1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông nghiệp Việt Nam - Chi nhánh thành phố Thanh Hóa

67 206 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 3,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, ngân hàng thương mại NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh tiền tệ - tín dụng, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho

Trang 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH

NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại

Thuật ngữ “ngân hàng” đã có từ rất lâu và hoạt động ngân hàng được chứng minh là gắn bó cùng với sự hình thành đời sống kinh tế xã hội loài người Từ thế kỷ 18 trở lại đây, đặc biệt là trong thời đại ngày nay, ngân hàng được xem như là “mạch máu” của nền kinh tế, hoạt động ngân hàng thể hiện sức mạnh và tiềm lực của nền kinh tế

Ở Việt Nam, theo Khoản 2 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Ngân

hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận”

“Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một

số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”

“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”

Như vậy, ngân hàng thương mại (NHTM) là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh tiền tệ - tín dụng, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân

1.1.2 Những hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại

Huy động vốn

Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng

- Huy động từ tiền gửi:

Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi là hình thức huy động vốn cổ điển và mang tính đặc thù của NHTM Đây là nguồn vốn quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn NHTM Do nhu cầu gửi tiền của khách hàng rất đa dạng nên để thu hút được

Trang 2

nhiều khách hàng gửi tiền, các NHTM đã thiết kế và phát triển nhiều loại sản phẩm tiền gửi khác nhau Các sản phẩm tiền gửi chính bao gồm:

+ Tiền gửi thanh toán: là hình thức huy động vốn của NHTM bằng cách mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng Số dư của tài khoản này nhằm duy trì khả năng thanh toán và chi trả của khách hàng ở bất cứ thời điểm nào Những lúc nhàn rỗi tạm thời, số dư này trở thành nguồn vốn của ngân hàng Tuy nhiên, do tài khoản tiền gửi này là loại tài khoản không kỳ hạn, khách hàng có thể rút tiền bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho ngân hàng nên ngân hàng rất khó kế hoạch hóa việc sử dụng loại tiền gửi này Chính vì vậy, loại tiền gửi này thường có lãi suất thấp hoặc thậm chí không có lãi suất

+ Tiền gửi tiết kiệm: đây là sản phẩm tiền gửi hướng tới đối tượng khách hàng là các cá nhân có nhu cầu gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng với mục tiêu an toàn và sinh lợi Tiền gửi tiết kiệm gồm 2 loại chính là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

Đối với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, khách hàng có thể gửi tiền và rút tiền bất

cứ lúc nào trong giờ giao dịch Tuy nhiên, khách hàng chỉ có thể thực hiện được các giao dịch ngân quỹ như gửi tiền và rút tiền chứ không thể thực hiện được các giao dịch thanh toán như đối với tài khoản tiền gửi thanh toán

Đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, các thủ tục mở tài khoản, theo dõi hoạt động

và tính lãi cũng tiến hành tương tự như tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, chỉ khác ở chỗ khách hàng chỉ được rút tiền gửi theo đúng kỳ hạn đã cam kết Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có lãi suất huy động cao hơn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

+ Tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội: đây là khoản tiền

tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội và được các đơn vị này gửi vào ngân hàng nhằm mục đích sinh lời Đây là nguồn chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu nguồn vốn cũng như trong cơ cấu vốn nói chung của NHTM Bởi lẽ trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình, các doanh nghiệp ít khi có một lượng vốn nhàn rỗi lớn trong một thời gian dài Tuy vậy nguồn vốn này vẫn không thể thiếu trong cơ cấu tạo nên nguồn vốn của một ngân hàng Cũng như tiền gửi có kỳ hạn nói chung, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế - xã hội khi gửi tiền vào ngân hàng cũng phải có

sự thoả thuận về kỳ hạn của khoản tiền đó

- Huy động từ nguồn vay mượn:

+ Vay trên thị trường vốn:

Thực chất là ngân hàng huy động vốn bằng việc phát hành các giấy tờ có giá

Trang 3

như: kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi Trong đó kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi là loại phiếu nợ ngắn hạn, trái phiếu là phiếu nợ trung và dài hạn Các loại giấy tờ có giá

đó được NHTM phát hành từng đợt với mục đích và số lượng cụ thể và được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chấp thuận Khả năng vay mượn tùy thuộc vào uy tín của ngân hàng, lãi suất và trình độ phát triển của thị trường tài chính

+ Vay từ Ngân hàng Nhà nước:

NHNN có thể cho các NHTM vay vốn ngắn hạn khi cần thiết dưới hình thức tái cấp vốn như: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu, thương phiếu

và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác; cho vay có đảm bảo bằng càm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác; cho vay bổ sung vốn trong thanh toán bù trừ; cho vay đặc biệt khi NHTM mất khả năng thanh toán có nguy cơ mất an toàn cho hệ thống + Vay từ các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại khác:

Đây là nguồn các NHTM vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu dự trữ chi trả cấp bách

Sử dụng vốn:

Huy động được vốn nhàn rỗi, NHTM phải cân nhắc để hiệu quả hoá những nguồn vốn huy động được Với mục tiêu chủ yếu là an toàn và sinh lời, hoạt động sử dụng vốn của NHTM tập trung ở ba hoạt động chính: cho vay, dự trữ và đầu tư Trong

đó hoạt động cho vay là hoạt động sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM Thông thường khoảng 60% - 75% thu nhập của ngân hàng là từ các hoạt động cho vay

- Cho vay:

Cho vay là hoạt động chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận Nguồn thu từ hoạt động cho vay thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu nhập của ngân hàng Tuy nhiên, nó cũng là lĩnh vực có nhiều rủi ro và phức tạp nhất Rủi ro cho vay có thể do ý muốn chủ quan của ngân hàng như: xây dựng chiến lược sai, thẩm định hồ sơ không chính xác, cho vay không tuân theo nguyên tắc, cũng có thể do nguyên nhân khách quan như: hoả hoạn, lũ lụt, Hoạt động cho vay liên quan chặt chẽ với tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế từ tiêu dùng đến sản xuất kinh doanh Do vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động cho vay ngày càng đa dạng nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện tăng lợi nhuận cho ngân hàng Các hình thức cho vay chủ yếu hiện nay là: cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn,

- Dự trữ:

Dự trữ là hoạt động nhằm duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng NHTM phải duy trì một bộ phận vốn (bằng tiền mặt)

Trang 4

để thực hiện nghiệp vụ dự trữ Mức dự trữ này cao hay thấp tuỳ thuộc vào quy mô hoạt động của NHTM, mối quan hệ thanh toán và chuyển khoản, thời vụ của các khoản chi trả tiền mặt

Tiền dự trữ bao gồm: dự trữ bắt buộc và dự trữ thặng dư Chúng được hình thành bởi các nguồn: tiền mặt tại két của NHTM, tiền gửi tại NHNN, tiền gửi ở các tổ chức tín dụng

- Đầu tư:

Hoạt động đầu tư chủ yếu của NHTM là đầu tư chứng khoán NHTM thực hiện hoạt động đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, nâng cao khả năng thanh khoản, đa dạng hoá các loại hình kinh doanh nhằm phân tán rủi ro Trong việc đầu tư vào chứng khoán, NHTM chủ yếu mua các trái phiếu kho bạc, các trái phiếu có tính thanh khoản cao Đây là những công cụ chính của thị trường tiền tệ tài chính Việc mua và dự trữ các loại trái phiếu này một mặt tạo ra thu nhập cho ngân hàng, mặt khác chúng là những công cụ tài chính dễ lưu động hoá, vì vậy khi cần tiền ngân hàng có thể bán hoặc chiết khấu ở ngân hàng khác hoặc ở NHNN

Hoạt động khác:

Ngoài hai hoạt động cơ bản là hoạt động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn thì NHTM cũng thực hiện các dịch vụ khác cho khách hàng của mình Các dịch vụ này khá đa dạng, tùy thuộc vào mức độ phát triển của ngân hàng Khi thực hiện các hoạt động này, ngân hàng không đứng vai trò là con nợ hay chủ nợ mà đứng ở vị trí trung gian để thoả mãn nhu cầu khách hàng về dịch vụ mà khách hàng cần Hoạt động này gồm rất nhiều loại dịch vụ khác nhau: như dịch vụ thu hộ chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản này từ tài khoản này đến tài khoản khác ở cùng một ngân hàng hay ở hai ngân hàng khác nhau; dịch vụ tư vấn cho khách hàng các vấn đề tài chính, dich vụ giữ hộ các chứng từ, vật quý giá dịch

vụ chi lương cho các doanh nghiệp có nhu cầu; dịch vụ khấu trừ tự động

1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại đối với hoạt động của nền kinh tế

Ngân hàng thương mại góp phần nâng cao hiệu quả và phát triển sản xuất kinh doanh

Để thực hiện và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải

có lượng vốn lớn nhằm tăng cường và đổi mới thiết bị công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến Trong điều kiện vốn của các doanh nghiệp không đủ thì các NHTM là một trong những kênh cung ứng vốn đầy đủ và kịp thời nhất cho các doanh nghiệp để thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh Từ đó có điều kiện phát triển

sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế - xã hội

Trang 5

Đồng thời, thông qua việc cung ứng vốn và các dịch vụ ngân hàng một cách nhanh chóng, thuận lợi góp phần thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển vốn, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với mọi thành phần kinh tế - xã hội.

Ngân hàng thương mại góp phần thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần rất nhiều vốn Trong khi ngân hàng thương mại – một trong những trung gian tài chính lớn của nền kinh tế có thể cung ứng vốn đáp ứng cao nhất cho sự chuyển dịch

cơ cấu đó Từ đó góp phần hữu hiệu vào việc chuyển dịch cơ cấu hợp lý giữa các

vùng, miền, ngành, lĩnh vực và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

Ngân hàng thương mại vừa là nơi tạo môi trường vừa là nơi thực thi chính sách tiền tệ quốc gia

Chính sách tiền tệ quốc gia do ngân hàng trung ương chủ trì xây dựng và điều hành thông qua việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ như lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở…NHTM chính là “môi trường” để ngân hàng trung ương sử dụng thực thi các công cụ này NHTM phải chấp hành những quy định của ngân hàng trung ương về các công cụ chính sách tiền tệ, là cầu nối chuyển tiếp các

tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế - xã hội

Thông qua việc thực thi các công cụ chính sách tiền tệ của NHTM, ngân hàng trung ương có thể cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế hoặc rút bớt tiền từ lưu thông về Đồng thời có những biện pháp thích hợp để thực thi chính sách tiền tệ hiệu quả nhất

Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa kinh tế quốc gia và kinh tế quốc tế Hội

nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế tất yếu Quan hệ giữa các nước trên mọi lĩnh vực đang ngày càng phát triển, nhất là trong quan hệ kinh tế NHTM với tiềm lực về vốn, với các dịch vụ ngân hàng hiện đại, đa dạng đang là cầu nối hỗ trợ có hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh cho mọi thành phần kinh tế của quốc gia với thị trường quốc tế, tạo cho các

cá nhân, các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội thực hiện các hợp đồng kinh tế, các

dịch vụ với đối tác nước ngoài một cách nhanh chóng thuận tiện và an toàn

1.2 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2014: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên

riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”

Hiện nay có rất nhiều tiêu chí để phân loại doanh nghiệp Căn cứ vào tính chất sở hữu tài sản doanh nghiệp được phân thành các loại: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty, hợp tác xã Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế

Trang 6

doanh nghiệp được phân thành: doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ Căn cứ vào quy mô doanh nghiệp được phân thành: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa Như vậy,

DNNVV là doanh nghiệp được phân loại dựa trên tiêu chí quy mô doanh nghiệp

Hiện nay, trên thế giới, khái niệm DNNVV không có một chuẩn mực cụ thể Ở mỗi quốc gia có những tiêu chuẩn, tiêu chí khác nhau để định nghĩa DNNVV Tùy vào điều kiện và tình hình kinh tế mà mỗi nước sẽ quy định riêng về DNNVV Các tiêu chí được sử dụng nhiều nhất để phân loại DNNVV là: số lao động, vốn đầu tư, tổng giá trị tài sản, doanh thu, tỷ lệ vốn góp…

Tại Việt Nam, DNNVV được phân loại theo tiêu chí phổ biến nhất là số lao động thường xuyên và vốn sản xuất, được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số

56/2009/NĐ - CP ban hành ngày 30/06/2009 của Chính phủ: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa

là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” Cụ thể được thể hiện ở bảng 1.1

Như vậy, DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo luật doanh nghiệp hiện hành, có vốn đăng ký không quá 100 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người

Bảng 1.1 Phân loại doanh nghiệp dựa trên số lao động và nguồn vốn

Quy mô Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏ

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Số lao động

Tổng nguồn vốn Số lao động

Tổng nguồn vốn

Số lao động

I Nông, lâm

nghiệp và thủy

sản

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến

100 tỷ đồng

từ trên 200 người đến

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến

100 tỷ đồng

từ trên 200 người đến

300 người III Thương

mại và dịch vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

50 người

từ trên 10 tỷ đồng đến 50

tỷ đồng

từ trên 50 người đến

100 người

(Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP)

Trang 7

1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa nên có tính năng động, linh hoạt

Quy mô nhỏ và vừa giúp các DNNVV có tính năng động, nhanh chóng thích nghi trước những biến động của thị trường và những thay đổi của nền kinh tế Điều này cũng giúp các DNNVV có khả năng tiếp cận và đáp ứng những nhu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực tốt hơn các doanh nghiệp lớn

Do vốn đầu tư nhỏ, vốn thiết bị công nghệ không lớn, các DNNVV dễ dàng đổi mới thiết bị, công nghệ và đối tượng kinh doanh để nâng cao chất lưọng, hạ giá thành sản phẩm Giá thành được coi là một trong những ưu thế lớn nhất của các DNNVV Với những mức giá linh hoạt khác nhau, các DNNVV có thể đưa ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu và phù hợp với túi tiền của mọi khách hàng Ngoài ra, DNNVV có thể dễ dàng chuyển hướng kinh doanh kịp thời khi gặp những điều kiện bất lợi trong kinh doanh và nền kinh tế có những biến động bất thường

Hệ thống tổ chức và quản lý ở các DNNVV gọn nhẹ, linh hoạt, tiết kiệm

đƣợc chi phí

Về mặt quản lý, việc ra các quyết định kinh doanh của các DNNVV không cần thông qua nhiều cấp, phòng ban nên khi gặp khó khăn mọi người đều có thể nhanh chóng giải quyết.Với cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, số lượng nhân viên tương đối ít sẽ đảm bảo sự thống nhất trong các quyết sách từ lãnh đạo cho đến nhân viên Từ đó, quá trình triển khai và thực hiện các kế hoạch kinh doanh cũng sẽ dễ dàng hơn Việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý, kiểm tra, giám sát trong DNNVV tương đối gọn, không có quá nhiều khâu trung gian Đặc điểm này tiết kiệm chi phí quản lý cho doanh

nghiệp và làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Chất lƣợng lao động và trình độ quản lý hạn chế

Lao động trong các DNNVV chủ yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo bài bản Đội ngũ quản lý của DNNVV có trình độ và khả năng quản trị kinh doanh yếu so với yêu cầu Đa số các chủ DNNVV, ngay cả những người có trình độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên thì cũng ít người được đào tạo về kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp Theo số liệu thống kê, có tới 55,63% số chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn

từ sơ cấp và phổ thông các cấp Về lực lượng lao động, có tới 75% lực lượng lao động trong các DNNVV chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật Hầu hết các DNNVV không có khả năng thu hút nguồn lao động có chất lượng cao bởi không đáp ứng được môi trường, điều kiện làm việc, mức lương thưởng như các doanh nghiệp lớn

Trang 8

Khả năng tiếp cận và xử lý thông tin trên thị trường còn kém

Do quy mô nhỏ, hoạt động trong phạm vi hẹp nên khả năng tiếp cận và xử lý thông tin của DNNVV là hạn chế, gây trở ngại cho quá trình phân tích và đưa ra dự đoán chiến lược kinh doanh cụ thể cho doanh nghiệp Đa số các DNNVV hiện nay thiếu thông tin và vẫn bị lép vế trong các mối quan hệ (với nhà nước, thị trường, ngân hàng, với các trung tâm khoa học và trung tâm đào tạo….) Trong thời đại hiện nay, vấn đề thông tin là một yếu tố quan trọng đối với sự thành công và thất bại của doanh nghiệp Việc tiếp cận và ứng dụng Internet vào hoạt động kinh doanh của các DNNVV

hạn chế hơn các công ty lớn do họ không đủ khả năng chuyên môn cũng như chi phí Khả năng cạnh tranh chưa cao

Năng lực về thị trường của các DNNVV còn yếu, thị trường tiêu thụ sản phẩm nhỏ bé, không có chiến lược kinh doanh dài hạn và ổn định cũng như kế hoặch chi tiết dài hạn về phát triển thị trường là những yếu tố khiến khả năng cạnh tranh của DNNVV còn thấp

Khả năng tiếp cận nguồn vốn thấp

Vấn đề quan trọng hiện nay của các DNNVV là thiếu vốn sản xuất và quy mô vốn bình quân của một doanh nghiệp là quá nhỏ Nhà nước đã có chính sách hỗ trợ các DNNVV vay vốn tín dụng nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này gặp nhiều trở ngại Do tài sản đảm bảo của các DNNVV có giá trị thế chấp nhỏ, không có khả năng bảo lãnh tín dụng Hiện chỉ có khoảng hơn 30% DNNVV có khả năng tiếp cận và được vay vốn thường xuyên, còn lại phần lớn rất khó hoặc không thể tiếp cận tín dụng ngân hàng Phần lớn các DNNVV còn gặp các trở ngại như: trở ngại do thủ tục vay (hồ sơ vay vốn phức tạp, không đủ thủ tục vay vốn đơn giản cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa); trở ngại yêu cầu thế chấp (thiếu tài sản có giá trị cao để thế chấp, ngân hàng không đa dạng hóa tài sản thế chấp như hàng trong kho, các khoản thu…); tỷ lệ lãi suất chưa phù hợp; các điều kiện vay vốn hiện nay chưa phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Như vậy đối với các DNNVV thì vấn đề lớn nhất chính là vấn đề thiếu vốn Giải quyết được vấn đề này đồng nghĩa với việc nâng cao trình độ công nghệ, năng lực

cạnh tranh cho các doanh nghiệp này

1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế

DNNVV góp phần làm tăng tổng thu nhập quốc nội, giải quyết việc làm và góp phần làm ổn định xã hội

Do các DNNVV phân bố rộng khắp trên cả nước nên thu hút lực lượng lao động

từ nông thôn đến thành thị Hiện nay, cả nước có khoảng trên 500 nghìn DNNVV, chiếm 97,5% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động Hàng năm, các DNNVV đóng góp

Trang 9

khoảng 40% GDP và thu hút 51% lực lượng lao động của cả nước Các DNNVV chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, lao động chân tay, sản xuất thủ công nên cần rất nhiều lao động Khi có việc làm, đời sống của người lao động ngày càng được cải

thiện, các tệ nạn xã hội sẽ có chiều hướng giảm, góp phần ổn định xã hội phát triển

DNNVV cung cấp ngày càng lớn và đa dạng sản phẩm phục vụ cho đời sống

và xuất khẩu

DNNVV là bộ phận doanh nghiệp năng động, hoạt động trong rất nhiều lĩnh vực, nhạy cảm với sự biến động của thị trường Những lĩnh vực hoạt động chính của các DNVN là ngành nghề thủ công truyền thống, mỹ nghệ, giầy da, may mặc, sản xuất gia công chế biến, đại lý khai thác những sản phẩm cho xuất khẩu Đây là một yếu tố đặc

biệt nổi bật của các DNVN

DNNVV góp phần lớn vào sự phát triển kinh tế địa phương, khai thác tiềm năng thế mạnh của vùng

Chỉ có các DNNVV hoạt động trên khắp các vùng miền địa phương mới có điều kiện hiểu rõ về tiềm năng cũng như thế mạnh riêng có của từng vùng Cùng với các lĩnh vực hoạt động chính vốn có cộng với sự năng động của chính mình thì các DNNVV có những điều kiện và cơ sở để phát huy những thế mạnh của vùng Ngoài ra, các DNNVV còn có điều kiện khai thác triệt để nguồn nguyên nhiên liệu trong vùng, tránh tình trạng lãng phí cho xã hội Do sự phân bố của các DNNVV là rộng khắp trên

cả nước nên có thể khai thác nguồn nguyên liệu riêng lẻ, trong khi đó các doanh nghiệp lớn thì chỉ thường tập trung khai thác nguồn nguyên liệu, hạn chế về khu vực địa lý nên khó tiếp cận với nguồn nguyên liệu Trên thực tế, nhiều DNNVV lại trở thành đầu mối thu gom nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp lớn hoặc thực hiện một

số công đoạn khác như chế biến, đóng gói…các công đoạn dịch vụ khác cho doanh

nghiệp lớn

Thêm vào đó, các DNNVV cũng góp phần khôi phục, duy trì và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống bởi mô hình DNNVV phù hợp với điều kiện sản

xuất kinh doanh của làng nghề thủ công

DNNVV góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, thúc đẩy đô thị hoá

Hiện nay, các DNNVV ngày càng phát triển ở các ngành dịch vụ, công nghiệp, giảm bớt tỷ trọng nông nghiệp, đặc biệt là ở vùng nông thôn Một bộ phận lớn lao động trong ngành nông nghiệp đã được thu hút và chuyển sang làm các ngành công nghiệp, dịch vụ cho các DNNVV ngay tại các địa phương chứ không cần phải chuyển lên các khu vực thành thị, gây áp lực về các vấn đề xã hội lên khu vực đô thị

Trang 10

1.3 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.3.1 Khái niệm cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo Khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Cho vay là một

hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền

để sử dụng vào mục đích nhất định trong thời gian nhất định theo sự thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi”

Như vậy, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa là hình thức ngân hàng cấp vốn cho các DNNVV trên cơ sở các doanh nghiệp này đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về điều kiện vay vốn của ngân hàng Điều kiện vay vốn đối với các DNNVV bao gồm:

- Doanh nghiệp có năng lực pháp luật dân sự

- Doanh nghiệp có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

- Doanh nghiệp có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cho phép

- Doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về đảm bảo tiền vay theo đúng quy định của pháp luật

- Doanh nghiệp có dự án đầu tư, phương án kinh doanh khả thi và hiệu quả

Vay vốn là nhu cầu tự nguyện của doanh nghiệp và là cơ hội để ngân hàng cho vay và thu lợi nhuận từ hoạt động này Hoạt động cho vay đối với DNNVV phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định đó là:

- Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng:

Về phía ngân hàng, trước khi cho vay cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của doanh nghiệp, đồng thời trong quá trình cho vay phải kiểm tra xem doanh nghiệp có sử dụng vốn vay đúng như mục đích đã cam kết hay không Điều này để tránh tình trạng doanh nghiệp sử dụng vốn vay không đúng mục đích dẫn đến thất thoát và lãng phí vốn vay, ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ Về phía doanh nghiệp, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng hoàn trả nợ cho ngân hàng từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với ngân hàng

- Hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng: Hoàn trả nợ gốc và lãi vay là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động cho vay Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền Do đó, sau khi cho vay trong một thời hạn nhất định, khách hàng vay vốn phải hoàn trả lại cho ngân hàng để ngân hàng hoàn trả lại cho khách hàng gửi tiền Hơn nữa bản chất của quan hệ cho vay là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn vay nên sau một thời gian nhất định vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi

Trang 11

1.3.2 Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ

và vừa

Hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng rất đa dạng với các tiêu chí phân loại khác nhau Để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn và nhu cầu vốn trung và dài hạn của DNNVV, NHTM có các hình thức cho vay ngắn hạn và cho vay trung và dài hạn tương ứng Dưới đây là một số hình thức cho vay ngắn hạn và cho vay trung và dài hạn phổ biến của các NHTM:

Cho vay ngắn hạn

- Cho vay từng lần:

Đây là hình thức cho vay khá phổ biến của NHTM đối với các khách hàng không

có nhu cầu vốn thường xuyên

Đối với hình thức này doanh nghiệp phải tiến hành đầy đủ các thủ tục cần thiết

và ký kết hợp đồng tín dụng mỗi lần vay vốn Khi có nhu cầu, doanh nghiệp đến ngân hàng xin vay một khoản tiền cho mục đích sử dụng của doanh nghiệp như: thanh toán tiền hàng, nguyên vật liệu, chi phí sản xuất kinh doanh…

Số tiền cho vay của ngân hàng được xác định dựa trên nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, tài sản đảm bảo và khả năng hoàn trả của doanh nghiệp cũng như khả năng nguồn vốn của ngân hàng Thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ được xác định tùy thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Theo từng kỳ hạn trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng vốn vay, nếu thấy dấu hiệu vi phạm hợp đồng ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn

- Cho vay theo hạn mức tín dụng:

Là hình thức cho vay mà ngân hàng và doanh nghiệp xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định Hạn mức tín dụng là mức nợ tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định mà ngân hàng và doanh nghiệp đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng

Hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng thường được áp dụng đối với các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn – trả nợ thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh và có uy tín với ngân hàng Hạn mức tín dụng được xác định trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh và nhu cầu vốn vay của doanh nghiệp

Trong kỳ khách hàng có thể thực hiện vay và trả nhiều lần song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng Mỗi lần vay, doanh nghiệp chỉ cần trình bày phương

án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ cần thiết Sau khi kiểm tra tính hợp pháp và hợp

lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ chi tiền cho khách hàng

Trang 12

Với hình thức cho vay này, ngân hàng không xác định trước kỳ hạn trả nợ và thời hạn tín dụng Khi doanh nghiệp có thu nhập ngân hàng sẽ thu nợ do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho doanh nghiệp Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay mà chỉ có thể phát hiện vấn đề khi doanh nghiệp nộp báo cáo tài chính hay dư nợ lâu không giảm sút

- Cho vay luân chuyển:

Là nghiệp vụ cho vay dựa vào sự luân chuyển hàng hóa Khi doanh nghiệp mua hàng có thể sẽ gặp phải tình trạng thiếu hụt vốn tạm thời, do đó doanh nghiệp có thể yêu cầu ngân hàng cho vay và ngân hàng sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán được hàng Đầu thời kì kinh doanh, doanh nghiệp muốn vay vốn cần làm đơn xin vay luân chuyển Doanh nghiệp và ngân hàng sẽ thỏa thuận về hạn mức tín dụng, phương thức giải ngân, trả nợ, các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ Hạn mức tín dụng có thể được thỏa thuận trong một hay vài năm Đây là thời hạn để ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với doanh nghiệp và quyết định sẽ cho vay nữa hay không tùy thuộc vào mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp

Việc cho vay dựa vào sự luân chuyển của hàng hóa nên đòi hỏi cả ngân hàng và doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch luân chuyển hàng hóa, phân tích được luồng tiền ra vào của doanh nghiệp Khi có nhu cầu vay vốn, doanh nghiệp gửi đến ngân hàng các chứng từ hóa đơn chứng minh việc mua bán hàng hóa và số tiền cần vay Sau đó ngân hàng sẽ xem xét cho vay hay không và trả tiền cho người bán, theo hình thức này thu nhập bán hàng là nguồn chi trả cho ngân hàng Hình thức cho vay này thường được áp dụng đối với những doanh nghiệp trong ngành thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ thường xuyên với ngân hàng Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ dựa trên khối lượng hàng hóa và chất lượng quan hệ nợ nần của doanh nghiệp

- Cho vay thấu chi:

Là nghiệp vụ ngân hàng cho DNNVV vay qua đó ngân hàng cho phép doanh nghiệp được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định của chu kỳ kinh doanh Khách hàng có thể đi vay và trả nợ nhiều lần trong kỳ Hình thức cho vay này phần lớn không có đảm bảo bằng tài sản và thường được áp dụng với khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu ngân ngắn Nghiệp

vụ này đơn giản và doanh nghiệp có thể kiểm soát từng lần vay

Cho vay trung và dài hạn

- Cho vay theo dự án đầu tư:

Trang 13

Đây là hình thức cho vay qua đó ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục

- Cho vay có đảm bảo:

Đây là hình thức cho vay trong đó doanh nghiệp phải có có tài sản thế chấp, cầm

cố của bên thứ ba mới được ngân hàng chấp thuận cho vay Loại hình cho vay này sẽ hạn chế bớt rủi ro cho ngân hàng đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm trả nợ của doanh nghiệp Đối với DNNVV đây là hình thức vay vốn tương đối dễ áp dụng và trên thực tế được các DNNVV sử dụng thường xuyên Tuy nhiên, một trong những khó khăn của DNNVV là phải chứng minh được quyền sở hữu đối với những tài sản đem cầm cố, thế chấp

- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng:

Ở hình thức cho vay này, NHTM cam kết đảm bảo cho DNNVV vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để đầu tư cho dự án Ngân hàng và doanh nghiệp thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng được áp dụng trong trường hợp DNNVV cần chủ động về vốn cho việc thực hiện các dự án đầu tư trong tương lai

1.3.3 Vai trò của hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Đảm bảo cho hoạt động của các DNNVV đƣợc liên tục

Nền kinh tế thị trường đầy cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp luôn cần phải cải tiến kỹ thuật thay đổi mẫu mã mặt hàng, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị để tồn tại đứng vững và phát triền Trên thực tế, các doanh nghiệp không thể đảm bảo đủ 100% vốn cho như cầu sản xuất kinh doanh Vốn vay từ ngân hàng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị, cải tiến phương

thức kinh doanh từ đó tạo điều kiện cho quá trình hoạt động kinh doanh được liên tục Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNNVV

Khi sử dụng nguồn vốn của ngân hàng, các DNNVV phải tôn trọng hợp đồng cho vay, phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không Do đó đòi hỏi các

Trang 14

doanh nghiệp muốn vay vốn của ngân hàng phải có phương án sản xuất kinh doanh khả thi Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ cần thu hồi

đủ vốn mà còn phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả để tăng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi Trong quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và hiệu quả

Góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DNNVV

Hiện nay, để thực hiện các quyết định đầu tư, doanh nghiệp có thể sử dụng vốn

từ hai nguồn chính là: vốn tự có và vốn đi vay Đối với các DNNVV do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì vốn hạn hẹp và nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm khó được thị trường chấp nhận Do đó, doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lí, nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay

nhằm tối đa hóa lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất

Tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của DNNVV

Đối với các DNNVV, do một số hạn chế nhất định nên việc chiếm lĩnh ưu thế cạnh tranh trước các doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài là một vấn đề khó khăn Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp này là tăng cường liên doanh, liên kết tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị trang thiết bị kỹ thuật hiện đại để tăng khả năng cạnh tranh Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển khi vốn tự có hạn hẹp, khả năng tích lũy thấp thì phải mất nhiều năm mới thực hiện được, khi đó cơ hội đầu tư phát triển không còn nữa Để có thể nắm bắt cơ hội, các DNNVV có thể tìm đến vốn vay ngân hàng để tập trung vốn sản xuất, mở rộng

quy mô từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

1.4 Chất lượng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại

1.4.1 Khái niệm chất lượng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chất lượng cho vay được hiểu là sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng (người vay tiền); sự phù hợp của khoản vay với sự phát triển kinh tế, xã hội; đảm bảo sự tồn tại phát triển của ngân hàng Chất lượng cho vay là một khái niệm vừa cụ thể: thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận, nợ quá hạn, rủi ro cho vay, doanh thu từ hoạt động cho vay, tỷ

lệ dự phòng rủi ro vừa mang tính trừu tượng: thể hiện ở việc thu hút khách hàng, khả năng cạnh tranh, thời gian phục vụ, số lượng sản phẩm cung cấp Chất lượng cho vay

thể hiện trên nhiều khía cạnh:

- Đối với NHTM: chất lượng cho vay thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn cho vay phải phù hợp với khả năng thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi

Trang 15

- Đối với DNNVV: chất lượng cho vay được thể hiện ở sự hợp lý của lãi suất, kỳ hạn cho vay của khoản vay đối với kế hoạch, mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp Thêm vào đó là thủ tục vay đơn giản, thuận tiện nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc cho vay

- Đối với nền kinh tế: chất lượng cho vay được đánh giá qua mức phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác các khả năng tiềm tàng của nền kinh tế, thúc đấy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng cho vay

Chất lượng cho vay được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được nhiều khách hàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an toàn vốn tín dụng, chi phí về tổng thể lãi suất, chi phí nghiệp vụ…

Chất lượng cho vay được hình thành và bảo đảm từ hai phía là ngân hàng và khách hàng Bởi vậy, chất lượng hoạt động của ngân hàng không những phụ thuộc vào bản thân của ngân hàng mà còn phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của doanh nghiệp Chất lượng cho vay chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan (khả năng quản lý, trình độ cán bộ ) và khách quan (sự thay đổi của môi trường bên ngoài) Khuynh hướng phát triển của nền kinh tế, sự thay đổi của giá cả thị trường cũng như môi trường pháp lý đều ảnh hưởng tới chất lượng cho vay

1.4.2 Sự cần thiết của nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.4.2.1 Đối với nền kinh tế

Hiện nay, mức độ đóng góp của DNNVV vào nền kinh tế ngày càng lớn: không chỉ tăng trưởng về mặt số lượng, các DNNVV đang trở thành bộ phận quan trọng có đóng góp đáng kể cho nền kinh tế Đây là bộ phận có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá, cung ứng dịch vụ, là các vệ tinh gắn kết, hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế Phát triển DNNVV đang

là vấn đề được Đảng và Nhà nước rất chú trọng, được coi là một trong những nhiệm

vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta.Việc nâng cao chất lượng cho vay DNNVV sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này tiếp cận nguồn vốn hiệu quả hơn để phát triển mạnh mẽ hơn nữa, góp phần phát triển nền kinh tế

1.4.2.2 Đối với ngân hàng thương mại

Trong tổng thể các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, hoạt động cho vay luôn giữ vai trò quan trọng, tạo ra phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng Đảm bảo chất lượng cho vay đem đến lợi ích cho các NHTM, cụ thể là:

- Việc nâng cao chất lượng cho vay sẽ góp phần đảm bảo và làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng, bởi cho vay là nghiệp vụ mang lại doanh thu chủ yếu cho ngân hàng

Trang 16

- Nâng cao chất lượng cho vay đồng nghĩa với việc ngân hàng có khả năng thu hồi nợ đầy đủ và đúng hạn Nhờ đó, ngân hàng có điều kiện mở rộng khả năng cung cấp tín dụng cũng như các dịch vụ ngân hàng khác do tạo được thêm nguồn vốn từ việc tăng vòng quay vốn tín dụng

- Nâng cao chất lượng cho vay sẽ giúp cho ngân hàng thu hút được nhiều khách hàng hơn bằng các hình thức và chất lượng của sản phẩm, qua đó tạo ra một hình ảnh tốt về biểu tượng và uy tín của ngân hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường

Các kết quả thu được từ việc nâng cao chất lượng cho vay kể trên sẽ góp phần cải thiện tình hình tài chính của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong quá trình cạnh tranh Vì vậy, việc nâng cao chất lượng cho vay là một tất yếu khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của bản thân các NHTM

1.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.4.3.1 Chỉ tiêu định tính

Các chỉ tiêu định tính là các chỉ tiêu không lượng hóa được vì vậy khó có thể đưa

ra các tiêu chuẩn cụ thể cho các chỉ tiêu định tính Một số chỉ tiêu định tính thường dùng để đánh giá chất lượng cho vay là:

Uy tín của ngân hàng

Môi trường kinh doanh ngân hàng là một môi trường đầy tính cạnh tranh, các sản phẩm dịch vụ kinh doanh ngân hàng hầu như không có nhiều sự khác biệt vì vậy uy tín của ngân hàng là rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Ngân hàng có uy tín sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đặc biệt là các khách hàng có chất lượng đồng thời tìm kiếm được nhiều khách hàng có tiềm năng tốt Từ đó làm tăng khả năng huy động vốn, khả năng cho vay và hạn chế được rủi ro cho vay của ngân hàng

Việc tuân thủ các quy chế, quy định cho vay của ngân hàng

Hoạt động cho vay của các ngân hàng phải tuân thủ các quy định luật pháp của Nhà nước như: luật các tổ chức tín dụng, luật ngân hàng nhà nước…Khi tiến hành hoạt động cho vay phải đảm bảo tuân thủ các quy trình, nguyên tắc cho vay vì nó giúp phòng ngừa rủi ro, giúp đánh giá chính xác chất lượng cho vay

Quy trình cho vay

Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cho vay Trong đó chỉ rõ cách làm, trình tự các bước từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cho vay đến khi chấm dứt quan hệ cho vay

Quy trình cho vay khoa học, hợp lý sẽ giúp quá trình cho vay hiệu quả hơn và giảm bớt được thời gian cũng như chi phí Việc thực hiện tốt các nội dung, quy định

Trang 17

trong từng bước cùng với việc phân tích tín dụng hiệu quả sẽ giúp ngân hàng tránh được rủi ro, chất lượng cho vay sẽ được đảm bảo Thông qua kiểm soát thực hiện quy trình cho vay, ngân hàng có thể kiểm soát được những rủi ro khi cho vay

Năng lực phục vụ của nhân viên ngân hàng

Sự thành công trong hoạt động cho vay phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, trình

độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng (CBTD) vì họ là những người thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với khách hàng CBTD có tinh thần, tác phong phục vụ tốt sẽ tạo được thiện cảm và gây ấn tượng tốt cho khách hàng CBTD có năng lực chuyên môn cao sẽ đưa ra những kết quả thẩm định đúng đắn, giảm thiểu rủi ro cho vay của ngân hàng đồng thời tư vấn, hỗ trợ khách hàng hoàn thiện thủ tục, hồ sơ vay vốn nhanh chóng và đảm bảo đúng quy định

Khả năng trả nợ của doanh nghiệp

Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ cho vay, để quyết định bỏ vốn đầu tư vào một dự án nào đó, ngân hàng sẽ phải tiến hành đánh giá khả năng trả được gốc và lãi của doanh nghiệp được cho vay Hoạt động cho vay luôn mang tính rủi ro cao bởi khả năng trả nợ của doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV luôn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu

tố khác nhau mà ngân hàng cũng như doanh nghiệp không thể lường trước được Việc không trả được nợ của doanh nghiệp sẽ kéo theo hậu quả nghiêm trọng cho ngân hàng Ngân hàng đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán thậm chí có thể dẫn đến phá sản Vì vậy trước khi quyết định cho vay, ngân hàng phải tiến hành thẩm định thật kỹ doanh nghiệp để đánh giá đúng khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp, từ đó mới đưa ra quyết định có nên cho vay đối với doanh nghiệp đó hay không

Hiệu quả xã hội của khoản vay

Hoạt động cho vay không nên chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận mà còn phải đảm bảo hiệu quả xã hội Có nghĩa là hoạt động cho vay phải góp phần thúc đấy hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm cho người lao động,…gián tiếp đóng góp vào

sự phát triển của kinh tế - xã hội NHTM cần cân bằng mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và ổn định kinh tế xã hội Tuy nhiên, đây là một chỉ tiêu khó có thể đánh giá chính xác

1.4.3.2 Chỉ tiêu định lượng

Số lƣợng khách hàng vay vốn

Chỉ tiêu này phản ánh số lượng khách hàng có hợp đồng vay với ngân hàng qua các thời kỳ, cho thấy khả năng thu hút khách hàng cũng như khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường trong thời gian nhất định

Trang 18

Chỉ tiêu dư nợ cho vay

Tỷ trọng dư nợ cho vay

Dư nợ cho vay DNNVV

x 100% Tổng dư nợ cho vay

Chỉ tiêu này phản ánh dư nợ cho vay của DNNVV chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng Tỷ trọng dư nợ cho vay đối với DNNVV cao cho thấy ngân hàng chú trọng phát triển hoạt động cho vay DNNVV Chỉ tiêu này chịu tác động của chính sách cho vay của ngân hàng trong từng thời kỳ cụ thể

Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng cho vay

Tốc độ tăng trưởng cho vay =

Dư nợ cho vay DNNVV năm sau

x 100%

Dư nợ cho vay DNNVV năm trước Chỉ tiêu này phản ánh mức tăng trưởng hoạt động cho vay đối với DNNVV của ngân hàng Dư nợ cho vay năm sau cao hay thấp hơn năm trước cho thấy quy mô cho vay DNNVV của ngân hàng tăng hay giảm

Theo khoản 5 điều 2 thông tư số 22/VBHN – NHNN năm 2014 của Ngân hàng

Nhà nước: “Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã

quá hạn” Phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề, nợ khó đòi hay

nợ có khả năng mất vốn Ngân hàng có càng nhiều khoản nợ quá hạn thì chất lượng cho vay càng thấp và ngược lại

Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn cho biết các khoản nợ quá hạn cho vay DNNVV chiếm bao nhiêu phần trăm tổng dư nợ cho vay DNNVV Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng cho vay của ngân hàng Nó cho thấy khả năng thu hồi vốn đối với các khoản vay cũng như rủi ro trong hoạt động cho vay tại ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao chứng tỏ chất lượng cho vay DNNVV

Theo Khoản 1 Điều 6 thông tư số 22/VBHN - NHNN của Ngân hàng Nhà nước năm 2014 các khoản nợ được phân loại như sau:

Trang 19

“Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ trong hạn; các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày”

“Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến dưới 30 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu”

“Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng”

“Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ mất vốn) bao gồm: các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến dưới 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai”

“Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: các khoản nợ quá hạn từ 180 ngày trở lên; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn”

Cũng theo thông tư này: “Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”

Chỉ tiêu này phản ánh nợ xấu cho vay DNNVV chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ cho vay DNNVV Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu cho thấy mức độ an toàn trong hoạt động cho vay DNNVV của ngân hàng Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ hiệu quả cho vay của ngân hàng càng cao và ngược lại

Chỉ tiêu tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay

Tỷ trọng thu nhập từ hoạt

động cho vay DNNVV =

Thu nhập từ hoạt động cho vay DNNVV

x100% Tổng thu nhập của ngân hàng

Chỉ tiêu này phản ánh phần trăm thu nhập cho vay đối với DNNVV trong tổng thu nhập của ngân hàng Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản mang lại thu nhập cho ngân hàng Do đó, để đánh giá chất lượng cho vay DNNVV phải xem xét để tỷ trọng thu nhập của hoạt động cho vay DNNVV trong tổng thu nhập của ngân hàng Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay DNNVV càng cao chứng tỏ khả năng sinh lời từ hoạt động cho vay này càng lớn cho thấy chất lượng cho vay đối với DNNVV càng cao và ngược lại

Trang 20

Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng đối với DNNVV

Vòng quay vốn tín dụng

Doanh số thu nợ DNNVV

Dư nợ DNNVV bình quân Vòng quay vốn tín dụng phản ánh số vòng chu chuyển vốn tín dụng của ngân hàng đối với DNNVV Vòng quay vốn càng cao chứng tỏ nguồn vốn vay ngân hàng luân chuyển càng nhanh cho thấy nguồn vốn ngân hàng bỏ ra đã được sử dụng một cách có hiệu quả, tiết kiệm chi phí, tạo ra lợi nhuận lớn cho ngân hàng Ngược lại, chỉ tiêu này thấp cho thấy có những bất ổn có thể xảy ra trong quá trình thu hồi vốn Từ đó ngân hàng sẽ có những động thái khắc phục tình hình để hạn chế rủi ro xảy ra

Chỉ tiêu tỷ lệ xử lý tài sản đảm bảo

Tỷ lệ xử lý tài

sản đảm bảo DNNVV

xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ cho thấy chất lượng công tác thẩm định, phân tích khách hàng, dự án, phương án kinh doanh, công tác kiểm tra giám sát của ngân hàng đối với khoản nợ vay không tốt, dẫn đến rủi ro cho vay cho ngân hàng

Trang 21

1.4.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.4.4.1 Nhân tố từ phía ngân hàng

Chính sách cho vay

Chính sách cho vay của một NHTM là hệ thống các biện pháp liên quan đến việc

mở rộng hay thu hẹp cho vay để đạt được mục tiêu đã hoạch định của ngân hàng Chính sách cho vay là hướng dẫn chung cho CBTD, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong công tác cho vay nhằm hạn chế rủi

ro và nâng cao khả năng sinh lời Chính sách cho vay có vai trò quan trọng trong việc tạo sự thống nhất và sự hiệu quả của hoạt động cho vay nói chung cũng như cho vay đối với DNNVV nói riêng Bởi vậy, chính sách cho vay có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cho vay của ngân hàng

Chính sách cho vay bao gồm các quy định của ngân hàng về hạn mức cho vay tối

đa với một khách hàng, kỳ hạn của khoản vay, chính sách lãi suất, nguyên tắc và điều kiện vay vốn, các hạn mức kiểm soát rủi ro cho vay,… Chính sách cho vay của ngân hàng thường thay đổi qua từng thời kì, phụ thuộc vào sự điều tiết vĩ mô của Ngân hàng Trung ương và khả năng, điều kiện của bản thân các ngân hàng

Các chính sách cho vay đảm bảo cho hoạt động cho vay đi đúng hướng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của hoạt động cho vay nói chung và hoạt động cho vay đối với DNNVV nói riêng Chính sách cho vay càng được xây dựng

cụ thể, chi tiết và khoa học càng giúp ngân hàng nâng cao chất lượng cho vay Một chính sách cho vay đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng vay vốn và tạo được những khoản vay có chất lượng cao

Chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng

Con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của bất kỳ một tổ chức nào, trong đó có ngân hàng Trong hoạt động cho vay, cán bộ tín dụng là người tham gia trực tiếp vào tất cả các bước của quy trình cho vay Muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao chất lượng hoạt động cho vay, ngân hàng cần phải có một đội ngũ cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, được đào tạo có

hệ thống Ngoài ra, CBTD phải có tư cách đạo đức bởi nếu CBTD thiếu trách nhiệm hoặc cố tình vi phạm quy định cho vay sẽ bỏ qua những khách hàng tiềm năng, chấp nhận cho vay những khách hàng không đủ tiêu chuẩn làm giảm chất lượng cho vay cũng như uy tín của ngân hàng

Chất lượng thông tin tín dụng

Chất lượng thông tin tín dụng là một nhân tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng Trước khi quyết định cấp tín dụng cho

Trang 22

DNNVV, ngân hàng phải có được thông tin cần thiết liên quan đến đối tượng khách hàng để đánh giá khả năng trả nợ của họ Thông tin tín dụng bao gồm những thông tin

về tình hình pháp lý, tình hình tài chính, tình hình dư nợ, tình hình tài sản đảm bảo tiền vay và các thông tin khác Những thông tin này có thể được cung cấp từ nhiều nguốn như: thông tin lấy sẵn từ hỗ sơ khách hàng, thông tin lấy từ cơ quan quản lý (tổng cục thống kê, thuế, cơ quan chủ quản, chính quyền địa phương), thông tin qua điều tra, phỏng vấn và các nguốn khác (Báo cáo tổng kết, truyền hình…) Ngoài ra, ngân hàng cũng cần quan tâm đến tình hình kinh tế xã hội xu hướng phát triển cạnh tranh của ngành nghề, những yếu tố có thể thay đối hay ảnh hưởng đến dự án cho vay trong tương lai

Nhờ có thông tin tín dụng, ngân hàng có thể đưa ra những quyết định cần thiết và phù hợp có liên quan đến cho vay, theo dõi và quản lý khoản vay Vì vậy, thông tin càng nhanh nhạy, đầy đủ, chính xác và toàn diện thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh càng lớn, chất lượng cho vay càng cao

1.4.4.2 Nhân tố từ phía doanh nghiệp

Năng lực tài chính của doanh nghiệp

Năng lực tài chính của doanh nghiệp không những ảnh hưởng đến bản thân doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng Doanh nghiệp muốn vay vốn ngân hàng thì đòi hỏi phải có đủ năng lực tài chính để trả nợ Mặt khác, khi vay được vốn của ngân hàng rồi, nếu doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả

sẽ không phát huy được nguồn vốn vay của ngân hàng, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng Do đó, ngân hàng cần đánh giá đúng tình hình tài chính cũng như khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV để đưa

ra được quyết định cho vay đúng đắn, tránh được rủi ro đồng thời đem lại lợi nhuận cho ngân hàng

Trình độ quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp

Do trình độ của nhiều nhà lãnh đạo còn nhiều hạn chế về học vấn kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế nên nhiều khi họ không dự đoán được các biến động của thị trường, yếu kém trong khâu marketing sản phẩm… Do sự bảo thủ, không dám đổi mới làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp kém hiệu quả, dẫn đến tình trạng ngân hàng không thu hồi được khoản cho vay

Sự trung thực của doanh nghiệp

Sự trung thực của doanh nghiệp cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng Nhiều DNNVV mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, họ sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để lừa gạt ngân hàng làm cho

Trang 23

ngân hàng không xác định được chính xác về mục đích sử dụng vốn của doanh ngiệp, gây ra rủi ro cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ Hoặc có thể do yếu kém về quản trị, không ít DNNVV lập báo cáo tài chính không minh bạch, cung cấp thông tin không chính xác, không trung thực cho ngân hàng Điều này khiến cho ngân hàng khó khăn trong việc theo dõi tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do vậy hoạt động cho vay đối với DNNVV có thể gặp rủi ro

1.4.4.3 Nhân tố từ môi trường kinh tế

Chu kỳ kinh tế

Chu kỳ kinh tế có tác động đến hoạt động của ngân hàng nói chung vàhoạt động cho vay nói riêng Khi nền kinh tế đang ở giai đoạn trăng trưởng và ổn định, các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn lớn đồng thời khả năng trả nợ cao nên các ngân hàng có thể tăng trưởng cho vay để thu lợi Ngược lại, khi nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị thu hẹp, làm ăn không hiệu quả Nhu cầu vốn giảm và ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ dẫn đến chất lượng cho vay bị đe dọa, ngân hàng làm ăn thua lỗ

Nhân tố pháp lý

Nhân tố pháp lý có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng cho vay Nhân tố pháp

lý bao gồm tính đồng bộ, khoa học của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ thống nhất của các văn bản dưới luật đồng thời gắn liền với quá trình chấp hành và thực thi pháp luật Thiếu pháp luật cơ chế quản lý của Nhà nước sẽ không có hiệu lực và hiệu quả Bởi vậy xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng chính là quá trình hoàn thiện quản

lý nhà nước về kinh tế Yêu cầu đối với hệ thống pháp luật là: Tính khách quan, tính quy luật, tính cưỡng chế, và tính hệ thống Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, mọi quy phạm pháp luật về kinh tế đi ngược lại lợi ích kinh tế, cản trở, kìm hãm kinh

tế cần phải sửa đổi, hoàn thiện cho phù hợp với quá trình phát triển Vì vậy, nhân tố pháp lý có vị trí hết sức quan trọng đến hoạt động ngân hàng nói chung và chất lượng cho vay nói riêng

Tình hình kinh tế trong nước và trên thế giới

Một quốc gia có môi trường chính trị - xã hội ổn định và phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi và yên tâm cho các nhà đầu tư Xã hội có ổn định thì nền kinh tế mới được phát triển, bất cứ một sự biến động nào về chính trị hay xã hội cũng đều gây ra

sự xáo động cho toàn bộ nền kinh tế Do đó mà sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng, làm tác động đến hoạt động của ngân hàng trong đó có hoạt động cho vay

Trang 24

Xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra sôi động trên thế giới Vì thế tính hình kinh tế - chính trị - xã hội ở nước ngoài cũng ảnh hưởng tới đời sống kinh tế - chính trị - xã hội trong nước từ đó ảnh hưởng tới ngành ngân hàng và chất lượng cho vay của ngân hàng

Tóm lại, tuỳ theo sự phát triển, điều kiện kinh tế xã hội và sự hoàn thiện môi trường pháp lý của từng nước cũng như khả năng quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ cán bộ của từng NHTM mà các nhân tố này có ảnh hưởng khác nhau tới chất lượng cho vay Vấn đề cơ bản đặt ra là cần phải nắm chắc các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay và biết vận dụng sáng tạo sự ảnh hưởng của các nhân tố này trong hoàn cảnh thực tế, từ đó tìm được những biện pháp quản lý có hiệu quả để củng cố nâng cao chất lượng cho vay, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro, sẽ tạo điều kiện cho sự thành công của hoạt động cho vay nói riêng cũng như của toàn bộ hoạt động NHTM nói chung

Trang 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 của khóa luận đã đề cập đến một số lý luận chung về DNNVV, hoạt động cho vay DNNVV của NHTM và nâng cao chất lượng cho vay DNNVV của

NHTM Từ những cơ sở này của khóa luận, ta đi vào tìm hiểu thực tế chất lượng hoạt

động cho vay DNNVV của Agribank chi nhánh thành phố Thanh Hóa

Trang 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG

THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH THÀNH PHỐ THANH HÓA 2.1 Giới thiệu về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thành phố Thanh Hóa

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thành phố Thanh Hóa

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thành lập ngày 26/3/1988, hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam Về tên gọi: tên giao dịch đầy đủ bằng tiếng Việt là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam; tên giao dịch đầy đủ bằng tiếng Anh là Vietnam Bank for Agriculture and Rural Developtment; tên viết tắt là Agribank Đến nay, Agribank là một trong số ba ngân hàng lớn trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Agribank giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong phát triển kinh tế Việt Nam, đặc biệt là đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Agribank tỉnh Thanh Hóa (tiền thân là Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp tỉnh Thanh Hoá) là chi nhánh cấp 1 thuộc hệ thống Agribank Việt Nam, được thành lập theo Quyết định 31/NH-QĐ ngày 18/5/1988 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trên cơ sở tiếp nhận các chi nhánh ngân hàng nông nghiệp huyện, phòng kế hoạch kinh doanh nông nghiệp và các quỹ tiết kiệm Ngày đầu mới thành lập, Agribank tỉnh Thanh Hoá đối mặt với muôn vàn khó khăn tưởng chừng không vượt qua nổi Ngân hàng có mạng lưới 21 đơn vị gồm trụ sở chính và 20 chi nhánh các loại tại các huyện; tổng số biên chế 1.697 người, chiếm 2/3 biên chế toàn ngành ngân hàng Thanh Hoá có trình độ chủ yếu là trung, sơ cấp được đào tạo từ thời bao cấp Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc hết sức thiếu thốn Nguồn vốn huy động chỉ có hơn 6 tỷ đồng (trong đó chỉ có 21% là tiền gửi tiết kiệm của dân cư), chiếm 16% thị phần hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn Tổng dư nợ chưa đầy 13 tỷ đồng, chiếm 23,6% thị phần Trong đó: 99% là dư nợ của các doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã đang trong tình trạng tan rã, chờ giải thể, sáp nhập và sắp xếp lại do sản xuất kinh doanh không có hiệu quả; dư nợ kinh tế hộ gia đình, cá nhân chỉ có 145 triệu đồng, chiếm 1% tổng dư nợ Song, với các cơ chế chính sách được đổi mới, với sự chuyển hướng kinh doanh mang tính đột phá, với sự phấn đấu nỗ lực vượt bậc, sự đoàn kết thống nhất, tập trung trí tuệ cao độ của tập thể cán bộ công nhân viên, Agribank tỉnh Thanh Hoá đã thực sự vươn lên từ đơn vị gặp nhiều khó khăn đi dần vào thế ổn định

và phát triển vững chắc Đến cuối năm 2014, ngân hàng đã có mạng lưới hoạt động rộng khắp trong tỉnh với tổng số 67 đầu mối, bao gồm: 01 trụ sở chính, 30 chi nhánh

Trang 27

và 06 phòng giao dịch trực thuộc trụ sở chính; 27 phòng giao dịch và 03 điểm giao dịch trực thuộc chi nhánh loại 3 Ngoài ra còn hệ thống các kênh phân phối tự động bao gồm 36 máy ATM và hơn 30 điểm chấp nhận thẻ được lắp đặt tại hầu hết các huyện, thị trong tỉnh Đội ngũ cán bộ viên chức của chi nhánh hiện nay có 1.067 cán

bộ được đào tạo cơ bản, có phẩm chất đạo đức, có kỹ năng chuyên nghiệp, với gần 70% có trình độ đại học và trên đại học Agribank tỉnh Thanh Hoá hiện chiếm thị phần hoạt động lớn nhất với 38% thị phần nguồn vốn, 30% thị phần dư nợ và gần 50% thị phần về dịch vụ Hiện có tới gần 70% các hộ gia đình và hơn 30% các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá đang có quan hệ tiền gửi, tiền vay và sử dụng dịch vụ của tỉnh Thanh Hoá

Agribank chi nhánh thành phố Thanh Hoá là chi nhánh cấp 3 thuộc Agribank tỉnh Thanh Hóa Chi nhánh được thành lập năm 2000, có trụ sở chính đặt tại số 11, đường Phan Chu Trinh, phường Điện Biên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Hiện nay chi nhánh có 3 địa điểm giao dịch gồm: phòng giao dịch đặt tại trụ sở chính, phòng giao dịch Thanh Hoa và phòng giao dịch số 1

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thành phố Thanh Hóa

Cơ cấu tổ chức quản lý của chi nhánh được thực hiện theo mô hình mẫu của Agribank Việt Nam Chi nhánh gồm 47 lao động, được phân công làm việc ở các phòng, ban sau: ban giám đốc, phòng kế hoạch kinh doanh, phòng kế toán, phòng nhân

Khách hàng

cá nhân

Khách hàng doanh nghiệp

PGD đặt tại trụ sở chính

PGD Thanh HoaPGD số 1

Trang 28

Ban giám đốc:

Ban giám giám đốc gồm 01 giám đốc và 02 phó giám đốc Giám đốc phụ trách chung, quản lý mọi hoạt động của chi nhánh; hướng dẫn, chỉ đạo các phòng ban thực

hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động của cấp trên giao

Phòng kế hoạch kinh doanh:

Gồm 2 bộ phận: khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp, có trách nhiệm:

- Tiếp cận và xây dựng mối quan hệ với khách hàng nhằm tiếp thị, thu hút khách hàng

sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng

- Tìm hiểu nhu cầu của khách hàng; tư vấn cho khách hàng lựa chọn, sử dụng hợp lý các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng; đàm phán với khách hàng về các điều kiện liên quan đến quá trình cung cấp các sản phẩm, dịch vụ (nếu cần)

- Tiếp nhận nhu cầu của khách hàng về tất cả các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng; đề xuất cấp có thẩm quyền quyết định việc đáp ứng nhu cầu khách hàng theo quy trình, quy định

- Duy trì mối quan hệ với khách hàng, thực hiện chăm sóc khách hàng theo quy định

Phòng Kế toán:

- Trực tiếp hạch toán kế toán, thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và

Việt Nam

- Thu thập, tổng hợp, xử lý, cung cấp và lưu trữ thông tin

- Thực hiện các hoạt động liên quan đến nghiệp vụ tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, tiền ký quỹ, nghiệp vụ ngân quỹ phù hợp với các quy định của ngân hàng

- Kiểm đếm, giao nhận tiền của khách hàng (nếu có)

- Thu/chi tiền mặt lưu động tại nhà và tại địa chỉ đơn vị của khách hàng (nếu có)

- Nộp tiền về Ngân hàng nhà nước/ Rút từ Ngân hàng nhà nước về nhập quỹ

- Thực hiện tiếp quỹ ATM và kiểm quỹ ATM hằng ngày (nếu có)

Trang 29

Phòng nhân sự:

- Trực tiếp theo dõi ngày công, nghỉ phép, nghỉ bù, nghỉ chế độ, làm thêm giờ của cán

bộ làm cơ sở phân phối tiền lương và các khoản thu nhập khác

- Theo dõi việc xếp lương, nâng lương, chuyển ngạch lương đối với cán bộ trong chi nhánh

- Theo dõi thời hạn hợp đồng lao động của cán bộ

- Theo dõi các công việc liên quan đến thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y

tế, và các loại bảo hiểm khác của cán bộ

- Lập các báo cáo thống kê liên quan đến công tác tổ chức cán bộ theo nhiệm vụ được phân công và quy định của Agribank

- Hỗ trợ việc cập nhật và khai thác hồ sơ cán bộ trên chương trình quản lý nhân sự, chương trình tính lương

Các phòng giao dịch trực thuộc:

Các phòng giao dịch trực thuộc của Agribank chi nhánh thành phố Thanh Hóa thực hiện các chức năng chung, các nhiệm vụ kinh doanh của chi nhánh đề ra và chịu

sự quản lý của chi nhánh

2.2 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thành phố Thanh Hóa giai đoạn năm 2012 – 2014

2.2.1 Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thành phố Thanh Hóa giai đoạn năm 2012 – 2014

Bảng 2.1 cho thấy tổng nguồn vốn huy động của Agribank chi nhánh thành phố Thanh Hóa liên tục tăng qua 3 năm Tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh năm

2012 đạt 478.882 triệu đồng Đến năm 2013, tổng nguồn vốn huy động đã tăng lên đến

623.312 triệu đồng tức tăng 144.430 triệu đồng tương ứng với mức tăng 30,1% so với

năm 2012 Năm 2014 tổng nguồn vốn huy động được là 714.487 triệu đồng tăng 91.175 triệu đồng tương ứng tăng 14,6% so với năm 2013 Có được sự tăng trưởng nguồn vốn như vậy là do trong thời gian này, ban giám đốc chi nhánh đã xác định nhiệm vụ phát triển nguồn vốn là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong kinh doanh và chỉ đạo quyết liệt công tác tăng trưởng nguồn vốn đơn vị Với sự linh hoạt, khéo léo trong công tác chăm sóc khách hàng, chi nhánh đã gây dựng được lòng tin với khách hàng đến gửi tiền và hoàn thành các chỉ tiêu về huy động vốn đề ra Ngoài ra, các ưu đãi về lãi suất, các chương trình khuyến mại rút thăm dự thưởng của chi nhánh cũng

đã góp phần thu hút thêm một lượng khách hàng mới gửi tiền tại chi nhánh

Trang 30

Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của của Agribank chi nhánh thành phố

Thanh Hóa giai đoạn năm 2012 – 2014

Tuyệt đối

Tương đối (%)

Tuyệt đối

Tương đối (%) Tổng nguồn

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Agribank chi nhánh thành phố Thanh

Hóa giai đoạn năm 2012 - 2014)

Phân loại tiền gửi theo thành phần kinh tế

Chính sách về nguồn vốn của chi nhánh trong giai đoạn năm 2012 - 2014 là tăng tỷ trọng nguồn vốn dân cư có lãi suất huy động thấp để hạ lãi suất đầu vào, nâng cao năng lực tài chính của chi nhánh Thể hiện ở số dư tiền gửi dân cư của chi nhánh chiếm tỷ trọng lớn và tăng trưởng mạnh qua 3 năm Năm 2013 tiền gửi dân

Trang 31

cư đạt 578.738 triệu đồng tăng 130.222 triệu đồng tương ứng tăng 29% so với năm

2012 Năm 2014 tiền gửi dân cư tăng 87.566 triệu đồng tương ứng tăng 15,1% so với năm 2013

Mặc dù phải đứng trước sự cạnh tranh gay gắt từ các tổ chức tín dụng khác trên cùng địa bàn nhưng nguồn tiền gửi các tổ chức kinh tế của chi nhánh vẫn liên tục tăng

ổn định qua các năm Điều này là do chi nhánh đã tạo dựng được uy tín đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và có một số lượng khách hàng thân thiết nhất định Tiền gửi tổ chức kinh tế năm 2013 đạt 44.574 triệu đồng tăng 14.208 triệu đồng tương ứng tăng 46,7% so với năm 2012 Năm 2014, tiền gửi tổ chức kinh tế tăng nhẹ so với năm 2013: tăng 3.609 triệu đồng tương ứng tăng 8%

Phân loại tiền gửi theo kỳ hạn

- Tiền gửi không kỳ hạn: năm 2012 đạt 39.688 triệu đồng chiếm 8,3% tổng nguồn vốn; năm 2013 là 44.574 triệu đồng chiếm 7,1% tổng nguồn vốn; năm 2014 tăng 8% so với năm 2013 đạt 48.183 triệu đồng chiếm 6,7% tổng nguồn vốn Trong 3 năm tiền gửi không kỳ hạn tăng về quy mô nhưng lại giảm về tỷ trọng so với tổng nguồn vốn do lãi suất thấp cũng như tính ổn định không cao và không bền vững

- Tiền gửi có kỳ hạn ngắn hạn: có thể thấy nguồn vốn huy động ngắn hạn luôn chiếm

tỷ lệ trên 60% so với tổng nguồn vốn huy động Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các ngân hàng thương mại nói chung và chi nhánh nói riêng Năm 2013 tiền gửi

có kỳ hạn ngắn hạn là 432.698 triệu đồng, tăng 73.835 triệu đồng tương ứng với 20,5% so với năm 2012 Năm 2014 tiền gửi có kỳ hạn ngắn hạn tăng 10.502 triệu đồng tương ứng tăng 2,4% so với năm 2013

- Tiền gửi có kỳ hạn trung và dài hạn tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng cũng liên tục tăng về quy mô qua các năm Năm 2013 tiền gửi có kỳ hạn trung

và dài hạn tăng mạnh so với năm 2012, cụ thể là tiền gửi có kỳ hạn trung hạn và dài hạn năm 2013 tăng 65.709 triệu đồng tương ứng tăng 81,8% so với năm 2012 Có sự tăng mạnh như vậy là do một số khách hàng có số dư tiền gửi lớn đã lựa chọn tiền gửi

có kỳ hạn trung và dài hạn như một kênh đầu tư an toàn trước tình hình kinh tế biến động Sang năm 2014 tiền gửi có kỳ hạn trung và dài hạn tiếp tục tăng nhưng tốc độ tăng chậm hơn so với năm 2013 Tiền gửi có kỳ hạn trung và dài hạn năm 2014 tăng 44.543 triệu đồng tương ứng tăng 30,5% so với năm 2013

2.2.2 Hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Thanh Hóa giai đoạn năm 2012 – 2014

Hoạt động sử vốn chủ yếu của chi nhánh là hoạt động cho vay, ngoài ra các hoạt động sử dụng vốn khác chiếm tỷ trọng không đáng kể Qua bảng 2.2 có thể thấy tình hình dư nợ trong giai đoạn năm 2012-2013 có sự sụt giảm về quy mô do chịu ảnh

Trang 32

hưởng từ nền kinh tế địa phương: sức cầu của nền kinh tế còn yếu, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tiếp cận nguồn vốn kém Cụ thể là tổng dư nợ năm 2013 đạt 288.576 triệu đồng giảm 4.297 triệu đồng tương ứng giảm 1,4% so với năm 2012

Bảng 2.2 Tình hình cho vay của Agribank chi nhánh thành phố Thanh Hóa

giai đoạn năm 2012 – 2014

Tương đối (%)

Tuyệt đối

Tươn

g đối (%) Tổng dư nợ 292.873 288.576 316.950 (4.297) (1,4) 28.374 (9,8)

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Agribank chi nhánh thành phố Thanh

Hóa giai đoạn năm 2012 - 2014)

Sang năm 2014, nền kinh tế cả nước nói chung và nền kinh tế địa phương nói riêng dần được phục hồi Kết hợp với việc thực hiện các biện pháp nâng cao năng lực kinh doanh của chi nhánh, tổng dư nợ cho vay của chi nhánh đã tăng trưởng trở lại Tổng dư nợ năm 2014 tăng 28.374 triệu đồng tương ứng tăng 9,8% so với năm 2013

Trang 33

Theo thành phần kinh tế

Dư nợ của các tổ chức, doanh nghiệp năm 2013 có sự sụt giảm so với năm 2012

do tình hình kinh tế khó khăn, một số doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả, buộc phải giải thể, vỡ nợ Cụ thể là dư nợ cho vay tổ chức, doanh nghiệp năm 2013 giảm 7.287 triệu đồng tương ứng giảm 4,2% so với năm 2012 Sang năm 2014 nhờ sự phục hồi của nền kinh tế và các chính sách hỗ trợ cho vay đối tượng doanh nghiệp của địa phương, dư nợ tổ chức, doanh nghiệp của chi nhánh đã tăng trở lại Dư nợ năm

2013 tăng 11.198 triệu đồng tương ứng tăng 6,7% so với năm 2012

Dư nợ của cá nhân, hộ gia đình tăng trưởng ổn định qua 3 năm cho thấy hoạt động cho vay cá nhân, hộ gia đình ít rủi ro hơn cho vay tổ chức, doanh nghiệp Cụ thể

là dư nợ năm 2013 tăng 2.990 triệu đồng tương ứng tăng 2,5% so với năm 2012, dư nợ năm 2014 tăng 17.176 triệu đồng tương ứng tăng 14% so với năm 2013

Tỷ trọng dư nợ của 2 nhóm thành phần kinh tế không chênh lệch nhau quá nhiều thể hiện chính sách cho vay an toàn của chi nhánh đó là vừa cho vay tổ chức, doanh nghiệp để thu lãi cao nhưng tiềm ẩn rủi ro vừa duy trì cho vay cá nhân hộ gia đình có

lãi vay thấp hơn nhưng tiềm ẩn ít rủi ro hơn và có tính ổn định

2014 có sự tăng mạnh, tăng 34.978 triệu đồng tương ứng tăng 74,5% so với năm 2013

2.2.3 Hoạt động khác của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Thanh Hóa giai đoạn năm 2012 – 2014

Hoạt động khác của Agribank chi nhánh thành phố Thanh Hóa bao gồm các hoạt động chính là hoạt động chuyển khoản và hoạt động dịch vụ thẻ ngân hàng, hoạt động chuyển khoản gồm hoạt động chuyển tiền và hoạt động thanh toán khác Hoạt động chuyển khoản tăng trưởng đồng đều và tương đối ổn định qua 3 năm Cụ thể là hoạt động thanh toán chuyển khoản năm 2013 tăng 918.468 triệu đồng tương ứng tăng 14,2% so với năm 2012, trong đó: hoạt động chuyển tiền tăng 762.677 triệu đồng

Ngày đăng: 26/03/2017, 23:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w