Peter S.Rose đưa ra một khái niệm mới về Ngân hàng: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết ki
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THÀNH CÔNG
Hà Nội - 2014
Footer Page 1 of 161.
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Lưu Thị Hương Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thành Công
Mã sinh viên : A17734 Chuyên ngành : Tài chính
Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện dưới sự
hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc
và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thành Công
Footer Page 3 of 161.
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ từ phía nhà trường, thầy cô, anh chị và các bạn Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin được gửi lời cám ơn chân thành tới:
Giáo viên hướng dẫn - PSG.TS Lưu Thị Hương đã hướng dẫn và truyền đạt tận tình kinh nghiệm giúp em có định hướng và phương pháp nghiên cứu đúng đắn trong suốt quá trình hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp
Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Kinh tế - Quản lý Trường Đại học Thăng Long đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Khóa luận
Ban lãnh đạo và các anh chị phụ trách mảng Tín dụng và Quan hệ khách hàng Ngân hàng Thuơng mại Cổ phần Đông Nam Á – PGD 562 Trần Khát Chân đã giúp
đỡ, chỉ bảo, cung cấp thêm những kiến thức sâu rộng hơn về hoạt động, nghiệp vụ Ngân hàng Thuơng mại, tạo điều kiện cho em thực tập và hoàn thành Khóa luận Cuối cùng, em xin gửi lời cám ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã động viên, khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cả về vật chất và tinh thần để em hoàn thành khóa luận này
Do thời gian có hạn, trình độ kiến thức còn nhiều hạn chế nên Khóa luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những thiếu xót Em rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thành Công
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
DPRR Dự phòng rủi ro ĐVT Đơn vị tính LNST Lợi nhuận sau thế
NN Nhà nước NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTW Ngân hàng Trung ương PGD Phòng giao dịch
TMCP Thương mại Cổ phần
TW Trung ương VCSH Vốn chủ sở hữu VHĐ Vốn huy động VNĐ Việt Nam đồng
Footer Page 5 of 161.
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức SeA Bank - PGD 562 Trần Khát Chân 27
Bảng 2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á PGD 562 Trần Khát Chân 29
Bảng 2.2 Tình hình nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – PGD 562 Trần Khát Chân 30
Bảng 2.3 Tình hình biến động huy động vốn qua các năm 31
Bảng 2.4 Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của PGD 562 Trần Khát Chân giai đoạn 2011 - 2013 33
Bảng 2.5 Tình hình huy động vốn của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – PGD 562 Trần Khát Chân giai đoạn 2011 – 2013 35
Bảng 2.6 Huy động vốn theo kỳ hạn của SeAbank giai đoạn 2011 – 2013 38
Bảng 2.7 Chi phí trả lãi nguồn vốn huy động giai đoạn 2011- 2013 39
Bảng 2.8 Một số chỉ tiêu đánh giá mối quan hệ huy động vốn 40
Bảng 2.9 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn 41
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu sở hữu SeAbank 25
Biểu đồ 2.2 Quy mô nguồn vốn huy động theo thành phần kinh tế 36
Biểu đồ 2.3 Huy động theo loại tiền gửi 37
Trang 7MỤC LỤC CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1 Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại 1
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng Thương mại 1
1.1.1.1 Khái niệm 1
1.1.1.2 Hoạt động của Ngân hàng Thuơng mại 2
1.1.2 Hoạt động huy động vốn 6
1.1.2.1 Vốn của Ngân hàng Thương mại 7
1.1.2.2 Huy động vốn của Ngân hàng Thương mại 9
1.1.2.3 Vai trò của vốn 13
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn 15
1.2.1 Khái niệm hiệu quả huy động vốn 15
1.2.2 Các chi tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn 16
1.2.2.1 Tốc độ tăng trưởng vốn huy động 16
1.2.2.2 Cơ cấu vốn huy động 17
1.2.2.3 Sự phù hợp giữa huy động vốn và sử dụng vốn 18
1.2.2.4 Chi phí huy động vốn 19
1.2.2.5 Tính ổn định 19
1.2.2.6 Hiệu quả sử dụng vốn 20
1.2.2.7 Một số chỉ tiêu khác 20
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng Thương mại 21 1.3.1 Nhân tố chủ quan 21
1.3.1.1 Chính sách lãi suất và phí dịch vụ của Ngân hàng 21
1.3.1.2 Hình thức huy động vốn của Ngân hàng 21
1.3.1.3 Vị thế, uy tín của Ngân hàng 21
1.3.1.4 Mạng lưới huy động vốn, công nghệ, cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ của Ngân hàng 22
1.3.2 Nhân tố khách quan 22
1.3.2.1 Môi trường pháp lý 22
1.3.2.2 Môi trường chính trị trong và ngoài nước 23
1.3.2.3 Môi trường kinh tế xã hội 23
Footer Page 7 of 161.
Trang 8CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
TMCP ĐÔNG NAM Á – PHÒNG GIAO DỊCH 562 TRẦN KHÁT CHÂN 25
2.1 Khái quát về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Nam Á và phòng giao dịch 562 Trần Khát Chân 25
2.1.1 Khái quát về Ngân hàng Thuơng mại Cổ phần Đông Nam Á 25
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á 25
2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á PGD 562 Trần Khát Chân 26
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức 27
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – Phòng giao dịch 562 Trần Khát Chân 28
2.1.2.1 Các hoạt động chủ yếu của PGD 28
2.1.2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của PGD 29
2.2 Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – Phòng giao dịch 562 Trần Khát Chân 31
2.2.1 Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – Phòng giao dịch 562 Trần Khát Chân 31
2.2.1.1 Huy động vốn nợ 32
2.2.1.2 Tỷ trọng các loại vốn huy động 35
2.2.2 Phân tích hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – Phòng giao dịch 562 Trần Khát Chân 39
Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn: 39
2.3 Đánh giá thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – Phòng giao dịch 562 Trần Khát Chân 42
2.3.1 Kết quả 42
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 44
2.3.2.1 Hạn chế 44
2.3.2.2 Nguyên nhân 45
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á – PHÒNG GIAO DỊCH 562 TRẦN KHÁT CHÂN 48
3.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – Phòng giao dịch 562 Trần Khát Chân 48
Trang 93.1.2 Định hướng của SeA bank - PGD 562 Trần Khát Chân 50
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – Phòng giao dịch 562 Trần Khát Chân 50
3.2.1 Đa dạng hóa hình thức huy động vốn 50
3.2.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu 51
3.2.3 Vận dụng linh hoạt chính sách lãi suất 53
3.2.4 Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất 54
3.2.5 Áp dụng các chiến lược marketing 54
3.2.6 Nâng cao trình độ cán bộ nhân viên 55
3.3 Kiến nghị 56
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước, Chính phủ 56
3.3.1.1 Ổn định tình hình kinh tế vĩ mô 56
3.3.1.2 Hoàn thiện môi trường pháp lý 57
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 58
3.3.3 Kiến nghị với hội sở Ngân hàng TMCP Đông Nam Á 59
Footer Page 9 of 161.
Trang 10LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vốn có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội Vốn là cơ sở, nền tảng để tổ chức mọi hoạt động trong nền kinh tế Một quốc gia có tiềm lực vốn mạnh
sẽ tạo đà phát triển kinh tế bền vững Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, vốn là
cơ sở để Ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh Những ngân àng có nguồn vốn dồi dào sẽ có nhiều thế mạnh hoạt động, gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường
Để đáp ứng tốt cho nhu cầu hoạt động của bản thân Ngân hàng, thông qua đó góp phần đẩy nhanh sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi hệ thống Ngân hàng Thương mại phải tận dụng, khai thác triệt để mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong và ngoài nước Vì vậy, ngoài lượng vốn cần thiết ban đầu, việc làm thế nào
để tăng quy mô vốn huy động ổn định qua các năm, đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu sử dụng vốn của Ngân hàng với chi phí hợp lý là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam
Trong giai đoạn đầu phát triển, hệ thống các Ngân hàng Thương mại còn phải hoạt động trong môi trường nhiều khó khăn do tồn đọng nặng nề của chế độ cũ, tình hình tài chính bất ổn, lạm phát cao, các tổ chức kinh tế làm ăn thua lỗ,… Ngày nay, các văn bản quy phạm điều chỉnh hoạt động các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội thông qua bao gồm: Luật Ngân hàng Nhà nước, luật các Tổ chức tín dụng,… tạo môi trường mới và cũng là động lực phát triển cho các Ngân hàng Thương mại cổ phẩn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á (SeABank) được thành lập năm
1994 là một trong những Ngân hàng Thương mại cổ phần ra đời sớm nhất tại Việt Nam Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, SeAbank hiện nay là một trong 8 Ngân hàng Thương mại cổ phần có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam, đã tạo được uy tín và thương hiệu trong lĩnh vực Ngân hàng SeAbank đang phấn đấu trở thành Ngân hàng bán lẻ tiêu biểu tại Việt Nam Thêm vào đó, sự cạnh tranh gay gắt tồn tại không chỉ ở riêng hệ thống Ngân hàng Thương mại mà còn từ sự tham gia ngày càng nhiều của các tổ chức tài chính phi Ngân hàng Từ đó đòi hỏi Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á phải có những giải pháp huy động vốn đúng đắn, thích hợp mới đáp ứng được nhu cầu vốn cho nên kinh tế, đồng thời thực hiện được chiến lược phát
triển đã đặt ra Trên cơ sở đó em đã lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả huy động
vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á” làm đề tài Khóa luận tốt
nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào 3 nội dung chính:
Trang 11– Làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần
– Phân tích, đánh giá thực trạng huy động vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á giai đoạn 2011 – 2013
– Đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường nguồn vốn một cách ổn định, vững chắc, nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế và hoàn thành sứ mệnh, mục tiêu của Ngân hàng
3 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp thu thập thông tin, kết hợp với phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp nhằm giải quyết mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, luận giải các vấn đề có liên qua đến nội dung đề tài
4 Đối tương và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á – Phòng giao dịch 562 Trần Khát Chân, phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á giai đoạn 2011 – 2013 Khóa luận được hoàn thành và nghiên cứu tại Phòng giao dịch nên chỉ tập trung nghiên cứu trên giác độ Vốn nợ của Ngân hàng thương mại
5 Kết cấu Khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu đồ số liệu và danh mục
từ viết tắt, kết cấu khóa luận gồm ba chương:
Chương I: Những lý luận cơ bản về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thuơng mại
Chương II: Thực trạng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thuơng mại Cổ phần Đông Nam Á – SeABank
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng Thuơng mại Cổ phần Đông Nam Á – SeABank
Footer Page 11 of 161.
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng Thương mại
1.1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng được hình thành và phát triển trải qua một quá trình lâu dài với nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau Trong thời kỳ đầu vào khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, các Ngân hàng còn hoạt động độc lập với nhau và thực hiện các chức năng như nhau đó là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán trong kinh tế và phát hành giấy bạc Ngân hàng
Sang thế kỷ XVIII, lưu thông hàng hóa ngày càng mở rộng và phát triển Việc các Ngân hàng cùng thực hiện chức năng phát hành giấy bạc Ngân hàng làm cho lưu thông có nhiều loại giấy bạc khác nhau đã gây cản trở cho quá trình lưu thông hàng hóa và phát triển kinh tế Chính điều này đã dẫn đến sự phân hóa trong hệ thống Ngân hàng Hệ thống Ngân hàng được phân chia thành hai nhóm:
– Nhóm Ngân hàng được phép phát hành tiền được gọi là Ngân hàng phát hành, sau chuyển thành Ngân hàng Trung ương
– Nhóm Ngân hàng không được phát hành tiền, chỉ làm trung gian tín dụng và trung gian thanh toán giữa các chủ thể trong nền kinh tế
Ngân hàng Thương mại ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh của nhân dân và nền kinh tế Sự phát triển của hệ thống Ngân hàng Thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa Ngược lại, kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao trào của nó – kinh tế thị trường – Ngân hàng Thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện hơn và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được Hiện nay, nhiều quốc gia, lãnh thổ, tổ chức, các nhà kinh tế đưa ra định nghĩa về Ngân hàng Thương mại
Theo World Bank, “Ngân hàng là tổ chức nhận tiền gửi chủ yếu dưới dạng
không kỳ hạn hoặc tiền gửi rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi không kì hạn) có kỳ hạn và các khoản tiết kiệm”
Ở Mỹ, “Ngân hàng Thương mại là một công ty chuyên cung cấp dịch vụ tài
chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính”
Ở Pháp, “Ngân hàng Thương mại là những xí nghiệp thường xuyên nhận của
công chúng dưới hình thức tiền gửi hay hình thức khác và họ dùng vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”
Trang 13Ở Ấn Độ, “Ngân hàng Thương mại là cơ sở xác nhận các khoản tiền gửi để cho
vay, tài trợ và đầu tư”
Nhà kinh tế học David Begg định nghĩa: “Ngân hàng Thương mại là trung gian
tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gửi”
Thomas P.Flitch cho rằng: “Tổ chức Ngân hàng là một công ty nhận tiền gửi
thực hiện cho vay, thanh toán séc và thực hiện các dịch vụ liên quan cho công chúng Ngân hàng Thương mại đầu tư quỹ từ các người gửi tiền để vay”
Peter S.Rose đưa ra một khái niệm mới về Ngân hàng: “Ngân hàng là một loại
hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”
Theo luật các tổ chức tín dụng: “Ngân hàng thuơng mại là tổ chức tín dụng
được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật” (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ
chức và hoạt động của NHTM)
Theo Luật Ngân hàng nhà nước:
Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng
với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng,
cung ứng dịch vụ thanh toán
Như vậy Ngân hàng Thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế
Từ đó có thể nói bản chất của Ngân hàng Thương mại được thể hiện qua các điểm sau:
– Ngân hàng Thuơng mại là một tổ chức kinh tế
– Ngân hàng Thuơng mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch
vụ Ngân hàng
1.1.1.2 Hoạt động của Ngân hàng Thương mại
a Hoạt động huy động vốn
Đây là hoạt động tạo lập nguồn vốn cho Ngân hàng Thương mại Vốn huy động
là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn của Ngân hàng Với phương châm “đi vay để cho nợ”, vốn huy động là nguồn nguyên liệu chính, đóng vai trò
Footer Page 13 of 161.
Trang 14quyết định và mang tính chất sống còn đối với hoạt động của Ngân hàng Ngân hàng Thương mại huy động vốn dưới các hình thức sau:
– Nhận tiền gửi: Ngân hàng Thương mại thực hiện việc mở tài khoản tiền gửi để huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các hình thức tiền gửi khác theo đúng quy định của Pháp luật
– Phát hành giấy tờ có giá: Ngân hàng Thương mại phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
– Vay từ các tổ chức tín dụng khác: Đây là hoạt động các Ngân hàng Thương mại tiến hành vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên Ngân hàng nhằm đáp ứng như cầu dự trữ chi trả cấp bách và các hoạt động kinh doanh khác của Ngân hàng
– Vay từ Ngân hàng Nhà nước: Đây thường là sự lựa chọn cuối cùng của các Ngân hàng Thương mại trong việc đi vay vốn Ngân hàng Nhà nước cho vay đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn và cung ứng phương tiện thanh toán Đặc biệt, trong các trường hơp khẩn cấp, có nguy cơ mất an toàn cho hệ thống và bổ sung vốn trong thanh toán điện tử liên Ngân hàng
– Các hình thức huy động vốn khác: Ngân hàng Thương mại thực hiện huy động vốn
ủy thác đầu tư, tài trợ của Chính phủ, của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
b Hoạt động cho vay, đầu tư
Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của Ngân hàng Thuơng mại
Dự trữ: Hoạt động tín dụng của Ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời, song cần
phải bảo đảm an toàn để giữ vững được lòng tin của khách hàng Muốn có được sự tin cậy về phía khách hàng, trước hết phải bảo đảm khả năng thanh toán: đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng Muốn vậy các Ngân hàng phải để dành một phần vốn không sử dụng để sẵn sàn đáp ứng nhu cầu thanh toán Phần vốn để dành này gọi là dự trữ Ngân hàng Nhà nước được phép ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo từng thời kỳ nhất định, việc trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộc do chính phủ quy
định Dự trữ bao gồm:
– Dự trữ sơ cấp: bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, tại các Ngân hàng khác
Trang 15– Dự trữ thứ cấp: là dự trữ không tồn tại bằng tiền mà bằng chứng khoán, nghĩa là các chứng khoán ngắn hạn có thể bán để chuyển thành tiền một cách thuận lợi Thuộc loại này gồm:
+ Tín phiếu kho bạc
+ Hối phiếu đã chấp nhận
+ Các giấy nợ ngắn hạn khác
Gọi là dự trữ thứ cấp bởi nó chỉ được sử dụng khi các khoản mục dự trữ sơ cấp
bị cạn kiệt Khi quản lý dự trữ bắt buộc, Ngân hàng Trung ương có thể áp dụng một trong 3 phương pháp
– Phương pháp phong toả: Theo đó toàn bộ mức dự trữ bắt buộc phải gửi vào một tài khoản tại Ngân hàng Trung ương và sẽ bị phong toả để đảm bảo thực hiện đúng mức dự trữ
– Phương pháp bán phong toả: Theo đó một phần của mức dự trữ bắt buộc sẽ được quản lý và phong toả tại một tài khoản riêng ở Ngân hàng Trung ương
– Phương pháp không phong toả: theo phương pháp này tiền dự trữ được tính và thực hiện hàng ngày trên cơ sở số dư thực tế về tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn Toàn bộ mức dự trữ sẽ không bị phong toả, nó có thể tồn tại dưới hình thức tiền mặt hay tiền gửi Ngân hàng Trung ương hay dưới dạng chứng khoán ngắn hạn
là tùy Ngân hàng Thương mại, tuy nhiên đến cuối mỗi tháng, Ngân hàng Trung ương sẽ kiểm tra việc thực hiện dự trữ bắt buộc, nếu các Ngân hàng Thương mại không thực hiện đúng sẽ bị phạt (cảnh cáo, phạt tiền nếu tái phạm)
Cấp tín dụng: Số vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các Ngân hàng
Thương mại có thể dùng để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân bao gồm:
– Cho vay: Là tín dụng nghiệp vụ của Ngân hàng Thương mại Trong đó Ngân hàng Thương mại sẽ cho người đi vay vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng Khi đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi Ngân hàng kiểm soát được người đi vay, kiểm soát được quá trình sử dụng vốn Người đi vay
có ý thức trả nợ cho nên bắt buộc họ phải quan tâm đến việc sử dụng làm sao có hiệu quả để hoàn trả nợ vay Trong cho vay, mức độ rủi ro rất lớn, không thu hồi được vốn vay hoặc trả không hết hoặc không đúng hạn,… do chủ quan hoặc khách quan Do đó khi cho vay các Ngân hàng cần sử dụng các biện pháp bảo đảm vốn vay: thế chấp, cầm cố,…
– Chiết khấu: Đây là nghiệp vụ cho vay gián tiếp mà Ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và một chủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng Các đối tượng trong nghiệp vụ này gồm hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy
nợ có giá khác
Footer Page 15 of 161.
Trang 16– Cho thuê tài chính: Là loại hình tín dụng trung, dài hạn Trong đó các công ty cho thuê tài chính dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định Người đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định
kỳ Khi kết thúc hợp đồng thuê người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại thiết bị cho bên cho thuê
– Bảo lãnh Ngân hàng: là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận Ngân hàng Thương mại bảo lãnh cho vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh Ngân hàng khác bằng
uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh Mức bảo lãnh đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của Ngân hàng Thương mại theo duy định của pháp luật trong từng thời kỳ
– Bao thanh toán: là hình thức Ngân hàng Thương mại cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Bao thanh toán gồm hai hình thức:
+ Bao thanh toán truy đòi: là hình thức bao thanh toán, trong đó: đơn vị bao thanh toán có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng cho bên bán hàng khi bên mua hàng không
có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu Vì vậy, trong bao thanh toán truy đòi, tổn thất chỉ thực sự xảy ra trong trường hợp khoản phải thu không được thanh toán và người bán không thể bù đắp được thiếu hụt
+ Bao thanh toán miễn truy đòi: là hình thức bao thanh toán, trong đó đơn vị bao thanh toán chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu Đơn vị bao thanh toán chỉ có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng trong trường hợp bên mua từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán giao hàng không đúng hợp đồng hoặc vì lý do khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng
Đầu tư: Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay,
nó mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể cho Ngân hàng Thuơng mại Trong nghiệp vụ này, Ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác
để đầu tư dưới các hình thức như:
Trang 17– Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các Công ty; hùn vốn mua cổ phần chỉ được phép thực hiện bằng vốn của Ngân hàng;
– Mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty,…
Tất cả hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thu nhập, mặt khác nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động Ngân hàng sẽ được phân tán, mặt khác đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì mức độ rủi ro sẽ rất thấp
Tài sản Có khác: Những khoản mục còn lại của tài sản Có trong đó chủ yếu là
tài sản cố định nhằm: Xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, trang thiết bị, máy móc, phương tiện vận chuyển, xây dựng hệ thống kho quỹ…ngoài
ra còn các khỏan phải thu, các khoản khác…
c Hoạt động trung gian khác
Dịch vụ Ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ đáng kể cho nghiệp vụ khai thác vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừa tạo ra thu nhập cho Ngân hàng bằng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí… có vị trí xứng đáng trong giai đoạn phát triển hiện nay của Ngân hàng Thuơng mại Các hoạt động này gồm:
– Các dịch vụ thanh toán thu chi hộ cho khách hàng (chuyển tiền, thu hộ séc, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán);
– Nhận bảo quản các tài sản quí giá, giấy tờ chứng thư quan trọng của công chúng; – Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo uỷ nhiệm của khách hàng;
– Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng bạc đá quí;
– Tư vấn tài chính, giúp đỡ các công ty, xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu,…
1.1.2 Hoạt động huy động vốn
Vốn có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Xuất phát từ đặc điểm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ, Ngân hàng Thương mại huy động lượng vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay, thông qua đó tìm kiếm lợi nhuận
cho Ngân hàng Theo giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng Thương mại – trường Đại học Thăng Long (PGS.TS Mai Văn Bạn), “Vốn của Ngân hàng Thương mại là toàn bộ
các vốn tiền tệ được Ngân hàng Thương mại tạo lập bằng nhiều hình thức để cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng Vốn của Ngân hàng Thương mại gồm: Vốn chủ sở hữu và vốn nợ” Trong đó, vốn chủ sở hữu bao gồm vốn cấp 1 và
vốn cấp 2, vốn nợ là toàn bộ nguồn vốn huy động từ bên ngoài cụ thể bao gồm: vốn huy động từ tiền gửi, vốn huy động thông qua việc phát hành giấy tờ có giá, vốn huy động từ các tổ chức tín dụng và vốn vay khác Mỗi loại vốn đều có vai trò và tính
Footer Page 17 of 161.
Trang 18chất riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng, có tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại
1.1.2.1 Vốn của Ngân hàng Thương mại
a Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Thương mại cổ phần là vốn thuộc quyền sở hữu của chủ Ngân hàng, được hình thành thông qua sự góp vốn mua cổ phần của các chủ
sở hữu và từ kết quả kinh doanh hàng năm của Ngân hàng Đây là điều kiện đầu tiên
để cơ quan Nhà nước xem xét và cho phép Ngân hàng được thành lập và đi vào hoạt động Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng thương mại được sử dụng với mục đích lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, cơ sở vật chất, trụ sở làm việc và tài trợ vốn cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Theo thông tư số 13/2010/TT-NHNN, vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Thương mại bao gồm: Vốn cấp 1 và Vốn cấp 2
Vốn cấp 1 là nguồn vốn có độ ổn định cao, là giới hạn để xác định quy mô và phạm vi hoạt động của Ngân hàng
Vốn cấp 2: bao gồm 50% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật, 40% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính theo quy định của pháp luật, trái phiếu chuyển đổi do tổ chức tín dụng phát hành và các công
cụ nợ khác, thỏa mãn các điều kiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, quỹ dự phòng tài chính tối đa bằng 1,25% tổng tài sản có rủi ro
Ngân hàng Thương mại là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, chịu sự chế tài chặt chẽ của Nhà nước Do đó, vốn chủ sở hữu của Ngân hàng có những đặc điểm riêng biệt khác với các doannh nghiệp thông thường trong nền kinh tế, cụ thể:
– VCSH là điều kiện tiên quyết để Ngân hàng Thương mại được thành lập và đi vào hoạt động Do hoạt động của Ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro nên khi có sự biến động trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng sẽ có khả năng dẫn đến sự xáo trộn lớn trong nền kinh tế Vì vậy, Ngân hàng phải có năng lực tài chính mạnh, đủ
để tài trợ và đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh Ngân hàng
– VCSH được hình thành chủ yếu từ vốn góp của chủ Ngân hàng và được bổ sung trong quá trình hoạt động, phần lớn thông qua việc phát hành cổ phiếu thường và lợi nhuận giữ lại
– VCSH là giới hạn để xác định quy mô và phạm vi hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại
– VCSH chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng 10% trong tổng vốn của Ngân hàng Điều này để đảm bảo khả năng tự chủ về mặt tài chính cho Ngân hàng phục vụ cho quá trình
Trang 19b Vốn nợ của Ngân hàng Thuơng mại
Vốn huy động: là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng Thương mại, là những khoản tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội, được dùng làm vốn để kinh doanh Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, Ngân hàng được chuyển giao quyền sử dụng
và có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi khi đến hạn Nguồn vốn này luôn biến động, tuy nhiến nó đóng vai trò quan trọng đối với mọi hoạt động của Ngân hàng Ngân hàng Thương mại sử dụng các hình thức huy động vốn đa dạng và linh hoạt để tạo lập nguồn vốn kinh doanh của mình bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn, huy động vốn trên thị trường vốn bằng cách phát hành giấy tờ có giá (kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,…)
Vốn đi vay: Vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng vốn của Ngân hàng Thương mại, bao gồm: Vốn vay các Ngân hàng Thương mại khác thông qua thị trường liên Ngân hàng hoặc vay từ Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng nước ngoài
Vốn tiếp nhận: đây là nguồn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính Ngân hàng, từ ngân sách Nhà nước,… để tài trợ theo các chương trình, dự án về phát triển kinh tế
xã hội, cải thiện môi sinh,… Nguồn vốn này chỉ được sử dụng theo đúng đối tượng
và mục tiêu xác định
Vốn khác: bao gồm các nguồn vốn được phát sinh trong quá trình hoạt động của Ngân hàng Thương mại như: làm đại lý, các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, các khoản thuế chưa nộp và lương chưa trả,…
Tóm lại, nếu như vốn chủ sở hữu là nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động của Ngân hàng thì vốn nợ là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi Ngân hàng Với chức năng tập trung và phân phối cho các nhu cầu của nền kinh tế,khi vốn huy động dồi dào sẽ tạo cho Ngân hàng điều kiện để mở rộng kinh doanh, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, không bỏ lỡ cơ hội đầu tư, giảm thiểu rủi ra và tạo dựng uy tín cho Ngân hàng Vì vậy, huy động vốn luôn là một trong những hoạt động quan trọng hàng đầu của mỗi Ngân hàng Thương mại
Footer Page 19 of 161.
Trang 20Ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trên lĩnh vực tài chính – tiền tệ Vì vậy, vốn huy động của Ngân hàng Thương mại cũng có những đặc điểm riêng, khác với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế
Trước tiên, vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng Thương mại Hoạt động của Ngân hàng là đi vay để cho vay nên để đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của nền kinh tế thì nguồn vốn huy động cần chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn
Thứ hai, Ngân hàng Thương mại huy động vốn dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú, luôn luôn tuân thủ nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi trong thời gian nhất định Do vốn huy động được không phải tài sản thuộc sở hữu của Ngân hàng mà là của các chủ thể có vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, nên Ngân hàng Thương mại chỉ có quyền sử dụng tạm thời
Thứ ba, để có thể huy động, tập trung vốn trên thị trường, Ngân hàng phải trả lãi cho các chủ thể Đây là chi phí cho nguồn vốn huy động, chiếm tỉ trọng rất lớn trong tổng chi phí phải trả cho các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đặc biệt, trong thời điểm cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, khi Ngân hàng định giá lãi suất huy động vốn thì luôn phải cân nhắc tới lãi suất của đối thủ cạnh tranh, lãi suất cho vay,… và nhiều nhân tố khác
Thứ tư, cơ cấu vốn huy động phụ thuộc vào chính sách của Ngân hàng và khả năng huy động vốn của Ngân hàng đó
Thứ năm, nguồn vốn huy động luôn có biến động cao, nhu cầu sử dụng vốn của Ngân hàng là rất lớn Ngoài ra, các hoạt động của Ngân hàng luôn chứa đựng nhiều rủi ro.Vì vậy, để bảo vệ cho quyền lợi khách hàng cũng như bản thân Ngân hàng, Ngân hàng Thương mại phải chấp hành quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ
1.1.2.2 Huy động vốn của Ngân hàng Thương mại
a Huy động vốn chủ sở hữu
Hoạt động huy động vốn nợ dựa trên việc huy động vốn cấp 1 và vốn cấp 2 – Huy động vốn điều lệ Tùy từng loại hình Ngân hàng mà vốn điều lệ có nguồn huy động khác nhau:
+ Đối với Ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước: Vốn chủ sở hữu do NSNN cấp phát + Đối với NHTM liên doanh: huy động vốn chủ sở hữu từ các bên liên doanh tham gia đóng góp
+ Đối với chi nhánh NHTM nước ngoài: Vốn chủ sở hữu được huy động từ Ngân hàng mẹ ở nước ngoài bỏ ra thành lập
Trang 21+ Đối với NHTM cổ phần: Vốn chủ sở hữu huy động từ các cổ đông đóng góp dưới hình thức vốn cổ phần, mỗi cổ phần có giá trị như nhau, mỗi cá nhân, pháp nhân được nhận quyền tham gia một số cổ phần nhất định gồm: Vốn cổ phần thường, vốn
cổ phần ưu đãi
– Quỹ dự trữ:
Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Quỹ này được hình thành nhằm mục đích bổ sung vốn chủ sở hữu của Ngân hàng khi cần thiết, để đáp ứng yêu cầu mở rộng quy
mô hoạt động của Ngân hàng Hiện nay ở Việt Nam, các Ngân hàng được trích theo
tỉ lệ 5% tính trên lợi nhuận sau thuế hàng năm, mức tối đa của quỹ này không được vượt mức vốn điều lệ thực có của Ngân hàng
– Các quỹ dự phòng:
+ Quỹ dự phòng tài chính: tỷ lệ trích bằng 10% lợi nhuận sau thuế hàng năm của Ngân hàng, số dư của quỹ không được phép vượt quá 25% vốn điều lệ của Ngân hàng Quỹ này được dùng để bù đắp phần còn lại của những tổn thất, thiệt hại về tài sản xảy ra trong quá trình hoạt động sau khi đã được bù đắp bằng tiền bồi thường của các tổ chức, cá nhân gây ra tổn thất của tổ chức bảo hiểm và sử dụng dự phòng
để xử lý rủi ro do trích lập trong chi phí
+ Quỹ dự phòng để xử lý rủi ro: được hình thành bằng cách trích lập dự phòng trên từng nhóm tài sản có của Ngân hàng bao gồm nhóm hoạt động cấp tín dụng, các dịch vụ thanh toán đối với khách hàng và được tính vào chi phí của Ngân hàng + Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ: quỹ này để đầu tư mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh và đổi mới công nghệ, trạng thiết bị, điều kiện làm việc của một số tổ chức tín dụng Mức trích quỹ này bằng 50% lợi nhuận sau thuế hàng năm của Ngân hàng + Lợi nhuận không chia: phản ánh phần thu nhập của Ngân hàng có được trong hoạt động kinh doanh, nhưng không chia trả lãi cho cổ đông mà được Ngân hàng giữ lại
để tăng thêm vốn
b Huy động vốn nợ
Huy động vốn từ tiền gửi
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của Ngân hàng Thuơng mại Khi một Ngân hàng bắt đầu hoạt động nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó Ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và của dân cư Cùng với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế và sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng Thương mại, hầu hết các Ngân hàng Thương mại đang đẩy mạnh huy động vốn tiền gửi thông qua các chính sách cụ thể, rõ ràng và hiệu quả nhất Trong đó:
– Tiền gửi thanh toán (hay tiền gửi giao dịch)
Footer Page 21 of 161.
Trang 22+ Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể gửi tiền vào nhiều lần và rút ra bất cứ lúc nào Phần lớn khách hàng gửi tiền không kỳ hạn là do chưa xác định được nhu cầu chi tiêu cụ thể trong tương lai, nhưng lại mong muốn thu được mức lãi trong khoản tiền nhàn rỗi Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào Ngân hàng giữ và thanh toán hộ Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp
và cá nhân đều được Ngân hàng thực hiện Các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhnp và tiền gửi thanh toán theo yêu cầu
+ Đây là nguồn vốn có chi phí huy động vốn thấp, thậm chí không phải trả lãi cho nguồn vốn này Vì vậy, độ ổn định của nguồn vốn này thường thấp, Ngân hàng khó
dự đoán về quy mô, đồng thời kỳ hạn tiềm năng của loại tiền này là ngắn nhất + Sản phẩm dịch vụ thanh toán của Ngân hàng khá đa dạng, bao gồm cả thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế Cụ thể, Ngân hàng Thương mại cung cấp sản phẩm, dịch vụ thanh toán trong nước thông qua các phương thức thanh toán sau: Ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, séc thanh toán, ATM,… Các sản phẩm thanh toán quốc tế như: chuyển tiền, nhờ thu, L/C Trong hoạt động này, Ngân hàng Thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người mua và người cung cấp dịch vụ hàng hóa
– Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
+ Là những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi mà khách hàng gửi vào Ngân hàng với mục đích chính là hưởng lãi Đây là nguồn tiền gửi có kỳ hạn ngắn, thường từ một năm trở xuống
+ Là khoản tiền mà khách hàng chỉ được rút ra khi đến hạn thanh toán Tuy nhiên, trên thực tế để thu hút khách hàng, Ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút trước hạn với điều kiện hưởng lãi suất thấp (thường bằng mức tiền gửi không kỳ hạn, thậm chí không được hưởng lãi)
+ Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện cho hoạt động thanh toán song lãi suất lại thấp Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền, Ngân hàng đã đưa ra hình thức gửi tiền có kỳ hạn Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến Ngân hàng để rút tiền ra Tuy không thuận lợi cho tiêu dùng bằng hình thức tiền gửi thanh toán, song tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cao hơn tùy theo độ dài của kỳ hạn
+ Đối với nguồn vốn huy động này, Ngân hàng phải trả lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn Tuy nhiên, khách hàng lại không được hưởng dịch vụ thanh toán
từ Ngân hàng Để tạo tính lỏng cho các loại tiền gửi có kỳ hạn, Ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng,… mục đích là tạo cho khách hàng có nhiều kỳ hạn gửi, phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ có
Trang 23+ Thông thường, đây là nguồn vốn có độ ổn định tương đối cao và có quy mô lớn Vì vậy, Ngân hàng luôn tìm cách đa dạng hóa các loại hình tiền gửi này để thu hút khách hàng để chủ động cho vay, đầu tư, mạng lại thu nhập lớn cho Ngân hàng
Huy động vốn thông qua phát hành công cụ nợ
Đây là hình thức huy động vốn thông qua việc phát hành các giấy tờ có giá của Ngân hàng Thương mại Hiện nay, Ngân hàng Thương mại được quyền huy động thông qua việc phát hành các công cụ nợ như: kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi
và các giấy tờ có giá khác Trong đó, Ngân hàng thường phát hành chứng chỉ tiền gửi
và kỳ phiếu để huy động vốn ngắn hạn và phát hành trái phiếu để huy động vốn trung
và dài hạn Các loại giấy tờ có giá được Ngân hàng Thương mại phát hành từng đợt với mục đích, số lượng và kế hoạch cụ thể sử dụng phải được Ngân hàng Nhà nước chấp nhận và phải được công bố rộng rãi Đối tượng mua là các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế
Nguồn vốn này tương đối ổn định, do đó Ngân hàng có thể giải quyết được những khoản vốn thiếu hụt khi khả năng thu hút vốn bằng nguồn tiền gửi bị hạn chế, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sử dụng vốn của Ngân hàng Tuy nhiên, lãi suất Ngân hàng trả cho nhà đầu tư thường cao hơn lãi suất huy động từ tiền gửi có cùng
kỳ hạn
Trong các hoạt động nêu trên, để tăng tiện ích cho nhà đầu tư cũng như tăng tính thanh khoản cho các giấy tờ có giá, các Ngân hàng Thương mại tiến hành thực hiện chiết khấu giấy tờ có giá khi khách hàng có nhu cầu Điều này làm gia tăng tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trên thị trường, giúp Ngân hàng có khả năng mở rộng vốn kinh doanh từ hoạt động huy động vốn này
Bằng hình thức huy động vốn thông qua phát hành công cụ nợ này, Ngân hàng Thương mại có thể gia tăng các nguồn vốn ngắn, trung và dài hạn để thực hiện các
dự án đầu tư, cho vay, chủ động tạo được khối lượng vốn lớn, đáp ứng nhu cầu vốn cấp bách đầu tư cho các công trình lớn của quốc gia,…
Huy động vốn từ hoạt động đi vay
Ngân hàng huy động vốn bằng việc đi vay Ngân hàng Thương mại hoặc tổ chức tín dụng khác trên thị trường, vay Ngân hàng Nhà nước Đây là hoạt động không thường xuyên nhưng lại rất cần thiết trong hoạt động kinh doanh của mỗi Ngân hàng Thương mại
– Huy động vốn trên thị trường liên Ngân hàng: Đây là nguồn các Ngân hàng Thương mại vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên Ngân hàng Nguồn vốn vay mượn giữa các Ngân hàng để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách Trong nhiều trường hợp, nó có thể bổ sung hoặc thay thế cho
Footer Page 23 of 161.
Trang 24nguồn vay từ Ngân hàng Nhà nước Đó là một thỏa thuận tín dụng giữa hai bên và
có thể được thực hiện ở trên thị trường nội tệ hay ngoại tệ Lãi suất của khoản vay này phụ thuộc vào quy mô của món vay, thị trường, kỳ hạn và thường cao hơn so với các nguồn tiền huy động khác Tuy nhiên, việc đi vay trên thị trường này không phải lúc nào cũng dễ dàng Bởi lẽ, nếu trong cùng một thời điểm tất cả các Ngân hàng đều gặp vấn đề về thanh khoản, khi đó, các Ngân hàng Thương mại phải tìm đến nguồn cho vay cuối cùng là Ngân hàng Nhà nước
– Huy động vốn từ Ngân hàng Nhà nước: đây là hình thức huy động vốn thông qua việc Ngân hàng Thương mại xin vay vốn của Ngân hàng Nhà nước nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của Ngân hàng Thương mại Trong các trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu hụt dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán), vay trong trường hợp đặc biệt và có nguy cơ gây mất khả năng an toàn cho hệ thống Hình thức cho vay
có cầm cố giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao như: Trái phiếu Chính phủ, Tín phiếu kho bạc, Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước,… Đây thường là lựa chọn cuối cùng của các Ngân hàng Thương mại vì Ngân hàng Nhà nước điều hành hoạt động vay mượn này một cách rất chặt chẽ Tuy nhiên, đây vẫn là nguồn bổ sung vốn cực
kỳ quan trọng đối với Ngân hàng Thương mại trong những thời điểm nhất định – Huy động vốn khác: Ngoài các nguồn kể trên, Ngân hàng còn thực hiện huy động vốn thông qua nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán, các nguồn khác,… Ngân hàng Thương mại thực hiện các dịch vụ ủy thác như cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát, ủy thác giải ngân và thu hộ,… Các hoạt động này tạo nên nguồn ủy thác tại Ngân hàng Ngoài ra, Ngân hàng có thể sử dụng các khoản vốn trong thanh toán hay những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của bản thân Ngân hàng, các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả,… để phục vụ cho hoạt động kinh doanh mang lại nguồn thu cho Ngân hàng
1.1.2.3 Vai trò của vốn
a Vai trò của vốn với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Thứ nhất, vai trò bảo vệ Ngân hàng của vốn chủ sở hữu
Vốn đóng vai trò như tấm đệm giúp Ngân hàng chống lại những rủi ro phá sản, giúp Ngân hàng trang trải những thua lỗ về tài chính cho tới khi việc quản lý có thể tập trung giải quyết các vấn đề và đưa Ngân hàng trở lại hoạt động bình thường, sinh lời Ngoài ra, vốn chủ sở hữu còn giúp Ngân hàng nâng cao uy tín, lòng tin với khách hàng cũng như các nhà đầu tư Trong nền kinh tế thị trường, đề tồn tại và mở rộng quy mô hoạt động thì các Ngân hàng phải có uy tín trên thị trường Uy tín đó thể hiện trước tiên ở khả năng sẵn sàng thanh toán cho khách hàng khi họ có như cầu Khả
Trang 25năng thanh toán của Ngân hàng càng cao, vốn khả dụng càng cao Mặt khác, uy tín của Ngân hàng còn thể hiện ở khả năng cho vay và đầu tư của Ngân hàng
Thứ hai, vai trò hoạt động của vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là điều kiện bắt buộc để Ngân hàng hoạt động Đây là nguồn cơ bản giúp Ngân hàng có thể chuẩn bị các tài sản cần thiết như trụ sở làm việc, máy móc, thiết bị trước khi Ngân hàng đi vào hoạt động Không chỉ vậy, vốn chủ sở hữu còn cung cấp năng lực tài chính cho quá trình tăng trưởng và mở rộng quy mô, phạm
vi hoạt động của Ngân hàng cũng như cho sự phát triển của các sản phẩm dịch vụ mới, các chương trình hiện đại hóa công nghệ, trang thiết bị của Ngân hàng
Thứ ba, vai trò điều chỉnh các hoạt động Ngân hàng
Các cơ quan quản lý Ngân hàng, các nhà chức trách tiền tệ luôn xem vốn chủ sở hữu của Ngân hàng là một trong những căn cứ quan trọng để đưa ra các quy định, chuẩn mực nhằm giám sát, điều hành và điều chỉnh hoạt động kinh doanh của mỗi Ngân hàng Bên cạnh đó, Ngân hàng có lượng vốn huy động dồi dào sẽ hoàn toàn chủ động trong hoạt đọng kinh doanh của mình, không bị phụ thuộc vào các đối tượng cho vay và không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh Vốn huy động lớn cũng làm tăng khả năng hoạt động của Ngân hàng như: chủ động đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro và tăng thu nhập, đạt mục tiêu cuối cùng là an toàn và sinh lời
Thứ tư, vốn ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô hoạt động của Ngân hàng
Vốn huy động cho phép Ngân hàng cho vay, đầu tư để thu lợi nhuận Nói cách khác, nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được có ảnh hưởng lớn đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, quyết định quy mô cũng như định hướng hoạt động của Ngân hàng Nguồn vốn huy động được càng nhiều thì cho vay được nhiều và mang lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng và ngược lại Bên cạnh vốn lớn hay nhỏ, tính ổn định của vốn cũng đóng vai trò quan trọng Một Ngân hàng có lượng vốn ổn định sẽ dễ dàng trọng việc hoạch định cung ứng đầu tư, cho vạy Việc dự kiến chính xác lượng vốn cung ứng sẽ giúp Ngân hàng ước tính được mức lợi nhuận sẽ thu được trong tương lai để có hướng hoạt động thích hợp
Thứ năm, vốn quyết định năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
Vốn lớn là điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế cả về quy mô, khối lượng, thời gian và thời hạn cho vay Những Ngân hàng quy mô vốn lớn se có ưu thế cạnh tranh hơn so với các Ngân hàng có quy
mô vốn nhỏ trên nhiều phương diện (lãi suất, khả năng cung ứng các dịch vụ,…) Vốn của Ngân hàng càng lớn, sức chịu đựng của Ngân hàng càng lớn khi tình hình
Footer Page 25 of 161.
Trang 26kinh tế - xã hội biến động, khó khăn từ đó thu hút càng nhiều khách hàng đến với Ngân hàng hơn
b Vai trò của vốn đối với nền kinh tế
Vốn là chìa khóa, là điều kiện hàng đầu để thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Vốn trong nền kinh tế được coi nhu máu trong cơ thể, thiếu vốn nền kinh tế sẽ chậm phát triển Cũng như vậy, vốn của Ngân hàng Thương mại đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt động kinh doanh mà còn có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Thông qua các kênh huy động vốn, các khoản tiết kiệm được đưa vào đầu tư, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Thực tế cho thấy dù các doanh nghiệp lớn mạnh cũng không thể có một lượng vốn lớn hơn tổng số tiền dự trữ của dân chúng Mỗi người trong xã hội chỉ có một số tiền nhỏ nhưng tập hợp lại sẽ trở thành một nguồn vốn lớn Thông qua các hình thức huy động vốn, phần lớn số vốn tích trữ tập trung qua hệ thống ngân hàng và đưa vào công cuộc đầu tư mang tính chất sản xuất tạo ra của cải cho xã hội Mặt khác, nhờ vào việc huy động vốn ngân hàng thương mại mới làm tốt chức năng trung gian tín dụng điều hòa tiền tệ từ nơi tạm thời thừa đến nơi tạm thời thiếu vốn, có như vậy người dân mới được cấp tín dụng, mới có khả năng trang bị đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Việc huy động vốn của Ngân hàng giúp cho nền kinh tế có được sự cân đối về vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giúp lượng vốn tạm thời nhàn rỗi từ chỗ là phương tiện cất giữ thành vốn tín dụng lớn, đồng thời kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đem lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội như tạo điều kiện cho quá trình tái sản xuất, mở rộng, tạo nhiều việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống cho người dân,…
Tóm lại, vốn huy động của Ngân hàng Thương mại đóng vai trò rất quan trọng, không chỉ đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại mà còn đối với
sự phát triển của cả nền kinh tế Từ đó, ta thấy được việc liên tục nâng cao hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại là rất cần thiết
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn
1.2.1 Khái niệm hiệu quả huy động vốn
Trước khi đi sâu phân tích một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại, ta cần hiểu được thế nào là huy động vốn có hiệu quả Như đã phân tích ở trên, hoạt động huy động vốn có vai trò quan trọng không chỉ với bản thân Ngân hàng Thương mại mà còn quan trọng đối với cả nền kinh tế Vì vậy, huy động vốn có hiệu quả khi nguồn vốn đó đáp ứng tốt được nhu
Trang 27cho xã hội Bên cạnh đó, mỗi Ngân hàng Thương mại, đối với từng thời kỳ đều có những mục tiêu cụ thể đề ra đối với hoạt động huy động vốn của đơn vị mình Khi Ngân hàng đạt được những mục tiêu đã đề ra thì có thể coi hoạt động huy động vốn trong giai đoạn đó là có hiệu quả Tuy nhiên, những mục tiêu được đề ra đó cần phải hợp lý và sát với tình hình thực tế của Ngân hàng
Để đánh giá hiệu quả vốn huy động, cần xem xét các chỉ tiêu: Mức độ tăng trưởng vốn ổn định, quy mô vốn phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn, chi phí vốn, kỳ hạn vốn hợp lý
1.2.2 Các chi tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn
1.2.2.1 Tốc độ tăng trưởng vốn huy động
Vốn huy động tăng trưởng ổn định theo thời gian sẽ đáp ứng nhu cầu tín dụng cũng như hoạt động kinh doanh khác ngày càng tăng của Ngân hàng Nếu Ngân hàng huy động được một lượng vốn đủ lớn phù hợp với quy mô và nhu cầu của mình, thì khi có một lượng tiền lớn bị rút ra cũng sẽ không gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của Ngân hàng, Ngân hàng cũng không gặp khó khăn trong vấn đề thanh khoản Vốn huy động tăng trưởng ổn định sẽ khẳng định được vị thế uy tín và thương hiệu của Ngân hàng Một Ngân hàng có đủ tiềm năng về tài chính cũng như uy tín mới có thể giữ được mức tăng trưởng về huy động vốn ổn định qua các năm Tính ổn định của vốn huy động quyết định một phần an toàn trong kinh doanh Ngân hàng và thời hạn tín dụng Nó phản ánh khả năng tìm kiếm các khoản nợ mới nhanh chóng với lãi suất thấp nhằm tăng cường khả năng thanh khoản của Ngân hàng Vốn huy động tăng trưởng ổn định sẽ tạo lập và định hướng chiến lược kinh doanh cụ thể cho Ngân hàng trong việc sử dụng vốn có hiệu quả
Tốc độ tăng trưởng vốn kinh doanh =
Tổng vốn kỳ này – Tổng vốn HĐ kỳ trước
Tổng vốn huy động kỳ trước
Hệ số này lớn hơn 0 cho thấy, tổng vốn của kỳ này lớn hơn tổng vốn của kỳ trước, hiệu quả huy động vốn có xu hướng gia tăng bởi vốn huy động tăng sẽ làm cho tổng vốn tăng theo Nếu hệ số này nhỏ hơn 0, chứng tỏ tổng nguồn vốn kỳ này nhỏ hơn tổng nguồn vốn kỳ trước, hay nói cách khác tốc độ tăng trường của nguồn vốn kinh doanh có xu hướng giảm Do đó, Ngân hàng cần xem xét lại cách thức huy động vốn để khắc phục tình trạng trên Trường hợp hệ số bằng 0, chứng tỏ tổng vốn
kỳ này và kỳ trước không đổi, hay tốc độ tăng trưởng vốn kinh doanh không đổi Vì vậy, Ngân hàng cần nâng cao hiệu quả huy động vốn
Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng vốn huy động:
Footer Page 27 of 161.
Trang 28Tốc độ tăng trưởng
vốn huy động =
Tổng vốn HĐ năm sau – Tổng vốn HĐ năm trước
Tổng vốn huy động năm trước Chỉ tiêu này phản ánh chính xác hiệu quả trong hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Chỉ tiêu này âm cho thấy vốn huy động của Ngân hàng tăng trưởng âm, Ngân hàng đang gặp khó khăn trong huy động vốn Vì vậy, Ngân hàng cần có những biện pháp hiệu quả hơn để tăng vốn huy động Chỉ tiêu này dương cho thấy vốn huy động của Ngân hàng tăng trưởng dương, tức là nguồn vốn huy động kỳ này đã lớn hơn so với kỳ trước Với chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng của vốn còn cho ta biết mức độ biến động của ngườn vốn Nếu tốc độ tăng trường đều các năm, có thể khẳng định nguồn vốn huy động gia tăng ổn định Ngoài ra, chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng vốn còn được tính cho quy mô từng loại vốn
Quy mô vốn có tốc độ tăng trưởng ổn định giúp Ngân hàng có thể dự báo tương đối chính xác lượng vốn có thể huy động được để có kế hoạch đầu tư, cho vay kỳ tiếp theo Đồng thời, tốc độ gia tăng của từng loại vốn ở mỗi thời điểm sẽ cho Ngân hàng dự đoán sự thay đổi về quy mô và kết cấu vốn Từ đó, Ngân hàng có thể đưa ra phương thức huy động vốn hiệu quả hơn
1.2.2.2 Cơ cấu vốn huy động
Cơ cấu vốn chủ yếu cho thấy chất lượng vốn của Ngân hàng, mức độ phù hợp, cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn Cơ cấu vốn huy động ảnh hưởng đến cơ cấu tài sản, quyết định chi phí của Ngân hàng Cơ cấu vốn được chia theo nhiều tiêu chí khác nhau, phụ thuộc vào từng mục đích của Ngân hàng, có thể được phân loại theo đối tượng huy động vốn, theo kỳ hạn, theo loại tiền huy động,… Cơ cấu vốn được phản ánh thông qua tỷ trọng tương ứng với loại vốn trong tổng vốn huy động của Ngân hàng
Trang 29Nếu tỷ lệ huy động vốn ngắn hạn tăng cho thấy Ngân hàng thực hiện tốt việc huy động vốn ngắn hạn Tuy nhiên, đây là nguồn có độ ổn định không cao Vì thế, Ngân hàng cần có biện pháp hấp dẫn hơn để huy động được nguồn vốn trung và dài hạn Ngược lại, nếu nguồn vốn mà ngân hàng huy động được chủ yếu là nguồn vốn
có kỳ hạn dài, chứng tỏ tính ổn định của nguồn vốn cao Song chỉ phí bỏ ra để có nguồn vốn này thường cao hơn nguồn vốn ngắn hạn
Ngân hàng luôn phải thiết lập cơ cấu vốn hợp lý, ổn định nhằm tối đa hóa lợi nhuận, giảm chi phí thấp nhất có thể Với cơ cấu vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn thích hợp sẽ hạn chế các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
1.2.2.3 Sự phù hợp giữa huy động vốn và sử dụng vốn
Từ kế hoạch sử dụng vốn để có chiến lược huy động vốn phù hợp Huy động vốn đảm bảo phù hợp với sử dụng vốn cả về loại tiền, kỳ hạn, lãi suất sẽ góp phần đem lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng và thực hiện đúng cam kết với khách hàng Quy mô nguồn vốn của một NHTM cần phải có sự ổn định, phù hợp với lãi suất và
kỳ hạn của nó Sự gia tăng vốn theo tiêu chí nào là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động của Ngân hàng, là điều kiện để Ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao tính thanh khoản và ổn định của nguồn vốn Quy mô vốn cần phải được xây dựng theo từng giai đoạn, tùy thuộc vào định hướng chiến lược phát triển chung của Ngân hàng, khả năng thay đổi cơ cấu nguồn hoặc tìm kiếm nguồn mới Trên thực tế Ngân hàng không thể sử dụng hết số vốn huy động được để cho vay mà phải giữ lại một tỷ lệ nhất định để đảm bảo khả năng thanh khoản nhằm mục đích an toàn trong hoạt động kinh doanh, sử dụng để chi trả khi khách hàng có nhu cầu rút tiền Tính thanh khoản của vốn huy động được đo bằng khả năng tìm kiếm nguốn vốn mới với chi phí và thời gian bỏ ra thấp nhất Thanh khoản hợp lý là không tích trữ quá nhiều các nguồn vốn khả dụng, tích trữ quá nhiều sẽ giảm tỷ suất sinh lời của vốn Một Ngân hàng được xem là có tính thanh khoản nếu như Ngân hàng đó có khả năng huy động được vốn khả dụng với chi phí thấp vào đúng thời điểm phát sinh yêu cầu thanh khoản Cầu thanh khoản chủ yếu phát sinh khi nhu cầu rút tiền gửi và nhu cầu vay vốn của những khách hàng có chất lượng tín dụng cao nhưng lại không báo trước với NHTM, nhu cầu nộp thuế, trả cổ tức, thanh toán các khoản vay từ NHNN và các NHTM khác Cung thanh khoản thông thường có 3 nguồn chính: Tiền mặt hay ngân quỹ; các tài sản khác có tính thanh khoản cao: chứng khoán khả mại, trái phiếu, tín phiếu kho bạc; vốn vay trên thị trường tiền tệ để bổ sung thanh khoản Nếu cung thanh khoản lớn hơn cầu thì Ngân hàng vẫn còn dư vốn, Ngân hàng nên tiếp tục đầu
tư có hiệu quả nguồn vốn khả dụng cho tới khi yêu cầu thanh khoản mới xuất hiện Nếu cung nhỏ hơn cầu thì Ngân hàng phải có kế hoạch bổ sung nguồn vốn khả dụng
Footer Page 29 of 161.
Trang 30từ các nguồn khác nhau sao cho chi phí thấp nhất Thanh khoản mang tính thời kỳ và bao giờ cũng gắn với tính chất và chu kỳ do đó Ngân hàng có thể sử dụng nhiều nguồn để đáp ứng
Mặt khác, mục đích của Ngân hàng là huy động để cho vay và đầu tư nên Ngân hàng thường tìm cách khai thác và sử dụng tối đa số vốn và huy động vốn để sử dụng hiệu quả cao nhất chi phí vốn đã bỏ ra, mang lại nhiều nhất lợi nhuận Nếu huy động vốn nhiều nhưng sử dụng vốn ít thì kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cũng sẽ không có hiệu quả Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc Ngân hàng phải đối mặt với những nguy cơ rủi ro cao, do đó các Ngân hàng phải cân nhắc kỹ xem nên huy động vốn ở mức nào để đảm bảo hoạt động có hiệu quả mà vẫn an toàn Huy động vốn và sử dụng vốn được coi là hai hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của một Ngân hàng Mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn còn được thể hiện ở kỳ hạn, loại tiền và mức chi phí huy động Hiểu được mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn Ngân hàng mới có thể có được mức lãi suất, kỳ hạn và loại tiền huy động phù hợp đảm bảo lợi nhuận Ngân hàng thu được là lớn nhất
1.2.2.4 Chi phí huy động vốn
Chi phí huy động vốn là toàn bộ số tiền Ngân hàng phải bỏ ra để có được số vốn đó, bao gồm chi phí trả lãi và các chi phí khác Để phục vụ cho việc quản lý chi phí huy động vốn và xác định các mức lãi suất tiền gửi, tiền vay một cách hợp lý, các Ngân hàng thường tính toán lãi suất huy động vốn bình quân, được tính bằng công thức sau:
Lãi suất huy động bình quân =
Tổng lãi phải trả Tổng tiền gửi và tiền vay
1.2.2.5 Tính ổn định
Tính ổn định được coi là chỉ tiêu quan trọng nhất khi tiến hành đánh giá hiệu quả huy động vốn Vốn có ổn định thì Ngân hàng mới có thể lên kế hoạch sử dụng vốn một cách an toàn và có hiệu quả Do vậy, tính ổn định của vốn không chỉ biểu hiện ở mặt số lượng mà còn có sự ổn định về thời gian Vốn huy động phải có sự tăng trường ổn định về quy mô để đáp ứng nhu cầu cho vay, đầu tư đảm bảo sự tăng trưởng của Ngân hàng Tính ổn định về thời gian giúp Ngân hàng chủ động trong việc sử dụng vốn hợp lý, đem lại lợi nhuận cao và đảm bảo an toàn trong thanh toán của Ngân hàng
Ngoài ra, tính ổn định của nguồn vốn còn được thể hiện qua kỳ hạn của nguồn vốn Ngân hàng Thương mại thường dùng những nguồn ngắn hạn để cho vay trung
và dài hạn trong thời gian cho phép Vì thế, quản lý kỳ hạn sẽ giúp Ngân hàng có thể
Trang 31lên kế hoạch cho vay và đầu tư hợp lý Nguồn vốn kỳ hạn chứng tỏ sự ổn định về thời gian của nguồn vốn cao Ngược lại, nguồn vốn không kỳ hạn hay kỳ hạn ngắn của Ngân hàng nhiều chứng tỏ tính ổn định của vốn thấp
1.2.2.6 Hiệu quả sử dụng vốn
Nếu một Ngân hàng Thương mại có nguồn sử dụng vốn tương xứng với vốn huy động, chứng tỏ vốn huy động được sử dụng có hiệu quả, công tác huy động vốn của Ngân hàng thành công Do phần lớn thu nhập từ hoạt động sử dụng vốn sẽ bù đắp phần nào chi phí huy động vốn và đem lại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng Hơn nữa, việc sử dụng vốn tốt sẽ thúc đẩy hoạt động huy động vốn Cho nên, khi đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn, người ta thường xem xét đến công tác sử dụng vốn của Ngân hàng đó
– Thời gian để huy động một số lượng vốn nhất định
– Một số chỉ tiêu khác như số lượng vốn bị rút trước hạn, kỳ hạn thực tế của nguồn – Số lượng các công cụ huy động: Tùy theo đặc điểm kinh doanh mà mỗi Ngân hàng
áp dụng một hệ thống các công cụ khác nhau trong quá trình huy động vốn Số lượng các công cụ này cũng là một yếu tố phản ánh năng lực của một Ngân hàng Chỉ những Ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng, phong phú, có trình độ nhân viên cao, có năng lực quản lý tốt mới có điều kiện phát triển nhiều loại công
cụ huy động vốn khác nhau
Footer Page 31 of 161.
Trang 32Trên đây là một số chỉ tiêu dùng để đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn Tuy nhiên, nếu chỉ dùng một chỉ tiêu không thể phản ánh đầy đủ được, phải kết hơp nhiều chỉ tiêu để đánh giá đúng thực chất hiệu quả hoạt động huy động vốn tại một Ngân hàng Thương mại
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng Thương mại 1.3.1 Nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Chính sách lãi suất và phí dịch vụ của Ngân hàng
Lãi suất được coi là giá cả của các sản phẩm dịch vụ tài chính Ngân hàng sử dụng hệ thống lãi suất tiền gửi như một công cụ quan trọng trong việc huy động tiền gửi và thay đổi quy mô nguồn vốn Để duy trì và thu hút thêm, Ngân hàng cần ấn định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện những ưu đãi về giá cho khách hàng lớn, gửi tiền thường xuyên Hơn nữa, hệ thống lãi suất cần linh hoạt, phù hợp với quy mô và
cơ cấu nguồn vốn Song song với đó là đưa ra các dịch vụ đa dạng, phong phú, đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng với mức phí hợp lý
Tuy nhiên, Ngân hàng cũng cần phải chú ý rất nhiều đến lãi suất tiền vay để có thể có các hoạt động kinh doanh hợp lý, đem lại hiệu quả các khoản thu nhập cao nhất cho Ngân hàng, bù đắp được các khoản chi phí bỏ ra mà vẫn mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng
1.3.1.2 Hình thức huy động vốn của Ngân hàng
Hình thức huy động vốn càng phong phú, hấp dẫn thì Ngân hàng càng có khả năng huy động được nhiều vốn hơn Do vậy, các Ngân hàng luôn tìm cách đa dạng hóa hình thức huy động để cạnh tranh, thu hút vốn Ngân hàng có thể đưa ra nhiều loại hình gửi tiết kiệm với nhiều kỳ hạn, các hình thức tiết kiệm dự thưởng hấp dẫn, tiết kiệm trả la biậc thang theo bậc về thời gian gửi tiền và theo quy mô tiền gửi
1.3.1.3 Vị thế, uy tín của Ngân hàng
Khách hàng thường tin tưởng vào một Ngân hàng hoạt động lâu năm hơn một Ngân hàng mới thành lập Mặc dù không phải tất cả các Ngân hàng có thâm niên hoạt động lâu hơn thì đều tốt hơn, mà vì Ngân hàng nào hoạt động lâu năm thì khách hàng có thể hiểu rõ về Ngân hàng đó để gửi tiền như: uy tín, thế lực trên thị trường,
có nguồn vốn, có khả năng thanh toán, chi trả,… Do đó, các Ngân hàng Thuơng mại cần nâng cao uy tín thông qua các nghiệp vụ của mình, từng bước thỏa mãn tối đa nhu cầu của người gửi tiền, hoạt động kinh doanh có lãi và giữ chữ tín trong lòng khách hàng là tiền đề cho việc huy động vốn
Trang 331.3.1.4 Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ của Ngân hàng
Ngân hàng có mạng lưới huy động vốn càng rộng rãi càng có khả năng thu hút được nhiều vốn Các Ngân hàng ở gần trung tâm tài chính, thành thị, khu đông dân
cư thường có khả năng huy động vốn cao Đồng thời các Ngân hàng cũng không ngừng mở rộng mạng lưới ra các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, tạo ra một mạng lưới huy động rộng rãi, tạo điều kiện thuận lợi cho người gửi tiền
Khách hàng luôn muốn giao dịch kinh doanh với các Ngân hàng có trụ sở kiên
cố và bề thế, có công nghệ hiện đại, có trình độ chuyên môn cao Điều này đòi hỏi các Ngân hàng phải đầu tư hiện đại hóa công nghệ, nâng cấp cơ sở hạ tầng, thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho nhân viên Trong môi trường kinh doanh hiện nay, Ngân hàng có thái độ phục vụ tốt sẽ chiếm được cảm tình của khách hàng Khi đó, Ngân hàng có thể tạo được hình ảnh tốt đối với các khách hàng quen thuộc cũng như tiếp cận thêm được những khách hàng mới Có thể nói, Ngân hàng cần phải chú trọng tới thái độ và phong cách phục vụ đối với khách hàng
1.3.2 Nhân tố khách quan
1.3.2.1 Môi trường pháp lý
Cũng như các tổ chức tín dụng khác hoạt động trong nền kinh tế thị trường, hệ thống Ngân hàng Thuơng mại cũng chịu sự quản lý chặt chẽ của Pháp luật và các cơ quan chức năng của Chính phủ Mọi vấn đề liên quan đến Ngân hàng và sự hình thành hoạt động của Ngân hàng Thuơng mại đều được quy định một cách rõ ràng bằng các văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định, thông tư,… Sự thay đổi của một quy định pháp lý trong một thời kỳ nào đó sẽ đem đến cho Ngân hàng những cơ hội và thách thức mới
Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng không chỉ chịu sự tác động của các bộ luật Ngân hàng mà nó còn chịu tác động của nhiều bộ luật khác như: Luật Doanh nghiệp, luật các Tổ chức Tín dụng, luật đầu tư nước ngoài,… và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Các bộ luật này tác động trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động của Ngân hàng
Ngày nay, hoạt động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng Thuơng mại nước ta luôn phải đặt mình trong môi trường pháp luật thay đổi Bởi Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập, đổi mới, đặc biệt là kể từ khi ra nhập tổ chức kinh tế Thế giới WTO Vì thế mà luật pháp cũng phải có những thay đổi theo chiều hương phù hợp với chuẩn mực quốc tế
Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ, đầu tư của Ngân hàng Nhà nước cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc mở rộng huy động vốn của Ngân hàng Thuơng mại
Footer Page 33 of 161.
Trang 34– Về chính sách tiền tệ: là chính sách vĩ mô do Ngân hàng Trung ương xây dựng, tổ chức thực hiện để kiểm soát lượng tiền cung ứng Do vậy, ở mỗi thời kỳ khác nhau,
sự tác động của nó là khác nhau
+ Dưới góc độ mục tiêu của chính sách tiền tệ: Tùy theo từng thời kỳ, từng giai đoạn của nền kinh tế mà mục tiêu của chính sách tiền tệ có thể là: Bình ổn giá cả, tăng trưởng kinh tế,… Tùy thuộc vào việc thực hiện mục tiêu nào của chính sách tiền tệ
mà sự ảnh hưởng của nó đến nghiệp vụ huy động vốn là như thế nào
+ Dưới góc độ các công cụ của chính sách tiền tệ: Các công cụ chinh sách tiền tệ mà Ngân hàng Trung ương có thể sử dụng là: Hạn mức tín dụng, Chính sách tái chiết khấu, Dự trữ bắt buộc, Lãi suất,… để tác động vào hệ thống Ngân hàng Qua đó tác động tới nền kinh tế, thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tê đã đề ra
– Về chính sách đầu tư của Nhà nước: là các chính sách ưu tiên phát triển một ngành nghề nào đó Có thể ưu tiên về thuế, về vốn đầu tư,…
Trong mỗi giai đoạn của nền kinh tế, chính sách đầu tư của Nhà nước là khác nhau, phù hợp với thực tiễn khách quan Các chính sách này đều tác động tới hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn của Ngân hàng nói riêng
1.3.2.2 Môi trường chính trị trong và ngoài nước
Có thể nói đây là yếu tố khách quan đối với tất cả các ngành nghề kinh doanh, không riêng gì ngành Ngân hàng Sự ổn định cả trong và ngoài nước có tác động rất
rõ rệt Các cuộc bãi công, biểu tình, sụp đổ chính phủ luôn kéo theo tình trạng huy động vốn của Ngân hàng bị trì trệ do người dân không còn tin vào hệ thống Ngân hàng Thương mại Ngược lại, nếu chính trị càng ổn định thì các cá nhân, doanh nghiệp sẽ yên tâm sản xuất kinh doanh, tạo nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế Từ
đó, quy mô vốn huy động của Ngân hàng ngày càng được mở rộng
1.3.2.3 Môi trường kinh tế xã hội
Mọi hoạt động kinh doanh đều chịu tác động, ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội Với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cũng vậy Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng chính là cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế
Trong chu kỳ nền kinh tế đang tăng trường, các chủ thể kinh tế nói chung có cơ hội để tăng thu nhập của mình, có điều kiện tích lũy cho tương lai Vì thế, công tác huy động vốn cũng có cơ hội để mở rộng Kinh tế tăng trưởng cộng với xu thế hội nhập, tạo cơ hội thu hút nguồn vốn càng lớn không chỉ ở thị trường trong nước mà còn ở thị trường nước ngoài Mặt khác, kinh tế phát triển còn tạo điều kiện cho Ngân hàng mở rộng các hình thức huy động vốn qua các kênh phân phối hiện đại như: Hệ
Trang 35những điều đó giúp Ngân hàng có thể mở rộng quy mô hoạt động huy động vốn dễ dàng hơn Ngược lại, nền kinh tế suy thoái, việc mở rộng sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, môi trường đầu tư của Ngân hàng bị thu hẹp, công tác mở rộng quy mô huy động vốn cũng gặp nhiều khó khăn
Trong nền kinh tế như hiện nay, lạm phát là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn Vì khi lạm phát xảy ra kéo theo đó là nền kinh tế rơi vào trạng thái khủng hoàng làm cho: giá cả tăng lên, đồng tiền mất giá,… Khi đó việc huy động vốn từ dân chúng là rất khó khăn, mà tỷ trọng tiền từ dân cư luôn chiếm tỷ trọng lớn trong lượng vốn huy động của Ngân hàng Bởi vậy, họ cho rằng khi xảy ra lạm phát, tiền của họ gửi vào Ngân hàng sẽ không sinh lời bằng việc đầu tư vào các lĩnh vực khác,…
Với xu hướng quốc tế hóa, hội nhập kinh tế quốc tế giữa các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới Nên mỗi biến động về kinh tế, chính trị, xã hội trên thế giới đều có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong nước Chẳng hạn như: sự biến động của nền kinh tế Mỹ trong thời gian qua đã ảnh hưởng rõ rệt đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói riêng Đặc biệt là liên quan đến vấn đề tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ Tỷ giá hối đoái thay đổi đã ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và cũng tác động trực tiếp đến hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng
Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thuơng mại chỉ là một phần trong tổng thể các hoạt động kinh doanh, vay vốn Nó nhạy cảm với các yếu tố chính trị, xã hội đảm bảo các chính sách quan trọng của đất nước, nhất là hoạt động kinh tế ổn định Môi trường chính trị, xã hội ổn định khiến cho khách hàng yên tâm gửi tiền vào Ngân hàng Ngược lại nếu chính trị, xã hội bất ổn sẽ khiến cho khách hàng ngần ngại trong việc gửi tiền vào Ngân hàng Điều này làm cho công tác huy động vốn của Ngân hàng gặp nhiều khó khăn
Footer Page 35 of 161.
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN
HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á – PHÒNG GIAO DỊCH 562 TRẦN KHÁT CHÂN
2.1 Khái quát về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Nam Á và phòng giao dịch 562 Trần Khát Chân
2.1.1 Khái quát về Ngân hàng Thuơng mại Cổ phần Đông Nam Á
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á
– Tên gọi (viết đầy đủ): Ngân hàng TMCP Đông Nam Á
– Tên giao dịch quốc tế: Southeast Asia Commercial Joint Stock Bank
– Viết tắt: SGD Ngân hàng TMCP SeABank
– Gọi tắt: SeABank Sở Giao Dịch
Ngân hàng TMCP Đông Nam Á gọi tắt là SeAbank có trụ sở chính tại 25 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội SeAbank được biết đến là một trong những Ngân hàng dẫn đầu các Ngân hàng Thuơng mại cổ phần lớn nhất Việt Nam về quy mô vốn điều lệ, mạng lưới hoạt động, mức độ nhận biết thương hiệu và tốc độ tăng trưởng, phát triển ổn định
Thành lập từ năm 1994, SeAbank trải qua chẳng đường 19 năm phát triển để đạt được thành tựu ngày hôm nay với vốn điều lệ 5.335 tỷ đồng, tổng tài sản gần 100 nghìn tỷ đồng và một mạng lưới hoạt động trên khắp 3 miền đất nước với 155 chi nhánh và điểm giao dịch
Bằng nội lực của chính mình, cùng với sực hợp tác chiến lược của liên minh cổ đông trong và ngoài nước, SeAbank vươn lên khẳng định vị thế bằng những giá trị thực chất và hiệu quả Société Générale, tập đoàn tài chính Ngân hàng hàng đầu tại Châu Âu trở thành cổ đông chiến lược nước ngoài của SeAbank từ năm 2008, đem kinh nghiệm toàn cầu hơn 150 năm vào phục vụ mục tiêu Ngân hàng bán lẻ tiêu biểu của SeAbank bằng nhiều thay đổi mang tính chiến lược về quy chuẩn sản phẩm, chất lượng dịch vụ theo mô hình đẳng cấp quốc tế VMS Mobifone, nhà cung cấp mạng thông tin di động lớn nhất Việt Nam và PV gas, nhà cung cấp khí gas hóa lỏng hàng đầu Việt Nam là các cổ đông chiến lược trong nước của SeAbank, góp phần đáng kể vào tiềm lực tài chính và giữ vũng vị thế dẫn đầu của SeAbank trong nhóm các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam
Với tư cách là thành viên chính thức của 2 tổ chức thẻ lớn nhất thế giới là MasterCard và Visa Card, SeABank cũng đã chính thức phát hành Thẻ ghi nợ quốc
tế EMV MasterCard Thẻ ghi nợ quốc tế trả sau EMV MasterCard sử dụng công nghệ thẻ chip EMV có tiêu chuẩn bảo mật cao nhất mà hiện tại ở Việt Nam nói riêng