Điều kiện đi vay của khách hàng: + Đơn vị có tình hình tài chính tốt + Nhu cầu chi tiêu đó thực sự là bức bách và không quá lớn như nhu cầu trả lương cho cán bộ công nhân viên + Khác
Trang 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY
NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội
Trong các hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thì cho vay là hoạt động chủ yếu
và mang lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng Cho vay trong hoạt động của NHTM được hiểu là giao dịch về tiền tệ giữa bên cho vay là ngân hàng và bên đi vay là các cá nhân, tổ chức trong đó, bên cho vay chuyển giao tiền cho bên đi vay sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Theo quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng,
cho vay được hiểu như sau: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức
tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
1.1.2 Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Dựa theo mục đích sử dụng tiền vay
Dựa theo mục đích sử dụng tiền vay, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại có 2 hình thức cho vay là cho vay tiêu dùng và cho vay kinh doanh:
Cho vay tiêu dùng:
Mục đích của loại cho vay này là người đi vay phải sử dụng tiền vay vào việc tiêu dùng, mua sắm nhằm mục đích phục vụ lợi ích cá nhân Khi thực hiện hình thức cho vay này, cán bộ tín dụng đã phải tính đến nguồn tiền được dùng trả nợ Ngân hàng chính
là thu nhập cá nhân của người vay tiền Hình thức cho vay này chỉ mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, khi nền kinh tế hàng hoá phát triển và những cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra, khiến giới tư bản sản xuất đã phải bỏ đi bao nhiêu hàng hoá khi mà nhu cầu tiêu dùng có nhưng không có cầu thực sự Hình thức phổ biến nhất của loại hình này là cho vay trả góp, một loại hình đã được áp dụng rất thành công ở các nước phát triển Ngân hàng có thể cho các công chức vay để họ mua sắm ô tô, xe máy, trả góp nhà
Footer Page 1 of 161.
Trang 2Cho vay để kinh doanh:
Mục đích của loại cho vay này là ngân hàng cho các doanh nghiệp hoặc cá nhân vay để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình, nhằm mở rộng sản xuất hay đáp ứng một nhu cầu nào đó về tiền của doanh nghiệp hay cá nhân Dựa vào đặc điểm của từng ngành mà Ngân hàng sẽ thiết lập các điều kiện cho vay, phương thức cho vay, cách thức trả nợ dựa trên nguồn thu tiền bán hàng của doanh nghiệp Có thể phân chia loại hình này theo tiêu thức cho vay doanh nghiệp sản xuất và cho vay thương mại hay có thể cho vay theo các ngành nghề kinh tế: Cho vay ngành công nghiệp, ngành nông nghiệp, cho vay ngành dịch vụ
1.1.2.2 Dựa theo thời hạn cho vay
Dựa theo thời hạn cho vay thì hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại bao gồm cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn:
Ngân hàng cho vay đối với doanh nghiệp nhằm tài trợ nhu cầu vốn tăng thêm cho sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp là khách hàng chiếm số lượng đông nhất của các Ngân hàng thương mại Phần lớn các khoản cho vay này có thế chấp hoặc cầm cố tài sản Các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng theo thời vụ là khách hàng chủ yếu của Ngân hàng
Ngân hàng cho vay đối với cá nhân để phục vụ mục đích tiêu dùng hoặc thực hiện
kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn hạn
Cho vay trung và dài hạn:
Đây là những khoản vay có thời hạn từ năm trở lên Doanh nghiệp có nhu cầu vay trung và dài hạn để mua trang thiết bị, xây dựng, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ với
sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, để tồn tại và phát triển, nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng cao
Ngân hàng cho nhà nước vay trung và dài hạn để phục vụ mục đích đầu tư, phát triển
Trang 33
Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định, nhằm thực hiện
dự án nhất định, có thể xin vay Ngân hàng Một trong những yêu cầu cho vay của ngân hàng là người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư, cũng như quá trình thực hiện dự án (sản xuất kinh doanh) Thẩm định dự án là điều kiện để Ngân hàng quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoà trả của doanh nghiệp
1.1.2.3 Dựa theo hình thức đảm bảo của các khoản vay
Dựa theo hình thức đảm bảo của các khoản vay thì hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại có 2 hình thức cho vay là cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay không
có tài sản đảm bảo
Cho vay có tài sản đảm bảo:
Đây là những khoản cho vay mà bên cạnh việc cho khách hàng vay vốn, Ngân hàng còn nắm giữ tài sản của người vay với mục đích xử lý tài sản đó để thu hồi vốn vay khi người đi vay vi phạm hợp đồng tín dụng Có hai hình thức bảo đảm: Cầm cố và thế chấp Sự khác biệt giữa hai hình thức bảo đảm này là quyền sử dụng tài sản bảo đảm của khách hàng Theo hình thức thế chấp, khách hàng vẫn được sử dụng tài sản đảm bảo trong thời hạn của khoản vay còn hình thức cầm cố thì không
Các khoản cho vay không có tài sản đảm bảo:
Là khoản cho vay mà Ngân hàng không nắm giữ tài sản của người đi vay để xử lý nhằm thu hồi nợ mà thay vào đó là điều kiện ràng buộc khác khi ký hợp đồng tín dụng Những điều kiện này có thể là: người đi vay không được giao dịch với Ngân hàng nào khác, hoạt động kinh doanh của người đi vay phải được Ngân hàng quản lý Có như vậy Ngân hàng mới quản lý được tình hình tài chính của người đi vay
1.1.2.4 Theo tiêu thức đối tượng khách hàng
Theo tiêu thức đối tượng khách hàng thì hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại được phân chia thành:
Cho vay chính phủ:
Đây là hoạt động cho vay đối với Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên và phục vụ cho các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia NHTM cho chính phủ vay thông qua việc mua: Trái phiếu chính phủ, Tín phiếu kho bạc
Cho vay doanh nghiệp: Đây là hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp nhằm
đáp ứng nhu cầu về vốn kinh doanh Cho vay đối với doanh nghiệp được thực hiện với nhiều phương thức khác nhau nhằm đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu vốn của các doanh nghiệp
Footer Page 3 of 161.
Trang 4Cho vay cá nhân: Đây là hoạt động cho vay đối với khách hàng là các cá nhân
nhằm phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng, kinh doanh
Cho vay các tổ chức tài chính khác như: Ngân hàng, công ty tài chính, quỹ tín
dụng…nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản
1.2 Hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về hoạt động cho vay ngắn hạn
Cho vay ngắn hạn là một hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại được phân theo thời gian của khoản vay Đó là những khoản vay có thời hạn ngắn, dưới 1 năm, thường được dùng để đáp ứng nhu cầu thiếu vốn tạm thời như phục vụ cho thanh toán hàng hoá, tài trợ, bổ sung vốn lưu động hay thanh toán ngoại thương và phục vụ nhu cầu sinh hoạt
1.2.2 Đặc điểm của cho vay ngắn hạn
Do nguồn vốn ngắn hạn dùng để cung cấp vốn cho chi tiêu, mua nguyên vật liệu, trả lương, bổ sung vốn lưu động nên số vốn vay thường nhỏ, nguồn vốn được quay vòng nhiều Trong khi đó đối tượng sử dụng vốn từ nguồn trung và dài hạn thường là những tài sản cố định có thời gian sử dung lâu dài vì vậy thời gian sử dụng vốn lâu, nguồn vốn không được quay vòng nhiều
Thời hạn thu hồi vốn nhanh:
Do nguồn vốn ngắn hạn thường được sử dụng để bù đắp những thiếu hụt trong ngắn hạn, để đảm bảo cân bằng ngân quỹ, giúp doanh nghiệp đối phó với những chênh lệch thu chi trong ngắn hạn Thông thường những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm thời hay mang tính mùa vụ, sau đó khoản thiếu hụt này sẽ được bù đắp hoặc sẽ sớm thu lại dưới hình thái tiền tệ vì vậy thời gian thu hồi vốn sẽ nhanh
Rủi ro do tín dụng ngắn hạn mang lại thông thường không cao:
Do khoản vay chỉ cung cấp trong thời gian ngắn vì vậy ít chịu ảnh hưởng của sự biến động không thể lường trước của nền kinh tế như các khoản tín dụng trung và dài hạn Ngoài ra, các khoản vay được cung cấp cho các đơn vị sản xuất kinh doanh theo hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, dựa trên tài sản bảo đảm, bảo lãnh đồng thời khoản vay thường đựơc tiến hành khi có nhu cầu cấp thiết về vốn ngắn hạn và chắc chắn
sẽ có khoản thu bù đắp trong tương lai vì vậy rủi ro mang đến thường thấp
Lãi suất thấp:
Chính vì rủi ro mang lại của khoản vay thường không cao do đó lãi suất người đi vay phải trả thông thường nhỏ hơn lãi suất khoản vay tín dụng trung và dài hạn tương
Trang 55
Hình thức cho vay phong phú:
Ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng các phương thức cho vay ngắn hạn, như: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay thấu chi, cho vay luân chuyển… Điều này vừa để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng phân tán rủi ro, tránh rủi ro phi hệ thống
Đây là loại hình kinh doanh chủ yếu tại các ngân hàng thương mại:
Xuất phát từ đặc trưng của ngân hàng thương mại là ngân hàng kinh doanh tiền gửi, mà trong đó chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn, nên để đảm bảo khả năng thanh khoản của mình, các ngân hàng thương mại đã cho vay chủ yếu là ngắn hạn
1.2.3 Vai trò của cho vay ngắn hạn
Cho vay ngắn hạn đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều rộng, thúc đẩy mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh:
Đây là một trong những vai trò quan trọng nhất của cho vay ngắn hạn Thông qua việc cung cấp vốn để mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cho vay ngắn hạn góp phần giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất Ở nước ta các doanh nghiệp vừa và nhỏ là chủ yếu, chiếm trên 90% tổng số các doanh nghiệp Đặc điểm chủ yếu của loại hình doanh nghiệp này lại là sản xuất nhỏ, nguồn vốn chủ sở hữu nhỏ, hoạt động kinh doanh lại gắn với địa phương và theo mùa
vụ Chính vì vậy, nhu cầu vay vốn ngắn hạn của các doanh nghiệp này là khá lớn và thường xuyên Đảm bảo cung cấp vốn ngắn hạn cho các doanh nghiệp chính là giúp các doanh nghiệp này mở rộng sản xuất từ đó có thêm nguồn vốn đầu tư vào kinh doanh dần dần trở thành các doanh nghiệp với quy mô lớn, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế cho đất nước
Kích thích tính năng động, linh hoạt, tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp:
Cho vay ngắn hạn là nguồn cung cấp vốn kịp thời cho các nhà kinh doanh trong trường hợp họ gặp khó khăn về vốn tạm thời như: muốn mở rộng sản xuất vào mùa vụ, cần trả tiền cho khách để giữ uy tín, trả lương cho công nhân từ đó giúp doanh nghiệp
có thể đối phó với những khó khăn về vốn, giữ cân bằng thu chi, điều hoà vốn Ngoài
ra vốn ngắn hạn chỉ cung cấp trong một thời gian ngắn do đó đòi hỏi doanh nghiệp cần đẩy nhanh tiến độ sản xuất kinh doanh – kích thích tính năng động của các doanh nghiệp
Giúp tăng nhanh vòng quay của vốn:
Footer Page 5 of 161.
Trang 6Do cho vay ngắn hạn là khoản cho vay cung cấp trong thời gian ngắn vì vậy doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp nhanh chóng thu hồi vốn để trả nợ ngân hàng qua
đó thúc đẩy gia tăng vòng quay vốn
1.2.4 Các hình thức cho vay ngắn hạn
1.2.4.1 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
Cho vay kinh doanh
Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: Đây là hoạt động cho vay mà vốn vay được
sử dụng cho mục đích sản xuất, kinh doanh trong ngắn hạn với thời gian vay dưới 1 năm Đối tượng khách hàng vay kinh doanh có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp
Cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng: Đây là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng cho mục đích tiêu dùng trong ngắn hạn với thời hạn vay dưới 1 năm Đối tượng chủ yếu vay tiêu dùng là các cá nhân
1.2.4.2 Căn cứ vào phương pháp cho vay
Cho vay thấu chi
Là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép khách hàng được sử dụng vượt quá số tiền mà họ đã ký thác ở ngân hàng trên tài khoản vãng lai với một số lượng và thời hạn nhất định Xuất phát từ việc nếu doanh nghiệp có số dư trên tài khoản tiền gửi mới được quyền chi tiêu, nhưng do một lý do nào đó mà số dư trên tài khoản tiền gửi không đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu Trường hợp đó ngân hàng có thể xem xét chấp nhận
để khách hàng được quyền chi tiêu một số tiền vượt quá số hiện có trên tài khoản Mục đích của ngân hàng chỉ để giúp khách hàng giải quyết khó khăn tạm thời về tài chính
Điều kiện đi vay của khách hàng:
+ Đơn vị có tình hình tài chính tốt
+ Nhu cầu chi tiêu đó thực sự là bức bách và không quá lớn như nhu cầu trả lương cho cán bộ công nhân viên
+ Khách hàng cần chứng minh được là sẽ có nguồn thu để trả
Đặc điểm của cho vay thấu chi:
+ Giữa ngân hàng và khách hàng thoả thuận một hạn mức tín dụng để khách hàng được sử dụng số dư nợ trên tài khoản vãng lai trong một thời hạn nhất định
+ Khách hàng sử dụng vốn bằng cách phát hành séc mang số hiệu tài khoản vãng lai hoặc bằng các công cụ thanh toán khác
Trang 7dư nợ đó
+ Vượt chi tài khoản là kỹ thuật cho vay mà số dư nợ thường xuyên biến động vì thế khó thực hiện được đảm bảo tín dụng bằng hình thức bảo đảm đối vật
Ưu nhược điểm của cho vay thấu chi:
Đối với khách hàng loại cho vay vượt chi là khoản tạo cho khách hàng những thuận lợi đáng kể nhờ vào sự chủ động, linh hoạt khi sử dụng Việc cho phép vượt chi trên tài khoản vãng lai giúp cho việc cân đối ngân quỹ mà tránh phải đi xin vay nhiều lần với thủ tục phức tạp trong một kỳ, khi mà ngay sau đó lại có những khoản thu được chuyển vào tài khoản để giảm bớt việc phải trả lãi cho ngân hàng
Với hình thức cho vay này, ngân hàng luôn luôn phải dự trữ vốn để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng khi họ còn hạn mức tín dụng, nhưng trên thực tế họ có thể không sử dụng hoặc không sử dụng hết hạn mức tín dụng đó Trong khi ấy, ngân hàng không được tính lãi trên toàn bộ số tiền và thời hạn cho vay đã thoả thuận (để giải quyết mâu thuẫn này các ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải trả một khoản phí cam kết theo một tỷ lệ nhất định tính trên hạn mức tín dụng, không kể đến việc hạn mức tín dụng đó được sử dụng như thế nào)
Mặt khác, tiền ngân hàng cho vay không nhằm mục đích cụ thể nào theo chỉ định của ngân hàng mà thường do khách hàng tuỳ ý sử dụng Các đảm bảo nếu có chỉ là yếu
tố phụ, ngân hàng khó có thể kiểm soát được việc sử dụng tiền vay Vì vậy, sự rủi ro của ngân hàng có thể nhiều hơn các nghiệp vụ tín dụng khác
Cho vay theo hạn mức tín dụng
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì Đó là số dư tính tại thời điểm tính
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn
và nhu cầu vay vốn của khách hàng Ngân hàng ước lượng các hạn mức tín dụng đối với các doanh nghiệp căn cứ vào phương án sản xuất kinh doanh và nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỉ lệ cho vay tối đa trên tổng giá trị tài sản đảm bảo, khả năng nguồn vốn của ngân hàng
Footer Page 7 of 161.
Trang 8Trong kì, khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức cuối kì
Dư nợ trong kì có thể lớn hơn hạn mức Tuy nhiên đến cuối kì, khách hàng phải trả nợ
để giảm bớt dư nợ cuối kì không được vượt quá hạn mức
Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoá hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ giải ngân cho khách hàng
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh Trong nghiệp
vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lí ngân quỹ cho khách hàng Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát được hiệu quả của từng lần vay Ngân hàng chỉ có thể phát hiện ra vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút
Cho vay từng lần
Phương thức cho vay từng lần là phương thức cho vay mà ngân hàng căn cứ vào từng kế hoạch, phương án kinh doanh, từng khâu hoặc từng loại vật tư cụ thể để cho vay
Phương thức cho vay từng lần được áp dụng khi cho vay để bổ sung nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt trong sản xuất, đối với những khách hàng sản xuất kinh doanh không
ổn định, nhu cầu vay trả không thường xuyên, có nhu cầu đề nghị vay vốn từng lần hoặc những khách hàng không có tín nhiệm cao đối với ngân hàng trong quan hệ tín dụng
mà ngân hàng nhận thấy cần phải áp dụng cho vay từng lần để giám sát, kiểm tra, quản
lý việc sử dụng vốn vay chặt chẽ, an toàn
Phương thức cho vay từng lần được áp dụng phổ biến trong cho vay ngắn hạn cũng như cho vay trung dài hạn Việc cho vay đối với từng khoản vay riêng biệt không
có sự liên hệ, phụ thuộc giữa các món vay của một khách hàng Đặc trưng của hình thức cho vay này là mỗi lần vay khách hàng phải ký kết một hợp đồng tín dụng riêng trong
đó có các nội dung như số tiền vay, lãi suất, thời hạn Đặc điểm của phương thức cho vay này là việc cho vay và thu nợ được phân định ranh giới một cách rõ ràng, dễ nhận biết được lúc nào cho vay, lúc nào thu nợ Việc cho vay và thu nợ được phân định ranh giới một cách rõ ràng, dễ nhận biết được lúc nào cho vay, lúc nào thu nợ
Ưu điểm của phương thức cho vay này là giúp cho ngân hàng mở rộng kinh doanh, tìm kiếm thu nhập, phục vụ mọi đối tượng khách hàng, đồng thời đảm bảo an toàn vốn
Trang 99
vay và tạo thế chủ động cho cả ngân hàng và khách hàng Với mức phát tiền vay cụ thể, hạn trả nợ cụ thể nên ngân hàng có thể tính toán được hiệu quả kinh tế của khoản cho vay, từ đó có thể lên kế hoạch cho vay các khoản tiếp theo một cách hợp lí tránh ứ đọng vốn và tăng hiệu quả sử dụng vốn Mặt khác, việc tính toán thu nợ, thu lãi của khoản cho vay được thực hiện đơn giản căn cứ vào số tiền cho vay, lãi suất cho vay và thời hạn vay trên hợp đồng tín dụng
Tuy nhiên, phương thức cho vay này còn có nhiều nhược điểm đối với cả ngân hàng và khách hàng Với khách hàng, đây là một hình thức vay phức tạp bởi thủ tục vay rườm rà, mỗi lần muốn vay khách hàng phải lập hồ sơ vay vốn, tốn kém thời gian, công sức gây khó khăn trong việc vay vốn làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của khách hàng, thậm chí mất cơ hội trong kinh doanh nếu không có vốn kịp thời Còn đối với ngân hàng thì phải tiến hành theo dõi từng món vay tại các thời điểm khác nhau để thu
nợ gốc và lãi nên chi phí trong kinh doanh cao mà lợi nhuận tìm kiếm trên một lần vốn đầu tư thấp Hơn nữa, việc định kỳ hạn nợ đối với các món vay đôi khi còn mang tính chủ quan của con người, đặc biệt là khi đối tượng cho vay là các thiết bị vật tư, hàng hoá của các doanh nghiệp thương mại, cho nên nếu không phù hợp sẽ dẫn tới vòng quay vốn lưu động của khách hàng lớn hơn vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng, dẫn tới tình trạng ngân hàng bị khách hàng chiếm dụng vốn hoặc nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong kế hoạch về nguồn vốn, do đó ngân hàng phải kiểm soát chặt chẽ những khách hàng của mình trong việc sử dụng vốn vay của ngân hàng
Chiết khấu giấy tờ có giá
Chiết khấu giấy tờ có giá là nghiệp vụ mua lại giấy tờ có giá từ người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán Chiết khấu là loại hình tín dụng gián tiếp, trong đó ngân hàng sẽ trả trước cho các giấy tờ có giá khi chưa đến hạn với điều kiện người xin chiết khấu phải chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ có giá đó cho ngân hàng Chiết khấu giấy tờ có giá trong ngắn hạn là hình thức ngân hàng chiết khấu những loại giấy tờ có giá có thời hạn dưới 12 tháng, bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu
và các giấy tờ ngắn hạn khác Nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá giúp người xin chiết khấu có thể chuyển đổi giấy tờ có giá thành tiền một cách nhanh nhất Đối với Ngân hàng, chiết khấu mang lại thu nhập cho ngân hàng, tăng dự trữ thứ cấp của ngân hàng
1.2.4.3 Căn cứ vào loại đồng tiền cho vay
Cho vay nội tệ
Footer Page 9 of 161.
Trang 10Cho vay nội tệ là việc ngân hàng cho các cá nhân, tổ chức vay vốn bằng đồng tiện nội tệ Việt Nam đồng Đây là hình thức cho vay chủ yếu của ngân hàng, phục vụ đa dạng các đối tượng cũng như mục đích vay vốn
Cho vay ngoại tệ
Cho vay ngoại tệ là việc ngân hàng cho vay bằng các đồng tiền ngoại tệ, không phải Việt Nam đồng Đây là hình thức cho vay để phục vụ một số mục đích như:
Cho vay để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khi khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay
Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu xăng dầu khi khách hàng vay không có hoặc không
có đủ nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay
Cho vay ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu vốn ở trong nước nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam
mà khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay
Cho vay để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với các dự án, công trình quan trọng quốc gia được Quốc hội, Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư và đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài
1.2.4.4 Căn cứ vào bảo đảm tiền vay
Cho vay có Tài sản đảm bảo: Căn cứ vào giá trị Tài sản đảm bảo mà khách hàng
đưa ra và mức giá do ngân hàng xác định, ngân hàng đưa ra hạn mức cho vay đối với khách hàng Có hai hình thức bảo đảm: Cầm cố và thế chấp Sự khác biệt giữa hai hình thức bảo đảm này là quyền sử dụng tài sản bảo đảm của khách hàng Theo hình thức thế chấp, khách hàng vẫn được sử dụng tài sản đảm bảo trong thời hạn của khoản vay còn hình thức cầm cố thì không
Cho vay không có tài sản đảm bảo: Ngân hàng có thể cho khách hàng vay theo
hình thức Tín chấp, hoặc dựa vào uy tín của khách hàng, người bảo lãnh
1.2.4.5 Căn cứ vào đối tượng cho vay
Cho vay các tổ chức tài chính khác như: Ngân hàng, công ty tài chính, qũy tín
dụng…nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn
Cho vay doanh nghiệp: Đây là hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp nhằm
đáp ứng nhu cầu về vốn kinh doanh Cho vay đối với doanh nghiệp được thực hiện với nhiều phương thức khác nhau nhằm đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu vốn của các doanh nghiệp trong ngắn hạn
Trang 1111
Cho vay cá nhân: Đây là hoạt động cho vay đối với khách hàng là các cá nhân
nhằm phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng, kinh doanh trong ngắn hạn
1.2.5 Các nguyên tắc cho vay ngắn hạn
Khi cho vay vốn ngắn hạn, ngân hàng phải tuân thủ ba nguyên tắc:
Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích: Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn
vay đúng mục đích đã thoả thuận với ngân hàng, không được trái với các quy định của pháp luật và của các ngân hàng cấp trên Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng bảo đảm cho ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật và việc tài trợ đó phải phù hợp với cương lĩnh của ngân hàng Khi đi vay vốn kinh doanh ngắn hạn, doanh nghiệp có thể dùng vốn đó để đầu tư dài hạn vào mục đích khác mang nhiều rủi
ro Do đó ngân hàng cần phải có những quy định ràng buộc doanh nghiệp phải dùng vốn vay đúng mục đích
Vốn vay phải được đảm bảo bằng giá trị của hàng hoá có giá trị tối thiểu là tương đương với khoản vay: Đối với các khoản vay bằng tài sản thế chấp thì khoản vay phải
được đảm bảo bằng các tài sản, hàng hóa có giá trị tối thiểu phải bằng giá trị của khoản vay để đảm bảo tính an toàn cho khoản vay
Vốn vay phải được hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn cam kết: Các khoản tín
dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn Do vậy ngân hàng luôn yêu cầu doanh nghiệp cũng như khách hàng cá nhân
đi vay phải thực hiện đúng cam kết này
Ba nguyên tắc tín dụng trên hình thành một quy luật nội tại của tín dụng do đó chúng ta phải tuân thủ nghiêm ngặt mà không được coi nhẹ hay nhấn mạnh nguyên tắc nào
1.3 Hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm hiệu quả của hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương
Về phía ngân hàng, hiệu quả cho vay ngắn hạn gắn liền với sự an toàn của vốn cho vay Tức là phải đảm bảo an toàn và sinh lời Thủ tục đơn giản và thuận tiện sẽ tạo
Footer Page 11 of 161.
Trang 12điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiến hàng sản xuất kinh doanh và nắm bắt thời cơ
Ngoài ra hiệu quả của cho vay ngắn hạn còn liên quan đến lợi nhuận mà nó mang lại Ở đây cần tính đến sự cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau Do đó các ngân hàng cần phải có chính sách lãi suất hợp lý và phải tìm kiếm những dự án mang lại thu nhập cao
Về phía khách hàng, hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng đã cung cấp cho doanh nghiệp nguồn vốn ngắn hạn của doanh nghiệp, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục Để có được nguồn vốn ngắn hạn này khách hàng phải bỏ ra một khoản chi phí tương đối lớn do vậy các doanh nghiệp cần phải sử dụng vốn đạt hiệu quả cao nhất
Hiệu quả cho vay ngắn hạn của ngân hàng được đánh giá theo cả hai giác độ là từ phía ngân hàng và từ phía khách hàng Tuy nhiên trong khuôn khổ của khóa luận không cho phép do vậy khóa luận chỉ đề cập tới hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn xét từ giác độ về phía ngân hàng
1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân
hàng thương mại
Cho vay ngắn hạn là một trong các hoạt động quan trọng nhất của NHTM, là hoạt động đem lại nguồn thu chính cho ngân hàng, nó cũng đồng thời có các tác động không nhỏ đến các mặt hoạt động khác của ngân hàng
Bên cạnh đó, hoạt động cho vay ngắn hạn của NHTM không chỉ có ảnh hưởng đến bản thân ngân hàng, mà còn có ảnh hưởng đến nhiều chủ thể khác của nền kinh tế Giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng của các cá nhân, doanh nghiệp được diễn ra liền mạch, không bị đứt quãng Như vậy hoạt động cho vay ngắn hạn của NHTM
có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế Việc nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn không chỉ giúp ngân hàng kinh doanh có lãi, đảm bảo an toàn mà còn đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho nền kinh tế, giúp cho nền kinh tế phát triển thuận lợi
Ngoài ra thông qua việc nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn của ngân hàng, sẽ giúp ngân hàng tồn tại một cách bền vững, củng cố mối quan hệ với các đối tác và tăng năng lực cạnh tranh Đối với nền kinh tế, việc nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn của ngân hàng sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế
Như vậy việc nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn là cần thiết khách quan, trước hết vì sự tồn tại và phát triển của NHTM, đồng thời vì sự phát triển của nền kinh tế
Trang 13Trên cơ sở pháp lý: Hoạt động cho vay có hiệu quả nếu chấp hành đúng pháp luật
của Nhà nước, các quy chế cho vay, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và ngân hàng Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
Trên cơ sở quy chế cho vay của từng NHTM: Hoạt động cho vay có hiệu quả
luôn phải tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ cho vay Từ những đặc điểm riêng
có của mình, hầu hết các ngân hàng đều nghiên cứu và đưa ra các quy chế cho vay phù hợp nhất Cụ thể là các ngân hàng lập ra Sổ tay tín dụng, trong đó đưa ra các khái niệm, quy định, quy trình và các hướng dẫn cụ thể dành cho các cán bộ ngân hàng Các quy định trong quy trình cho vay được áp dụng cụ thể cho từng trường hợp xin vay ở mỗi NHTM là nhằm thực hiện việc cho vay có hiệu quả Do vậy việc tuân thủ những quy trình là một điều kiện quan trọng, tiền đề của một khoản cho vay có hiệu quả
Trên cơ sở hợp đồng cho vay: Khi tiến hành hoạt động cho vay, ngân hàng và
khách hàng sẽ lập nên một hợp đồng tín dụng Trong hợp đồng tín dụng sẽ quy định chi tiết về các yếu tố quan trọng như thời hạn vay, mục đích sử dụng vốn vay, số tiền vay, phương thức hoàn trả gốc, trả lãi và được thể hiện ở dạng những cam kết Một khoản vay được coi là có hiệu quả khi nó được thực hiện đúng những cam kết đã kí trong hợp đồng tín dụng
Bảo đảm các nguyên tắc cho vay:
Các nguyên tắc này được quy định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng Các nguyên tắc này được cụ thể hoá trong các quy định của Ngân hàng nhà nước và các NHTM
Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xác định: Các khoản tín dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn Do vậy ngân hàng luôn yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải thực hiện đúng cam kết này
Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận với ngân hàng, không được trái với các quy định của pháp luật và của các ngân hàng cấp trên Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng bảo đảm cho ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật và việc tài trợ đó phải phù hợp với cương lĩnh của
Footer Page 13 of 161.
Trang 14ngân hàng Khi đi vay vốn kinh doanh ngắn hạn, doanh nghiệp có thể dùng vốn đó để đầu tư dài hạn vào mục đích khác mang nhiều rủi ro Do đó ngân hàng cần phải có những quy định ràng buộc doanh nghiệp phải dùng vốn vay đúng mục đích
Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án sử dụng vốn vay có hiệu quả Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện các nguyên tắc thứ nhất Phương án hoạt động
có hiệu quả của người vay minh chứng cho khả năng thu hồi vốn đầu tư và có lãi để trả
nợ ngân hàng Các khoản tài trợ của ngân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản của người vay
Thủ tục giao dịch: Một khoản cho vay tốt phải đảm bảo có thủ tục giao dịch đơn
giản, thuận tiện cho khách hàng nhưng vẫn đảm bảo những nguyên tắc an toàn cần thiết Ngoài ra quá trình giải ngân phải được thực hiện nhanh chóng để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của doanh nghiệp Trong môi trường cạnh tranh ngày càng cao giữa các ngân hàng với nhau, thì việc làm đơn giản thủ tục giao dịch là một yếu tố các ngân hàng cần quan tâm để thu hút khách hàng
Các nhóm chỉ tiêu định tính trên đây đã có thể phản ánh một phần của hiệu quả cho vay Đây là những chỉ tiêu gần như bắt buộc phải có để một khoản cho vay được coi là có hiệu quả Tuy vậy, muốn xem xét cụ thể, cẩn thẩn và toàn diện thì chúng ta cần phải xét đến các chỉ tiêu định lượng
1.3.3.2 Các chỉ tiêu định lượng
Nhóm chỉ tiêu định lượng phản ánh mặt lượng của khoản vay, thông qua việc phân tích các chỉ tiêu, tính toán và so sánh Nhóm các chỉ tiêu định lượng bao gồm:
a Các chỉ tiêu đánh giá về quy mô cho vay ngắn hạn
Dư nợ cho vay ngắn hạn
Dư nợ cho vay ngắn hạn là tổng số tiền ngắn hạn mà ngân hàng cho vay đối với nền kinh tế tại một thời điểm nhất định Mức dư nợ ngắn hạn thường phụ thuộc vào mức độ huy động vốn của NH, nếu nguồn huy động tăng thì sẽ làm cho mức dư nợ sẽ tăng và ngược lại Bất cứ NH nào muốn hoạt động tốt thì phải nâng cao mức dư nợ
Mức tăng trưởng tuyệt đối
dư nợ cho vay ngắn hạn năm n =
Dư nợ cho vay ngắn hạn năm n -
Dư nợ cho vay ngắn hạn năm n-1
Mức tăng trưởng tương đối dư nợ cho
=
Dư nợ cho vay _ Dư nợ cho vay ngắn hạn năm n ngắn hạn năm n-1
*100%
Trang 1515
Dư nợ cho vay ngắn hạn năm n-1
Tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn trên tổng dư nợ cho vay =
Dư nợ cho vay ngắn hạn năm n Tổng dư nợ cho vay năm n *100% Chỉ tiêu về tăng trưởng dư nợ cho vay tuyệt đối và tương đối phản ánh mức tăng trưởng trong hoạt động cho vay của ngân hàng, thể hiện hiệu quả hoạt động cho vay xét
về quy mô Mức tăng trưởng dư nợ cho vay ngắn hạn cao và ổn định qua các năm thể hiện chất lượng cho vay tốt và ngược lại
Chỉ tiêu về tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn trên tổng dư nợ cho vay dùng để xác định cơ cấu tín dụng cho vay ngắn hạn Để từ đó, xem xét cơ cấu cho vay như vậy
có hợp lý hay chưa và có giải pháp điều chỉnh kịp thời
Doanh số cho vay ngắn hạn
Doanh số cho vay ngắn hạn là tổng số tiền ngắn hạn mà ngân hàng cho vay đối với nền kinh tế trong một thời gian nhất định
Mức tăng trưởng tuyệt đối
doanh số cho vay ngắn hạn năm n =
Doanh số cho vay ngắn hạn năm n -
Doanh số cho vay ngắn hạn năm n-1
Mức tăng trưởng tương
đối doanh số cho vay ngắn hạn năm n =
Doanh số cho vay _ Doanh số cho vay ngắn hạn năm n ngắn hạn năm n-1 Doanh số cho vay ngắn hạn năm n-1 *100%
Chỉ tiêu về tăng trưởng doanh số tuyệt đối và tương đối phản ánh mức tăng trưởng trong hoạt động cho vay của NH thể hiện chất lượng hoạt động cho vay xét về quy mô Mức tăng trưởng doanh số cho vay ngắn hạn cao và ổn định qua các năm thể hiện chất lượng cho vay tốt và ngược lại
Tỷ trọng doanh số cho vay ngắn hạn trên tổng doanh số cho vay =
Doanh số cho vay ngắn hạn năm n Tổng doanh số cho vay năm n *100% Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn trên tổng dư nợ cho vay của NH Qua chỉ tiêu này ta có thể so sánh quy mô dư nợ cho vay ngắn hạn so với cho
Footer Page 15 of 161.
Trang 16vay trung và dài hạn Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ NH đáp ứng nhu cầu vay ngắn hạn của nền kinh tế cao hơn Tùy theo chính sách của mỗi NH và tùy từng thời kỳ mà NH
sẽ điều chỉnh tỷ lệ này cao hay thấp để phù hợp với diễn biến của nền kinh tế
b Chỉ tiêu về cơ cấu cho vay ngắn hạn
Cơ cấu theo tài sản đảm bảo
không có tài sản đảm bảo =
Dư nợ ngắn hạn không có tài sản đảm bảo
Tổng dư nợ ngắn hạn *100% Hiệu quả cho vay bao gồm cả yếu tố an toàn và TSĐB góp phần tạo nên tính an toàn cho khoản vay đó Khi khách hàng không có khả năng trả đuợc nợ NH sẽ phát mại các TSĐB để bù đắp tổn thất cho khoản vay đó Vì vậy để tăng hiệu quả, tăng độ an toàn của khoản cho vay ngân hàng thường yêu cầu các khoản vay phải có TSĐB
Cơ cấu theo đối tượng vay vốn
Tỷ trọng cho vay ngắn hạn
theo đối tượng loại i =
Dư nợ ngắn hạn theo đối tượng loại
i Tổng dư nợ ngắn hạn
*100%
Chỉ tiêu dư nợ ngắn hạn theo đối tượng vay vốn sẽ giúp NH có sự nhìn nhận tổng quan đâu là nhóm KH có tỷ trọng vay vốn cao tại NH, đâu là nhóm KH có tỷ trọng vay vốn còn thấp tại NH từ đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp để tiếp tục tập trung phục
vụ 1 cách tốt hơn nữa vào nhóm KH mà NH có thế mạnh, tìm cách đẩy mạnh cho vay vốn với nhóm KH có tỷ trọng vay vốn còn thấp tại NH
Cơ cấu theo ngành kinh tế
Tỷ trọng cho vay ngắn hạn
theo ngành i =
Dư nợ ngắn hạn theo ngành
i Tổng dư nợ ngắn hạn
*100%
Chỉ tiêu dư nợ ngắn hạn theo ngành kinh tế sẽ giúp NH nhận biết được KH vay vốn tại NH để phục vụ những ngành kinh tế chủ yếu nào từ đó có những giải pháp để tiếp tục tập trung phục vụ 1 cách tốt hơn nữa vào những ngành kinh tế có nhu cầu về vốn lớn, tìm cách đẩy mạnh cho vay vốn với nhóm ngành kinh tế có tỷ trọng vay vốn
Trang 1717
c Nhóm chỉ tiêu về thu nợ
Doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản thu nợ ngắn hạn
đã thu hồi được của các khoản cho vay mà NH cho khách hàng vay trong một thời gian nhất định
Mức tăng trưởng tuyệt đối
doanh số thu nợ ngắn hạn năm n =
Doanh số thu nợ ngắn hạn năm n -
Doanh số thu nợ ngắn hạn năm n-1
Mức tăng trưởng tương
đối doanh số thu nợ
nợ ngắn hạn cao và ổn định qua các năm thể hiện chất lượng cho vay tốt và ngược lại
Tỷ trọng doanh số thu nợ ngắn hạn
trên tổng doanh số thu nợ =
Doanh số thu nợ ngắn hạn Tổng doanh số thu nợ *100%
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng doanh sô thu nợ cho vay ngắn hạn trên tổng doanh
số thu nợ của NH Qua chỉ tiêu này ta có thể so sánh hiệu quả thu nợ ngắn hạn so với cho vay trung và dài hạn
Chỉ tiêu vòng quay vốn ngắn hạn
Vòng quay vốn tín dụng ngắn hạn( vòng) =
Doanh số thu nợ cho vay ngắn hạn
Dư nợ cho vay ngắn hạn bình quân *100% Chỉ tiêu này cho ta biết ngân hàng thu nợ theo kế hoạch trong hợp đồng tín dụng được bao nhiêu để có thể lại cho vay dự án mới Vòng quay của vốn càng lớn thì càng tốt vì điều đó khẳng định ngân hàng thu được nhiều nợ và chứng tỏ nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng đã đầu tư hoạt động có hiệu quả Ngược lại, nếu vòng quay của vốn càng nhỏ thì việc thu nợ của ngân hàng là kém và nguồn vốn ngắn hạn mà ngân hàng đã đầu
tư hoạt động kém hiệu quả
d Nhóm chỉ tiêu phản ánh về độ an toàn
Nợ quá hạn
Footer Page 17 of 161.
Trang 18Tỉ lệ nợ quá hạn cho biết tỉ trọng của các khoản cho vay đã bị quá hạn trả nợ gốc
và lãi vay trong tổng dư nợ Qua đó, phản ánh hiệu quả các khoản cho vay của ngân hàng
Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn =
Dư nợ quá hạn ngắn
hạn Tổng dư nợ ngắn hạn
hàng
*100%
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ dư nợ quá hạn trong tổng dư nợ quá hạn ngắn hạn Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ số dư nợ quá hạn ngắn hạn càng lớn trong tương quan với tổng dư nợ quá hạn, chất lượng cho vay ngắn hạn càng thấp
Ngoài ra, để đánh giá đầy đủ hơn về chất lượng cho vay, người ta còn xem xét mức tăng giảm tương đối, tuyệt đối cơ cấu nợ quá hạn qua các năm để thấy mức hiệu quả của công tác và các biện pháp giảm nợ quá hạn từ đó nâng cao chất lượng cho vay
Nợ xấu
Khi đến hạn mà khách hàng không trả được nợ, ngân hàng thường phải gia hạn
nợ cho khách hàng, tạo điều kiện để họ có thể trả được nợ cho ngân hàng Nợ xấu là khoản nợ quá hạn sau khi ngân hàng thương mại đã gia hạn nợ Nợ xấu là những khoản được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn) (Quyết định 493/2005/QĐ-Ngân hàng Nhà nước ngày 22/4/2005)
Tỷ lệ nợ xấu ngắn hạn = Tổng dư nợ xấu ngắn hạn
Tổng dư nợ ngắn hạn *100%
Nhờ có chỉ tiêu này cùng với việc xem xét, phân tích các yếu tố khác như tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng trong thời gian tới, các yếu tố thuận lợi cũng như khó khăn mà khách hàng đang gặp phải, lịch sử vay nợ của khách hàng… mà các NHTM có thể dự đoán được bao nhiêu phần trăm trong tổng nợ quá hạn có khả năng thu hồi, bao nhiêu phần trăm không có khả năng thu hồi Việc kết hợp giữa các chỉ tiêu này cho phép đánh giá chi tiết hơn về độ an toàn của hoạt động cho vay của NHTM
Trang 1919
Tỷ trọng nợ xấu cho vay ngắn
Tổng dư nợ xấu ngắn hạn Tổng dư nợ xấu của ngân
hàng
*100%
Tỷ trọng nợ xấu cho vay ngắn hạn thể hiện tỷ trọng nợ xấu cho vay ngắn hạn trên tổng nợ xấu của NH Xem xét chỉ tiêu này sẽ giúp ngân hàng biết được chất lượng của cho vay ngắn hạn so với chất lượng cho vay chung của ngân hàng để từ đó có được các biện pháp xử lí phù hợp
e Hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn
Hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn = Dư nợ cho vay ngắn hạn
Nguồn vốn huy động ngắn hạn *100% Hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn cho biết sự hợp lý về kì hạn của huy động vốn và
sử dụng vốn Chỉ tiêu này rất quan trọng vì nó đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của NH, liệu NH đã sử dụng hết khả năng của mình trong cho vay ngắn hạn hay chưa Nếu chỉ tiêu này quá cao thì chứng tỏ hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng đạt hiệu quả nhưng lại tiềm ẩn một số rủi ro về nguồn vốn cho ngân hàng Về lý thuyết thì chỉ tiêu này không được lớn hơn 1 do ngân hàng còn phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cũng như tài trợ vốn cho một số hoạt động khác của ngân hàng Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này quá nhỏ thì chứng tỏ hiệu quả cho vay ngắn hạn của ngân hàng chưa cao Do vậy ngân hàng cần duy trì tỷ lệ này một cách hợp lý để vừa mang lại hiệu quả trong công tác cho vay ngắn hạn đồng thời cũng đảm bảo tính an toàn về nguồn vốn cho ngân hàng
f Chỉ tiêu đánh giá mức thu nhập
Footer Page 19 of 161.
Trang 20Ngoài ra ta còn xét đến chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập của cho vay ngắn hạn
Tỷ lệ thu nhập của cho vay ngắn hạn =
Thu nhập từ hoạt động cho vay ngắn hạn Tổng thu nhập từ hoạt động cho vay *100%
Từ tỷ lệ này, có thể biết được thu nhập từ cho vay đóng góp bao nhiêu phần trăm vào thu nhập của ngân hàng Từ đó có thể xem xét vai trò của hoạt động cho vay và hiệu quả của hoạt động cho vay đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Tóm lại, các chỉ tiêu đánh giá, xem xét hiệu quả tín dụng phải luôn được xem xét phân tích thường xuyên cả hai mặt định tính và định lượng, cả về lợi nhuận thuần tuý
và lợi ích xã hội, cả trên quan điểm ngân hàng và khách hàng Thực hiện được điều này
sẽ giúp cho bản thân các ngân hàng cũng như khách hàng đánh giá được hiệu quả tín dụng một cách chính xác đầy đủ nhất Qua đó có thể giải quyết được những hạn chế, vướng mắc cũng như phát huy được những ưu điểm để nâng cao hiệu quả tín dụng trung
- dài hạn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại
để đưa ra kết luận về hiệu quả và nuức độ rủi ro của phương án phục vụ cho quyết định cho vay của ngân hàng
Với ý nghĩa về tầm quan trọng của hoạt động cho vay ngắn hạn trong hoạt động cho vay của NHTM nói chung thì hoạt động thẩm định luôn là cần thiết gắn với mỗi phương án xin vay nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng Bởi vì trên thực tế, đối với mỗi phương án kinh doanh của doanh nghiệp nếu như tỷ suất lợi nhuận cao thì luôn đi kèm với rủi ro lớn mà ngân hàng không quan tâm thì sẽ khó mà lường trước được những biến động không ngừng của nó trên thị trường đầy sôi động Quy trình thẩm định giúp ngân hàng dự báo được phần nào hiệu quả tài chính và tính khả thi của từng phương án kinh doanh để có thể chọn lọc được các cơ hội đầu tư tốt, có hiệu quả, có khả năng thu hồi vốn và do đó hạn chế được các rủi ro phát sinh Trái lại, nếu thẩm định kém có thể dẫn đến một quyết định cho vay sai
Trang 2121
lầm, ảnh hưởng đến ngân hàng và doanh nghiệp Do vậy, thẩm định là một hoạt động
vô cùng cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng trong cho vay của ngân hàng
Đặc biệt cho vay ngắn hạn chủ yếu đầu tư vào tài sản lưu động của doanh nghiệp,
đó là những tài sản có vòng quay lớn trong năm và rất nhạy cảm với sự biến động trên thị trường Một sự thay đổi về giá cả hay phẩm chất hàng hoá, nhu cầu tiêu thô, đều
có ảnh hưởng tới hiệu quả của món vay, do đó cán bộ thẩm định cần phải xem xét đánh giá một cách chính xác, ngoài ra còn phải am hiểu, nhạy cảm về thị trường
Thẩm định tốt không những đảm bảo cho mãn vay an toàn có hiệu quả mà còn giúp cho toàn bộ nền kinh tế trong thị trường tiền tệ (ngắn hạn) hoạt động một cách hiệu quả, lành mạnh hơn tránh được các chủ thể kinh doanh thua lỗ, các doanh nghiệp gian lận, lừa đảo giúp cho đồng vốn đầu tư trở nên có hiệu quả Từ đó thoả mãn được nhu cầu vay vốn kinh doanh của khách hàng đồng thời đạt được mục tiêu của ngân hàng
Tóm lại, thẩm định tín dụng là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với NHTM không chỉ là vấn đề lợi ích kinh tế mà còn giúp ngân hàng thực hiện được các mục tiêu thu hút khách hàng và nâng cao uy tín trên thị trường
Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh, quy tắc tài trợ vốn của một ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho mọi cán bộ tín dụng, tạo thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời Như vậy chính sách tín dụng của ngân hàng có vai trò quan trọng đến hiệu quả tín dụng Một ngân hàng có một chính sách hợp lý sẽ giúp ngân hàng có những khoản cho vay tốt đảm bảo thu lãi đồng thời giúp cho các doanh nghiệp có vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh Chính sách tín dụng cần được xây dựng phù hợp với mục tiêu tổng thể của ngân hàng trong từng thời kì, thực hiện được vai trò định hướng cho hoạt động tín dụng của ngân hàng, đáp ứng được nhu cầu vốn cho nền kinh tế
Chất lượng đội ngũ nhân sự
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng nói riêng cũng như trong hoạt động của ngân hàng nói chung Việc tuyển chọn sự có đạo đức nghề nghiệp tốt, có tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với nghề, giỏi chuyên môn, am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh vực tham gia đầu tư vốn, năm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụng, có năng lực phân tích và xử lý dự án xin vay, đánh giá tài sản thế chấp, giám sát số tiền cho vay ngay từ khi cho vay đến khi thu hồi được nợ hoặc xử lý xong món nợ theo quy định của
Footer Page 21 of 161.
Trang 22ngân hàng… sẽ giúp cho ngân hàng có thể ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy
ra khi thực hiện chi kỳ khép kín của một khoản tín dụng Tuy nhên đối với những cán bộ không được đào tạo đầy đủ, không am hiểu về ngành kinh doanh mà mình đang tài trợ, trong khi ngân hàng không có đủ các số liệu thống kê, các chỉ tiêu để phân tích, so sánh, đánh giá vài trò vị trí của doanh nghiệp trong ngành, khả năng thị trường hiện tại và tương lai, chu kỳ, vòng đời sản phẩm… dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của dự án cho vay làm tăng rủi ro tín dụng của ngân hàng
Thông tin tín dụng
Những thông tin chính xác về khách hàng sẽ giúp ích rất nhiều cho ngân hàng trong những công việc có liên quan đến việc cho vay, theo dõi và quản lý tiền vay Thông tin càng chính xác, kịp thời, đầy đủ và toàn diện thì công tác tín dụng của ngân hàng càng được thực hiện tốt và các rủi ro sẽ được hạn chế ở mức thấp nhất có thể, hiệu quả tín dụng được nâng cao hơn Tuy nhiên nến thiếu thông tin tín dụng hoặc thông tin tín dụng không chính xác, kịp thời, chưa có danh sách phân loại doanh nghiệp, chưa có
sự phân tích đánh giá doanh nghiệp một cách khách quan, đúng đắn sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng cao làm giảm hiệu quả tín dụng của ngân hàng
Công tác tổ chức, quản lí của ngân hàng
Công tác tổ chức không chỉ tác động tới hiệu quả tín dụng mà còn tác động tới mọi hoạt động của ngân hàng Nếu công tác tổ chức không khoa học sẽ làm ảnh hưởng tới thời gian ra quyết định đối với món vay, không đáp ứng kịp thời các yêu cầu của khách hàng, không theo dõi sát sao được công việc
Sự phân công công việc nếu không hợp lý, khoa học sẽ dẫn đến sự không rõ ràng, chồng chéo khiến cho các cán bộ tín dụng ỷ lại, thiếu trách nhiệm đối với công việc của mình Công tác tổ chức ở đây cũng đề cập tới vấn đề giao việc đúng người, đúng việc Mỗi một cán bộ cần được giao cho công việc phù hợp để có thể phát huy hết khả năng
và giữa các bộ phận cần có sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ để công việc tiến hành nhanh chóng, chính xác Nếu được tổ chức tốt, các công việc đối với một món vay sẽ được thực hiện tuần tự, chặt chẽ, vừa đảm bảo về mặt thời gian vừa không có sự sơ hở nên sẽ làm cho hiệu quả của món vay được nâng cao
Công tác marketing
Với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực ngân hàng nói chung và trong hoạt động cho vay ngắn hạn giữa các ngân hàng nói riêng Để hoạt động cho vay ngắn hạn đạt hiệu quả cao thì công tác Marketing là rất quan trọng Nếu ngân hàng không có phương án Marketing chuyên nghiệp, hiệu quả để giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ,
Trang 2323
những thế mạnh của mình cho nhiều khách hàng biết đến thì sẽ rất khó có thể cạnh tranh với các ngân hàng khác Mặt khác nếu ngân hàng có một phương án marketing hiệu quả
sẽ giúp quảng bá hình ảnh cũng như các sản phẩm cho vay của mình tới khách hàng, từ
đó sẽ giúp tăng tính hiệu quả trong công tác cho vay ngắn hạn của ngân hàng
1.4.2 Nhân tố khách quan
Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế dù thay đổi theo chiều hướng nào cũng đều tác động tới hiệu quả tín dụng của ngân hàng Nếu sự thay đổi theo chiều hướng tốt thì hiệu quả của các khoản tín dụng sẽ được nâng cao Ngược lại, sự thay đổi theo chiều hướng xấu thì sẽ làm cho hiệu quả các khoản tín dụng xấu đi ngoài ý muốn Không chỉ môi trường kinh
tế trong nước này thay đổi sẽ tác động tới hiệu quả tín mà sự thay đổi của môi trường kinh tế thế giới cũng gây ảnh hưởng không nhỏ, đặc biệt là đối với doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu Sự thay đổi ấy thể hiện trực tiếp qua sự biến động về nhu cầu thị trường, sự biến động về tỷ giá khiến cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
bị thua lỗ ảnh hưởng tới việc trả nợ ngân hàng của doanh nghiệp
Môi trường pháp lý
Pháp lý là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp với những yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì mọi hoạt động của nền kinh tế không thể trôi chảy được Pháp luật có nhiệm vụ tạo lập môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao, là cơ sở để giải quyết khiếu nại khi có tranh chấp xảy ra Môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng nói riêng và cho hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới khả năng phát sinh nợ quá hạn Hệ thống pháp luật quốc gia với các bộ luật và văn bản dưới luật chưa được đầy đủ, đồng bộ, hợp lý sẽ không đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động kinh tế, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, gây nên các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng Như vậy, pháp luật có vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động ngân hàng nói chung và hiệu quả tín dụng ngắn hạn nói riêng
Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên có một ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả tín dụng của ngân hàng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng bởi vì thiên tai là một yếu tố bất khả kháng, chúng ta không thể dự đoán một cách chắc chắn là khi nào những thiên tai như bão lũ lụt, hạn hán, hoả hoạn, dịch bệnh…sẽ xảy ra và mức độ ảnh hưởng, thiệt hại của
Footer Page 23 of 161.
Trang 24chúng là như thế nào Thông thường khi thiên tai xảy ra, nó thường gây thiệt hại rất lớn cho các ngành sản xuất, dịch vụ, gây ra các biến động xấu ngoài dự kiến trong mối quan
hệ tín dụng giữa ngân hàng và các khách hàng của mình làm cho vốn của ngân hàng đầu tư vào các doanh nghiệp sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng và dẫn tới rủi ro làm giảm hiệu quả tín dụng
Môi trường chính trị xã hội
Một xã hội nếu thường xuyên xảy ra những bất ổn về chính trị như bạo động, chiến tranh… sẽ không phải là môi trường thuận lợi cho hoạt động của ngân hàng, doanh nghiệp, hay cá nhân khách hàng vay vốn
Nguyên nhân về phía khách hàng
Khách hàng là người trực tiếp quyết định hiệu quả cho vay Nếu khách hàng không
có năng lực tài chính cũng như khả năng sử dụng vốn vay hiệu quả thì sẽ gây ra rủi ro
về vốn cho ngân hàng Bên cạnh đó nếu khách hàng không sử dụng vốn đúng mục đích như cam kết trong hợp đồng vay vốn hoặc cố tình lừa đảo cũng là những nguyên nhân gây ra rủi ro mất vốn cho ngân hàng Do đó việc phân tích trước khi cho vay và quá trình kiểm soát trong quá trình cho vay của ngân hàng có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn
Kết luận chương 1
Chương 1 của khóa luận đề cập tới một số lý luận chung về NHTM và hoạt động cho vay ngắn hạn trong NHTM, các nhân tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng trong hoạt động cho vay ngắn hạn Với những cơ sở lý luận trên, chương 1
sẽ là nền tảng để từ đó chúng ta có thể đi sâu vào tìm hiểu thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn tại ngân hàng Techcombank PGD Phùng Xá trong chương 2
Trang 2525
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN TẠI
NGÂN HÀNG KỸ THƯƠNG TECHCOMBANK PHÒNG GIAO DỊCH PHÙNG XÁ
2.1 Tổng quan về ngân hàng kĩ thương Techcombank phòng giao dịch Phùng Xá
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam, thường được biết đến với tên gọi Techcombank hiện là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất Việt Nam Kể từ khi thành lập vào ngày 27/9/1993 với số vốn ban đầu chỉ có 20 tỷ đồng, Techcombank đã không ngừng phát triển mạnh mẽ với thành tích kinh doanh xuất sắc và được nhiều lần ghi nhận là một tổ chức tài chính uy tín với danh hiệu ngân hàng tốt nhất Việt Nam Nhằm mở rộng quy mô hoạt động và thực hiện những dự kiến, kế hoạch phát triển của ngân hàng Techcombank, ngân hàng Techcombank PGD Phùng
Xá đã được thành lập và đã chính thức đi vào hoạt động vào ngày 15/01/2010, tại địa chỉ: Đường 419 xã Phùng Xá, Huyện Thạch Thất, Hà Nội Ngân hàng Techcombank PGD Phùng Xá từ khi thành lập đến nay đã không ngừng đổi mới, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, gia tăng số lượng nhân viên về số lượng và chất lượng phục vụ nhằm đáp ứng tối đa các nhu cầu đa dạng của khách hàng, góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức tại Techcombank Phùng Xá
Giám đốc
Phòng giao dịch
Phòng tín dụng
Phòng Hành chính nhân sự
Phòng
kế toán
và ngân quỹ
(Nguồn: Phòng hành chính nhân sự Techcombank phòng giao dịch Phùng Xá)
Hiện nay, Techcombank PGD Phùng Xá có 15 nhân viên nghiệp vụ, 03 nhân viên bảo vệ và 01 nhân viên tạp vụ
Chức năng của các phòng ban
Giám đốc
Footer Page 25 of 161.
Trang 26Điều hành chung các mặt hoạt động của Ngân hàng và chỉ đạo công tác tổ chức các bộ phận, các phòng ban, giám sát việc thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ trong phạm vi hoạt động mà cấp trên giao Ký duyệt các hợp đồng tín dụng, hợp đồng cầm
cố, thế chấp, bão lãnh theo quy định Chịu trách nhiệm trước Giám đốc cấp trên và pháp luật về quyết định của mình
Phòng giao dịch
Là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng Cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử lý hạch toán các giao dịch Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lí tiền mặt đến từng giao dịch viên theo đúng quy định của NHNN và của NH TCB Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng các sản phẩm của NH
Phòng kế toán và ngân quỹ
Tổ chức hạch toán các nghiệp vụ phát sinh của PGD
Hướng dẫn khách hàng mở tài khoản tại PGD, lập các thủ tục nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân, …
Chấp hành chế độ quyết toán tài chính hàng năm với Hội sở
Kiểm tra chuyên đề kiểm toán, ngân quỹ trong phạm vi PGD
Trang 27Cho vay: thực hiện cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh dịch vụ, đời sống cho tổ chức, cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam Cho vay trung hạn, dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh… Cung ứng các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ gồm: cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng, các dịch vụ thu chi và phát tiền mặt cho khách hàng, các dịch vụ thanh toán khác theo qui định của Ngân hàng nhà nước và của của Ngân hàng Techcombank Việt Nam
Kinh doanh các dịch vụ Ngân hàng khác, tư vấn tài chính, tín dụng cho khách hàng
2.1.3.1 Vai trò của Ngân hàng Techcombank phòng giao dịch Phùng Xá
Trực tiếp kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo phân cấp của NH Kỹ thương TCB Việt Nam trên địa bàn Hà Nội
Tổ chức điều hành kinh doanh và kiểm tra, kiểm toán nội bộ theo uỷ quyền của tổng giám đốc NH Kỹ thương TCB Việt Nam
Thực hiện các nhiệm vụ khác được giao và lệnh của tổng giám đốc NH Kỹ thương TCB Việt Nam
Cùng với các đơn vị trong hệ thống NH Kỹ thương TCB Việt Nam tạo thành một
hệ thống đồng bộ, thống nhất trong tổ chức và hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng
và dịch vụ ngân hàng
Footer Page 27 of 161.
Trang 282.1.4 Khái quát về tình hình hoạt động kinh doanh qua 3 năm
2.1.4.1 Tình hình huy động vốn
Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, nguồn vốn luôn đóng vai trò chủ đạo mang tính chất quyết định đến kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nguồn vốn có dồi dào mới đảm bảo được nhu cầu về vốn của khách hàng, nếu không Ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh của mình Do đó Ngân hàng cần phải tạo cho nguồn vốn luôn ổn định, phù hợp với nhu cầu về vốn của khách hàng Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn nên trong những năm gần đây ngân hàngTechcombank PGD Phùng Xá không ngừng mở rộng và tìm ra các giải pháp nhằm tăng nguồn vốn để phục vụ kịp thời nhu cầu vốn đa dạng của khách hàng
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của ngân hàng giai đoạn 2012-2014
Tươn
g đối (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%) Theo thời gian 118,46 121,80 135,78 3,34 2,82 13,98 11,48
(Nguồn: Báo cáo tài chính của NH TCB Phùng Xá giai đoạn 2012-2014)
Về quy mô huy động nguồn vốn ngắn hạn
Trang 2929
Biểu đồ 2.1 Tình hình nguồn vốn huy động giai đoạn 2012-2014
Trong giai đoạn 2012 – 2014 tỷ lệ tăng trưởng vốn huy động qua các năm tăng đáng kể Năm 2013 huy động vốn đạt 121,80 tỷ đồng tăng 3,34 tỷ đồng, tương ứng với 2,82% so với năm 2012 Đặc biệt tình hình huy động vốn của ngân hàng trong năm
2014 có mức tăng khá cao Năm 2014 tổng nguồn vốn huy động đạt 135,78 tỷ đồng tăng 13,98 tỷ đồng tương ứng với 11,48% so với năm 2013
Nhìn chung, tình hình huy động nguồn vốn của ngân hàng trong giai đoạn
2012-2014 khá khả quan, có mức tăng trưởng đều qua các năm, đặc biệt là trong năm 2012-2014 với mức tăng trưởng đạt 11, 48% Đạt được kết quả trên là do trong thời gian qua ngân hàng đã bám sát mục tiêu, chỉ tiêu huy động vốn được giao Ngân hàng đã đề ra những giải pháp kịp thời để thu hút nguồn vốn Bên cạnh đó ngân hàng cũng luôn thông báo kịp thời về các hình thức tiền gửi (nội tệ, ngoại tệ), lãi suất huy động, các sản phẩm ưu đãi bằng nhiều hình thức như: thông tin tuyên truyền, tiếp thị, quảng bá các hình thức huy động vốn và dịch vụ ngân hàng, vì vậy vốn huy động tại ngân hàng ngày càng tăng qua các năm
Vốn huy động theo thời hạn
Biểu đồ 2.2 Nguồn vốn huy động theo thời gian giai đoạn 2012-2014
118.46
121.80
135.78
105110115120125130135140
Nguồn vốn huy động(Tỷ đồng)
Footer Page 29 of 161.
Trang 30Từ bảng 2.1 và biều đồ 2.2 ta thấy trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng, nguồn vốn huy động ngắn hạn luôn chiếm một tỷ trọng cao so với nguồn vốn huy động trung và dài hạn qua các năm Cụ thể, trong giai đoạn 2012 – 2014 tỷ lệ tăng trưởng vốn huy động ngắn hạn qua các năm tăng khá nhanh Năm 2013 huy động vốn ngắn hạn là 90,26 tỷ đồng tăng 2,24 tỷ đồng, tương ứng với 2,48% so với năm 2012 Đặc biệt tình hình huy động vốn ngắn hạn của ngân hàng trong năm 2014 có mức tăng khá cao Năm 2014 tổng nguồn vốn huy động ngắn hạn đạt 104,42 tỷ đồng tăng 11,92 tỷ đồng tương ứng với 12,89% so với năm 2013, đóng góp chủ yếu vào tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động chung của ngân hàng
Bên cạnh đó nguồn vốn huy động trung và dài hạn của ngân hàng cũng có tỷ lệ tăng trưởng đều qua các năm Năm 2013 huy động vốn trung và dài hạn đạt 29,3 tỷ đồng tăng 1,1 tỷ đồng, tương ứng với 3,9% so với năm 2012 Năm 2014 nguồn vốn huy động trung và dài hạn có mức tăng trưởng khá cao, đạt 31,36 tỷ đồng tăng 11,92 tỷ đồng tương ứng với 12,89% so với năm 2013 Có được kết quả này là do ngân hàng đã chú trọng hơn tới công tác huy động vốn trung và dài hạn, từ đó tìm ra những giải pháp để thu hút tốt hơn nguồn vốn này
Nguồn vốn huy động ngắn hạn luôn chiếm một tỷ trọng cao so với nguồn vốn huy động trung và dài hạn qua các năm Đây cũng là tình trạng chung của các NH tại nước
ta Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: vấn đề về niềm tin của khách hàng vào sự phát triển kinh tế Những năm vừa qua Việt Nam chịu không ít ảnh hưởng từ các biến động của kinh tế thế giới, điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh
Trang 3131
an của người gửi tiền, chỉ gửi tiền ở những kỳ hạn ngắn Việt Nam hiện là quốc gia có thu nhập trung bình thấp, năm 2014 đạt 2.028 USD/người, thêm vào đó là tình trạng phân hóa giàu – nghèo đang trở nên rõ rệt, phần lớn người dân đều có nhu cầu gửi ngắn hạn do họ không có số dư tiền nhiều, lo ngại có những khoản chi phí phát sinh trong cuộc sống hay sự biến động của lãi suất Cuối cùng là do nỗ lực thu hút tiền gửi trung, dài hạn của các ngân hàng vẫn chưa đạt hiệu quả cao, chênh lệch lãi suất giữa kỳ hạn ngắn và trung, dài hạn vẫn chưa đủ tính hấp dẫn, thuyết phục khách hàng mặc dù NHNN
đã cho phép các NHTM tự phép ấn định lãi suất tiền gửi có kỳ hạn 6 tháng trở lên Cùng với đó các NH cũng luôn có các chương trình, sản phẩm ưu đãi với hình thức huy động vốn ngắn hạn do vậy tỷ lệ tăng trưởng vốn huy động ngắn hạn luôn tăng cao qua các năm Do vậy trong thời gian tới ngân hàng TCB PGD Phùng Xá cần đề ra nhiều biện pháp cụ thể để mở rộng hoạt động huy động nguồn vốn trung và dài hạn cũng như tăng
tỷ trọng của nguồn vốn này trong tổng nguồn vốn huy động
Vốn huy động theo loại tiền gửi
Trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng, nguồn vốn huy động theo loại tiền gửi VNĐ luôn chiểm phần lớn so với nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ và có xu hướng tăng trưởng qua các năm Cụ thể, huy động vốn theo tiền gửi VNĐ năm 2013 đạt 120,3 tỷ đồng tăng 4,84 tỷ đồng, tương ứng với 4,19% so với năm 2012 Năm 2014 đạt 133,28 tỷ đồng tăng 12,98 tỷ đồng tương đương 10,79% so với năm 2013
Nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ luôn chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng Năm 2013 huy động vốn bằng ngoại tệ của NH chỉ đạt mức 1,5 tỷ đồng, giảm 1,5 tỷ đồng tương ứng với 50% so với năm 2012 Năm
2014 đạt mức 2,5 tỷ đồng, tăng 1 tỷ đồng, tương ứng 66,67% so với năm 2013 Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này là do khách hàng của ngân hàng chủ yếu là hộ gia đình và một số doanh nghiệp của quy mô nhỏ trên địa bàn Vì vậy nhu cầu dự trữ ngoại tệ không cao Bên cạnh đó do chính sách tiền tệ của NHNN, lãi suất tiền gửi VNĐ luôn ở mức khá cao, trong khi lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ lại ở mức thấp dẫn đến việc khó khăn trong công tác huy động vốn bằng ngoại tệ của ngân hàng
Vốn huy động theo thành phần kinh tế
Biểu đồ 2.3 Vốn huy động theo thành phần kinh tế giai đoạn 2012-2014
Footer Page 31 of 161.
Trang 32Từ bảng 2.1 và biểu đồ 2.3 ta nhận thấy trong giai đoạn 2012-2014, nguồn vốn huy động từ đối tượng cá nhân, HGĐ luôn chiếm phần lớn so với nguồn vốn huy động
từ các tổ chức kinh tế trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng và có xu hướng tăng trưởng qua các năm Cụ thể, huy động vốn từ đối tượng cá nhân, HGĐ năm 2013 đạt 103,77 tỷ đồng tăng 1,57 tỷ đồng, tương ứng với 1,54% so với năm 2012 Năm
2014 đạt 117,44 tỷ đồng tăng 13,67 tỷ đồng tương đương 13,17% so với năm 2013
Nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế còn chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng Năm 2013 huy động vốn từ các tổ chức kinh tế của ngân hàng là 18,03 tỷ đồng tăng 1,77 tỷ đồng và tương ứng với 10,89%
so với năm 2012 Năm 2014 đạt mức 18,34 tỷ đồng tăng nhẹ 0,31 tỷ đồng, tương ứng 1,72% so với năm 2013 Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này là do quy mô nguồn nhân lực cũng như nguồn vốn của PGD còn rất nhỏ so với các chi nhánh của NH, PGD không có bộ phận chuyên trách về mảng KH doanh nghiệp dẫn tới chất lượng phục vụ, tính chuyên nghiệp chưa cao Vì vậy các DN thường có xu hướng tới các chi nhánh ngân hàng có quy mô lớn khi có nhu cầu giao dịch cũng như dự trữ tiền
2.1.4.2 Tình hình sử dụng vốn
Công tác quản lý và sử dụng vốn của ngân hàng TCB PGD Phùng Xá luôn được thực hiện theo phương châm an toàn và hiệu quả nhằm vừa đảm bảo khả năng sinh lời vừa đảm bảo khả năng thanh khoản cho ngân hàng Trong hoạt động sử dụng vốn thì hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn, đem lại lợi nhuận chính cho ngân hàng Hoạt động cho vay của ngân hàng được thể hiện tóm tắt trong bảng sau
Trang 33đối
Tương đối (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%) Theo thời gian 57,34 55,62 63,74 (1,72) (3,00) 8,12 14,60
Cho vay ngắn hạn 36,18 35,30 42,36 (0,88) (2,43) 7,06 20 Cho vay trung, DH 21,16 20,32 21,38 (0,84) (3,97) 1,06 5,22
Tổng dư nợ 57,34 55,62 63,74 (1,72) (3,00) 8,12 14,60
(Nguồn: Báo cáo tài chính của NH TCB Phùng Xá giai đoạn 2012-2014)
Về quy mô hoạt động cho vay
Biểu đồ 2.4 Tình hình dư nợ giai đoạn 2012-2014
Footer Page 33 of 161.
Trang 34Trong giai đoạn 2012 – 2014 với sự hồi phục chậm của nền kinh tế và tình hình
nợ xấu của các NH tăng cao đã ảnh hưởng không nhỏ tới quy mô hoạt động cho vay của ngân hàng Cụ thể, năm 2013 tổng dư nợ cho vay là 55,62 tỷ đồng giảm 1,72 tỷ đồng, tương ứng với 3% so với năm 2012 Năm 2014 tổng dư nợ của ngân hàng lấy lại được đà tăng trưởng khá cao đạt 63,74 tỷ đồng tăng 8,12 tỷ đồng tương ứng với 14,6%
so với năm 2013 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trạng này là do trong năm 2012 tỷ lệ
nợ xấu của toàn ngành NH ở mức cao, cùng với sự phục hồi chậm của nền kinh tế đã tác động tới chính sách tín dụng của ngân hàng Trong năm 2013 nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của ngân hàng không phải là tăng quy mô tín dụng giống như mọi năm mà là nhiệm vụ xử lí nợ xấu, giữ tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn, do vậy trong năm 2013 tổng dư nợ NH có mức giảm nhẹ so với năm 2012 Năm 2014 khi tình hình kinh tế đã tăng trưởng ổn định trở lại, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng giảm xuống mức an toàn, ngân hàng tiếp tục thực hiện nhiều biện pháp nhằm tăng cường quy mô tín dụng
và đã đạt được kết quả khả quan khi quy mô tín dụng tăng 14,6% so với năm 2013
Dư nợ xét theo thời hạn cho vay
Biểu đồ 2.5 Tình hình dư nợ theo thời hạn của ngân hàng giai đoạn 2012-2014
Trang 3535
Từ bảng 2.2 và biểu đồ 2.5 ta thấy trong tổng nguồn vốn cho vay của ngân hàng,
dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm một tỷ trọng cao so với nguồn vốn cho vay trung và dài hạn qua các năm Trong giai đoạn 2012 – 2014 tỷ lệ tăng trưởng dư nợ cho vay ngắn hạn và dư nợ cho vay trung, dài hạn qua các năm khá biến động Cụ thể, năm 2013
dư nợ cho vay ngắn hạn là 35,3 tỷ đồng giảm 0,88 tỷ đồng, tương ứng với 2,43% so với năm 2012 Dư nợ cho vay trung và dài hạn là 20,32 tỷ đồng giảm 0,84 tỷ đồng tương ứng 3,97% so với năm 2012 Dư nợ cho vay có xu hướng giảm trong năm 2013 là do tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong năm 2013 có dấu hiệu chậm lại và tình hình nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tăng cao đã tác động tới chính sách tín dụng chung của ngân hàng Trong năm 2014 tổng dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 42,36 tỷ đồng tăng 4,06
tỷ đồng tương ứng với 11,50% so với năm 2013 Dư nợ cho vay trung, dài hạn cũng có mức tăng khá, cụ thể đạt 21,38 tỷ đồng tăng 1,06 tỷ đồng tương ứng 5,22% so với năm
2013 Có được kết quả này là do năm 2014 ngân hàng đã có những chính sách để mở rộng quy mô hoạt động cho vay, bên cạnh đó nền kinh tế tăng trưởng ở mức khá cao cũng là một yếu tố thuận lơi để ngân hàng mở rộng quy mô cho vay của mình
Cho vay theo thành phần kinh tế
Từ bảng 2.2 ta nhận thấy trong giai đoạn 2012-2014, dư nợ cho vay đối tượng cá nhân, HGĐ luôn chiếm phần lớn so với dư nợ cho vay các tổ chức kinh tế trong tổng
dư nợ cho vay của ngân hàng Cụ thể, dư nợ cho vay từ đối tượng cá nhân, HGĐ năm
2013 đạt 40,7 tỷ đồng giảm nhẹ 0,6 tỷ đồng, tương ứng với 1,45% so với năm 2012
Do trong năm 2013 tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới nhu cầu vay vốn của nhóm KH này Năm 2014 khi tình hình kinh tế có có nhiều
42.36
0510
Footer Page 35 of 161.
Trang 36biến chuyển tích cực, tỷ lệ lạm phát được kiểm soát ở mức 4,09% thấp nhất trong vòng nhiều năm, tốc độ tăng trưởng GDP tăng cao so với mọi năm và đạt 5,98% Do vậy nhu cầu vay vốn của cá nhân, hộ gia đình có xu hướng tăng Dư nợ cho vay ngắn hạn năm
2014 đạt 44,8 tỷ đồng tăng 4,1 tỷ đồng tương đương 10,07% so với năm 2013
Dư nợ cho vay từ các tổ chức kinh tế còn chiếm một tỷ trọng khá nhỏ trong tổng
dư nợ cho vay của ngân hàng Năm 2013 dư nợ cho vay từ các tổ chức kinh tế của ngân hàng đạt 14,92 tỷ đồng giảm 1,12 tỷ đồng và tương ứng với 6,98% so với năm 2012 Nguyên nhân của sự sụt giảm quy mô dư nợ là do trong năm 2013 sự hồi phục chậm của nền kinh tế đã tác động không nhỏ tới tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Năm 2014 với sự phát triển khá khả quan của nền kinh tế cùng với nhiều giải pháp nhằm gia tăng quy mô dư nợ của ngân hàng vì vậy tốc độ tăng trưởng dư nợ của nhóm KH này đạt mức khá cao Cụ thể dư nợ cho vay đạt 18,94 tỷ đồng tăng 4,02 tỷ đồng, tương ứng 26,94% so với năm 2013
Dư nợ cho vay ngắn hạn của nhóm khách hàng là cá nhân, hộ gia đình luôn chiếm
tỷ trọng cao trong tổng dư nợ cho vay là do quy mô nguồn nhân lực cũng như nguồn vốn của PGD còn hạn chế, ngân hàng không có bộ phận chuyên trách về mảng KH doanh nghiệp dẫn tới chất lượng phục vụ, tính chuyên nghiệp chưa cao Vì vậy ngân hàng không có nhiều KH là các DN thường xuyên có nhu cầu vay vốn Tuy nhiên các
DN vừa và nhỏ lại là nhóm KH có nhiều tiềm năng, nhu cầu vay vốn lớn Do vậy trong thời gian tới ngân hàng cần đề ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, nguồn nhân lực để thu hút thêm nhiều KH thuộc nhóm này Như vậy sẽ góp phần làm gia tăng doanh thu cho ngân hàng
Dư nợ cho vay theo loại tiền
Theo thông tư số 37/2012/TT-NHNN của NHNN quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng thì ngân hàng TCB PGD Phùng Xá không có chức năng và thẩm quyền để kinh doanh nghiệp vụ cho vay bằng ngoại tệ do vậy cho vay bằng ngoại tệ của
NH trong giai đoạn 2012-2014 đều bằng không
Trang 3737
nợ xấu qua đó đạt được những kết quả đáng khích lệ Năm 2014 nợ nhóm 2 của ngân hàng là 0,4 tỷ đồng có mức tăng nhẹ 0,1 tỷ đồng tương ứng với 33,33% so với năm
2013 Nợ xấu tiếp tục có xu hướng giảm, năm 2014 nợ xấu còn 1,30 tỷ đồng giảm 0,20
tỷ đồng tương ứng 13,33% so với năm 2013 Nợ nhóm 2 trong năm 2014 tăng so với năm 2013 do trong năm 2014 ngân hàng mở rộng quy mô tín dụng của mình Tuy nhiên đây là mức tăng không lớn, hơn nữa đây cũng không phải là nhóm nợ dưới tiêu chuẩn
vì vậy nhìn chung chất lượng tín dụng của ngân hàng giai đoạn 2012-2014 đang ngày càng được nâng cao Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu của ngân hàng luôn ở mức thấp hơn so với tỷ lệ chung của toàn bộ ngành NH
2.1.4.3 Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh
Biểu đồ 2.6 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng giai đoạn 2012-2014
đối
Tương đối (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%)
Thu từ cho vay 4,55 4,70 5,60 0,15 3,30 0,90 19,15
Thu từ dịch vụ 0,60 0,63 0,82 0,03 5,00 0,19 30,16 Thu khác 0,35 0,27 0,40 (0,08) (22,86) 0,13 48,15
Tổng chi phí 4,00 2,84 3,20 (1,16) (29) 0,36 12,68 Lợi nhuận trước thuế 1,50 2,76 3,62 1,26 84,00 0,86 31,16
(Nguồn: Báo cáo tài chính của NH TCB Phùng Xá giai đoạn 2012-2014)
Trong giai đoạn 2012-2014 lợi nhuận trước thuế của ngân hàng luôn có mức tăng trưởng ở mức cao Đặc biệt trong năm 2013 lợi nhuận trước thuế của ngân hàng tăng 1,26 tỷ đồng tương ứng 84% so với năm 2012 Có được kết quả này là do trong năm
2012 trước tình hình nợ xấu diễn biến phức tạp, có xu hướng tăng cao trong hệ thống
NH do vậy ngân hàng TCB PGD Phùng Xá đã tăng tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng khiến cho chi phí tăng cao so với các năm dẫn tới lợi nhuận trước thuế chỉ đạt 1,5
tỷ đồng Năm 2013 trong khi doanh thu có xu hướng tăng nhẹ còn chi phí lại giảm mạnh
do doanh nghiệp thực hiện các biện pháp nhằm tiết kiệm các chi phí hoạt động, bên
Footer Page 37 of 161.
Trang 38cạnh đó giảm tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng do vậy lợi nhuận của ngân hàng
đã có mức tăng khá cao Năm 2014, ngân hàng cũng có mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế khá cao, đạt 3,62 tỷ đồng tăng 0,86 tỷ đồng tương ứng 31,16% so với năm 2013
Do trong năm 2014 tổng thu nhập của ngân hàng có mức tăng khá cao, cụ thể tăng 1,22
tỷ đồng tương ứng 21,79% so với năm 2013
Về tổng thu nhập của ngân hàng: Trong năm 2013 tổng thu nhập của ngân hàng tăng 0,1 tỷ đồng, tương ứng 1,82% so với năm 2012 Năm 2014 tổng thu nhập của ngân hàng đạt 6,82 tỷ đồng, tăng 1,22 tỷ đồng tương ứng 21,79% so với năm 2013 Nguyên nhân chính là do ngân hàng thực hiện nhiều giải pháp để mở rộng quy mô tín dụng khiến thu nhập từ hoạt động cho vay năm 2014 tăng cao, cụ thể thu từ hoạt động cho vay đạt 5,6 tỷ đồng tăng 0,9 tỷ đồng tương ứng 19,15% so với năm 2013 Bên cạnh đó thu nhập
từ mảng dịch vụ và thu nhập khác cũng tăng mạnh góp phần vào sự tăng trưởng chung của ngân hàng
Trong giai đoạn 2012-2014 trong bối cảnh nền kinh tế còn hồi phục chậm, tác động tiêu cực tới hệ thống NH nói chung Tuy nhiên lợi nhuận trước thuế của TCB PGD Phùng Xá luôn tăng trưởng ở mức cao Có được kết quả này là do ngân hàng đã thực hiện tốt việc kiểm soát nợ xấu, xây dựng phương án kinh doanh hiệu quả, đội ngũ nhân viên trẻ, năng động đã góp phần vào sự thành công của ngân hàng
2.2 Thực trạng hoạt động cho vay ngắn hạn tại ngân hàng Techcombank phòng giao dịch Phùng Xá
2.2.1 Một số chính sách, sản phẩm cho vay ngắn hạn tại ngân hàng
Techcombank PGD Phùng Xá phục vụ đa dạng các nhu cầu về tiền tệ đối với các khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ Những sản phẩm khách hàng cá nhân của ngân hàng Techcombank PGD Phùng Xá gồm các sản phẩm cho vay khá đa dạng, phong phú với lãi suất hấp dẫn, các sản phẩm cho vay, tiêu dùng, Thấu chi, Ứng tiền nhanh, Tài trợ du học, Tài trợ kinh doanh cá thế, thẻ thanh toán hiện đại đa năng F@stAccess, F@stAccess-i, Techcombank Visa, dịch vụ chấp nhận thẻ POS,các gói sản phẩm tiết kiệm và rất nhiều sản phẩm khác Các sản phẩm dành khách hàng doanh nghiệp trên địa bàn như tài trợ vốn lưu động, tài trợ trọn gói dự
án các loại hình bảo lãnh, tài chính kho vận, thanh toán trong nước và một số dịch vụ khác
2.2.2 Quy trình cho vay ngắn hạn tại ngân hàng
Bước 1: Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn, kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ
Trang 39sự chấp nhận của cơ quan chủ quản cấp trên
Các tài liệu chứng minh hợp pháp và giá trị các tài sản đảm bảo nợ vay
Bước 2: NH thẩm định hồ sơ vay vốn và khả năng trả nợ
Ngân hàng nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng gửi tới sau đó tiến hành thẩm định
hồ sơ NH xây dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc đảm bảo tính độc lập, phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay
Thẩm đinh hồ sơ vay vốn là quá trình xem xét, phân tích các thông tin, số liệu đã thu thập trong hồ sơ của khách hàng Mục đích là xác định giới hạn an toàn của quan
hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn
Trong thời gian theo quy định của quy chế cho vay, kể từ khi ngân hàng nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng theo yêu cầu của ngân hàng, ngân hàng phải thẩm định xong hồ sơ vay vốn, quyết định và thông báo việc cho vay, ngân hàng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản, trong đó nêu rõ căn
cứ từ chối cho vay
Trường hợp ngân hàng quyết định cho vay, giữa ngân hàng và khách hàng vay thỏa thuận một số điều khoản cầm cố, thế chấp tài sản như quyền sử dụng nhà đất, giấy
tờ chứng nhận sở hữu
Bước 3: NH xác định các chỉ tiêu cho vay ký hợp đồng tín dụng với KH
Sau khi nghiên cứu, thẩm định và lập tờ trình xong cán bộ tín dụng gửi toàn bộ
hồ sơ vay vốn cho GĐ PGD ngân hàng kiểm tra GĐ PGD nhận hồ sơ vay, sau khi xem xét kiểm tra, thẩm định lại và ghi ý kiến vào tờ trình với các ý chính như: đồng ý cho vay hay không, mức cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay…
Footer Page 39 of 161.
Trang 40Mức cho vay: Là mức vốn vay ngân hàng có thể cho vay cao nhất đối với phương
pháp cho vay từng lần hoặc là mức dư nợ tối đa đối với phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng
Thời hạn cho vay: Căn cứ vào chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay và khả
năng trả nợ của khách hàng
Lãi suất vay: Là mức lãi cho vay do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận phù hợp
với quy định của NH TCB
Bước 4: Giải ngân, theo dõi, giám sát việc sử dụng vốn vay
Sau khi đã duyệt cho vay, ngân hàng mở cho mỗi KH vay 1 tài khoản cho vay để hạch toán cho vay và thu nợ (nếu KH chưa có tài khoản tiền vay)
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng và tiến độ thực hiện phương án sản xuất kinh doanh
và đầu tư xây dựng cơ bản của khách hàng (có phát sinh nhu cầu vốn thực tế), ngân hàng phát tiền vay Đối với KH vay luân chuyển, trong phạm vi hạn mức tín dụng đã xác định, từng lần vay vốn, KH đi vay phải gửi đến cho ngân hàng cho vay đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng trong khả năng nguồn vốn cho phép
Kiểm trả và giám sát khoản vay là quá trình thực hiện các công việc sau khi cho vay nhằm hướng dẫn, đôn đốc người vay sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả số tiền vay, hoàn trả nợ gốc, lãi vay đúng hạn, đồng thời thực hiện các biện pháp thích hợp nếu người vay không thực hiện đẩy đủ, đúng hạn các cam kết
Bước 5: Thu nợ, thu lãi, phí và xử lý phát sinh
Việc thu nợ được tiến hành theo kỳ hạn nợ đã ghi trong hợp đồng tín dụng Khách hàng có thể trả nợ trước hạn và phải chủ động trả nợ khi đến hạn
Nếu khách hàng không trả được nợ đến hạn, ngân hàng sẽ xử lý theo những trường hợp sau:
+ Do nguyên nhân khách quan, khách hàng có văn bản giải trình xin gia hạn nợ,