1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của ngân hàng Việt Nam thịnh vượng VPbank

68 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về nội dung: DAĐT là tập hợp các hoạt động và chi phí cần thiết được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vậ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

-o0o -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH

DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA

NGÂN HÀNG VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG VPBANK

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

-o0o -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH

DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA

NGÂN HÀNG VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG VPBANK

Giáo viên hướng dẫn : Th.S Ngô Khánh Huyền Sinh viên thực hiện : Trần Thị Hồng Nhung

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy cô trường Đại học Thăng Long, đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo của giáo viên hướng dẫn Thạc Sĩ

Ngô Khánh Huyền Trong suốt quá trình làm khóa luận, cô đã tận tình góp ý, giúp đỡ

để em có những định hướng tốt hơn và hoàn thiện hơn cho đề tài mà em đang theo

đuổi.Em cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của các anh chị công tác tại Ngân hàng Việt Nam

Thịnh Vượng VPbank chi nhánh Hà Nội- phòng giao dịch Xuân La đã giúp đỡ em

trong việc cung cấp các số liệu và thông tin thực tế để chứng minh cho các kết luận

trong khóa luận tốt nghiệp của em

Trong quá trình thực hiện, bài làm em còn nhiều thiếu sót, vì thế em kính mong

sự đóng góp của quý thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2014

Sinh viên

Trần Thị Hồng Nhung

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do bản thân tự thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người

khác Các dữ liệu thông tin được sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được

trích dẫn rõ ràng

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Trần Thị Hồng Nhung

Trang 5

MỤC LỤC CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN

ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG

MẠI 1

1.1 Thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay…… 1

1.1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1

1.1.1.1 Khái niệm và chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại 1

1.1.1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 3

1.1.2 Dự án đầu tư và thẩm định tài chính dự án đầu tư của ngân hàng thương mại5 1.1.2.1 Dự án đầu tư 5

1.1.2.2 Thẩm định tài chính dự án đầu tư của ngân hàng thương mại 6

1.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư 8

1.2.1 Thẩm định tổng mức vốn đầu tư và nguồn tài trợ của dự án 8

1.2.2 Thẩm định dự trù về doanh thu- chí phí của dự án 10

1.2.3 Thẩm định dòng tiền hàng năm của dự án 11

1.2.4 Thẩm định và phân tích các chỉ tiêu tài chính của dự án 12

1.2.5 Thẩm định khả năng trả nợ của dự án 16

1.2.6 Thẩm định rủi ro của dự án 16

1.3 Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong cho vay và các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong cho vay 17

1.3.1 Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong cho vay 17

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định 17

1.3.2.1 Nhân tố chủ quan 17

1.3.2.2 Nhân tố khách quan 20

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG VPBANK 23

2.1 Giới thiệu về ngân hàng VPBank 22

2.1.1 Giới thiệu chung về ngân hàng VPBank 22

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng của các phòng ban 23

2.1.3 Một số kết quả hoạt động của ngân hàng VPBank 26

2.1.3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh 26

2.1.3.2 Tình hình huy động vốn và cho vay khách hàng 27

2.1.3.3 Tình hình cho vay theo dự án đầu tư 30

2.2 Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong cho vay tại ngân hàng VPBank 32

2.2.1 Quy định về thẩm định tài chính dự án đầu tư trong cho vay tại VPBank 32

2.2.1.1 Đối tượng cho vay và điều kiện cho vay 32

Trang 6

2.2.1.2 Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư cho vay tại ngân hàng VPBank 33

2.2.1.3 Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư cho vay tại ngân

hàngVPBank 37

2.2.2 Yêu cầu đối với cán bộ thẩm định tài chính dự án 41

2.2.3 Thẩm định tài chính dự án sản xuất vật liệu xây dựng của công ty TNHH Thanh Hòa tại Phúc Yên, Vĩnh Phúc 42

2.2.3.1 Mô tả dự án 42

2.2.3.2 Nội dung thẩm định tài chính của dự án cho vay sản xuất vật liệu xây dựng của công ty TNHH Thanh Hòa 42

2.2.4 Đánh giá chung về hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư trong cho vay tại ngân hàng VPBank 47

2.2.4.1 Thành tựu đạt được 47

2.2.4.2 Tồn tại còn vướng mắc 48

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG VPBANK 52

3.1 Định hướng hoạt động của ngân hàng VPBank trong những năm tới 50

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại ngân hàng VPBank 51

3.2.1 Hoàn thiện nội dung thẩm định tài chính 51

3.2.2 Nâng cao trình độ cán bộ thẩm định 52

3.2.3 Nâng cao chất lượng thông tin về dự án 52

3.2.4 Hoàn thiện quy trình chấm điểm tín dụng 53

3.2.5 Đẩy mạnh công tác chuyên môn hóa trong công việc 54

3.3 Một số kiến nghị 54

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng VPBank giai đoạn 2011-2013

26

Bảng 2.2 Tình hình huy động vốn và cho vay khách hàng của ngân hàng VPBank 28

Bảng 2.3 Tình hình xin vay theo số dự án tại ngân hàng VPbank giai đoạn 2011-2011 30

Bảng 2.4 Tỷ lệ nợ xấu tại ngân hàng VPbank giai đoạn 2011-2013 31

Bảng 2.5 Tóm tắt doanh thu, chi phí và các chỉ tiêu kinh tế của dự án 45

Bảng 2.6 Độ nhạy của dự án 46

Sơ đồ 2.1 Tổ chức hệ thống ngân hàng VPBank 24

Sơ đồ 2.2 Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại ngân hàng VPBank 36

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế Việt Nam đang trên con đường đổi mới và hội nhập với nền kinh tế thế giới Sự hội nhập đó đã khép lại một thời kỳ kinh tế tự cung tự cấp, phát triển chậm

chạp và lạc hậu Nhìn lại những năm qua, tốc độ đầu tư trong nền kinh tế nước ta có sự

tăng trưởng mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển cũng như cải thiện đời sống xã hội

Trong đó, không thể không kể đến vai trò của các NHTM với tư cách là nhà tài trợ lớn

cho các dự án đầu tư, đặc biệt là dự án trung và dài hạn Phải khẳng định rằng, để đẩy

mạnh công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, trong khi xuất phát điểm

thấp hơn nhiều, đòi hỏi chúng ta phải có sự ưu tiên về đầu tư chiều sâu, đặc biệt cần bổ

sung một lượng vốn đáng kể để đầu tư vào các dự án có khả năng đạt hiệu quả nhanh

chóng

Trong khi đó, khả năng về vốn tự có của các doanh nghiệp rất hạn chế, việc huy động vốn của các doanh nghiệp qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu cũng rất khó

khăn do thị trường chứng khoán của nước ta còn đang ở giai đoạn sơ khai Do vậy để

có thể đáp ứng nhu cầu về vốn trung và dài hạn, các doanh nghiệp chủ yếu đi vay các

tổ chức tài chính trung gian trong đó hệ thống NHTM là nguồn huy động và cung cấp

chủ yếu cho nền kinh tế

Với tư cách là trung tâm tiền tệ tín dụng của nền kinh tế, để phù hợp với xu hướng đa dạng hoá các hoạt động của ngân hàng nhằm phục vụ bổ sung vốn lưu động

và vốn cố định cho doanh nghiệp, hệ thống NHTM Việt Nam cũng đã chủ trương đẩy

mạnh hoạt động tín dụng trung và dài hạn đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành

phần kinh tế bên cạnh hoạt động ngắn hạn truyền thống

Tuy nhiên, cũng như mọi hoạt động kinh doanh khác, hoạt động tín dụng cũng chứa đầy rẫy những rủi ro Do đặc thù kinh doanh tín dụng ngân hàng là kinh doanh

chủ yếu dựa vào tiền của người khác, qua tay người khác nên rủi ro trong hoạt động tín

dụng cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp vì nó vừa phụ thuộc vào kết quả kinh

doanh của chính bản thân ngân hàng và vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của

doanh nghiệp Hậu quả của nó rất dễ lan truyền trong cả hệ thống ngân hàng gây ra

những vụ hoảng loạn và sụp đổ của hàng loạt ngân hàng cùng một loạt hậu quả

Trang 10

nghiêm trọng khác về mọi mặt kinh tế, xã hội đặc biệt là lòng tin của người dân vào sự

lãnh đạo của chính phủ bị suy giảm

Vậy nên vấn đề đặt ra ở đây là làm sao hạn chế được rủi ro cho hoạt động tín dụng của ngân hàng Muốn vậy thì những dự án này phải đảm bảo chất lượng, tức là

phải làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư, trong đó có việc lập, thẩm định và phê duyệt dự

án Chính vì vậy, vai trò to lớn của công tác thẩm định tín dụng DAĐT, đặc biệt là

thẩm định tài chính DAĐT là không thể phủ nhận được Hơn nữa, một yêu cầu có tính

nguyên tắc đối với ngân hàng trong hoạt động đầu tư tín dụng là phải xem xét, lựa

chọn những DAĐT thực sự có hiệu quả vừa mang lại lợi ích cho nền kinh tế, vừa phải

đảm bảo lợi nhuận ngân hàng, đồng thời hạn chế thấp nhất rủi ro và nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn đầu tư

Nhận thấy được tính cấp thiết cũng như tầm quan trọng của hoạt động thẩm định tài chính dự án, dưới sự hướng dẫn của giáo viên Ths Ngô Khánh Huyền, em đã

chọn đề tài “Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoat động

cho vay của ngân hàng Việt Nam Thịnh vượng VPBank” để làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư

Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) và giải pháp để nâng cao chất lượng thẩm định

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Thẩm định tài chính dự án đầu tư Phạm vi nghiên cứu: Thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho

vay tại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng VPBank trong giai đoạn 2011 – 2013

4 Phương pháp nghiên cứu

Để phù hợp với nội dung phân tích, yêu cầu của đề tài, phương pháp nghiên cứu được thực hiện gồm:

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đánh giá có sự kết hợp luận giải về lý luận và chứng minh thực tế Số liệu được thu thập dựa trên nguồn thông tin thứ cấp thu

được những báo cáo: báo cáo tài chính, báo cáo thẩm định… từ đó đưa ra nhận định và

Trang 11

giải pháp để nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong cho vay tại

ngân hàng Việt Nam Thịnh vượng VPBank

5 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần lời mở đầu, lời kết, mục lục và danh mục bảng biểu, sơ đồ, tài liệu tham

khảo, kết cấu khóa luận có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận chung về thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt

động cho vay của ngân hàng thương mại

Chương 2 Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động

cho vay tại ngân hàng VPBank

Chương 3 Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong

hoạt động cho vay tại ngân hàng VPBank

Trang 12

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ

TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay

1.1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1.1.1.1 Khái niệm và chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại

Khái niệm ngân hàng thương mại

Trên thế giới có rất nhiều khái niệm về NHTM nhưng để đưa ra một khái niệm tổng quát và chính xác thì ta phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên

thị trường tài chính Ví dụ, theo Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) định nghĩa :

“Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên

là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác

và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và

tài chính" Còn luật pháp Ấn Độ lại có cái nhìn về NHTM như sau, họ định nghĩa: “

NHTM là cơ sở xác nhận các khoản tiền gửi để cho vay, tài trợ và đầu tư”

Còn ở Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam 2010 đã quy định tại điều 4

: “ NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân

hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận” Trong

đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội

dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng

dịch vụ thanh toán; còn tổ chức tín dụng là tổ chức thực hiện các hoạt động ngân hàng

đó

Tóm lại, tuy các định nghĩa khác nhau về ngôn từ, cách diễn đạt nhưng về cơ bản vẫn phản ánh một nội dung chung về định nghĩa NHTM là một doanh nghiệp kinh

doanh tiền tệ - tín dụng, với các hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và

cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân

Chức năng của ngân hàng thương mại

Chức năng trung gian tín dụng

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng thời là cơ sở để thực

hiện các chức năng khác Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng

vai trò là cầu nối giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Bằng việc huy

động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi từ nhiều hình thức khác nhau, NHTM

hình thành một quỹ cho vay để cung ứng tín dụng cho nền kinh tế Với chức năng này,

Trang 13

2

NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng

lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay, góp phần tạo

lợi ích cho tất cả các bên tham gia

Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của mình gửi tại ngân hàng, đồng thời ngân hàng còn đảm bảo sự an toàn về khoản tiền gửi và

cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi

Đối với người đi vay thì được thỏa mãn nhu cầu vay vốn của mình để kinh doanh

Đối với NHTM thì 80% lợi nhuận kiếm được là từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới nhận thông qua hoạt động cho vay

Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc cung ứng vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được

thực hiện liên tục với quy mô ngày một mở rộng Thực hiện chức năng này, NHTM đã

biến vốn tạm thời nhàn rỗi chưa tham gia hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích

quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển

Chức năng trung gian thanh toán

Chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng có nghĩa là ngân hàng đứng ra thanh toán hộ cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản

khác theo yêu cầu của họ như thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ… Thông qua chức

năng này, ngân hàng đóng vai trò là người “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân

bởi ngân hàng là người giữ tiền của khách hàng, thu chi tiền cho khách hàng Do đó,

nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì chức năng này càng được rộng mở

Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống NHTM góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội Khi khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng sẽ làm giảm

rủi ro, giảm lượng tiền mặt và tiết kiệm chi phí trong lưu thông tiền mặt, giảm chi phí

và thời gian thanh toán cho khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh

của khách hàng càng nhanh hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn tăng lên Đối với

NHTM chức năng này góp phần tăng lợi nhuận của ngân hàng thông qua việc thu lệ

phí thanh toán Hơn nữa, hoạt động này làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng

thể hiện trên số dư có tài khoản tiển gửi của khách hàng Chức năng này cũng chính là

cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền của NHTM

Chức năng tạo tiền

Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngân hàng phát hành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn thực hiện chức

năng phát hành giấy bạc ngân hàng nữa Nhưng với chức năng trung gian tín dụng và

Trang 14

trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể

hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM Đây chính là một bộ

phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch

Ban đầu từ những khoản tiền dự trữ tăng lên, NHTM sử dụng để cho vay bằng chuyển khoản, sau đó những khoản tiền này sẽ được quay lại NHTM một phần

khi những người sử dụng tiền gửi vào dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn Quá trình này

tiếp diễn trong hệ thống ngân hàng và tạo nên một lượng tiền gửi (tức tiền tín dụng)

gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số

mở rộng tiền gửi Hệ số này, đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt

buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công

chúng

Với chức năng "tạo tiền", hệ thống NHTM đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Rõ ràng khái

niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do ngân hàng trung ương phát

hành ra mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các NHTM

tạo ra

Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ Một khối lượng tín dụng mà NHTM cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của

NHTM, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng

Như vậy, các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho

việc thực hiện các chức năng sau Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng

trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng,

mở rộng hoạt động tín dụng

1.1.1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Theo điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 đã định nghĩa: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản

tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận

với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”

Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, đồng thời nó cũng là hoạt động kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận Khoản mục cho vay chiếm hơn một

nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra 1/2 đến 2/3 nguồn thu nhập của ngân hàng Hay ngân

hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình Vì

vậy, có thể nói NHTM hỗ trợ cho sự phát triển của cộng đồng thông qua việc cung cấp

tín dụng, đáp ứng nhu cầu về vốn của xã hội Cho vay là chức năng kinh tế cơ bản

hàng đầu của ngân hàng

Trang 15

Hoạt động cho vay mang lại cho ngân hàng nhiều rủi ro tiềm ẩn, đặc biệt là trong những dự án đầu tư trung và dài hạn Ngày nay, các NHTM ngày càng năng động

trong việc tài trợ cho các doanh nghiệp mua sắm thiết bị, xây dựng, cải tiến kĩ thuật,

mua công nghệ… Với sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của khoa học công nghệ,

để tồn tại và phát triển thì nhu cầu về vốn trung và dài hạn ngày càng cao Và trong đó

thì phải nói đến cho vay theo các dự án Khi khách hàng có nhu cầu mua sắm, xây

dựng tài sản cố định thì có thể vay vốn ngân hàng Một trong những yêu cầu của ngân

hàng là người vay phải xây dựng hồ sơ dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư cũng

như quá trình thực hiện dự án Thẩm định dự án sẽ giúp ngân hàng quyết định phần

vốn cho vay và khả năng trả nợ của doanh nghiệp Đặc điểm của loại hình cho vay

trung và dài hạn này là có số vốn cho vay lớn, thời gian cho vay dài, chịu nhiều biến

động và có độ rủi ro cao Và cũng do đặc điểm này mà ngân hàng thường đòi hỏi phải

có TSBĐ, theo đó ngân hàng có thể thu hồi khoản vay từ tổ chức bảo lãnh khi khách

hàng không có đủ khả năng trả nợ Mặt khác, hiện nay với sự cạnh tranh gay gắt giữa

các NHTM thì các ngân hàng cũng phải tính đến biện pháp cho vay mà không cần

TSBĐ để thu hút nhu cầu vay vốn của khách hàng Đây là một vấn đề rất khó khăn

Vậy vừa để tăng khả năng cạnh tranh vừa đảm bảo khoản thu nhập xứng đáng, bảo

đảm an toàn vốn thì các NHTM phải có những dự án tốt Các ngân hàng đều phải chú

trọng tới việc giảm thiểu tối đa rủi ro Quá trình cho vay một dự án thường nhiều khâu:

thẩm định, xét duyệt, quyết định cho vay tới kiểm tra sử dụng vốn và theo dõi, thu hồi

nợ sau khi cho vay Trong đó, khâu thẩm định dự án là quan trọng nhất Kết quả của

khâu này sẽ mang tính quyết định đối với một khoản vay, cũng như tránh được rủi ro

của khoản vay, tạo sự an toàn trong hoạt động ngân hàng

Trang 16

1.1.2 Dự án đầu tư và thẩm định tài chính dự án đầu tư của ngân hàng thương

mại 1.1.2.1 Dự án đầu tư

Khái niệm dự án đầu tƣ

Ở Việt Nam, theo Luật đầu tư năm 2005 định nghĩa : “ Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất có liên quan tới việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở

vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến,

nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian nhất định”

DAĐT được xem xét ở nhiều góc độ:

Về hình thức: DAĐT là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ

thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và

thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai Và đây cũng là phương tiện

mà các chủ đầu tư sử dụng để chứng minh tính khả thi của dự án và thuyết phục nhằm

nhận được sự ủng hộ cũng như tài trợ về tài chính từ phía NHTM

Về nội dung: DAĐT là tập hợp các hoạt động và chi phí cần thiết được bố trí theo

một kế hoạch chặt chẽ với thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải

tạo những cơ sở vật chất của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh nhằm thực

hiện những mục tiêu cụ thể trong tương lai Đó chính là tiền đề để NHTM nắm bắt,

xem xét và ra các quyết định cho vay để đầu tư cũng như tài trợ vốn

Với cách tiếp cận khác nhau sẽ có những khái niệm khác nhau về DAĐT Tuy nhiên, dù đứng trên góc độ nào thì một DAĐT cũng gồm những nội dung chính sau:

mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án; các hoạt động cần thực hiện trong dự án để

đạt được mục tiêu dự án và cuối cùng là các nguồn lực dành cho dự án như nguồn lực

tài chính, con người…

Vai trò của dự án đầu tƣ

Đầu tư là một quá trình hết sức phức tạp, có liên quan, ảnh hưởng đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, kinh tế và xã hội Để có thể sử dụng tối

đa các nguồn lực một cách hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu của quá trình đầu tư,

các chủ đầu tư, các nhà tài trợ và các cơ quan quản lý Nhà nước cần phải soạn thảo

DAĐT Vai trò của dự án đầu tư là rất quan trọng, thể hiện cụ thể sau:

- Đối với chủ đầu tư: Dự án luôn là căn cứ quan trọng để quyết định đầu tư, xây

dựng kế hoạch đầu tư và theo dõi quá trình thực hiện đầu tư

- Đối với nhà tài trợ (các NHTM): DAĐT là căn cứ quan trọng để các tổ chức

này xem xét tính khả thi của dự án, từ đó sẽ đưa ra quyết định có nên tài trợ cho dự án

Trang 17

6

hay không, và nếu có tài trợ thì nên tài trợ ở mức độ nào để có thể hạn chế rủi ro đến

mức thấp nhất cho nhà tài trợ

- Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: DAĐT là tài liệu quan trọng để các cấp

có thẩm quyền xét duyệt, cấp giấy phép đầu tư, đồng thời dự án còn là căn cứ pháp lý

quan trọng để toà án giải quyết khi xảy ra tranh chấp giữa các bên trong quá trình thực

khiếm khuyết Để khẳng định một cách chính xác hơn mức độ hợp lý và hiệu quả, tính

khả thi của dự án cũng như quyết định đầu tư thực hiện dự án, ngân hàng luôn xem

xét, kiểm tra lại dự án một cách độc lập với quá trình chuẩn bị, soạn thảo dự án hay

nói cách khác chính là cần thẩm định DAĐT trong cho vay

Mục đích của việc thẩm định dự án là nhằm phát hiện, ngăn chặn những dự án xấu, không bỏ sót các dự án xấu trong quy luật ngày càng khan hiếm về nguồn lực

Thông qua thẩm định dự án, ngân hàng có được cái nhìn tổng quát nhất về chủ đầu tư và về dự án Về chủ đầu tư, ngân hàng sẽ đánh giá được năng lực pháp lý, năng

lực tài chính, trình độ, tình hình sản xuất kinh doanh hiện tại của chủ dự án Còn về dự

án, ngân hàng đánh giá toàn diện về các mặt: kỹ thuật, hiệu quả tài chính, hiệu quả

kinh tế, hiệu quả xã hội

Tuy nhiên, đối với ngân hàng thì thẩm định tài chính vẫn là mục tiêu quan tâm hàng đầu Bởi trong khi tiến hành thẩm định dự án, yếu tố hiệu quả tài chính của dự

án, nhất là thời gian trả nợ và các nguồn dùng để trả nợ của dự án được quan tâm và có

tính quyết định lớn nhất

Vì vậy, có thể hiểu thẩm định tài chính DAĐT là thẩm định các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả tài chính của dự án Hay nói cách khác, thẩm định tài chính là thẩm định

tính khả thi về mặt tài chính của dự án, nhu cầu vay vốn cũng như khả năng trả nợ và

lãi vay của dự án

Sự cần thiết của công tác thẩm định tài chính dự án đầu tƣ

Trên thực tế, phần lớn các dự án thực hiện dở dang, thất bại là do đã không được thẩm định một cách kĩ lưỡng trước khi thực hiện, còn mang tính chủ quan của người

Trang 18

lập dự án Do vậy, khi có những thay đổi thực tế ngoài dự kiến, các chủ đầu tư thường

lâm vào tình thế lúng túng và bị động Chính vì lẽ đó, đối với bất kì dự án nào, việc

thẩm định DAĐT, đặc biệt là thẩm định hiệu quả tài chính là khâu vô cùng quan trọng,

không thể thiếu được trước khi tiến hành thực hiện dự án

Thẩm định DAĐT có ý nghĩa khác nhau đối với chủ đầu tư, nhà tài trợ và đối với các cơ quan quản lý Về phía các NHTM, việc thẩm định dự án đầu tư, đặc biệt là

thẩm định tài chính dự án lại càng cần thiết Cụ thể như sau:

- Thẩm định tài chính dự án giúp các NHTM đưa ra kết luận về tính khả thi về mặt tài chính của dự án, từ đó xác định được khả năng hoàn vốn của dự án, khả năng

trả nợ của nhà đầu tư Trên cơ sở này, các ngân hàng mới đưa ra quyết định có tài trợ

cho dự án hay không, nếu có thì nên tài trợ ở mức độ nào về giá trị khoản vay, thời hạn

vay, dự kiến tiến độ giải ngân, lãi suất cho vay cách thức thu nợ, các biện pháp đảm

bảo tiền vay…

- Thẩm định tài chính dự án giúp các ngân hàng lường trước được các rủi ro có thể xảy ra như: sự biến động của thị trường đầu vào, sản phẩm đầu ra, các yếu tố về

công nghệ, các yếu tố về chính sách, môi trường pháp lý… gây ảnh hưởng đến quá

trình triển khai thực hiện dự án Từ đó các ngân hàng sẽ có cơ sở để tham gia góp ý, tư

vấn, bổ sung thêm các giải pháp cho chủ đầu tư nhằm hạn chế đến mức thấp nhất mọi

rui ro có thể xảy ra

- Thông qua quá trình thẩm định, các NHTM sẽ có căn cứ để kiểm tra việc sử dụng vốn có đúng mục đích, đúng đối tượng hay không Việc kiểm tra này sẽ được

thực hiện trước, trong và sau khi ngân hàng tiến hành giải ngân, góp phần thúc đẩy

DAĐT có hiệu quả

- Thẩm định dự án là công việc rất phức tạp, vì thế rất khó tránh khỏi việc mắc phải sai sóc khi thực hiện Việc thẩm định dự án sẽ giúp cán bộ thẩm định của ngân

hàng phải thường xuyên được tích luỹ kinh nghiệm, bài học, nâng cao kỹ năng phân

tích, đánh giá và nhận định các rủi ro của dự án

Như vậy, qua phần trình bày ở trên ta có thể thấy rằng việc thẩm định tài chính

dự án đầu tư là vô cùng quan trọng Nó giúp các NHTM đánh giá được chính xác hiệu

quả tài chính cũng như hiệu quả đầu tư dự án, từ đó lựa chọn được những dự án khả

thi cao để tài trợ, đảm bảo được khả năng thu hồi vốn và lãi vay từ dự án

Trang 19

8

1.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tƣ

Hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư để ra quyết định cho vay của NHTM diễn ra theo một quy trình thống nhất với các bước cụ thể Thông thường quy trình

thẩm định được tiến hành thông qua các bước sau:

1.2.1 Thẩm định tổng mức vốn đầu tư và nguồn tài trợ của dự án

Việc thẩm định vốn đầu tư là một trong những nội dung rất quan trọng của thẩm định tài chính dự án Ngân hàng không chỉ thực hiện thẩm định về vốn, tổng vốn đầu

tư của dự án mà còn đi sâu phân tích, xem xét cơ cấu nguồn vốn, nhu cầu về vốn theo

tiến độ, khả năng đảm bảo nguồn vốn…

với dự kiến, dẫn đến việc không cân đối được nguồn, ảnh hưởng đến hiệu qủa và khả

năng trả nợ của dự án Vì vậy, mục đích của việc thẩm định tổng vốn đầu tư là nhằm

xác định tổng vón đầu tư sát với thực tế, tạo cơ sở tính toán hiệu quả tài chính và dự

kiến khả năng trả nợ của dự án

Tổng mức vốn đầu tư của dự án bao gồm toàn bộ số vốn cần thiết để thiết lập và đưa dự án vào hoạt động :

Tổng vốn đầu tư = vốn cố định + vốn lưu động + vốn dự phòng

- Nhu cầu vốn cố định bao gồm:

+ Chi phí điều tra, khảo sát để lập, trình duyệt dự án, chi phí tư vấn, thiết kế dự

án, chi phí chuẩn bị mặt bằng xây dựng…

+ Chi phí xây dựng lắp đặt nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng

+ Chi phí mua máy móc thiết bị, phương tiện vận tải

+ Chi phí khác: tuyên truyền quảng cáo, trả lãi vay ngân hàng trong thời gian thi công, các chi phí để hoạt động ban đầu

- Nhu cầu vốn lưu động: Vốn đầu tư vào tài sản lưu động ban đầu là giá trị các tài sản lưu động ban đầu cần thiết để đảm bảo cho dự án có thể đi vào hoạt động bình

thường theo các điều kiện kinh tế - kỹ thuật dự tính Bao gồm:

Trang 20

+ Dự trữ hàng hoá: nguyên vật liệu, nhiên liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm tồn kho

+ Tiền trả lương cho nhân công, phúc lợi xã hội

+ Dự trữ tiền mặt, các khoản phải thu và trả trước

Ngân hàng căn cứ vào tốc độ chu chuyển vốn lưu động hàng năm của chủ đầu

tư, dự án các doanh nghiệp cùng ngành nghề dự án và khả năng tự chủ vốn lưu động

của chủ dự án để xác định nhu cầu vốn lưu động và chi phí vốn lưu động hàng năm

- Vốn dự phòng: Vốn dự phòng là lượng vốn để đề phòng phát sinh thêm chi phí đầu tư so với dự tính Trong thời gian dài hạn, giá cả đầu vào có thể thay đổi, tỷ giá

hối đoái có thể biến động… Khi đó vốn dự phòng sẽ được sử dụng để đảm bảo tiến độ

thực hiện dự án Vốn dự phòng thường được tính theo tỷ lệ phần trăm trên tổng vốn cố

định và vốn lưu động của dự án

Thẩm định cơ cấu nguồn vốn của dự án

Một dự án thường được tài trợ từ các nguồn sau:

- Vốn tự có: để xác định nguồn vốn tự có của chủ đầu tư dự án, các ngân hàng cần phải phân tích, xem xét tình hình tài chính cũng như tình hình sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp chủ đầu tư ít nhất là trong hai năm gần nhất

- Vốn từ ngân sách Nhà nước: đây là nguồn có tính an toàn cao, thường chỉ được cấp cho các doanh nghiệp quốc doanh mà sản phẩm của doanh nghiệp mang tính chiến

lược đối với nền kinh tế

- Vốn vay từ các NHTM khác

- Vốn vay trực tiếp từ nước ngoài: nguồn này thường chỉ xuất hiện trong các dự

án lớn, chuyển giao công nghệ hay nhập thiết bị từ nước ngoài

Sau khi tìm hiểu về cơ cấu nguồn vốn của dự án, cán bộ thẩm định tại ngân hàng cần phải xem xét kĩ lưỡng về cơ sở pháp lý của các nguồn này Chẳng hạn như nếu

nguồn tài trợ là ngân sách Nhà nước cấp hoặc ngân hàng cho vay thì phải có sự cam

kết của các cơ quan có thẩm quyền, các tổ chức bằng văn bản… Bất kỳ nguồn vốn nào

cũng đều phải có giấy tờ, văn bản xác nhận của cơ quan, các cấp có thẩm quyền

Trên cơ sở tổng mức vốn đầu tư đã được duyệt, thông qua việc xem xét quy mô các nguồn tài trợ, ngân hàng sẽ xác định được số vốn còn thiếu và mức độ cho vay đối

với dự án Trong trường hợp các ngân hàng tham gia hợp vốn để cho vay thì các yếu tố

về nguồn tài trợ phải được tất cả các ngân hàng đồng tài trợ cùng xem xét, bàn bạc rồi

mới đi đến quyết định thống nhất

Xác định nhu cầu vốn đầu tƣ theo tiến độ thực hiện dự án

Trang 21

10

CBTĐ tại ngân hàng cần phải xem xét, đánh giá về tiến độ thực hiện dự án và nhu cầu vốn cho từng giai đoạn như thế nào, có hợp lý hay không Khả năng đáp ứng

nhu cầu vốn trong từng giai đoạn thực hiện dự án để tham gia trong từng giai đoạn có

hợp lý hay không, thông thường vốn tự có phải tham gia đầu tư trước

Việc xác định tiến độ thực hiện, nhu cầu vốn sẽ làm cơ sở cho việc dự kiến tiến

độ giải ngân, tính toán lãi vay trong thời gian thi công và xác định thời gian vay trả

1.2.2 Thẩm định dự trù về doanh thu- chí phí của dự án

Sau khi thẩm định tổng nhu cầu vốn, cơ cấu nguồn vốn và tiến độ huy động vốn, bước tiếp theo là thẩm định các chỉ tiêu kinh tế tài chính của dự án, tức là xem xét tới

các yếu tố thu- chi, để từ đó xem xét được dòng tiền của dự án Việc thẩm định các chỉ

tiêu này dựa trên các báo cáo tài chính dự tính theo từng năm hoặc từng giai đoạn của

dự án

Doanh thu của dự án

Doanh thu từ hoạt động của dự án được tính hàng năm và bao gồm các khoản:

- Doanh thu từ sản phẩm chính, từ sản phẩm phụ, từ thứ liệu, phế liệu

- Doanh thu từ dịch vụ cung cấp cho bên ngoài

Trong quá trình thẩm định, để đảm bảo tính hợp lý và chính xác của doanh thu, CBTĐ cần phải xem xét kỹ lưỡng các yếu tố như: giá bán của sản phẩm, sản lượng sản

xuất hàng năm và mức tiêu thụ sản phẩm của thị trường

Đối với các dự án mà sản phẩm rất nhạy cảm với các biến động của thị trường trong và ngoài nước hoặc mức độ cạnh tranh trên thị trường thì cần có sự thay đổi giá

bán qua các năm, hoặc xếp hạng mức độ rủi ro của dự án cao hơn

Sản lượng sản xuất của dự án được tính theo phần trăm của công suất thiết kế, tăng dần trong các năm, đạt mức 100% khi sản xuất đi vào ổn định và giảm dần vào

các năm cuối trong vòng đời của dự án Do vậy, nhiệm vụ các cán bộ thẩm định là

phải kiểm tra kỹ lưỡng các thông tin để điều chỉnh tỷ lệ này cho phù hợp

Trang 22

- Chi phí trả lãi vay

- Chi phí quản lý doanh nghiệp, quản lý phân xưởng, tiêu thụ sản phẩm

- Chi phí khấu hao tài sản cố định

- Chi phí sửa chữa máy móc, thiết bị…

- Chi phí lãi vay của dự án được tính dựa trên kế hoạch vay và trả nợ đối với các nguồn huy động từ bên ngoài Cần kiểm tra lại cách tính trả lãi và gốc cho phù hợp với

thông lệ của ngân hàng

1.2.3 Thẩm định dòng tiền hàng năm của dự án

Đối với các NHTM, khi tiến hành thẩm định hiệu quả tài chính của một dự án thì các chỉ tiêu như chi phí sản xuất, doanh thu, lợi nhuận, ,… từ dự án chưa phải là các

chỉ tiêu thu hút được sự quan tâm nhất Bởi lẽ các chỉ tiêu này chỉ mang ý nghĩa tổng

kết hoạt động kinh doanh của dự án trên sổ sách kế toán (mang tính chất thời kỳ) mà

không phản ánh chính xác khi nào thu nhập và chi phí được thu vào hoặc chi ra, hay

nói cách khác chúng ta không thể xác định được thời điểm xuất hiện của các khoản

tiền này Chính vì vậy, để có thể đưa ra được những phân tích, đánh giá chính xác

nhằm xác định dự án có hiệu qủa về mặt tài chính hay không, bên cạnh các chỉ tiêu chi

phí, doanh thu, nhà thẩm định thường quan tâm tới dòng tiền (CF) của dự án

Dòng tiền của dự án được định nghĩa là phần chênh lệch trong dòng tiền của doanh nghiệp trong giai đoạn mà dự án được thực hiện so với lúc không thực hiện dự

án Dòng tiền của dự án bao gồm dòng tiền vào và dòng tiền ra Trong các dự án dòng

tiền thường được giả định là xuất hiện vào cuối năm

Đứng trên góc độ của các NHTM, với tư cách là nhà tài trợ dự án, các dự án mà ngân hàng thẩm định được tài trợ bởi các nguồn vốn hỗn hợp bao gồm vốn tự có của

doanh nghiệp và vốn vay ngân hàng Quá trình thẩm định dòng tiền dự án do NHTM

thực hiện gồm các nội dung :

Dòng tiền vào (CIF): là dòng tiền sau thuế mà doanh nghiệp có thể thu hồi để tái

đầu tư vào một dự án khác Các khoản phải thu của dự án thường được tính theo năm

và được dựa vào kế hoạch sản xuất, tiêu thụ hàng năm của dự án để xác định Trong

bước này, CBTĐ xác định công suất huy động dự tính của chủ dự án có chính xác hay

không, khả năng tiêu thụ sản phẩm, giá của sản phẩm bán ra,…dựa vào định hướng

phát triển của ngành nghề và dự báo ảnh hưởng của các yếu tố môi trường Bao gồm:

- Vốn vay ngân hàng: đây được xem là một dòng tiền vào của dự án trong năm 0 (năm thực hiện đầu tư dự án)

Trang 23

12

- Doanh thu các năm (doanh thu ngoài thuế) từ hoạt động của dự án

- Các khoản thu khác từ dự án như thanh lý TSCĐ, thanh lý vốn lưu động ròng…

các khoản này thường được xác định vào năm cuối khi dự án kết thúc

- Giá trị còn lại của máy móc, thiết bị là giá trị có thể bán được tại thời điểm dự

án kết thúc

Dòng tiền ra (COF): Dòng tiền ra của dự án thể hiện qua chi phí của dự án như

chi phí đầu tư cho tài sản cố định, cho xây dựng và mua sắm Việc dự tính các chi phí

sản xuất, dịch vụ được dựa trên kế hoạch sản xuất hàng năm, kế hoạch khấu hao, kế

hoạch trả nợ của dự án CBTĐ cần xem xét tính đầy đủ của các loại chi phí, kế hoạch

trích khấu hao có hợp lý hay không…Bao gồm:

- Chi phí mua sắm, lắp đặt tài sản cố định và đầu tư vào tài sản lưu động ròng

Những chi phí này được thực hiện vào năm 0 (năm thực hiện đầu tư dự án)

- Chi phí nguyên vật liệu, tiền lương, chi phí quản lý và chi phí khác

- Chi phí trả lãi vay

- Thuế thu nhập doanh nghiệp

- Trả gốc vay ngân hang

- Chi phí khác

- Trong việc tính toán cũng cần tính đến yếu tố chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là

cơ hội thu nhập bị bỏ qua khi chấp nhận dự án này mà không chấp nhận sự án khác

Như vậy, dòng tiền hàng năm (CFt) của dự án được xác định theo công thức:

CFt = CIFt – COFt = DT - (Chi phí hoạt động + Thuế TNDN + Chi phí khác) - trả gốc

= Lợi nhuận sau thuế năm t + KHTSCĐ - Trả gốc Tóm lại, có thể coi việc thẩm định dòng tiền là khâu quan trọng nhất trong quá trình thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng Đây là cơ sở chắc chắn nhất giúp

cho ngân hàng đánh giá chính xác khả năng trả nợ gốc và lãi vay của dự án

1.2.4 Thẩm định và phân tích các chỉ tiêu tài chính của dự án

Một dự án được đánh giá là rất tốt khi dự án đó phải tạo được mức lợi nhuận tuyệt đối- tức là khối lượng của cải ròng lớn nhất; có tỷ suất sinh lời cao- ít nhất phải

cao hơn tỷ suất lãi vay hoặc tỷ suất sinh lời mong muốn hoặc tỷ suất chiết khấu bình

quân ngành hay thị trường; khối lượng và doanh thu hòa vốn thấp và dự án phải nhanh

chóng thu hồi vốn

Trang 24

Từ đó, những chỉ tiêu tương ứng được đưa ra để thẩm định tính hiệu quả của dự

án giúp các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm

quyền thẩm định và đặc biệt là phía ngân hàng đưa ra được những đề án cũng như

quyết định đúng đắn đem lại hiệu quả kinh tế lớn nhất cho các bên

Chỉ tiêu Giá trị hiện tại ròng (NPV)

Giá trị hiện tại ròng của một dự án là chênh lệch giữa giá trị hiện tại của các luồng tiền dự tính mà dự án mang lại với giá trị đầu tư ban đầu Do vậy, chỉ tiêu này

phản ánh giá trị tăng thêm ( NPV dương) hay giảm đi ( NPV âm)

Công thức tính toán Giá trị hiện tại ròng ( NPV) như sau :

NPV là giá trị hiện tại ròng

C0 là vốn đầu tư ban đầu vào dự án, do là khoản đầu tư luồng tiền ra nên mang dấu âm

C1, C2, C 3, …Cn là các luồng tiền dự tính mà dự án mang lại tại năm 1,2,3,…n

r là tỷ lệ chiết khấu của dự án Ngân hàng khi cho vay thường chỉ quan tâm đến vấn đề trả gốc và lãi của doanh nghiệp Tuy nhiên, khi thẩm định dự án doanh nghiệp thường đưa ra tỷ lệ chiết khấu

cao để NPV > 0 Vì vậy, ngân hàng cần thẩm định NPV để thẩm định việc doanh

nghiệp dự tính tỷ lệ chiết khấu có hợp lý hay không Với tỷ lệ chiết khấu hợp lý đó thì

NPV > 0 sẽ giúp cho ngân hàng khẳng định việc cho vay là có hiệu quả

Ưu điểm của NPV là tính trên dòng tiền và xét đến giá trị thời gian của tiền, xét đến quy mô của dự án và thỏa mãn yêu cầu tối đa hóa lợi nhuận, phù hợp với mục tiêu

hoạt động của ngân hàng

Nhược điểm của NPV là chỉ tiêu này chỉ cho biết quy mô mà không cho biết thời gian nhanh hay chậm Và lãi suất đo lường chi phí cơ hội của vốn bằng lãi suất thị

trường, cho nên việc giữa nguyên một tỷ lệ chiết khấu cho cả thời kỳ hoạt động của

một dự án là không hợp lý

Vì vậy, sự kết hợp với các chỉ tiêu khác khi thẩm định là là điều cần thiết trong các điều kiện cụ thể, thực tế

Trang 25

14

Chỉ tiêu Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR)

Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại ròng của dự án bằng 0, tức là giá trị hiện tại của dòng thu nhập tính theo tỷ lệ chiết khấu đó cân bằng

với hiện giá của vốn đầu tư Hay nói cách khác, nó chính là tỷ lệ sinh lời tối thiểu của

nhập từ dự án chỉ đủ trả gốc và lãi đã đầu tư ban đầu vào dự án Nó chính là mức lãi

suất tiền vay cao nhất mà nhà đầu tư có thể chấp nhận mà không bị lỗ nếu toàn bộ số

tiền đầu tư cho dự án là vốn vay và nợ vay ( cả gốc và lãi cộng dồn) được trả bằng

nguồn tiền thu được từ dự án khi chúng phát sinh

Và cũng như chỉ tiêu NPV, chỉ tiêu IRR cũng được xác định theo hai trường hợp sau:

- Nếu hai dự án độc lập nhau thì dự án có IRR > r sẽ được chọn

- Nếu hai dự án loại trừ nhau thì dự án có IRR > r và lớn hơn sẽ được chọn

Ưu điểm của chỉ tiêu IRR là tính bằng phần trăm nên dễ dàng so sánh với chi phí

sử dụng vốn

Nhược điểm là chỉ tiêu này chỉ phản ánh tỷ lệ hoàn vốn nội bộ của dự án là bao nhiêu chứ không cung cấp quy mô của lãi ( hay lỗ ) tính bằng tiền Với các loại dự án

có luồng dòng tiền ra vào xen kẽ trong nhiều năm, kết quả tính toán có thể cho nhiều

IRR khác nhau gây khó khăn trong việc ra quyết định Do đó chỉ tiêu IRR chỉ bổ trợ

cho chỉ tiêu NPV

Chỉ tiêu Thời gian hoàn vốn (PP)

Thời gian hoàn vốn của một dự án là chỉ tiêu thường được dùng để đánh giá giá trị kinh tế của dự án đầu tư, nó là khoảng thời gian để thu hồi toàn bộ khoản đầu tư

Trang 26

ban đầu Cho nên thời gian hoàn vốn của một dự án càng ngắn càng tốt, tránh những

biến động và rủi ro Công thức tính PP :

Thời gian hoàn vốn PP = tổng vốn đầu tư

dòng thu bình quân hàng năm

Ưu điểm của chỉ tiêu này là đơn giản, dễ nhìn thấy và hữu ích với các dự án có mức độ rủi ro cao, cần thu hồi vốn nhanh, thích hợp với những nhà đầu tư hạn chế về

vốn

Nhược điểm là nó không tính đến giá trị thời gian của tiền và quy mô của dự án,

dễ bỏ qua những dự án có thu nhập cao do chỉ chú ý tính đến dòng tiền trong khoảng

thời gian hoàn vốn

Chỉ số khả năng sinh lợi (PI)

Chỉ tiêu này là tỷ lệ giữa giá trị hiện tại của các luồng tiền dự án mang lại và giá trị đầu tư ban đầu Chỉ tiêu này phản ánh 1 đơn vị đầu tư sẽ mang lại bao nhiêu đơn vị

giá trị Nếu PI > 1 nghĩa là dự án mang lại giá trị cao hơn chi phí và khi đó có thể chấp

nhận dự án Công thức tính:

PI = PV P

Trong đó: P là vốn đầu tư ban đầu

PV là thu nhập ròng hiện tại, với PV = NPV + P

- Nếu là phương án độc lập thì chọn nếu phương án có PI > 1

- Nếu là phương án loại bỏ thì chọn PI lớn nhất

Ưu điểm là thông qua việc xác định giá trị hiện tại của các khoản nhập kỳ vọng trong tương lai, PI có tính đến giá trị theo thời gian của tiền, giúp chủ đầu tư chọn ra

được những dự án có khả năng sinh lời cao

Nhược điểm đối với các dự án loại trừ nhau có quy mô vốn đầu tư khác nhau, phương pháp PI và NPV có thể đưa ra kết quả lựa chọn mâu thuẫn với nhau Bởi vì

NPV chỉ ra tổng lợi nhuận ròng của dự án, trong khi PI chỉ ra lợi nhuận ròng của dự án

trên một đồng vốn đầu tư

Nói tóm lại, trong thực tế có nhiều phương pháp đánh giá hiệu quả tài chính dự

án Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng Nhiệm vụ của các CBTĐ là

phải lựa chọn được phương pháp đánh giá phù hợp với dự án để có thể đưa ra quyết

định chính xác cuối cùng

Trang 27

16

1.2.5 Thẩm định khả năng trả nợ của dự án

Khả năng trả nợ của dự án được đánh giá trên cơ sở nguồn thu và nợ (cả gốc và lãi) phải trả hàng năm của dự án Việc xem xét này được thể hiện qua bảng cân đối thu

chi và tỷ số khả năng trả nợ của dự án

Tỷ số khả năng trả nợ của dự án = Nguồn trả nợ hàng năng của dự án

Nợ phải trả hàng năm ( gốc và lãi)

Tỷ số khả năng trả nợ của dự án được so sánh với mức quy định chuẩn theo từng ngành nghề Dự án được đánh giá có khả năng trả nợ khi tỷ số này phải đạt mức quy

định chuẩn

Ngoài ra, khả năng trả nợ của dự án còn được đánh giá thông qua việc xem xét sản lượng và doanh thu tại điểm hòa vốn

Khả năng trả nợ của dự án đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá độ an toàn

về mặt tài chính đồng thời cũng là chỉ tiêu được ngân hàng đặc biệt quan tâm và coi

như một tiêu chuẩn để quyết định cung ứng tín dụng cho dự án hay không

1.2.6 Thẩm định rủi ro của dự án

Phân tích độ nhạy của dự án là cách để xem xét mức độ rủi ro của một sự án

Phân tích độ nhạy là xem xét sự thay đổi của các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án (

lợi nhuận, NPV, IRR,…) khi các yếu tố có liên quan đến các chỉ tiêu này thay đổi Khi

tính độ nhạy người ta thường để các yếu tố đầu vào thay đổi 1% để xem các chỉ tiêu

thay đổi bao nhiêu %, từ đó xác định xu thế và mức độ thay đổi của các yếu tố ảnh

hưởng Các bước để thẩm định độ nhạy của dự án như sau:

- Xác định các yếu tố dễ bị ảnh hưởng từ các nhân tố bên ngoài ( giá cả sản phẩm, sản lượng, chi phí, tỷ giá…)

- Đo lường phần trăm thay đổi của chỉ tiêu hiệu quả tài chính do sự thay đổi của các yếu tố:

Độ nhạy của dự án = % thay đổi của chỉ tiêu hiệu quả tài chính

% thay đổi của các yếu tố đầu vào gây ra sự thay đổi đó

- Chỉ số này thường mang dấu âm Trị tuyệt đối của chỉ số càng lớn thì độ rủi ro càng lớn, do các yếu tố đầu vào quá biến động ảnh hưởng đến kết quả tài chính của dự

án

Phân tích độ nhạy giúp cho chủ đầu tư và nhà cung cấp tín dụng khoanh được hành lang an toàn cho dự án

Trang 28

Tóm lại, mỗi chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư đều

có ưu nhược điểm nhất định Vì vậy, để đưa ra kết luận chính xác, đầy đủ và khách

quan nhất về chất lượng dự án thì cần sự kết hợp đánh giá của tất cả những chỉ tiêu

trên vì chúng đều hỗ trợ, bổ sung cho nhau

1.3 Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong cho vay và các nhân tố

ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong cho vay

1.3.1 Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong cho vay

Hoạt động cho vay của NHTM là hoạt động chủ lực đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Vì vậy, công tác thẩm định tài chính DAĐT phải đạt chất lượng cao để tránh rủi

ro trong công tác cho vay, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay tình trạng nợ xấu, nợ

khó đòi… đang trở thành vấn đề bức xúc không chỉ của ngân hàng mà còn của toàn xã

Với nhà đầu tư: Việc thẩm định tài chính có chất lượng là cung cấp cho chủ đầu

tư những thông tin mang ý nghĩa cơ sở đáng tin cậy cho việc lựa chọn được dự án đầu

tư có hiệu quả tài chính cao nhất

Với cơ quan quản lí nhà nước (cơ quan có thẩm quyền thẩm định để chấp nhận

cho phép đầu tư), chất lượng thẩm định tài chính DAĐT là việc chấp nhận, phê duyệt

những dự án có tính khả thi về mặt tài chính, mang lại lợi ích cho chủ đầu tư và góp

phần thực hiện định hướng kinh tế xã hội cho đất nước trong từng thời kì (cũng như dự

án được lựa chọn là dự án tốt nhất trong số các dự án xem xét đứng trên quan điểm xã

hội)

Với nhà tài trợ (cụ thể ở đây là NHTM): Chất lượng thể hiện ở việc trên cơ sở

phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, sâu sắc, ngân hàng quyết định tài

trợ cho những dự án mà sau này khi đi vào thực hiện mang lại hiệu quả tài chính cao

cũng như trả được nợ ngân hàng như dự kiến, từ đó ngân hàng cũng đạt được mục tiêu

kinh doanh của mình Ở khía cạnh nào đó, chất lượng thẩm định tài chính DAĐT được

thể hiện ở chất lượng tín dụng hay bảo đảm cho dự án

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định 1.3.2.1 Nhân tố chủ quan

Trang 29

18

Nhân tố chủ quan là những nhân tố tồn tại bên trong, ảnh hưởng tới kết quả thẩm định tài chính dự án trong việc cho vay của NHTM Nhân tố chủ quan bao gồm:

Nhân tố con người

Nhân tố con người bao giờ cũng là một trong những nhân tố quan trọng trong mọi công việc Trong hoạt động thẩm định, con người là chủ thể trực tiếp tổ chức và

thực hiện hoạt động tài chính theo phương pháp của mình, xây dựng quy trình với

những chỉ tiêu, phương pháp, trình tự nhất định, đóng vai trò chi phối, quyết định cả

những nhân tố khác và liên kết các nhân tố với nhau

Kết quả của thẩm định tài chính dự án là kết quả của việc phân tích đánh giá dự

án về mặt tài chính theo nhận định chủ quan của người thẩm định song phải dựa trên

cơ sở khoa học, trang thiết bị hiện đại …sẽ là không có ý nghĩa nếu CBTĐ không cố

gắng sử dụng chúng một cách có hiệu quả

Con người đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng thẩm định phải kể đến các khiá cạnh: kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và phẩm chất đạo đức của người

thẩm định Kiến thức ở đây không chỉ là hiểu biết về nghiệp vụ chuyên môn đơn thuần

mà bao gồm hiểu biết về khoa học – kinh tế -xã hội Kinh nghiệm là những cái được

tích luỹ qua hoạt động thực tiễn, năng lực và khả năng nắm bắt xử lí công việc trên cơ

sở các tri thức đã tích luỹ Như vậy, trình độ CBTĐ ảnh hưởng trực tiếp đến chất

lượng thẩm định, hơn nữa rất quan trọng bởi vì thẩm định tài chính DAĐT cũng như

thẩm định dự án nói chung là công việc hết sức tinh vi, phức tạp, nó không đơn thuần

là việc tính toán theo những mẫu biểu sẵn có Bên cạnh đó, tính kỉ luật cao, lòng say

mê với công việc và đạo đức nghề nghiệp tốt sẽ là điều kiện đủ để đảm bảo cho chất

lượng thẩm định Nếu CBTĐ có phẩm chất đạo đức không tốt sẽ ảnh hướng tới tiến độ

công việc, mối quan hệ ngân hàng –khách hàng … đặc biệt những nhận xét đánh giá

đưa ra sẽ bị chi phối bởi những nhân tố không phải từ bản thân dự án, do đó tính

khách quan, hoàn toàn không tồn tại và ý nghĩa của việc thẩm định

Những sai lầm trong thẩm định tài chính DAĐT từ nhân tố con người dù vô tình hay cố ý đều dẫn đến một hậu quả: đánh giá sai lệch hiệu quả, khả năng tài chính cũng

như khả năng hoà trả vốn vay ngân hàng, từ đó ngân hàng gặp khó khăn trong thu hồi

nợ, nghiêm trọng hơn là nguy cơ mất vốn, suy giảm lợi nhuận kinh doanh

Nhân tố thông tin

Thực chất thẩm định là xử lí thông tin để đưa ra nhũng nhận xét, đánh giá về dự

án Nói một cách khác thông tin chính là nguyên liệu cho quá trình tác nghiệp của cán

Trang 30

bộ thẩm định Do đó số lượng cũng như chất lượng và tính kịp thời của thông tin có

tác động rất lớn đến chất lượng thẩm định

Để có những kết quả chính xác về hiệu quả của dự án thì phải dựa trên những thông tin, số liệu đầy đủ, có chất lượng, phản ánh đúng thực trạng của dự án trên nhiều

mặt, nhiều góc độ khác nhau Chất lượng và sự đầy đủ về những thông tin này một

phần phụ thuộc vào việc lập, thẩm định dự án của chủ đầu tư và cung cấp thông tin của

các chủ thể liên quan khác, một phần phụ thuộc và khả năng của ngân hàng trong việc

tiếp cận, thu thập các nguồn thông tin phục vụ cho công tác thẩm định

Ngân hàng coi hồ sơ dự án của chủ đầu tư gửi đến là nguồn thông tin cơ bản nhất cho việc thẩm định Nếu thấy thông tin trong hồ sơ dự án thiếu hoặc không rõ ràng,

cán bộ tín dụng có thể yêu cầu chủ đầu tư cung cấp thêm hoặc giải trình về những

thông tin đó Tuy nhiên, dự án được lập ra phần nào mang tính chủ quan của chủ dự

án, hoặc không nhìn nhận thấu đáo mọi khía cạnh, hoặc cố ý làm cho kế hoạch rất khả

thi trước ngân hàng, do vậy hồ sơ dự án không phải là nguồn thông tin duy nhất để

ngân hàng xem xét Ngân hàng cần chủ động, tích cực tìm kiếm, khai thác một cách tốt

nhất những nguồn thông tin có thể được từ NHNN, viện nghiên cứu, báo chí … Tuy

vậy, việc thông tin phải chú ý sàng lọc, lựa chọn những thông tin đáng tin cậy làm cơ

sở cho phân tích Để phục vụ tốt cho công tác thẩm định chung cũng như thẩm định tài

chính nói riêng, các thông tin thu thập được đảm bảo tính chính xác, kịp thời

Nếu thông tin không chính xác thì phân tích là không có ý nghĩa cho dù là có sử dụng phương pháp hiện đại đến mức nào Đánh giá trong điều kiện thông tin không

đầy đủ cũng có thể dẫn đến những sai lầm như trường hợp thông tin không chính xác

Như vậy, cần phải thu thập đầy đủ thông tin

Trong môi trường kinh doanh năng động và tính cạnh tranh cao độ hiện nay, sự chậm trễ trong việc thu thập các thông tin cần thiết sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thẩm

định, quan hệ ngân hàng - khách hàng và có thể mất cơ hội tài trợ cho một dự án tốt

Vai trò của thông tin rõ ràng là quan trọng, song để có thể thu thập, xử lí lưu trữ thông tin một cách có hiệu quả, phải kể đến nhân tố thiết bị, kĩ thuật Công nghệ thông

tin được ứng dụng vào ngành ngân hàng đã làm tăng khả năng thu thập, xử lí, lưu trữ

thông tin đầy đủ, nhanh chóng Như vậy các thông tin đầu vào đầu ra của việc thẩm

định dự án sẽ được cung cấp đầy đủ kịp thời

Nhân tố quy trình thẩm định

Quy trình thẩm định của mỗi ngân hàng là căn cứ cho CBTĐ thực hiện công việc một cách khách quan, khoa học và đầy đủ Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư

Trang 31

20

bao gồm nội dung, phương pháp thẩm định và trình tự tiến hành những nội dung đó

Quy trình thẩm định được xây dựng một cách khoa học, tiên tiến và phù hợp với thế

mạnh và đặc trưng của ngân hàng sẽ góp phần nâng cao chất lượng thẩm định tài

chính Nội dung thẩm định cần đề cập đến tất cả các vấn đề về tài chính dự án đứng

trên góc độ ngân hàng: vấn đề vốn đầu tư (tổng vốn đầu tư, nguồn vốn, tiến độ …)

hiệu quả tài chính, khả năng tài trợ và rủi ro dự án Nội dung càng đầy đủ, chi tiết bao

nhiêu càng đưa lại độ chính xác cao của các kết luận đánh giá

Phương pháp thẩm định tài chính DAĐT bao gồm các hệ chỉ tiêu đánh giá, cách thức xử lí chế biến thông tin có trong hồ sơ dự án và những thông tin có liên quan để

đem lại những thông tin cần thiết về tính khả thi tài chính của dự án cũng như khả

năng trả nợ ngân hàng Phương pháp hiện đại, khoa học giúp CBTĐ, phân tích tính

toán hiệu quả tài chính dự án nhanh chóng, chính xác dự báo được rủi ro, làm cơ sở

cho lãnh đạo ra quyết định tài trợ đúng đắn

Thực tế những năm vừa qua, các NHTM Việt Nam đã chuyển dần từ phương pháp thẩm định tài chính DAĐT cũ sang phương pháp mới hiện đại hơn mà đã được

áp dụng rất lâu từ các nước phát triển Các nội dung thẩm định tài chính được sắp xếp

theo một trình tự hợp lí, lôgic sẽ thể hiện được mối liên hệ, hỗ trợ lẫn nhau giữa việc

phân tích các khía cạnh tài chính của dự án, báo cáo thẩm định sẽ chặt chẽ và có sức

thuyết phục hơn

Nhân tố tổ chức, điều hành

Là việc bố trí, sắp xếp quy định, trách nhiệm, quyền hạn của các cá nhân, bộ phận tham gia thẩm định, trình tự tiến hành cũng như mối quan hệ giữa các cá nhân,

bộ phận trong việc thực hiện Cần có sự phân công phân nhiệm cụ thể, khoa học và tạo

ra được cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong khâu thực hiện nhưng không cứng

nhắc, tạo gò bó nhằm đạt được tính khách quan và việc thẩm định được tiến hành

nhanh chóng, thuận tiện mà vẫn bảo đảm chính xác Như vậy việc tổ chức, điều hành

hoạt động thẩm định nếu xây dựng được một hệ thống mạnh, phát huy tận dụng được

tối đa năng lực sáng tạo của cá nhân và sức mạnh tập thể sẽ nâng cao được chất lượng

Trang 32

Hồ sơ dự án mà chủ đầu tư trình lên là cơ sở quan trọng để ngân hàng thẩm định

do đó trình độ lập, thẩm định, thực hiện dự án của chủ đầu tư yếu kém sẽ ảnh hưởng

xấu đến chất lượng thẩm định của ngân hàng: phải kéo dài thời gian phân tích, tính

toán, thu nhập thêm thông tin… đặc biệt đối với các doanh nghiệp Việt Nam, khả

năng quản lí cũng như tiềm lực tài chính rất hạn chế, rủi ro dự án hoạt động không

hiệu quả như dự kiến càng lớn với ngân hàng - người cho vay phần lớn vốn đầu tư vào

dự án Mặt khác, tính trung thực của thông tin do chủ đầu tư cung cấp cho ngân hàng

về: tình hình sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính hiện có, những thông số trong

dự án… cũng có rủi ro nhất định

Môi trường kinh tế

Mức độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia phản ánh phần nào độ tin cậy của các thông tin, do đó ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định Nền kinh tế chưa phát

triển, cơ chế kinh tế thiếu đồng bộ cùng với sự bất ổn của các điều kiện kinh tế vĩ

mô… đã hạn chế việc cung cấp những thông tin xác thực phản ánh đúng diễn biến,

mối quan hệ thị trường, những thông tin về dự báo tình trạng nền kinh tế…Đồng thời

các định hướng, chính sách phát triển kinh tế, xã hội theo vùng, ngành chưa được xây

dựng một cách cụ thể, đồng bộ và ổn định cũng là một yếu tố rủi ro trong phân tích,

chấp nhận hay phê duyệt dự án

Môi trường pháp lí

Những khiếm khuyết trong tính hợp lí và hiệu lực của các văn bản pháp lí Nhà nước đều tác động xấu đến chất lượng thẩm định (cũng như kết quả hoạt động của dự

án) Ví dụ sự mâu thuẫn chồng chéo của các văn bản, dưới luật về các lĩnh vực, sự

thay đổi liên tục những văn bản về quy chế quản lí tài chính, tính không hiệu lực của

pháp lệnh kế toán thống kê… làm thay đổi tính khả thi của dự án theo thời gian cũng

như khó khăn cho ngân hàng trong việc đánh giá, dự báo rủi ro, hạn chế trong thu thập

những thông tin chính xác (ví dụ như một doanh nghiệp có nhiều loại báo cáo tài chính

phục vụ cho những mục đích khác nhau)

Trang 33

22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN

ĐẦU TƯ TRONG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG VPBANK

2.1 Giới thiệu về ngân hàng VPBank

2.1.1 Giới thiệu chung về ngân hàng VPBank

Ngân hàng thương mại cổ phẩn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, được thành lập theo giấy phép hoạt động số 0042/NH-GP của thống đốc NHNN Việt Nam cấp

ngày 12/08/1993 với thời gian hoạt động 99 năm Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ

ngày 10/09/1993 theo giấy phép thành lập số 1535/QĐ-UB ngày 04/09/1993 Số vốn

điều lệ khi mới thành lập là 20 tỷ VNĐ

Từ năm 1993 đến 1996: Là giai đoạn ngân hàng tăng trưởng thiếu kiểm soát do mới thành lập và chưa có kinh nghiệm trong hoạt động cũng như quản lý Tuy vậy số

vốn điều lệ của ngân hàng VPBank đã tăng lên được 174,9 tỷ VNĐ theo quyết định số

53/QĐ-NH5 vào ngày 18/03/1996 của NNHN

Từ năm 1996 đến 2004: Là giai đoạn giải quyết khủng hoảng của ngân hàng

Năm 1997 xảy ra Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á, chính vì vậy VPBank

ngoài việc phải giải quyết những vấn đề còn tồn tại của chính mình thì còn phải giải

quyết những khó khăn do cuộc khủng hoảng gây ra Vốn điều lệ tính đến cuối năm

2004 lên mức 210 tỷ VNĐ

Tháng 3/2006, VPBank nhận được chấp thuận của NHNN cho phép bán 10%

vốn cổ phần cho cổ đông chiến lược nước ngoài là Ngân hàng OCBC - một Ngân hàng

lớn nhất Singapore, theo đó vốn điều lệ được nâng lên trên 750 tỷ đồng Tiếp đó đến

tháng 8/2008, NHNN chấp thuận cho VPBank bán thêm 5% cổ phần cho OCBC Bank,

đánh dấu sự nỗ lực phát triển vượt bậc với mức vốn điều lệ lên đến 2117 tỷ VNĐ Bên

cạnh việc mở rộng mạng lưới giao dịch trên đây, trong năm 2006, VPBank cũng đã

mở thêm hai Công ty trực thuộc: Công ty TNHH Quản lý Tài sản Ngân hàng Việt

Nam Thịnh Vượng (VPBank AMC) với chức năng quản lý nợ và khai thác tài sản của

VPBank, đồng thời cung cấp các dịch vụ gia tăng cho ngân hàng; và Công ty Chứng

Khoán VPBank (VPBS) làm công tác môi giới và giao dịch chứng khoán, làm các dịch

vụ tài chính, tư vấn tài chính doanh nghiệp và là trung tâm phân tích Đồng thời 2006

là năm VPBank ký hợp đồng mua phần mềm hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking -

T24) của Temenos (Thụy Sỹ), nâng cao chất lượng hệ thống ngân hàng

Năm 2010 thì đổi tên thành Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng- gọi tắt là ngân hàng VPBank

Trang 34

Sau hơn 20 năm hoạt động, VPBank đã phát triển mạng lưới lên hơn 200 điểm giao dịch, với đội ngũ trên 7.000 cán bộ nhân viên và cộng tác viên bán hàng Mới đây

nhất vào tháng 2/2014, NHNN đã chấp thuận phương án tăng vốn điều lệ của VPBank

lên mức 6.347 tỷ đồng Đây là hoạt động nằm trong lộ trình củng cố năng lực tài chính

để thực hiện chiến lược phát triển của VPBank

VPBank hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng trên

cơ sở thực hiện các nghiệp vụ sau: huy động vốn và cho vay đối với các cá nhân và tổ

chức, phát hành trái phiếu, thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, thực hiện dịch vụ

thanh toán giữa các khách hàng, thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế, chuyển tiền

trong và ngoài nước, thực hiện kinh doanh ngoại tệ và huy động vốn từ nước ngoài …

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng của các phòng ban

Cơ cấu tổ chức của ngân hàng VPBank bao gồm:

- Ban kiểm soát:

+ Cơ quan có thẩm quyền thay mặt Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt động của HĐQT, Tổng Giám đốc trong việc quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của

ngân hàng Ban Kiểm soát hoạt động một cách độc lập với HĐQT và Tổng Giám đốc,

thực hiện việc thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính của ngân

hàng, xem xét về các khối kiểm soát nội bộ

+ Báo cáo lên Đại hội đồng cổ đông về tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công

tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính

- Hội đồng quản trị :

+ Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hàng năm của ngân hàng và đưa ra những điều chỉnh kịp thời phù hợp với tình hình thị

trường HĐQT thông qua các vấn đề trọng tâm liên quan đến chiến lược phát triển của

ngân hàng như các vấn đề về quản trị doanh nghiệp,… đầu tư, xây dựng cơ bản theo

định hướng phát triển của ngân hàng, quyết định giải pháp phát triển

- Uỷ ban điều hành:

+ Xem xét, đề xuất HĐQT phê duyệt các chiến luợc kinh doanh của ngân hàng

+ Thường xuyên cập nhật tình hình hoạt động kinh doanh, thực hiện kế hoạch hành động ngắn hạn và giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá

trình hoạt động của các đơn vị

+ Đưa ra các đề xuất thay đổi về cơ cấu tổ chức, kế hoạch ngân sách, kế hoạch kinh doanh cho phù hợp với tình hình thực tế trình HĐQT phê duyệt

Ngày đăng: 26/03/2017, 23:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam
Năm: 2010
6. Các website: http://www.gso.gov.vn/ Link
1. PGS.TS Mai Văn Bản (2009), Giáo trình nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Đại học Thăng Long, Nhà xuất bản Tài Chính Khác
2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng VPBank giai đoạn 2011 – 2013 Khác
3. Báo cáo thường niên của Ngân hàng VPBank giai đoạn 2011-2013 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w