nhập WTO”
của Ths Chu Ngọc Sơn
- “Tác động của tiến trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đối với nền
kinh tế Việt Nam” của PGS.TS Tô Huy Rứa
Những công trình nghiên cứu, đề tài trên đã đề cập dưới các góc độ khác nhau về thời cơ, thách thức và tác động của gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam, trong đó
có nền nông nghiệp Việt Nam song còn ít đề tài đi sâu phân tích, đánh giá toàn diện, cụ thể tác động của gia nhập WTO đối với nền nông nghiệp Việt Nam dưới góc độ khoa học kinh
tế chính trị Vì thế đề tài “Tác động của gia nhập WTO đến nền nông nghiệp Việt Nam” vẫn cần được nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn góp phần dự báo những tác động chủ yếu đến nền nông nghiệp Việt Nam khi gia nhập WTO Từ đó nêu ra phương hướng và giải pháp thích ứng của nền nông nghiệp Việt Nam nhằm phát huy những tác động tích cực và khắc phục hạn chế của hội nhập WTO đối với nền nông nghiệp Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ của luận văn:
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Phân tích khái quát về WTO Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc giải quyết vấn đề nông nghiệp khi gia nhập WTO
Trang 5+ Phân tích những tác động chủ yếu của việc gia nhập WTO đến nền nông nghiệp Việt Nam
+ Nêu ra một số giải pháp thích ứng của nền nông nghiệp Việt Nam khi gia nhập WTO
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những tác động của việc gia nhập WTO đối với nền nông nghiệp Việt Nam trên góc độ những ảnh hưởng của điều chỉnh chính sách và hàng nông sản xuất khẩu Nghiên cứu đối tượng này dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị, nên luận văn chú trọng đến các vấn đề: xu hướng, các phương hướng và giải pháp thích hợp để phát triển nông nghiệp Việt Nam khi hội nhập vào WTO
Thời gian: từ năm 2000 đến nay (từ phiên họp thứ tư-của giai đoạn 3: Minh bạch hoá chính sách thương mại trong các cuộc đàm phán đa phương)
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: phân tích và tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia
6 ý nghĩa của luận văn
Luận văn hy vọng làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về những tác động chủ yếu đối với nền nông nghiệp Việt Nam khi gia nhập WTO và đề xuất một số giải pháp thích ứng để phát triển nền nông nghiệp Việt Nam khi gia nhập WTO
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề kinh tế phù hợp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 2 chương, 6 tiết
Trang 6Chương 1
Tổ chức thương mại thế giới và kinh nghiệm của các nước trong việc giải quyết vấn đề nông nghiệp khi gia nhập WTO
1.1 Khái quát về tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Từ tháng 6-1994, Việt Nam được công nhận là quan sát viên của GATT-tiền thân của WTO Ngày 1-1-1995, Việt Nam nộp đơn gia nhập WTO Từ đó đến nay, Việt Nam
đã và đang tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết để gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Đến cuối tháng 5-2006 Việt Nam đã tiến hành 12 phiên đàm phán đa phương
và kết thúc đàm phán song phương với cả 28 quốc gia và vùng lãnh thổ yêu cầu đàm phán, vào ngày 31-5-2006 với đối tác cuối cùng là Mỹ Như vậy, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa gia nhập WTO
Mỗi tổ chức quốc tế đều có mục tiêu, nguyên tắc và nội dung hoạt động của mình Một nước muốn trở thành thành viên của tổ chức đó phải cam kết tuân thủ các quy định của tổ chức và chứng tỏ khả năng của mình trong việc hoàn thành nghĩa vụ của thành viên trong tổ chức, cũng như hưởng các lợi ích do việc tham gia tổ chức mang lại Vì thế, trong chương 1 này, cần thiết phải tìm hiểu sơ bộ về tổ chức thương mại thế giới (WTO), các hiệp định chính trong WTO, nhất là các hiệp định của WTO liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nhằm tạo cơ sở cho việc phân tích những tác động có thể của việc gia nhập WTO đến nền nông nghiệp Việt Nam ở chương 2
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của tổ chức tiền thân của nó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về thuế quan Tuy nhiên từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ vòng đàm phán Urugoay (1986-1994) do thương mại quốc tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các Hiệp định thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các vấn đề hàng rào phi quan thuế, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại, về thương mại nông sản, hàng dệt may (dỡ bỏ năm 2005) và cơ chế giải quyết tranh chấp
Trang 7Với diện điều tiết của thương mại đa biên được mở rộng nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) với tư cách là một sự thỏa thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tùy ý tỏ ra không thích hợp Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrkesh (Ma-rốc), kết thúc vòng đàm phán Urugoay, các thành viên GATT đã cùng nhau ký Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp của GATT Theo đó WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên hiệp quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995 Cho đến nay tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã có 148 thành viên và tính đến tháng 12/2004 với khoảng 97% thương mại toàn thế giới
* Mục tiêu của WTO:
Với tư cách là tổ chức thương mại toàn cầu, WTO có những mục tiêu cơ bản như sau:
- Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ, nâng cao việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trên thế giới phục vụ cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường, thông qua việc tạo ra một tập hợp các quy tắc và nguyên tắc cho thương mại quốc tế, bảo đảm một môi trường minh bạch, dễ dự báo trong thương mại quốc tế WTO vẫn đảm đương trách nhiệm của GATT về thúc đẩy đàm phán đa phương nhằm tự do hoá thương mại, đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của các quốc gia thành viên
- Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của các Công ước quốc tế: bảo đảm cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém phát triển nhất được thụ hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh
tế của các nước này và khuyến khích các nước ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới
- Nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng
* Chức năng chính:
WTO thực hiện các chức năng cơ bản sau:
Trang 8- Thống nhất việc quản lý thực hiện các Hiệp định và thỏa thuận thương mại đa phương và nhiều bên; giám sát tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên thực hiện nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ
- Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO
- Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các biện pháp thương mại đa phương và nhiều bên
- Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định của WTO, Hiệp định thành lập WTO đã quy định một cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại áp dụng chung đối với tất cả các thành viên
- Thực hiện hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới trong việc hoạch định những chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu
Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng Thương mại - nhóm họp ít nhất hai năm một lần Giữa hai nhiệm kỳ Hội nghị, Đại hội đồng (Bao gồm Đại diện
có thẩm quyền của tất cả các thành viên) có chức năng thường trực và báo cáo lên Hội nghị Bộ trưởng, đồng thời Đại hội đồng đóng vai trò là một cơ quan giải quyết tranh chấp
và cơ quan rà soát chính sách của WTO Dưới Đại hội đồng là Hội đồng thương mại về hàng hoá, Hội đồng thương mại về dịch vụ và Hội đồng về các khía cạnh liên quan đến thương mại về quyền sở hữu trí tuệ Các Hội đồng trên chịu trách nhiệm điều hành việc thực thi Hiệp định WTO về từng lĩnh vực thương mại tương ứng Tham gia các Hội đồng
là đại diện của các thành viên
Phần lớn các quyết định của WTO đều được thông qua trên cơ sở đồng thuận Trong một số trường hợp nhất định, khi không đạt được sự đồng thuận, các thành viên có thể tiến hành bỏ phiếu
WTO chứa đựng một hệ thống các quy định vô cùng phức tạp và cụ thể cho các lĩnh vực như thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, tất cả những quy định đó đều dựa trên 5 nguyên tắc cơ bản [1, tr.225]
Trang 9- Nguyên tắc thương mại không có sự phân biệt đối xử: Nguyên tắc này yêu cầu các
nước thành viên phải dành cho nhau Đãi ngộ Tối huệ quốc (MNF) (tức là không phân biệt đối xử giữa hàng hoá và dịch vụ của các nước thành viên khác nhau) và Đãi ngộ Quốc gia (NT) (yêu cầu mỗi nước thành viên không được phân biệt đối xử giữa hàng hoá và dịch vụ trong nước và nhập khẩu)
- Nguyên tắc thương mại phải ngày càng được tự do hơn thông qua đàm phán: Các
hàng rào cản trở thương mại dần dần được loại bỏ, cho phép các nhà sản xuất hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hoặc chuyển đổi cơ cấu Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thỏa thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương
- Nguyên tắc dễ dự báo, dự đoán: Các nhà đầu tư cũng như Chính phủ nước ngoài
tin chắc rằng hàng rào thuế quan và phi thuế quan khác sẽ không bị thay đổi và tăng một cách tùy tiện Cam kết về thuế quan và các biện pháp khác bị ràng buộc về mặt pháp lý
- Nguyên tắc tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng: Hạn chế tác động
tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hay dành các đặc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định
- Nguyên tắc dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi: Các ưu đãi
này được thể hiện thông qua việc cho phép các thành viên đang phát triển có một số quyền
và không phải thực hiện một số nghĩa vụ hay có thời gian quá độ dài hơn để điều chỉnh chính sách cho phù hợp
1.2 Các hiệp định của WTO liên quan đến nông nghiệp
Các hiệp định của WTO điều chỉnh các lĩnh vực như thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ Chúng đề ra những nguyên tắc về tự do hoá và những ngoại
lệ được phép áp dụng; nêu lại cam kết của từng nước về giảm thuế quan và các rào cản thương mại khác, về mở cửa và duy trì mở cửa thị trường dịch vụ; quy định thủ tục giải quyết tranh chấp; quy định các nước đang phát triển phải được đối xử đặc biệt, buộc các chính phủ phải thông báo cho WTO biết những luật lệ hiện hành và các biện pháp được áp dụng trong nước song song với các báo cáo định kỳ của Ban thư ký về chính sách thương mại của các nước
Trang 10Các hiệp định này thường được gọi là các luật lệ thương mại của WTO và WTO thường được miêu tả như là một hệ thống hoạt động dựa trên các luật lệ Để điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế, WTO có 16 hiệp định chính như: Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT 1994); Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật trong thương mại (TBTs); Hiệp định về các Biện pháp vệ sinh kiểm dịch (SPS); Hiệp định về thủ tục cấp phép xuất nhập khẩu (ILP); Hiệp định về Quy tắc xuất xứ (ROO); Hiệp định về Kiểm tra trước khi giao hàng (PSI); Hiệp định Trị giá tính thuế hải quan (ACV); Hiệp định về các Biện pháp tự vệ (ASG); Hiệp định về Trợ cấp (SCM) và Phá giá (ADP), Hiệp định về Nông nghiệp (AOA); Hiệp định về Thương mại hàng dệt may và may mặc (ATC); Hiệp định về các Biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS); Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) và thoả thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU)… [1, tr 226]
Tất cả các thành viên WTO đều phải tham gia vào các hiệp định nói trên, quy định này gọi là sự chấp thuận cả gói Bên cạnh đó WTO vẫn duy trì 2 hiệp định nhiều bên, các thành viên WTO có thể tham gia hoặc không tham gia, đó là: Hiệp định về buôn bán máy bay dân dụng; Hiệp định về mua sắm của Chính phủ Còn 2 Hiệp định nhiều bên khác là Hiệp định quốc tế về các sản phẩm sữa; Hiệp định quốc tế về thịt bò thì cuối năm 1997, WTO đã chấm dứt và đưa những nội dung của chúng vào phạm vi điều chỉnh của các Hiệp định Nông nghiệp và Hiệp định về các Biện pháp vệ sinh kiểm dịch
Trong khuôn khổ của WTO có một số hiệp định cũng như quy định liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT
1947, GATT 1994), Hiệp định nông nghiệp (AoA), Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật (SPS), Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBTs), Hiệp định về thủ tục giấy phép xuất nhập khẩu (ILP), Hiệp định
về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)…
1.2.1 Hiệp định nông nghiệp (AOA)
Hình thành “một hệ thống thương mại nông nghiệp định hướng thị trường bình đẳng và công bằng” thông qua yêu cầu các quốc gia thực hiện các nguyên tắc mới giám sát:
- Việc sử dụng các đường biên để kiểm soát nhập khẩu
Trang 11- Sử dụng trợ cấp xuất khẩu
- Các trợ cấp khác Chính phủ cung cấp để hỗ trợ giá của sản phẩm nông nghiệp hay thu nhập của nhân dân
* Tiếp cận thị trường: Theo điều 4 của Hiệp định này các nước trước đây áp dụng
các biện pháp phi thuế quan (ví dụ như hạn chế định lượng, giấy phép không tự động và thuế biến đổi) đều bị yêu cầu bãi bỏ chúng, thay thế bằng thuế nhập khẩu bị ràng buộc ở mức bảo hộ tương đương hoặc thấp hơn Việc chuyển từ các biện pháp phi thuế sang thuế được gọi là “thuế hóa” Các quốc gia thành viên đồng ý cắt giảm thuế nhập khẩu theo tỷ lệ
cố định Các nước phát triển và chuyển đổi phải giảm thuế 36% theo bình quân trong thời hạn 6 năm từ 1995 đến 2000, ít nhất là 15% đối với mỗi dòng thuế Các nghĩa vụ tương tự đối với các nước đang phát triển là 24% trong vòng 10 năm từ 1995 đến 2004 và ít nhất 10% đối với mỗi sản phẩm
Tuy nhiên, các hàng rào phi thuế cũng không bị loại bỏ hoàn toàn Các thành viên được phép sử dụng một số hạn chế phi thuế như các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật để bảo vệ con người và động vật khỏi các rủi ro từ thực phẩm nảy sinh từ việc sử dụng các chất kích thích, các chất gây ô nhiễm, độc tố hay các sinh vật gây bệnh và
để bảo vệ động thực vật khỏi các sâu bệnh hay dịch bệnh có thể tác động đến sản xuất nông nghiệp
Ràng buộc mọi dòng thuế đối với nông sản cũng được tất cả các nước đồng ý (phát triển, đang phát triển, kém phát triển) để không tăng quá mức đã cam kết trong Biểu nhượng bộ của các nước Các nước đang phát triển và kém phát triển được linh hoạt hơn khi ràng buộc các mức thuế tại thuế trần có thể cao hơn so với mức thuế áp dụng thực tế
* Hỗ trợ trong nước:
Các cam kết cắt giảm mức hỗ trợ trong nước làm bóp méo thương mại được thể hiện ở mức Tổng các biện pháp hỗ trợ gộp hay “Các mức cam kết ràng buộc hàng năm và cuối cùng” Mức tổng các biện pháp hỗ trợ gộp (“Tổng AMS”) là tổng các hỗ trợ trong nước được cung cấp để hỗ trợ các nhà sản xuất nông nghiệp Mức này được tính toán là tổng hỗ trợ đối với các sản phẩm nông nghiệp, các biện pháp hỗ trợ không cụ thể và tất cả
“các biện pháp tương đương” (một cách tính đối với các hỗ trợ gộp đối với các sản phẩm trong trường hợp không thể tính được một cách chi tiết)
Trang 12Hiệp định nông nghiệp cũng đặt ra mức tối đa đối với Tổng AMS mà mỗi quốc gia thành viên tính toán và báo cáo theo một phom sẵn có trong bản ACC/4 và phải cam kết giảm từ mức Tổng đó
- Hộp xanh lá cây: Bao gồm các trợ cấp không hoặc rất ít bóp méo thương mại và
sản xuất nông sản và không có “tác động trợ giá đối với người sản xuất” và do đó được miễn trừ khỏi các cam kết cắt giảm Theo như điều 2 của Hiệp định nông nghiệp, các trợ cấp thuộc hộp xanh có thể cung cấp cho các nhà sản xuất dưới dạng như sau:
+ Chi tiêu của Chính phủ đối với nghiên cứu nông nghiệp, kiểm soát sâu bệnh, kiểm tra
và xếp loại các sản phẩm cụ thể, dịch vụ marketting và xúc tiến
+ Sự tham gia tài chính của Chính phủ đối với các chương trình bảo hiểm thu nhập
và mạng an sinh thu nhập
+ Thanh toán bù trừ thiên tai
+ Các trợ cấp điều chỉnh cơ cấu thông qua:
Các chương trình hồi hưu người sản xuất được thiết kế để hỗ trợ các cá nhân tham gia sản xuất nông nghiệp
Chương trình ngừng sử dụng các nguồn tài nguyên như đất và các tài nguyên khác bao gồm động vật, thôi không tham gia sản xuất nông nghiệp
Các trợ cấp đầu tư được thiết kế để hỗ trợ tái cơ cấu tài chính hay cơ cấu vật chất của các hoạt động của các nhà sản xuất
Các thanh toán trong các chương trình môi trường
Các thanh toán trong các chương trình hỗ trợ khu vực
Một số chương trình ở các nước đang phát triển cũng được miễn trừ khỏi các cam kết cắt giảm như hỗ trợ đầu tư, hỗ trợ đầu tư cho người nghèo và người có thu nhập thấp hay nông dân ở những vùng khó khăn, hỗ trợ nông dân chuyển đổi từ cây thuốc phiện sang các cây trồng khác
- Hộp xanh lơ: Bao gồm các thanh toán trực tiếp trong các chương trình giới
hạn sản xuất dựa trên diện tích hay năng suất cố định hay số đầu gia súc Hiệp định nông nghiệp cho phép các nước thành viên không phải tính đến các thanh toán thuộc các chương trình “giới hạn sản xuất” khi tính toán tổng mức AMS
Trang 13- Hộp hổ phách: Đây là dạng trợ cấp được coi là bóp méo thương mại, bao gồm các
trợ cấp trong nước mà các thành viên của WTO bị yêu cầu phải cắt giảm trong Hiệp định nông nghiệp trên cơ sở tính toán Tổng AMS Các trợ cấp thuộc hộp hổ phách có thể dưới nhiều dạng nhưng tất cả đều thuộc dạng cung cấp trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp theo quy định của Chính phủ (nó không nhất thiết là Chính phủ phải trực tiếp chi trả từ nguồn ngân sách của mình) Chúng có thể bao gồm các quy định nhằm giữ vững hay tăng giá đầu
ra hay giảm giá đầu vào đối với sản xuất hoặc cố định giá lưu kho hoặc phân phối sản phẩm Chúng có thể bao gồm bất kỳ một thanh toán trực tiếp đến các nông dân trên cơ sở các quyết định sản xuất của họ (các thanh toán có liên quan đến sản xuất)
Trên cơ sở tính toán tổng AMS của biện pháp trợ cấp thuộc Hộp hổ phách, các nước thành viên của WTO có các biện pháp trợ cấp nông nghiệp bóp méo thương mại có nghĩa vụ cắt giảm mức Tổng AMS Các nước phát triển có nghĩa vụ cắt giảm 20% của Tổng AMS được tính toán trong giai đoạn 6 năm kể từ năm 1995 và các nước đang phát triển phải cắt giảm 13,3% trong vòng 10 năm
Tuy nhiên, có bốn dạng ngoại lệ không phải tính đến khi tính toán Tổng mức AMS
Đó là các trợ cấp thuộc hộp “xanh lá cây” và “xanh lơ”, các mức trợ cấp đối với sản phẩm hay trợ cấp chung dưới mức tối thiểu và các ngoại lệ cụ thể đối với các nước đang phát triển
Mức tối thiểu: Đối với các nước đang phát triển, các chi trả trợ cấp bất kỳ dạng nào
chưa đến 5% của giá trị sản xuất nông nghiệp và 5% của giá trị sản xuất của một sản phẩm nông nghiệp cơ bản thì sẽ không phải đưa vào khi tính toán mức AMS Mức tối thiểu này đối với các nước đang phát triển là cao hơn 10%
Các nước đang phát triển cũng được cho phép, nhằm mục đích khuyến khích phát
triển nông nghiệp và nông thôn, không đưa vào khi tính mức AMS và do vậy không phải đưa vào cam kết cắt giảm những trợ cấp dưới đây:
+ Trợ cấp đầu tư chung trong nông nghiệp
+ Trợ cấp đầu vào nói chung đối với những người sản xuất thu nhập thấp hoặc ở những vùng khó khăn
+ Trợ cấp để khuyến khích chuyển đổi từ cây thuốc phiện sang cây trồng khác
Trang 14Trợ cấp xuất khẩu: Đây là dạng hỗ trợ được coi là các biện pháp bóp méo nhất đối
với thương mại của các Chính phủ Các trợ cấp này được sử dụng để hỗ trợ nông dân hay người sản xuất bán các sản phẩm của họ trên thị trường quốc tế Chúng bao gồm:
+ Các trợ cấp trực tiếp của Chính phủ liên quan đến hoạt động xuất khẩu
+ Việc bán hay thanh lý dự trữ nông sản phi thương mại của Chính phủ hoặc các cơ quan của Chính phủ với giá thấp hơn so với giá của sản phẩm cùng loại trên thị trường
+ Các khoản thanh toán xuất khẩu nông sản hoàn toàn do Chính phủ thực hiện, dù
có tính vào tài khoản công hay không, kể cả các thanh toán lấy từ khoản thu từ nông sản có liên quan hoặc từ nông sản mà từ đó sản phẩm xuất khẩu được làm ra
+ Trợ cấp nhằm giảm chi phí tiếp thị xuất khẩu nông sản (khác với trợ cấp thúc đẩy xuất khẩu và dịch vụ tư vấn có sẵn rộng rãi), kể cả chi phí vận chuyển, nâng phẩm cấp và các chi phí chế biến khác, chi phí vận tải quốc tế và cước phí
+ Phí vận tải nội địa và cước phí của các chuyến hàng xuất khẩu do Chính phủ cung cấp hoặc ủy quyền với điều kiện thuận lợi hơn so với các chuyến hàng nội địa
+ Trợ cấp cho nông sản với điều kiện tham gia vào sản phẩm xuất khẩu
Tuy nhiên các nước đang phát triển không bị yêu cầu thực hiện các cam kết cắt giảm đối với các loại trợ cấp xuất khẩu như trợ cấp nhằm làm giảm chi phí tiếp thị, chi phí vận chuyển, chi phí chế biến, phí vận tải và cước phí với điều kiện các loại trợ cấp đó không được áp dụng với cách có thể lẩn tránh thực hiện cam kết cắt giảm
Theo Hiệp định nông nghiệp, các thành viên của WTO không được phép áp dụng các biện pháp trợ cấp xuất khẩu mới đối với nông sản và phải cam kết cắt giảm giá trị cũng như số lượng trợ cấp xuất khẩu hiện hành Các nước phát triển phải cắt giảm 36% về giá trị và 21% về số lượng trong thời hạn 6 năm kể từ năm 1995 Đối với các nước đang phát triển thì nghĩa vụ này là 24% về giá trị và 14% về số lượng trong thời hạn 10 năm [6; tr 27]
1.2.2 Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBTs)
Hiệp định này đặt ra một số quy định và điều lệ liên quan đến các biện pháp phi thuế có ảnh hưởng đến thương mại, bao gồm thương mại nông nghiệp
Hiệp định này nhằm đảm bảo rằng các cuộc đàm phán kỹ thuật và các tiêu chuẩn cũng như việc kiểm tra và thủ tục cấp phép không tạo ra các cản trở không cần thiết đến
Trang 15thương mại Tuy nhiên, Hiệp định thừa nhận rằng các nước có quyền bảo hộ ở những mức
độ mà họ thấy phù hợp Hiệp định này do đó khuyến khích các nước sử dụng những tiêu chuẩn quốc tế nếu phù hợp nhưng không yêu cầu các nước này phải thay đổi mức độ bảo
hộ do kết quả của tiêu chuẩn hóa
Hiệp định cũng bao gồm các tiêu chuẩn được áp dụng trong các phương pháp chế biến và sản xuất liên quan đến đặc tính của bản thân sản phẩm Hiệp định đưa ra những nghĩa vụ liên quan đến các thủ tục đánh giá sự phù hợp và các điều khoản thông báo áp dụng cả đối với các chính quyền địa phương cũng như cơ quan phi Chính phủ
Một chuẩn thực hiện tốt cho việc chuẩn bị, thông qua và áp dụng các tiêu chuẩn của các cơ quan tiêu chuẩn cũng có thể được chấp nhận bởi các đơn vị tư nhân cũng như trong khu vực công ích, cũng được bao gồm trong phần phụ lục của Hiệp định này
Nhìn chung, Hiệp định TBTs yêu cầu các quốc gia phải đảm bảo rằng các yêu cầu
kỹ thuật của họ đối với hàng hoá phải đảm bảo một số điều kiện cơ bản như: không phân biệt đối xử, đối xử quốc gia đối với hàng nhập khẩu, không hạn chế thương mại nhiều hơn mức cần thiết và dựa trên cơ sở khoa học thích hợp Hiệp định này cũng yêu cầu các cơ quan tiêu chuẩn quốc gia phải tuân thủ một số điều lệ và quy định như: i) sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế làm cơ sở cho các tiêu chuẩn quốc gia; ii) đảm bảo các tiêu chuẩn quốc gia phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế
Hiệp định về các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật (SPS) áp dụng đối với tất cả các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật mà chúng trực tiếp hay gián tiếp có thể ảnh hưởng đến thương mại quốc tế
Hiệp định SPS yêu cầu các quốc gia thành viên:
- Cơ sở các biện pháp SPS của mình dựa vào các tiêu chuẩn, hướng dẫn hay khuyến nghị quốc tế được xây dựng bởi các tổ chức của thế giới (ví dụ như ủy ban An toàn thực phẩm, Cơ quan dịch tễ quốc tế IOE, các cơ quan hoạt động trong khuôn khổ của Công ước Bảo vệ thực vật quốc tế IPPC, hay một tổ chức quốc tế nào được chỉ định bởi ủy ban WTO
về SPS)
- Tham gia đầy đủ vào các hoạt động để thúc đẩy quá trình hài hòa hóa các biện pháp SPS trên cơ sở quốc tế
Trang 16- Tạo cơ hội cho các nước quan tâm được đóng góp ý kiến khi xây dựng các tiêu chuẩn
- Chấp nhận các biện pháp SPS của nước xuất khẩu là tương đương nếu chúng cũng đạt được mức độ bảo vệ SPS tương tự và tham gia vào các hiệp định trên cơ sở thừa nhận song phương về tính tương đương của các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật cụ thể
Hiệp định SPS cũng yêu cầu các quốc gia “phải đảm bảo rằng các biện pháp của họ thích ứng với các đặc trưng kểm dịch động thực vật của khu vực xuất xứ của sản phẩm và nơi sản phẩm sẽ được chuyển đến” và không áp dụng chúng để tạo ra các đối xử tùy tiện hay không công bằng giữa các quốc gia và vùng có cùng điều kiện hay để tạo ra hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế
Hiệp định SPS cũng cho phép các quốc gia được quyền áp dụng các biện pháp SPS đối với mức độ bảo hộ cao hơn nếu có sự biện hộ khoa học hay quốc gia đó dựa trên cơ sở đánh giá nguy cơ quyết định rằng mức độ bảo hộ kiểm dịch động thực vật cao hơn là cần thiết
1.2.3 Hiệp định về thủ tục cấp phép xuất nhập khẩu(ILP)
Hiệp định yêu cầu các thủ tục cấp phép nhập khẩu không được sử dụng theo cách
phân biệt đối xử hay tạo ra các phiền toái
Cấp phép nhập khẩu được định nghĩa là các thủ tục hành chính được sử dụng trong hoạt động của hệ thống cấp phép nhập khẩu yêu cầu nộp đơn hay các tài liệu khác đến một
cơ quan hành chính như là một điều kiện tiên quyết cho nhập khẩu trước khi vào địa phận hải quan của nước thành viên nhập khẩu Các điều lệ của thủ tục cấp phép nhập khẩu phải trung lập khi áp dụng và phải được quản lý một cách công bằng và bình đẳng Các điều lệ cũng như tất cả các thông tin liên quan đến các thủ tục về việc nộp đơn, kể cả tư cách của thể nhân, công ty hay cơ quan thực hiện việc nộp đơn, đơn vị hành chính nhận đơn và danh sách các sản phẩm chịu yêu cầu cấp phép đều phải được công bố
Hệ thống cấp phép có thể tự động, trong hệ thống tự động các cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp phép tự động (trong khoảng thời gian tối đa 10 ngày làm việc kể từ khi nhận đơn xin) mà không sử dụng bất kỳ một quyền tuỳ ý nào Các hệ thống cấp phép không tự động quản lý thông qua hạn chế hạn ngạch và các biện pháp khác, các cơ quan sẽ sử dụng
Trang 17quyền chủ ý của họ khi cấp giấy phép (trong vòng tối đa 30 ngày kể từ ngày kể từ khi nhận đơn xin) Tuy nhiên, các cơ quan cấp giấy phép quốc gia phải tuân thủ theo các quy định với mục đích cơ bản là bảo vệ quyền lợi của nhà nhập khẩu và các nhà cung cấp nước ngoài Trên nguyên tắc những thủ tục cấp phép:
- Không được gây phiền toái hơn mức cần thiết để điều hành hệ thống
- Minh bạch và dự đoán được
- Không có những chậm trễ không cần thiết và các hành động tuỳ ý chủ quan
1.2.4 Hiệp định về các khía cạnh thương mại của Quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)
Hiệp định này yêu cầu các tiêu chuẩn tối thiểu để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng như thủ tục và các phương tiện cưỡng chế thi hành
Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ tập trung vào những điểm sau:
- Nguyên tắc cơ bản và các nghĩa vụ chung: Các quốc gia nước ngoài phải được đối
xử không kém thuận lợi hơn bởi một quốc gia so với quyền sở hữu trí tuệ trong quốc gia
đó và các quốc gia phải đối xử MNF đối với tất cả các nước trên cơ sở không phân biệt đối
xử
- Tiêu chuẩn tối thiểu của bảo hộ bao gồm những đối tượng, các quyền, các ngoại lệ được chấp thuận và thời gian bảo hộ tối thiểu (bằng sáng chế, bản quyền, nhãn mác, thiết
kế công nghiệp…)
- Các hành động phi cạnh tranh khi cấp phép giao kèo
- Các thủ tục và biện pháp phòng chống trong nước để buộc tuân thủ các quyền sở hữu trí tuệ
- Các bố trí quá độ cho việc thực hiện các điều lệ trong phạm vi quốc gia
Đối với phát triển nông nghiệp, nhất là nông sản hàng hoá, yếu tố sáng chế, nhãn mác và điểm xuất xứ ngày càng trở nên quan trọng và trở thành những vấn đề nóng bỏng trong các tranh chấp quốc tế gần đây Có hai dạng quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến nông nghiệp bao gồm: chỉ dẫn địa lý và quyền tác giả giống Chỉ dẫn địa lý là xác định xuất xứ của sản phẩm mà nó ám chỉ chất lượng hay các đặc trưng khác liên quan đến khu vực đó
Trang 18Trong khi quyến tác giả là kiên quan đến việc tạo ra các giống mới, ổn định, đặc biệt, đồng nhất, đây là những quyền có thể được bảo hộ trong Công ước Bảo hộ giống thực vật mới
1.2.5 Những điểm mới trong vòng đàm phán Đô-ha về nông nghiệp
Trong khuôn khổ của WTO, hiệp định được đưa ra tại vòng đàm phán Urugoay đã tạo ra một khuôn khổ đầu tiên cho các quy tắc đa phương về trợ cấp nông nghiệp và chính sách thương mại nông sản Tuy nhiên vòng này chỉ thúc đẩy được tự do hoá thương mại nông sản ở mức độ rất khiêm tốn Sự phát triển của thương mại thế giới đòi hỏi phải thay thế quy chế thương mại cũ bằng một quy chế mới thích hợp và có hiệu quả hơn Các cuộc đàm phán nông nghiệp đã bắt đầu từ năm 2000, nhưng hầu như không có tiến bộ gì cho đến khi những cuộc đàm phán toàn diện hơn được bắt đầu tại Vòng Đô-ha Tại vòng Đô-
ha, diễn ra cuộc cải cách ở cả ba trụ cột, bao gồm hỗ trợ trong nước, tiếp cận thị trường, và trợ cấp xuất khẩu [6; tr 51-54]
cơ sở nhằm đảm bảo các kết quả đạt được sẽ gắn kết chặt chẽ với mục tiêu dài hạn Bất kỳ
sự giải thích nào cũng như việc phát triển các luật lệ và điều kiện để giám sát những hỗ trợ bóp méo thương mại sẽ phải tính đến yếu tố này
Các đối xử đặc biệt và khác biệt sẽ là một phần thống nhất của hỗ trợ trong nước Phương thức được phát triển sẽ bao gồm các giai đoạn thực hiện dài hơn cũng như các hệ
số cắt giảm thấp hơn đối với tất cả các dạng hỗ trợ trong nước mang tính bóp méo thương mại
Cắt giảm chung: một công thức theo tầng- Mức cơ sở chung của mọi hỗ trợ trong nước mang tính bóp méo thương mại được xác định bằng mức ràng buộc Tổng AMS cuối cùng cộng với mức tối thiểu cho phép và mức sẽ chi trả được đồng ý cho hộp xanh lơ sẽ bị
Trang 19cắt giảm theo một công thức theo tầng Theo công thức này, các thành viên có mức hỗ trong nước mang tính bóp méo thương mại cao hơn sẽ phải thực hiện mức cắt giảm tổng lớn hơn nhằm đạt được kết quả mang tính hài hoà Ngay tại lần cắt giảm đầu tiên, trong năm đầu tiên và trong toàn bộ giai đoạn thực hiện, tổng của tất cả các hỗ trợ bóp méo thương mại sẽ không được vượt quá 80% của mức ràng buộc Tổng AMS cuối cùng cộng với mức tối thiểu cho phép cộng với Hộp xanh lơ ở mức 5% của tổng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân của nước thành viên trong giai đoạn cơ sở
Mức ràng buộc tổng AMS cuối cùng sẽ bị giảm đáng kể thông qua phương pháp tiếp cận tầng Các thành viên có mức tổng AMS cao hơn sẽ phải giảm nhiều hơn Để ngăn ngừa việc lẩn tránh mục tiêu của thoả thuận này thông qua việc chuyển hỗ trợ không thay đổi giữa các loại hỗ trợ khác nhau, các AMS được tính toán cho các sản phẩm cụ thể sẽ bị giới hạn ở mức bình quân tương ứng của chúng theo một phương pháp được thoả thuận sau này
Giảm mức tối thiểu sẽ được đàm phán có tính đến nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt Các nước đang phát triển áp dụng hầu hết các chương trình thuộc mức tối thiểu
để hỗ trợ cho nông dân nghèo về tài nguyên và chỉ đủ sống sẽ được miễn không phải giảm
- Hộp xanh lơ:
Các tiêu chuẩn phân loại sẽ được xác định nhằm đảm bảo rằng các thanh toán thuộc hộp xanh lơ là ít bóp méo thương mại hơn so với các biện pháp AMS Hơn nữa, các hỗ trợ thuộc Hộp xanh lơ cũng sẽ không vượt quá mức của tổng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân của nước thành viên trong giai đoạn lịch sử (cơ sở) Giai đoạn cơ sở sẽ được thiết lập trong quá trình đàm phán, giới hạn trần này sẽ áp dụng đối với bất kỳ người sử dụng Hộp xanh lơ thực tế hay tiềm năng từ thời điểm ban đầu của giai đoạn thực hiện
- Hộp xanh:
Các tiêu chuẩn của Hộp xanh sẽ được rà soát lại và làm rõ ràng với mong muốn đảm bảo các biện pháp thuộc Hộp xanh sẽ không có, hoặc có tác động bóp méo thương mại hay tác động tới sản xuất Quá trình rà soát và làm rõ ràng này cần phải đảm bảo rằng những khái niệm cơ bản, nguyên tắc và tính hiệu quả của Hộp xanh vẫn được giữ nguyên
và có tính đến các quan tâm phi thương mại
Trang 20- Cạnh tranh xuất khẩu:
Tuyên bố Hội nghị Bộ trưởng Đô-ha kêu gọi “giảm và tiến tới bỏ hoàn toàn các dạng trợ cấp xuất khẩu” Theo đó các dạng trợ cấp sau đây sẽ bị loại bỏ: trợ cấp xuất khẩu như đã liệt kê, tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu hay các chương trình bảo hiểm với các chu kỳ thanh toán vượt quá 180 ngày
Cách thức và điều kiện liên quan đến tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu và các chương trình bảo hiểm với chu kỳ thanh toán 180 ngày và ngắn hơn sẽ không phải tuân thủ các quy tắc sẽ được thoả thuận Các quy tắc này sẽ bao gồm cả việc thanh toán lãi suất, mức lãi suất tối thiểu, yêu cầu phí tối thiểu và các yếu tố khác có thể chứa đựng sự trợ cấp hay bóp méo thương mại
Các hành động bóp méo thương mại liên quan đến các Doanh nghiệp thương mại Nhà nước xuất khẩu bao gồm trợ cấp xuất khẩu cho các doanh nghiệp này, tài chính của Chính phủ và xoá lỗ sẽ bị yêu cầu bãi bỏ
Các quy định về viện trợ lương thực không tuân thủ với các quy tắc hiệu quả cũng
sẽ được thoả thuận Mục đích của những nguyên tắc như vậy là nhằm ngăn ngừa việc thay thế thương mại Vai trò của các tổ chức quốc tế liên quan đến việc cung cấp viện trợ lương thực của các nước thành viên cũng sẽ được đề cập đến trong đàm phán
- Các đối xử đặc biệt và khác biệt:
Các nước thành viên đang phát triển sẽ được hưởng lợi từ các giai đoạn thực hiện kéo dài hơn cho việc bãi bỏ tất cả các dạng trợ cấp xuất khẩu Các nước đang phát triển sẽ tiếp tục được hưởng đối xử đặc biệt và khác biệt như tại Điều 9.4 của Hiệp định Nông nghiệp cho một giai đoạn phù hợp sẽ được thoả thuận sau khi đã loại bỏ tất cả các dạng trợ cấp xuất khẩu và hoàn thành việc thực hiện các quy tắc được xác định như trên Các doanh nghiệp thương mại Nhà nước ở các nước thành viên đang phát triển cũng sẽ được hưởng những ưu tiên đặc biệt nhằm giữ ổn định giá cho người tiêu dùng và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cũng sẽ được hưởng sự xem xét đặc biệt cho việc tiếp tục giữ độc quyền
* Tiếp cận thị trường:
Phương pháp tiếp cận đơn:
Trang 21Nhằm đảm bảo một cách tiếp cận đơn cho cả các nước thành viên phát triển và đang phát triển đạt được tất cả các mục tiêu của vòng đàm phán Đô-ha, việc giảm thuế sẽ được thực hiện theo công thức theo tầng có tính đến các cấu trúc thuế khác nhau của các nước thành viên nhằm đảm bảo công thức này sẽ dẫn đến việc mở rộng thương mại đáng kể và giảm thuế đáng kể có đạt được như là kết quả cuối cùng từ quá trình đàm phán Tiến bộ trong giảm thuế sẽ đạt được thông qua việc giảm mạnh hơn đối với những dòng thuế cao hơn nhưng có sự linh hoạt hơn đối với các “sản phẩm nhạy cảm”
Các thành viên có thể đề xuất một số lượng thích hợp các dòng thuế được đối xử là nhạy cảm, có tính đến các cam kết hiện hành đối với các sản phẩm này
Các yếu tố khác cho phép sự linh hoạt để đạt được kết quả cân bằng cuối cùng kể cả việc giảm và bãi bỏ các mức hạn ngạch thuế quan và các cải thiện một cách có hiệu quả việc quản lý hạn ngạch thuế quan đối với các hạn ngạch thuế quan hiện hành sao cho các nước thành viên, đặc biệt là các quốc gia thành viên đang phát triển có thể được hưởng lợi
từ các cơ hội tiếp cận thị trường trong phạm vi hạn ngạch thuế quan
Đối xử đặc biệt và khác biệt:
Liên quan đến phát triển nông thôn, an ninh lương thực hay nhu cầu an ninh về đời sống, các đối xử đăc biệt và khác biệt đối với các nước đang phát triển sẽ là một phần thống nhất của tất cả các yếu tố trong đàm phán, kể cả công thức giảm thuế, số lượng và đối xử sản phẩm nhạy cảm, mở rộng hạn ngạch thuế quan và giai đoạn thực hiện Một tỷ lệ cân xứng sẽ được thoả thuận liên quan đến yêu cầu cam kết giảm thuế ít hơn hay các cam kết mở rộng hạn ngạch thuế quan dành cho các nước thành viên đang phát triển
Các thành viên đang phát triển cũng sẽ được hưởng sự linh hoạt khi đề xuất một số lượng nhất định các sản phẩm được coi là sản phẩm đặc biệt, dựa trên các tiêu chí về an ninh lương thực, an ninh đời sống và nhu cầu phát triển nông thôn, các sản phẩm này sẽ được hưởng sự đối xử linh hoạt hơn Các tiêu chí và cách đối xử đối với những sản phẩm này sẽ được tiếp tục cụ thể hoá trong quá trình đàm phán và sẽ thừa nhận tầm quan trọng
cơ bản của các sản phẩm đặc biệt đối với các nước đang phát triển
Như vậy kết quả này là có lợi đối với các nước đang phát triển, họ sẽ được cạnh tranh bình đẳng hơn với hàng nông sản của các nước phát triển trên thị trường nội địa và trên thị trường xuất khẩu Đối với các nước đang phát triển thì họ không có nhiều những
Trang 22hỗ trợ trong nước cho ngành nông nghiệp như các nước phát triển Do đó, những yêu cầu cắt giảm trợ cấp chung sẽ chủ yếu rơi vào “những hỗ trợ tối thiểu cho phép” Việc cắt giảm các hỗ trợ này sẽ hạn chế khả năng sử dụng các công cụ hỗ trợ của các nước đang phát triển để phát triển ngành nông nghiệp của mình đối đầu với sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu từ các nước phát triển Tuy nhiên tác động của việc cắt giảm hỗ trợ trong nước dự đoán sẽ không ảnh hưởng nhiều tới các nước đang phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp
Vấn đề mở cửa thị trường đối với hàng nông sản hiện nay vẫn là vấn đề phức tạp trên bàn đàm phán Đô-ha Cũng như các mặt hàng phi nông sản, các nước cũng cam kết giảm mạnh thuế quan đối với các mặt hàng nông sản Các nước phát triển và đang phát triển cũng đều áp dụng chung một phương thức cắt giảm thuế thống nhất: công thức phân cấp có tính tới cơ cấu thuế khác nhau, những mặt hàng nào có thuế quan cao hơn phải cắt giảm nhiều hơn và bắt đầu từ những mức thuế quan đã cam kết Trừ các nước kém phát triển nhất, các nước đang phát triển tuy vẫn được áp dụng các ứng xử đặc biệt và khác biệt nhưng vẫn phải tuân theo công thức phân cấp này
Các vấn đề đang được đặt ra tại vòng đàm phán Đô-ha là rất phức tạp và tiến triển
chậm chạp Bởi mâu thuẫn về quyền lợi giữa các nhóm nước, đặc biệt là giữa các nước phát triển và đang phát triển và vấn đề công bằng thương mại không dễ gì giải quyết Song
xu hướng tự do hoá thương mại là không thể đảo ngược Chương trình nghị sự tại vòng đàm phán Đô-ha dù có được chấp nhận hay không cũng phản ánh nhu cầu bức xúc hiện nay là WTO cần có bước tiến mạnh mẽ, đáp ứng được những biến đổi nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu Và điều quan trọng hơn là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam cần xem xét kỹ lưỡng những cam kết của vòng đàm phán này, cần ý thức được xu thế chung để có thể có những chuyển đổi thể chế và những biện pháp cải cách kinh tế cần thiết
vì mục tiêu phát triển kinh tế nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng
Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, nhất là tại phiên họp thứ 8, tháng 6/2004, Việt Nam đã trình cho Ban công tác Bản chào lần thứ 4, với những sửa đổi mang tính bước ngoặt cho đàm phán, trong đó có nhiều cam kết của Việt Nam liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là Hiệp định Nông nghiệp khi gia nhập WTO mà tại phiên họp thứ 9 (tháng 12-2000) nhiều thành viên WTO đánh giá cao sự nỗ lực của Việt Nam
Trang 231.3 Kinh nghiệm trong việc giải quyết vấn đề nông nghiệp khi gia nhập WTO 1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Nông nghiệp đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế Trung Quốc Trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế, nông nghiệp Trung Quốc đã có những đóng góp to lớn đối với việc phát triển nền kinh tế, giải quyết việc làm, tích luỹ vốn, tăng phúc lợi xã hội và tăng thu ngoại tệ Tuy nhiên, sau 20 năm cải cách và mở cửa, ngành nông nghiệp Trung Quốc vẫn đứng trước những khó khăn trở ngại đó là:
- Giá cả nhiều loại sản phẩm nông nghiệp Trung Quốc cao hơn so với giá thế giới
do chi phí sản xuất cao, kết cấu hạ tầng kém Kể từ đầu những năm 1990, giá cả hàng nông sản của Trung Quốc đã liên tục tăng với tốc độ hơn 10% năm khiến cho giá cả của các sản phẩm như tiểu mạch, ngô, đậu, bông …đều cao hơn giá thị trường quốc tế từ 20-70% Nói chung chỉ có thịt lợn, táo và thuốc lá là tương đối có ưu thế, còn lại nhiều loại hàng hoá nông sản của Trung Quốc thiếu sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
- Hàng nông sản trong nước khó tiêu thụ, thu nhập của nông dân tăng chậm Chẳng
hạn, tỷ lệ tăng thu nhập ròng của nông dân đã giảm từ mức 9% năm 1996 xuống còn 4,6% năm 1997; 4,3% năm 1998; 3,8% năm 1999 và 2,1% năm 2000 (đặc biệt sự giảm sút này lại chủ yếu do sự giảm sút của thu nhập từ sản xuất nông nghiệp) [21, tr 238] Kết quả của
sự giảm sút mức thu nhập của nông dân dẫn đến sự suy giảm của chi tiêu Chính sự giảm sút trong thu nhập và chi tiêu của nông dân ở Trung Quốc sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến việc mở rộng thị trường nội địa, đến sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế và đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế Nếu thu nhập của người nông dân không được cải thiện, những rủi ro và bất ổn ở xã hội nông thôn sẽ xuất hiện hoặc gia tăng với những tác hại khó lường tới nền kinh tế
- Sau một thời gian dài có những tác động tích cực tới việc tạo công ăn việc làm và
nâng cao thu nhập cho người nông dân, các xí nghiệp hương chấn quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ và máy móc lạc hậu, năng suất thấp đang ngày càng trở nên kém hiệu quả, gây lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường cũng như tạo gánh nặng với ngân sách địa phương
- Do bị thoái hóa cũng như dưới tác động của quá trình đô thị hóa và phát triển công
nghiệp, tài nguyên nông nghiệp ngày càng khan hiếm, môi trường nông nghiệp bị ô nhiễm
Trang 24nặng nề Đến năm 1999, diện tích đất nông nghiệp bình quân một lao động nông nghiệp Trung Quốc chỉ là 0,2 ha, bằng 1/4 của Thái Lan, 1/25 mức trung bình của thế giới
Xuất phát từ tầm quan trọng đó của nông nghiệp đối với toàn bộ nền kinh tế và những khó khăn mà ngành này sẽ phải đối mặt, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đánh giá ngành này sẽ bị tác động mạnh và nhanh hơn các ngành khác Để tìm hiểu vấn đề này có thể căn cứ vào những cam kết của Trung Quốc với WTO về vấn đề bảo hộ nông nghiệp để xem xét những tác động
Vậy thì những cam kết gia nhập WTO của Trung Quốc có tác động gì đối với thị trường nông nghiệp? Đối với những sản phẩm được bảo hộ bằng thuế theo giá hàng, các
hệ quả như sau:
Bảng 1.1: Mức độ bảo hộ nhập khẩu của một số mặt hàng nông sản Trung Quốc
trước và sau khi gia nhập WTO (thuế quan hoặc tương đương (%) [21, tr,
Trang 25được giữ nguyên, thậm chí mức độ bảo hộ tăng đối với sợi thực vật Sự thay đổi trong mức
độ bảo hộ cùng với việc tiếp tục tái cơ cấu lại các ngành khác có tác động tới một số sản phẩm nông nghiệp của Trung Quốc như sau:
Bảng 1.2: Tác động của việc gia nhập WTO tới một số sản phẩm nông nghiệp của
Trung Quốc, thời kỳ 2001-2007 (% so với việc không gia nhập) [21, tr
246]
Sản lượng (%)
Công
ăn việc làm (%)
Xuất khẩu (%)
Nhập khẩu (%)
Cán cân thươn
g mại (Triệu USD)
Giá bán buôn (%)
Giá bán lẻ (%)
Thứ nhất, đối với sản phẩm nhập khẩu, do mức độ bảo hộ giảm sau khi gia nhập
WTO nên nhập khẩu của Trung Quốc tăng mạnh đối với các sản phẩm nông nghiệp như hạt có dầu (20,9%), đường (24,1%); sợi thực vật (7,7%); sữa (23,8%) và một số thực phẩm khác (62,6%) Trong khi đó, do mức độ bảo hộ hầu như được giữ nguyên nên nhập khẩu
Trang 26của các sản phẩm như gạo, lúa mì, ngũ cốc chăn nuôi, rau quả, vật nuôi và thịt lại giảm theo thứ tự: 7,1%; 10,1%; 2,4%; 6,3% và 8,9% [21; tr 250]
Thứ hai, xuất khẩu tăng mạnh đối với hầu hết các sản phẩm nông nghiệp như lúa mì
(18,9%); hoa quả (14,6%); hạt có dầu (29,8%); đường (13,9%); thịt và vật nuôi (15,5%); sữa (13,5%) và các thực phẩm khác (11,4%) Riêng xuất khẩu gạo chỉ tăng 6,1% và xuất khẩu giảm mạnh đối với ngũ cốc chăn nuôi (77,8%) và sợi thực vật (51,8%) [21, tr 250]
Thứ ba, sự gia tăng của nhập khẩu sẽ khiến cho giá bán buôn tất cả các hàng hoá
nông nghiệp đều giảm (tuy không mạnh từ 0,9% đến 2,8%) trong khi đó diến biến của giá bán lẻ các sản phẩm nông nghiệp lại không đồng nhất, giá của một số sản phẩm như gạo, lúa mì, ngũ cốc chăn nuôi, sợi thực vật, thịt và vật nuôi, sữa tăng (không mạnh) thì giá của các sản phẩm khác như rau quả, hạt có dầu, đường, sợi thực vật và các thực phẩm khác lại giảm tuy không mạnh
Thứ tư, Sức ép cạnh tranh của hàng nhập khẩu cũng như sự giảm giá của hàng nông
sản khiến cho sản lượng của hầu hết các sản phẩm nông nghiệp đều giảm nhưng không nhiều Chẳng hạn, sản lượng gạo giảm 2,1%, lúa mì giảm 2,0%; ngũ cốc chăn nuôi giảm 2,3%; rau quả giảm 3,4%; hạt có dầu giảm 7,9%; đường giảm 6,5%; sữa giảm 2,0% và các loại thực phẩm khác giảm 5,9% Trong khi đó chỉ có vật nuôi và thịt cũng như sợi thực vật tăng tương ứng là 1,3% và 15,8% Sản lượng giảm sẽ kéo theo sự giảm sút của lao động ở hầu hết các ngành trừ ngành sản xuất sợi thực vật; thịt và vật nuôi [21, tr 251]
Như vậy theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, do mức độ bảo hộ của nhiều sản phẩm nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO vẫn được giữ nguyên nên tác động của việc thực hiện những cam kết về nông nghiệp của Trung Quốc đối với WTO là không mạnh trong ngắn hạn và trung hạn, mặc dù những đi liền với việc thực hiện những cam kết này sẽ khiến cho sản xuất nông nghiệp sụt giảm so với trước khi gia nhập và điều này sẽ làm thất nghiệp gia tăng
Để giảm thiểu những tác động của việc gia nhập WTO tới ngành nông nghiệp, chính sách bảo hộ sản xuất nông sản Trung Quốc đang dần thay đổi theo hướng:
* Hình thành thị trường vốn cho sản xuất và xuất khẩu nông sản: Để nâng cao khả
năng cạnh tranh của hàng nông sản trên thị trường trong nước và quốc tế, Trung Quốc cho rằng cần phải mở rộng quy mô sản xuất và xuất khẩu nông sản - một thế mạnh của Trung
Trang 27Quốc Muốn vậy, cần xây dựng một thị trường vốn cho nông nghiệp phù hợp với tình hình thực tế của Trung Quốc Bởi vì việc thâm nhập vào thị trường vốn đối với các doanh nghiệp nông nghiệp thường gặp nhiều khó khăn hơn các doanh nghiệp khác Để giúp các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu có vốn, Trung Quốc đang áp dụng các biện pháp sau:
- Phát hành trái phiếu phát triển xuất khẩu: Hiện nay, sự phát triển của thị trường
trái phiếu chậm hơn thị trường cho vay Các hạng mục của nông nghiệp chỉ tận dụng các khoản cho vay của nhà nước, chứ không áp dụng hình thức phát hành trái phiếu, việc phát hành trái phiếu phát triển xuất khẩu là một hướng để thu hút vốn xây dựng hạ tầng, mở rộng quy mô xuất khẩu
- Cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu có ảnh hưởng lớn, có sức lôi kéo mạnh, hiệu quả kinh tế cao, phát hành trái phiếu công ty với số lượng nhất định Hiện nay, các công ty nông nghiệp của Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 6% tổng số các công ty hoạt động
ở Trung Quốc Giá trị lưu thông của họ trên thị trường và lượng vốn chỉ chiếm 5,7%, điều này hoàn toàn chưa tương xứng với sự đóng góp 17% của nông nghiệp trong GDP Vì vậy, Trung Quốc đang cho phép tăng số lượng các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản có quy mô xuất khẩu lớn, có hiệu quả kinh doanh, ít rủi ro tham gia kinh doanh trên thị trường quốc
tế Thông qua phương thức này, Trung Quốc có thể tập trung thêm được nhiều vốn cho phát triển xuất khẩu
* Điều chỉnh các chính sách khuyến khích xuất khẩu:
Trung Quốc chủ trương tăng hoàn thuế xuất khẩu nông sản Hiện mức hoàn thuế xuất khẩu nông sản của Trung Quốc chỉ có 5% Đồng thời giảm thuế đánh vào đặc sản nông nghiệp, ưu tiên cấp tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu, kiên quyết xoá bỏ công
ty chuyên doanh độc quyền xuất nhập khẩu, mở rộng quyền tự do xuất khẩu nông sản
* Chính phủ tạo mọi điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu cho doanh nghiệp
Trang 28- Xoá bỏ các rào cản phi thương mại và kiểm dịch động thực vật, tạo điều kiện cho xuất khẩu nông sản Trung Quốc
* Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ sản xuất trong nước, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng nông sản trên thị trường trong nước và quốc tế:
Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc vẫn tiếp tục trợ cấp nông nghiệp trong nước theo quy tắc của Hiệp định nông nghiệp Đó là các trợ cấp thuộc “hộp màu xanh lá cây”,
“hộp màu xanh lơ” và “hộp hổ phách”
Trước hết, những trợ cấp thuộc “hộp xanh lá cây” có phạm vi rất rộng Tổ chức
thương mại thế giới không quy định giới hạn cho trợ cấp thuộc hộp này nên chỉ cần có khả năng là có thể trợ cấp Vì vậy, Trung Quốc đang tận dụng những quy định này để tăng thêm hỗ trợ cho nông dân
Thứ hai, những hỗ trợ thuộc “hộp xanh lơ” cũng được WTO quy định miễn thực
hiện cam kết cắt giảm nhằm thanh toán trực tiếp theo chương trình phát triển xuất khẩu
Từ kinh nghiệm của mình, Trung Quốc thấy các biện pháp trợ giá không còn là biện pháp hữu hiệu nữa bởi: một mặt, biện pháp này làm sai lệch tín hiệu giá cả của thị trường, khiến thị trường mất cân bằng, gây nên sự bất bình đẳng trong thương mại, đồng thời gây
ra sử dụng lãng phí, không hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên Mặt khác, hiệu quả hỗ trợ thu nhập của nông dân không cao, nhà nước tiêu tốn rất nhiều tiền nhưng đến tay nông dân lại rất ít, đại bộ phận thất thoát trong khâu lưu thông trung gian Do đó, hiện nay Trung Quốc đang chuyển hướng trợ cấp qua giá sang trợ cấp trực tiếp cho nông dân Một trong những cách làm để thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân là giảm thuế hoặc không thu thuế nông nghiệp
* Lập “hàng rào xanh” hay còn gọi là “hàng rào môi trường”:
Trong lĩnh vực thương mại quốc tế, nhiều nước thông qua luật pháp hoặc những quy phạm kỹ thuật nghiêm nghặt nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ con người để xây dựng hàng rào thương mại hạn chế nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài
Sau vòng đàm phán Urugoay, hàng rào thương mại chủ yếu là thuế quan đã từng bước được cắt giảm, còn hàng rào phi thuế quan thì cũng từng bước bị loại bỏ Nhưng thương mại và môi trường- hai lĩnh vực vốn không mấy liên quan trong lịch sử thương mại
Trang 29nay đã gắn chặt với nhau, phát sinh ra “hàng rào xanh” Sự phát triển của “hàng rào xanh”
là một biểu hiện mới của chủ nghĩa bảo hộ
Hình thức biểu hiện chủ yếu của “hàng rào xanh” là: các chế tài thương mại về môi trường, yêu cầu cấp giấy chứng nhận ISO 14000, thuế quan “xanh” (tức là thuế đánh vào hàng nông sản không đạt yêu cầu vệ sinh dịch tễ và môi trường của nước nhập khẩu), trình
tự và chế độ kiểm dịch phiền hà
Tuy “hàng rào xanh” chỉ được hình thành trong vòng 10 năm trở lại đây, nhưng nay
đã lan tràn khắp toàn cầu Trung Quốc một mặt vấp phải “hàng rào xanh” khi xuất khẩu hàng nông sản của mình ra nước ngoài như EU, Nhật Bản, Mỹ…Mặt khác, Trung Quốc cũng từng bước thiết lập “hàng rào xanh” cho riêng mình để hạn chế nhập khẩu từ nước ngoài mà không vi phạm quy định của WTO Trung Quốc tích cực học tập kinh nghiệm của các nước phát triển sử dụng linh hoạt các quy định của WTO như “Hiệp định về việc
áp dụng các biện pháp kiểm dịch động - thực vật” phù hợp với lợi ích quốc gia
* Nhận xét và bài học kinh nghiệm:
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, Trung Quốc đã đạt được rất nhiều thành tựu về kinh tế đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp Đạt được những kết quả đó là do Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng nhiều chính sách khuyến khích phát triển sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản, nhờ đó Trung Quốc đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản quan trọng trên thị trường thế giới Từ việc nghiên cứu những tác động của việc gia nhập WTO đối với nông nghiệp Trung Quốc có thể rút ra một vài kinh nghiệm đối với Việt Nam:
Thứ nhất, trong quá trình gia nhập WTO thực hiện bảo hộ ở mức vừa phải đối với
sản xuất hàng nông sản làm cho các doanh nghiệp từng bước thích ứng với áp lực cạnh tranh
Thứ hai, chuyển từ bảo hộ bằng các biện pháp giấy phép, hạn ngạch sang bảo hộ
bằng thuế quan và các rào cản thương mại không trái với các quy định của WTO
Thứ ba, chuyển từ hỗ trợ sản xuất hàng nông sản thông qua trợ giá qua khâu thu
mua sang hỗ trợ trực tiếp cho người sản xuất một số nông sản chính
1.3.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Trang 30Nông nghiệp Thái Lan cho đến giữa những năm 1980 là khu vực quan trọng nhất trong nền kinh tế Thái Lan xét cả về lực lượng lao động, đóng góp trong GDP và thu nhập
về xuất khẩu Năm mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng nhất của Thái Lan là gạo (luôn đứng đầu thế giới và chiếm khoảng 30-40% sản lượng gạo xuất khẩu của thế giới); sắn (Thái Lan xuất khẩu khoảng 8-9 triệu tấn/năm, cung cấp 95% nhu cầu sắn trên thị trường thế giới); ngô (hàng năm xuất khẩu từ 4-5 triệu tấn); cao su (từ năm 1974 đến nay, Thái Lan luôn là nước đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu cao su) và mặt hàng thứ năm là rau quả (nước xuất khẩu lớn thứ hai khu vực Châu á-Thái Bình Dương sau Trung quốc) [20, tr 125]
Chính sách nông nghiệp của Chính phủ Thái Lan, đặc biệt là chính sách phát triển nông nghiệp, bảo hộ và khuyến khích xuất khẩu có tính quyết định đến quá trình tăng trưởng nhanh của nông nghiệp Thái Lan
* Chính sách giá cả nông sản:
Chính sách giá cả nông sản được đánh giá là khá thành công trong hệ thống các chính sách can thiệp của Chính phủ vào quá trình tăng trưởng nông nghiệp và xuất khẩu Chính sách giá cả được coi là công cụ quan trọng nhất để điều tiết sản xuất Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà cơ chế giá có sự biến đổi linh hoạt, nhưng mục tiêu chiến lược của chính sách giá nông nghiệp của Chính phủ là:
- Khuyến khích người sản xuất bảo đảm giá nơi sản xuất có lợi cho người sản xuất
và giá bán lẻ thấp có lợi cho người tiêu dùng
- ổn định giá nông sản thị trường trong nước, kìm giữ giá trong nước thấp hơn so với giá thị trường thế giới, khuyến khích xuất khẩu
- Hạn chế ảnh hưởng của sự biến động giá thị trường thế giới đối với giá nông sản thị trường nội địa
* Chính sách tín dụng:
Vào những năm 1980-1990, nông dân Thái Lan vẫn còn có mức sống thấp, mức độ thương mại hoá không cao, hầu hết nông nghiệp chưa được tách khỏi phạm vi gia đình Trong hoàn cảnh đó, để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, đáp ứng nhu cầu tín dụng, nông dân có thể vay tín dụng từ 2 nguồn:
Trang 31- Nguồn cho vay chính thức, bao gồm các hợp tác xã nông nghiệp, các cơ quan Chính phủ, các ngân hàng thương mại…
- Nguồn cho vay không chính thức gồm thương nhân, địa chủ, các cá nhân…
Trong quá trình phát triển, Chính phủ Thái Lan chủ trương tăng mức độ tự do hoá thương mại trong nông nghiệp và loại bỏ các biện pháp bảo hộ đối với ngành này Chủ trương tăng mức độ tự do hoá thương mại trong nông nghiệp và loại bỏ các biện pháp bảo
hộ đối với nông nghiệp được thể hiện trong việc cam kết thực hiện Hiệp định của WTO dưới đây:
* Tiếp cận thị trường thông qua cắt giảm thuế quan:
Trong vòng đàm phán Urugoay, Thái Lan đưa 994 mặt hàng nông sản vào ràng buộc thuế quan và cam kết giảm mức thuế suất trung bình khoảng 24% trong vòng 10 năm (1995-2004), mức giảm tối thiểu là 10% đối với tất cả các dòng thuế Ngoài ra, Thái Lan cũng bảo lưu quyền sử dụng tới điều khoản tự vệ đặc biệt trong Hiệp định nông nghiệp của vòng đàm phán Urugoay đối với 111 sản phẩm (chiếm khoảng 11% trong số 994 mặt hàng nông sản đưa vào cam kết) Trên thực tế đối với nhiều sản phẩm, mức thuế suất áp dụng từ năm 1995 trải từ 0 đến 15%, còn mức thuế ràng buộc thì từ 20% đến 30% Sự chênh lệch giữa hai mức thuế suất này khá lớn đối với một vài sản phẩm như: ngô, bột sữa có độ béo thấp, khoai tây, bánh đậu xanh và hạt giống hành [20, tr 133]
Các ràng buộc thuế quan cao cùng với quyền bảo lưu áp dụng các biện pháp tự vệ đối với 111 sản phẩm nông sản đã đem lại một sự bảo hộ hợp lý trong biên giới cho hầu hết các sản phẩm nhạy cảm Tuy vậy, cho đến nay Thái Lan vẫn chưa cần thiết phải áp dụng các biện pháp tự vệ
Trang 32năm 1995 lên 71.254 triệu baht năm 1997; tức là tăng khoảng 24% và phần lớn sự gia tăng này là cho các biện pháp “Hộp màu xanh lá cây” [20, tr.134]
Về mức hỗ trợ gộp (AMS) thời kỳ 1995-1997, Thái Lan đã cam kết và thông báo cho WTO Nhưng trên thực tế, mức trợ cấp này trong ba năm trên đều thấp hơn mức cam kết Mặt hàng gạo vẫn là mặt hàng có mức trợ cấp AMS cao nhất (72-98%)
Bảng 1.3: Các mặt hàng liên quan tới tổng hỗ trợ tính gộp (AMS) giai đoạn
1995-1997 [20, tr 134]
Năm
Tổng AMS cam kết (triệu baht)
Mức trợ cấp thực
tế (triệu Baht)
Tỷ lệ mức trợ cấp thực tế và mức cam kết (%)
Các mặt hàng liên quan (% trong tổng trợ cấp)
1995 21.816 15.773 72 Gạo (87,5); sữa tươi (5,6); tỏi
(2,3), hành (0,6), hạt giống đậu tương (4,1)
Mặc dù rất ít thành viên WTO có quyền áp dụng trợ cấp xuất khẩu, nhưng ở Thái Lan, quy mô của trợ cấp xuất khẩu vẫn rất lớn đối với ba mặt hàng xuất khẩu chính đó là: gạo, đường và thịt gia cầm Tuy nhiên trong giai đoạn sau 1995, các khoản trợ cấp xuất khẩu không được áp dụng nhiều, do vậy thiệt hại tiềm tàng giảm xuống ở mức tối thiểu
Trang 33Trên thực tế rất khó đánh giá tác động của việc gia nhập WTO đối với trường hợp nông sản của Thái Lan Đối với một vài sản phẩm, mức độ thực hiện hạn ngạch thấp do giá bán trong nước thấp so với giá hàng nhập khẩu Chín trong số 23 mặt hàng trên không có nhập khẩu, tức là mức thực hiện bằng không (0) Đó là các mặt hàng như long nhãn khô, dừa, dầu dừa, sợi tơ thô, tỏi, cà phê, sữa chua cô đặc và đường Các mặt hàng gạo, dầu dừa và nhãn khô là những mặt hàng có thể xuất khẩu với giá nội địa thấp hơn giá nhập khẩu Đối với tỏi, các loại hành và tơ nguyên liệu hạn ngạch thuế quan không có hiệu quả do yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm Trường hợp của cà phê hoà tan, hạn ngạch thuế quan không được áp dụng cho đến năm 1998 vì thực hiện hạn ngạch chỉ có một công ty độc quyền là Nescafe
Mặc dù quy định hạn ngạch nhưng có những trường hợp mức thực hiện hạn ngạch vượt quá mức cho phép với mức thuế nhập khẩu thấp hơn nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước Chế độ hạn ngạch thuế quan hiện nay ở Thái Lan vẫn còn có sự phân biệt đối xử với các nhà nhập khẩu mới tham gia thị trường, ủng hộ những nhà nhập khẩu lâu năm và có quy mô lớn
Bài học kinh nghiệm:
- Các chính sách phát triển nông nghiệp, cũng như chủ trương bảo hộ và khuyến khích xuất khẩu nông sản của Thái Lan đã đem lại cho nông nghiệp sự tăng trưởng ổn định, đã thoả mãn nhu cầu trong nước về các nông sản cơ bản và là một trong những nước xuất khẩu nông sản đứng đầu thế giới Nông sản nhập khẩu ở Thái Lan chỉ chiếm 5% tổng
Trang 34số kim ngạch nhập khẩu Trong trường hợp của Thái Lan tự do hoá và bảo hộ sản xuất luôn được kết hợp trong chính sách thương mại về nông sản của Thái Lan Tuy nhiên xu hướng tự do hoá luôn được quan tâm
Trong các biện pháp bảo hộ, Chính phủ luôn quan tâm tới chính sách đối với gạo, đặc biệt là chính sách giá cả nhằm bảo đảm lợi ích cho nông dân và người tiêu dùng
- Tín dụng cũng là một chính sách được Chính phủ Thái Lan quan tâm đặc biệt Có
2 nguồn để người dân Thái Lan có thể tiếp cận các khoản vay tín dụng-nguồn vay chính thức và không chính thức Nguồn vay không chính thức giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong thời kỳ đầu khi nguồn vốn của nhà nước, các ngân hàng và các hợp tác xã còn khan hiếm
- Trong tiến trình thực hiện từng bước tự do hoá thương mại nông sản, Thái Lan coi trọng trợ cấp trong nước đặc biệt là trợ cấp theo “hộp xanh lơ” theo quy định của vòng đàm phán Urugoay, mức trợ cấp này có xu hướng tăng lên
Thái Lan cố gắng tham gia vào việc hạn chế việc trợ cấp xuất khẩu ở nhiều nước vì các khoản trợ cấp này gây thiệt hại đến hoạt động xuất khẩu của Thái Lan Tuy nhiên, Thái Lan vẫn thường trợ cấp xuất khẩu cho ba mặt hàng nông sản chính là gạo, đường và thịt gia cầm Xu hướng này đang giảm đi và tiến tới loại bỏ Các hạn ngạch nhập khẩu được chuyển sang chế độ thuế quan hoặc chế độ hạn ngạch thuế quan Tuy nhiên việc thực hiện chế độ hạn ngạch thuế quan cũng rất linh hoạt
Kết luận chương 1
- Trong khuôn khổ WTO, hiệp định chủ yếu là:
+ Tổng hiệp định về thuế quan và thương mại (GATT 1994), kèm theo các hiệp định cụ thể
+ Tổng hiệp định về dịch vụ (GATT)
+ Hiệp định về tài sản trí tuệ kiên quan tới thương mại (TRIPS)
Thực tế hiện nay cho thấy, các định chế kinh tế đa phương, nhất là đa phương toàn cầu có giá trị hướng dẫn, tạo khuôn khổ khống chế các quan hệ song phương Do đó, hợp tác song phương nhìn chung phải dựa vào các quy định của hợp tác đa phương
- Nhìn chung, WTO có mục tiêu giải quyết vấn đề sống còn của thương mại, đó là vấn đề thị trường, thực hiện tự do hoá, thuận lợi hoá thương mại và đầu tư Mục tiêu này
Trang 35sẽ đạt được thông qua việc giảm dần từng bước đi tới triệt tiêu hàng rào thuế quan và phi thuế quan, dùng thuế là công cụ bảo hộ chủ yếu, không thừa nhận bảo hộ bằng phi thuế, đồng thời hợp tác khoa học, công nghệ, kỹ thuật nhằm hỗ trợ nhau phát triển sản xuất, mở rộng thị trường
- WTO là định chế kinh tế mang tính toàn cầu, các tổ chức khu vực như AFTA, APEC, ASEM cụ thể hoá tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư Tuy mức độ, hình thức và biện pháp có sự khác biệt nhất định, nhưng có thể nói về nội dung, cơ chế hợp tác của WTO, AFTA, APEC và ASEM có sự hỗ trợ, bổ sung cho nhau Các tổ chức khu vực như AFTA, APEC và ASEM đều lấy WTO là cơ bản, tuân thủ những nguyên tắc, luật chơi điều tiết thương mại quốc tế của WTO (như không phân biệt đối xử, tự do cạnh tranh giành ưu đãi MNF, NT, mở cửa thị trường…) nhằm đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư
- Với mức độ và lộ trình khác nhau, WTO cũng như AFTA, APEC đều có những quy định cụ thể:
+ Giảm thuế quan đối với hàng nhập khẩu
+ Giảm bớt và tiến tới xoá bỏ hàng rào phi thuế quan nhất là hạn ngạch và giấy phép nhập khẩu
+ Về lĩnh vực dịch vụ, WTO chủ trương mở cửa thị trường dịch vụ thông qua thương lượng giữa các nước thành viên
+ Về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) và vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS), WTO quy định các nước thành viên dành cho nhau MNF và NT…
- Mỗi tổ chức quốc tế đều có mục tiêu, nguyên tắc và nội dung hoạt động của mình, một nước muốn trở thành thành viên của tổ chức phải cam kết tuân thủ các quy định của tổ chức đó và chứng tỏ khả năng của mình trong việc hoàn thành nghĩa vụ của thành viên trong tổ chức, cũng như hưởng các lợi ích do việc tham gia tổ chức mang lại
- Những bài học kinh nghiệm của Trung Quốc và Thái Lan đối với việc phát triển nền nông nghiệp sau khi gia nhập WTO là rất bổ ích, cần tham khảo vận dụng trong quá
trình chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện các cam kết của nước ta khi gia nhập WTO
Trang 36Chương 2
những tác động có thể của việc gia nhập WTO đến nền nông nghiệp Việt Nam và một số giải pháp thích ứng
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng phát triển tất yếu gắn liền với xu thế toàn cầu hoá kinh tế ở nước ta, tư tưởng hội nhập kinh tế xuất hiện từ rất sớm trong bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Liên hợp quốc (12-1946) Từ năm 1986, công cuộc đổi mới kinh tế đã làm thau đổi căn bản nhận thức và quan điểm về hội nhập kinh tế quốc tế Tuy vậy, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta chỉ được đẩy mạnh và có những đột phá từ Đại hội VII của Đảng (năm 1991) với chủ trương “mở rộng, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi”, “gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới”, và “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Theo tinh thần đó, tháng 10-1993 Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế như IMF, WB, ADB Ngày 28-7-1995 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN và tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN/AFTA năm 1996 Năm 1995, Việt Nam đã bình thường hoá quan với Mỹ và năm
2000 đã ký kết hiệp định thương mại song phương (BTA), Hiệp định này có hiệu lực từ năm 2001 Thực hiện những cam kết trong hiệp định BTA và chương trình CEPT đã có những tác động nhiều mặt liên quan đến nền nông nghiệp Việt Nam
2.1 Những tác động chủ yếu của Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và việc thực hiện CEPT/AFTA đối với hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
Thực hiện các cam kết trong Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và chương trình CEPT/AFTA là bước thử nghiệm, tập dượt cho nền kinh tế nói chung, nền nông nghiệp nước ta nói riêng hội nhập khu vực trước khi gia nhập WTO
Như đã nói, các tổ chức khu vực: ASEAN, APEC đều lấy WTO làm cơ bản, tuân thủ những nguyên tắc, luật lệ điều tiết thương mại và đầu tư của WTO và các định chế kinh tế đa phương nhất là đa phương toàn cầu, có giá trị hướng dẫn, tạo khuôn khổ khống chế các quan hệ song phương, nên cần thiết phải phân tích những tác động chủ yếu của Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và việc thực hiện CEPT/AFTA đối với hàng nông sản xuất
Trang 37khẩu của Việt Nam để có những dữ liệu thực tế góp phần dự báo những tác động có thể của việc gia nhập WTO đối với nền nông nghiệp Việt Nam
2.1.1 Những tác động chủ yếu của việc thực hiện Hiệp định Thương mại Việt -
trước đây gặp khó khăn trong việc thâm nhập thị trường Mỹ do thuế quan cao hay các rào cản phi thuế quan nay sẽ có cơ hội để phát triển
Sau khi Hiệp định song phương được ký kết, phía Mỹ dành cho Việt Nam quy chế quan hệ thương mại bình thường, cốt lõi là mức thuế quan đánh vào hàng hoá Việt Nam khi nhập vào thị trường Mỹ khi chưa có quy chế này là 40% hoặc cao hơn Khi quy chế này được áp dụng mức thuế chỉ còn 3% Với mức thuế như vậy, rất nhiều hàng hoá Việt Nam sẽ có khả năng thâm nhập vào thị trường Mỹ
Do hàng rào thuế quan giảm đáng kể nên một số ngành hàng của Việt Nam có khả năng tăng kim ngạch xuất khẩu Các ngành hàng này gồm có gạo qua chế biến (thuế nhập khẩu từ 24% xuống còn 5,8%), các sản phẩm từ gỗ (thuế nhập khẩu từ 29,4% xuống còn 2,1%), các sản phẩm từ thịt đặc biệt là thịt ướp lạnh (thuế nhập khẩu từ 23,1% xuống còn 4,7%) Ngành hàng rau quả có triển vọng tăng mạnh xuất khẩu sang thị trường Mỹ vì thuế nhập khẩu giảm từ 21% xuống còn 5,4%, ngoài ra dự báo nhu cầu nhập khẩu rau quả trong tương lai của Mỹ tăng mạnh [3, tr 18]
Đối với một số mặt hàng khác như cà phê, cao su, điều, chè, thuỷ sản do thuế nhập khẩu vào thị trường Mỹ trước đây vốn đã gần bằng mức thuế ở quy chế quan hệ bình thường (MNF) nên ảnh hưởng của Hiệp định khó làm tăng khả năng xuất khẩu, trừ khi công tác xúc tiến thương mại và tìm kiếm bạn hàng được đẩy mạnh
Một số phân tích định lượng cụ thể:
- Về xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam vào thị trường Mỹ:
Trang 38Mỹ đang là một thị trường nhiều triển vọng mà Việt Nam mới bắt đầu khai thác kể
từ khi Mỹ bỏ chính sách cấm vận kinh tế đối với Việt Nam Thị trường này có sức mua lớn
và giá cả tương đối ổn định Tuy vậy, thời gian qua, hàng thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này vẫn ở mức khiêm tốn so với nhu cầu nhập khẩu to lớn của thị trường
Mỹ
Với GDP bình quân hàng năm 30.000 USD, mức tăng trưởng trung bình của nền kinh tế là 4%/năm, Mỹ là một thị trường có sức tiêu dùng cao, đặc biệt là thuỷ sản, trung bình mỗi năm người Mỹ tiêu thụ hết khoảng 4,09 pounds (tương đương 8,4 kg) Trong tương lai, mức thiêu thụ thuỷ sản sẽ ngày càng tăng mạnh do xu hướng ngày càng có nhiều người Mỹ chuyển sang sử dụng sản phẩm thuỷ sản cho bữa ăn chính trong gia định Do đó, Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu thuỷ sản hấp dẫn đối với nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Vì vậy, ngay từ năm 1994, Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ với kim ngạch khoảng 6 triệu USD Con số này không ngừng tăng lên qua các năm, cụ thể: năm
1999 đạt 125,9 triệu USD, năm 2000: 304,359 triệu USD, năm 2001 (năm đầu tiên thực hiện Hiệp định BTA) đạt 500 triệu USD và năm 2003 kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ đạt
600 triệu USD Như vậy, xu hướng xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ tăng, nếu năm 1998 mức tăng là 11,6% thì đến năm 2001 mức tăng là 27,8% [32, tr.123]
- Về xuất khẩu cà phê Việt Nam vào thị trường Mỹ:
Trong những năm 90 của thế kỷ XX, cà phê đã trở thành một trong 10 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn ở nước ta Năm 1994, Việt Nam đã bắt đầu khai thác thị trường tiềm năng về tiêu thụ cà phê là Mỹ và Hy Lạp Sau 10 tháng kể từ khi Mỹ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam (2/1994), tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam vào thị trường Mỹ đã đạt 23 triệu USD và chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam Đồng thời việc thực hiện Hiệp định BTA xuất khẩu cà phê của Việt Nam liên tục gia tăng Tính đến tháng 6 năm 2006, xuất khẩu cà phê của Việt Nam vào thị trường
Mỹ đã đạt 51.809 tấn với giá trị 59.487.639 USD, thị phần xuất khẩu cà phê cao thứ hai sau Cộng hoà liên bang Đức [51]
- Tổng hợp về xuất khẩu nông sản vào thị trường Mỹ
Trang 39Xuất khẩu nông sản hiện đóng góp 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Trong
đó thị trường Mỹ là một trong những thị trường tiêu thụ nông sản lớn nhất thế giới, nhập khẩu nông nghiệp hàng năm của Mỹ lên tới 38 tỷ USD
So với các thị trường có mức thu nhập và tiêu dùng bình quân đầu người tương đương Mỹ như EU hay Nhật Bản thì xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ do thuế nhập khẩu trung bình đối với sản phẩm nông nghiệp của các thị trường này cao hơn rất nhiều so với Mỹ, ví dụ đối với EU là 45% trong khi đó
Mỹ là 13% Vì thế khi Hiệp định thương mại được thi hành thì xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ sẽ có cơ hội tăng lên đáng kể Với giá trị xuất khẩu nông nghiệp trên đầu người của Việt Nam vẫn còn rất thấp, chỉ đạt 23 USD/đầu người so với Thái Lan là 150 USD/đầu người và khả năng sản xuất nông sản nhiệt đới khá tốt, nên tiềm năng xuất khẩu nông sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ còn rất lớn Bức tranh chung về xuất khẩu của Việt Nam (trong đó có xuất khẩu một số nông sản) được cải thiện nhiều trong những năm qua
+ Hàng hoá của Việt Nam đã và đang thâm nhập vào các thị trường khó tính như
EU, Mỹ, Nhật Bản
+ Thị trường Mỹ là một trong 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Năm
2004, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ đạt 5 tỷ USD, tăng 26,9% so với năm 2003
+ Xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ tăng trưởng nhanh Nhờ đó, vị thế của Việt Nam trên thị trường này tăng từ thứ 56 (năm 2001) lên thứ
40 năm 2003 và thứ 37 năm 2004 Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ chiếm gần 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, tăng hơn 7 lần so với năm 2000 Trong đó, nhiều sản phẩm nông sản đã đạt kim ngạch xuất khẩu cao như thuỷ sản: 600 triệu USD, rau quả: 150 triệu USD và năm 2005, sản phẩm nhân điều đã chiếm 41% thị trường Mỹ [16, tr 60-61]
Mặc dù thị trường Mỹ là một thị trường tiềm năng nhưng các doanh nghiệp của Việt Nam tiếp cận chưa được nhiều bởi sau khi lệnh cấm vận được dỡ bỏ năm 1994, các doanh nghiệp Việt Nam mới tiếp cận, tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại để triển khai hoạt động xuất khẩu nông sản và việc khai thác mạnh thị trường này chỉ sau khi thực hiện Hiệp
Trang 40định BTA, do đó nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam chưa tạo được chỗ đứng vững chắc trên thị trường Mỹ Điều này có thể thấy được phần nào qua việc so sánh kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ so với xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và EU
Bảng 2.1: Một số mặt hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường
Tuy nhiên bên cạnh những cơ hội lớn mở ra cho hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam thì cũng có không ít thách thức Thị trường Mỹ là thị trường cạnh tranh rất lớn, bên cạnh yếu tố chất lượng, giá cả là một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá liệu các sản phẩm của Việt Nam có thể cạnh tranh và đứng trên thị trường Mỹ hay không
Cũng theo cam kết của Hiệp định, Việt Nam sẽ mở cửa cho hàng hoá của Mỹ tiếp cận thị trường nội địa Một số ngành hàng và doanh nghiệp trước đây được ưu đãi và độc