1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và giải pháp nhằm phát huy một số nét văn hoá truyền thống của người thái trên địa bàn thành phố sơn la trong giai đoạn hiện nay

70 437 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 789,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp đó, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” tiếp tục

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, việc bảo lưu và phát triển nền văn hóa các dân tộc thiểu số cũng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng chăm lo Vì vậy, việc nghiên cứu văn hóa truyền thống các tộc người thiểu số là việc làm cần thiết và phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Tại Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương lần thứ

9 (khóa IX) của Đảng đã nhận định: "phải nghiên cứu để bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số ít người" Tiếp đó,

Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về

“Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” tiếp tục khẳng định phải "Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học" Hiện nay, Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống với 54 đặc trưng

văn hóa khác nhau Các đặc trưng văn hóa đó đã bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển, góp phần tạo nên vườn hoa văn hóa rực rỡ sắc màu của dân tộc Việt Nam, tuy thống nhất nhưng không làm mất đi các đặc trưng văn hóa vốn có của mỗi dân tộc

Theo Tổng điều tra dân số năm 2009, dân tộc Thái có dân số đông thứ 3 tại Việt Nam (sau người Kinh và người Tày) Người Thái cư trú chủ yếu tại các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Hòa Bình, phía Tây Thanh Hóa và Nghệ An Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển kinh tế và quá trình di cư tự

do, hiện nay người Thái đã có mặt tại hầu hết các tỉnh thành trong cả nước Sơn

La - với 12 dân tộc cùng sinh sống trong đó cộng đồng người Thái chiếm tỉ lệ đông đảo nhất (chiếm khoảng 54% dân số toàn tỉnh) Vì vậy, nền văn hóa của dân tộc Thái mang tính chất đặc trưng, chủ đạo, đại diện cho nền văn hóa của Tây Bắc nói chung và văn hóa Sơn La nói riêng trong cộng đồng các dân tộc nơi đây

Thành phố Sơn La đang trên đà phát triển với tỉ lệ người Thái chiếm đa

số Hiện nay cùng với quá trình hội nhập, giao lưu và đô thị hóa, nhiều yếu tố văn hóa đặc trưng của cộng đồng người Thái trên địa bàn thành phố đang dần mai một và có nguy cơ biến mất

Vì những yếu tố trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp

nhằm phát huy một số nét văn hoá truyền thống của người Thái trên địa bàn thành phố Sơn La trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu

Trang 2

1 Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng, Khà Văn Tiến, Tòng Kim Ân, “Tư liệu

về lịch sử và xã hội dân tộc Thái”, NXB KHXH Hà Nội (1977) đề cập đến

nghiên cứu thiết chế và tổ chức xã hội, trong cuốn này đề cập đến Truyện kể bản mường; Lai lịch dòng họ Hà Công; Lệ mường; Luật mường và Tục lệ người Thái Đen ở Thuận Châu Sơn La

2 Cầm Trọng – Phan Hữu Dật, “Văn hóa Thái Việt Nam”, NXB Văn hóa

dân tộc Hà Nội (1995) Trong cuốn sách này các tác giả chủ yếu nêu lên một số yếu tố văn hóa Thái truyền thống đồng thời bước đầu đề cập đến mối giao lưu văn hóa giữa người Thái với các dân tộc khác trong khu vực sinh sống

3 Nguyễn Đăng Duy, “Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam”, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội (2004) Cuốn sách giới thiệu những nét

khái quát nhất về văn hóa 53 dân tộc thiểu số xếp theo 8 nhóm ngôn ngữ và giới thiệu về dân số, địa bàn cư trú, văn hóa sản xuất văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần… Cuốn sách còn đi sâu phân tích nét truyền thống và tính hiện đại trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

4 Đinh Văn Thiên, Hoàng Thế Long, Nguyễn Trung Minh, “Tây Bắc Vùng đất – Con người”, NXB QĐND Hà Nội (2010) Cuốn sách cung cấp

những thông tin tổng quát về một địa danh lịch sử gắn liền với những chiến dịch nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp – một địa bàn có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống

5 Ngô Đức Thịnh, “Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam” Ở

cuốn sách này đã đi sâu tìm hiểu diện mạo và những nét tiêu biểu của trang phục từng vùng và của từng nhóm dân tộc qua các thời kỳ

6 Cuốn “Nghệ thuật trang phục Thái” của tác giả Lê Ngọc Thắng nhằm

giới thiệu nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Thái ở nước ta Cuốn sách này đi sâu tìm hiểu trang phục Thái qua các công đoạn từ việc sản xuất ra các nguyên liệu đến việc cho ra một trang phục như thế nào Qua các trang phục đó thể hiện tính thẩm mỹ, nếp sống của dân tộc; chức năng giới tính; chức năng xã hội của trang phục…

7 TS Nguyễn Thị Thanh Nga, “Nghề dệt của người Thái ở Tây Bắc trong cuộc sống hiện đại”, NXB Khoa học Xã hội (2003) Công trình nghiên

cứu thực trạng về nghề dệt của hai nhóm Thái ở Mai Châu (Hoà Bình) và Yên Châu (Sơn La) và những biến đổi trong q uá trình sản xuất, chế tác tác phẩm, chế tác nguyên liệu của nghề dệt nhằm thích ứng với cơ chế thị trường và phát triển du lịch, đồng thời góp phần tìm hiểu văn hoá Thái truyền thống và những biến đổi của nói trong hiện tại cùng sự đóng góp của văn hoá Thái vào di sản văn hoá Việt Nam

8 Hoàng Nam - Lê Ngọc Thắng, “Nhà sàn Thái”, NXB Văn hoá (1984) Cuốn sách đã cho chúng ta cái nhìn tổng quan về ngôi nhà sàn cổ của người Thái ở Việt Nam từ quy trình dựng nhà, cấu trúc nhà sàn cổ truyền đến các nếp sinh hoạt diễn ra dưới mái nhà sàn, những điều cần kiêng kị

Trang 3

9 PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Nga (chủ biên), “Văn hoá truyền thống một số tộc người ở Hoà Bình”, NXB Văn hoá dân tộc (2007) Cuốn sách đã dành 1/4 dung lượng để tổng hợp, phân tích về những đặc trưng của tộc người Thái ở Mai Châu - Hòa Bình Mặc dù người Thái Mai Châu có số lượng ít hơn nhiều so với người Thái cư trú tại các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu; đồng thời cũng có nhiều nét khác biệt với người Thái các địa phương khác do chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa khu vực; tuy nhiên, người Thái Mai Châu là cư dân vẫn bảo lưu được nhiều nét văn hóa Thái truyền thống rất đặc trưng và tiêu biểu

10 GS TS Trần Văn Bính (chủ biên), “Văn hoá các dân tộc Tây Bắc thực trạng và những vấn đề đặt ra”, NXB Chính trị Quốc gia (2004) Cuốn sách

đã đánh giá, phân tích tương đối toàn diện, khách quan về thực trạng đời sống văn hóa của một số dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc trong đó có dân tộc Thái trong công cuộc đổi mới; đồng thời dự báo xu hướng, đề xuất các giải pháp vừa

cơ bản, vừa tiếp tục nhằm tiếp tục phát triển đời sống văn hóa các dân tộc trên địa bàn dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, định hướng xã hội chủ nghĩa

11 Vi Trọng Liên, “Vài nét về người Thái ở Sơn La”, NXB Văn hóa Dân tộc Hà Nội (2002) đã khái quát về một số nét văn hóa của dân tộc Thái ở Sơn La như: các ngành Thái ở Sơn La; các dòng họ tiêu biểu; giới thiệu về cách thức ăn, mặc, ở; cưới xin; ma chay; lễ hội; các quan hệ xã hội

12 Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Sơn La, tài liệu hội thảo Đề tài khoa học "Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Thái ở Sơn

La trong quá trình hội nhập quốc tế" Tài liệu cho chúng ta một cái nhìn khái quát nhất về các giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cộng đồng người Thái tỉnh Sơn La Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu của tài liệu quá rộng, mang tính chất dàn trải vì vậy người đọc khó có thể hiểu sâu được về các giá trị văn hóa mang tính đặc trưng của người Thái Sơn La nói riêng và người Thái vùng Tây Bắc nói chung

13 Bên cạnh một số sách đã nêu ở trên, một số tạp chí như: Dân tộc học, Văn hoá dân gian hoặc các nguồn trên internet cũng đăng tải những bài viết về nét văn hoá và phong tục tập quán của dân tộc Thái vùng Tây Bắc nói riêng và người Thái Việt Nam nói chung

14 Trong phạm vi Trường Đại học Tây Bắc cũng có một số công trình nghiên cứu về văn hóa, phong tục tập quán dân tộc Thái là khoá luận tốt nghiệp

của sinh viên, luận văn Thạc sĩ của cán bộ giảng viên như: “Giá trị văn hoá chiếc khăn Piêu của dân tộc Thái đen ở tỉnh Sơn La”, khoá luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hà (2011); “Bước đầu tìm hiểu nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào Thái đen ở Sơn La” khoá luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hạnh (2011); Luận văn Thạc sĩ “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La hiện nay”, tác giả Lò Minh Thảo (2013); đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Bước đầu khảo sát giới thiệu trang phục các dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La”, tác giả Bùi Thanh Hoa – Lường

Hoài Thanh (2013); Nguyễn Thị Đức Hạnh với đề tài luận văn thạc sĩ chuyên

Trang 4

ngành văn hóa “Nhà ở của người Thái Trắng tái định cư ở bản Quỳnh Tiến, phường Chiềng An, thành phố Sơn La” lại tập trung vào nghiên cứu về nhà cửa

cũng như không gian sống của người Thái Trắng di dân từ Huyện Quỳnh Nhai

ra phường Chiềng An thành phố Sơn La

Nhìn chung, các sách chuyên khảo, các đề tài NCKH, các khóa luận đều

là những tài liệu quý cho nhóm thực hiện đề tài Ngoài sự kế thừa của những nghiên cứu trước các tác giả còn xuống khảo sát, phỏng vấn trực tiếp người dân tại địa bàn nghiên cứu Thông qua đó nhóm tác giả đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những nét văn hóa tốt đẹp của người Thái thành phố Sơn La trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các nét văn hoá truyền thống tiêu biểu của cộng đồng người Thái đen về nhà ở, trang phục và lễ hội trên địa bàn thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, chúng tôi chọn địa điểm nghiên cứu chính là bản Hụm và bản Tông xã Chiềng Xôm thành phố Sơn La để thực hiện điền dã thu thập tư liệu

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Tổng hợp và phân tích nguồn tài liệu đã công bố về người Thái ở Việt Nam nói chung, người Thái ở Tây Bắc nói riêng và các tư liệu lịch sử, văn hóa

xã hội tại địa phương để có được những hiểu biết khái quát cơ bản về tộc người này cũng như địa bàn nghiên cứu

Điền dã dân tộc học, quan sát, phỏng vấn sâu tại cộng đồng người Thái trên địa bàn thành phố Sơn La, phỏng vấn quan sát tại bản Tông và bản Tông Nọi xã Chiềng Xôm, thành phố Sơn La Thời gian điền dã được tiến hành nhiều đợt từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 11 năm 2016

Đối tượng phỏng vấn là người dân tại địa phương với nhiều độ tuổi khác nhau, thuộc nhiều thành phần xã hội có điều kiện kinh tế khác nhau, để có cái nhìn đa chiều về sự biến đổi về văn hóa của người Thái trên địa bàn thành phố Sơn La như: nhà ở, trang phục và lễ hội Ngoài ra, nhóm tác giả còn quan tâm phỏng vấn các nhóm đối tượng cán bộ đang công tác tại xã, thầy mo là người am hiểu phong tục tập quán của địa phương Bên cạnh đó còn kết hợp ghi âm các đối tượng phỏng vấn, chụp ảnh những thông tin tư liệu liên quan để làm cứ liệu phân tích

Để đề tài nghiên cứu được sâu hơn chúng tôi còn sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, đối chiếu để phục vụ trong việc thu thập tư liệu và

xử lý tư liệu

5 Đóng góp của đề tài

Là nguồn tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho cán bộ, giảng viên, sinh viên nhà trường và những người yêu thích tìm hiểu về văn hóa dân tộc Đồng thời

Trang 5

phục vụ cho việc giảng dạy cơ sở văn hóa cho học sinh, sinh viên trong Nhà trường

Chương 3: Nguyên nhân biến đổi và đề xuất giải pháp nhằm phát huy một

số giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng người Thái thành phố Sơn La

Trang 6

Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn 1.1 Phương pháp luận

1.1.1 Cơ sở lý thuyết của đề tài

Nhóm đề tài sử dụng lý thuyết về biến đổi văn hóa để thực hiện nghiên cứu đề tài này

Xuất phát từ đối tượng và mục đích nghiên cứu, Đề tài này là một nghiên cứu liên ngành Văn hóa học, xã hội học và dân tộc học Vì vậy, phương pháp tiếp cận liên ngành sẽ được áp dụng trong nghiên cứu này

Tiếp cận theo các lý thuyết biến đổi và tiếp biến văn hóa

Có nhiều quan điểm và lý thuyết khác nhau về sự biến đổi văn hóa nói riêng và biến đổi xã hội nói chung như: quan điểm biến đổi xã hội của K.Marx, các lý thuyết về sự khuyếch tán, tiếp biến, tiến hóa chậm, đợt sóng thứ ba, nhưng tựu chung lại, các quan điểm và lý thuyết này cho rằng sự biến đổi văn hoá xuất phát từ 3 nguyên nhân cơ bản sau:

- Các phát minh và sáng tạo đem lại cái mới cho văn hóa, chẳng hạn,

bếp ga, bình nóng lạnh, các trò chơi điện tử, Mỗi một phát minh đều có thể dẫn đến sự thay đổi văn hóa

- Các khám phá là yếu tố thứ hai dẫn đến sự thay đổi văn hóa, nhất là ở

các lĩnh vực văn hóa trong đó có lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hoá tinh thần

- Thứ ba, sự phổ biến hay là khuyếch tán văn hóa Người ta cho rằng, sự

biến đổi văn hóa thường xảy ra từ một trung tâm, sau đó được phố biến (khuyếch tán) ra toàn thế giới

Biến đổi văn hóa

Như đã nêu trong phần lý thuyết biến đổi, bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù nó có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống

phân tầng xã hội được thay đổi qua thời gian

Sự biến đổi về tập quán sản xuất, biến đổi trong sự thay đổi trong cách thức

ăn, mặc ở, hành vi ứng xử và các lễ nghi, qua đó ta thấy các giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa cũng biến đổi để phù hợp với điều kiện mới, hoàn cảnh mới

1.1.2 Các khái niệm về văn hóa

Từ trước đến nay, chúng ta thường sử dụng nhiều đến thuật ngữ "văn hóa" Tuy nhiên, "văn hóa" được hiểu như thế nào cho chính xác thì đến nay

vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Theo các nhà ngôn ngữ học, culture – văn hoá (với tư cách là một danh từ độc lập) chỉ bắt đầu được sử dụng ở châu Âu vào cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII Mặc dù trước đó, khoảng thế kỉ II trước Công nguyên, ở La Mã, nhà triết học M Xixêron đã gắn văn hoá với hoạt động trí tuệ

của con người, để sau đó văn hoá được chuyển nghĩa từ “gieo trồng trên đất đai” sang nghĩa bóng “vun trồng cho trí óc” Tuy nhiên, khi thời Cổ đại suy tàn,

thuật ngữ này không được sử dụng nữa, mãi đến thế kỉ XVII nó mới được hồi sinh trở lại trong vốn từ vựng của châu Âu Người đầu tiên có công đưa từ

Trang 7

“culture” vào trong khoa học là S Pufendorf (1632 – 1694) – nhà nghiên cứu

pháp luật người Đức Ông đã sử dụng thuật ngữ này để chỉ toàn bộ những gì do con người tạo ra, các sản phẩm nhân tạo này khác với các sản vật thiên nhiên tựa như con người được giáo dục khác với con người không được giáo dục Sang thế kỉ XIX, đặc biệt là thế kỉ XX, khái niệm văn hoá được sử dụng ngày càng nhiều không chỉ trong khoa học mà cả trong cuộc sống hằng ngày của nhiều quốc gia, dân tộc

Có thể nhận thấy, văn hoá là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Cho tới nay, người ta đã thống kê có hơn 400 định nghĩa về văn hoá

Trong cuộc sống hàng ngày, văn hoá thường được hiểu là văn học, nghệ

thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh… Chính vì vậy, các “trung tâm văn hoá” có ở khắp mọi nơi Hoặc theo một cách hiểu thông thường khác: văn

hoá là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử, đức tin, tri thức được tiếp nhận… Vì thế, chúng ta thường nhận xét một người nào đó là văn hoá cao, văn hoá thấp, có văn hoá hoặc vô văn hoá

Dưới góc độ khoa học, hầu như mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, mỗi trường phái

và thậm chí là mỗi nhà khoa học đều có định nghĩa riêng của mình về văn hoá Trong cuốn Xã hội học văn hoá, tác giả Mai Văn Hai – Mai Kiệm, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện xã hội học, nhà xuất bản khoa học xã hội, 2010 đã tổng hợp nghiên cứu và phân loại các khái niệm văn hoá thành 6 nhóm cơ bản với một số đại diện tiêu biểu như:

Nhóm định nghĩa mô tả: Đại diện cho nhóm này là nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 – 1917) đã đưa ra khái niệm: “văn hoá (hoặc văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học) là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”

Nhóm định nghĩa lịch sử: tiêu biểu với định nghĩa của B.K Malinowski (1884 – 1942”: “Văn hoá bao gồm các quá trình kế thừa về kỹ thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị”

Nhóm định nghĩa chuẩn mực: Thường coi văn hoá là cách sống chung,

trong đó bao gồm các giá trị và chuẩn mực có khả năng chi phối đời sống chung của cộng đồng hay nhóm Nhà xã hội học người Mỹ William Isaac Thomas (1862 – 1947) và là hội viên sáng lập trường phái Chicago nhấn mạnh đến các

quan niệm về giá trị khi định nghĩa văn hoá, theo đó “văn hoá là các giá trị vật chất và xã hội của bất kì nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử…), không phụ thuộc vào việc đó là man rợ hay người văn minh”

Nhóm định nghĩa tâm lý học: Đại diện cho nhóm này là W Sumner (1840 – 1910), ông viết: “tổng thể những sự thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hoá”

Nhóm định nghĩa cấu trúc: tác giả Mai Văn Hai – Mai Kiệm chọn định nghĩa của học giả Việt Nam Đào Duy Anh: “Người ta thường cho rằng văn hoá chỉ là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hoá vốn

Trang 8

có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải như vậy học thuật tư tưởng có nhiên là ở trong phạm vi của văn hoá, nhưng phàm sinh hoạt về kinh

tế, về chính trị, về văn hoá cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải ở trong phạm vi văn hoá hay sao? Hai tiếng văn hoá chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: văn hoá là sinh hoạt”

Nhóm định nghĩa phái sinh (định nghĩa văn hoá từ góc độ nguồn gốc của

nó): định nghĩa tiêu biểu của P Sorokin (1889 – 1968), nhà xã hội học người

Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa xã hội học của Đại học Harvard: “Với nghĩa rộng nhất, văn hoá chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hoặc vô ý thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lốii ứng xử của nhau”

Tuy nhiên cũng theo tác giả, mặc dù có nhiều các định nghĩa và phân loại khác nhau song bởi mỗi định nghĩa đều phát hiện hay nhằm nắm bắt được một phương diện quan trọng nào đó nên không có một định nghĩa nào được gọi là một định nghĩa nhất quán và cạn kiệt về văn hoá Không phải ngẫu nhiên có nhà nghiên cứu đã nói rằng văn hoá là những cái người ta tìm thấy trên thực địa, chứ không phải trên các định nghĩa Người ta chỉ có thể xây dựng một định nghĩa về văn hoá trong một bối cảnh nhất định – với tư cách là một khái niệm làm việc – nhằm giúp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó được chuẩn xác mà thôi

Bên cạnh đó, tại Hội nghị quốc tế do Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) chủ trì từ ngày 26 tháng 7 đến ngày 6 tháng

8 năm 1982 tại Mê-hi-cô, trong bản tuyên bố về những chính sách văn hoá, định

nghĩa văn hoá được thông qua: “Văn hoá là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội” Theo định nghĩa của UNESCO, văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền lợi cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hoá đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán

và dấn thân một cách có đạo lý Chính nhờ tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân” Như vậy, theo quan niệm của UNESCO, văn hoá

không phải là một lĩnh vực riêng biệt Văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Văn hoá là chìa khoá của sự phát triển

Tại Việt Nam, định nghĩa văn hoá cũng rất đa dạng

Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam – Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn

hoá - Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: “Văn hoá là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”

Trong cuốn Cơ sở văn hoá Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho

rằng: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con

Trang 9

người sáng tạo và tích luỹ trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”

Tác giả Trần Quốc Vượng (chủ biên), trong cuốn Cơ sở văn hoá Việt

Nam định nghĩa: “Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người”

Trong chuyên đề văn hoá “Về văn hoá dân tộc cổ truyền Việt Nam”,

GS.TSKH Tô Ngọc Thanh – Chủ tịch Hội văn nghệ dân gian Việt Nam đã nêu

một số cách hiểu về văn hoá trong đó ông nhấn mạnh khái niệm: “Văn hoá là hoạt động sáng tạo của con người, nó phản ánh hiện thực, đồng thời tạo ra một hiện thực thứ hai không có sẵn trong thiên nhiên để phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của con người Quan điểm này quan tâm đến nét bản chất của văn hoá là hoạt động sáng tạo, một dạng hoạt động mà chỉ con người mới có và nhờ

nó mà con người tách ra khỏi thế giới động vật, đi vào kỉ nguyên văn minh Kết quả của những hoạt động đó là một “hiện thực thứ hai”

Có thể nhận thấy, cho đến nay trên thế giới cũng như trong nước có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá Sự khác nhau đó có nguồn gốc ở những cách tiếp cận và nhận thức văn hoá khác nhau ở mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và mỗi thời đại lịch sử Vì thế chúng ta không thể nhận định quan điểm này đúng hay không đúng, phù hợp hay không phù hợp mà tuỳ thuộc vào nhận thức và lĩnh vực chuyên môn của từng cá nhân để nhìn nhận

1.1.3 Xu thế phát triển của thời đại và quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về vấn đề bảo lưu, phát triển nền văn hóa dân tộc

Trong những năm qua vấn đề bảo lưu và phát triển nền văn hoá dân tộc nói chung và văn hoá các tộc người thiểu số nói riêng đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đưa vào Nghị quyết và triển khai vào cuộc sống Để có được

chính sách văn hóa toàn diện như hiện nay, đầu tiên phải kể đến bản “Đề cương văn hoá Việt Nam” (1943) – đây được xem là văn bản pháp lí đầu tiên của Đảng

ta nêu lên đường lối xây dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc Trong "Đề cương văn hoá Việt Nam", Đảng Cộng sản Đông Dương đã khẳng định: “Mặt trận văn hoá là một trong ba mặt trận (chính trị, kinh tế, văn hoá)” Cùng với

các mặt trận đấu tranh kinh tế và chính trị, Đảng xác định văn hoá cũng là một mặt trận đấu tranh độc lập đồng thời có mối liên hệ mật thiết với hai mặt trận trên trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ Thậm chí mặt

trận văn hoá còn cần được coi trọng hơn nữa vì “có lãnh đạo được phong trào văn hoá, Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả” và “phải hoàn thành được cách mạng văn hoá mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội”… Mục tiêu trước mắt mà "Đề cương văn hoá Việt Nam" đề

ra là xây dựng nền văn hoá mới dân tộc, khoa học, đại chúng và mục tiêu lâu dài

là xây dựng “văn hoá xã hội chủ nghĩa” Muốn xây dựng nền văn hoá dân tộc,

khoa học, đại chúng ta phải nắm vững ba nguyên tắc: dân tộc hoá, khoa học hoá

và đại chúng hoá Đường lối ấy được bổ sung, phát triển qua các kì đại hội, hội nghị Trung ương từ khoá I đến khoá VIII Nhưng có thể nói đến Hội nghị Trung ương 5 (khoá VIII) mới là sự đánh dấu bước phát triển toàn diện đường lối xây

Trang 10

dựng và phát triển toàn diện nền văn hoá Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương đảng (khoá

VIII) “Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã khẳng định: “Phương hướng chung của sự nghiệp văn hoá nước

ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống

và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” Để thực hiện tốt phương hướng đó, Nghị quyết trung ương 5

khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu lên các quan điểm chỉ đạo cụ

thể:“Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” Đây là luận điểm mới mẻ, sáng tạo đã

nói lên mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá và sự phát triển, nhấn mạnh vị thế, vai trò của văn hoá đối với chính trị, kinh tế và các lĩnh vực khác trong đời sống

xã hội Theo đó, chăm lo văn hoá là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không chăm lo giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể

có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Đồng thời, xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hoá, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện Văn hoá là kết quả của kinh thế đồng thời là động lực của

sự phát triển kinh tế Các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển

"Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nên văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" Đây là quan điểm chỉ đạo quan trọng, sát thực trong giai đoạn hiện

nay Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự

do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên Tiến bộ không chỉ về nội dung mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện truyền tải nội dung Tuy nhiên, tiến bộ không có nghĩa là chúng ta bỏ quên quá khứ Dân tộc ta có truyền thống lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước Trong quá trình đó đã hình thành và vun đắp nên những giá trị bền vững, những tinh hoa văn hóa của động đồng các dân tộc Việt Nam Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất Chính vì vậy, chúng ta xây dựng

Trang 11

nền văn hóa tiên tiến nhưng trong đó phải lồng ghép, bao hàm được các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Chúng ta có 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ, mỗi dân tộc đều có những giá trị và sắc thái văn hóa riêng Cùng với các giai đoạn thăng trầm của lịch sử, các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hóa của các

dân tộc anh em Chúng ta phải xây dựng "nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam", "coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị văn hóa mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số" Nền văn hóa tiên tiến đó vừa

phải mang nét chung thống nhất của các tộc người trên lãnh thổ, vừa phải đảm bảo gìn giữ và phát huy được các sắc thái văn hóa riêng, độc đáo của từng tộc người

Bên cạnh đó, quan điểm chỉ đạo của Đảng cũng xác định rõ nhiệm vụ

"xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng", "xây dựng, phát triển văn hóa

là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng"

Có thể thấy, Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII là sự phát triển toàn diện

và sáng tạo đường lối xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam Nghị quyết

đã xác định rõ ràng, cụ thể chủ thể lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ thể xây dựng nền văn hóa là toàn dân, trong đó đội ngũ trí thức, văn nghệ giữ vai trò quan trọng Đảng thực hiện chức năng lãnh đạo thông qua các đường lối, chính sách trên lĩnh vực văn hoá Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân, cho nên giải pháp vừa cơ bản, vừa lâu dài, vừa cấp bách, vừa thường xuyên mang tính đột phá là phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, gắn chặt phong trào thi đua yêu nước với phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) đã thực sự đi vào cuộc sống và được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đồng tình ủng hộ, được cả hệ thống chính trị quan tâm, tổ chức thực hiện Có thể nói, nó không chỉ là một văn kiện mang tính chất đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trên lĩnh vực văn hoá, mà còn thể hiện tư duy lí luận văn hoá một cách toàn diện và sâu sắc trong giai đoạn cách mạng mới Sau 15 năm thực hiện, từ thực tiễn xây dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc nói chung và văn hoá các tộc người thiểu số nói riêng trong những năm qua đã gợi mở thêm nhiều vấn đề mới cần được nghiên cứu để bổ sung và phát triển cho phù hợp với tình hình của xã hội Chính vì vậy, tại Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI trên cơ sở kế thừa và phát triển Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII, Hội nghị đã ban hành

Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước

Nghị quyết tiếp tục quan điểm chỉ đạo “Văn hoá là nền tảng tinh thần của

xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển đất nước Văn hoá phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội… Xây dựng văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm

Trang 12

đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt

Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học” Đồng thời,

Nghị quyết Trung ương 9 khoá XI nhấn mạnh thêm “Phát triển văn hoá vì sự

hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hoá…

trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp” Đây

là quan điểm chỉ đạo mới, tiến bộ và phù hợp với điều kiện tình hình mới của

đất nước ta trong giai đoạn hiện nay Nghị quyết lần này đề cao yếu tố con

người, cần thiết phải xây dựng con người mới vì con người là chủ thể để xây

dựng nên nền văn hoá dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội

1.2 Khái quát về người Thái

1.2.1 Tên gọi và lịch sử tộc người Thái

Tộc người Thái còn có tộc danh đồng bào tự gọi là Táy hoặc Thay cùng

các tên gọi khác là Man Thanh, Tay Mường, Tay Mười, Hàng Tổng, Tay Dọ,

Thổ

Cho đến nay việc nghiên cứu về lịch sử cư trú của tộc người Thái ở Việt

Nam nói chung và người Thái Sơn La nói riêng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau

Căn cứ vào các tài liệu thành văn như “Quắm tô mương” (chuyện kể bản

mường) hay “Táy pú sấc” (theo dõi những bước đường chinh chiến của cha

ông), “Hịt khoỏng bản mường” (phong tục tập quán), Piết mương, phanh

mương… Những công trình nghiên cứu nguồn gốc lịch sử người Thái của các

nhà khoa học đã kết luận rằng: Người Thái ở Việt Nam nói chung và người Thái

ở Sơn La nói riêng đều có nguồn gốc ở Đông Nam Á cổ đại thuộc chủng

Mônggôlôit Đại chủng Mônggôlôit gồm các tiểu chủng: Mônggôlôit Phương

Bắc, Mônggôlôit Phương Nam và tiểu chủng da đỏ châu Mỹ Hầu hết các tộc

người Đông Nam Á cổ đại đều thuộc chủng Mônggôlôit Phương Nam Tiểu

chủng Mônggôlôit thuộc các nhóm loại hình: Anhđônêdiêng, Nam Á, Vêđôti,

Nêgrôti Trong đó, người Thái thuộc nhóm hình Nam Á

Theo truyền thuyết dân gian cũng như các văn tự chữ Thái cổ tồn tại đến

ngày nay, những văn bản trên lá cây, giấy bản, sách, những cuốn sách sử chép

tay hàng trăm trang… đã nói về quê hương nơi chôn nhau cắt rốn là dải đất lớn

được tưới bởi chính con sông và là nơi sông Đà gặp sông Hồng (Đin xam xẩu,

nậm cẩu que, pá Té Tao) Đó là vùng Vân Nam (Trung Quốc) vào Tây Bắc Việt

Nam, chốn đầu nguồn của Nậm Tao (Hồng Hà), Nậm Tè (sông Đà), Nậm Ma

(sông Mã), Nậm Khoong (sông Mê Kông), Nậm U, Nậm Na…

Về quá trình thiên di của người Thái vào vùng Sơn La – Tây Bắc (Việt

Nam), cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất:

Trong khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Thái Thị Minh, chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam do Thạc sĩ Lò Văn Nét - Trường Đại học Tây Bắc hướng dẫn

có nghiên cứu và khái quát về lịch sử dân tộc Thái như sau: Trước thế kỉ XI,

nhiều nhóm Thái lẻ tẻ di cư vào vùng Tây Bắc (Việt Nam), sống xen kẽ bên

người Khơ-mú, nhưng có truyền thuyết lại nói rằng nguồn gốc của người Thái ra

đời ở mảnh đất Mường Thanh (Điện Biên) mà xưa kia gọi là Mường Then,

Mường Bó Té (đầu nguồn sông Đà), một truyền thuyết khác nói rằng người Thái

sinh ra từ quả bầu tiên của mảnh đất Mường Thanh Có tài liệu khác viết rằng

Trang 13

"người Thái ở đất Hán, đưa nhau xuống ăn ở Mường Lò – Nghĩa Lộ (Yên Bái)"

Ở đây họ tiến hành khai phá ruộng nương, lập bản mường Đến đời con là Tạo Mường, tiếp tục phát triển đến vùng đất xung quanh Khi đất Mường Lò trở nên chật hẹp, người đông thì cụ chủ Lạn Chượng họ Lò Cầm đã tập hợp được 11 họ Thái gồm: Lò Ngần, Lò Nọi, Lường, Quàng, Cà, Tòng, Vi, Lừ La, Mè lên cư trú trên đất của người Thái phân tán ra khắp các vùng ở Tây Bắc

Lạn Chượng (có người gọi là Lạc Chượng) là con của Tạo Lò đã tiếp nối cuộc hành quân của người Thái đen phát triển thế lực từ Mường Lò đến Mường Chiên, Mường Trai, Ít ong huyện Mường La – Sơn La và sau mười năm thì người Thái đen đến Mường Thanh – Điện Biên Cuộc di dân này kéo dài đến hơn hai mươi năm và Mường Muổi trở thành trung tâm của người Thái đen

Theo tác giả Cầm Trọng và Phan Hữu Giật, người Thái có mặt ở Tây Bắc

ít ra cũng từ các thế kỉ đầu công nguyên

"Nếu như trong các thế kỉ đầu công nguyên, lịch sử miền Vân Nam Trung Quốc đã xuất hiện khối Ô Man Đông Thoán và Bạch Man Tây Thoán thì rất có thể người Thái đã có mặt ở các địa điểm như Nậm Lai Nong Se, Mường Ôm, Mường Ai và Mường Tung Hoàng và một số nơi như vùng lòng chảo Mường Then (Thanh), Mường Chiến (Ngọc Chiến - Mường La), Mường Tấc (Phù Yên - Sơn La)"

"Vào khoảng thế kỉ VII - VIII người Thái đã đạt quyền làm chủ nước Nam Chiếu từ các dân tộc nói tiếng Tạng - Miến và xúc tiến các đợt di cư tìm miền đất mới dựng bản mường Nhóm Táy Đăm Mường Then di cư sang đất Lào rồi đến miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An"

Theo dã sử và truyền thuyết của người Thái thì việc mở đất của họ gắn liền với các cuộc chiến tranh chinh phục các tộc người thuộc ngữ hệ Môn - Khmer, bộ phận cư dân có nguồn gốc xa xưa của vùng đất này, "cho đến thế kỉ XII, người Thái hoàn toàn làm chủ đất Mường Thanh, biến nơi đây thành trung tâm thu hút người Thái khắp miền" với sự thống trị của Lạn Chượng và các con cháu của ông Càng về sau do sự bất hòa của anh em trưởng thứ quý tộc nên các thế lực quý tộc Mường Lay và người Lự ở Thượng Lào đã đánh đuổi quý tộc Thái Đen ở Mường Thanh nên con cháu Lạn Chượng phải dần di cư về Mường Muổi (Thuận Châu - Sơn La)

Sau khi ổn định đến thế kỉ XIV dưới thời chúa Lò Lẹt, Mường Muổi đã trở thành trung tâm nổi tiếng trong vùng người Thái khắp miền Tây Bắc nói chung Khoảng cuối thế kỉ XIV, dưới thời Tạo Ngần, Mường Muổi đã trở thành trung tâm thống nhất bộ tộc người Thái ở phía Tây, quy tụ được cả một vùng dân cư rộng lớn với nhiều tộc người khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán

về với chính quyền phong kiến trung ương tập quyền" Sau này cho dù xã hội Thái đã trải qua những năm tháng bị phong kiến, đế quốc chia rẽ nhưng lịch sử người Thái ở đây vẫn phát triển thành một khối thống nhất Đó là một nhóm địa phương của một tộc người thiểu số thuộc đại gia đình dân tộc Việt Nam, có sắc thái riêng nằm trong sắc thái chung của dân tộc Việt Nam

Trang 14

1.2.2 Dân số và tình hình phân bố

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, được cấu thành bởi 54 dân tộc với

54 nền văn hóa khác nhau Trong đó, cộng đồng dân tộc Thái được coi là một thành viên quan trọng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Thái ở Việt Nam có dân số 1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam và có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố Trong đó, người Thái cư trú tập trung tại các tỉnh: Nghệ An (295.132 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh và 19,0% tổng số người Thái tại Việt Nam), Thanh Hóa (225.336 người, chiếm 6,6% dân số toàn tỉnh và 14,5% tổng số người Thái tại Việt Nam), Điện Biên (186.270 người, chiếm 38,0% dân

số toàn tỉnh và 12,0% tổng số người Thái tại Việt Nam), Lai Châu (119.805 người, chiếm 32,3% dân số toàn tỉnh và 7,7% tổng số người Thái tại Việt Nam), Yên Bái (53.104 người), Hòa Bình (31.386 người), Đắk Lắk (17.135 người), Đắk Nông (10.311 người)

Tại Sơn La, theo số liệu điều tra năm 2015 của Ban Dân tộc thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La, với tổng số 140.144 hộ (623.386 khẩu), người Thái là cộng đồng chiếm tỉ lệ đông đảo nhất (khoảng 54% dân số toàn tỉnh) và cư trú ở hầu khắp các huyện, thị trong tỉnh

Theo các nhà nghiên cứu dân tộc Thái vùng Tây Bắc nói chung và Thái Sơn La nói riêng về cơ bản có hai nhóm ngành chính gồm:

Nhóm Thái trắng (Tay đón hay Tay khao) cư trú chủ yếu ở Điện Biên, Lai Châu và một số huyện ở Sơn La như Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Phù Yên Ở Đà Bắc

tỉnh Hoà Bình có một nhóm tự gọi là “Tay đón” được gọi là Thổ Ở Dương

Quỳ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai có nhóm Thái trắng chịu ảnh hưởng đậm nét của văn hoá Tày Ở Sa Pa, Bắc Hà (Lào Cai), có nhiều nhóm Thái trắng đã bị Tày hoá Người Thái có mặt dọc hữu ngạn sông Hồng và tỉnh Lai Châu, Điện Biên từ thế kỉ XIII, làm chủ đất Mường Lay hồi thế kỉ XIV, sang thế kỉ XV một

bộ phận người Thái trắng di cư xuống Đà Bắc và Thanh Hoá

Nhóm Thái đen (Tay đăm) cư trú chủ yếu ở khu vực hai tỉnh Sơn La và Điện Biên Tại Sơn La, nhóm Thái đen cư trú tập trung tại một số huyện như Thuận Châu, Yên Châu, Sông Mã, Mường La, thành phố Sơn La và một phần của huyện Quỳnh Nhai Ngoài ra, các Tay Thanh, Tay Mương, Tay Khăng ở miền Thanh Hoá, Nghệ An cũng từ mạn Tây Bắc chuyển xuống cách đây vài trăm năm và bị ảnh hưởng bởi văn hoá và nhân chủng của cư dâ địa phương và người Lào Nhóm Tay Thanh từ Mường Thanh (Điện Biên) đi từ Lào vào Thanh Hoá và đến Nghệ An định cư cách đây hai, ba trăm năm Nhóm này có nhiều đặc điểm gần gũi với nhóm Thái Yên Châu (Sơn La) và chịu ảnh hưởng của văn hoá Lào

Bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng ngoài hai nhóm Thái đen và Thái trắng còn có nhóm Thái đỏ (gồm nhiều nhóm khác nhau) cư trú ở một số huyện như Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu (Hoà Bình) và một số huyện miền núi khác như Bá Thước (Thanh Hoá), Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tương Dương (Nghệ An) Tuy nhiên, quan điểm này đến nay vẫn còn gây nhiều tranh

Trang 15

cãi và còn cần thêm các bằng chứng nghiên cứu để chứng minh Hầu hết người

ta vẫn thống nhất rằng dân tộc Thái được chia thành hai nhóm ngành cơ bản là Thái đen và Thái trắng

1.2.3 Đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội

1.2.3.1 Đặc điểm kinh tế

So với các dân tộc thiểu số khác, có thể nói người Thái di cư vào Việt Nam từ khá sớm Chính vì vậy, họ cư trú đa số ở địa hình thung lũng ven sông, suối và đồng bằng lòng chảo, tiêu biểu như cánh đồng Mường Thanh (Điện Biên), Mường Lò (Văn Chấn - Yên Bái), Mường Than (Than Uyên - Lai Châu), Mường Tấc (Phù Yên - Sơn La) Với đặc điểm cư trú đó, canh tác ruộng lúa nước ở dân tộc Thái đã trở thành truyền thống từ lâu đời, là một nét văn hóa đặc trưng

Ruộng lúa của dân tộc Thái có hai loại: loại thứ nhất gọi là ruộng vỡ hoang "na tí", là loại ruộng của những người mới vỡ hoang Loại ruộng này nói

chung nhỏ hẹp, nằm rải rác ở vùng đất dốc hoặc ở ven suối khi được người dân

tự khai phá đào bờ, khoanh thửa, san đất cho bằng phẳng và cày bừa thành

ruộng để cấy lúa Loại thứ hai đưuọc gọi là ruộng toàn mường "ná hang mướng" Đây là loại ruộng công chiếm toàn bộ ruộng trong các châu mường

Loại ruộng toàn mường đưuọc hiểu theo nghĩa sở hữu đất đai, là ruộng của cả mường dưới sự quản lí của A Nha, Tạo Phìa người dân có trách nhiệm lao động công để sản xuất phục vụ quý tộc Thái thời phong kiến Ruộng toàn mường được các chức dịch Phìa, Tạo chia một phần cho các chức dịch cấp dưới

(theo chức vụ cai quản ở cấp xã, bản) để cày cấy đưuọc gọi là ruộng "na bớt"

(cấp cho chức dịch hưởng lợi)

Do điều kiện khoa học kĩ thuật chưa phát triển, cũng như đặc điểm địa hình, vì vậy ruộng của người Thái có nhiều cách gọi khác nhau tùy thuộc vào khả năng canh tác của từng loại ruộng, như loại ruộng chờ nước mưa để canh tác

thì gọi là "na lạnh", ruộng có nước tưới thường xuyên, bằng phẳng gọi là "na tông", ruộng được khai phá men theo chân núi gọi là "na hon" Cùng với đó,

mỗi loại ruộng lại được phân phối sở hữu và tổ chức canh tác khác nhau

"Na tông" được xếp thành từng bậc từ thấp lên cao nối tiếp với khu vực

"na hon" ở chân núi Do đó có thể thấy khái niệm bằng của "na tông" chỉ bó tròn

trong từng thửa ruộng Và để biến địa hình bằng phẳng ở miền núi thành "na tông" bao giờ cũng phải tập trung lao động và tạo ra các bờ để ngăn nước Nói

cách khác việc tạo "na tông" phải sử dụng kỹ thuật tạo bờ thửa để tạo thành các

ruộng cao, thấp, ngang dọc sao cho thích hợp với từng khu đất bằng trong toàn

bộ vùng thung lũng, lòng chảo hay cao nguyên có độ dốc

"Na hon" là khu đất bị cắt vụn thành từng thửa ruộng Đặc điểm cơ bản của địa hình để tạo ra khu "na hon" là không có mặt bằng tự nhiên, hoặc nếu có cũng rất nhỏ hẹp Bởi vậy kĩ thuật phổ biến của việc làm "na hon" bao giờ cũng

tập trung vào khâu tạo mặt bằng Trên cơ sở đó mới bắt đầu đắp bờ ngăn nước

Trong canh tác ruộng lúa nước, thủy lợi là vấn đề được người Thái đặt lên

hàng đầu vì theo họ "có nước mới nên ruộng, có ruộng mới nên lúa" Do đó đòi

hỏi phải vừa làm vừa sáng tạo để hoàn chỉnh hệ thống dẫn nước tưới ruộng Trải

Trang 16

qua hàng chục thế kỉ canh tác trên các thửa ruộng nước, hệ thống thủy lợi của

người Thái đã được tóm tắt trong câu thành ngữ "mương, phai, lái, lín" (khơi

mương đắp đập, dẫn nước qua chướng ngại, đặt máng trên cánh đồng) Đặc biệt

họ còn biết lợi dụng sức nước dựng hệ thống cây cọn quay để đưa nước từ sông suối lên đồng Đây đưuọc coi là điểm nổi bật của người Thái trong quá trình sản xuất ruộng nước so với các dân tộc thiểu số khác trong cả nước

Mương là đường khai dẫn nước vào ruộng Nói về việc đào mương,

người ta dễ thấy rằng ở người Thái, với trình độ kĩ thuật thủ công như trước đây,

đã đạt được thành tựu đáng kể Có những con mương dài ngót chục cây số vắt qua triền núi đá hoặc uốn mình men theo đường khúc khuỷu của chân đèo đầy chướng ngại dường như là điều không dễ dàng, thế mà cha ông họ đã làm được

để đưa nguồn nước từ xa đổ vào ruộng Trong tay họ lúc đó chỉ có con dao với lưỡi mài bằng sắt tra cán gỗ, cùng với sự hiểu biết theo kinh nghiệm về nguyên tắc đòn bẩy, về lực tác động thế mà họ đã thi công được các công trình về mương Ngày nay do sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật hệ thống mương máng đã đưuộc bê tông hóa, từ dòng suối xa xa, người ta xây kè mương dẫn nước về ruộng đảm bảo tưới tiêu kịp thời Tỉnh Sơn La hiện nay, 100% hệ thống mương phai đã được bê tông hóa Đây là sự tiến bộ kĩ thuật góp phần làm tăng năng suất lao động đưa năng suất từ 3 - 4 tấn/ha lên 8 - 10 tấn/ha/vụ

Phai là một loại đập ngăn suối do người Thái dựng bằng gỗ, tre, nứa và

đất để dâng nước đổ vào mương, chảy tới ruộng Phai quyết định lượng nước trong mương Phai vững thì mương có nước tưới cho ruộng và mùa màng đảm bảo thu hoạch tốt Ngược lại, phai vỡ, mương, ruộng khô mùa màng thất bát Vì

vậy, người Thái có câu " phai vỡ như cha chết" để nói lên tầm quan trọng của

phai trong quá trình canh tác nông nghiệp ruộng nước Ưu điểm nổi bật của phai là: lực nước càng đẩy mạnh sẽ càng làm tăng thêm sức nén chặt các tầng phai xuống và phai càng bám vào đáy sông suối Như vậy trong lúc chưa biết dùng đến xi măng cốt thép để xây móng thì việc ken đập toàn bằng gỗ, tre theo kiểu phai là một thành tựu to lớn của hệ thống thủy lợi Thái Phai cũng như mương là một trong những phương tiện quan trọng nhất đảm bảo cho việc làm ruộng nước Bởi vậy tập quán của người Thái quy định mọi thành viên trong mường đều phải có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ mương phai Nghĩa vụ đắp phai, đào mương được quy định thành một khoảng "việc mường" Ở mỗi một mường đều có một viên "quan nà" và đội trực phiên của mường thường xuyên xem xét và sửa chữa mương phai Cũng như mương, hiện nay phai phai thường được cây dựng bằng xi măng đá hoặc kè đá rất kiên cố

Lái bao gồm những phai của hệ thống cọn nước, đồng thời cũng bao gồm

những phai phụ của phai chính dùng để ngăn nước ở các khúc mương hay bị vỡ, tiếp tục dâng nước mương lên cao cho chảy vào ruộng, dẫn nước mương chảy qua các chướng ngại vật to như tảng đá, cây cối Lái cũng là những đoạn phai ngắn đắp ở đoạn cuối phía trên bờ lở để tránh nước xói mòn vùng bờ ruộng hoặc xói vào các điểm tựa cảu phai

Lín là hệ thống dẫn nước vào ruộng Hệ thống này người Thái thường làm

bằng các loại cây có dóng như tre, bương, vầu; thân gỗ đục hoặc vỏ cứng bên

Trang 17

ngoài như cây báng, cây móc Máng cũng có nhiều loại và mỗi loại có tên gọi

khác nhau Mỗi máng có một tác dụng riêng như máng ngầm, ngắn gọi là "to"

hay "áy" thường dùng để đưa nước vào các thửa ruộng sát mương, rút hết nước

ở ruộng cao xuống ruộng thấp hoặc tháo toàn bộ nước của một thửa ruộng ra cho cạn Bởi vậy loại máng này thường có nắp đậy để khi đóng thì giữ nước và khi mở thì tháo hết nước Cũng có những máng dài tới hai, ba trăm mét dẫn

nước từ trên cao xuống thấp để tưới vào ruộng cũng gọi là lín Những máng bắc

qua sông, suối phải đặt trên cầu treo thì gọi là "cuộm" Ống dẫn nước qua chướng ngại vật cao hơn nguồn nước áp dụng theo nguyên tắc lợi dụng lực đẩy

của áp suất nước ở trên cao thì gọi là "lín cun"

Có thể thấy qua việc tạo ra hệ thống thủy lợi "mương, phai, lái, lín",

người Thái đã tích lũy được một số kinh nghiệm để dẫn nước tưới vào ruộng theo phương pháp thủ công Song do trình độ kỹ thuật còn kém phát triển dẫn đến đồng bào Thái còn nhiều bất lực trước những khó khăn về nước Khó nhất vẫn là vấn đề đưa nước lên cao hoặc đưa nước đi xa qua nhiều chướng ngại vật khổng lồ Bởi vậy, nhiều ruộng, nhiều bản lẽ ra có nhiều nước để dùng, để tưới

mà không có Cũng vì vậy mà có nhiều bản hoặc ruộng mang tên liên quan đến

vấn đề khan nước như "bản phạ" (bản trời), "bản na lạnh" (bản ruộng hạn), "na hâu thả" (thửa ruộng chờ) Tuy nhiên chính nhờ có những biện pháp thủy lợi

thô sơ này đã góp phần ổn định đời sống của cư dân người Thái Cùng với việc phát triển nông nghiệp ruộng lúa nước, người Thái dần ổn định nơi cư trú, lập

bản, dựng mường và phát triển thành "mười sáu châu Thái" hùng mạnh

Cùng với làm ruộng nước, canh tác nương rẫy cũng là một nghề quan trọng, có nhiều tác dụng trong đời sống xưa nay của người Thái Khác với ruộng chỉ độc canh cây lúa nước thì trên nương cho phép người ta mở rộng việc trồng trọt, có thể xen canh các loại cây trồng rất tốt, trồng được cả lúa cạn và các loại cây hoa màu khác như ngô, sắn, khoai, lạc, vừng đặc biệt là trồng bông để giải quyết vấn đề mặc của đồng bào Đây được xem là lợi thế của việc làm nương cổ truyền Chính nhờ lợi thế đó mà đại bộ phận nông dân đã định canh, định cư với việc làm ruộng và thực hiện việc luân canh trên nương để tăng gia thêm của cải vật chất Nương và ruộng do đó trở thành hai đối tượng lao động của cư dân Thái trong lĩnh vực sản xuất và tái sản xuất nông nghiệp

Nương của người Thái có nhiều loại: nương dốc, nương bằng, nương một

vụ, nương hai vụ, nương lúa, nương ngô, nương bông Song nếu rút lại phân theo loại hình kinh tế thì chỉ có thể có hai loại chính: dùng cày trên đất khô vì phải dùng đến sức kéo của đại gia súc như trâu và loại khá phổ biến hơn vẫn là nương dùng cuốc hoặc dùng tay Theo lối làm ăn của người Thái xưa có những loại nương chuyên canh đồng thời xen canh như nương lúc thường trồng xen đậu, bầu, bí; nương bông trồng xen dưa; nương kê trồng xen vừng và dành một khoảng để trồng lạc; ngoài ra còn có nương sắn trồng xen ngô gối vụ Hiện nay, nương của người Thái chủ yếu trồng ngô, khoai, sắn, cây màu, bí, khoai sọ và được trồng theo thời vụ, đúng kĩ thuật, gieo trồng, làm cỏ, thu hoạch, phòng bệnh theo kĩ thuật mới Việc thu hoạch sản phẩm trên nương vẫn theo phương pháp thủ công, dựa vào sức người là chính, tuy nhiên các khâu sơ chế

Trang 18

như tách hạt, phơi khô, vận chuyển, bảo quản đã được áp dụng kĩ thuật mới Năng suất ngô hiện tại đạt 7 - 10 tấn/ha, tương đương thu nhập từ 30 - 40 triệu đồng/ha, tuy vậy việc đầu tư giống, phân bón, công lao động khá cao nên nhìn chung hiệu quả thu nhập thực tế của người dân vẫn còn thấp

Bên cạnh đó, người Thái còn chú trọng canh tác vườn để trổng cây ăn quả, rau xanh phục vụ đời sống và phát triển kinh tế hộ gia đình Sự xuất hiện nghề làm vườn mới của người Thái theo hướng thâm canh như có vườn rau chuyên sản xuất để bán bắt đầu xuất hiện từ sau những năm 1970 trở lại đây, khi

mà người Thái học được nghề trồng cải bắp, trồng hành, trồng cà, trồng tỏi của đồng bào miền xuôi lên xây dựng vùng kinh tế mới vì sống xen canh với đồng bào người Thái Nghề làm vườn mới như trồng rau xanh có ý nghĩa như một cuộc cách mạng trong sản xuất rau của người Thái, từ năm 1976 - 1986 tại gia đình một người Thái ở Bản Nà Bó xã Mường Sang, Mộc Châu đã sản xuất mỗi năm hàng chục tấn rau bắp cải, su hào để bán tại thị trấn Nông trường, thị trấn Mộc Châu Tiếp đó, bà con Bản Cọ, xã Chiềng An, thị xã Sơn La trước đây đã hình thành nên hợp tác xã chuyên sản xuất rau xanh để bán phục vụ đô thị được phát triển Đây là những yếu tố mới có tính chất cách mạng trong nghề làm vườn của người Thái Họ trồng rau, thâm canh tưới, tỉa, bón phân chuồng, phân hóa học và thu hái đi bán như người xuôi vậy Hiện nay, người Thái còn phát triển thêm nghề trồng nấm, trồng hoa cũng với mục đích để bán ra thị trường

Đối với vườn quả của người Thái trồng thành vườn cho thu hoạch có giá trị kinh tế bắt đầu phát triển từ những năm 1980 trở lại đây Các cây ăn quả được trồng chủ yếu là mận, mơ, đào tại các địa phương Mộc Châu, Mai Sơn, thành phố Sơn La, Thuận Châu, Sông Mã mang lại thu nhập cao cho người dân

Một loại vườn, nương đồi mới xuất hiện từ những năm 1990 trở lại đây là vường đồi cà phê với diện tích toàn tỉnh trên 1.200 ha (báo cáo tại Hội thảo Cà phê năm 2012) đã cho đồng bào thu nhập khá cao Cà phê được trồng từ năm

1994, diện tích lúc đầu khoảng 30 ha, qua các năm dần tăng lên, đến năm 2008

cả tỉnh đã có 698,7 ha, năm 2012 là 1.200 ha với bình quân gần 1 ha/hộ Cà phê của người Thái Sơn La được trồng chủ yếu tại các địa phương Thuận Châu, thành phố Sơn La và Mai Sơn Đây là ba huyện trong tỉnh có lượng cà phê lớn nhất và được Hội cà phê Việt Nam đánh giá là sản phẩm có chất lượng và ngon

Về kinh tế, cà phê là loại cây công nghiệp có giá trị cao nhất trong những năm gần đây

Có thể nhận thấy, người Thái ngày nay đã biết cải tạo vườn tạp thành vườn thâm canh, có tác động khoa học kĩ thuật và tạo được nhiều loại vườn có giá trị kinh tế như vườn rau chuyên canh, vườn cây ăn quả, vườn đồi cà phê Các loại vườn mới đã có tác động tốt trong việc nâng cao đời sống và thu nhập cho đồng bào Thái nhưng không phá vỡ tập quán truyền thống văn hóa dân tộc

Nghề thủ công của người Thái rất phong phú, phát triển đạt trình độ cao Các nghề thủ công truyền thống phải kể đến đó là nghề dệt, nghề đan lát và một

số nghề thủ công khác đã tồn tại trong truyền thống, tồn tại hiện tại và có những phát triển ở giai đoạn tiếp theo Phổ biến trong các gia đình người Thái xưa kia

là nghề đan lát mây tre để tạo ra các sản phẩm thủ công sử dụng trong cuộc sống

Trang 19

hàng ngày như nong, nia, dần, sàng, mặt bàn, mặt ghế… Ngày nay, dưới tác động của khoa học kĩ thuật làm tăng năng suất, tăng lao động cũng đã tác động làm thay đổi nghề đan lát của bản Thái Hiện chỉ còn một số cụ già trong bản còn biết đan lát một số đồ dùng trong gia đình như đan ép khảu, đan ghế mây, đan mâm, ấp, xá… đồng thời nhiều sản phẩm đan lát thủ công truyền thống trong các gia đình cũng dần được thay thế bằng các sản phẩm công nghiệp khác

như túi nhựa, túi ni lông, bao tải… được mua từ chợ về hoặc cái bem trước đây

nay đã được thay thế bằng những hòm, những tủ đựng rất đẹp mắt

Nghề dệt cũng là một nghề thủ công truyền thống và đạt đến trình độ phát triển cao cảu người Thái Nghề dệt gắn liền với người phụ nữ Thái Tục ngữ

Thái có câu “xấp đôi tay đã thành hoa văn, ngửa bàn tay đã thành hoa lá” Nếp

sống xưa cho rằng biết làm vải thì mới là phụ nữ, bằng không thì cho dù người phụ nữ đó có chăm chỉ mọi việc khác đến đâu cũng bị xã hội cho là chây lười, thường thì sẽ không có ai muốn lấy làm vợ Người đàn bà sành nghề làm vải thì

được bản mường tặng danh hiệu “đàn bà tám cạnh sắc nét” Điều đó cho thấy,

kéo sợi, dệt vải đã trở thành thước đo chuẩn mực của người phụ nữ Thái trong

xã hội trước đây Sản phẩm của nghề dệt rất đa dạng Từ đôi bàn tay khéo léo của mình, người phụ nữ Thái đã tạo ra các sản phảm phẩm độc đáo như khăn piêu, túi thổ cẩm, vỏ chăn khít, mặt gối, vải trắng, vải màu kẻ ca rô và nhiều sản phẩm khác… hiện nay tại một số địa phương như Yên Châu, Mộc Châu, thành phố Sơn La, Thuận Châu… nghề dệt thổ cẩm vẫn còn tồn tại nhưng số lượng hộ còn duy trì nghề này không nhiều vì công nghệ dệt thủ công quá cũ, giá thành cao không đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm của Trung quốc nhập vào thị trường

Ngoài ra, người Thái còn có một số nghề thủ công mang tính chuyên nghiệp khác như nghề làm nông cụ cuốc, xẻng, dao, kéo… Người Thái còn biết dùng bàn xoay, độ nung cao trong nghề làm gốm tạo thành các chum, vại, nồi, chõ đất, bát đĩa đạt đến trình độ mĩ thuật và kĩ thuật

Người Thái trước đây có tập quán nuôi trâu thả rông trong những Púng rào giậu kín, tự chúng sống, sinh đẻ, đến mùa mới bắt trâu về kéo cày Nay họ

đã nuôi trâu theo gia đình, có chuồng trại riêng Việc chăn nuôi gà, lợn, ngan, ngỗng cũng rất phát triển Vật nuôi vừa trở thành hàng hoá, vừa để sử dụng trong các dịp lễ tết

Kinh tế hái lượm vẫn chiếm một địa vị đáng kể trong đời sống của người Thái Rừng cung cấp các loại rau, quả, hạt các loại thú lớn nhỏ Rừng còn cho các loại cây thuốc, tre, nứa, gỗ… Các khe suối cho tôm, cua, cá, ốc, các khe suối lớn cho cá to Họ còn có thói quen nuôi cá trong ruộng lúa, ngày nay họ nuôi cá trong lồng dọc theo hai bên các dòng sông

Nhìn chung có thể nhận thấy, kinh tế của người Thái ngày nay đã có những bước phát triển đáng kể Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, mang tính chất tự cấp tự túc trong các bản mường, hiện nay người Thái đã bắt đầu áp dụng khoa học kĩ thuật vào quá trình sản xuất, tích cực tham gia vào nền kinh tế thị trường, mở rộng các mối quan hệ giao thương hàng hoá với các vùng miền trong cả nước và các dân tộc lân cận trong miền Kinh tế hộ gia đình nói riêng

Trang 20

và kinh tế của cộng đồng người Thái nói chung từng bước phát triển, đảm bảo cho đời sống người dân ngày một nâng cao

1.2.3.2 Đặc điểm xã hội

Người Thái là tộc người có thiết chế xã hội khá phát triển trong xã hội truyền thống Cộng đồng người Thái trong xã hội cổ truyền được tổ chức từ gia đình – dòng họ - bản – mường (chiềng) – châu mường (chiềng) Đó là mô hình

tổ chức xã hội đạt trình độ khá cao mà không phải dân tộc nào ở nước ta trong

xã hội truyền thống cũng có

Thiết chế xã hội đầu tiên phải kể đến đó là gia đình, trong xã hội của người Thái hôn nhân theo kiểu phụ hệ, nguyên tắc cơ bản trong hôn nhân là ngoại hôn dòng họ và hôn nhân một vợ một chồng bền vững Gia đình của người Thái trước năm 1954 tồn tại phổ biến hình thái tàn dư của chế độ đại gia đình – nhiều thế hệ chung sống trong một ngôi nhà sàn lớn, làm chung, ăn chung… Sau năm 1954 đến nay gia đình cộng đồng người Thái chủ yếu là gia đình hạt nhân ( một vợ một chồng) Cơ cấu, sự vận hành gia đình của người Thái thể hiện sự bình đẳng, tôn trọng nhau giữa các thành viên Phụ nữ Thái trong gia đình được tôn trọng và chủ yếu làm các công việc là nội trợ và sản xuất Nam giới tham gia các công tác xã hội nhiều hơn Có thể nói hôn nhân và gia đình của người Thái

đã có sự chuyển đổi theo chế độ và theo pháp luật mới, đảm bảo sự hội nhập và tồn tại hài hòa giữ yếu tố mới và bản sắc tộc người

Thiết chế xã hội thứ hai cần đề cập tới là quan hệ dòng họ Dòng họ của người Thái cũng mang yếu tố gia đình lớn Dòng họ là tập hợp người theo quan

hệ dòng máu và cùng ý thức về cùng một gốc tổ tiên trước đây Đến nay dòng

họ của người Thái vẫn tồn tại với phương thức là tính cố kết cộng đồng bền

chặt Mỗi một dòng họ Thái thường có liên quan đến một “vật tổ” (totem), vật

tổ đó có thể liên quan đến một loài vật hoặc một vật vô tri vô giác đó hoặc hoặc một hành động gì trùng tên với dòng họ Ví dụ họ Lò kiêng giết, ăn thịt chim Táng Lò, không ăn măng lò; họ Quàng kiêng giết, ăn thịt Hổ; họ Cà kiêng giết,

ăm thịt chim cốt ca…

Người Thái có ba mối quan hệ về họ hàng, đây là nét đặt trưng và thể hiện sức sống lâu bền tạo nên tính cố kết cộng đồng quan trọng qua thời gian và các thời đại lịch sử, những quan hệ đó đó gồm:

Ải noọng gồm những thành viên nam của từng dòng họ cùng tổ tiên, cùng thế hệ được quan hệ hôn nhân với những người con gái thuộc những dòng họ đã quy định

Lúng ta là thành viên nam của dòng họ có quan hệ hôn nhân với thành viên nam của Ải noọng, tức là con gái về làm dâu bên Ải noọng

Nhính xao là những thành viên nam của những dòng họ có quan hệ hôn nhân với thành viên gái của Ải noọng, tức là con trai về làm rể bên Ải noọng

Mối quan hệ trên nhấn mạnh đến quan hệ và cố kết của các thành viên nam trong cộng đồng dòng họ xoay quanh cái trục hôn nhân Có thể nói đây là nét rất đặc trưng của cộng đồng Thái trong quan hệ hôn nhân, quan hệ xã hội – một trong những thành tố quan trọng tạo nên sức sống lâu bền của tộc người bên cạnh những giá trị văn hóa khác

Trang 21

Bản được hình thành trong lịch sử tộc người, có đơn vị tổ chức dân cư ổn định, có ranh giới đất đai rõ rệt Cộng đồng lãnh thổ này dường như đã ăn sâu

vào tiềm thức trong ý thức hệ truền thống nên mới có thuật ngữ biểu thị là “đất bản” (đin bản) Người Thái định nghĩa: “Vũng nước đã thành ao, hai nhà thì thành bản” Như vậy bản nhỏ nhất có hai nhà nhưng vùng đất bản hoàn chỉnh

phải có từ mười nóc nhà trở lên, phải có đất thung lũng được tưới và được bồi đắp bởi phù sa sông suối đủ điều kiện để khai phá thành đồng lúa, có phạm vi đất núi rừng để phục vụ cho việc làm nương rẫy, khai thác những sản vật từ thiên nhiên như măng, nấm, rau, quả…Ngoài ra rừng còn đi vào cuộc sống tâm linh Theo tín ngưỡng cổ truyền thì bản truyền thống của người Thái bao giờ

cũng có hai khu rừng hoang được mang tên “rừng kiêng” (đông căm) hay “rừng ma” (đông fi) và “rừng tha ma” (đông pá heo) Rừng ma là nơi diễn ra các thủ

tục tang lễ: lập dàn và thiêu xác của người Thái đen và là nơi chôn cất của người Thái trắng, làm nhà mồ…và không ai dám đến chặt phá khu rừng này Rừng ma cửa áo (đông fi tu xửa) là nơi dành cho các loại ma tự nhiên của núi rừng, khe và linh hồn đất bản trú ngụ Đây là rừng cây xanh cổ thụ đầy huyền bí, không ai dám chặt phá để hàng năm bản tiến hành lễ hội gọi là cúng bản (xên bản) Có thể nói khi nghiên cứu về văn hóa Thái không thể không nói về những thành tố trên, những khu rừng cấm của bản Thái truyền thống chính là dấu ấn của một dân tộc Phạm vi đất bản còn có đoạn sông, khúc suối, khe lạch Sông, suối là đối tượng đánh bắt thủy sản và hái lượm - nguồn thực phẩm chính trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của mọi gia đình ở bản Trước đây các quy định trong luật tục Thái có quy ước cấm kỵ và giữ gìn hệ sinh thái góp phần vào việc bảo vệ môi trường sống

Bản là đơn vị dân cư có tổ chức nên từ lâu đã là tổ hợp cộng đồng xã hội mang màu sắc dân tộc Theo truyền thống vùng Thái ở Tây Bắc thì ruộng đất là của bản mường, cá nhân không có quyền tư hữu mà chỉ được sử dụng để cày cấy thu hoạch Bản thừa hành luật lệ của mường, đứng trực tiếp tổ chức, phân phối

và điều chỉnh các thửa ruộng cho từng nóc nhà Với người Thái bản không chỉ là chốn quê hương mà còn là nơi tổ chức quản lý ruộng đất Bản còn là đơn vị quản lý kinh tế - xã hội dưới cấp Mường trước đây và ngày nay là xã, huyện, tỉnh Theo truyền thống cổ truyền thì ở cấp bản có hai chức dịch Thứ nhất,

người đứng đầu bản gọi là “quan” nếu là người thuộc các họ ngoài quý tộc và gọi là “tao” nếu là người thuộc họ quý tộc Thứ hai, người đứng làm vai giúp việc gọi là “chá”, chức dịch này chỉ dành riêng cho những thành phần ngoài

quý tộc Những vị đứng đầu bản thường cũng là người đứng đầu một dòng họ lớn trong bản nên thường được bộ máy mường bổ nhiệm theo lệ cha truyền con nối Theo truyền thống, bản trước đây còn là tổ chức đảm nhiệm chức năng văn hóa mang đầy đủ màu sắc dân tộc Để đảm bảo được việc đó, trước hết hai người đứng đầu bản phải biết chữ Thái cổ và am hiểu phong tục tập quán Có thể nói, bản không chỉ là nơi tập hợp các gia đình riêng rẽ mà bản được hình thành là một cộng đồng người có tổ chức, được thể hiện theo tuyến hành chính

và song hành với nó là những hình thức sinh hoạt về mọi mặt của đời sống xã hội của bản đó

Trang 22

Tổ chức xã hội của Mường theo mô hình cơ cấu vòng đồng tâm xoay quanh trục đã được thể hiện một cách hoàn thiện trong hệ thống tổ chức một Châu mường về một mối, thường mang các được điểm sau:

Mường là một cơ cấu tổ chức chính quyền mang những nét đặc trưng Thái ở nước ta Đây là một tổ chức xã hội có vùng đất đai có đường ranh giới rõ rệt, mang tên là đất mường (đi mường) Đất đó đã sống trong tâm thức người

Thái được thể hiện bằng câu ca dao: “Đất mường từ đời tổ, đất nước từ đời xưa…” Gia đình tế bào của xã hội nhưng không chịu sự tác động trực tiếp của

mường mà phải thông qua cấp cơ sở dưới mình là bản Cơ cấu của mường gồm

có mường lộng hay mường quen, trên mường lộng có mường phìa, cứ 5 mường phìa hợp lại thành một châu mường Dù là mường nhỏ hay mường lớn, đứng đầu mường là một người đàn ông thộc dòng quý tộc gọi là Tạo (Thao) Người đứng đầu Châu mường được gọi là Chẩu mường (chức danh dành riêng cho một dòng quý tộc cha truyền con nối hoặc anh em) Cơ cấu bộ phận và chức trách của bộ máy chính quyền cấp mường phìa trong và ngoài của một châu mường thì tùy truyền thống từng nơi mà có sự bố trí khác nhau Về phương diện xã hội có thể thấy bộ máy của một mường phìa thuộc hệ thống tổ chức châu mường đã cơ cấu

hệ thống dọc thứ cấp theo bậc trên dưới Mọi chức dịch trong bộ máy của mường phìa đều do Chẩu mường và Phìa mường tiến cử Khi bổ nhiệm xong họ nghiễm nhiên tổ hợp thành một tổ chức tương đương như hội đồng mang tên

“Bô lão toàn mường” (Thảu ké hang mương) do chức ông xen (pằn) đứng đầu

Việc phân đẳng cấp trong bộ máy mường mang tính phân chia quyền lực theo truyền thống Thái Theo tập quán pháp, người đứng đầu mường về già không đảm nhiệm được công việc nữa thì phải tiến cử con trai đầu của mình ra trước

bô lão toàn mường để họ xem xét và chấp thuận, nếu vì lý do nào đó không được chấp thuận thì buộc phải tiến cử người khác trong họ của mình Trong trường hợp này bô lão toàn mường, đứng đầu là ông xen chỉ có quyền đề nghị cựu thủ lĩnh tiến cử, không được phép vượt quyền để chỉ định người trong quý

tộc ra để xem xét Tục này được tóm tắt trong thành ngữ: “đổi bậc thang, thay chỗ ngồi” (piến khẳn đay cay ti năng) Trường hợp thủ lĩnh mường đương đảm

nhiệm chức vụ vì lý do nào đó bô lão toàn mường không tín nhiệm thì có quyền bãi miễn và tiến cử người trong dòng quý tộc khác thay thế Tập tục này được

thể hiện trong câu vè: “bô lão không tin; cánh phải, cánh trái không thuận”

(thảu ké báu ha; xại khoa báu xú) Do vẫn giữ truyền thống quyền lực bô lão toàn mường như thế nên tập tục cha truyền con nối trong dòng quý tộc ở các mường Thái chưa thực sự chặt chẽ Chức năng của Bô lão toàn mường chỉ được

sử dụng quyền lực của một tổ chức hội đồng, không có quyền lực của một chức trách cá nhân Đó cũng là một đặc trưng của tổ chức chính quyền cấp mường

Có thể nói thiết chế xã hội trong xã hội Thái truyền thống là một hệ thống khá chặt chẽ, thiết chế này lấy gia đình, dòng họ làm nền tảng, các dòng họ quý tộc được đề cao Hệ thống chính quyền theo thứ tự từ trên xuống dưới, đi cùng với nó là các quy định, tục lệ, luật lệ buộc con người phải tuân theo

Trang 23

1.2.3.3 Đặc điểm văn hóa

Dân tộc Thái là một tộc người có vốn văn hóa, văn nghệ dân gian rất phong phú Văn nghệ dân gian Thái nói chung và ở Sơn La nói riêng minh chứng cho sức sống mạnh mẽ của cộng đồng, tạo nên ấn tượng quan trọng về bản sắc văn hóa Thái Là cộng đồng tộc người thiểu số có chữ viết, người Thái

đã sáng tạo và để lại một kho tàng văn học dân gian phong phú Nhiều người trong nước và quốc tế biết đến văn học dân gian Thái với những tác phẩm đã được dịch ra tiếng phổ thông như: Xống trụ xon xao, Tản trụ xiết xương,… kho tàng truyện cổ tích liên quan đến vũ trụ, nhân sinh quan, giáo dục đạo đức làm người trong cộng đồng, luật tục, bên cạnh đó còn có nhiều thể loại truyền thuyết,

dã sử truyền miệng, thành ngữ, tục ngữ, dân ca, đồng dao Thái… Có thể thấy, văn nghệ dân gian Thái là một kho tàng phong phú mà không phải cộng đồng nào cũng có được

Nhà sàn là một đặc trưng văn hóa độc đáo của người Thái Nhà sàn người Thái có cấu trúc đẹp, chắc chắn, rộng rãi Người Thái nước ta có hai ngành chính là Thái đen và Thái trắng, vì vậy nhà sàn của hai ngành này cũng có một vài điểm khác nhau cơ bản Nhà sàn của người Thái trắng thường có nhiều điểm gần giống với nhà của người Tày - Nùng Còn nhà Thái đen lại gần với nhà của các cư dân Môn - Khmer Nhà của đồng bào Thái đen nóc hình mai rùa, chỏm đầu dốc có khau cút với nhiều kiểu khác nhau Khung của ra vào và cửa sổ cũng

có nhiều hình thức trang trí khác nhau Về cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt của nhà người Thái khá độc đáo: các gian đều có tên riêng Trên mặt sàn được chia thành hai phần: một phần dành làm nơi ngủ của các thành viên trong gia đình, một nửa dành cho bếp và còn là nơi để tiếp khách nam Hiện nay, nhờ sự giao thoa văn hóa giữa người Thái với người Kinh và một số tộc người khác, người Thái đã tự cải tiến và thay đổi kiến trúc nhà của mình khá nhiều Điều đó

đã tạo ra cho người Thái những kiểu nhà sàn đẹp đẽ và bề thế vô chừng

Về trang phục: nhìn chung trang phục của các nhóm Thái gần giống nhau

Nữ phục rất đặc sắc, mặc áo cánh ngắn đủ màu, đính hàng cúc bạc hình bướm, nhện, ve sầu chạy trên đường nếp xẻ ngực bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy màu sẫm hình ống, thắt eo bằng dải lụa, đeo dây xà tích bạc bên hông Riêng phụ nữ Thái đen còn đội chiếc khăn piêu nổi tiếng với hình hoa văn thêu sặc sỡ Trang phục của nam giới thường đơn giản hơn và không có sự phân biệt giữa các ngành Trước đây, trong cuộc sống thường nhật, nam giới người Thái mặc

áo cánh ngắn, xẻ ngực, quần xẻ đũng Áo là loại cổ tròn, không cầu vai, hai túi dưới hoặc trước cài cúc vải hoặc cúc xương Đặc điểm của áo cánh nam giới vùng Tây Bắc không phải là lối cắt may mà là ở màu sắc đa dạng của loại vải cổ truyền do cộng đồng sáng tạo nên như màu chàm, cà phê sữa, Trong các dịp lễ tết, hội hè hoặc tang lễ, cả nam giới và nữ giới người Thái đều có những trang phục đặc trưng riêng

Về cưới hỏi: Trai gái người Thái đến tuổi cập kê được tự do tìm hiểu, yêu đương Sau khi trai gái cùng nhau ước hẹn, chàng trai sẽ về nhà thưa lại với bố

mẹ và cùng bố mẹ bàn bạc chuẩn bị cho những ngày cưới xin sắp tới Công việc cưới cin của người Thái cũng trải qua nhiều thủ tục và nghi lễ khác nhau bao

Trang 24

gồm: Lễ dạm tiếng, lễ dạm hỏi, lễ xin cưới và lễ cưới Tuy nhiên, cũng như nhiều dân tộc thiểu số khác ở nước ta, các chàng trai Thái để đưa được vợ về nhà đều phải trải qua một thời kì hệ trọng - đó là thời kì xin cưới (hay còn gọi là

ở rể) kéo dài từ 1 đến 3 năm Thậm chí có những trường hợp thời gian thử thách còn có thể kéo dài hơn nữa từ 5 đến 8 năm

Về ma chay: Đồng bào Thái quan niệm, chết là tiếp tục sống ở thế giới

bên kia Vì vậy, đám ma là lễ tiễn người chết về "mường trời"

Văn hóa ẩm thực của người Thái cũng rất phong phú và đang dạng

1.2.4 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

Thành phố Sơn La là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế của tỉnh Sơn La Nằm ở tọa độ 21015' - 21031' Bắc và 103045' - 104000' Đông, cách Hà Nội 302 km về phía Tây Bắc Phía Tây và phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, phía Đông giáp huyện Mường La, phía Nam giáp huyện Mai Sơn Quốc

lộ 6 đi qua thành phố, nối thành phố Sơn La với thành phố Điện Biên Phủ và thành phố Hòa Bình

Với tổng diện tích tự nhiên 32.493 km², dân số 98.751 người, là nơi hội tụ của 12 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 53,4%; dân tộc Kinh chiếm 43%; dân tộc Mường chiếm 0,8%; dân tộc Mông chiếm 0,4%; còn lại là các dân tộc khác như : Dao, Kháng, Khơ Mú, Hoa, Lào; Sinh Mun, La

Ha chiếm 2,4%, mật độ dân số phân bố tương đối đều

Thành phố có 12 đơn vị hành chính gồm 7 phường: Quyết Tâm, Quyết Thắng, Tô Hiệu, Chiềng Lề, Chiềng Sinh, Chiềng An, Chiềng Cơi và 5 xã gồm Chiềng Cọ, Chiềng Đen, Chiềng Ngần, Chiềng Xôm, Hua La Với tổng số 169

tổ, bản, tiểu khu (trong đó có: 7 bản tái định cư Thuỷ điện Sơn La mới được thành lập)

Thành phố Sơn La có hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi tạo điều kiện cho thành phố trong việc lưu thông hàng hoá, trao đổi thông tin kỹ thuật, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh

Thành phố Sơn La nằm trong vùng có quá trình Karst hóa mạnh, địa hình chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo Diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, thế đất dốc từ 250 trở lên chiếm tỷ lệ thấp, độ cao trung bình khoảng 700m so với mực nước biển Một số khu vực có các phiêng bãi tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tập trung ở các xã Chiềng Ngần, Chiềng Đen, Chiềng Xôm và phường Chiềng Sinh Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình năm là 21,10C Khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô

từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa trung bình cả năm 1.346 mm Lượng mưa chủ yếu tập trung vào 3 tháng (6, 7, 8) chiếm 85% lượng mưa cả năm Độ ẩm trung bình 85%

Về điều kiện tự nhiên, thành phố Sơn La được thiên nhiên ưu đãi với núi non hùng vĩ, một số hang động, ao hồ và Suối khoáng nóng tạo nên một cảnh quan sinh động như: Hang Thẳm Tát Tòng, suối khoáng bản Mòng, hồ chứa nước bản Mòng thuộc xã Hua La, hồ thủy sản bản Cá, phường Chiềng An, hang

Trang 25

Thượng Thiên, Huổi Hin, xã Chiềng Ngần, hang bản Tông, xã Chiềng Xôm, quần thể hang động tại Khau Pha và hệ thống các núi đá cao… môi trường khí hậu trong lành, mát mẻ là điểm du lịch lý tưởng cho du khách trong và ngoài nước đến với thành phố Sơn La Bên cạnh đó, thành phố Sơn La cũng là nơi tập trung nhiều các di tích lịch sử nổi tiếng đã được công nhận xếp hạng cấp Quốc gia, cấp tỉnh như: Khu di tích lịch sử Nhà tù Sơn La, Bảo tàng tỉnh Sơn La; Di tích lịch sử cây Đa bản Hẹo; Di tích lịch sử - văn hoá Văn Bia Quế Lâm Ngự Chế - Đền thờ vua Lê Thái Tông; Di tích lịch sử Cầu Trắng…

Ngoài các di tích lịch sử thành phố Sơn La còn có nét văn hóa đặc trưng, đặc biệt độc đáo, riêng có của người dân tộc Thái Nét văn hóa độc đáo được lưu giữ, lưu truyền trong đời sống sinh hoạt văn hóa của cộng đồng của đồng bào qua các làn điệu dân ca, dân vũ, như Hát khắp của dân tộc Thái, các điệu xòe Thái, trang phục dân tộc, các loại nhạc cụ dân tộc Ngoài những nét văn hóa độc đáo của người dân tộc Thái thành phố Sơn La còn có 11 dân tộc anh em khác cùng sinh sống đã tạo nên nét văn hóa đa sắc mầu của các dân tộc, mỗi dân tộc tạo nên một loài hoa trong vườn hoa đa sắc màu của thành phố Sơn La Thành phố Sơn La hiện nay có tới 280 đội văn nghệ quần chúng hoạt động rất

có hiệu quả đây là một trong những thế mạnh để phát triển du lịch thành phố Sơn La Ngoài ra Sơn La còn có nét văn hóa đặc trưng riêng của người Thái trong cách ẩm thực với các món ăn ngon, để lại ấn tượng trong lòng du khách như: Nộm da trâu, Gỏi, Lạp, gà nướng, cá pỉnh tộp, cơm lam, nộm các loại rau rừng, chẳm chéo Với lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú thành phố Sơn La có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch đặc thù như: Du lịch sinh thái, tham quan di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, dã ngoại, thể thao mạo hiểm, nghỉ dưỡng, ẩm thực, du lịch văn hóa bản địa…

Có thể thấy, trong cơ cấu dân số của thành phố, người Thái là cộng đồng dân tộc chiếm số lượng đa số trên địa bàn Theo thống kê của Ban dân tộc tỉnh Sơn La, năm 2015 người Thái trong toàn tỉnh có số lượng là 889.680 người trong đó người Thái thành phố Sơn La chiếm 52.742 người (chủ yếu là người Thái đen) Trước đây, người Thái trênđịa bàn thành phố chủ yếu sống bằng nghề trồng trọt, làm nương rẫy và chăn nuôi Nền kinh tế chủ yếu mang tính chất tự cấp tự túc, do vậy mức sống người dân trong vùng còn tương đối thấp Một số nghề thủ công truyền thống cũng khá phát triển như nghề dệt, nghề đan lát, nghề làm đồ bạc, nghề gốm Tuy nhiên các sản phẩm thủ công này hầu hết chỉ nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng trong gia đình mà ít có sự giao lưu buôn bán, trao đổi qua lại Có chăng cũng chỉ là sự trao đổi ngang giá vật đổi vật, ví dụ như họ sẽ đổi vải vóc, đồ gốm (những sản phẩm thủ công làm ra được) lấy muối, sắt là những thứ họ không sản xuất được để phục vụ nhu cầu cuộc sống Từ những năm 60, 70 của thế kỉ XX, thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước về xây dựng và phát triển vùng kinh tế mới, người Kinh từ các tỉnh miền xuôi bắt đầu

di cư lên các tỉnh vùng Tây Bắc của tổ quốc để khai hoang đất đai, tạo dựng cuộc sống mới Qua quá trình cộng cư, hòa nhập với cộng đồng người Kinh và một số tộc người từ vùng khác đến, người Thái đã dần học tập theo phương thức làm ăn của người miền xuôi (người Kinh) Từ đó, kinh tế của cộng đồng người

Trang 26

Thái nói chung và người Thái thành phố Sơn La nói riêng bắt đầu có những bước chuyển biến đáng kể Trong kinh tế nông nghiệp, họ biết áp dụng thêm một số phương pháp kỹ thuật mới như chăm sóc cây trồng, kĩ thuật bón phân, Kinh tế không chỉ bó hẹp trong tự cấp tự túc mà giờ đây họ đã bắt đầu có sự giao thương qua lại giữa các vùng miền, các dân tộc sống lân cận

Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, đời sống của cộng đồng người Thái đã có những thay đổi đáng kể, cùng với đó cơ cấu xã hội cũng

có nhiều thay đổi Hiện nay, trên địa bàn thành phố Sơn La tầng lớp trí thức, công chức chiếm đa số Họ làm việc trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, hưởng lương theo quy định của nhà nước Bên cạnh đó, tầng lớp thương nhân, người buôn bán nhỏ cũng chiếm số lượng đáng kể Nghề nông giờ đây chỉ tồn tại ở các

xã như Chiềng Xôm, Chiềng Đen, Hua La là những xã cách khá xa trung tâm thành phố

Tiểu kết chương 1

Là tộc người có số dân đông thứ 3 ở Việt Nam và chiếm tỉ lệ đông đảo nhất ở vùng Tây Bắc, dân tộc Thái đã có quá trình định cư và phát triển lâu dài trên vùng đất này Theo thời gian, cùng với những chuyển biến mạnh mẽ về kinh

tế - xã hội, đồng bào người Thái đã xây dựng cho mình được một nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc tộc người Nền văn hóa đó được thể hiện trên tất cả các khía cạnh của đời sống tộc người, từ giá trị vật chất đến giá trị tinh thần; từ mái nhà, trang phục đến ẩm thực, thơ ca, lễ hội Đâu đâu chúng ta cũng có thể nhìn thấy những giá trị đặc trưng của văn hóa Thái Việc nghiên cứu về văn hóa Thái từ lâu đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các học giả trong

và ngoài nước Các nội dung nghiên cứu cũng rất phong phú, tuy nhiên hầu hết công trình nghiên cứu trước đây đều tập trung tìm hiểu, phân tích những nét văn hóa chung của cả tộc người trên một phạm vi rộng (vùng miền hoặc trên phạm

vi cả nước) Về vấn đề nghiên cứu điểm theo chiều sâu cũng mới được quan tâm nhiều trong một vài năm gần đây Chính vì vậy, nghiên cứu điểm về người Thái nói riêng và các tộc người thiểu số nước ta nói chung hiện vẫn là một mảnh đất mầu mỡ, còn rất nhiều nội dung cần phải tìm hiểu, nghiên cứu nhằm bảo lưu và phát triển các nét văn hóa tốt đẹp của đồng bào đồng thời loại bỏ những hủ tục, những nét văn hóa lạc hậu, không còn phù hợp trước những biến đổi của xã hội ngày nay

Trang 27

Chương 2: Thực trạng một số nét văn hoá truyền thống của cộng đồng

người Thái trên địa bàn thành phố Sơn La hiện nay 2.1 Nhà ở

Là cư dân sống lâu đời ở khu vực Tây Bắc, người Thái đã cùng các dân

tộc khác sáng tạo ra nền văn hoá vật chất cổ truyền độc đáo “ăn cơm nếp, uống rượu cần, mặc xửa cóm, ở nhà sàn” Trong đó những nếp nhà sàn xinh xắn đã

trở thành linh hồn, là biểu tượng muôn đời của người Thái đen vùng Tây Bắc nói chung và người Thái đen thành phố Sơn La nói riêng

2.1.1 Các bước dựng nhà

Theo hai tác giả Hoàng Nam và Lê Ngọc Thắng trong cuốn Nhà sàn Thái,

để dựng nên được ngôi nhà sàn truyền thống người Thái phải thực hiện qua nhiều bước khác nhau:

Bước thứ nhất: Chuẩn bị nguyên vật liệu

Rừng núi Tây Bắc được thiên nhiên ưu ái nên có lắm loại lâm sản quý Bởi vậy, nhà sàn truyền thống của người Thái thường được dựng nên từ các loại vật liệu sẵn có trong tự nhiên như gỗ, tre, nứa, lá… trong đó đặc biệt là gỗ Làm nhà sàn rất tốn gỗ, do vậy việc chuẩn bị gỗ có thể kéo dài vài ba năm, có khi năm nảy năm trước khi dựng nhà Còn tre nứa, lá thường được chuẩn bị trước một mùa

Người Thái thường đi rừng chặt cây làm nhà vào mùa khô vì mùa khô người nông dân ít việc đồng áng, đồng thời đây cũng là mùa mà giới thực vật phát triển chậm, lượng nước trong cây ít Chặt cây vào mùa này sẽ tránh được mọt đến mức tối đa Khi chọn cây làm nhà, người ta thường chọn cây to thẳng,

có lõi cứng, chắc, không mối mọt Đặc biệt người Thái kiêng không bao giờ dùng những cây tự chết khô, cây đổ và cây bị sét đánh để làm nhà Họ quan niệm rằng, những cây như vậy đã mang số phận không may, không có hồn, không có sự sống Dùng những cây đó làm nhà không khác gì tự rước cái rủi vào nhà

Một tập quán đáng chú ý trong việc chọn và chặt cây về làm nhà là tập

quán liên quan đến “xau hẹ” (cột cái) Ở người Thái, “xau hẹ” phải do bên lung

tà (họ ngoại, họ của bên vợ) trực tiếp đi tìm chọn, chặt và khiêng về Thông thường “xau hẹ” chỉ được chặt và khiêng về trước ngày dựng nhà chứ không được chặt trước hàng năm như những cây khác Theo nguyên tắc chung, “xau hẹ” thường được chọn từ những cây gỗ có lõi cứng, bền, không mọt Nếu chủ nhà lần đầu tiên dựng nhà mới, thường thường lung tà chọn “mạy có” làm “xau hẹ” “Mạy có” là loại gỗ thân thẳng cứng, có quả và gai ở quả Chọn “mạy có” làm “xau hẹ” là tỏ ý mong muốn chủ nhà sau này sẽ đông con cháu

Ngoài gỗ, tre nứa cũng được đồng bào sử dụng rộng rãi với khối lượng lớn để làm đòn tay, rui, mè, lát sàn, thưng phên xung quanh nhà, làm lan can ở

Trang 28

Bước thứ hai: Chọn địa điểm và chọn hướng dựng nhà

Đối với người Thái, địa điểm chọn làm nhà thường là ở chân đồi, gần ruộng, nương thuận lợi cho sản xuất, gần các thung lũng có nước chảy Địa thế nhà ở thường thấp hơn nguồn nước để có thể bắc máng chảy về gần nhà

Chọn hướng dựng nhà cũng là một vấn đề rất quan trọng Dân tộc nào khi làm nhà cũng đều chọn hướng và cách chọn hướng đều có lý do và được giải thích khác nhau Quy tụ lại, hướng nhà được chọn lúc nào cũng liên quan đến thế đất, khí hậu Nhiều dân tộc quan niệm hướng nhà có ảnh hưởng đến tương lai của chủ nhà đó Hướng nhà là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức khoẻ của chủ nhà, đến sản xuất và chăn nuôi Chính vì vậy, nhiều dân tộc khi làm nhà

phải nhờ đến người “có tài” để xem hướng nhà

Ở người Thái, việc chọn hướng nhà cũng được coi là khâu rất quan trọng Sống ở vùng núi, việc chọn hướng nhà lúc nào cũng lấy những ngọn núi, những

dòng sông làm “chuẩn” Ngọn núi, dòng sông là những vật cố định, có sức sống

thể hiện ở bên ngoài rất mãnh liệt, dòng sông chảy quanh năm không bao giờ hết nước, ngọn núi suốt bốn mùa có cây cối xanh tươi và chen nhau vươn lên những đỉnh cao Vì thế, chọn hướng nhà nhằm vào dòng sông, ngọn núi chính là để chủ nhà được thừa hưởng tất cả sự sống mãnh liệt đó từ tự nhiên Hướng nhà theo

quan niệm của người Thái phải là hướng nhìn thẳng từ phía cửa chan ra ngoài Hướng nhà tốt là hướng nhằm vào ngọn núi “trông rõ hình thù” Nói là hướng

nhà nhưng thường là hướng của cả bản Thông thường, cả bản người Thái làm nhà theo một hướng và lấy một ngọn núi làm chuẩn Đồng bào kiêng chọn hướng nhà nhìn vào khoảng trống giữa hai quả núi Họ tưởng tượng khoảng trống đó là hình ảnh cái mồm con rồng đang há rộng, sẵn sàng nuốt tất cả sự giàu sang của chủ nhà, uy hiếp sự bình an của mọi người Nhà hướng vào miệng rồng, chủ nhà làm ăn khổ sở, mùa màng thất bát, chăn nuôi không phát triển, người luôn bị ốm đau Khi chọn hướng nhà, người Thái có tục không chọn hướng Đông Tây, hoặc theo cách nói dân gian là tránh chọn hướng mà mặt trời khi mọc khi lặn chạy theo đòn nóc của nhà

Bước thứ ba: Dựng nhà

Dựng nhà, trước tiên và quan trọng nhất là dựng “xau hẹ” (cột cái) “Xau hẹ” dựng ở phía dưới của nhà Nó là sức mạnh, là linh hồn lung tà là điểm tựa

bên ngoại của gia đình Mọi nghi lễ quan trọng liên quan đến tương lai của gia

đình đều tập trung phần lớn ở đây Bên lung tà không phải chỉ là người đi chọn, chặt và khiêng “xau hẹ” về mà còn là người dựng “xau hẹ” Trước khi dựng

“xau hẹ”, chủ nhà kiếm ba ngọn lá gai Lung tà dùng ba ngọn lá gai này làm chổi quét nước vo gạo lên “xau hẹ” có ý bảo vệ cho “xau hẹ” khỏi bị mối mọt Khi hố đã đào xong, lung tà đưa chân cột xuống hố “Xau hẹ” ở độ nghiêng nhất định sao cho đầu trên của “xau hẹ” ở ngang tầm đầu người Điểm đặc biệt trước khi dựng “xau hẹ” đó là phía bên lung tà (tốt nhất là ải tà – tức bố vợ) sẽ phải tiến hành “trang trí” cho “xau hẹ” Những vật được dán trên đầu cột “xau hẹ” bao gồm: một số tờ tiền giấy (hoặc tiền xu - bạc trắng trước kia người Thái

thường dùng), vài hạt giống cây trồng (có thể là vài hạt thóc hoặc hạt các loại

cây trồng có trong vườn nhà) Tiếp theo, lung tà sẽ buộc lên đấy một cái nan tre

Trang 29

được đan hình mắt cáo phía bên ngoài bao bọc lấy tiền và hạt giống Theo quan niệm của người Thái đen thành phố Sơn La, một mặt chiếc nan này có ý nghĩa

để giữ cho những vật bên trong khỏi bị rơi, mặt khác nó có ý nghĩa sẽ bảo vệ và chở che cho gia đình chủ nhà làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn trong cuộc

sống hàng ngày Cùng với đó, trên đầu cột “xau hẹ” bao giờ người Thái cũng

treo thêm một cái mai rùa đã được chuẩn bị từ trước đó Người ta giải thích rằng treo mai rùa là để thể hiện sự tưởng nhớ và biết ơn thần kim quy đã giúp đỡ họ trong quá trình dựng làng, lập bản xưa kia Sau khi đã buộc xong các thứ đó vào

đỉnh “xau hẹ”, lúng ta nói vài câu chúc tụng, đại thể gồm những nội dung sau:

Chúc sức khoẻ chủ nhà và những người trong nhà, chúc sản xuất được tốt, trồng trọt, chăn nuôi đều phát triển, làm ra được nhiều của cải, thừa ăn, thừa mặc, giàu sang phú quý, chúc gia đình đông đúc, con đàn cháu đống

Tiếp theo “xau hẹ” người ta dựng “xau chảu xửa” (cột chủ nhà) ở mái trên của nhà “Xau chảu xửa” do chủ nhà và những người đến giúp làm nhà dựng hộ “Xau chảu xửa” là nơi trú ngụ linh hồn của chủ nhà – người đứng đầu gia đình phụ quyền, người bố trong gia đình Theo tập quán, “xau chảu xửa” nhất thiết phải dựng sau “xau hẹ” Ngoài ra không có nghi thức gì đặc biệt

“Xau hẹ” (cột cái) đỡ lấy “pai hướn mẹ” (mái cái) – mái dưới Đối diện với “xau hẹ” là “xau chảu xửa” (cột chủ nhà) đỡ lấy “pai hướn po” (mái đực)

– mái trên Mối tương quan này phải chăng phản ánh mối quan hệ xã hội khác

đó là sự khẳng định mối quan hệ vợ chồng trong gia đình, trong xã hội Thái là bền vững và sâu sắc

Tiếp sau hai cột “xau hẹ” (cột cái) và “xau chảu xửa” (cột chủ nhà), đồng bào dựng tiếp cột thứ ba “xau hoóng” “Xau hoóng” tượng trưng cho tổ tiên, là nơi trú ngụ của tổ tiên – “phi hướn” (ma nhà)

Dựng xong ba cột đó, người ta dựng các cột khác và lắp xà ngang, xà dọc, làm mái

Nhà người Thái có bốn mái Hai mái to chạy dọc theo chiều dài của nhà, hai mái nhỏ che hai chái nhà Ở các vùng khác nhau, có sự khác nhau ở hai mái nhỏ Ở vùng Sơn La, hai mái nhỏ có hình cánh quạt cong; còn ở Lai Châu, ngoài loại trên còn thêm loại hai mái nhỏ có hình cánh quạt thẳng Nhà sàn truyền thống là loại nhà sàn có hai mái phẳng hình chữ nhật, hai mái nhỏ cong hình cánh quạt, úp che hai phía đầu hồi Trong toàn bộ mái nhà từ bên ngoài có hình dáng giống như mai con rùa hoặc một chiếc thuyền úp Bên trong mái nhà rất thoáng, cao, vì trong nhà hoàn toàn không có cột

Mái sàn của người Thái có hình thù khá đặc biệt (hình mai rùa, hình thuyền úp), truyền thuyết kể lại rằng:

Thuở khai thiên lập địa, người Thái không biết làm nhà ở Những mai (đá,

lùm cây) là nơi cư trú của họ Một hôm người Thái đi tìm người hỏi cách làm nhà Trên đường đi học gặp rùa Người Thái và rùa bắt đầu nói chuyện với nhau Người Thái nói với rùa ý định của mình đi tìm người hỏi cách làm nhà ở Nghe vậy rùa tỏ ý sẵn sàng bày cho nhưng lại đòi ăn một bữa Người Thái đồng ý cho rùa ăn Sau khi ăn xong, rùa thụt cổ lại, kiễng chân lên và bảo người cứ theo hình mẫu đó mà làm nhà ở Vì vậy, sau này người Thái làm nhà sàn, mái có hình

Trang 30

dáng giống như cái mai rùa Trông toàn bộ nhà sàn Thái có hình dáng giống con

rùa rụt cổ, rướn cao bốn chân Cột nhà dưới gầm sàn là “chân rùa” và hai cửa đi lại ở hai đầu hồi là “lỗ cổ” và “hậu môn” của rùa

Lại có truyền thuyết khác kể về lai lịch của mái nhà sàn liên quan đến nạn đại hồng thuỷ Ngày xưa, trời và đất rất gần nhau, con người lên trời chỉ bằng một chiếc thang Một năm, có lũ rất lớn Một gia đình chỉ có một bà goá chồng

và một đứa con trai Một hôm bà đang giã gạo ngoài sân, khi quay vào nhà, đứa con trai đã biến đâu mất Bà đi tìm con Tìm mãi dưới trần gian không thấy, bà leo thang lên trời để tìm xem có thấy con không Bà đi vào chỗ chơi của trẻ con trên thượng giới thì gặp một ông già Bà bày tỏ với ông già ý định tới đây để tìm đứa con trai duy nhất của mình và bà hỏi ông già có thấy nó ở đây không Ông

già bảo “trẻ em ở đây rất nhiều nhưng làm sao tôi biết được đứa nào là con bà” Rồi ông già nói tiếp “bà chờ ở đây, tôi sẽ gọi chúng đến để bà nhận mặt

Để chắc chắn, bà chui vào chiếc thuyền úp này Ở hai đầu thuyền đã khoét sẵn hai lỗ để bà nhìn qua đó nhận mặt con mình” Bà chui vào thuyền úp xong, ông già gọi lũ trẻ, chúng ùa đến Vừa lúc đó, bà nghe giọng nói quen thuộc “sao lại

có mùi trần gian ở đây? Ta phải ăn thịt nó đi chứ!” Bà nhận ra đứa trẻ nói câu

đó là con mình Bà rùng rợn, hoảng sợ như không muốn tin vào lỗ tai và con mắt của mình Bà nín thở ngồi im dưới chiếc thuyền úp, đợi đến khi bọn trẻ đi qua hồi lâu mới chui ra Bà chào tạm biệt ông già trở về trần gian với tâm trạng tức giận đứa con và thầm cảm ơn ông già tốt bụng đã mách nước che chở cho mình tai qua nạn khỏi Ở trần gian bà làm nhà có mái hình thuyền úp và ở hai đầu hồi

có hai lỗ thông từ trong nhà ra chính là để ghi nhận một ân tình nhất trong cuộc đời Theo quan niệm của người Thái, hai lỗ ở hai đầu hồi nhà sàn Thái hiện nay

là “cửa” để hồn người chết đi qua đó lên trời

Nhà sàn truyền thống của người Thái nói chung và người Thái trên địa bàn thành phố Sơn La nói riêng luôn có hai cửa đối diện nhau ở hai bên đầu hồi

gọi là cửa chan và cửa quản Để lên hai cửa đó, người ta làm cầu thang với số

bậc bằng nhau Tuỳ theo độ cao và thế đất mà người ta làm số bậc thang phù

hợp, nhưng nhất thiết đấy phải là số bậc lẻ

Trên mái nhà sàn người Thái, ở hai đầu hồi “khau cút” vút cao, được ghi nhận như là đặc trưng mang đậm màu sắc dân tộc Tác dụng trực tiếp của “khau cút” là nó đóng vai trò cái nẹp giữ cho lớp tranh ở hai đầu hồi khỏi bị tốc lên khi

có mưa to gió lớn Song, bên cạnh đó, “khau cút” còn mang nội dung tư tưởng,

nội dung thẩm mĩ dân tộc rõ rệt

“Khau cút” được làm từ những miếng gỗ Màu tự nhiên của gỗ thường có màu ngả tối, còn “khau cút” bao giờ cũng có màu trắng, trước đây quét vôi

trắng và hiện nay quét sơn trắng Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X trở lại đây nhiều lần phải đương đầu với bọn phong kiến Trung Quốc xâm lược như cuộc xâm lược của quân Mông Nguyên (thế kỉ XIII), cuộc xâm lược của quân Minh (thế kỉ XV)… Những cuộc xâm lược đó, chắc chắn đã gây những đảo lộn trong đời sống của các dân tộc, trong đó có dân tộc Thái Họ phải chuyển cư, chạy loạn để tìm cách đánh đuổi kẻ thù Dân tộc Thái lí giải rằng, họ chạy loạn ngoại xâm và những ngày đầu tháng âm lịch Về đầu hôm có trăng hình lưỡi liềm tỏa sáng Do

Trang 31

chạy loạn, họ phải nhanh chóng phân tán đi nhiều nơi khác nhau Ngôi nhà cũng ghi dấu ấn của lịch sử Biết trước, trong lúc chạy loạn, thất tán là dĩ nhiên, mỗi người một phương không thể giữ mối quan hệ với nhau được, họ đã quy ước với nhau, khi đến nơi mới làm nhà lấy bốn thanh gỗ bắt chéo nẹp gianh hai đầu hồi

để làm kỉ niệm mảnh trăng lưỡi liềm líc chia tay, và khi cần thiết căn cứ vào đó

mà nhận nhau Quét sơn màu sáng cho “khau cút” để hồi tưởng ánh trăng sáng ngày ra đi Màu sáng của “khau cút” là tượng trưng cho ánh sáng của “then”

(trời), toả sáng, soi rọi con đường làm ăn của chủ nhà – tương lai được bắt đầu rất sáng sủa và sẽ mãi mãi là ánh sáng dẫn đường

Trong tập quán làm nhà, tập quán làm bếp lửa thể hiện mối quan hệ xã

hội sâu sắc Bếp là một bộ phận rất quan trọng trong nhà ở Hầu hết các dân tộc khi làm nhà đều giành những nghi lễ đặc biệt cho việc làm bếp Bếp không phải

chỉ là nơi nấu ăn, nơi sưởi ấm mà đằng sau bếp còn có “bếp thần” sẵn sàng phù

hộ cho gia đình làm ăn no đủ Những tập quán liên quan đến làm bếp ở các dân tộc đều có ý nghĩa rất sâu xa và cao đẹp Không phải ai được mời đến giúp làm nhà cũng được làm bếp

Cũng như dựng “xau hẹ” (cột cái), việc làm bếp phải do bên lung tà phụ

trách Khung bếp làm bằng gỗ có hình vuông, đóng ở dưới đất, xong khiêng lên sàn Đáy của bếp được dát một lớp dát bương hoặc dát tre, dọc theo nhà Lớp dát này cứng, có tác dụng giữ đất nền bếp Người Thái quan niệm rằng, mọi vật đều

có “khoăn” (hồn, vía) Cây chuối được người Thái chọn là vật tượng trưng cho

“khoăn” của nhà Chính vì thế, người Thái tuy không có truyền thống làm nghề trồng vườn, trồng rau xanh ăn hàng ngày, nhưng quanh nhà người Thái lúc nào cũng có chuối mọc Trải lớp bẹ chuối trên dát bương là tỏ ý cầu mong cho

“khoăn” của nhà có chỗ dựa vững chắc, nhà cửa bền vững lâu dài, mọi người

mạnh khoẻ và được thần bếp phù hộ

Trên lớp bẹ chuối, người ta lấy hoa của các loại cây trồng có trong lúc làm nhà như hoa rau cải và hoa các loại cây trồng khác, đặt vào bốn góc bếp Dân gian giải thích điều này khi làm nhà mới, người ta đưa hồn cây trồng về nhà, tìm cho hồn cây nơi trú ngụ ở ngay bếp Làm như vậy để sản xuất luôn pháp triển, trồng trọt được mùa, chủ nhà ăn nên làm ra

Sau đó là việc đổ đất cho đầy ngang khung gỗ và lèn đất cho chặt Trước đây khi chưa có kiềng sắt ba chân, người ta lấy đất sét nhào kĩ nặn thành ba hòn

hình trụ dài khoảng 25cm, đặt vào thay cho kiềng ba chân, gọi là kiềng “cỏn sạu”

Việc lung tà (bên ngoại) dựng “xau hẹ” và làm bếp kèm theo những lời chúc tụng chủ nhà nói lên vai trò của lung tà trong quan hệ với chủ nhà nói riêng

và khẳng định vị trí của lung tà trong xã hội Thái nói chung Họ hàng bên ngoại

có trách nhiệm đối với đời sống ăn ở của con cháu và thực tế phải tham gia vào một số công việc được coi là then chốt trong làm nhà mới

Trong nhà sàn Thái người ta đặc biệt lưu ý đến cửa (kể cả cửa chính và cửa sổ) Số lượng cửa có thể khác nhau tuỳ thuộc vào số lượng gian nhà ít hay nhiều Theo tập quán dân tộc, tổng số cửa nhà sàn bao giờ cũng là số lẻ, đó có thể là năm cửa, bảy cửa, chín cửa tùy ý Thông thường một ngôi nhà sàn có từ

Trang 32

năm cửa trở lên trong đó bao gồm 2 cửa chính dùng để đi lại (cửa chan và cửa quản) và ba cửa sổ Nhà sàn Thái kiêng mở bốn cửa vì họ cho rằng bốn là tứ hay còn gọi là tử, gắn với chết chóc và những điều không may Chính vì vậy, nhà người Thái đen không bao giờ mở bốn cửa

Cũng với việc mở cửa sổ, ở một số vùng cửa sổ chỉ được mở ở chính gian giữa và ở phía trước (phía dưới nhà) không bao giờ mở cửa sổ ở phía sau (phía trên nhà) Tuy nhiên, đối với người Thái đen Sơn La, theo khảo sát điền dã và phỏng vấn của chúng tôi, đa số các cụ già đều cho biết, nhà sàn truyền thống của

họ có thể mở số lượng cửa sổ tuỳ theo ý muốn của chủ nhà, đồng thời cửa sổ có thể được mở ở cả phía trước và phía sau của ngôi nhà sàn Như vậy, mỗi gian tối

đa có thể mở được hai cửa sổ Cửa sổ nhà sàn có hai cánh đóng mở Nhà Thái có tập quán làm cửa sổ sát sàn nhà, rộng khoảng 60cm, cao hơn một mét Từ sàn nhà lên khoảng 60cm còn có chấn song Phần trên để trống Trẻ em mới biết đi đứng bám cửa sổ nhìn ra ngoài không sợ ngã

Bước bốn: lễ lên nhà mới

Lễ lên nhà mới của mỗi dân tộc thường diễn ra theo những tục lệ được quy định rất chặt chẽ, mang đặc trưng văn hóa, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan và quan hệ xã hội của dân tộc đó

Tục vào nhà mới của người Thái thường được thực hiện vào một buổi chiều, sau khi nhà làm xong Tục lệ cụ thể có những nét khác nhau giữa các vùng

Ở Thuận Châu (Sơn La), công việc diễn ra như sau: Trong nhà mới không

có người, lúng ta một mình lên nhà để chuẩn bị làm lễ Chủ nhà vai vác cày, tay xách ninh (mỏ nửng) đi trước, vợ ôm đệm theo sau, tiếp đó là các con mang theo gạo, bát, nồi, xoong… Khi đi đến chân cầu thang bên táng quản, chủ nhà đạp mạnh chân lên bậc thang thứ nhất và hỏi: “nhà có chủ không” Hỏi đến câu thứ

ba thì lúng ta từ trong nhà trả lời “có” Chủ nhà hát bài xin lên nhà Vừa hát vừa

bước chân lên cầu thang Vào trong nhà, các thứ mang theo được đặt vào chỗ quy ước theo tập quán Chủ nhà đặt cày xuống, cày một đường tượng trưng qua nửa dưới của nhà, đến đầu kia và quay lại, cày đường tượng trưng qua nửa trên

Đến “xau hoóng” (cột thờ) thì dựng cày vào đấy Tiếp đó đem ninh đặt lên bếp

Khi đặt ninh, chủ nhà ngồi ở phía trên của nhà Gạo nếp đã chuẩn bị sẵn được đưa vào chõ rồi đặt lên ninh đồ Châm ngọn lửa đầu tiên vào bếp do bà chủ nhà thực hiện Khi đồ xôi, người ta lưu ý đổ gạo cho đầy chõ Trên miệng chõ đặt hai thanh tre bắt chéo hình dấu cộng (+) và cố gắng tạo cho hơi trong ninh bốc lên đúng điểm hai thanh tre chéo nhau – tức là đúng điểm giữa của miệng chõ

Họ quan niệm, đó là điềm báo cuộc sống bình yên lâu dài của chủ nhà Sau khi chõ xôi đã bốc hơi, các đồ đạc khác mới được mang vào nhà Tiếp đó, chủ nhà

làm lễ “xên hướn” – cúng ma nhà Cỗ “xên hướn” gồm có một thủ lợn, một đùi

lợn, một con gà, một chai rượu, một hũ rượu cần và xôi Cỗ không bày thịt trâu, thịt bò vì tổ tiên chỉ ăn thịt lợn, còn thịt gà dành cho khách của tổ tiên Mâm cỗ

được đặt ở cạnh “xau hoóng” Chủ nhà vừa cúng, vừa vắt ống rượu cần chảy xuống “xau hoóng” – cột thờ

Trang 33

Nếu ở Thuận Châu, lễ vào nhà mới chủ yếu do chủ nhà thực hiện thì ở Yên Châu, lúng ta của chủ nhà tham gia nhân vật chính trong buổi lễ

Sau khi làm nhà xong, mọi người đi xuống hết, không ai được ở trong nhà mới cả Bố vợ (ải ta) của chủ nhà, tay xách cái ninh (mỏ nửng), tay xách kiềng (cỏn sạu) đi trước, tiếp theo là chủ nhà vai vác cày, rồi vợ, con mang theo đồ dung sinh hoạt: đệm, chăn, xoong, nồi… theo sau Đến chân cầu thang bên tang

quản, bố vợ đạp chân lên bậc thang đầu tiên và hỏi: “nhà này tốt hay xấu? Nhà xấu thì ma đi đi, nhà tốt thì tôi dẫn con cháu lên Lên nhà mới làm, ở được lành lặn Làm gì được nấy Làm được, làm nên, ở phát tài nhé, mạnh khỏe nhé” Nói xong, bố vợ dẫn đoàn người lên nhà Ông đặt ninh gần “xau hẹ” – cột cái của

nhà sàn, nơi thờ các giống cây trồng, rồi nhóm lửa bếp Chủ nhà vác cày lên đặt

ở “cò lọ hóng” (góc thờ) Vợ, con bê các thứ đồ dùng sinh hoạt vào trong nhà

đặt vào những chỗ theo nếp sống sinh hoạt Mẹ vợ (ếm ta) hoặc anh em bên nhà

vợ, mang bung men rượu đặt ở chỗ góc thờ Gia đình có bao nhiêu người thì

trong bung có bấy nhiêu quả men Mẹ vợ vừa đặt bung men vừa nói “vào nhà mới mạnh khỏe nhé” Tiếp đó, chủ nhà làm lễ “xên hướn” (cúng ma nhà), cầu

mong cho ông bà tổ tiên phù hộ cho cuộc sống gia đình dưới mái nhà sàn mới này mọi sự may mắn, thuận lợi

Với người Thái thành phố Sơn La, lễ lên nhà mới cũng được thực hiện một cách trang nghiêm vào buổi chiều muộn Theo tư liệu điền dã của chúng tôi, trước kia người Thái nói chung và người Thái đen khu vực thành phố Sơn La nói riêng thường dựng nhà và lên nhà mới ngay trong một ngày, do vậy lễ lên nhà sẽ được tổ chức vào buổi chiều Sau khi công việc đã hoàn tất, mọi người đi xuống hết Lúc này, ông mo tay cầm cây giáo đi trước, bước chân lên nhà Tiếp theo, chủ nhà tay cầm cái ninh, vai đeo một túi quần áo Vợ con chủ nhà là những người lên tiếp theo gánh theo chăn, nệm, củi, gạo và những vật dụng khác cần thiết trong cuộc sống hàng ngày Lên đến cầu thang bên chan, ông mo cầm

giáo trên tay và hô to đại khái là: “Các loại ma rừng, ma xó muốn hại người ở đây thì chúng mày xuống ngay Nhà tao tao sẽ lên, sẽ mang ông bà, ông tổ của tao lên ngủ đấy Nếu chúng mày ở đây nỏ tao sẽ bắn, giáo tao sẽ đâm” Kết hợp

với lời nói, ông mo sẽ nâng giáo lên và đâm lên hướng nóc nhà và hai bên chái

nhà Sau khi đâm ma xong, ông mo sẽ nói: “Chết hết rồi, ma đi hết rồi, chúng ta vào nhà thôi”, thế là mọi người bắt đầu cùng nhau đưa đồ lên nhà mới Điểm

đặc biệt trong lễ lên nhà mới của người Thái đen thành phố Sơn La đó là, trước kia khi làm lễ lên nhà mới bao giờ họ cũng bế theo một con mèo hoặc một con chó cùng lên nhà mới Họ cho trẻ con bế mèo lên nhà, cho mèo lạy bếp lửa của gia đình và dặn rằng: bao giờ cái bếp này còn ở đây thì mày không được đi đâu nhé Bởi theo quan niệm người Thái cho rằng, mèo (hoặc chó) là những con vật trung thành, sống thọ, biết giúp chủ nhà bắt chuột, trông nhà, bảo quản lương thực vì thế mèo (chó) gắn liền với niềm tin về sự ấm no, hạnh phúc sung túc của gia đình chủ nhà

Sau những nghi lễ mang tính chất tôn giáo, cầu mong sự bình an, mạnh khỏe, làm ăn may mắn là việc chủ nhà tiếp khách và khách mừng chủ nhà nhân dịp vào nhà mới

Trang 34

Vào những dịp này, khách đến mừng vui thường mang theo “quà tặng” Theo tục lệ cổ truyền, “quà tặng” vào nhà mới thiết thực chỉ là gạo, rượu và

muối Mỗi người đến mừng nhà mới, tối thiểu mang theo một chai rượu, một ống gạo (khoảng 0,8kg), một cân muối Chủ nhà thường làm cơm lịch sự thân mật mời khách Cỗ của khách được bày thành hai hàng dọc theo chiều dài của nhà Một hàng bày ở nửa trên, một hàng bày ở nửa dưới Thường thường có đủ các món ăn dân tộc như cơm nếp, lạp, nặm pịa, rượu cần

Trong buổi lễ, ngoài ăn uống, đồng bào còn dành nhiều thì giờ để ca hát, chúc mừng chủ nhà làm được nhà mới rộng, đẹp, vững chắc Cuộc vui văn nghệ

mở đầu bằng lời hát chúc mừng của một người già trong làng do người thân của chủ nhà giới thiệu Ông ta hát chúc chủ nhà làm được nhà to, dát dày, nhà rộng rãi, thoáng đãng

Cột nhà to phải dùng voi kéo

Dát sàn dày phải dùng voi khiêng

Gầm sàn rộng đủ én lượn

Hai chái rộng đủ ném còn đôi

Sau những lời chúc chính thức đầu tiên đó, cuộc vui diễn ra theo cách tự

do, thoải mái: họ chúc chủ nhà, chúc nhau, mời rượu nhau Cuộc vui có thể kéo dài thâu đem suốt sáng Điều lí thú ở đây là những lời chúc đều được diễn đạt

theo làn điệu dân ca – điệu “khắp”

Qua lễ nhà mới, ta thấy ngôi nhà không chỉ là chỗ để ở thông thường, mà còn là nơi gửi gắm biết bao tâm trí, ước mong, niềm tự hào, niềm vui trưởng thành của chủ nhà

Các nghi lễ lên nhà mới một lần nữa nói lên mối quan hệ xã hội sâu sắc, bởi lẽ ngôi nhà được làm ra là sản phẩm của sự đóng góp của bố mẹ hai bên và

sự giúp đỡ của hai bên họ hàng thân thích – một sự thể hiện rõ nét sản phẩm cộng đồng, của tình tương thân, tương ái trong dân tộc Thái Những nghi lễ vào nhà mới, trước hết là đường cày tượng trưng trong nhà là yếu tố văn hóa của cư dân nông nghiệp trồng trọt

2.1.2 Việc sử dụng không gian trong ngôi nhà sàn Thái

Nhà sàn Thái có hai cửa đi lại Hai cửa được mở ở chính giữa hai đầu hồi

Hai cửa đi lại này có hai tên gọi khác nhau: cửa “chan” và cửa “quản” Cửa

“chan” là cửa mở từ phía trong nhà ra phía “chan” Cửa “quản” là cửa mở từ phía “quản” Thường thường cửa “chan” nhìn về phía nào thì đó là hướng của

Trang 35

nên việc đi lại chủ yếu là qua cửa phía “chan” Cửa phía “quản” chỉ đi lại khi

vội vàng, khi đi chơi, chứ không phải là đi làm hàng ngày Ban đêm cửa phía

“chan” đóng kín và cài then chặt ở bên trong Còn cửa bên “quản” thường chỉ

khép lại, hoặc nếu cài then, chủ nhà vẫn biết cách tự mở từ ngoài vào được Do vậy, vào buổi đêm, chủ nhà đi săn, hay những chàng trai đi chơi khuya thường phải đi lại bằng cửa này, về muộn, không phiền đến người nhà đã đi ngủ

Đối với khách, nhất là khách lạ, việc đi lại qua hai cửa đó có những quy

ước nhất định: Theo tập quán, khách nữ chỉ nên đi lên thang phía “chan” và đi vào nhà bằng cửa phía bên “chan” Còn khách nam thường hay đi phía bên

“quản” Đôi khi người ta có thể vi phạm quy ước này Đó là trường hợp khách nam quan thuộc đi vào nhà từ cửa phía “chan”

Trên bức phên phía “chan”, ngay sát cửa đi lại, thường là nơi dành đặt

những dấu hiệu kiêng kị cấm người lạ vào nhà, hoặc những dấu hiệu mang ý

nghĩa “bảo vệ” Trong khi nhà có những việc hệ trọng như sinh con nhỏ hoặc có

đám cúng đuổi ma… đồng bào thường cắm cành lá xanh trên vách; khi đó, người lạ, người không có việc thường không nên vào nhà Dấu hiệu sinh con trai

là một khúc củi gỗ cháy dở, cắm ở bức phên cạnh cửa ra vào Để ngăn ngừa các loại ma quỷ làm hại, đồng bào dùng lưới đánh cá treo vắt ngang cửa Lưới đánh

cá tượng trưng cho bủa vây bắt các loại ma quỷ và bảo vệ cho chủ nhà Các loại

ma quỷ làm hại nhìn thấy lưới sợ, không dám vào nhà Quả núc nác ở trên rừng, còn non được dùng làm thức ăn, nó thân thuộc với người nhưng xa lạ với ma quỷ, sẵn sàng trừng trị ma quỷ Dấu hiệu phòng trừ ma quỷ còn là tấm nan tre đan hình mắt cáo

Hai cửa “chan” và “quản” đối diện nhau giữa nhà, phân chia bên nhà ra

làm hai nửa bằng nhau: nửa trên và nửa dưới Việc chia nửa trên và nửa dưới, không do hướng nhà quy định mà thường phụ thuộc vào hướng bắc cầu thang

lên “chan” và “quản” theo quy ước, phía bắc cầu thang lên là nửa dưới, nửa

còn lại là nửa trên Nửa trên và nửa dưới hoàn toàn không có gì ngăn cách Đường ranh giới chỉ là sự ước lệ, nhưng đối với đồng bào thì rất rõ ràng Ranh

giới ở đây là đường thẳng tượng trưng nối giữa hai cửa đi lại (cửa “chan” và cửa “quản”)

Theo phong tục đồng bào Thái, nửa trên của nhà dành làm chỗ thờ và chỗ ngủ cho mọi thành viên trong gia đình Khách không bao giờ được đi lại qua cửa

này Tính từ bên cửa “quản” vào, gian thứ nhất là “hoỏng hoóng” (gian thờ) Gian này có “xau hoóng” (nơi trú ngụ của tổ tiên), “phi hướn” (ma nhà) cho

nên đồng bào dành gian này để thờ tổ tiên Bàn thờ dân tộc Thái rất thô sơ, thường chỉ có một ống nứa trong đó cắm vài thẻ hương cháy dở Ở đây ta nhận

ra tấm lòng trân trọng tổ tiên hơn sự phô trương hình thức cầu kì Tổ tiên gần gũi trong sự trân trọng giản dị nhưng sâu sắc Gian này thường là trống trải, không có đồ đạc, ít khi quét dọn, bụi bặm bám nhiều làm tăng thêm vẻ hiu quạnh, lạnh lẽo Khi có việc, ông chủ nhà hoặc người nam giới trong nhà có thể đến gian này Khách lạ tuyệt nhiên không được đến đây

Tiếp theo “hoỏng hoóng” là những gian ngủ liên tiếp của các thành viên

trong gia đình Gọi là các gian ngủ, nhưng hoàn toàn không có các thưng phên

Ngày đăng: 26/03/2017, 23:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Cầm Trọng – Phan Hữu Dật (1995), Văn hóa Thái Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Thái Việt Nam
Tác giả: Cầm Trọng – Phan Hữu Dật
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1995
3. Nguyễn Đăng Duy (2004), Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2004
4. Đinh Văn Thiên, Hoàng Thế Long, Nguyễn Trung Minh (2010), Tây Bắc Vùng đất – Con người, NXB QĐND Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây Bắc Vùng đất – Con người
Tác giả: Đinh Văn Thiên, Hoàng Thế Long, Nguyễn Trung Minh
Nhà XB: NXB QĐND Hà Nội
Năm: 2010
5. Ngô Đức Thịnh (2000), “Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam”, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam”
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
6. Lê Ngọc Thắng (1990), Nghệ thuật trang phục Thái, NXB Văn hóa dân tộc Hà Nội, Trung tâm Văn hóa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật trang phục Thái
Tác giả: Lê Ngọc Thắng
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc Hà Nội
Năm: 1990
7. TS. Nguyễn Thị Thanh Nga (2003), Nghề dệt của người Thái ở Tây Bắc trong cuộc sống hiện đại, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề dệt của người Thái ở Tây Bắc trong cuộc sống hiện đại
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Thanh Nga
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2003
8. Hoàng Nam - Lê Ngọc Thắng (1984), Nhà sàn Thái, NXB Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà sàn Thái
Tác giả: Hoàng Nam - Lê Ngọc Thắng
Nhà XB: NXB Văn hoá
Năm: 1984
9. PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Nga (chủ biên) (2007), Văn hoá truyền thống một số tộc người ở Hoà Bình, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá truyền thống một số tộc người ở Hoà Bình
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Nga (chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 2007
10. GS. TS Trần Văn Bính (chủ biên) (2004), Văn hoá các dân tộc Tây Bắc thực trạng và những vấn đề đặt ra, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá các dân tộc Tây Bắc thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: GS. TS Trần Văn Bính (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
11. Vi Trọng Liên (2002), Vài nét về người Thái ở Sơn La, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về người Thái ở Sơn La
Tác giả: Vi Trọng Liên
Nhà XB: NXB Văn hóa Dân tộc
Năm: 2002
12. Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Sơn La, Đề tài khoa học Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Thái ở Sơn La trong quá trình hội nhập quốc tế, tài liệu Hội thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Thái ở Sơn La trong quá trình hội nhập quốc tế
13. Lò Minh Thảo (2013), Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La hiện nay, luận văn Thạc sĩ Triết học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La hiện nay
Tác giả: Lò Minh Thảo
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w