Trong các phương thức thanh toán quốc tế đang được sử dụng tại các ngân hàng Việt Nam hiện nay như: phương thức chuyển tiền, phương thức thanh toán nhờ thu, phương thức tín dụng chứng từ
Trang 1TẠI NGÂN HÀNG VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG
CHI NHÁNH THĂNG LONG
HÀ NỘI – 2011
Footer Page 1 of 161.
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.s Ngô Khánh Huyền và tập thể cán bộ ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng chi nhánh Thăng Long đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, tháng 3 năm 2011
Sinh viên
Tạ Thị Thùy Linh
Trang 33
LỜI MỞ ĐẦU
Gia nhập thành công vào tổ chức thương mại thế giới - WTO, Việt Nam đứng trước nhiều thách thức cũng như những cơ hội to lớn Hoạt động kinh tế quốc tế nói chung và hoạt động thương mại quốc tế nói riêng ngày càng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế đất nước, góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập nền kinh tế nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới
Hoạt động thanh toán quốc tế khép lại một chu trình mua bán hàng hoá, dịch vụ, giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh được trôi chảy, giúp cho hoạt động xuất nhập khẩu được dễ dàng và thực hiện các khoản thu, chi ngoại tệ cho nền kinh tế Hoạt động thanh toán quốc tế không chỉ có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của một quốc gia mà còn có vai trò quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu và các ngân hàng thương mại Trong giao dịch thương mại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu luôn phải tìm hiểu và lựa chọn phương thức thanh toán nào an toàn, chính xác và thuận lợi nhất
Trong các phương thức thanh toán quốc tế đang được sử dụng tại các ngân hàng Việt Nam hiện nay như: phương thức chuyển tiền, phương thức thanh toán nhờ thu, phương thức tín dụng chứng từ, … có thể nói phương thức tín dụng chứng từ đang được áp dụng một cách rộng rãi và thông dụng vì những tính năng ưu việt của nó
Tuy nhiên, thực hiện thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ đòi hỏi nghiệp vụ chuyên môn cao do tính phức tạp của bản thân phương thức này Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ đòi hỏi các cán bộ nghiệp vụ tính cẩn trọng trong thực thi các nghiêm chỉnh quy trình thanh toán đã đề ra để tránh mặc phải những sai sót đáng tiếc gây tổn thất cho khách hàng và uy tín của ngân hàng Tuy quy trình thực hiện phức tạp hơn các phương thức thanh toán quốc tế khác hiện có nhưng phương thức này lại giúp đảm bảo quyền lợi của cả hai bên xuất khẩu và hập khẩu, mang lại thu nhập cao cũng như tạo điều kiện cho ngân hàng nâng cao uy tín của mình Vì vậy, đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng chi nhánh Thăng Long nói riêng phải chú trọng nâng cao chất lượng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ nhằm hoàn thiện hơn phương thức thanh toán quốc tế quan trọng này, từ đó có thể thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam với các nước trên thế giới
Xuất phát từ thực tiễn trên cùng với quá trình thực tập tại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng chi nhánh Thăng Long, nhận thức được tầm quan trọng của phương thức thanh toán này đối với hoạt động xuất nhập khẩu cũng như đối với bản thân ngân hàng, em
đã tìm hiểu và lựa chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Nâng cao chất lượng hoạt động
Footer Page 3 of 161.
Trang 4của phương thức thanh toán quốc tế tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng Chi nhánh Thăng Long”
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và các danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận được chia làm 3 chương :
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng hoạt động của phương thức thanh toán quốc tế tín dụng chứng từ tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng chi nhánh Thăng Long
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng chi nhánh Thăng Long
Do còn có những hạn chế về kiến thức chuyên môn và thời gian thực tập nên đề tài không thể không có những hạn chế thiếu sót Em rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 55
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Từ khi con người bắt đầu biết sử dụng tiền như là một phương tiện trao đổi và phương tiện thanh toán, các nhu cầu về tiền tệ cũng bắt đầu nảy sinh và ngày càng trở nên đa dạng, chính điều này đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của một loại hình trung gian tài chính chuyên kinh doanh về tiền tệ, đó là ngân hàng
Trên thế giới có nhiều định nghĩa về ngân hàng thương mại (NHTM) với những cách nhìn nhận khác nhau
Ở Mỹ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính
Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức tiền gửi hay hình thức khác và họ dùng vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính
Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở xác nhận các khoản tiền gửi để cho vay, tài trợ và đầu tư
Ở Việt Nam theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: Ngân hàng là loại
hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã
Trong luật này cũng định nghĩa: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng
được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận
Cũng theo luật này thì: Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng
thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt
động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân
Footer Page 5 of 161.
Trang 6Tuy các định nghĩa ở các nước có khác nhau về ngôn từ, diễn đạt và một số nội dung song về cơ bản đều phản ánh họat động của ngân hàng thương mại là kinh doanh tiền tệ - tín dụng, dịch vụ ngân hàng khác Từ đó, định nghĩa NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ - tín dụng, với họat động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho
vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân.(PGS.TS Mai Văn Bạn, Giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Tài chính, trang 12)
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
NHTM là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán và các nghiệp vụ trung gian khác nhằm thu được lợi nhuận tối đa trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh khoản
Có thể phân các hoạt động của NHTM thành ba hoạt động cơ bản là:
- Hoạt động huy động vốn
- Hoạt động sử dụng vốn
- Hoạt động trung gian thanh toán và các loại hình dịch vụ khác
Ba hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau và có vai trò quan trọng trong việc quyết định đến sự thành công trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Một đặc trưng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM là đi vay
để cho vay
- Huy động từ tiền gửi: Đây là vốn quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn
vốn NHTM và đó là mục tiêu đánh giá tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng Có
nhiều hình thức huy động tiền gửi khác nhau như:
+ Tiền gửi không kỳ hạn: đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng nhằm mục đích giao dịch, thanh toán, chi trả cho các họat động mua bán hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi phí phát sinh trong kinh doanh Người gửi có thể rút ra bất cứ khi nào và ngân hàng phải có trách nhiệm đáp ứng kịp thời, đầy đủ
+ Tiền gửi có kỳ hạn: là những khoản tiền mà các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội gửi ở ngân hang sẽ được chi trả trong một khoảng thời gian nhất định Đây là nguồn vốn ổn định, vì vậy các ngân hàng thương mại luôn tìm cách đa dạng hóa huy động loại tiền gửi này bằng việc áp dụng nhiều kỳ hạn, lãi suất linh hoạt
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: là nguồn vốn mà ngân hàng thương mại huy động tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư Để thu hút loại tiền này, các ngân hàng
Trang 77
thương mại có những giải pháp khuyến khích dân cư gửi tiền như mở rộng mạng lưới huy động, đa dạng hóa các hình thức huy động, lãi suất linh hoạt với các hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn
+ Tiền gửi khác: Các NHTM còn huy động các khoản tiền gửi khác như tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác, tiền gửi của kho bạc Nhà nước,…
- Vay trên thị trường vốn (phát hành giấy tờ có giá): Thực chất là ngân hàng
huy động vốn bằng việc phát hành các giấy tờ có giá như: kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi Trong đó kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi là loại phiếu nợ ngắn hạn, trái phiếu là phiếu nợ trung dài hạn
- Vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác và của ngân hàng Trung ương
+ Vay từ ngân hàng Trung ương: Ngân hàng Trung ương có thể cho các tổ chức tín dụng vay vốn ngắn hạn khi cần thiết dưới hình thức tái cấp vốn như: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác, cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác, cho vay bổ sung vốn trong thanh toán bù trừ, cho vay đặc biệt khi tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán có nguy cơ mất an toàn cho hệ thống
+ Vay từ các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn các NHTM vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu dự trữ chi trả cấp bách
- Nguồn vốn khác
Ngoài các loại vốn trên, NHTM còn tạo lập vốn từ những nguồn khác:
+ Vốn ủy thác: NHTM thực hiện các dịch vụ như: ủy thác cho vay, ủy thác đầu
tư cấp phát, giải ngân và thu hộ…
+ Vốn trong thanh toán là số vốn có được do NHTM làm trung gian thanh toán
1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
Sử dụng và khai thác các nguồn vốn là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM và được thể hiện thông qua nhiều nghiệp vụ cụ thể như: cho vay, đầu tư, hoạt động ngân quỹ Trong đó, cho vay là nghiệp vụ cơ bản nhất trong sử dụng và khai thác nguồn vốn của NHTM
- Hoạt động cho vay
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng chuyển giao cho khách hàng một lượng tiền để sử dụng vào mục đích nhất định trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Đây là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng Tuy nhiên hoạt động này cũng chứa đựng mức độ rủi ro cao Có nhiều tiêu thức phân loại
Footer Page 7 of 161.
Trang 8cho vay Nếu phân loại theo thời hạn thì có: cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Nếu phân loại theo mục đích sử dụng thì có: cho vay tiêu dùng và cho vay kinh doanh Nếu phân loại theo loại tiền tệ thì có cho vay bằng nội tệ và cho vay bằng ngoại tệ Nếu phân loại theo phương thức cho vay thì có: cho vay từng lần, cho vay hạn mức, cho vay thấu chi, cho vay theo thẻ tín dụng
- Hoạt động đầu tư và ngân quỹ
Hoạt động đầu tư của NHTM được thể hiện dưới nhiều hình thức như: đầu tư mua bán chứng khoán, đầu tư góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh liên kết Nhờ có những hoạt động đầu tư này mà các NHTM có thể sử dụng và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động, đa dạng hoá kinh doanh và phân tán rủi ro, tăng cường thanh khoản cho dự trữ của ngân hàng Đồng thời, nó cũng mang lại nguồn thu nhập cho NHTM
Tuy nhiên, hoạt động đầu tư ở mức độ nào còn tuỳ thuộc vào mô hình tổ chức NHTM ở mỗi nước Xu hướng chung trong hoạt động của các NHTM hiện nay là ngày càng phát triển đa dạng các hoạt động kinh doanh và dịch vụ ngân hàng
Hoạt động ngân quỹ là hoạt động phục vụ cho việc chi trả đối với khách hàng,
nó bao gồm nghiệp vụ quỹ tiền mặt, tiền gửi ở các ngân hàng khác và ngân hàng Trung ương Mặc dù hoạt động ngân quỹ là hoạt động không mang tính đầu tư, nhưng lại rất quan trọng đối với các NHTM bởi nó góp phần tăng cường khả năng thanh toán
và chi trả với khách hàng
1.1.2.3 Hoạt động trung gian thanh toán và các loại hình dịch vụ khác
Tất cả các quan hệ trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ và các hoạt động khác trong nền kinh tế đều được kết thúc bằng khâu thanh toán Việc thanh toán có thể được thực hiện trực tiếp bằng tiền hoặc bằng chuyển khoản thông qua trung gian ngân hàng
Bên cạnh đó các NHTM cũng cung cấp các dịch vụ có liên quan đến tài chính như dịch vụ tư vấn, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ ủy thác, mua bán và kinh doanh chứng khoán Các hoạt động trung gian này có độ rủi ro thấp hơn hoạt động cho vay và đầu
tư trong khi vẫn mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng
1.2 Tổng quan về hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về thanh toán quốc tế
Việc trao đổi các hoạt động kinh tế và thương mại giữa các quốc gia làm phát sinh các khoản thu và chi bằng tiền của nước này đối với một nước khác trong từng giao dịch hoặc trong từng định kỳ chi trả do hai nước quy định Trong mối quan hệ chi trả này, các quốc gia phải cùng nhau quy định những yếu tố cấu thành cơ chế thanh toán giữa các quốc gia như quy định về chủ thể tham gia thanh toán, lựa chọn tiền tệ,
Trang 99
các công cụ và các phương thức đòi hoặc chi trả tiền tiền tệ Tổng hợp các yếu tố cấu
thành cơ chế đó tạo thành thanh toán quốc tế giữa các quốc gia.(GS.Đinh Xuân Trình, Giáo trình Thanh toán quốc tế, Nhà xuất bản Thông tin – Truyền thông, trang 11)
Xu hướng không ngừng mở rộng quan hệ thương mại và các mối quan hệ khác giữa các quốc gia trên thế giới đòi hỏi hoạt động thanh toán quốc tế cũng phải được
mở rộng, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phục vụ tốt hơn
1.2.2 Vai trò của thanh toán quốc tế
Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế và thương mại quốc tế ngày càng phát triển thì thanh toán quốc tế đã trở thành một hoạt động cơ bản, không thể thiếu của các NHTM Thực hiện tốt vai trò trung gian thanh toán của mình trong hoạt động thanh toán quốc tế, NHTM đã mang lại lợi ích cho khách hàng, cho nền kinh tế cũng như cho chính bản thân ngân hàng
- Đối với khách hàng:
Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM giúp cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn tiện lợi và tiết kiệm chi phí Trong quá trình thực hiện thanh toán, nếu khách hàng không đủ khả năng tài chính, cần đến sự tài trợ của ngân hàng thì ngân hàng sẽ chiết khấu chứng từ xuất khẩu Qua việc thực hiện thanh toán ngân hàng còn có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để có những tư vấn cho khách hàng và điều chỉnh chiến lược khách hàng
- Đối với nền kinh tế:
Thanh toán quốc tế là chiếc cầu nối liền giữa các quốc gia trong hoạt động kinh doanh đối ngoại Hoạt động thanh toán tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển, đẩy mạnh quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá, tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn, góp phần phát triển kinh tế Bên cạnh đó, hoạt động thanh toán quốc tế làm tăng khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, đồng thời thu hút một lượng ngoại tệ đáng kể vào Việt Nam
- Đối với bản thân ngân hàng:
Hoạt động thanh toán quốc tế có vai trò hết sức quan trọng đối với bản thân NHTM Trước hết, nó tạo ra một khoản lợi nhuận không nhỏ đóng góp vào khoản lợi nhuận chung của ngân hàng Ngoài ra, nó còn hỗ trợ cho các hoạt động khác của ngân hàng Hoạt động thanh toán quốc tế cũng giúp cho ngân hàng thu hút thêm khách hàng
có nhu cầu thanh toán quốc tế, trên cơ sở đó ngân hàng tăng được quy mô hoạt động của mình
Footer Page 9 of 161.
Trang 10Nhờ đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế mà ngân hàng đẩy mạnh được hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu Đồng thời ngân hàng phát triển được các nghiệp
vụ khác như kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho ngân hàng tạo được uy tín trên thị trường quốc tế cũng như uy tín đối với khách hàng, từ đó ngân hàng có thể khai thác được các nguồn vốn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Tóm lại, có thể khẳng định vai trò vai trọng của hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM đối với khách hàng, nền kinh tế và bản thân ngân hàng
1.2.3 Một số phương thức thanh toán quốc tế phổ biến
Phương thức thanh toán quốc tế là các cách thức, nội dung và điều kiện để tiến hành thu và chuyển trả tiền Trong quan hệ ngoại thương có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau như chuyển tiền, nhờ thu, ghi sổ, tín dụng chứng từ…
Dưới đây là những phương thức thanh toán quốc tế phổ biến nhất đang được sử dụng hiện nay:
1.2.3.1 Phương thức chuyển tiền (Remittance)
Định nghĩa:
Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng (người yêu cầu chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền
do khách hàng quy định (GS Đinh Xuân Trình, Giáo trình Thanh toán quốc tế, Nhà xuất bản Thông tin – Truyền thông, trang 223)
Có hai hình thức chuyển tiền là chuyển tiền bằng thư (mail transfer, M/T) và chuyển tiền bằng điện báo (telegraphic transfer, T/T)
Các bên tham gia
- Người yêu cầu chuyển tiền(Remitter): là người yêu cầu ngân hàng thay mình thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài Họ thường là người nhập khẩu, mắc nợ hoặc có nhu cầu chuyển vốn
- Người thụ hưởng (Beneficicary): là người nhận được số tiền chuyển tới thông qua ngân hàng Họ thường là người xuất khẩu, chủ nợ hoặc nói chung là người yêu cầu chuyển tiền chỉ định
- Ngân hàng nhận chuyển tiền (Remitting bank): là ngân hàng phục vụ người chuyển tiền
Trang 1111
- Ngân hàng trả tiền (Paying bank):là ngân hàng trực tiếp trả tiền cho người thụ hưởng, thường là ngân hàng đại lý hay chi nhánh ngân hàng chuyển tiền và ở nước người thụ hưởng
Trong phương thức chuyển tiền còn có thể phân chia thành chuyển tiền trước và chuyển tiền sau Phương thức chuyển tiền sau được sử dụng phổ biến hơn
Dưới đây là quy trình thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền sau áp dụng trong hoạt động ngoại thương
Quy trình thực hiện
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ chuyển tiền
(5)
(4) (6) (2) (3)
(1) (1) Người hưởng lợi thực hiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng ngoại thương
(2) Người chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng của mình chuyển tiền ra nước ngoài bằng lệnh chuyển tiền cùng với ủy nhiệm chi (nếu có tài khoản) gửi ngân hàng phục vụ mình
(3) Ngân hàng chuyển tiền gửi giấy báo Nợ cho người chuyển tiền
(4) Ngân hàng chuyển tiền phát lệnh thanh toán cho ngân hàng trả tiền ở nước người hưởng lợi
(5) Ngân hàng trả tiền báo Nợ vào TK của ngân hàng chuyển tiền
(6) Ngân hàng trả tiền ghi Có vào tài khoản và gửi giấy báo Có cho người hưởng lợi
Trường hợp áp dụng
Chuyển tiền có thể là phương thức thanh toán quốc tế độc lập, khi đó nó áp dụng cho: Thanh toán ngoại thương; chuyển tiền thanh toán cung ứng dịch vụ cho nước ngoài; chuyển kiều hối, tiền cho du học sinh; chuyển tiền đầu tư ra nước ngoài;
chuyển kinh phí hoạt động của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ; chuyển tiền viện trợ tài chính; chuyển tiền lãi vay ngân hàng, cổ tức, trái tức ra nước ngoài; chuyển tiền bị phạt, tiền bồi thường thiệt hại ra nước ngoài
NH trả tiền
NH chuyển tiền
Footer Page 11 of 161.
Trang 12Ngoài ra, phương thức chuyển tiền còn có thể là một bộ phận của phương thức thanh toán khác, thường là kết thúc của phương thức thanh toán khác như phương thức nhờ thu, tín dụng chứng từ,…
Văn bản pháp lý điều chỉnh phương thức chuyển tiền
Hiện nay, việc chuyển tiền tất nhiên sẽ được điều chỉnh bằng luật quốc gia của nước người chuyển tiền và các thỏa thuận đại lý ký kết giữa ngân hàng các nước
1.2.3.2 Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection of payment)
Định nghĩa
Theo các nguyên tắc thống nhất về nhờ thu – URC 522 1995 ICC, định nghĩa
về nhờ thu được quy định tại điều 2 như sau: Nhờ thu có nghĩa là các ngân hàng tiếp nhận các chứng từ theo đúng các chỉ thỉ đã nhận được để:
(1) Thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán, hoặc;
(2) Giao chứng từ để được thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán, hoặc;
(3) Giao chứng từ theo các điều kiện khác đặt ra Trong mối quan hệ này, ngân hàng ở nước nhập khẩu và nước xuất khẩu chỉ tham gia với tư cách là trung gian thu tiền hộ
Các bên tham gia:
- Người trả tiền là người nhập khẩu, người mua, người mắc nợ, nhà đầu tư
- Người hưởng lợi là người xuất khẩu, người bán, chủ nợ, người nhận vốn đầu
Có hai loại nhờ thu:
- Nhờ thu trơn là nhờ thu các chứng từ tài chính mà không kèm theo chứng từ thương mại
- Nhờ thu kèm chứng từ là nhờ thu chứng từ thương mại kèm hoặc không kèm chứng từ tài chính
Trang 1313
Quy trình nghiệp vụ:
Sơ đồ 1.2 : Quy trình nghiệp vụ nhờ thu
(3) (5)
Người xuất khẩu gửi chứng từ thương mại kèm theo hối phiếu hoặc hóa đơn thu tiền tới ngân hàng (nếu là phương thức nhờ thu kèm chứng từ) để nhờ thu hộ
(3) Ngân hàng chuyển chứng từ gửi thư ủy thác nhờ thu cho và bộ chứng từ ngân hàng đại lý của mình ở nước người nhập khẩu nhờ thu tiền
(4) Ngân hàng đại lý yêu cầu người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu (nếu là phương thức nhờ thu trơn)
Ngân hàng đại lý yêu cầu người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán thì mới giao bộ chứng từ cho người nhập khẩu để nhận hàng (nếu là phương thức nhờ thu kèm chứng từ)
(5) Người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán cho người xuất khẩu thông qua hệ thống ngân hàng
Trường hợp áp dụng
Phạm vi áp dụng phương thức nhờ thu trơn chủ yếu là giữa các khách hàng có mức độ tin tưởng, tín nhiệm cao, có thiện chí cả trong giao dịch thương mại và thực hiện nghĩa vụ thanh toán Phương thức này không được áp dụng nhiều trong thanh toán thương mại So với nhờ thu phiếu trơn, nhờ thu kèm chứng từ đảm bảo quyền lợi cho bên bán hơn vì đã có sự ràng buộc chặt chẽ giữa việc thanh toán tiền hàng và nhận
Ngân hàng chuyển chứng từ
NH thu và xuất trình chứng từ
Footer Page 13 of 161.
Trang 14hàng của người mua Nội dung của lệnh nhờ thu kèm chứng từ thường có thể là thanh toán đổi lấy chừng từ (Documents against Payment - D/P), hoặc chấp nhận thanh toán đổi chứng từ (Documents against Acceptance - D/A), hoặc thực hiện các điều kiện và điều khoản quy định đổi lấy chứng từ (Documents against other terms and conditions – D/TC)
Văn bản pháp lý quốc tế áp dụng
“Quy tắc thống nhất về nhờ thu” số 522 của Phòng Thương mại Quốc tế bản sửa đổi năm 1995
1.2.3.3 Phương thức tín dụng chứng từ ( Documentary credit)
Đây là phương thức thanh toán quan trọng và chủ yếu tại ngân hàng thương mại hiện nay Tín dụng chứng từ được gọi với nhiều tên khác nhau như: Letter of Credit, Credit, Document Credit Ở Việt Nam ngoài tên là tín dụng chứng từ còn có các tên khác như L/C, thư tín dụng Trước đây, thư tín dụng còn được gọi là tín dụng thương mại nhưng nay thì từ này không còn được dùng nữa mà thông dụng nhất là “ tín dụng chứng từ” vì nó thể hiện đúng nhất ý nghĩa tín dụng kèm chứng từ
1.3 Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ của Ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó theo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một thư tín dụng (L/C), trong đó ngân hàng phát hành cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba khi người này xuất trình cho ngân hàng phát hành bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều
kiện và điều khoản quy định trong L/C (GS Đinh Xuân Trình, Giáo trình Thanh toán quốc tế, Nhà xuất bản Thông tin – Truyền thông)
Theo bộ tập quán quốc tế UCP 600, định nghĩa về tín dụng chứng từ được quy định tại điều 2 như sau: “ Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận bất kỳ, cho dù được
mô tả hoặc gọi tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của NHPH về việc thanh toán cho một xuất trình phù hợp”
Thanh toán nghĩa là:
- Trả ngay khi xuất trình nếu tín dụng có giá trị thanh toán ngay
- Cam kết trả tiền sau và trả tiền khi đáo hạn nếu tín dụng có giá trị thanh toán
về sau
- Chấp nhận hối phiếu đòi nợ do người thụ hưởng ký phát và trả tiền khi đáo hạn nếu tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận
Trang 1515
Ngân hàng phát hành là ngân hàng theo yêu cầu của người yêu cầu hoặc nhân danh chính mình phát hành một tín dụng
Cũng với cách định nghĩa này thì ta nên hiểu từ “tín dụng –credit” không phải
là một khoản vay thông thường mà là “tín nhiệm” Điều này được thể hiện rõ trong
trường hợp khi người nhập khẩu ký quỹ 100% giá trị của L/C, thì thực chất ngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào, mà chỉ cho người nhập khẩu “vay” sự tín nhiệm của mình Ngay cả trong trường hợp nhà nhập khẩu không ký quỹ, thì một khoản tín dụng thực sự chỉ có thể xảy ra khi ngân hàng phát hành L/C tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu và ghi nợ nhà nhập khẩu Như vậy, thuật ngữ “tín dụng” trong phương thức tín dụng chứng từ chỉ thể hiện khoản “tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền của ngân hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà nhập khẩu, vì ngân hàng có tín nhiệm hơn nhà nhập khẩu
Như vậy, trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng không chỉ là người trung gian thu hộ, chi hộ, mà còn là người đại diện cho nhà nhập khẩu thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu, bảo đảm cho nhà xuất khẩu nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hoá mà họ đã cung ứng Đồng thời, ngân hàng còn là người đảm bảo cho nhà nhập khẩu nhận được hàng hoá phù hợp với bộ chứng từ và số tiền mình bỏ ra
Rõ ràng là, nhà nhập khẩu có cơ sở để tin chắc rằng, ngân hàng sẽ không trả tiền trước khi nhà xuất khẩu giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà xuất khẩu phải xuất trình bộ chừng từ gửi hàng Trong khi đó, nhà xuất khẩu tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng xuất khẩu nếu trao cho ngân hàng phát hành L/C bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp theo như qui định trong L/C
1.3.2 Các bên tham gia
Các bên tham gia vào quá trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ gồm:
Người yêu cầu mở L/C (Applicant): là người mua, người nhập khẩu hoặc là người mua ủy thác cho một người khác
Người hưởng lợi (Beneficiary): là người bán, người xuất khẩu
Ngân hàng phát hành (Issuing Bank) – Ngân hàng mở L/C (Opening Bank): là ngân hàng phát hành L/C, là ngân hàng phục vụ người mua
Ngân hàng thông báo (Advising Bank): là ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước người xuất khẩu
Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): là ngân hàng xác nhận trách nhiệm của mình sẽ cùng ngân hàng phát hành đảm bảo việc trả tiền cho người xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng phát hành không đủ khả năng thanh toán
Footer Page 15 of 161.
Trang 16Ngoài ra, trong thực tế vận dụng phương thức tín dụng chứng từ, tuỳ theo từng điều kiện cụ thể còn có sự tham gia của một số ngân hàng khác như: ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank), ngân hàng thanh toán (Paying Bank), ngân hàng thương lượng (Negotiating bank) Tất cả được giao trách nhiệm cụ thể trong thư tín dụng
1.3.3 Quy trình nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ
Sơ đồ 1.3: Quy trình nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ
(6) (7)
(9) (8) (2) (7) (6) (4)
(1) (5)
(1) Người xuất khẩu và người nhập khẩu ký hợp đồng thương mại với nhau Nếu hai bên thỏa thuận thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ thì trong hợp đồng thương mại phải có điều khoản thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
(2) Người nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại lập yêu cầu xin mở L/C tại ngân hàng phục vụ mình
(3) Ngân hàng phát hành sẽ kiểm tra xem yêu cầu mở thư tín dụng đó có phù hợp hay không Nếu đáp ứng đủ yêu cầu, ngân hàng sẽ mở L/C và thông báo qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu về việc mở L/C và chuyển 1 bản gốc cho người xuất khẩu
(4) Khi nhận được thông báo về việc mở L/C và 1 bản gốc L/C, Ngân hàng thông báo chuyển L/C cho người thụ hưởng
(5) Người xuất khẩu khi nhận được một bản gốc L/C, nếu chấp nhận nội dung L/C thì sẽ tiến hành giao hàng theo đúng quy định đã ký kết trong hợp đồng Nếu không họ sẽ yêu cầu ngân hàng chỉnh sửa theo đúng yêu cầu của mình rồi mới tiến hành giao hàng
Ngân hàng phát hành ISSUING BANK
Người mở L/C APPLICANT
Người hưởng lợi BENEFICIARY
Ngân hàng thông báo ADVISING BANK
Trang 1717
(6) Sau khi chuyển giao hàng hoá, người xuất khẩu tiến hành lập bộ chứng từ thanh toán theo quy định của L/C và gửi đến ngân hàng phát hành thông qua ngân hàng thông báo để yêu cầu được thanh toán Ngoài ra, người xuất khẩu cũng có thể xuất trình bộ chứng từ thanh toán cho ngân hàng được chỉ định thanh toán
đã xác định trong L/C
(7) Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu thấy phù hợp với quy định trong L/C thì tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán Nếu Ngân hàng thấy không phù hợp thì sẽ từ chối thanh toán và trả bộ chứng từ cho người xuất khẩu
(8) Ngân hàng phát hành giao lại bộ chứng từ thanh toán cho người xuất khẩu và yêu cầu thanh toán
(9) Người phát hành kiểm tra lại bộ chứng từ và tiến hành hoàn trả tiền cho ngân hàng
Trên đây là toàn bộ trình tự nghiệp vụ thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
1.3.4 Thư tín dụng
1.3.4.1 Tính chất của thư tín dụng
Thư tín dụng là một chứng thư (điện hoặc chứng chỉ), trong đó ngân hàng phát hành L/C sẽ cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình được các chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản quy định trong L/C
Thư tín dụng là văn bản pháp lý quan trọng của phương thức tín dụng chứng từ
Nó được hình thành trên cơ sở hợp đồng thương mại nhưng khi L/C đã được mở rồi thì
nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng thương mại Vậy khi thanh toán thì các chủ thể chỉ dựa trên những điều khoản được quy định trong L/C để thực hiện Chỉ cần có sự xuất trình chứng từ phù hợp thì ngân hàng có trách nhiệm thanh toán phải chi trả tiền cho người xuất khẩu mà không cần quan tâm hàng hoá có hoàn toàn đúng như chứng từ đã ghi hay không Đó là cam kết trả tiền, mà cam kết này là:
Thứ nhất: Là một cam kết thực sự, nghĩa là L/C không phải chỉ là một lời hứa, bởi lẽ nếu ngân hàng mở L/C không hoàn thành đúng như những gì đã cam kết thì ngân hàng đó sẽ phải đứng ra chịu trách nhiệm trước pháp luật
Thứ hai: Là một cam kết có điều kiện, điều kiện hai chiều từ phía người nhập khẩu và từ người xuất khẩu Người nhập khẩu phải có đơn yêu cầu mở L/C, phải có năng lực tài chính và uy tín thì mới được ngân hàng đồng ý mở L/C Còn với người xuất khẩu, ngân hàng chỉ tiến hành cam kết thanh toán khi người xuất khẩu xuất trình được một bộ chứng từ hoàn hảo
Footer Page 17 of 161.
Trang 18Thứ ba: Là sự cam kết dự phòng, tức là ngân hàng chỉ cam kết xem xét các hối phiếu xuất trình đúng thời hạn và kèm với các bộ chứng từ phù hợp với điệu kiện của L/C, còn việc trả tiền hay không lại phụ thuộc và việc xem xét bộ chứng từ thanh toán
có thực sự phù hợp với L/C hay không Đây là giới hạn trách nhiệm của ngân hàng
Chính vì những đặc điểm này mà thư tín dụng là phương thức thanh toán chủ yếu trong thương mại quốc tế Tuy nhiên, dù là một phương thức ưu việt đến đâu thì cũng có những rủi ro nhất định Vì vậy, khi tham gia thanh toán, không những ngân hàng mà tất cả các bên tham gia đều phải nghiên cứu kỹ nội dung của thư tín dụng
1.3.4.2 Nội dung của thư tín dụng :
- Số hiệu L/C: Là nội dung bắt buộc, là số được ghi trên mỗi L/C để trao đổi thư
từ, điện tín liên quan đến việc thực hiện thư tín dụng Trong quá trình thực hiện,
số hiệu này còn được thể hiện trên các chứng từ thanh toán có liên quan
- Địa điểm mở L/C: Là nơi ngân hàng mở L/C viết cam kết trả tiền cho người hưởng lợi, địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc tham chiếu luật lệ để giải quyết tranh chấp, bất đồng xảy ra
- Ngày mở L/C: Là nội dung tự chọn trong L/C, nó là ngày bắt đầu phát sinh hiệu lực về cam kết của ngân hàng mở L/C đối với người thụ hưởng, là ngày bắt đầu tính thời hạn của L/C và cũng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu có thực hiện được việc mở thư tín dụng đúng thời gian như trong hợp đồng không
- Tên, địa chỉ người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ: Là một nội dung bắt buộc, những người có liên quan đó là: người yêu cầu mở L/C, người thụ hưởng, ngân hàng phát hành, ngân hàng thông báo,… Tên và địa chỉ của những người có liên quan phải chính xác như trong đơn xin mở L/C
- Số tiền của L/C: Số tiền của L/C phải ghi bằng số vừa ghi bằng chữ và phải thống nhất với nhau, đơn vị tiền tệ phải được ghi rõ ràng
- Thời hạn hiệu lực của L/C : Là nội dung bắt buộc, là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với những điều kiện quy định trong L/C
Thời hạn hiệu lực của L/C được tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực L/C Việc xác định thời gian hiệu lực cần thoả mãn các nguyên tắc như: Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C và không được trùng với ngày hết hạn hiệu lực của L/C, ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý, không trùng với ngày giao hàng, nhằm đảm bảo thời gian thông báo L/C, lưu L/C tại ngân hàng, chuẩn bị hàng để giao… Ngày hết hạn
Trang 19- Thời hạn giao hàng: Căn cứ vào hợp đồng ngoại thương mà ngày giao hàng được quy định trong L/C Thời hạn này phải sau ngày mở L/C và trước ngày hết hạn hiệu lực của L/C
- Nội dung liên quan đến hàng hóa: Bao gồm tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá
cả, quy cách phẩm chất, bao bì, mã ký hiệu…
- Nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá: bao gồm điều kiện cơ sở giao hàng, nơi gửi, nơi giao hàng, cách vận chuyển, cách giao hàng…
- Những chứng từ người xuất khẩu phải xuất trình: Đây cũng là nội dung rất quan trọng của L/C Bộ chứng từ là căn cứ để ngân hàng kiểm tra mức độ hoàn thành của nghĩa vụ giao hàng của người xuất khẩu và đã thực hiện đúng quy định trong thư tín dụng, để tiến hành việc trả tiền cho người xuất khẩu
- Cam kết trả tiền của ngân hàng phát hành thư tín dụng: Là nội dung cuối cùng của thư tín dụng và nó ràng buộc trách nhiệm trả tiền của ngân hàng phát hành thư tín dụng, cam kết thực sự trả tiền bằng trách nhiệm và uy tín của mình đối với khách hàng
- Điều khoản đặc biệt khác: Ngoài những nội dung kể trên, khi cần thiết, ngân hàng mở L/C nhập khẩu có thể có những nội dung khác, ví dụ như có thể hoàn trả tiền bằng điện T/T… hay nguồn luật điều chỉnh, các bên tham gia thương mại quốc tế có thể lựa chọn nguồn luật áp dụng phù Tuy nhiên, hiện nay L/C thường được dẫn chiếu theo UCP 600
1.3.4.3 Phân loại thư tín dụng
Có rất nhiều cách phân loại thư tín dụng Tùy theo từng tiêu thức khác nhau người ta có thể phân loại khác nhau
L/C không thể huỷ ngang
Đây là loại L/C mà sau khi mở thì mọi việc liên quan đến sửa đổi, bổ xung hoặc huỷ bỏ nó ngân hàng phát hành chỉ có thể tiến hành trên cơ sở có sự thoả thuận của các bên có liên quan Vì thế quyền lợi của người bán được đảm bảo Tuy nhiên, L/C không thể không thể huỷ ngang không có nghĩa không thể huỷ bỏ Trong trường hợp các bên
Footer Page 19 of 161.
Trang 20đồng ý huỷ bỏ L/C thì nó được công nhận là không còn giá trị thực hiện Đây là loại L/C được sử dụng nhiều nhất trong thương mại quốc tế ngày nay
Theo phương thức sử dụng người ta phân chia L/C thành nhiều loại khác nhau
L/C không huỷ ngang có giá trị trực tiếp
Đây là loại L/C mà chứng từ được yêu cầu xuất trình trực tiếp để thanh toán tại Ngân hàng phát hành Do vậy, thời hạn hiệu lực sẽ kết thúc tại Ngân hàng phát hành
Trong thư tín dụng này sẽ không thể hiện điều khoản chiết khấu và chỉ định ngân hàng chiết khấu Mặc dù thư tín dụng không có giá trị chiết khấu và cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành chỉ có giá trị duy nhất đối với người hưởng, ngân hàng chuyển chứng từ cũng có thể ứng tiền cho khách hàng nếu chứng từ hoàn toàn hợp lệ.Sau khi nhận được chứng từ hợp lệ, ngân hàng phát hành chuyển trả tiền cho người hưởng theo chỉ dẫn của ngân hàng chuyển chứng từ.Vai trò của ngân hàng chuyển chứng từ là bảo vệ quyền lợi của người hưởng và cũng chính là bảo vệ quyền lợi của chính mình nếu họ đã chiết khấu chứng từ
L/C không huỷ ngang, miễn truy đòi
- Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang mà sau khi thụ hưởng sẽ được hoàn tiền thì ngân hàng mở không có quyền đòi lại tiền trong bất kỳ tình huống nào
- Khi sử dụng loại thư tín dụng này, người xuất khẩu phải ghi trên hối phiếu
“Miễn truy hồi người ký phát” đồng thời thư tín dụng cũng phải ghi như vậy
L/C không huỷ ngang và có xác nhận
Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang được một ngân hàng khác đảm bảo trả tiền cho người thụ hưởng theo yêu cầu của ngân hàng mở thư tín dụng đó
Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nên loại thư tín dụng này được coi là rất đảm bảo quyền lợi cho bên bán, và đương nhiên phải thanh toán một khoản phí nhất định đối với ngân hàng xác nhận Trên thực tế, nhu cầu thư tín dụng này phụ thuộc nhiều yếu tố song chủ yếu phụ thuộc vào mức độ tín nhiệm
và tình hình tài chính của ngân hàng mở thư tín dụng
Trang 2121
L/C với điều khoản “Đỏ”
Đây là loại L/C mà theo đó người mở L/C cam kết tài trợ cho nhà xuất khẩu ngay sau khi thư tín dụng được mở Hai bên đối tác phải có quan hệ làm ăn lâu dài và
uy tín Phía nhập khẩu phải là công ty đủ vốn, phía xuất khẩu phải có nguồn hàng hoá, sản xuất nhưng thiếu vốn
Với điều kiện Đỏ, ngân hàng phát hành cam kết ứng một số tiền nhất định (khoảng 30 hoặc 50% trị giá L/C) khi nhận được các chứng từ, thông thường là: hối phiếu của số tiền ứng trước, hoá đơn, cam kết trả nợ hoặc cam kết giao hàng và các chứng từ khác tuỳ theo thoả thuận
L/C dự phòng
Là loại thư tín dụng được phát hành với mục tiêu nhằm trực tiếp bảo vệ quyền lợi cho bên mua Bên mua yêu cầu bên bán thông qua ngân hàng phục vụ mình mở thư tín dụng dự phòng cho bên mua hưởng Trong trường hợp bên bán vi phạm hợp đồng thương mại đã ký kết gây thiệt hại cho họ thì ngân hàng mở thư tín dụng dự phòng sẽ thanh toán đền bù những thiệt hại đó
L/C chuyển nhượng
Là loại L/C không thể hủy ngang mà ngân hàng trả tiền được phép hoàn trả toàn
bộ một phần số tiền của thư tín dụng cho một người hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên
Một thư tín dụng muốn chuyển nhượng được phải có lệnh đặc biệt của ngân hàng mở, trên thư tín dụng phải ghi ”có thể chuyển nhượng được” Lưu ý rằng việc chuyển nhượng chỉ được thực hiện một lần cho thư tín dụng đó
L/C giáp lưng
Là loại thư tín dụng được mở trên số tiền của một thư tín dụng khác đã được
mở trước Loai thư tín dụng này thường được sử dụng nhiều lần trong phương thức giao dịch mua bán qua trung gian, chuyển khẩu Việc vận hành nói chung khá phức tạp,đặc biệt là những điều kiện về thời hạn, về bộ chứng từ…
L/C đối ứng
Là loại L/C không thể hủy ngang chỉ bắt đầu có giá trị hiệu lực khi L/C đối ứng với nó đã được mở ra và thường được sử dụng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng, ngoài ra không loại trừ khả năng dùng trong phương thức gia công
Footer Page 21 of 161.
Trang 221.3.5 Văn bản pháp lý điều chỉnh quan hệ thanh toán tín dụng chứng từ
1.3.5.1 Quy tắc thống nhất và thực hành về tín dụng chứng từ- UCP
Văn bản quốc tế thông dụng của phương thức tín dụng chứng từ là“Qui tắc
thống nhất và thực hành về tín dụng chứng từ” (Uniform Customs and Practice for Documentary credit _ UCP) của Phòng thương mại quốc tế ấn hành từ 1933 qua các
năm sửa đổi 1951, 1962, 1974, 1983, 1993 và lần gần đây nhất là năm 2007 với tên gọi là UCP 600 Văn bản này được đánh giá là bản sửa đổi toàn diện, sâu sắc và nhằm đáp ứng sự thay đổi về chiều sâu trong công nghệ tin học, công nghệ vận tải… Tuy nhiên, những văn bản ra đời sau không hủy bỏ các văn bản ra đời trước, việc áp dụng UCP nào là do ý nguyện của các bên và phải dẫn chiếu vào nội dung của thư tín dụng
số hiệu của bản UCP đó
Bản UCP 600 có kết cấu lại với 39 điều khoản (so với 49 điều khoản của UCP 500) thể hiện những bổ sung và sửa đổi nhằm đáp ứng sự phát triển không ngừng của thực tiễn Nó bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới để làm rõ nghĩa của các thuật ngữ còn gây tranh cãi trong bản UCP 500
Hơn nữa UCP 600 đã quy định rõ thời gian cho việc chấp nhận hoặc từ chối các
chứng từ xuất trình là khoảng thời gian cố định là “5 ngày làm việc ngân hàng - five banking days” Còn ở UCP 500 khoảng thời gian này không được qui định rõ ràng, nó chỉ quy định là “ thời gian hợp lý”
UCP 600 cũng đưa ra những qui định mới về địa chỉ người yêu cầu mở L/C và người hưởng lợi thư tín dụng phải được thể hiện trên chứng từ xuất trình đúng như
trong L/C Tiếp nữa, theo UCP 600 ngân hàng phát hành được phép từ chối chứng từ
và giao bộ chừng từ cho người yêu cầu mở thư tín dụng khi nhận được chấp nhận bộ chứng từ bất hợp lệ của họ Với những ưu điểm như thế thì hiện nay bản UCP 600 đã được rất nhiều quốc gia áp dụng trong giao dịch thanh toán thương mại quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ Và chỉ có bản gốc tiếng Anh do ICC phát hành mới có giá trị pháp lý, giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên liên quan, các bản dịch sang tiếng các nước chỉ có giá trị tham khảo UCP chỉ áp dụng cho quan hệ thanh toán quốc tế mà không áp dụng trong thanh toán nội địa
1.3.5.2 Tập quán Ngân hàng Tiêu chuẩn quốc tế - ISBP
Vào ngày 31/10/2002, tại hội nghị Rome, Uỷ ban ngân hàng đã bỏ phiếu thông
qua việc phê chuẩn văn bản Tập quán ngân hàng quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ- Internationnal Standard Banking Practice for examination of documents under documentary credits Văn bản này không
mâu thuẫn với các UCP cũng như các ý kiến và quyết định của uỷ ban mà nó bổ sung mang tính thực tiễn cho UCP, nó không sửa đổi mà chỉ giải thích chi tiết và rõ ràng
Trang 23Hiện nay các Ngân hàng thương mại Việt Nam cũng sử dụng UCP và ISBP kiểm tra bộ chứng từ xuất trình trong thanh toán tín dụng chứng từ, từ đó kiểm tra một cách chặt chẽ hơn và phù hợp hơn làm giảm đi đáng kể một số lượng chứng từ bị từ chối thanh toán
1.4 Chất lượng hoạt động của phương thức thanh toán quốc tế tín dụng chứng từ
được gắn liền với điều kiện tiêu dùng cụ thể của từng người, từng địa phương Do con
người và nền văn hóa khác nhau nên cách hiểu về chất lượng là khác nhau
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa chất lượng là một khái niệm khá trừu tượng đến mức người ta không thể đi đến một khái niệm thống nhất, mặc dù sẽ còn nhiều thay đổi
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa
ra định nghĩa sau:
“ Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống
để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”
Bất kỳ một sản phẩm hàng hóa nào đều được khách hàng đánh giá trên một số tiêu chí nhất định, nhưng quan trọng nhất, vẫn là tiêu chí chất lượng Thanh toán quốc
tế nói chung và thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ nói riêng là một dịch
vụ do ngân hàng cung cấp tới những khách hàng là các cá nhân, tổ chức Dịch vụ do ngân hàng cung cấp là khá cạnh tranh tại thời điểm hiện nay, do đó, các ngân hàng không nên chỉ thu hút khách hàng bằng cách tạo ra càng nhiều sản phẩm dịch vụ, mà
Footer Page 23 of 161.
Trang 24điều quan trọng là tạo ra điểm nhấn của riêng mình thông qua chất lượng sản phẩm cung cấp Cùng một sản phẩm giống nhau, nhưng mỗi ngân hàng sẽ tạo ra bản sắc riêng khác nhau, tạo ra chất lượng khác nhau
Như vậy, có thể hiểu rằng, chất lượng hoạt động của phương thức thanh toán quốc tế tín dụng chứng từ là khả năng tập hợp tất cả các đặc tính đáp ứng được yêu cầu của các bên tham gia trong phương thức thanh toán này Các đặc tính đó là độ an toàn cao, thời gian thanh toán chính xác, phí thanh toán hợp lý, thủ tục đơn giản, nhanh chóng, sự giúp đỡ tận tình chu đáo của các cán bộ nhân viên ngân hàng…
1.4.2 Một số tiêu chuẩn đánh giá chất lượng hoạt động thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ
- Sự gia tăng về số lượng
Số lượng khách hàng đến yêu cầu cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế bằng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ phản ánh phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng đối với khách hàng Số lượng khách hàng tiến hành giao dịch với ngân hàng càng nhiều, chứng tỏ ngân hàng có phạm vi ảnh hưởng càng cao đến khách hàng
Việc gia tăng số lượng khách hàng luôn gắn liền với việc gia tăng số lượng hồ
sơ xin mở L/C cũng như số món thanh toán, tức là gia tăng mức độ quan hệ thương mại Sự gia tăng này phải tăng lên ở cả hai mảng xuất khẩu và nhập khẩu
Không chỉ mang lại khoản thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu phí dịch
vụ, một khía cạnh khác cần đề cập đến đó là liên quan đến mối quan hệ thương mại
Một ngân hàng có số lượng L/C xin mở và số món thanh toán càng nhiều, chứng tỏ ngân hàng này có mối quan hệ rộng rãi đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, có
uy tín đối với các đối tác cả trong nước và quốc tế
Số lượng hồ sơ mở L/C và số món thanh toán tăng lên là cơ sở gia tăng doanh
số thanh toán từ hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
Thực tế cho thấy, khách hàng luôn tìm đến ngân hàng nào có kết quả kinh doanh cao,
Trang 2525
hoạt động hiệu quả và có uy tín Do đó, một ngân hàng có số lượng lớn khách hàng tham gia thanh toán L/C càng lớn chứng tỏ chất lượng của quá trình thanh toán càng cao
- Điều kiện thanh toán Điều kiện thanh toán cũng là một tiêu chí để đánh giá mức độ thỏa mãn của khách hàng Đó là một tập hợp của nhiều yếu tố như: mức phí hợp lý, thời gian thanh toán ngắn, thủ tục đơn giản gọn nhẹ, chính sách tỷ giá phù hợp, lãi suất cạnh tranh…
+ Thời gian thanh toán là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ Xuất phát từ tính chất thanh toán quốc tế, thanh toán tiền hàng ở các nước khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa cách xa về mặt địa lý nên việc thanh toán thường chậm trễ, thời gian thanh toán bị kéo dài Ngoài
ra còn xuất phát từ bản thân ngân hàng, đó là các thủ tục pháp lý Nếu thủ tục rườm rà, phức tạp, nhiều điều kiện sẽ dẫn đến tình trạng đọng vốn, kinh doanh kém hiệu quả đối với các nhà xuất khẩu Do đó, thời gian thanh toán ngắn là căn cứ để các doanh nghiệp xuất nhập khẩu lựa chọn ngân hàng phục vụ trong quá trình thanh toán
+ Mức phí hợp lý được đề cập ở đây gồm có phí dịch vụ thanh toán và các khoản phí khác có liên quan Mức phí hợp lý luôn là mối quan tâm lớn của khách hàng Một mức phí hợp lý có thể chấp nhận được là căn cứ để khách hàng lựa chọn ngân hàng cho mình
+ Một số khách hàng khi ký kết hợp đồng không đủ nguồn tài chính, phải đi vay ngân hàng, có thể là nội tệ hay đồng ngoại tệ Thông thường ngân hàng chỉ đồng ý cho vay khi có tài sản đảm bảo, nhưng cũng có trường hợp cho vay không cần tài sản đảm bảo đối với khách hàng truyền thống Một mức lãi suất vay phù hợp, luôn khiến cho khách hàng tin tưởng và ủng hộ ngân hàng nhiều hơn Hơn nữa, cũng do chính sách tỷ giá mà sẽ khuyến khích nhập khẩu hay xuất khẩu
- Thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng, dịch vụ trợ giúp, tư vấn khách hàng Rất nhiều khách hàng băn khoăn không biết lựa chọn ngân hàng đại lý, phương thức thanh toán cũng như là trình tự thực hiện giao dịch khi tiến hành một thương vụ kinh doanh của mình Phát triển, hoàn thiện dịch vụ tư vấn khách hàng thông qua các khóa đào tạo bài bản các nhân viên cán bộ ngân hàng, song song phải tiến hành nâng cao ý thức trách nhiệm, thái độ phục vụ của nhân viên, đó là điều cần phải thực hiện nhằm nâng cao chất lượng thanh toán bằng phương thức tín dụng chúng từ của bất cứ một ngân hàng nào
Các nhà nhập khẩu có thể gặp khó khăn về vốn, lựa chọn L/C phù hợp cũng như là hoàn thiện các loại giấy tờ kèm theo Để hỗ trợ cho khách hàng, ngân hàng đưa
Footer Page 25 of 161.
Trang 26ra các hình thức như: cho vay ký quỹ L/C, chiết khấu bộ chứng từ gửi hàng, bảo lãnh nhận hàng hay bảo lãnh trả chậm hay cung cấp các dịch vụ tư vấn cho khách hàng
Do đó, các dịch vụ hỗ trợ khách hàng một phần thu hút khách hàng, đáp ứng nhu cầu của họ, đồng thời giảm thiểu mức độ rủi ro, rút ngắn thời gian thanh toán từ đó góp phần nâng cao chất lượng thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ
Tất cả những yếu tố trên, về điều kiện thanh toán cũng như thái độ phục vụ, dịch vụ tư vấn, hỗ trợ khách hàng là những yếu tố quan trọng quyết định sự gia tăng số lượng khách hàng, số lượng L/C và trị giá của mỗi L/C Hiểu được điều này, sẽ giúp cho mỗi ngân hàng có cái nhìn, đánh giá, và xây dựng chiến lược nhằm nâng cao chất lượng thanh toán hơn nữa
Như vậy, sự thỏa mãn hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thanh toán quốc
tế bằng phương thức tín dụng chứng từ của ngân hàng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng của phương thức
1.4.2.2 Tính an toàn và chính xác
Trong hoạt động ngân hàng, lợi nhuận và rủi ro luôn đi đôi với nhau và có mối quan hệ thuận chiều Lợi nhuận càng cao thì rủi ro ngân hàng gặp phải càng lớn và ngược lại Trong hoạt động thanh toán thanh toán quốc tế, ngân hàng cũng không thể tránh khỏi rủi ro dù phương thức thanh toán được sử dụng là phương thức nào Tuy nhiên, phương thức thanh toán quốc tế tín dụng chứng từ có ưu điểm là tính an toàn và chính xác khá cao
Tuy nhiên rủi ro cũng có thể xảy đến với các nhà kinh doanh Bởi vì, tín dụng thư có đặc điểm là nó mang tính độc lập đối với hàng hoá xuất nhập khẩu, ngân hàng chỉ đảm bảo sự phù hợp về số lượng, chất lượng, thời gian của bộ chứng từ so với nội dung thư tín dụng Còn trên thực tế, hàng hoá nhận được có thể không đúng về chất lượng, chủng loại, mặt hàng như trong hợp đồng thương mại mà trước đó hai bên đã thoả thuận Chính vì những rủi ro tiềm tàng có thể sẽ gây ra tổn thất to lớn cho cả nhà nhập khẩu cũng như cho bản thân ngân hàng Do đó, khi lựa chọn ngân hàng làm trung gian thanh toán, các nhà xuất nhập khẩu sẽ lựa chọn ngân hàng nào có uy tín cao, có hoạt động thanh toán an toàn Đó là một trong những tiêu chí quan trọng nhằm đánh giá chất lượng thanh toán bằng tín dụng chứng từ
Ngay khi nhận được bộ chứng từ từ nhà xuất khẩu, ngân hàng phát hành phải tiến hành kiểm tra thật kỹ bộ chứng từ về số lượng, nội dung bộ chứng từ theo quy định trong L/C Việc kiểm tra cẩn thận bộ chứng từ sẽ quyết định tới việc đưa ra các lỗi sai sót của bộ chứng từ và từ đó quyết định tới việc có thanh toán cho người xuất khẩu hay không Nếu ngân hàng kiểm tra không cẩn thận, không thấy sai sót của bộ chứng từ sẽ làm thiệt hại tới nhà nhập khẩu thậm chí trong trường hợp nhà nhập khẩu
Trang 2727
phát hiện ra sai sót khi kiểm tra bộ chứng từ mà trước đó ngân hàng phát hành đã thanh toán cho nhà xuất khẩu thì ngân hàng phát hành sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc thanh toán đó của mình Nhà nhập khẩu có quyền từ chối trách nhiệm thanh toán bộ chứng từ đó
Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu sẽ lập bộ chứng từ xuất trình tại ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ tiền hàng từ nhà nhập khẩu Lúc này, ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu phải tiến hành kiểm tra kỹ lưỡng bộ chứng từ, tư vấn cho nhà xuất khẩu sửa chữa sai sót để có được bộ chứng từ hoàn hảo khiến phía người nhập khẩu sẽ không thể từ chối thanh toán và từ đó thu được tiền hàng
Tính an toàn ở đây được hiểu không chỉ là sự hoàn hảo trong việc cung cấp phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, đó là sự giảm thiểu sai sót trong giao dịch
và rủi ro trong việc cung cấp dịch vụ, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, giảm thiểu tỷ lệ nợ quá hạn
Tính chính xác khi thực hiện các quy trình nghiệp vụ trong thanh toán L/C cũng
là một yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ, nó không cho phép thanh toán viên sai sót trong khi thực hiện nghiệp vụ Hơn nữa, thanh toán L/C còn đòi hỏi sự tập trung cao độ phát hiện và xử lý kịp thời những sai sót dẫn đến những rủi ro
1.4.2.3 Thu nhập mang lại từ hoạt động thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ
NHTM là một đơn vị kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với mục tiêu an toàn và sinh lợi Vì thế, hoạt động của ngân hàng cũng đều hướng mục tiêu cuối cùng là tạo thu nhập Trong hoạt động dịch vụ, thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ là một phương thức tạo ra doanh thu dựa trên số lượng bộ hồ sơ L/C phát sinh và số món thanh toán
Doanh thu và lợi nhuận là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng thanh toán như thế nào, tốt hay không tốt Thực tế cho thấy rằng, những ngân hàng nào hoạt động hiệu quả, có uy tín luôn là lựa chọn của các nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu lớn trong hoạt động ngoại thương Và tương ứng, những ngân hàng quy mô nhỏ, chưa gây dựng được
uy tín về lĩnh vực thanh toán quốc tế, thì thường ít hoặc chỉ được các nhà xuất, nhập khẩu nhỏ lựa chọn Do đó, doanh thu thanh toán nhập khẩu, xuất khẩu luôn tương đương với quy mô của ngân hàng Chất lượng của dịch vụ tốt thì sẽ được nhiều khách hàng tín nhiệm Số lượng L/C xin mở và số món thanh toán cũng gia tăng Từ đó doanh thu từ thu phí dịch vụ cũng như lợi nhuận của hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ sẽ gia tăng qua các năm Doanh thu năm sau cao
Footer Page 27 of 161.
Trang 28hơn doanh số năm trước cũng phần nào thể hiện được chất lượng thanh toán của ngân hàng
Mặt khác, sự tăng lên trong doanh số thanh toán có sự tác động đến việc mở rộng thị trường hoạt động thanh toán quốc tế, nảy sinh nhiều quan hệ với số lượng lớn khách hàng, với nhiều ngân hàng Đây là điều kiện giúp ngân hàng nâng cao, mở rộng hoạt động thanh toán, đặc biệt là qua phương thức tín dụng chứng từ
1.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động thanh toán bằng
phương thức tín dụng chứng từ
1.4.3.1 Nhân tố chủ quan
- Quy trình thanh toán L/C Quy trình thanh toán là toàn bộ trình tự thực hiện được quy định một cách chi tiết và cụ thể do ngân hàng lập ra Đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ Để đảm bảo cho hoạt động thanh toán có chất lượng, quy trình thanh toán cho L/C nhập hay L/C xuất phải chuẩn hoá, thống nhất và linh hoạt, các điều khoản quy định phải chặt chẽ, hợp lý,
giảm thiểu những rủi ro xảy ra Dựa trên“Quy tắc và cách thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ”, UCP 600 của phòng thương mại quốc tế ICC, mỗi hệ thống ngân
hàng đều lập quy trình thanh toán cụ thể cho hệ thống của mình, cho từng loại L/C, từng đối tượng khách hàng, từng chủng loại hàng hóa cho phù hợp và hiệu quả Các nhà xuất nhập khẩu có thể xem quy trình này để đánh giá và lựa chọn ngân hàng làm trung gian thanh toán của mình Chính vì vậy, với quy trình thực hiện vừa đơn giản, rõ ràng, vừa đảm bảo tính chi tiết, chặt chẽ, phù hợp sẽ nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán, đẩy nhanh tiến độ công việc, rút ngắn thời gian thanh toán và giảm những rủi ro xảy ra, trở thành địa chỉ tin cậy cho khách hàng lựa chọn
- Công nghệ và trang thiết bị sử dụng trong thanh toán Dựa vào công nghệ ngân hàng trang bị và sử dụng, khách hàng có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ thanh toán mà ngân hàng cung ứng Trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại sẽ giúp nâng cao tốc độ thanh toán, rút ngắn thời gian xử lý công việc, giảm các sai sót do các thao tác thủ công gây ra Hiện nay, hầu hết các ngân hàng sử dụng mạng SWIFT để thanh toán bởi sự an toàn, nhanh chóng, đơn giản và giá rẻ
Việc nâng cao và hoàn thiện mạng SWIFT cũng như đổi mới chất lượng hệ thống máy móc và trang thiết bị là cần thiết để chất lượng thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ được nâng cao
Trang 2929
- Trình độ nghiệp vụ cán bộ nhân viên Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán chặt chẽ và khá phức tạp, phải thực hiện theo những quy định chi tiết, tỉ mỉ Chính vì vậy, năng lực và trình độ của cán bộ nhân viên tham gia nghiệp vụ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả dịch vụ này Cán bộ nhân viên có kiến thức sâu rộng thì mới có thể thực hiện, xử lý, kiểm tra, kiểm soát giấy tờ, cũng như có thể tư vấn, hỗ trợ cho khách hàng trong quá trình mở L/C, chọn lựa những điều kiện cần ghi rõ trong nội dung L/C… Nếu năng lực của đội ngũ cán bộ nhân viên hạn chế sẽ làm giảm tiến độ phục vụ khách hàng, tiến độ thanh toán, gây ra những sai sót làm phát sinh rủi ro Do
đó, với trình độ nghiệp vụ cao, cũng như sự năng động, thái độ niềm nở, nhiệt tình sẽ gúp cho ngân hàng thu hút được khách hàng và nâng cao chất lượng thanh toán
- Các dịch vụ hỗ trợ khách hàng Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, nhà nhập khẩu có thể gặp phải những khó khăn về vốn, cũng như khó khăn trong việc lựa chọn loại L/C hay việc hoàn thành các loại giấy tờ Do đó, ngân hàng có thể hỗ trợ cho nhà nhập khẩu dưới các hình thức như: cho vay ký qũy, chiết khấu bộ chứng từ gửi hàng, bảo lãnh nhận hàng hay mở L/C trả chậm…cũng như cung cấp các dịch vụ tư vấn cho khách hàng giúp khách hàng hiểu rõ hơn, tin tưởng hơn về dịch vụ thanh toán của ngân hàng
1.4.2.2 Nhân tố khách quan
Tham gia trong quá trình thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ không chỉ có ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo mà còn có sự tham gia của các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu, ngân hàng được chỉ định… Chính vì vậy, chất lượng của hoạt động thanh toán không chỉ chịu ảnh hưởng từ phía ngân hàng mà còn chịu tác động từ các nhân tố khách quan khác
- Từ phía các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu Các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu là một trong những nhân tố tiên quyết tham gia vào quá trình thanh toán Chính vì vậy, ngoài yếu tố ngân hàng, yếu tố khách quan này cũng có ảnh hưởng khá quan trọng đến tốc độ thanh toán, rủi ro trong thanh
toán cũng như đến việc tạo thu nhập cho ngân hàng
Trình độ khách hàng là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ Quá trình thanh toán sẽ diễn ra nhanh hơn nếu các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu có những hiểu biết cần thiết về phương thức thanh toán, những chứng từ phải xuất trình, thực hiện đúng quy trình, làm đúng các nội dung về các loại giấy tờ, làm giảm khoảng thời gian phải giữ lại giấy tờ để sửa đổi, bổ sung
Đồng thời, rủi ro cũng tăng lên nếu các chứng từ, giấy tờ do khách hàng thiết lập thiếu
Footer Page 29 of 161.
Trang 30hoặc sai sót Chính vì vậy, sự hiểu biết của các bên tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ góp phần giúp cho việc thanh toán trở nên nhanh chóng, suôn sẻ và an toàn hơn
+ Năng lực kinh doanh của khách hàng Năng lực kinh doanh của khách hàng là yếu tố quan trọng hỗ trợ quá trình cung ứng dịch vụ của ngân hàng được trọn vẹn Năng lực kinh doanh thể hiện khả năng tài chính cũng như uy tín của khách hàng trên lĩnh vực kinh doanh Khách hàng làm ăn có hiệu quả, có tiềm lực tài chính mới đảm bảo khả năng hoàn trả nợ vay, ký quỹ mở L/C, thanh toán tiền hàng cho nhà nhập khẩu…
+ Đạo đức của nhà kinh doanh xuất nhập khẩu Đạo đức của các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu là một yếu tố nữa vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng thanh toán ngân hàng cung ứng Nhà nhập khẩu phải có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ, đúng thời gian cho phía nhà xuất khẩu, còn nhà xuất khẩu phải giao hàng đúng số lượng, chất lượng và thời gian đã thoả thuận trước trong hợp đồng trước đó Tuy nhiên, trong một số trường hợp, một trong hai bên không thực hiện đúng và đủ nghĩa vụ của mình như: không thanh toán tiền hàng hoặc không thanh toán đúng thời hạn, hàng hoá không đầy đủ về số lượng và không đảm bảo về chất lượng… Điều này sẽ gây ảnh hưởng đến ngân hàng, làm trì hoãn quá trình thanh toán Ngân hàng có thể gặp những rủi ro do phía nhà nhập khẩu bị phá sản, vỡ
nợ, mất khả năng thanh toán…, không thanh toán được tiền hàng và ngân hàng của người nhập khẩu không thu hồi được tiền Ngoài ra, khách hàng còn có thể giả mạo giấy tờ, đòi ngân hàng thanh toán Do đó, chất lượng thanh toán sẽ bị ảnh hưởng khi ngân hàng gặp phải những rủi ro về đạo đức từ phía khách hàng
- Từ phía ngân hàng đại lý Ngân hàng đại lý là ngân hàng góp phần quan trọng cho quá trình thanh toán có thể diễn ra nhanh chóng và hiệu quả Mối quan hệ của ngân hàng với các ngân hàng đại lý càng rộng khắp trên thế giới thì việc thanh toán sẽ trở nên đơn giản và nhanh chóng hơn do không phải qua nhiều ngân hàng khác nhau Tuy nhiên, ngân hàng đại lý không chỉ cần rộng khắp mà còn phải có uy tín và có thiện chí, dung hoà lợi ích của cả hai bên Có như vậy, hoạt động thanh toán mới diễn ra suôn sẻ và có chất lượng cao
- Từ môi trường khách quan Với đặc trưng của hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động buôn bán giữa các quốc gia khác nhau Do đó các yếu tố như pháp luật, môi trường kinh tế, xã hội của các nước xuất nhập khẩu có ảnh hưởng lớn đến chất lượng thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán bằng tín dụng chứng từ nói riêng
Trang 3131
+ Hệ thống pháp lý ổn định Những nước có hệ thống pháp lý chưa ổn định, đang sửa đổi hoàn chỉnh sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán khá phức tạp, đòi hỏi phải có văn bản pháp lý hoàn chỉnh, đầy
đủ Do đó, nếu nước xuất nhập khẩu có văn bản luật về mối quan hệ pháp lý giữa giao dịch hợp đồng ngoại thương của người mua, người bán với giao dịch tín dụng chứng
từ giữa các ngân hàng thì sẽ tạo hành lang pháp lý thống nhất để xác định nghĩa vụ, quyền lợi cho các bên giao dich
+ Nền kinh tế ổn định Nền kinh tế quốc gia có hoạt động xuất nhập khẩu cũng ảnh hưởng đến giá trị đồng tiền của quốc gia đó, ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá, đến nguồn ngoại tệ trong thanh toán… Điều này có tác động đến tính an toàn trong thanh toán
Như vậy, ngoài những yếu tố chính từ bản thân ngân hàng, những nhân tố từ môi trường khách quan cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ
Kết luận: Chương 1 đã đề cập và nghiên cứu các vấn đề cơ bản về phương thức thanh toán quốc tế tín dụng chứng từ, trong đó phần lớn tập trung vào việc phân tích chất lượng hoạt động của vào phương thức thanh toán này Từ đó, làm nền tảng lý luận
để đối chiếu với thực tiễn xảy ra trong thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng chi nhánh Thăng Long được đề cập trong chương 2
Footer Page 31 of 161.
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG CHI
NHÁNH THĂNG LONG
2.1 Tổng quan về VPBank Thăng Long
2.1.1 Tổng quan về VPBank Thăng Long
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng tiền thân là Ngân hàng Thương mại Cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBANK) được thành lập theo giấy phép hoạt động số 0042/NH-GP của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam cấp ngày 12 tháng 8 năm 1993 với thời gian hoạt động 99 năm Vốn điều lệ ban đầu
khi mới thành lập là 20 tỷ VND
Sau đó, do nhu cầu phát triển, theo thời gian VPBank đã nhiều lần tăng vốn điều lệ Đến tháng 8/2006, vốn điều lệ của VPBank đạt 500 tỷ đồng Tháng 9/2006, VPBank nhận được chấp thuận của NHNN cho phép bán 10% vốn cổ phần cho cổ đông chiến lược nước ngoài là ngân hàng OCBC (Singapore), theo đó vốn điều lệ
sẽ được nâng lên trên 750 tỷ đồng Tiếp theo, đến cuối năm 2006, vốn điều lệ của VPBank sẽ tăng lên trên 1.000 tỷ đồng Đến 31/12/2007 vốn điều lệ của VPBank đã tăng lên 2.500 tỷ đồng Ngày 26/01/2008, Hội đồng quản trị VPBank đã trình Đại hội
cổ đông thông qua phương án tăng vốn điều lệ, theo đó vốn điều lệ của VPBank sẽ tăng từ 2000 tỷ lên 3000 tỷ Ngày 30/12/2010, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) đã chính thức tăng vốn điều lệ từ 2.456 tỷ đồng lên 4.000 tỷ đồng
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, VPBank luôn chú ý đến việc mở rộng quy mô, tăng cường mạng lưới hoạt động Tính đến 30/12/2010 VPBank đã có tổng số 134 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc
Chi nhánh Thăng Long ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng được thành lập vào 21/10/2005 Đây là chi nhánh cấp 1, có con dấu riêng và có quyền tự chủ kinh doanh
Từ ngày thành lập đến nay, chi nhánh Thăng Long được biết đến là một chi nhánh lớn trên địa bàn Hà Nội cả về phạm vi, quy mô, chất lượng hoạt động
Chi nhánh Thăng Long nằm ở tòa nhà M3-M4 số 91 Nguyễn Chính Thanh, tại ngã ba giao cắt giữa đường Nguyễn Chí Thanh và đường Huỳnh Thúc Kháng, trung tâm quận Đống Đa, với diện tích rộng rãi, nằm trên địa bàn cùng nhiều chi nhánh ngân
Trang 3333
Giám đốc
Phó giám đốc
Phòng giao dịch kho quỹ
vụ khách hàng
cá nhân
Phòng phục
vụ khách hàng doanh nghiệp
Phòng
kế toán
Ban quản
lý tín dụng
Phòng hành chính tổng hợp
hàng khác như BIDV, Vietinbank, Agribank, Sacombank, Vietcombank, Techcombank…tạo nên một môi trường cạnh tranh sôi động
Tuy tuổi đời chưa phải dài so với lịch sử của các chi nhánh ngân hàng khác nhưng chi nhánh Thăng Long đã thiết lập được sự tin tưởng của khách hàng Trong những năm qua, chi nhánh đã không ngừng mở rộng và phát triển các hoạt động dịch
vụ kinh doanh tiền tệ, nâng cao chất lượng phục vụ, áp dụng các công nghệ hiện đại tiên tiến, đổi mới phong cách giao dịch, tạo uy tín với khách hàng
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động
(Nguồn: Phòng hành chính tổng hợp)
Footer Page 33 of 161.
Trang 342.1.1.3 Chức năng và nhiệm vụ các phòng ban
a Phòng Giao dịch- Kho quỹ:
Chào đón khách hàng, giới thiệu và bán sản phẩm, dịch vụ ngân hàng Giải đáp và hướng dẫn khách hàng sử dụng các tiện ích về sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng
Thu thập các thông tin về khách hàng, cập nhật thay đổi, bổ sung thông tin về khách hàng
Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản tiền gửi như gửi tiền, rút tiền, chuyển tiền, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, phát hành séc, thanh toán séc, bảo chi séc…, giữ hộ, thu chi hộ
Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản tiết kiệm như gửi tiền, rút tiền, chi trả lãi
Thực hiện việc giải ngân, thu vốn, thu lãi, hạch toán chuyển nợ quá han,…
trên tài khoản tiền vay Thực hiện thu, chi trên tài khoản ký quỹ , thanh toán thư tín dụng , chi trả lệnh chuyển tiền, mua séc du lịch, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán…
Thực hiện thu đổi ngoại tệ mặt cho khách hàng theo đúng các quy định về quản lý ngoại hối của NHNN và của VPBank
Cung cấp các thông tin về tài khoản, gửi giấy báo nợ, giấy báo có, sao kê tài khoản… cho khách hàng theo đúng chế độ và thẩm quyền quy định
Thực hiện nghiệp vụ kho quỹ (thu, chi, kiểm đếm và bảo quản tiền), chỉ đạo các phòng giao dịch trực thuộc thực hiện nghiệp vụ kho quỹ
Trang 35 Liên hệ với các hiệp hội, các tổ chức nghành nghề kinh doanh để xúc tiến công tác tiếp thị của VPBank
Thu thập thông tin về khách hàng, thường xuyên theo dõi hoạt động của khách hàng, theo dõi sự chuyển nghành nghề của khách hàng, kịp thời phát hiện những dấu hiệu tốt hoặc không bình thường của khách hàng
Tiếp nhận hồ sơ vay, bảo lãnh thanh toán, mua bán ngoại tệ, của khách hàng Thẩm định và có ý kiến đề xuất để cấp trên có cơ sở xem xét giải quyết, tập hợp
hồ sơ, tài liệu, lập tờ trình thẩm định khách hàng về món vay và bảo lãnh
Thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động, sản xuất kinh doanh của khách hàng sau khi VPBank đã cho vay, bảo lãnh
Phân tích, tổng hợp, đánh giá tình hình hoạt động cho vay, bảo lãnh toàn chi nhánh theo định kỳ; Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo thống kê tín dụng theo quy định của NHNN và của VPBank
Bộ phận thanh toán quốc tế và kiều hối:
Thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ chuyên môn về bảo lãnh, thanh toán quốc tế ( thư tín dụng, nhờ thu, bảo lãnh ngân hàng, chuyển tiền điện tử, thanh toán séc…);
Thực hiện và phát triển và mạng lưới nghiệp vụ kiều hối, chuyển tiền nhanh trên địa bàn
Định kỳ phân tích, tổng hợp tình hình thực hiện thanh toán quốc tế, kiều hối trong chi nhánh
Đề xuất và kiến nghị với Hội sở về việc cải tiến nghiệp vụ thanh toán quốc tế
và kiều hối phù hợp với điều kiện trên địa bàn
Footer Page 35 of 161.
Trang 36 Quản lý các vấn đề tranh chấp trong thanh toán quốc tế và kiều hối trên địa
bàn
d Ban quản lý tín dụng:
Thực hiện việc thẩm định và đánh giá các tài sản thế chấp cầm cố
Kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của tài sản thế chấp cầm cố
Thẩm định và chịu trách nhiệm về giá trị thẩm định tài sản thế chấp cấm cố đảm bảo cho khoản vay
Lập bảng định giá tài sản phản hồi cho nơi yêu cầu trong thời gian quy định
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chuẩn mực trong việc định giá tài sản thế chấp cầm cố phù hợp với tình hình thực tế và đảm bảo an toàn cho VPBank
Xây dựng bản đồ phân hạng về sử dụng đất nhằm công khai hóa, hợp lý hóa việc thẩm định bất động sản
Lập các hợp đồng thế chấp, cấm cố tài sản đảm bảo nợ vay và thực hiện việc công chứng Hợp đồng với các công ty kho bãi để quản lý tài sản cầm cố
Lập các văn bản thông báo việc thế chấp, cầm cố tài sản cho các cơ quan chức năng theo quy định của pháp luật (Sở địa chính - nhà đất, phòng công chứng…)
Trực tiếp thực hiện hoặc đôn đốc khách hàng thực hiện việc mua bảo hiểm các thế chấp cầm cố trong suốt thời gian cấp tín dụng mà người thụ hưởng là VPBank
Định kỳ tái định giá tài sản thế chấp cầm cố, thường xuyên có kế hoạch kiểm tra các tài sản thế chấp cầm cố, có trách nhiệm đề xuất các biện pháp xử lý kịp thời các
vấn đề phát sinh để đảm bảo an toàn tín dụng
Trang 3737
Tiếp nhận và kiểm soát lại chứng từ phòng giao dịch kho quỹ và các bộ phận khác đưa đến, kiểm soát hạch toán, khai thác số liệu đưa vào máy vi tính, lên cân đối tài khoản ngày, tháng, năm, theo đúng chế độ kế toán quy định
Thực hiện chế độ báo cáo kế toán, thông kê theo đúng quy định của NHNN và của VPBank
Bảo mật số liệu, lưu trữ an toàn số liệu, thông tin trên máy vi tính Lưu trữ, bảo quản sổ sách chứng từ kế toán và các mẫu biểu kế toán thống kê theo đúng chế độ quy định
f Phòng Hành chính- Tổ chức:
Phối hợp với VPBank để thực hiện công tác tổ chức, quản lý và phát triển nguồn nhân lực
Công tác văn thư, hành chính, lễ tân
Quản lý, mua sắm tài sản vật tư, trang thiết bị, phương tiện làm việc của toàn chi nhánh
Tổ chức thực hiện tốt công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy cho toàn chi nhánh
Phối hợp với bộ phận kho quỹ đảm bảo an toàn kho quỹ trong toàn chi nhánh
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của VPBank Thăng Long
Tỷ trọng
Nguồn vốn 1.564.000 100% 1.832.800 100% 2.024.000 100%
Tiền gửi doanh nghiệp 549.400 35,1% 458.200 25% 485.760 24%
Tiền gửi dân cư 1.014.600 64,9% 1.374.600 75% 1.538.240 76%
(Nguồn: Phòng Kế toán VPBank Thăng Long)
Footer Page 37 of 161.
Trang 38Tiền gửi doanh nghiệp - 91.200 - 16,6% + 27.560 + 6%
Tiền gửi dân cư + 360.000 + 35,5% + 163.640 + 11,9%
Tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh tăng qua các năm 2008, 2009, 2010
Năm 2009 đạt 1.832.800 triệu đồng, tăng 268.800 triệu đồng, tương ứng tăng 17,2% so với năm 2008 Năm 2010 vốn huy động là 2.024.000 triệu đồng, tăng so với năm
Triệu đồng
Tiền gửi doanh nghiệp Tiền gửi dân cư
Qua các năm có sự chuyển dịch về cơ cấu, nguồn huy động từ doanh nghiệp giảm từ 35,1% vào năm 2008 xuống còn 25% vào 2009 và 24% vào 2010, tiền gửi dân
cư tăng từ 64,9% năm 2008 lên 75% năm 2009 và năm 2010 là 76% Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng là ngân hàng bán lẻ nên cơ cấu vốn huy động tiền gửi dân cư chiếm tỉ trọng lớn Với nguồn vốn lớn và ổn định đã tạo thế chủ động trong kinh doanh
Trang 3939
của chi nhánh, đồng thời đóng góp không nhỏ cho nguồn vốn chung của hệ thống Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 làm nền kinh tế suy thoái, ảnh hưởng lớn tới hoạt động tài chính ngân hàng Năm 2009
và 2010, lãi suất đã ổn định hơn Tuy nhiên thị trường có nhiều kênh đầu tư hấp dẫn như chứng khoán, bất động sản, vàng cộng với sự cạnh tranh lãi suất và mở rộng mạng lưới hoạt động của hệ thống các NHTM trên địa bàn, nên nguồn vốn tăng trưởng chậm Tuy vậy, nhìn chung chi nhánh vẫn giữ được nguồn vốn huy động ổn định và tăng đều thể hiện sự cố gắng rất lớn của chi nhánh
2.1.2.2 Về hoạt động tín dụng
Bảng 2.3 : Dư nợ tín dụng Đơn vị: Triệu đồng
(Nguồn: Phòng Kế toán VPBank Thăng Long)
Tỷ trọng
Dư nợ cho vay 1.000.300 100% 1.140.000 100% 1.400.500 100%
Cho vay ngắn hạn 440.132 44% 620.400 54,4% 868.310 62%
Cho vay trung dài hạn 560.168 56% 519.600 45,6% 532.190 38%
Footer Page 39 of 161.
Trang 40Biểu đồ 2.2: Tình hình dư nợ tín dụng
440.132
620.400
868.310 560.168
519.600
532.190
0 200.000 400.000 600.000 800.000 1.000.000 1.200.000 1.400.000 1.600.000
Triệu đồng
Cho vay ngắn hạn Cho vay trung dài hạn
Bảng 2.3 và bảng 2.4 cho thấy tổng dư nợ cho vay năm 2009 tăng 139.700 triệu đồng, tăng 13,97% so với năm 2008 Đến năm 2010 dư nợ cho vay đạt là 1.400.500 triệu đồng, tăng 260.500 triệu đồng so với 2009 tương đương 22,85% Nhìn chung, dư
nợ tín dụng của chi nhánh tăng trưởng đều và ổn định qua các năm
Nhìn vào biểu đồ có thể thấy, trong năm 2008 dư nợ cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn cho vay ngắn hạn nhưng sang năm 2009 và 2010 dư nợ cho vay ngắn hạn đều chiếm tỉ trọng lớn Tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn tăng từ 44%
vào năm 2008 lên 54,42% vào 2009 và 62% vào 2010 Tỷ trọng dư nợ cho vay trung dài hạn giảm từ 56% vào 2008 xuống 45,58% vào 2009, đến 2010 còn 38%
Năm 2008 là năm xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới nên năm
2008 là một năm khó khăn với hoạt động tín dụng Đến năm 2009, chính sách kích cầu ngăn chặn suy giảm kinh tế đã tạo điều kiện để hoạt động tín dụng tăng trưởng trở lại
Năm 2010, nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực, những dấu hiệu phục hồi và phát triển Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng cũng như chi nhánh Thăng Long có chủ trương đảm bảo tăng trưởng tín dụng phù hợp với nguồn vốn huy động và giảm tỷ lệ cho vay trung dài dạn nên đã rất kịp thời trong trong việc đảm bảo an toàn tín dụng và thanh khoản hệ thống Đồng thời ngân hàng phát triển tín dụng theo hướng tập trung vốn cho các nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh, kiểm soát chặt chẽ cho vay kinh doanh bất động sản, cho vay chứng khoán và cho vay tiêu dùng Các tỷ lệ cho vay luôn nằm trong giới hạn an toàn và được phép Chi nhánh thường xuyên thực hiện rà soát, sàng lọc khách hàng, tăng cường và không ngừng nâng cao chất lượng thẩm định khách hàng, thực hiện nghiêm túc quy trình nghiệp vụ đảm bảo vốn tín dụng đầu tư