1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm tại thành phố buôn mê thuột tỉnh đắk lắk trong giai đoạn 2011 2015

60 702 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 830,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, do chất lượng lao động còn thấp, chưa được đào tạo chuyên môn kĩ thuật, cơ cấu lao động chưa hợp lí, nên chưa đáp ứng được yêu cầu hiện tại và xu hướng phát triển trong tương

Trang 1

TRONG GIAI ĐOẠN 2011 -2015

GVHD : THẦY : TRẦN ĐÌNH VINH SVTH : NGUYỄN CAO CƯỜNG LỚP : NHÂN LỰC 2- KHOÁ 33 NGÀNH : KTLĐ & QLNNL

MSSV : 107211303

Trang 2

Xin chân thành cảm ơn Thầy Trần Đình Vinh đã tận tình hướng dẫn cho em trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp

Xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới các cô, chú, anh, chị, đặc biệt là anh Huy Phòng Lao động Thương Binh Và Xã Hội thành phố Buôn Ma Thuột đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, cung cấp những số liệu cụ thể để

em hoàn thành Chuyên đề tốt nghiệp này

Do thời gian không nhiều, kiến thức còn hạn chế và chưa có nhiều kinh nghiệm nên chuyên đề tốt nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót trong cách trình bày và phương pháp phân tích, nhìn nhận, đánh giá vấn đề

Kính mong Quý thầy, cô và các anh, chị đóng góp ý kiến để em rút kinh nghiệm, hoàn thiện hơn kiến thức của bản thân, là hành trang cho con đường sự nghiệp sau này

Một lần nữa em xin chân thành cám ơn!

Buôn Ma Thuột, tháng 4 năm 2011

SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN CAO CƯỜNG

Trang 3

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

MỤC LỤC

Nhận xét của cơ quan thực tập

Nhận xét của giáo viên hướng dẫn

Trang 5

Trang 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM - THẤT

1.1.1.5 Thất nghiệp - Phân loại thất nghiệp 6

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm 7 1.1.3 Ảnh hưởng của tạo việc làm đến việc sử dụng nguồn nhân lực 9 1.1.3.1 Ảnh hưởng của tạo việc làm đến việc sử dụng nguồn nhân lực 9 1.1.3.2 Sự cần thiết phải tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao

1.1.4 Một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực 10

1.1.4.2 Hệ số sử dụng thời gian lao động 10 1.1.4.3 Chỉ tiêu mức độ phù hợp của cơ cấu ngành nghề 11 1.1.4.4 Chỉ tiêu mức độ phù hợp giữa đào tạo và sử dụng 12 1.2 Thực trạng lao động - việc làm ở Việt Nam 12

Trang 6

Trang 6

2.1.1.3 Quá trình hình thành và phát triển của thành phố Buôn Ma Thuột 23

CHUƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM GIẢI

QUYẾT VIỆC LÀM TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT GIAI

3.1 Kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn 42

3.2 Các biện pháp, giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt các chỉ tiêu kinh

tế, phát triển cơ sở hạ tầng và chính sách huy động đầu tư trên địa bàn 45

Trang 7

Trang 7

3.2.1.1 Về sản xuất Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp 45

3.2.2 Về Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng 47

Trang 8

là đầu tư có hiệu quả nhất để tăng trưởng và phát triển kinh tế, là con đường ngắn nhất để

đi tắt, đón đầu, chống nguy cơ tụt hậu và chủ động tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế

Buôn Ma Thuột không chỉ là trung tâm kinh tế, chính trị - xã hội của tỉnh Đắk Lắk mà còn là thành phố trung tâm cấp vùng Tây nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng của vùng và cả nước Diện tích đất tự nhiên 377.18 km2, dân số năm 2009 là 340.000 người, mật độ dân số 812 người/km2, thu nhập bình quân đầu người: 1.326 USD/người/năm Buôn Ma Thuột là đầu mối huyết mạch giao thông tỏa ra các hướng, nối với thành phố Đà Lạt qua huyện Lăk bằng quốc lộ 27, nối liền với Khánh Hòa qua Ninh Hòa bằng quốc lộ 26, nối với Thành phố Hồ Chí Minh bằng quốc lộ 14 qua Đăk Nông, Bình Phước, nối liền với Yok Đôn Buôn Đôn bằng tỉnh lộ số 1 và nối với Pleiku, Kontum bằng quốc lộ 14 Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, Buôn Ma Thuột nổi tiếng có nhiều loại trái cây, khoai sắn, rau củ, đặc biệt là cà phê Buôn Ma Thuột đã từ lâu chiếm lĩnh trên thị trường và cho đến nay chưa có nơi đâu sánh bằng Buôn Ma Thuột luôn là địa phương dẫn đầu cả nước về sản lượng và chất lượng cà phê Với lợi thế là vùng đất ba gian màu mỡ trù phú bậc nhất Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột luôn cho những hạt cà phê

có hương vị đậm đà và thơm ngon Tuy nhiên, do chất lượng lao động còn thấp, chưa được đào tạo chuyên môn kĩ thuật, cơ cấu lao động chưa hợp lí, nên chưa đáp ứng được yêu cầu hiện tại và xu hướng phát triển trong tương lai , nguồn nhân lực tăng nhanh qua các năm, chưa được sử dụng hết là một sức ép rất lớn về việc làm , ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội trong toàn thành phố

Vì vậy, nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm ở thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay nhằm đánh giá đúng thực trạng, tìm ra phương hướng và những giải pháp hữu hiệu để sử dụng hợp lý nguồn lao động đó đang là một đòi hỏi cấp bách, có ý nghĩa thiết thực cả về

lý luận và thực tiễn Do đó, em chọn đề tài: "THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI

QUYẾT VIỆC LÀM TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT - TỈNH ĐẮK LẮK

TRONG GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 " làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 9

Trang 9

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là thị trường lao động, các nhân tố tác động, ảnh hưởng đến việc tạo việc làm, gắn kết cung và cầu lao động Số liệu sử dụng trong chuyên đề chủ yếu lấy tại thành phố Buôn Ma Thuột

Phạm vi nghiên cứu: Vì vấn đề việc làm, thị trường lao động tương đối rộng, nên chuyên đề chỉ giới hạn xem xét vấn đề hiện tại giữa cung - cầu lao động, sử dụng thời gian lao động theo hành lang pháp lý của Việt Nam về lao động

Phương pháp nghiên cứu:

Chuyên đề này được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp phân tích đánh giá thực trạng

để bổ sung lý luận, gắn lý luận với thực tiễn dưới sự hướng dẫn giúp đỡ của thầy Trần Đình Vinh

Chuyên đề sử dụng thu thập số liệu thống kê và kết quả điều tra khảo sát từ các báo cáo tổng kết, các tạp chí về các mô hình tạo mở việc làm

Nội dung nghiên cứu:

Khái quát những vấn đề cơ bản về lý luận lao động, việc làm và thất nghiệp Làm rõ những nhân tố tác động đến việc giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường ở nước

ta hiện nay, để làm cơ sở cho việc phân tích tình hình giải quyết việc làm ở thành phố Buôn Ma Thuột

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo chuyên đề có 3 chương với những nội dung chính

Chương I Cơ sở lý luận về lao động - việc làm - thất nghiệp

Chương II Thực trạng về lao động - việc làm tại thành phố Buôn Ma Thuột

Chương III Một số giải pháp và kiến nghị nhằm giải quyết việc làm tại thành phố

Buôn Ma Thuột giai đoạn 2011- 2015

Các nội dung trên được trình bày trong các phần tiếp theo của chuyên đề

Trang 10

Theo nghĩa rộng, người lao động là người làm công ăn lương Công việc của người lao động là theo thỏa thuận, xác lập giữa người lao động và chủ thuê lao động Thông qua kết quả lao động như sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần cung cấp mà người lao động được hưởng lương từ người chủ thuê lao động Ở nghĩa hẹp hơn, người lao động còn là người làm các việc mang tính thể chất, thường trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (cách hiểu này ảnh hưởng từ quan niệm cũ: phân biệt người lao động với người trí thức) Theo Bộ Luật Lao động nước ta, người lao động là người đến tuổi lao động, có khả năng lao động, đang có giao kết và thực hiện hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao động Luật Lao động cũng quy định rõ ràng, cụ thể về các quyền và nghĩa vụ của người lao động khi tham gia lao động, quy định về hợp đồng lao động, xử lý tranh chấp hợp đồng lao động, các chế độ chính sách đãi ngộ, phúc lợi xã hội bắt buộc (Link sang Luật lao động)

Từ góc độ kinh tế học, người lao động là những người trực tiếp cung cấp sức lao động

- một yếu tố sản xuất mang tính người và cũng là một dạng dịch vụ, hàng hóa cơ bản của nền kinh tế Những người đang lao động là những người có cam kết lao động, sản phẩm lao động đối với tổ chức, người khác

1.1.1.2 Nguồn lao động

Nguồn lao động là toàn bộ nhóm dân cư có khả năng lao động đã hoặc chưa tham gia vào các hoạt động sản xuất xã hộ Bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong nền kinh tế

- Quy mô nguồn lao động ở các quốc gia khác nhau thì khác nhau tuy nhiên nó đều phụ thuộc vào 3 yếu tố sau:

+ Quy mô phát triển dân số, dân số càng phát triển nhanh thì nguồn lao động càng lớn + Tỷ lệ nguồn lao động trong dân số

+ Chế độ chính trị, xã hội, điều kiện tự nhiên của đất nước

- Nguồn lao động được thể hiện khả năng lao động xã hội nói lên lực lượng xã hội trong

Trang 11

Trang 11

sản xuất trong nền kinh tế quốc dân Nguồn lao động Việt Nam biểu hiện số lao động sản xuất ở các ngành kinh tế của Việt Nam Nguồn lao động bao gồm:

+ Nguồn lao động có sẵn trong dân số: Đây là dân số hoạt động bao gồm những người

có khả năng lao động đã hoặc chưa tham gia vào quá trình sản xuất xã hội Bao gồm toàn

bộ những người nằm trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm

+ Nguồn lao động đang tham gia hoạt động kinh tế Đó là những người có khả năng lao động, đang hoạt động trong những ngành kinh tế quốc dân

Như vậy giữa nguồn lao động có sẵn trong dân cư và nguồn lao động tham gia hoạt động kinh tế có sự khác nhau Sự khác nhau này là do một bộ phận những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì nhiều nguyên nhân khác nhau chưa tham gia hoạt động kinh tế như: Thất nghiệp, có việc làm nhưng không muốn làm việc, còn đang đi học, có nguồn thu nhập khác không cần đi làm

- Nguồn lao động dự trữ: Là những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động Bao gồm: Người làm công việc nội trợ, người tốt nghiệp các trường phổ thông, trung học, chuyên nghiệp, người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự

Đối với Việt Nam là một nước có đặc điểm dân số trẻ, tỷ lệ tăng dân số hàng năm ở mức độ cao, nền sản xuất xã hội đang ở trong giai đoạn thấp Mặt khác chúng ta đang đứng trước một nền kinh tế dư thừa về lao động, số người chưa có việc làm và có việc làm nhưng chưa ổn định thường xuyên còn cao, hiệu quả sử dụng nguồn lao động kém, lãng phí nguồn lao động ở mức độ cao, năng suất lao động thấp Thu nhập quốc dân tính theo đầu người thuộc những nước đứng hàng cuối cùng trong số những nước có nền kinh

tế chậm phát triển Sự phân bố lao động giữa thành thị và nông thôn trong nội bộ các vùng, các ngành chưa phù hợp còn mất cân đối Các nguồn nhân lực có trình độ lành nghề, cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn đại học và trên đại học chưa được bố trí

sử dụng hợp lý Đó chính là vấn đề đặt ra đối với mọi cấp, mọi ngành quan tâm nghiên cứu, đặc biệt các ngành chuyên môn về tổ chức lao động, giải quyết việc làm và dân số ở nước ta

1.1.1.3 Lực lƣợng lao động

Lực lượng lao động bao gồm tất cả những người đang ở trong độ tuổi lao động (thường là lớn hơn một độ tuổi nhất định (trong khoảng từ 14 đến 16 tuổi)) và chưa đến tuổi nghỉ hưu (thường trong khoảng 65 tuổi) đang tham gia lao động Những người không được tính vào lực lượng lao động là những sinh viên, người nghỉ hưu, những cha

mẹ ở nhà, những người trong tù, những người không có ý định tìm kiếm việc làm Ở Hoa

Kỳ, lực lượng lao động được xác định là những người từ 16 tuổi trở lên, đã có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm Các Luật lao động trẻ em ở Hoa Kỳ cấm việc thuê người dưới 18 tuổi trong các nghề nguy hiểm

Trang 12

để người ấy thực hiện quá trình lao động tạo ra sản phẩm và thu nhập của người ấy Mỗi một hình thái xã hội, mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội thì khái niệm việc làm được hiểu theo những khía cạnh khác nhau Trước đây người ta cho rằng chỉ có việc làm trong các xí nghiệp quốc doanh và trong biên chế nhà nước thì mới có việc làm ổn định, còn việc làm trong các thành phần kinh tế khác thì bị coi là không có việc làm ổn định

Với những quan niệm đó nên họ cố gắng xin vào làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp này Nhưng hiện nay quan điểm ấy không còn tồn tại nhiều trong số những người đi tìm việc làm Những người này sẵn sàng tìm bất cứ công việc gì, ở đâu, thuộc thành phần kinh tế nào cũng được miễn là hành động lao động của họ được nhà nước khuyến khích, không ngăn cấm và đem lại thu nhập cao cho họ là được

Như chúng ta đã biết, hai phạm trù việc làm và lao động có liên quan mật thiết với nhau, cùng phản ánh một loại lao động có ích của một người Tuy nhiên hai phạm trù này lại không giống nhau vì: có việc làm thì chắc chắn có lao động, nhưng ngược lại có lao động thì chưa chắc đã có việc làm vì nó phụ thuộc vào mức độ ổn định của công việc mà người lao động đang làm

1.1.1.4.2 Phân loại việc làm

Có nhiều cách phân loại việc làm theo các chỉ tiêu khác nhau

1.1.1.4.2.1 Phân loại việc làm theo mức độ sử dụng thời gian lao động

+ Việc làm đầy đủ: là người có việc làm là người đang có hoạt động nghề nghiệp, có thu nhập từ hoạt động đó để nuôi sống bản thân và gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm Tuy nhiên việc xác định số người có việc làm theo khái niệm trên chưa phản ánh trung thực trình độ sử dụng lao động xã hội vì không đề cập đến chất lượng của công việc làm Trên thực tế nhiều người lao động đang có việc làm nhưng làm việc nửa ngày, việc làm

có năng suất thấp thu nhập cũng thấp Đây chính là sự không hợp lý trong khái niệm người có việc làm và cần được bổ xung với ý nghĩa đầy đủ của nó đó là việc làm đầy đủ Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu đó là: Mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất lao động và thu nhập Mọi việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động phải sử dụng đầy đủ thời gian lao động theo luật định ( Việt Nam hiện nay quy định 8 giờ một ngày) Mặt khác, việc làm đó phải mang lại thu nhập không thấp hơn mức tiền lương

Trang 13

Theo tổ chức lao động thế giới ( Viết tắt là ILO ) thì khái niệm “thiếu việc làm” được biểu hiện dưới hai dạng sau:

- Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm làm đủ thời gian, thậm chí còn quá thời gian qui định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kĩ năng lao động thấp, điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động thấp thường có mong muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn

Thước đo của thiếu việc làm vô hình là:

Thu nhập thực tế

K = x 100%

Mức lương tối thiểu hiện hành

- Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng người lao động làm việc với thời gian ít hơn quỹ thời gian quy định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêm việc làm

và luôn sẵn sàng để làm việc

Thược đo của thiếu việc làm hữu hình là:

Số giờ làm việc thực tế

K = x 100%

Số giờ làm việc theo quy định

1.1.1.4.2.2 Phân loại việc làm theo vị trí lao động của người lao động

+ Việc làm chính: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất

và đòi hỏi yêu cầu của công việc cần trình độ chuyên môn kỹ thuật

+ Việc làm phụ: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính

1.1.1.5 Thất nghiệp - Phân loại thất nghiệp

Trang 14

Trang 14

Công thức tính tỷ lệ thất nghiệp:

Tỷ lệ thất nghiệp = 100% x (Số người không có việc làm/ Tổng số lao động xã hội)

1.1.1.5.2 Phân loại thất nghiệp

+ Thất nghiệp tạm thời là tình trạng không có việc làm ngắn hạn do không có đầy đủ

thông tin về cung - cầu lao động, hoặc chờ đợi vào những điều kiện lao động và thu nhập không thực tế hoặc liên quan đến sự di chuyển của người lao động giữa các doanh nghiệp, giữa các vùng và lĩnh vực kinh tế

+ Thất nghiệp cơ cấu là tình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài hạn do không

phù hợp về qui mô và cơ cấu cũng như trình độ của cung lao động theo vùng đối với cầu lao động (số chỗ làm việc) Sự không phù hợp có thể là do thay đổi cơ cấu việc làm yêu cầu hoặc do biến đổi từ phía cung của lực lượng lao động Ở nước ta thất nghiệp cơ cấu biểu hiện rõ nhất trong những năm khi mà Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng cao nhưng thất nghiệp giảm không đáng kể, thậm chí còn trầm trọng hơn với một số đối tượng như thanh niên, phụ nữ, người nghèo và với những thành phố lớn

+ Thất nghiệp nhu cầu là trình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài hạn do giảm

tổng cầu về lao động và làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy thoái, dẫn đến giảm hoặc không tăng số việc làm

Thất nghiệp nhu cầu xuất hiện trong những năm đầu của cuộc cải cách kinh tế ở nước

ta (1986 - 1991) và gần đây có xu hướng tăng lên do đình đốn, ứ đọng sản phẩm ở một số ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, đồng thời với đó là quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước và dôi dư lao động

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm

Tạo việc làm cho người lao động là một công việc hết sức khó khăn và nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: Vốn đầu tư, sức lao động, nhu cầu thị trường về sản phẩm Bởi vậy tạo việc làm là quá trình kết hợp các yếu tố trên thông qua nó để người lao động tạo ra các của cải vật chất (số lượng, chất lượng), sức lao động (tái sản xuất sức lao động) và các điều kiện kinh tế xã hội khác

Ta có thể biểu thị mối quan hệ giữa việc làm với một số nhân tố cơ bản qua hàm số sau

Y= F (x,z,k, ,n) Trong đó:

Y: số lượng việc làm được tạo ra

x : số vốn đầu tư

z : sức lao động

k : nhu cầu của thị trường về sản phẩm

Ta nhận thấy rằng: Khối lượng của việc làm được tạo ra tỉ lệ thuận với các yếu tố trên Chẳng hạn như vốn đầu tư để mua sắm thiết bị máy móc, nhà xưởng mở rộng quy mô sản xuất là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn Khi vốn đầu tư tăng thì tạo ra được nhiều chỗ làm

Trang 15

Ngoài ra còn một số các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến việc làm ở tầng vĩ mô: Gồm các chính sách kinh tế của nhà nước vì khi các chính sách kinh tế phù hợp sẽ tạo điều kiện khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển làm cho cầu lao động tăng đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều chỗ làm mới

Dân số và lao động là hai vấn đề có quan hệ rất chặt chẽ với nhau, quy mô dân số càng lớn thì nguồn lao động càng nhiều và ngược lại khi nguồn lao động càng lớn lại là sức ép đối với công tác tạo việc làm cho người lao động bởi vì: Khi cung về lao động lớn sẽ tạo

ra một lượng lao động dư thừa cần giải quyết việc làm Ngược lại khi cầu lao động lớn hơn cung lao động sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động tham gia vào các ngành kinh tế.Vì vậy tỉ lệ tăng dân số và nguồn nhân lực có ảnh hưởng đến vấn đề lao động và tạo việc làm cho người lao động

Tạo việc làm đƣợc phân loại thành:

+ Tạo việc làm ổn định: Công việc được tạo ra cho người lao động mà tại chỗ làm việc

đó và thông qua công việc đó họ có thu nhập lớn hơn mức thu nhập tối thiểu hiện hành và

ổn định theo thời gian từ 3 năm trở lên: Việc làm ổn định luôn tạo cho người lao động một tâm lý yên tâm trong công việc để lao động hiệu quả hơn

+ Tạo việc làm không ổn định: Được hiểu theo hai nghĩa Đó là: Công việc làm ổn định nhưng người thực hiện phải liên tục năng động theo không gian, thường xuyên thay đổi

vị trí làm việc nhưng vẫn thực hiện cùng một công việc Công việc làm không ổn định

mà người lao động phải thay đổi công việc của mình liên tục trong thời gian ngắn

Mục đích ý nghĩa của tạo việc làm:

Tạo việc làm là quá trình tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất và sức lao động Tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động luôn là vấn đề bức xúc và quan trọng, nó mang mục đích ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với từng người lao động và toàn xã hội

Mục đích của tạo việc làm nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng kinh tế, tránh lãng phí nguồn lực xã hội Về mặt xã hội tạo việc làm nhằm mục đích giúp con người nâng cao vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm được tình trạng thất nghiệp trong xã hội Không có việc làm là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội như: Trộm cắp, lừa đảo, nghiện hút giải quyết việc làm cho người lao động nhất là các thanh niên là hạn chế các tệ nạn xã hội do không có ăn việc làm gây ra và giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội đòi hỏi Về mặt kinh tế khi con người có việc làm sẽ thoả mãn được các nhu cầu thông qua các hoạt động lao động để thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần, ổn định và nâng cao đời sống của người lao động Việc làm hiện nay gắn chặt với thu nhập Người lao động không muốn làm ở những nơi

Trang 16

Trang 16

có thu nhập thấp đó là một thực tế do nhu cầu đòi hỏi của xã hội Hiện nay nhiều người lao động được trả công rất rẻ mạt, tiền công không đủ sống dẫn đến tâm lý không thích đi làm, hiệu quả làm việc không cao, ỷ lại ngại đi xa các thành phố thị xã Một mặt thất nghiệp nhiều ở thành thị nhưng nông thôn lại thiếu cán bộ, thiếu người có trình độ chuyên môn Bởi vậy tạo điều kiện có việc làm cho người lao động thôi chưa đủ mà còn tạo việc làm gắn với thu nhập cao mang lại sự ổn định cuộc sống cho người lao động Giải quyết việc làm, tạo việc làm cho người lao động có ý nghĩa giúp họ tham gia vào qua trình sản xuất xã hội cũng là yêu cầu của sự phát triển, là điều kiện cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của con người

1.1.3 Ảnh hưởng của việc tạo việc làm đến việc sử dụng nguồn nhân lực

1.1.3.1 Ảnh hưởng của tạo việc làm đến việc sử dụng nguồn nhân lực

Sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào vấn đề sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực và vốn Trong đó việc sử dụng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và quyết định đến sự phát triển đó, tạo việc làm nhằm nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực thông qua các hướng sau:

Tạo việc làm và giải quyết việc làm nhằm phân bổ lao động một cách hợp lý, góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý đưa đến một hệ thống lao động phù hợp với cơ cấu hệ thống ngành nghề có sự phối hợp hài hoà giữa các bộ phận tổ chức, bố trí lao động phù hợp với đặc điểm tính chất của công việc sẽ nâng cao năng suất lao động cá nhân, giúp họ phát triển khả năng và sự sáng tạo của mình cho quá trình sản xuất phát triển

Tạo ra nhiều chỗ làm việc mới sẽ thu hút được nhiều lao động tham gia vào quá trình sản xuất xã hội và sẽ giải quyết các vấn đề mang tính xã hội như: Nâng cao, cải thiện đời sống, hạn chế các hiện tượng tiêu cực trong xã hội

Tạo việc làm là một trong những động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vì khi các công việc được taọ mới bao giờ cũng đòi hỏi một chuyên môn kỹ thuật cao

ở người lao động mà theo quy luật của quá trình tuyển dụng thì người ứng cử viên cũng phải có một trình độ tương đương bởi thế cho nên người luôn có xu hướng tích lũy kiến thức, trình độ lành nghề cho chính mình để có cơ hội tham gia vào hoạt động kinh tế

1.1.3.2 Sự cần thiết phải tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động

Tạo việc làm cho người lao động là vấn đề cấp bách của toàn xã hội, nó thể hiện vai trò của xã hội đối với người lao động, sự quan tâm của xã hội về đời sống vật chất, tinh thần của người lao động và nó cũng là cầu nối trong mối quan hệ giữa xã hội và người Việc làm là nơi diễn ra những hoạt động của người lao động, những hoạt động này được công nhận qua những công việc mà họ đã làm và nó cũng là nơi để họ thể hiện những kết quả học tập của mình đó là trình độ chuyên môn

Tạo việc làm là vấn đề chính để người lao động có việc làm và có thu nhập để tái sản xuất sức lao động xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp và do đó hạn chế được những phát sinh tiêu cực do thiếu việc làm gây ra

Tạo việc làm đáp ứng nhu cầu tìm việc nhu cầu lao động của con người vì lao động là phương tiện để tồn tại chính của con người

Trang 17

Trang 17

Do đó mọi chủ trương chính sách đúng đắn là phải phát huy cao độ khả năng nguồn lực con người, nếu có sai phạm thì nguồn lao động sẽ trở thành gánh nặng, thậm trí gây trở ngại, tổn thất lớn cho nền kinh tế cũng như xã hội Vì vậy một quốc gia giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động là thành công lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế

xã hội, chính tri của mình

1.1.4 Một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực

1.1.4.1 Năng suất lao động

Năng suất lao động là một phạm trù kinh tế nói lên hiệu quả kinh doanh của con

người Được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hay lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Năng suất lao động là chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động sống, đặc trưng bởi quan hệ

so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) và một chỉ tiêu đầu vào (lao động làm việc)

Công thức: W = Q / T hoặc t = T / Q

Trong đó: W là năng suất lao động Q là tổng khối lượng sản phẩm sản xuất ra T là tổng khối lượng thời gian lao động hao phí t là lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

1.1.4.2 Hệ số sử dụng thời gian lao động

Hệ số sử dụng thời gian lao động cũng là một chỉ tiêu biểu hiện việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực Nguồn nhân lực khi tham gia quá trình lao động ngoài hao phí nguồn lực

ra thì còn phải hao phí yếu tố thời gian lao động, đó là số lượng thời gian mà người lao động tham gia lao động trong một quỹ thời gian quy định cho phép:

K=100T/H (%) Trong đó: K: Hệ số sử dụng thời gian lao động

T: Thời gian thực tế người lao động tham gia lao động trong quỹ thời gian

H: Quỹ thời gian (Ngày, tháng, quý, năm)

+ Quỹ thời gian theo ngày được biểu hiện bởi số thời gian nhà nước quy định làm việc trong ngày

+ Quỹ thời gian theo tháng (Quý) được biểu hiện bởi số ngày làm việc trong tháng (Quý)

mà nhà nước quy định

+ Quỹ thời gian trong năm là số ngày làm việc mà nhà nước quy định trong năm

Hệ số sử dụng thời gian lao động nói lên lượng lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất Chỉ tiêu này chủ yếu dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng nhân lực trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, thực hiện dịch vụ mà sản phẩm của họ sản xuất ra không thể khái quát được nội dung lao động của họ

Trang 18

Trang 18

1.1.4.3 Chỉ tiêu mức độ phù hợp của cơ cấu ngành nghề

Mức độ phù hợp của cơ cấu ngành nghề là một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, nó được biểu hiện bởi yêu cầu của ngành nghề lao động hiện có trong ngành nghề đó

Bất kỳ một ngành nghề nào đó cũng có một số chỗ làm việc nhất định, muốn các ngành nghề đó đi vào hoạt động thì phải cần có hoạt động của người lao động trong đó người lao động tham gia vào trong ngành nghề đó thông qua các chỗ làm việc và được biểu hiện bởi quy mô ngành nghề và hiệu quả ngành nghề đó khi nó đi vào hoạt động Chỉ tiêu mức độ phù hợp của cơ cấu ngành nghề chủ yếu nhằm đánh giá hiệu quả của quá trình sử dụng nguồn nhân lực của ngành nghề đó và được biểu hiện bởi hai chỉ tiêu nhỏ đó là:

+ Chỉ tiêu phù hợp về số lƣợng lao động:

Đó là chỉ tiêu biểu hiện sự so sánh giữa nhu cầu về số lượng của một ngành nghề nào

đó, một bộ phận nào đó với số lao động hiện có đang thực hiện lao động trong ngành nghề, bộ phận đó:

k= N/D (%) Trong đó:k: Hệ số phù hợp về số lương lao động của một ngành nghề hay một bộ phận

D: Số lượng lao động mà ngành nghề hay bộ phận cần có để có thể hoạt động được

N: Số lượng lao động thực tế đang làm việc trong một ngành nghề hay bộ phận đó

Chỉ tiêu này chỉ phản ánh được quy mô lao động trong một ngành nghề có phù hợp với nhu cầu lao động của ngành nghề đó hay không, qua chỉ tiêu này ta có thể xem xét được ngành nghề, bộ phận đó có sử dụng hiệu quả lao động hay không, có thể thừa hoặc thiếu lao động, cả hai khả năng này phản ánh sự lãng phí và thiếu hụt sức lao động và là nguyên nhân chính nói lên sự mất cân đối giữa các ngành, bộ phận lao động

h: Bậc thợ theo yêu cầu của công việc mà người thợ đang làm

- Chỉ tiêu 2:

k=l/m (100) Trong đó: l: Số năm kinh nghiệm mà người lao động đang làm việc có

Trang 19

Trang 19

m: Số năm kinh nghiệm mà công việc đó yêu cầu

Chỉ tiêu này đánh giá được mức độ phù hợp của việc sử dụng chất lượng nguồn nhân lực trong một ngành nghề

1.1.4.4 Chỉ tiêu mức độ phù hợp giữa đào tạo và sử dụng

Chỉ tiêu này đánh giá một cách khái quát tình hình sử dụng hợp lý lao động, điều đó được phản ánh qua số lượng lao động được dào tạo và số lượng lao động được sử dụng vào công việc theo đúng ngành nghề đã đào tạo

k=v/d (100) Trong đó: v: Số lao động được bố trí theo đúng ngành nghề đào tạo

d: Tổng số lao động hiện có

Chỉ tiêu này chủ yếu nhằm đánh giá sự bố trí, sắp xếp lao động có hợp lý hay không trong một tổ chức

1.2 Thực Trạng Lao động- việc làm ở Việt Nam

1.2.1 Dân số, lao động, việc làm

Dân số trung bình cả nước năm 2010 ước tính 86,93 triệu người, tăng 1,05% so với năm

2009, bao gồm dân số nam 42,97 triệu người, chiếm 49,4% tổng dân số cả nước, tăng 1,09%; dân số nữ 43,96 triệu người, chiếm 50,6%, tăng 1%

Trong tổng dân số cả nước năm 2010, dân số khu vực thành thị là 26,01 triệu người, chiếm 29,9% tổng dân số, tăng 2,04% so với năm trước; dân số khu vực nông thôn là 60,92 triệu người, chiếm 70,1%, tăng 0,63% Tỷ lệ giới tính của dân số năm 2010 ở mức 97,7 nam trên 100 nữ (Năm 2009 tỷ lệ này là 97,6/100)

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2010 là 50,51 triệu người, tăng 2,68% so với năm 2009, trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 46,21 triệu người, tăng 2,12% Tỷ lệ dân số cả nước 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động tăng từ 76,5% năm

Trang 20

Thương nghiệp; sửa chữa xe có

động cơ, mô tô, xe máy và đồ

đảm bảo xã hội bắt buộc 1467,4 1474,4 1483,2 1493,8 1491,1 Giáo dục và đào tạo 1070,1 1096,4 1165,2 1205,2 1211,5

Y tế, hoạt động cứu trợ xã hội 220,2 227,4 233,0 240,9 241,4 Hoạt động văn hoá và thể thao 39,3 43,3 43,9 46,0 48,2 Các hoạt động Đảng, đoàn thể

Trang 21

núi phía Bắc 5240,4 5307,3 5362,1 5419,5 5469,3 5459,1 5543,7 Bắc Trung Bộ,

Duyên hải miền

Trung

9064,3 9109,2 9142,6 9177,7 9206,9 9269,0 9348,8 Tây Nguyên 2286,9 2349,0 2406,9 2454,4 2491,8 2526,5 2592,3 Đông Nam Bộ 5674,2 5854,7 6045,2 6275,8 6488,0 6691,9 6878,7 Đồng Bằng

sông Cửu Long 8153,4 8209,3 8257,2 8303,5 8360,6 8466,6 8562,7

Bảng 3: Dân số nữ trung bình phân theo địa phương:

núi phía Bắc 5319,1 5373,7 5436,6 5484,8 5534,9 5538,2 5551,5 Bắc Trung Bộ,

Duyên hải miền

Trung

9395,3 9429,3 9466,0 9489,7 9522,2 9528,9 9521,6 Tây Nguyên 2274,3 2315,2 2361,3 2406,5 2456,2 2510,2 2532,6 Đông Nam Bộ 5955,7 6136,0 6335,4 6547,0 6778,4 6991,7 7217,0 Đồng Bằng

sông Cửu Long 8487,3 8546,1 8603,5 8645,2 8684,0 8666,5 8650,7

Tổng cục Thống kê vừa cho biết, năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,88%, trong đó tình trạng không có việc làm ở khu vực thành thị là 4,43% và nông thôn là 2,27% So sánh với năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm 0,02%, thất nghiệp thành thị giảm 0,17% trong khi thất nghiệp nông thôn lại tăng thêm 0,02% Năm

2009, các tỷ lệ này tương ứng là 2,9%; 4,6%; 2,25%

Trang 22

Trang 22

Bên cạnh tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi, tỷ lệ thiếu việc làm năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 4,5%; trong đó khu vực thành thị là 2,04%, khu vực nông thôn là 5,47% Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010, lực lượng lao động trong độ tuổi từ

15 trở lên là hơn 50,5 triệu người, tăng 2,68% so với năm 2009, trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là hơn 46,2 triệu người, tăng 2,12% Tỷ lệ dân số cả nước 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động tăng từ 76,5% năm 2009 lên 77,3% năm 2010

Tỷ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 51,9% năm 2009 xuống 48,2% năm 2010; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,6% lên 22,4%; khu vực dịch vụ tăng 26,5% lên 29,4%

Bảng 4: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm phân theo thành phần kinh tế và ngành kinh tế:

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1112,8 1322 1562,2 1694,4 1611,7

Phân theo ngành kinh tế

Nông nghiệp và lâm nghiệp 22933 22771,4 22696,6 22705,5 23022

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt 152,3 176 201,6 232,3 262,6

Hoạt động kinh doanh tài sản, tư vấn 138,8 166,1 203,4 240,2 257,8 Quảnlí nhà nước;bảo đảm xãhội bắt buộc 1527,9 1603,1 1687,7 1770,8 1818

Y tế, hoạt động cứu trợ xã hội 329,8 346,5 361,9 381,9 391,5 Hoạt động văn hoá, thể thao 121,7 124,9 128,5 128,7 133,7

Hoạt động phục vụ cá nhân, công cộng 678,1 756,9 844,5 935,4 959,6

Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở 01/04/2009

Trang 23

Trang 23

+ Dịch chuyển cơ cấu lao động:

Ngành chiếm nhiều lao động nhất ở Việt Nam là ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản với gần 23 triệu lao động (2008)

Nhu cầu lao động tại Viê ̣t Nam gia tăng trong các ngành công nghiê ̣p và di ̣ch vu ̣ có giá trị cao hơn, đươ ̣c đầu tư công nghê ̣ và tài chính nhiều hơn

Thêm nhiều thanh thiếu niên bỏ học tham gia thị trường lao động Ngành chiếm nhiều lao đô ̣ng nhất ở Việt Nam là ngành nông nghiệp, lâm nghiê ̣p và thuỷ sản với gần 23 triê ̣u lao đô ̣ng (năm 2008) Tuy nhiên, việc làm trong 3 ngành này giảm và ở mức hơn 21 triê ̣u vào năm 2020

Ngoài ra, Viê ̣t Nam đã đa ̣t được các mu ̣c tiêu của chương trình viê ̣c làm bền vững , đó

là một yếu tố quan trọng để chống đói nghèo Tỷ trọng việc làm dễ bị mất giảm xuống 4,3% do sự gia tăng tỷ tro ̣ng lao đô ̣ng làm công ăn lương (2,9%) và gia tăng lao động tự làm (8,2%)

Viê ̣t Nam cũng là nước có tỷ lê ̣ viê ̣c làm tính trên dân số tương đối cao , ứng với gần 75% dân số từ 15 tuổi trở lên Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tăng , đối với nam giới

và nữ giới trong độ tuổi từ 15-19, cho thấy đã có mô ̣t lực lượng lớn thanh thiếu niên rờ i

bỏ nhà trường để tìm việc kiếm sống và hỗ trợ gia đình

+ Chất lƣợng lao động

Theo các chuyên gia về nhân lực, nguồn nhân lực ở Việt Nam rất dồi dào nhưng lại thiếu trầm trọng về chất lượng Lao động Việt Nam được đánh giá là khéo léo, thông minh, sáng tạo, tiếp thu nhanh những kỹ thuật và công nghệ hiện đại được chuyển giao từ bên ngoài nhưng thiếu tính chuyên nghiệp

Chất lượng lao động là một khái niệm có nội hàm rất rộng, được thể hiện thông qua những thuộc tính cơ bản của nó Các nhà kinh tế đã tổng kết và khái quát thành 2 nhóm thuộc tính, thể hiện chất lượng lao động của một quốc gia, một địa phương, đó là:

- Nhóm thể hiện “năng lực xã hội của lao động” (thể lực, trí lực, và nhân cách)

- Nhóm thể hiện “tính năng động xã hội của lao động” (năng lực hành nghề, khả năng cạnh tranh, khả năng thích ứng và phát triển…)

Trang 24

- Các chỉ tiêu đánh giá về trí tuệ của lao động (trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật)

- Các chỉ tiêu đánh giá về nhân cách (đạo đức, lối sống, tác phong trong lao động…)

- Các chỉ tiêu đánh giá về tính năng động xã hội của lao động (khả năng sẵn sàng làm việc, tình trạng việc làm, khả năng cạnh tranh, khả năng thích ứng trong công việc…) Trong kinh tế thị trường và hội nhập, vấn đề nâng cao chất lượng lao động là yếu tố quyết định và là giải pháp có tính đột phá, then chốt để tăng trưởng kinh tế cao, nâng cao khả năng cạnh tranh các sản phẩm của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế, đi vào kinh

tế tri thức

Trong những năm đổi mới vừa qua, nền kinh tế nước ta luôn duy trì tăng trưởng ở mức cao và ổn định (7,5%/năm), một trong những nhân tố quan trọng đóng góp cho tăng trưởng là yếu tố lao động Theo đánh giá của tổ chức quốc tế, yếu tố lao động Việt Nam tham gia vào thị trường khoảng 20%, yếu tố vốn 57,5%, yếu tố các nhân tố tổng hợp 22,5%

Năm 2010, cả nước đưa 85.546 người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, trong đó thị trường Đài Loan – 28.499 lao động; Hàn Quốc – 8.628 lao động; Nhật Bản – 4.913 lao động; Malaysia – 11.741 lao động; Lào – 5.903 lao động; UAE – 5.241 lao động; Libya – 5.242 lao động; Saudi Arabia – 2.729 lao động; Macau – 3.124 lao động; Bahrain – 1.204 lao dộng; Campuchia – 3/615 lao động và các thị trường khác – 4.725 lao động Năm 2010, nền kinh tế thế giới vẫn bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính, tuy nhiên, thị phần lao động Việt Nam ở nhiều thị trường không bị suy giảm lớn, một số thị trường được mở rộng như: Lybia, Macau, UAE… Các thị trường truyền thống như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc vẫn được duy trì và tiếp tục nhận nhiều lao động Người lao động đã quay trở lại với thị trường Malaysia sau 2 năm trầm lắng Số lao động Việt Nam được đưa sang Malaysia làm việc trong năm 2010 là 11.741 người, tăng 320,52% so với năm 2009 (2.792 người) Theo thông báo của Cục Nhập cư Malaysia, số lượng lao động Việt Nam hiện đang làm việc tại Malaysia khoảng 87.000 người, chủ yếu làm việc trong các nhà máy Mức thu nhập của người lao động còn khiêm tốn: từ 3,5-6 triệu đồng/tháng,

Trang 25

Đồng bằng sông Hồng 2,29 5,35 1,29 6,85 2,13 8,23 Trung du và miền núi phía Bắc 1,13 4,17 0,61 2,55 2,47 2,56 Bắc Trung Bộ và duyên hải miền

Báo cáo "Xu hướng việc làm Việt Nam" do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của những người trong độ tuổi 15 đến 24 tăng mạnh

từ 4,7% lên 6% trong khoảng thời gian từ 1997-2007 Vấn đề việc làm thanh niên càng trở nên quan trọng khi tính tới yếu tố tăng trưởng nhờ dân số

Năm 2010 tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam là trên 2,8% Ngày 31/12, Tổng cục Thống

kê cho biết tỷ lệ thất nghiệp năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 2,88%, trong đó tình trạng không có việc làm ở khu vực thành thị là 4,43% và nông thôn là 2,27%

Trang 26

Trang 26

So sánh với năm

2009, tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm 0,02%, thất nghiệp thành thị giảm 0,17% trong khi thất nghiệp nông thôn lại tăng thêm 0,02% Năm 2009, các tỷ lệ tương ứng là 2,9%; 4,6%; 2,25%

Bên cạnh tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi, tỷ lệ thiếu việc làm năm

2010 của lao động trong độ tuổi là 4,5%; trong đó khu vực thành thị là 2,04%, khu vực nông thôn là 5,47%

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010, lực lượng lao động trong độ tuổi từ 15 trở lên là hơn 50,5 triệu người, tăng 2,68% so với năm 2009; trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là hơn 46,2 triệu người, tăng 2,12% Tỷ lệ dân số cả nước 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động tăng từ 76,5% năm 2009 lên 77,3% năm 2010 Tỷ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 51,9% năm 2009 xuống 48,2% năm 2010; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,6% lên 22,4%; khu vực dịch vụ tăng

từ 26,5% lên 29,4

+ Xuất khẩu lao động:

Hiện nay, xuất khẩu lao động được đánh giá là một trong những ngành dịch vụ đem

lại hiệu quả cao về mặt kinh tế cho xã hội nói chung và đất nước nói riêng Tuy nhiên, người lao động trong điều kiện hiện nay không chỉ đơn thuần có thể làm việc mà phải biết làm đúng cách nghĩa là người lao động phải có kỹ năng, và phải có kiến thức Hay nói một cách khác, người lao động cần phải được đào tạo một cách bài bản trước khi tham gia vào thị trường lao động

Việt Nam với ưu thế là một nước có nguồn nhân lực dồi dào (86,93 triệu người – theo

số liệu của Tổng Cục Dân số năm 2010); trong đó lực lượng lao động trẻ chiếm tỷ lệ lớn Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu thị trường lao động, Đại học Leicester (CLMS), kết hợp với VCCI và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thì 3,5% lực lượng lao

Cả nước hiện có hơn 46 triệu người trong độ tuổi lao động Ảnh:

B.H

Trang 27

Trang 27

động nằm trong độ tuổi 16 - 18 và 39% trong độ tuổi 19 - 25 Điều này có nghĩa là một

bộ phận lớn lực lượng lao động Việt Nam là lao động trẻ Nhưng theo Phòng Thương mại

và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố ngày 30/6/2009 chỉ có gần 15% lao động trẻ Việt Nam được đào tạo và hầu như rất ít lao động có tay nghề cao Vì vậy, để có thể sử dụng triệt để ưu thế về lao động, Việt Nam cần phải xem xét và thực hiện công tác đào tạo cho người lao động càng sớm càng tốt

Theo số liệu được lấy từ Dữ kiện thế giới của CIA bản 2005 và được cập nhật từ tháng

2 năm 2005, hiện nay trên thế giới có 193 quốc gia/ vùng lãnh thổ với tổng dân số là 6.372.797.742 người Hiện tại Việt Nam đã thực hiện xuất khẩu lao động sang tổng số là gần 40 quốc gia/vùng lãnh thổ tương đương với 21% thị phần của Việt Nam trên thị trường xuất khẩu lao động Như vậy, ta có thể thấy lợi thế một nước đông dân chưa được khai thác triệt để

Nếu ta hình dung 193 quốc gia và vùng lãnh thổ là một thị phần lớn tương đương với 100% thì thị phần của Việt Nam chiếm lĩnh trong lĩnh vực xuất khẩu lao động là 40 quốc gia/vùng lãnh thổ, tương đương với 21% Nhìn trên biểu đồ hình tròn có thể thấy thị phần của Việt Nam chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Điều này đồng nghĩa với việc 79% thị phần còn lại hoặc là đã thuộc về quốc gia khác hoặc là còn để trống Như vậy cơ hội cho chúng

ta còn rất nhiều Vấn đề là làm thế nào chúng ta giành lại hoặc chiếm lĩnh được 79% thị phần còn lại Đây thực sự là một câu hỏi khó bởi vấn đề chính để giải quyết cho câu hỏi này lại nằm ở nguồn nhân lực của chúng ta

Từ năm 2006 đến nay, ngành xuất khẩu lao động của Việt Nam đã có những tín hiệu đáng mừng Tính đến cuối năm 2008, theo số liệu tổng hợp của Cục Quản lý lao động ngoài nước, tổng số lao động xuất khẩu của Việt Nam tại tất cả các thị trường là 554.685 người Số lượng lao động xuất khẩu lao động qua các năm tăng một cách đều đặn

Trang 28

Đài Loan Malaysia Cata UAE

Ả Rập

xê út

CH Séc

Ma Cao Khác Tổng

2006 5360 10577 14127 37941 3219 1760 98 423 869 5766 80140

2007 5517 12187 23640 26704 4685 2310 1620 1432 548 5982 84625

2008 6142 18141 31631 7810 10789 2845 2987 1871 1417 11355 94988

Tổng 17019 40905 69398 72455 18693 6915 4705 3726 2834 23103 259753

Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước

Năm 2008 tăng so với năm 2006 là 14848 người (tương đương với 119%), và so với

2007 tăng 10363 người (tương đương với 113%) Do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ, nên tốc độ tăng của năm

2008 chậm hơn 5,6% so với tốc độ tăng của năm 2007

Tuy nhiên, trong bối cảnh nhiều công ty phá sản, nền kinh tế đình trệ thì con số trên đã thể hiện những nỗ lực hết mình của chính phủ và các ban ngành đối với sự phát triển ngành xuất khẩu lao động Cho đến nay, khủng hoảng kinh tế vẫn còn đang là một rào cản đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam thì ngành xuất khẩu lao động vẫn vươn lên để hoàn thành chỉ tiêu năm 2009 xuất khẩu 90.000 người lao động Theo báo cáo 8 tháng năm 2009 của Cục quản lý lao động ngoài nước, tổng số lao động đi xuất khẩu lao động đạt 45.634 người tương đương với 50,2% so với định mức đặt ra của năm

2009

Ngành nghề mà chúng ta có sử dụng nhiều lao động xuất khẩu cũng chỉ hạn chế như ngành xây dựng, vận tải biển, khán hộ công và giúp việc gia đình, thuyền viên tàu cá, dệt may…; trong khi đó các ngành nghề đòi hỏi tay nghề và trình độ như các ngành công nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng…thì số lượng lao động của Việt Nam còn khiêm tốn Bài toán nhằm giải quyết trình độ của người lao động đang là một vấn đề được đưa ra bàn luận tại các cuộc họp của Quốc hội Bởi Việt Nam xuất phát điểm từ một đất nước thuần nông, mọi lối sống, tác phong của người Việt Nam đều bị ảnh hưởng mãnh mẽ bởi nền nông nghiệp canh tác lúa nước Đây là một trong những khó khăn mà chúng ta không thể khắc phục trong một sớm một chiều; cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhân dân

và chính phủ

Trang 29

Trang 29

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM TẠI THÀNH PHỐ

1975 đã phát triển lên thành phố năm

1995 (đô thị loại 3) và sau 10 năm xây dựng thành phố Buôn Ma Thuột được Thủ tướng Chính phủ công nhận là đô thị loại 2 (2005) Gần đây nhất, với những nỗ lực không biết mệt mỏi của chính quyền và nhân dân địa phương, Buôn Ma Thuột đã trở thành thành phố năng động và phát triển nhanh nhất Tây Nguyên, năm

2010 trở thành đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh là một điểm mốc lịch sử quan trọng để thành phố tiếp tục phấn đấu, phát triển thành đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương vào năm 2015 theo tinh thần kết luận 60 của

Bộ Chính trị Hiện nay, Buôn Ma Thuột được chính phủ công nhận là thành phố có quy hoạch tốt nhất Việt Nam

Buôn Ma Thuột không chỉ là trung tâm chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk mà còn là thành phố trung tâm cấp vùng Tây nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng về của phòng của vùng và cả nước

Về mặt địa lý, diện tích tự nhiên của thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay có 377,18

Km2 chiếm khoảng 2,87% diện tích tự nhiên tỉnh Đắk Lắk

Phía Bắc giáp huyện CưM'gar

Phía Nam giáp huyện Krông Ana, CưKuin

Phía Đông giáp huyện Krông Pắc

Phía Tây giáp huyện Buôn Đôn và Cư Jút ( tỉnh Đắk Nông)

Buôn Ma Thuột cách Hà Nội 1.410 km, cách TP Hồ Chí Minh 350 km

2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Nằm trên Cao Nguyên Đắk Lắk rộng lớn ở phía Tây dãy Trường sơn, có địa hình dốc thoải từ 0,5- 10, cao độ trung bình 500 mét so với mặt nước biển Thời tiết khí hậu vừa

Trang 30

Về tài nguyên đất, chủ yếu là đất nâu đỏ trên đá cục Bazan (70%), đất nông nghiệp 73,78%, đất lâm nghiệp 22% (chủ yếu rừng trồng), tài nguyên khoáng sản chính là đá bazan làm vật liệu xây dựng, sắt, cao lin, sét, gạch ngói

2.1.1.3 Quá trình hình thành và phát triển của thành phố Buôn Ma Thuột

Buôn Ma Thuột vốn có bề dày lịch sử từ lâu đời, nhiều tư liệu từ trước đến nay đã cho thấy vùng đất này tồn tại từ rất sớm Dưới góc độ nghiên cứu về khảo cổ học Buôn Ma

Thuột ít ra đã có 4.000 năm tuổi, điều này được tư liệu khảo cổ học khẳng định qua những dấu tích cư trú, làm nông của cư dân thời tiền sử Qua tư liệu văn hóa tộc người đã có một Buôn Ma Thuột vài trăm năm tuổi và qua tư liệu sử học, đến nay Buôn Ma Thuột vừa tròn 105 năm

hình thành và phát triển

Buôn Ma Thuột dưới thời Pháp thuộc là Trung tâm của tỉnh Đắk Lắk, cũng là trung tâm của vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ, đầu mối của nhiều đường giao thông

Sau khi tiến hành xâm lược và bình định được vùng Tây Nguyên, thực dân Pháp bắt tay vào việc xây dựng bộ máy thống trị Sau khi ký thành lập tỉnh Đắk Lắk (22/11/1904), đồng thời chuyển tỉnh lỵ từ Bản Đôn về Buôn Ma Thuột Lúc mới thành lập, chỉ có cấp tỉnh, còn ở cấp dưới vẫn là các buôn làng của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ

Địa danh Buôn Ma Thuột là tên của một buôn đồng bào Ê Đê Kpă, vùng đất này vào cuối thế kỷ XIX chỉ có một buôn với khoảng năm chục nhà dài, mỗi nhà có từ 30 đến 40 người do người Tù trưởng Ama Thuột cai quản nằm bên dòng suối Ea Tam

Đến những năm đầu của thế kỷ XX, Buôn Ma Thuột không còn là một buôn đơn lẽ nữa mà đã quy tụ phát triển thêm hàng chục buôn khác Tuy nhiên, Buôn Ma Thuột vẫn

là một buôn lớn, trung tâm của cả vùng lúc bấy giờ và do tù trưởng Ama Thuột, một người có thế lực và uy tín cai quản Tên gọi Buôn Ma Thuột cũng bắt nguồn từ đó Buôn

Ma Thuột tức là làng của Ama Y Thuột - làng của cha Y Thuột (Tiếng Ê Đê: Ama có

Ngày đăng: 26/03/2017, 23:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Lao động bình quân trong khu vực nhà nước phân theo ngành kinh tế - Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm tại thành phố buôn mê thuột   tỉnh đắk lắk trong giai đoạn 2011 2015
Bảng 1 Lao động bình quân trong khu vực nhà nước phân theo ngành kinh tế (Trang 20)
Bảng 3: Dân số nữ trung bình phân theo địa phương: - Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm tại thành phố buôn mê thuột   tỉnh đắk lắk trong giai đoạn 2011 2015
Bảng 3 Dân số nữ trung bình phân theo địa phương: (Trang 21)
Bảng  4:  Lao  động  từ  15  tuổi  trở  lên  đang  làm việc  tại  thời  điểm  1/7  hàng  năm  phân theo thành phần kinh tế và ngành kinh tế: - Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm tại thành phố buôn mê thuột   tỉnh đắk lắk trong giai đoạn 2011 2015
ng 4: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm phân theo thành phần kinh tế và ngành kinh tế: (Trang 22)
Bảng 5: Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lƣợng lao động trong độ  tuổi năm 2008 phân theo vùng - Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm tại thành phố buôn mê thuột   tỉnh đắk lắk trong giai đoạn 2011 2015
Bảng 5 Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lƣợng lao động trong độ tuổi năm 2008 phân theo vùng (Trang 25)
Bảng 6: Lượng xuất khẩu lao động tại các thị trường - Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm tại thành phố buôn mê thuột   tỉnh đắk lắk trong giai đoạn 2011 2015
Bảng 6 Lượng xuất khẩu lao động tại các thị trường (Trang 28)
Bảng 8: Dân số trung bình năm 2004 – 2009 phân theo giới tính và phân theo thành  thị nông thôn - Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm tại thành phố buôn mê thuột   tỉnh đắk lắk trong giai đoạn 2011 2015
Bảng 8 Dân số trung bình năm 2004 – 2009 phân theo giới tính và phân theo thành thị nông thôn (Trang 32)
Bảng 7: Diện tích, dân số mật độ dân số năm 2009 - Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm tại thành phố buôn mê thuột   tỉnh đắk lắk trong giai đoạn 2011 2015
Bảng 7 Diện tích, dân số mật độ dân số năm 2009 (Trang 32)
Bảng 9: Cân đối lao động xã hội - Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm tại thành phố buôn mê thuột   tỉnh đắk lắk trong giai đoạn 2011 2015
Bảng 9 Cân đối lao động xã hội (Trang 39)
Bảng  11:  Lao  động  trong  độ  tuổi  đang  làm  việc  trong  các  ngành  kinh  tế  tại  thời  điểm 01-7 hàng năm phân theo ngành kinh tế - Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm tại thành phố buôn mê thuột   tỉnh đắk lắk trong giai đoạn 2011 2015
ng 11: Lao động trong độ tuổi đang làm việc trong các ngành kinh tế tại thời điểm 01-7 hàng năm phân theo ngành kinh tế (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w